MÀU TRĂNG XƯA.

vuhytrieu

xa người thoắt đã trăm năm
màu trăng xưa ấy âm thầm chưa phai
lẫn trong năm tháng mệt nhoài
chút tình sâu thẳm vẫn hoài tơ vương

em về từ những yêu thương
một thời bỏ dỡ con đường trăng mơ
một thời hẹn ước vu vơ
em về xoá hết đợi chờ tháng năm

cảm ơn em chút tình thâm
không quên ngày tháng âm thầm yêu em
ngày xưa mưa rớt nỗi niềm
giờ mưa rơi nhẹ bên thềm hiên xưa

cảm ơn em…cảm ơn mưa…

Vũ Hy Triệu

TƯƠNG TƯ THÁNG GIÊNG

nguyenanbinh

Em có từng thương nhớ tháng giêng
Thả lá tương tư xuống môi hiền
Thả xuân xanh qua mùa mê hoặc
Thả tình tôi lạc dấu chim quyên.

Tóc em thơm một rừng mai trắng
Chiều vàng nghiêng cánh nhớ mùa xưa
Hôn lên bờ vai em thắp nắng
Ngọt ngào hương cốm lá ngày mưa.

Cỏ xanh mướt trải bao đồng bãi
Để áo em hồng dáng lụa thơm
Ngày xuân nghe tiếng ai gỏ cửa
Lại ngỡ em về bên kia sông.

Tháng giêng còn cả mùa trăng cũ
Chập chờn mắt đóm đợi sao khuya.
Tình xuân chưa hết mùa hoa nở
Mà trái tương tư rụng bao giờ?

Nguyễn An Bình

KHÔNG KHÓC NỮA

phantunho

Nước mắt không phải là xà phòng nên nỗi đau vẫn còn nguyên.
Nhưng vài giọt lưng tròng cũng có thể làm biển đời vơi đi mặn chát.

Sạn Em không hiểu vì sao ba nó có cái tên đó, tên Ba Lem. Nó phỏng đoán chắc ba nó lem nhem lắm. Chứ không, tại sao ông nhiều vợ vậy? Trật lất! Anh hai nó, anh Cát, khẳng định như đinh đóng cột. Mày biết tại sao không? Ờ, mà mày còn nhỏ, chưa hiểu đâu. Trong giấy khai sinh anh em mình tên cha là Lê Ba, phải không? Ở quê mình, ngoài Quảng nghèo lắm. Họ kẹo đến mức cái tên cũng cụt lủn. Nhưng ba mình tên cúng cơm là Lê Văn Lem nhé. Ông Nội hồi xưa đỗ Tú Tài, văn chương chữ nghĩa thơ phú cũng có hạng đó, lẽ nào đặt tên cho con lại nghèo ý nghĩa vậy. Đúng rồi. Nó tua lại cuộn phim, không, cuộn ghi âm mà nó nghe mọi người trong gia đình nó hay kể lể dịp giỗ, chạp. Ba nó cũng ước mơ như mọi người. Ông không học nhưng cũng ưa văn chương thơ phú. Dù không cha từ nhỏ, mẹ có chồng khác, ông về sống bên quê nội, ở đợ, chăn trâu nhưng cái máu của cha ông vẫn ứ tràn trong huyết quản. Năm 18 tuổi, máu giang hồ bắt đầu cục cựa hung, ông trốn quê vào đất Phan này kiếm sống. Nhớ đến đó, Sạn Em cãi: Em nghe ba kể ông Nội bỏ nhà đi theo ghe bầu giang hồ mất tích, có lo gì cho Ba đâu. Hay là Ông Nội lem nhem, bà Nội bực mình đặt tên cho Ba như thế. Ba mình một chữ bẻ đôi cũng không biết thì Lê Văn, Lê Vẽ gì! Anh Cát nó sừng sộ: Mày dốt bỏ mẹ! Mày thấy Ba không biết chữ nhưng ông coi bảng vẽ cừ không? Làm cai thầu thợ hồ có mấy ai qua. Ừ, thì ổng giỏi. Giỏi luôn cái nghề “cua gái”. Anh ba Vôi xen vào. Tao đố mày biết tại sao ổng “cua gái” giỏi không? Sạn Em gãi đầu bảo: Ba mình đẹp trai, to cao…Anh ba Vôi cười ha hả. Mày ngu quá tay. Lúc xây nhà cho người ta, ổng chỉ mặc độc cái xà lỏn đứng trên giàn giáo, mấy em phụ hồ đứng dưới ném gạch lên làm sao mà không thấy cu dái ổng. Thấy rồi đâm mê. Cả ba anh em cười đến ràn rụa nước mắt. Ánh lửa nồi bánh tét bập bùng làm biến dạng những cái miệng đang toang hoắc cười trông thêm méo mó. Mẹ nó quát: Coi chừng cháy nồi bánh, mấy ông yêu. Gì mà cười dữ vậy? Sạn Em méc: Má! Anh Vôi nói hồi xưa Má thấy cu dái Ba nên mê…Tổ cha mày, biết gì mà nói. Bậy bạ! Đi vô nhà thăm chừng chảo gừng rim cho tui. Nhớ tưới đều cho đường nó thấm. Nó cà nanh: Má biểu con Gái làm, con có biết rim riết gì đâu. Bao giờ nó cũng nạnh em gái nó khi má nó sai vặt. Nó còn trũng trịnh chưa chịu đi, tò mò chuyện người lớn. Má nó cũng tức cười chuyện tào lao của các con. Bà vừa cười, vừa nói: Ổng thấy tao thì có. Hồi tao ở đợ cho bà Cai, lỡ có con sâu trong nồi canh mà bả tạt cả nồi lên người, may mà còn nửa nồi hơi nguội, chứ không thì phồng mình chứ chơi. Ông thấy vậy biểu tao cởi đồ ra giếng cho ổng xối. Mà hồi xưa có biết mắc cở như bây giờ đâu. Vôi chêm: Vậy là Ba thấy Má trước! Thằng khỉ. Bà đánh trống lãng, quay sang Sạn Em nạt: Sao không đi đi, còn đứng đó?
Sạn Em lững thững bước, đầu nhìn xuống đất như đang tìm bạc cắc ai rơi. Nó lúc nào cũng lững thững như một cụ non. Hay thắc mắc, suy đoán. Hèn chi cái đầu của nó cũng to hơn mấy anh nó, và, dĩ nhiên cũng nặng hơn nên cứ muốn rớt xuống phía trước. Ngồi trông chảo gừng rim đầu óc nó lại lan man thắc mắc, suy đoán. Tại sao tên anh em nhà nó chẳng ăn nhập gì với nhau. Anh hai Cát là Lê Văn Sơn. Anh ba Vôi là Lê Hữu Hải. Anh tư Sạn Anh là Lê Hữu Sạn. Em gái nó là Lê Thị Gái. Còn nó, Sạn Em là Lê Minh Hoàng, sao đẹp thế? Đành rằng Ba nó yêu nghề nên chọn vật liệu đặt tên cho con, lẽ ra nó phải là Gạch mới đúng, sao lại Sạn Em, Sạn Út gì ở đây? Nó lôi em nó dậy. Má biểu mày rim gừng kìa. Mới gần 10 giờ đã ngủ. Nó chạy ra sân, nơi nồi bánh tét đang bập bùng. Má. Sao tên anh em con lạ quá à. Anh Cát, anh Vôi tên hay, còn anh Sạn, con Gái tên xấu òm vậy? Má nó đang loay hoay dọn dẹp đống lá chuối thừa thẹo khi chiều bị ngọn bấc cuối đông đùa giỡn tung tóe, chợt dừng lại ngó nó ngạc nhiên. Cái thằng khỉ. Bỏ chảo gừng cháy hết. Đi vô! Dạ, con Gái đang coi chừng rồi. Má nó lắc đầu ngao ngán cái thằng gì- cũng- hỏi. Anh Cát tài khôn: Ba kể nè. Ba ước đất nước thanh bình nên Ba đặt tên cho con là “Sơn hải thái bình”. Đúng ra thằng Sạn Anh là Thái, còn mày là Bình. Phải không Má? Má nó ậm ừ cho qua chuyện. Nhưng Cát không thôi. Anh Cát nó hậm hực: Ổng theo Dì Hai lúc Má đẻ thằng Sạn Anh, rồi ổng theo Dì Ba lúc Má đẻ mày. Ổng lại quay lại Dì Hai khi Má đẻ con Gái, lâý ai đặt tên. Má nó giọng buồn buồn: Tao có biết chữ nghĩa gì đâu. Ổng cũng chẳng rằng. Khi nhà thương hỏi, tao nói “Lê Hữu Sạn”, họ cứ ghi tên. Còn mày, tao biểu “Lê Hữu Sạn Em”, nhà thương họ chê tên kỳ cục. Thật tình, tao cũng không biết ai đặt tên cho mày nữa. Ờ, mà mày là con bà Phước tao xin về nuôi mà! Anh Vôi đía thêm: Mày thấy mày giống Chàm không? Nhà này có ai đen thui như mày đâu. Hồi đó tao tưởng Má đẻ mày ở hầm than, ai ngờ má lượm mày ở cống Công Thành. Nói xong, Vôi lại cười ha hả. Tiếng cười ghim vào lòng Sạn Em như mũi kim. Đau nhói. Mặt nó xụ xuống. Nước mắt nó ứa ra, lờ mờ những bóng hình đang chao đảo, chập chờn trong ánh lửa lò bánh nghi ngút khói. Nó dụi mắt, đứng dậy lủi thủi bước vào nhà. Đúng là ma mũi, đụng tí là khóc. Con trai gì mà mít ướt. Má nó nộ: Thôi, tụi mày cứ hay chọc nó. Bà thở dài: Tội nghiệp. Không biết giờ này thằng Sạn Anh đang ở đâu nữa. Ngày hết, Tết tới rồi. Lính với tráng, khổ thân thằng nhỏ…Tiếng bà buông dài, rơi thỏm vào đêm đen kịt, lắng im. Chẳng ai trả lời, chỉ còn tiếng củi than nổ lách tách, tiếng ùng ục nồi bánh đang sôi hòa quyện cùng tiếng đạn pháo vọng về xa xa.
Sạn Em nằm khóc ngon lành. Nó tủi thân. Có phải thật nó là con Chàm? Đúng là nó đen thui, khác với anh em nhà nó. Nó ghét anh Vôi. Nó ghét anh Cát. Nó ghét lây cả má nó. Nó thầm ước đạn pháo rơi lạc trúng nhà nó. Nó chả thèm Tết như những ngày trước đó nó từng mong đợi. Nó nghĩ ngợi mông lung, không đầu, không đũa. Nó chê anh Vôi hèn, trốn lính, sợ chết. Nó chê anh Cát nhát, lủi vào sở Mỹ núp. Không như anh Sạn Anh đi lính Biệt Kích Dù oai phong. Nó lại mong mau lớn, bỏ nhà đăng lính để xem má nó có khóc không. Nó tưởng tượng cảnh ngày nó ra đi. Đầu đường, xó chợ, không nơi ăn ngủ, không ai thân thích. Nó bật khóc thành tiếng. Má! Anh Sạn Em khóc kìa! Nó vùng dậy, lao đến chỗ em nó. Méc hả? Cốc một cái rõ to trên đầu con bé. Em Gái nó ré lên. Anh Sạn Em đánh con. Má nó quát. Gì mà ồn ào vậy. Đứa nào vô dẹp loạn cho tao coi. Anh Vôi bẻ nhánh củi đét xuống đất một cái chát đến giật mình. Mày đánh em hả, cái thằng con Chàm mít ướt này. Nằm xuống. Vôi hét to làm thằng con trai mới đầy tháng tuổi trong buồng giật mình oe oe. Tiếng vợ Vôi dỗ dành, càm ràm, rền rỉ làm Vôi càng thêm nóng máu. Khóc nè, khóc nè, khóc nè. Mỗi tiếng Vôi gầm lên là một lằn roi vòng lên trên đít nó. Nó trân mình hứng chịu. Lúc này nó muốn khóc lắm nhưng bao nhiêu nước mắt thừa mứa khi nãy bây giờ chạy tuột xuống họng, dồn cục tạo thành thứ âm thanh đùng đục, khò khè. Vôi cũng phát hoảng. Đứng lên. Ra soi gương coi. Mau. Nó vòng tay đứng dậy, suýt soa. Dạ thưa anh Vôi, em không dám khóc nữa. Nói đến đây, miệng nó bắt đầu mếu. Còn khóc nữa hả. Đi ra soi gương mau. Nó líu ríu lết đến tủ đứng, hé mắt nhìn trong gương. Mở to mắt ra. Khi nào hết khóc mới được đi, nghe chưa. Ra Tết, tao cho mày theo mấy thằng Đại Hàn học Teikwondo cho bớt mít ướt đi.Vôi đe thêm: Con Gái đâu? Mày cũng bỏ cái tật hơi tí là méc đi nghe chưa. Bữa nay tao tha cho. Vôi lầm bầm thêm mấy tiếng không rõ, bỏ ra ngoài sân. Sạn Em không dám đi. Nó lại hé mắt nhìn nó lần nữa. Thật là xấu chưa từng thấy. Nước mắt, nước mũi ràn rụa, miệng méo xệch. Đúng là dị hợm. Nó lại hiếu kỳ nhìn kỹ hơn. Miệng xệ xuống, môi trề ra, trông như chú hề mấy gánh Sơn Đông mãi võ. Nó thấy nó trông tức cười. Và, nó nhoẻn miệng cười thật! Đấy, trông phải dễ coi hơn không? Từ dạo đó Sạn Em thôi không khóc nữa. Mà nếu có khóc, nó cũng không bao giờ trề miệng ra như thế.

PHAN TỬ NHO
Trich truyện: CON NHÀ BA LEM.

NHỮNG CHÂN TRỜI RA KHỎI GIẤC MƠ TÔI

buidiep

1.
năm tám tuổi cha dẫn tôi ra đồng chỉ vào mùa lúa đang xanh như màu áo cào cào rồi bảo tất cả là của con trai cho ngày mai thừa tự
tôi nhoẻn miệng cười sún răng bên cọng cỏ gà cỏ xướt
cha giấu cơn ho khan trong tận tuyệt mùi thảo dã
nhìn cho rõ con ơi vô vàn huyết mạch chảy ngầm trong lòng đất
những huyệt đạo âm thầm nuôi dưỡng mùa xuân
rồi cha cúi xuống nhặt dùm con trai
những hạt đỏ nguyên lành

2.
mười sáu tuổi triền mây lên cơn sốt
những đêm không đủ dài những ngày đâu đủ ngắn
làng quê buồn và xác xơ như sợi dây gai khâm liệm u mê cánh chim bói cá
biển rộng về đâu sông rộng về đâu
ơi cánh buồm xanh khao khát mấy triền hoa làm sao xuôi tình em hôn mê cùng đại dương rách mướp
còn đỏ mắt chờ hư không mà không dám bước qua đời nhau trước ngã tư thị tứ
phía ấy tôi về là biền biệt quê ơi
xuân còn không tuổi ấy thuở chơi vơi

3.
đã nắng lên chưa ngày thênh thang đại lộ
tính sổ đời trôi qua mấy vạn lần những ô cửa mở về phía mùa màng tuyệt tích tiếng chim chỉ hót vào mỗi khuya lên cơn thấp khớp
những cơn u ám trái gió trở trời chưa kịp bình yên khi vừa thoát ra mắt bão
trang văn Pauxtopxki lạnh buốt bên góc rừng nhiệt đới vừa bị siêu nhơn ám sát
lửa vô lương đốt cả những giấc mơ
sông Dinh ơi em có buồn như ngày mười sáu xa tôi mà không dám khóc như ngày gặp lại mối tình trẻ con bên kia dốc đời mà không dám cười
trang văn Pau. buồn buồn ôm mãi tuổi hai mươi

4.
vừa chạm ngón hương tiếng chim xanh đã tan vào xót xa khi mái tràn nắng phố
ly cafe cuối tuần tờ nhật trình cuối tuần bạn bè cuối tuần hờ hững gió man di
đừng ra khỏi đời nhau
đừng bước qua đời nhau
dù thế giới này nhỏ bé như những chân trời trong veo thủy tinh trong giấc mơ thơ trẻ
cầm lấy lòng mình như cầm chân nụ hàm hương mong cứu rỗi giấc mơ mình
cầm chặt em ơi những chân trời còn sót lại lúc bình minh
quỳ xuống em ơi để được một lần nghe đất phục sinh.

BÙI DIỆP

TÂM SỰ KIỀU TÂM SỰ ĐỜI TA

linhphuong

Sống giữa thời nhiễu nhương bát nháo
Bạc mái đầu nhiều lúc lo toan
Ngất ngưởng say ta cười kiêu ngạo
Vuốt mặt nghe tê điếng trong lòng

Say ngã nghiêng bên vầng trăng cũ
Ta cùng ta trăm bận giang hồ
Rượu mềm môi nhìn trang sách ố
Nhớ Thúy Kiều- tiếc áng thơ xưa

Mười lăm năm buồn vui lưu lạc
Trách Nguyễn Du bày cảnh đoạn trường
Ngẫm nghĩ đời ta đâu đã khác
Càng đọc Kiều- càng thấy thương hơn

Mười lăm năm buồn vui lưu lạc
Hồn phách ta chết tự bao giờ
Oán Nguyễn Du tạo điều oan nghiệt
Khách má hồng giọt lệ khôn nguôi

Nợ phong trần ai đâu cũng ngỡ
Bất lực ơi ! Dòng nước Tiền Đường
Giam giữ mãi tình ta mong đợi
Là trái tim đau bật máu hồng

Đêm nay dường như ta mất trí
Rượu đầy ly uống cạn hơi nhiều
Bỗng dưng ta trở thành thi sĩ
Thay Nguyễn Du viết lại truyện Kiều…

LINH PHƯƠNG

GIẾT CON CHIM NHẠI…

nguyenphuoctieudi

images (11)

images (12)

Harper Lee, nhà văn vĩ đại của văn học Mỹ thế kỷ 20 với tiểu thuyết “Giết con chim nhại” lừng danh, qua đời hôm 19/2 tại quê nhà Monroeville, Alabama (Mỹ), hưởng thọ 89 tuổi.
Harper Lee sinh ngày 28/4/1926. Bà là con út trong gia đình có 4 người con và ở Monroeville. Cả cuộc đời bà sống ẩn dật. Sau khi bị đột quỵ vào năm 2007, Lee chuyển về sống hẳn ở quê nhà. Dù rất nhiều nhà báo tiếp cận và thuyết phục, bà rất ít khi trả lời báo chí.
Bố mẹ bà là luật sư Amasa Lee và Frances Lee, giống như nhân vật Atticus Finch trong 2 tiểu thuyết Giết con chim nhại (To Kill a Mockingbird) và Go Set a Watchman. Đây cũng là 2 tác phẩm được xuất bản của Harper Lee khi bà còn sống.
“Giết con chim nhại”, cuốn sách đầu tay và cũng là quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tác của Lee, được coi là tác phẩm kinh điển của nền văn học Mỹ hiện đại. Sách được viết ấm áp và hài hước dù lấy đề tài nạn cưỡng dâm và phân biệt chủng tộc trong xã hội Mỹ.

…Dill chia tay chúng tôi vào đầu tháng Chín, để trở về Meridian. Chúng tôi tiễn nó lên chuyến xe buýt năm giờ và tôi đau khổ vì vắng nó cho đến khi nhớ ra còn một tuần nữa là phải đi học. Tôi không bao giờ mong chờ bất cứ điều gì hơn việc ấy trong đời. Nhiều giờ trong mùa đông tôi ở trong ngôi nhà nhỏ trên cây, nhìn qua sân trường, theo dõi bọn trẻ bằng ống nhòm phóng đại hai lần mà Jem cho tôi, say mê những trò chơi của chúng, dõi theo chiếc áo khoác đỏ của Jem qua những nhóm bạn  chơi trò bịt mắt bắt dê, bí mật chia sẻ những vận rủi và những chiến thắng nho nhỏ của tụi nó. Tôi thèm được nhập bọn với chúng.
Jem hạ cố dẫn tôi đến trường ngày đầu tiên, một công việc mà bố mẹ phải làm, nhưng bố Atticus nói Jem sẽ thích chỉ cho tôi biết phòng học của tôi chỗ nào. Tôi nghĩ hẳn anh được một số tiền trong việc này, vì khi chúng tôi chạy qua góc phố, ngang  ngôi nhà Radley tôi nghe tiếng rủng rẻng khác thường trong túi của Jem. Khi gần đến trường chúng tôi đi chậm lại , Jem nghiêm trọng giải thích rằng trong những giờ ở trường tôi không được làm phiền anh ấy, tôi không được lại gần anh ấy để yêu cầu diễn một đoạn trong Tazan and the Ant Men, làm anh mất mặt qua việc nhắc tới cuộc sống riêng tư của anh ấy, không được lẽo đẽo theo sau anh vào giờ giải lao  buổi trưa. Tôi phải chơi với bọn lớp một của tôi còn anh ấy chơi với bọn lớp năm. Tóm lại, tôi phải để anh yên.
“Ý anh là tụi mình không chơi chung nữa hả?” Tôi hỏi.
“Ở nhà mình vẫn chơi chung,” anh nói, “nhưng em biết đó, trường học thì khác.”
Chắc chắn như vậy rồi. Trước khi buổi sáng đầu tiên trôi qua, cô Caroline Fisher, cô giáo của chúng tôi, lôi tôi lên trước lớp và khẻ tay tôi bằng cây thước, rồi bắt tôi đứng ở góc phòng đến khi tan học.
Cô Caroline chưa quá hai mươi mốt tuổi. Cô có mái tóc màu nâu sáng, má hồng, và sơn móng tay màu đỏ thẫm. Cô cũng mang giày cao gót và mặc váy sọc trắng đỏ. Cô trông giống và có mùi của một giọt bạc hà. Cô ở trọ bên kia đường cách nhà chúng tôi một căn, trong phòng trên lầu của cô Maudie Atkinson, và khi cô Maudie giới thiệu tôi với cô, Jem bối rối trong nhiều ngày.
Cô Caroline viết tên cô bằng chữ in trên bảng và nói, “Câu này nghĩa là: Tôi là cô Caroline Fisher. Tôi quê ở Bắc Alabama, hạt Winston.” Cả lớp lầm bầm đầy lo lắng, liệu cô có chứng tỏ mình mang những nét kỳ dị đặc trưng của vùng đó không đây. (Khi Alabama ly khai khỏi liên bang ngày 11 tháng Giêng năm 1861, hạt Winston đã ly khai khỏi Alabama, và mọi đứa trẻ ở hạt Maycomb đều biết vụ này.) Bắc Alabama vẫn đầy những tập đoàn kinh doanh rượu, những tay Big Mule, các công ty thép, các đảng viên Cộng hòa, giáo sư, và những người khác không rõ lai lịch.
Cô Caroline bắt đầu ngày học bằng việc đọc cho chúng tôi nghe một câu chuyện về những chú mèo. Lũ mèo có những cuộc chuyện trò không dứt với nhau, chúng mặc quần áo nhỏ trông hấp dẫn và sống trong ngôi nhà ấm áp bên dưới một cái bếp lò. Vào lúc bà Mèo gọi điện đến cửa hàng dược phẩm đặt mua món chuột ướp mạch nha sôcôla cả lớp ngó ngoáy giống như một thùng đựng sâu nho. Cô Caroline có vẻ không biết rằng bọn lớp một mặc váy bằng bao bột mì và áo sơ mi bằng vải bông sờn rách này, hầu hết đều chặt cây bông và cho heo ăn từ lúc mới biết đi, đã miễn nhiễm với thứ văn chương tưởng tượng. Cô Caroline kết thúc câu chuyện và hỏi, “Thế nào, chuyện hay không?”
Sau đó cô lên bảng và viết bảng chữ cái bằng những chữ in vuông thật lớn, quay xuống lớp và hỏi, “Có ai biết những chữ này không?”
Mọi đứa đều biết rằng không một đứa lớp Một nào đọc được- trừ tôi,
Tôi cho rằng cô chọn tôi vì cô biết tên tôi; khi tôi đọc bảng chữ cái, một nét nhăn mơ hồ xuất hiện giữa cặp chân mày cô và sau khi tôi đọc lớn hầu hết cuốn My First Reader và những bảng báo giá thị trường chứng khoán trên tờ The Mobile Register, cô phát hiện ra rằng tôi đã biết chữ và nhìn tôi với vẻ không hài lòng hơn nữa. Cô Caroline bảo tôi nói với bố tôi đừng dạy tôi nữa, nó sẽ gây trở ngại cho việc học của tôi.
“Dạy em?” Tôi nói với vẻ ngạc nhiên, “Bố em chẳng dạy em gì cả, cô Caroline. Bố Atticus không có thời gian dạy em bất cứ thứ gi,” tôi nói thêm, khi đó cô Caroline mỉm cười lắc đầu. “Ồ, buổi tối bố em rất mệt và chỉ ngồi ở phòng khách đọc sách báo thôi.”
“Nếu ông ấy không dạy em thì ai dạy?” Cô Caroline hỏi có vẻ ân cần. “Ai đó đã dạy em. Em đâu có bẩm sinh là đọc được tờ The Mobile Register.”
“Jem nói em đọc được. Anh ấy đọc trong một cuốn sách trong đó em mang họ Bullfinch thay vì Finch . Jem nói tên em thật ra là Jean Louise Bullfinch, rằng em bị tráo lúc mới sinh và em thực tình là một….”
Rõ ràng cô Caroline đang nghĩ tôi nói láo. “Đừng để những tưởng tượng chi phối chúng ta, em yêu,” cô nói. “Bây giờ hãy về nói với bố em đừng dạy em nữa. Tốt nhất là bắt đầu tập đọc với đầu óc mới mẻ. Em hãy nói với bố từ bây giờ cô sẽ lo việc này và cố cứu vãn nó…”
“Thưa cô?”
“Bố em không biết cách dạy. Em có thể ngồi xuống.”
Tôi lí nhí nói rằng tôi rất tiếc và về chỗ ngẫm nghĩ về tội của mình. Tôi không hề chủ tâm học đọc, nhưng bằng cách nào đó tôi đã đắm mình một cách lén lút vào những tờ nhật trình. Trong những giờ đằng đẵng ở nhà thờ- có phải tôi đã học lúc đó? Tôi không nhớ được có lúc nào mình không đọc được những bài thánh ca. Bây giờ tôi buộc phải nghĩ về nó, việc đọc là một điều gì đó tự nhiên đến với tôi, như việc học cách cài chặt đũng quần của bộ áo liền quần mà không cần nhìn quanh, hoặc việc thắt được hai cái nơ từ mớ dây giầy rối nùi. Tôi không thể nhớ khi nào những dòng chữ bên trên ngón tay di chuyển của bố Atticus tách ra thành những từ rời, nhưng tôi đã chăm chú nhìn chúng suốt những buổi tối trong ký ức tôi, trong khi lắng nghe tin tức trong ngày, những dự luật được thông qua thành luật, nhật ký của Lorenzo Dow – mọi thứ mà bố Atticus ngẫu nhiên đang đọc khi tôi nằm lên đùi ông mỗi tối. Cho đến khi tôi sợ rằng sẽ mất nó, thì tôi chưa bao giờ yêu thích việc đọc. Ai mà lại đi yêu việc thở cho đến khi gần mất nó?
Tôi biết mình đã quấy rầy cô Caroline, vì vậy tôi được yên thân và nhìn ra cửa sổ cho đến giờ ra chơi khi Jem tách tôi ra khỏi đám học trò lớp một trong sân trường. Jem hỏi tôi xoay xở ra sao. Tôi kể anh ấy nghe.
“Nếu không phải vì anh, em đã bỏ về. Jem, cái cô đáng ghét đó nói bố Atticus đã dạy em đọc và bố phải ngừng chuyện đó lại…”
“Đừng lo, Scoutt,” Jem trấn an tôi. “Thầy anh nói cô Caroline đang giới thiệu một phương pháp dạy mới. Cô học điều đó ở trường đại học. Rồi tất cả các lớp sẽ áp dụng nó ngay thôi. Em không phải học nhiều từ những cuốn sách theo cách ấy- nó giống như nếu muốn biết về loài bò, em phải đi vắt sữa  bò vậy, hiểu không?”
“Hiểu, Jem, nhưng em không muốn học về bò, em…”
“Chắc chắn rồi. Em phải biết về loài bò, chúng là phần quan trọng trong đời sống ở hạt Maycomb.”
Phải cố gắng lắm tôi mới ngăn được ham muốn hỏi Jem có phải anh bị mất trí hay không.
“Anh chỉ rán nói cho mày biết về cách dạy mới mà người ta áp dụng cho lớp một, đồ lì lợm. Đó là Hệ thống thập phân Dewey.”
Chưa từng nghi ngờ về những tuyên bố chính thức của Jem, nên tôi thấy không có lý do gì để hỏi lúc này. Hệ thống thập phân Dewey, trong chừng mực nào đó, bao gồm việc cô Caroline vung vẩy trước mặt chúng tôi những tấm bảng trên đó viết những chữ như “the””, “cat”, “rat”, “man” và “you”. Có vẻ như cô giáo không chờ đợi ở chúng tôi lời bình luận nào, và lớp học nhận được những tín hiệu đầy ấn tượng này trong im lặng. Tôi thấy chán, vì vậy tôi bắt đầu viết thư cho Dill. Cô Caroline bắt gặp tôi viết, cô nói. “Chúng ta không viết trong lớp một, chúng ta chỉ tập đồ mẫu tự rời thôi. Em sẽ không học viết cho đến khi lên lớp ba.”

(Bà Calpurnia là người chịu trách nhiệm về việc này. Nó giúp bà khỏi phát điên vì tôi vào những ngày mưa, tôi đoán vậy. Bà ấy đặt cho tôi bài tập viết bằng việc vẽ nguệch ngoạc bảng chữ cái ở phía trên một tấm bảng, sau đó chép lại một chương Kinh Thánh bên dưới. Nếu viết lại được theo nét của bà một cách thỏa đáng, tôi sẽ được bà thưởng một miếng sandwich phết bơ và đường. Trong việc dạy dỗ của bà Calpurnia, không hề có sự đồng cảm: tôi hiếm khi làm bà hài lòng và bà hiếm khi thưởng cho tôi.)

“Em nào về nhà ăn cơm trưa giơ tay lên?” Cô Caroline nói, cắt ngang cơn bực bội mới mẻ của tôi đối với Calpurnia.
Những đứa bé thị trấn giơ tay lên, và cô nhìn khắp chúng tôi.
“Em nào mang bữa trưa theo để lên bàn.”
Những chiếc xô mật mía đột nhiên xuất hiện, và trần nhà lấp loáng ánh sáng kim loại. Cô Caroline đi lên đi xuống các dãy bàn nhìn và ấn ngón tay vào các hộp đựng bữa trưa, gật đầu nếu thứ bên trong làm cô hài lòng, hơi nhíu mày trước những thứ khác. Cô dừng lại trước bàn của Walter Cunningham. “Bữa trưa của em đâu?” Cô hỏi.
Khuôn mặt của Walter Cunningham cho mọi đứa trong lớp một biết rằng nó bị giun móc. Việc nó không đi giày cho chúng tôi biết rằng nó bị nhiễm giun ra sao. Người ta bị giun móc khi đi chân không trong chuồng ngựa và bãi đầm mình của heo. Nếu Walter có giầy nó sẽ mang vào ngày đầu tiên đến trường sau đó vứt chúng đi cho đến giữa mùa đông. Nó mặc chiếc áo sơ mi sạch và bộ áo liền quần được sửa vừa vặn.
“Sáng nay em quên mang bữa trưa à?” Cô Caroline hỏi.
Walter nhìn thẳng trước mặt. Tôi thấy một bên cơ hàm trơ xương của nó giật giật.
“Em quên mang bữa trưa hả?” Cô Caroline hỏi. Hàm của nó lại giật.
“Dạ, thưa cô,” cuối cùng nó lí nhí.
Cô Caroline đến bàn của cô và mở ví tiền ra. “Đây là đồng hăm lăm xu,” cô nói với Walter. “Hôm nay xuống phố ăn đi. Mai trả lại cô.”
Walter lắc đầu. “Không, cảm ơn cô,” nó nói .
Giọng cô Caroline bắt đầu mất kiên nhẫn, “Đây Walter, cầm lấy.”
Walter lại lắc đầu.
Khi Walter lắc đầu lần thứ ba có đứa thì thào, “Lên nói với cô đi, Scout.”
Tôi quay quanh và thấy hầu như cả đám dân thị trấn và toàn bộ nhóm đi xe buýt nhìn tôi. Cô Caroline đã nói chuyện với tôi hai lần, và chúng nhìn tôi với sự tin tưởng ngây thơ rằng sự quen biết dẫn đến thông cảm.
Tôi đứng dậy đàng hoàng nhân danh Walter,
“Dạ thưa cô Caroline?”
“Gì đó, Jean Louise?”
“Cô Caroline, bạn ấy là người nhà Cunningham.”
Tôi ngồi xuống.
“Là sao, Jean Louise?”
Tôi cứ nghĩ mình đã làm mọi việc trở nên rõ ràng lắm rồi. Nó quá rõ ràng với tất cả chúng tôi: Walter Cunningham đang ngồi đó gục đầu xuống. Nó không quên bữa trưa, nó không có bữa trưa gì cả. Hôm nay nó không có và cả ngày mai hay ngày mốt cũng không có luôn. Chắc cả đời nó chưa từng thấy ba đồng hai mươi lăm xu cùng một lúc bao giờ.
Tôi thử lần nữa, “Walter là người của nhà Cunningham, cô Caroline.”
“Rất tiếc, cô không hiểu, Jean Louise.”
“Phải rồi, thưa cô, cô sẽ biết rõ mọi người dân thị trấn chỉ sau một thời gian ngắn. Người nhà Cunningham không bao giờ nhận bất cứ thứ gì mà họ không thể trả lại- Họ không bao giờ nhận bất cứ thứ gì của ai, họ sống với những gì họ có. Họ không có nhiều, nhưng họ xoay xở được với điều đó.”
Hiểu biết đặc biệt của tôi về dòng họ Cunningham- tức là một nhánh của họ- có được từ những sự kiện năm ngoái. Ba của Walter là một trong những thân chủ của bố Atticus. Một đêm, sau cuộc nói chuyện không vui trong phòng khách của chúng tôi về vụ hạn chế thừa kế của ông, trước khi ra về, ông Cunningham nói: “Ông Finch, tôi không biết chừng nào mới trả thù lao cho ông được.”
“Đừng lo lắng chuyện đó, Walter,” bố Atticus nói.
Khi tôi hỏi Jem hạn chế thừa kế là gì, và Jem mô tả nó như tình trạng bị kẹt đuôi trong một khe nứt, và tôi hỏi bố Atticus liệu ông Cunningham có trả tiền cho nhà mình không.
“Không trả bằng tiền,” bố Atticus nói, “nhưng trước cuối năm họ sẽ trả. Con cứ để ý xem.”
Chúng tôi đã để ý. Một sáng Jem và tôi thấy một đống củi ở sân sau. Sau đó một bao hạt hồ đào nằm ở bậc thềm sau nhà. Giáng sinh là có một thùng dây leo và cây ô rô để trang trí. Mùa xuân đó chúng tôi thấy có một bao đầy rau củ cải, bố Atticus nói ông Cunningham đã trả cho bố quá nhiều.
“Sao ổng lại trả cho bố như vậy?” Tôi hỏi.
“Vì đó là cách duy nhất ông ấy có thể trả cho bố. Ông ấy không có tiền.”
“Nhà mình có nghèo không, bố Atticus?”
Bố Atticus gật đầu. “Mình nghèo.”
Mũi Jem nhăn lại. “Mình có nghèo như nhà Cunningham không?”
“Không hẳn. Nhà Cunningham là dân nông thôn, là nông dân, và vụ sập tiệm chứng khoán giáng vào họ mạnh nhất.”
Bố Atticus nói những người có tay nghề đều nghèo bởi vì các nông dân nghèo. Vì hạt Maycomb là hạt nông nghiệp, bác sĩ, nha sĩ và luật sư khó kiếm được những đồng năm xu và mười xu. Việc hạn chế thừa kế chỉ là một phần trong những ưu tư cho ông Cunningham. Những cánh đồng không bị hạn chế thừa kế đã được cầm cố gần hết sạch, và số tiền mặt ít ỏi ông kiếm được thì phải trả tiền lãi. Nếu biết giữ mồm giữ miệng, ông Cunningham có thể kiếm được một việc làm ở WPA , nhưng đất đai của ông sẽ tàn lụi nếu ông rời bỏ nó, và ông sẵn sàng nhịn ăn để giữ đất và quyền bỏ phiếu theo ý thích. Bố Atticus nói ông Cunningham thuộc loại người ngoan cố không bao giờ  chịu thay đổi lập trường.
Vì người nhà Cunningham không có tiền để trả cho luật sư, nên họ chỉ trả cho chúng tôi bằng những gì họ có. “Con có biết,” bố Atticus nói, “bác sĩ Reynolds cũng làm việc theo cách này không? Với một số người, ông tính thù lao một lần đỡ đẻ là một thúng khoai tây. Scout, nếu con chú ý bố sẽ nói cho con biết hạn chế thừa kế là gì. Định nghĩa của Jem đôi khi cũng khá chính xác.”
Nếu giải thích được những chuyện này với cô Caroline, hẳn tôi đã tránh được ít nhiều phiền toái cho mình và cảnh ê chề sau đó cho cô Caroline, nhưng giải thích mọi việc rõ ràng như bố Atticus là chuyện nằm ngoài khả năng của tôi, vì vậy tôi nói,
“Cô đang làm nó xấu hổ, cô Caroline. Walter không có đồng hai mươi lăm xu nào ở nhà để trả cô đâu, và cô cũng không thể dùng củi mà ba nó đem tới.”
Cô Caroline đứng bất động, rồi cô nắm lấy cổ áo tôi và lôi tôi lên bàn của cô. “Jean Louise, em như vậy sáng nay  là đủ rồi,” cô nói. “Trong chuyện nào em cũng làm cho hỏng bét cả. Giơ tay ra.”
Tôi nghĩ cô sẽ nhổ nước bọt lên đó, đó là lý do duy nhất mà mọi người ở Maycomb chìa tay ra: đó là phương thức đánh dấu hợp đồng miệng có từ lâu đời. Tự hỏi không biết cô và tôi đã thỏa thuận được điều gì, tôi quay xuống lớp tìm câu trả lời, nhưng cả lớp nhìn lại tôi đầy hoang mang. Cô Caroline cầm cây thước lên, phết lẹ làng vào đó sáu cái, rồi bảo tôi đứng vào góc lớp. Một trận cười vỡ òa khi cả lớp rốt cuộc nhận ra rằng cô Caroline đã đánh tôi.
Khi cô Caroline dọa cả lớp sẽ bị y như vậy, cả lớp  lại ôm bụng cười nữa, chúng chỉ nghiêm túc lại khi bóng cô Blount trùm lên chúng. Cô Blount, một người chính gốc Maycomb cho đến lúc đó chưa biêt gì về những bí ẩn của Hệ thống thập phân, xuất hiện ngay cửa lớp, tay chống nạnh và thông báo,
“Nếu còn nghe thấy âm thanh nào khác từ phòng này, tôi sẽ thiêu rụi mọi người trong đây. Cô Caroline, lớp sáu không thể tập trung vào kim tự tháp vì tất cả sự ồn ào này!”
Tôi chỉ phải đứng trong góc một lát vì tiếng chuông hết giờ cứu tôi, cô Caroline nhìn theo cả lớp xếp hàng  để đi ăn trưa. Khi rời khỏi phòng sau tất cả những đứa khác, tôi thấy cô ngồi sụp xuống ghế và vùi đầu vào cánh tay. Nếu cô cư xử tử tế với tôi, tôi sẽ cảm thấy tiếc cho cô. Cô cũng thuộc loại khá xinh xắn… nhưng vì cô đã thế nên tôi bước đi không thèm ngoái lại…

Nguyễn Phước Tiểu Di ( dịch)

CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG

ledachoanghuu

Mùa mưa hai năm sau.
Hợp tác xã không còn làm tập thể, không còn tiếng kẻng sáng chiều báo đi làm kêu beng beng nữa. Mùa trước đã giao đất về cho bà con. Đất cộng hết lại chia đều theo công lao động, có bốc thăm gặp đất tốt đất xấu coi như may nhờ rủi chịu. Làm rồi tính thuế, lúa đóng lúa, đất hoa màu đăng kỳ làm gì thì đóng nấy, bắp đóng bắp, mè đóng mè, đậu đóng đậu… Đóng thuế tính ký, một sào bao nhiêu ký đó cũng tùy theo đất tốt xấu, làm dư thì hưởng. Phân, giống lúa cũng nhận từ hợp tác xã, chỉ giống hoa màu thì tự lo. Những miếng đất bị cỏ ống tràn lan dày đặt thành đất hoang, ai nhận đất này là khai hoang, năm đầu không tính thuế.
Việc giao đất nảy sinh rắc rối lúc đi đóng thuế. Lúc đem lúa ra cân bà con mới thấy lạ, chú Tám Thạnh giãy nãy:
“Mấy ông coi lại chớ sao kỳ cục quá”.
Ông Sáu Hoàng chậm rãi ghi sổ sách hỏi:
“Kỳ chỗ nào chú, tui cân đong rõ ràng có sổ có sách mà?”.
Chú Tám giải thích:
“Tui hông nói chuyện đó anh Sáu ơi, chỉ thắc mắc chuyện này, miếng ruộng tui kề bên miếng thằng Hải, hai miếng coi như cùng loại đất, miếng tui nhỏ hơn miếng nó sao lại đóng thuế nhiều hơn?”.
Ai ai cũng ồ lên thấy đúng như vậy. Ông Sáu Hoàng mở sổ tra kỹ:
“Thì nè, miếng ruộng chú ghi một sào mốt nè, còn của thằng Hải là chín trăm chưa tới một sào, tui tính y như vậy”.
Dì Tư Thể xen vô:
“Rồi, bị lúc đo rồi mấy ông ơi, tui thấy lạ hổm giờ mà chưa nói, có miếng nhỏ lại nhiều mét, miếng lớn thì lại ít”.
Anh Hải tặc gục gật:
“Chị Tư nói đúng chóc, mấy ông ngày trước đo trật lất, mấy ổng sợ mỏi giò có đi đâu, bước bước đại, nhắm nhắm đại mà”.
Có một anh trong tổ đo đạc ngày trước chống chế:
“Lúc đó ai nghĩ sẽ chia đâu, cứ nghĩ vô hợp tác xã cùng mần chung suốt đời thì cứ nhắm chớ sao”.
Anh Hải bực mình:
“Mấy ông làm ẩu làm tả giờ chết bà con thấy chưa?”.
Chú Tám Thạnh hỏi lại:
“Giờ tính sao?”.
Ông Sáu Hoàng với chú Năm Ngàn kêu dừng lại, chờ báo hợp tác xã. Chuyện này chẳng đặng đừng, hợp tác xã không nói sai nói sót gì, chẳng xin lỗi bà con, chuyện xưa giờ rồi làm sai có ai đứng ra nói sai xin lỗi tiếng nào bao giờ, hợp tác xã âm thầm lập lại tổ đo, đi đo lại, kỳ này bà con tò tò đi theo chớ đâu dám để tổ này một mình.
Chuyện đóng thuế cũng bắt đầu nảy sinh năm bảy đường gian lận. Bắp hộp dốt dốt là lẩy, lúa phơi một nắng cho ráo mặt là gánh đi cân cho nó nặng hơn. Rồi lúa phơi ngoài đường lộ có sạn nhỏ nhỏ, bà con gom hết đóng chẳng nghe ai thắc mắc gì, sau thêm sáng kiến kinh khủng là độn thêm vài ký sạn vô trong lúa. Có một thời người ta kêu là gạo lúa hứ, gạo này toàn sạn, trước khi nấu phải lấy rổ rá mà đãi, nhiều người chưa biết cứ để vậy nấu, cắn nhằm sạn phải hứ lên một tiếng… Lúc cân thì xúm quanh cái cân đông đông, thấy người cân ghi sổ lơ là là đạp là nhấn lên bàn cân… Vậy chớ nhiều nhà cứ nợ thuế hoài hoài, năm này chồng lên năm khác.

***

Nó đã tốt nghiệp lớp chín.
Lớp nó gồm hai xã. Xã nó có mười chín đứa, gần một nửa lớp tốt nghiệp, năm đứa rớt, một đứa bị phát hiện gian lận, nó ghi ký hiệu gì đó dù có rọc phách thầy cô chấm bài là “người nhà” cũng biết, nghe nói ba thằng này mời thầy cô về nhà đãi tiệc linh đình rồi nhờ vả, chuyện sau này lan ra nó bỏ hẳn vô bưng không thấy mặt mũi, một phần khi đi học thằng này tham gia phong trào dữ lắm, nhắm chức liên đội trưởng hoài, nhưng chỉ được làm phó. Bị quê dữ là chuyện này, mấy đứa nhỏ ê a: “Anh liên đội phó, bố xin điểm số, gặp ngay sự cố, zê rô tổ bố, rớt bịch xuống hố”. Ông thầy chấm thi cũng bị kỷ luật thuyên chuyển đi vùng núi.
Ngày có kết quả tốt nghiệp nhiều nhà mừng rơn, tiệc tùng đãi cả xóm. Với nó thì bình thường, vui một chút, một nồi chè má nó nấu cùng bạn bè là đủ.
Thi lên lớp mười còn mười bốn đứa, thêm năm đứa “rơi rụng”.
Rồi một ngày tự dưng nó thấy buồn vô kể, buồn không thể tả nổi, chưa bao giờ buồn như vậy. Buồn nhưng lại không muốn nói cùng ai, một mình lao ra khỏi nhà, băng băng chạy ra đồng cỏ vật mình nằm nhìn mây trời, nó lẩm bẩm một mình: “Sao lại buồn thê thảm quá, hỡi cơn gió tuổi thơ ơi!”. Chợt một luồn gió mát, nhẹ nhàng bay tới, nó à lên:
“Thì ra là mày hả cơn gió tuổi thơ?”.
Cơn gió tuổi thơ gật đầu:
“Ừ, mình đây, lâu quá hông nghe bạn gọi, tưởng quên mình rồi chớ”.
Nó ngồi dậy cố mỉm cười:
“Mình phải lo nhiều thứ, lo làm lo phụ giúp gia đình, mình đâu còn nghĩ được chuyện riêng tư”.
Cơn gió ngạc nhiên:
“Bạn phải lo, bạn hông còn hồn nhiên tuổi thơ của mình?”.
Nó gật đầu:
“Phải, giống như ba mình nói đó, mình như mất phần tuổi thơ sau này vậy”.
Cơn gió trợn tròn mắt:
“Thôi chết rồi, vậy là căng à nha, mình nghe nói lại, mất tuổi thơ sau này dễ đánh mất linh hồn lắm đó”.
Nghe cơn gió nói nó liên tưởng tới người lớn, nhiều chuyện xấu nhiều chuyện không đúng xảy ra, phải chăng một số người hiện tại ngày trước không có tuổi thơ?, bị cướp mất tuổi thơ? mới nên nông nổi này?, nó nghĩ về ngày sau của mình và rùng mình, cuối cùng lắc đầu:
“Bây giờ mình đâu có nghĩ gì về sau, trước mắt còn như bóng tối chẳng có câu trả lời đây”
Cơn gió thấy nó rùng mình và lắc đầu nên ngờ ngợ:
“Bạn nói nghe lạ quá” – Cơn gió nhìn nó kỹ hơn, rồi tiếp: “Ý chà bạn đã nhổ giò lên cao chút rồi, giọng khác đi rồi hén, bắt đầu ồ ồ hen, a ha tới lúc bạn sẽ có cơn gió khác, mình phải chào bạn đây”
Nó hỏi:
“Bỏ mình đi thiệt sao?”.
Cơn gió cười:
“Đã tới lúc mình hông còn được phép bên bạn nữa rồi, chớ hông phải mình bỏ bạn ”.
Nó níu kéo:
“Mình hông muốn lớn lên, mình chỉ muốn làm tuổi thơ”.
Cơn gió lắc đầu:
“Không thể làm trái quy luật được”.
“Vậy cơn gió tiếp theo của mình là gì?”.
“À, đó là cơn gió mang hồn lững thững”.
Cơn gió mang hồn tuổi thơ ôm nó lần cuối rồi bay đi.
Nó buồn thêm. Không buồn đứng dậy, nó ngã người tiếp nằm ghĩ ngợi, nghĩ rất mông lung, nghĩ đủ thứ trên đời, tự hỏi đủ thứ trên đời. Đôi khi nó cảm thấy mình có những suy nghĩ rất lạ, không còn giống con nít, mà người lớn cũng không ra người lớn.
Một cơn gió bay lại bên nó nhưng cơn gió này mạnh mẽ hơn cơn gió nhẹ tưổi thơ của nó. Cơn gió chào nó:
“Mình là cơn gió mang hồn lững thững của bạn, bạn đang rất buồn?”.
Nó lim dim:
“Buồn lắm, trước giờ chưa bao giờ buồn như vậy”.
Cơn gió nói:
“Vậy là do bạn đã cảm nhận được rồi đó”.
Nó hỏi lại:
“Như vậy là lững thững?”.
“Ồ không, con người ai cũng phải lớn lên, phải qua giai đoạn tuổi thơ rồi đến trưởng thành, nhưng không phải cái gì cũng ào ào, lững thững như chiếc cầu nối, bạn vẫn còn một nửa bước chân bên này trước khi bạn bước qua hết”.
Nó hiểu ra:
“À, mình vẫn còn là nó”.
Cơn gió gật đầu:
“Kể những nỗi buồn cho mình nhé!”.
Nó cũng gật đầu:
“Ừm để mình kể, nhiều, nhiều câu chuyện buồn, buồn lắm!”.

***

Ngày mùng sáu Tết, cứ khoảng độ ba tiếng đồng hồ là có đoàn người đi ngoài đường lộ ngang trước nhà nó. Đi mà bước chân cứ như chạy lúp xúp, đi từ sáng sớm cho tới chiều tối, giữa trưa nắng cũng đi. Qua ngày hôm sau nữa cũng còn y chang. Thấy lạ mấy thằng con nít còn chơi Tết chạy ra coi thử. Thằng Học lanh lẹ chạy theo kè kè biết được chuyện này, chạy về nói với cả đám đang túm tụm:
“Tao biết chuyện gì rồi”.
Thằng Hào hất hàm:
“Chuyện gì vậy mậy, thấy kỳ kỳ”.
Thằng Học chậm rãi, nói nho nhỏ:
“Họ đang làm đám ma… bài”.
Nó ngạc nhiên hỏi:
“Ngộ dữ mậy, là sao?”.
Thằng Chí học lớp nó ngạc nhiên không kém:
“Lần đầu tao mới nghe”.
Thằng Học cười cười:
“Là vầy nè, tụi bây thấy bốn ông chạy lúp xúp đó hông, bốn ông đó bị bắt oánh bài, bị hình phạt làm đám ma bài”.
Nó hiểu hiểu:
“Là bốn ông đó… khiêng bài đi chôn”.
Thằng Học gật gù:
“Đúng đó mày, mỗi lần mấy ổng khiêng một lá, bốn ông bốn góc, đem từ xã tới núi Đất rồi đào hố mà chôn, chắc cũng năm sáu cây số, hai ông chạy xe kè kè theo có súng là hai ông công an xã đó, hai ổng nói đi chôn cho đủ năm mươi hai lá bài”.
Thằng Hào cười ha ha:
“Ù, hình phạt độc quá tụi bậy, mấy ông này chắc đi rã giò”.
Thằng Cọt chen vô:
“Hơn chục ngày giữa nắng cháy chớ hông ít”.
Thằng Chí gật đầu:
“Về tởn tới già chớ làm sao dám oánh nữa”.
Tháng sau ông bí thư xã bị bãi nhiệm không nói lý do. Ông này về làm thường dân, lẩn quẩn trong nhà chớ ít khi ra đường. Anh Ba Lễ được ra làm công an, ông trưởng công an lên làm chủ tịch, ông chủ tịch thế chỗ ông bí thư. Anh Ngạo hỏi anh Ba Lễ:
“Sao ông bí thư bị về vườn vậy Ba Lễ?”.
Anh Ba Lễ cười ruồi:
“Bị bắt oánh bài ăn tiền”.
“Vậy sao hông bị làm đám ma…?”.
Anh Ba Lễ gạt ngang:
“Thôi ông, dù gì cũng đã từng làm cán bộ, đưa ra mất mặt chớ với lại cũng có công chiếc đấu trong rừng”.
Thằng Hào leo vô:
“Tui nghe nói ổng bị chơi, ông chủ tịch muốn lên huyện nên gài bẫy”.
Anh ba Lễ trừng mắt:
“Con nít con nôi biết gì nói bậy mậy”.
Thằng Hào còn ba gai hơn ngày nào:
“Thằng này hông còn con nít đâu nhe, có sao tui nói vậy”.
Anh Ngạo gục gặc:
“Nghe cũng có lý, mà chắc gài cũng có mà cha nội đó mê bài cũng có, ai mà hông biết”.
Anh Ba Lễ lắc đầu:
“Tui mới ra xã đâu biết gì, thôi hông bàn nữa”.
Thằng Hào bỏ đi nói với lại:
“Ông đừng có oánh bài nghe ông đặng mau mau lên làm chủ tịch”.
Anh Ba Lễ hậm hực lắm rồi cũng bỏ đi lên xã.

***

Anh Ba Lễ hậm hực vì thằng Hào cứ trêu tức hoài mà hông làm gì được. Anh Hùng của thằng Hào đã trở về từ chiến trường trên đôi nạn gỗ. Anh trở về mang theo niềm vui mừng cùng một nỗi buồn cho anh và cho cả bà con xóm làng. Mừng là còn giữ được tánh mạng. Buồn cho thân phận tàn tật. Nỗi buồn nhiều hơn vì với tâm trạng trầm uất, chán nản, vừa về là anh “bầu bạn” ngay với rượu, gây ra nhiều chuyện tai tiếng. Bà con dĩ nhiên thiệt sự thông cảm nhưng phải chịu nhiều khổ ải.
Đám con nít xúm lại kêu anh Hùng kể chuyện chiến đấu. Đi coi phim tụi nó thấy quân ta bắn quân thù gục gã, anh dũng xông pha giữa sa trường đứa nào không khoái, tụi nó nghĩ anh cũng vậy nên mới bị thương.
Anh ngồi nhìn xa xăm, sau đó nhếch mép:
“Tụi bây tưởng hay lắm sao, chiến tranh chết chóc, tàn khốc chớ vui vẻ gì. Nói thiệt với tụi bây lần đầu tiên đi hành quân, gặp phục kích tao té đái ra quần, đứng như trời trồng gương súng lên trời mà bóp cò, đó nhiều cái chết lãng xẹt như vậy đó, đứng như trời trồng tránh đâu khỏi. Bữa đó tao may mắn có những đàn anh đi trước có kinh nghiệm kịp kéo dúi đầu tao xuống chớ hông bây giờ làm ma rừng xơ rơ trời lạ rồi. Lại có những cái chết tức tưởi, vừa hành quân trận đầu, chưa xáp trận gì cả đã dậm phải mìn nổ tan xác hay chỉ vì mải mê rượt theo một con thú, tìm miếng mồi cho đồng đội thiếu thốn trăm bề và bị bắt…”.
Cả đám tiu nghỉ, im lặng chẳng biết hỏi gì, tụi nó đâu ngờ là vậy, và thêm cái giọng chầm chậm, nghèn nghẹn kể từ anh nữa. Anh Hùng tiếp:
“Bây biết hông, phải ba bốn lần xáp trận như vậy mới lấy lại bình tĩnh. Và cho tới lúc bắn trả, bắn chính xác hay quyết chiến là khi nào bây biết hông…- Anh dừng lại nhìn đám tụi nó tiếp tục lắc đầu, làm sao tụi nó biết được, giọng anh càng trầm xuống: đó là lúc đồng đội của mình, người bạn từng chia sẽ điếu thuốc, chia sẽ từng miếng cơm, cùng nằm một giường với mình gục xuống… Sao nữa …? À… là bắn, bắn và bắn, bắn cho sạch, bắn cho kẻ địch rút chạy mà thôi. Rồi tiếp nữa là gì? Là vui mừng đã trả thù được à? Là đã chiến thắng, là đẩy lui được địch à? Có, có vui mừng lắm chớ nhưng cũng xen lẫn tê tái, bàng hoàng, xác người nằm la liệt, máu đỏ loang đổ nhuộm bãi cỏ xanh… Câu hỏi sẽ lẩn quẩn trong đầu, tại sao lại như vậy? Tại sao phải giết chóc lẫn nhau, cả hai phía âu cũng là con người, con người sanh ra là để sống mà, hầu hết có ai muốn như vậy bao giờ, tại sao lại có kẻ tàn bạo đẩy tới bước đường cùng này… Chiến tranh trong mắt tao là vậy, bây thấy có vui sướng hông?”.
Từ chỗ tụi nó tưởng chừng rất vui đã biến thành một bầu trời ảm đạm. Mây xanh mà thành xám ngoét, gió lặng đìu hiu mang máng tiếng chim vịt kêu chiều. Khá lâu sau anh Hùng lấy cây nạn gỗ gõ mạnh xuống đất:
“Thôi bỏ đi, kể nhiều mấy thằng bỏ xác bên đó nó buồn. Theo tao, bây giờ bây coi tao làm anh hùng nè”.
Anh chống nạn đứng dậy khập khiểng bước đi, thằng Hào hỏi:
“Đi đâu anh?”.
Anh đáp gọn:
“Theo tao rồi biết”.
Đi một hồi đám tụi nó thấy gần tới ủy ban xã, thằng Cọt hỏi tiếp:
“Tới xã hả anh Hùng”.
Anh Hùng gật đầu:
“Tới xã”.
Thằng Chí lại hỏi:
“Ủa, tới xã chi anh?”.
“Thì tới đó khắc biết”.
Tới sân xã, anh Hùng ra hiệu đứng lại:
“Tụi bây đứng hết đây, cấm tới gần, lỡ có chuyện gì tao hối hận hông kịp”.
Anh khệnh khạng đi tới sát bật thềm, đứng ngay trước hành lang nhà ủy ban, cái chân cụt gát lên thanh ngang nạng gỗ, móc điếu thuốc lá ra anh châm lửa, nhả làng khói lên trời. Thấy anh Hùng đứng đó, nghểnh đầu phà khói, anh Mừng nay đã là xã đội phó bước tới gần hỏi:
“Có chuyện gì hông Hùng?”.
Anh Hùng nhếch mép cười:
“Tao tới tặng trái này cho tụi bây”.
Nói xong anh móc một trái trên lưng quần ra quăng thẳng vô phòng. Anh Mừng trợn mắt la lớn:
“Lựu đạn, nó liệng lựu đạn”.
Ba bốn người trong phòng hoảng hồn vía, người đẩy bàn bung chạy ra cửa chính, người phóng ào bay qua cửa sổ, bàn ghế giấy má trong phòng đổ ngổn ngang, bay tứ tung. Anh Mừng cũng lui chạy một khúc. Anh Hùng rít thêm hơi thuốc rồi cười ha hả:
“Đúng là mấy thằng chết nhát”.
Chờ một hồi lâu không thấy tiếng phát nổ và vẫn thấy anh Hùng đứng yên Anh Mừng mon men lại gần, thêm vài anh xã đội phòng bên ôm súng từ từ tiến lại, anh Hùng hất hàm:
“Vô đi, vô đi rồi nó bùm một phát đừng trách tao hông báo trước”.
Toán anh Mừng đứng khựng lại rồi lui lui mấy bước và lại nín thở chờ đợi. Anh Hùng ném mạnh cái tàn thuốc xuống đất, nói lớn:
“Nói thiệt với tụi bây chớ lựu đạn khỉ gì, quởn quá tao đẽo trái lựu đạn cây hù tụi bây chơi”.
Anh Mừng nhìn anh Hùng nửa tin nửa ngờ dợm chưn nhưng chưa bước tới, anh Hùng tiếp:
“Tao chơi như quân tử, nói một là một chẳng hai lời, vô coi đi, tao còn đứng chình ình đây thấy hông”.
Lần này anh Mừng tin nên bước vô, anh cầm lên thì đúng là trái lựu đạn cây thiệt, anh cầm rồi bước ra:
“Mày chơi gì kỳ vậy Hùng, sao tối ngày đi phá hoài vậy?”.
Một anh xã đội lên đạn lốp rốp, mặt đỏ phừng phừng:
“Mẹ, bắt nhốt cho nó biết lễ độ, phá rối an ninh trật tự hả”.
Anh Mừng đưa tay cản lại. Tụi nó thì đang run sợ, thằng Chí lắp bắp:
“Mấy… mấy ổng bắt… bắt anh Hùng… anh Hùng…”.
Anh Hùng nghe anh xã đội nói xong quay qua nhìn chằm chằm, nắm áo bứt bựt nút, tà áo bung ra, anh đưa cây nạn gỗ chỉ vào mặt anh xã đội:
“Cha mày thằng nhóc con, chửi mẹ tao hả, mày ngon bắt tao đi, mày ngon bắn đi” – Anh nhích chích lại gần: “Mày ngon bắn vô trái lựu đạn thiệt trên người tao rồi cùng chết nè, dám hông thằng miệng còn hôi sữa, cha mày cũng hông dám nói chi tới mày…”.
Anh xã đội lúc này mặt hết đỏ đã chuyển sang tái, anh Mừng đưa hai tay ra phía trước:
“Có gì từ từ nói, từ từ giải quyết mậy Hùng”.
Vừa lúc đó thì thằng Hào và ba nó chạy lại, thằng Hào thấy tới xã biết sẽ có chuyện xảy ra nên lén chạy nhanh về báo ở nhà, ba thằng Hào nhào lại ôm anh Hùng:
“Thôi, thôi con, về nhà đi con, về đi đừng phá làng phá xóm nữa”.
Anh Hùng chỉ tay về mấy anh xã đội:
“Tui hông có phá xóm phá làng, tui chỉ phá những thằng ngồi mát ăn bát vàng này thôi, ngon cầm súng ra chiến trường mà chiến đấu chống kẻ thù kìa, chui rúc ở đây hù dọa bà con thì giỏi”.
Anh Hùng quay người, đi vài bước anh còn ngoái đầu lại:
“Tao mà nghe bức bà con, khó dễ cô bác tao ra thảy trái lựu đạn thiệt chớ hông giỡn nữa”.
Đám tụi nó cũng xanh lét mặt mày, nhưng không phải chỉ lần này, một vài lần nữa, anh Hùng rủ thêm vài người bạn thương binh kéo nhau đứng giữa đường lộ, chặn xe lại xin tiền. Không cho sẽ bị hù đập bể kiếng hay nằm trước đầu xe, xe nào dám cán qua, dám chống đối với người giắt vài trái lựu đạn…
Anh Mừng ghé xuống nhà năn nỉ:
“Hùng, mày thôi đi, đừng làm vậy nữa mang tiếng xóm làng”.
Anh Hùng cười ngạo nghễ:
“Mày nói hay lắm, mày lo cho tao cái ăn đi tao đâu làm vậy, thân trai tráng vậy mà giờ tao thành ăn bám gia đình mày thấy có nhục hông”.
Anh Mừng gật đầu:
“Tao biết nỗi khổ của tụi bây, nhưng có mà, tao nghe nói sắp có chính sách cho thương binh liệt sĩ rồi”.
Anh Hùng tiếp tục cười:
“Câu này tao nghe nhiều rồi, tao chờ cũng dài cổ rồi, nói hay lắm chớ có làm đâu, tụi tao có khác nào những đứa con bỏ chợ”.
Anh Mừng gục gật:
“Đất nước đang khó khăn, tụi bây ráng chờ, có việc gì nhè nhẹ làm được thì làm cho vui”.
Anh Hùng gạt tay:
“Thôi tao hông nghe nói nữa, nhức lỗ tai, tao đi ngủ sướng hơn, mày về đi”.
Lâu lâu anh Mừng lại ghé một bữa, tiếp tục nói chuyện, anh Hùng có giảm đi nhưng không dứt hẳn mấy chuyện này.

***

Chú Tư râu dắt chú Thành sẹo tới nhà nó. Má nó rót nước trà và hỏi:
“Chà, bữa nay có chuyện gì mà rồng ghé nhà tôm vậy?”.
Chú Tư giả lả:
“Dạ, tui ghé thăm anh chị, ảnh có nhà hông chị?”.
“Ổng đi công chuyện gì rồi tui hông biết nữa, hông có nói”.
“Nghe nói ảnh ở trong rẫy”.
“Vậy chú vô rẫy kiếm coi, tui còn chẳng biết có cái rẫy”.
Chú Tư cười:
“Đâu có ý vậy đâu chị Hai, tui ghé trước thăm sau có thêm chút chuyện”.
“Có chuyện gì chú nói đại tui nghe”.
Chú Tư chỉ chú Thành:
“Chị biết đó, chú Thành ở trong bưng xa xôi, đường đi lại cực khổ quá, nay hỏi xin anh chị cho gia đình chú ra ở nhờ nhà bỏ không của ông Ba Thảnh, đặng mấy đứa nhỏ học hành cho dễ bề”.
Má nó ậm ừ:
“Nhà và vườn trái cây chú Ba Thảnh tui giữ dùm, tui đâu dám cho”.
Chú Tư giọng nằn nì:
“Thì xin chị nói với chú một tiếng, chớ nhà bỏ hoang cũng uổng”.
“Chú Ba Thảnh ổng vô Sài Gòn chữa bịnh tui đâu biết lúc nào chú về, mà có về chú cũng đâu có về đây, chú ghé nhà đứa khác ở đâu tui cũng hông rõ, thôi để tui hỏi lại ông xã tui rồi có gì tui tin cho chú”.
Chú Thành sẹo nói vô:
“Mong chị nói vô, giúp cho em út, con cháu nó nhờ”.
Chú Tư và chú Thành chào ra về. Má nó lầm rầm:
“Tết nhứt còn chưa ghé giờ kêu ghé thăm”.
Má nó bàn với ba, thôi cho ở đại chớ dạo này tụi chăn bò phá phách, trộm trái cây quá, cho ở coi mình khỏi giữ. Vườn là đất thổ canh và nhà chú Ba Thảnh của ba nó, nó kêu bằng ông, có bà con xa, ở cách nhà nó cũng gần, chỉ vài trăm thước, nhưng ở bên đội khác nhờ giữ dùm. Ba nó nói:
“Chú Ba Thảnh chắc đi luôn rồi, lâu lắm đâu thấy về, bà về nói cho ở nhưng viết giấy tờ đàng hoàng, không cho họ chắc chắn làm khó dễ, chẳng mần ăn gì được đâu”.
Vậy là chú Thành sẹo về ở nhà ông Ba Thảnh của nó. Anh em vẫn qua lại hái trái cây, lâu lâu chú Thành hái trái chín bưng qua nhà.

***

Mùa hè tới.
Đoàn phòng giáo dục với thầy Phương và ba người nữa về xã công tác và ở nhà nó. Hai chị cùng phụ với đoàn.
Một bữa thầy Phương hỏi:
“Sao bác hông cho hai em nó đi học?”.
Má nó hỏi lại:
“Học gì được thầy, lý lịch xấu mà?”.
Thầy Phương ngẫm nghĩ một chút rồi đáp:
“Dạ, hai em nó đã xong tú tài một ngày trước tương đương với lớp mười một bây giờ, cho đi học trung cấp sư phạm được đó, sau ra làm giáo viên cấp một.
“Người ta dễ gì cho đi thầy ơi”.
Thầy Phương gật gật đầu:
“Bây giờ đang thiếu giáo viên nhiều lắm với lại con gái cũng đỡ xét lý lịch hơn, để con viết giấy giới thiệu cho xã và trường sư phạm”.
Má nó mừng rơn:
“Nếu được vậy thì còn gì bằng, biết cảm ơn thầy sao đây”.
Thầy Phương tươi cười:
“Có gì đâu bác, tụi con ăn nằm dầm dề làm phiền bác quá chừng chưa nói gì”.
Mấy chị thiệt tình rất muốn được đi học, ra dạy học vả lại Nhà nước lo hết mà. Sao này ra trường chưa cần nói lương đã có sẵn cái sổ mỗi tháng mười ba ký gạo, đâu sợ đói.
Tháng mười thì hai chị được nhập học. Khóa học ba năm. Một hai tuần lễ lúc về thăm nhà lúc má nó đạp xe ba mươi cây số đi thăm, mang ít đồ qua tiếp tế, bù cho cơm canh tập thể, cơm gạo còn mày đen, canh thì được ví là nước muối đại dương, lõng bõng rau muống rau cải bằm như bửa củi và “lặn” tới đáy chưa tìm ra miếng thịt. Thời ăn tập thể này món cơm cháy lên ngôi nhưng cũng săm xoi lựa kỹ bởi dễ gặp cơm cháy hứ, sạn đọng đáy chảo dày đặc không khác hột cỏ, hột cỏ nhẹ xen lẫn vào cơm vẫn ăn bình thường sau cũng phải lựa vì truyền tới tai hột cỏ không tiêu, sanh đau bao tử, có người đau đi mổ moi ra cả bọc còn nguyên…
Còn người chị đầu nó thì không một lời gì với nhà, với ai, lẳng lặng ra đi biền biệt năm trước rồi, phải báo mất tích. Nhưng cả nhà hy vọng là chị chỉ bỏ đi đâu đó, có lẽ là vượt biên, bởi tủ nhà bị cạy lấy mất hai chỉ vàng và ở xóm trên cùng nhóm bạn chơi với nhau cũng có một người y như vậy. Duy chị này có hé lộ chút chút với vài người bạn chuyện bỏ đi xa, đi ra biển cả. Chị nó cùng chị này đi mất cùng một lượt.

***

Cũng trong đầu mùa hè này trong xóm có thêm chuyện buồn, may là chưa tới mức đau thương.
Chuyện lúm xùm giữa anh Hải đất và chú Tòng càn. Dắt díu nhau ra nhà ông Sáu Hoàng cùng bà con phân xử, có cả công an xã xuống dự.
Phó công an xã Trí hỏi:
“Bây giờ từng người thuật lại câu chuyện ra sao?”.
Chú Tòng càn ào ào liền:
“Thằng này muốn giết tui, nó lấy cuốc oánh tui gãy xương sống, bắt nó bỏ nhà đá cho nó mọt gông”.
Anh Hải đất giãy nãy:
“Ông vừa vừa thôi nghen, tui mà lấy cuốc oánh ông giờ ông còn ngồi đó hả”.
Dì Tư Thể chen vô:
“Đúng rồi, nó mà phang một cái chắc giờ ông đoàn tụ với ông bà”.
Bà con cười rục rịch, anh Trí đập tay xuống bàn:
“Bà con trật tự, chú Tòng và anh Hải cũng phải ăn nói đàng hoàng, không có cắt ngang như vậy, tui hỏi là hỏi từ đầu, nguyên cớ ra sao?”
Chú Tòng nói:
“Chuyện là vầy, tui đang mần ruộng hông biết cắc cớ gì nó lấy cán cuốc phang cái ình vô lưng tui, giờ còn sụm bà chè”.
Có tiếng xì xào, dì Tư Thể lên tiếng tiếp:
“Phang vô lưng thì sụm sống lưng chớ sao sụm bà chè cha nội, mà hồi nãy ông lại nói gãy xương sống, gãy xương sống mà đi được ra đây”.
Bà con cười rần, anh Hải phân bua:
“Chú lớn rồi ăn nói cho nó đúng, tui có phang chú tui nói có phang, nhưng tui đã cố tình trở đầu cuốc, phang cán một cái nhẹ hù chú thôi, mà đâu phải tự dưng tui phang, tui ức quá mà…”.
Chú Tòng đứng lên cắt ngang:
“Đó, nó nói có phang tui đó”.
Anh Trí ra hiệu cho chú Tòng ngồi xuống:
“Chú cứ bình tĩnh, để anh Hải nói hết, giờ anh Hải nói tiếp đi tại sao lại oánh người ta”.
Anh Hải nãy giờ bậm môi, anh nói nhỏ dần, mắt chớp chớp rơm rớm:
“Chú Tòng cứ làm càn hoài, tui nói chú nhiều lần rồi mà chú đâu có nghe, ruộng chú bị lỗ mọi hay bị gì đó chảy hết nước, chú tự ý trổ bờ lấy nước ruộng tui, chẳng nói một tiếng, mà đâu phải một lần, nhiều lần lắm chớ, rồi tui hông biết chú có canh lúc tui vừa rải phân hông mà cứ tui rải là chú trổ lấy nước, phân chưa thấm chạy qua ruộng chú hết trơn, tui nhắc chú chú chẳng trả lời trả vốn, chú ghim chú tức tui chú nhổ cỏ ruộng chú hông bỏ lên bờ chú thảy luôn qua ruộng bên này, chưa hết nữa, hổm mưa ngập, sợ lúa úng tui xin chú xả nước ngang ruộng chú một mực nói hông, chú là người lớn, ruộng kề bên nhau xử xự vậy coi có được hông?”.
Chú Tòng ơ ớ chưa kịp nói, chú Tám Phèn lên tiếng:
“Anh Tòng ơ ớ gì nữa, tui nói thiệt chẳng binh bỏ ai, bà con biết tui như ruột ngựa, tui thấy thằng Hải nói hông quá nửa lời, nó trước nay hiền như cục đất ai hông biết, anh Tòng làm bậy quá nó điên lên chớ, nếu là tui chắc hông tới bữa nay đâu, anh coi lại mình đi, chịu gì tui cũng làm chứng hết”.
Anh Ngạo nhảy vô:
“Ổng có biệt danh là Tòng càn mà, thấy bà con hông nói ngày ổng làm càn thấy ớn, lý ra tên Tòng phải xứng là anh hùng võ hiệp chớ đàng này…”
Dì Tư Thể gục gật:
“Ai cũng thấy vậy mà chưa nói thôi đó chú Tòng, chú nên coi lại mình đi”.
Chú Tòng cứng họng hông nói được lời nào. Anh Trí hỏi lại:
“Anh Hải với bà con nói vậy chú thấy sao?”.
Chú Tòng ậm ừ một hồi rồi cuối mặt xuống, nói nho nhỏ:
“Có, tui có làm bậy”.
Ở dưới bà con xì xào, biết vậy là được rồi, đỡ rồi. Anh Trí hỏi bà coi:
“Theo bà con vụ này xử trí như thế nào?”.
Chú Sáu Tình đứng ra:
“Tui có ý này, theo tui thằng Hải nó có lỗi oánh ẩu anh Tòng nhưng thiệt tình nó hông cố ý oánh cho thương tích còn anh Tòng cũng sai, giờ ảnh biết lỗi rồi, chuyện cũng chưa xảy ra gì ghê gớm, thôi thì bỏ qua, dàn hòa, xin lỗi nhau, dù gì cũng bà con lối xóm lại ruộng kề bên nhau, mong từ nay hông xảy ra vậy nữa”.
Bà con ở dưới đồng tình cách xử trí của chú Sáu Tình. Anh Trí suy nghĩ một hồi sau rồi nói:
“Tui thấy cách của chú Sáu cũng được nhưng bị cái chỗ anh Hải có oánh người dù nhẹ hông có kỷ luật gì cũng khó ăn nói với cấp trên, tui sẽ báo cáo lại anh Hải oánh nhưng hù thôi chớ chưa có trúng người, xử anh Hải một tuần lao động công ích, dãy cỏ vòng quanh xã, chú Tòng thì nhắc nhở từ nay về sau phải chấn chỉnh tư cách, hông được làm càn, tui xử có tình có lý, bà con, anh Hải và chú Tòng thấy sao?”.
Bà còn gật đầu, vậy cũng được, chỉ một tuần chớ đâu nhiều lắm. Anh Hải đứng dậy:
“Tui xin lỗi chú Tòng đã nóng tánh, con cháu mà oánh người lớn thiệt xất mặt lắm, xin lỗi đã làm phiền bà con, còn hình phạt vậy tui thấy là nhẹ rồi, tui cảm ơn anh Trí, cảm ơn bà con”.
Chú Tòng cũng đứng lên:
“Tui xin lỗi bà con, chú cũng xin lỗi thằng Hải, tui sẽ cố gắng từ nay bỏ cái tánh kỳ cục này”.
Họp tan, bà con lối xóm ra về ai nấy đều thông cảm.

***

Nó ngừng lại chớp chớp đôi mắt nhìn những đàn chim tay về tổ. Mặt trời còn chừng cây sào là khuất xuống núi Đất. Ánh nắng không còn chói lòa và phát ra những tia sáng rõ hơn trên nền ráng vàng. Ráng vàng thì gió ráng đỏ thì mưa, vậy đã sắp kết thúc mùa mưa rồi. Cơn gió gục gật:
“Ấy dà, buồn”.
Nó nhắm đôi mắt lại:
“Chưa hết đâu, còn thê lương nữa kìa”.
Cơn gió biểu lộ không gì ngạc nhiên hơn:
“Còn nữa à, sao nhiều dữ?”.
“Mình cũng không hiểu”.
Cơn gió nho nhỏ:
“Bạn muốn kể tiếp hông, hãy kể hết cho nhẹ người”.
Nó gật đầu:
“Ừ, ráng chịu khó nghe nhé, mình kể tiếp đây”.

***

Hung tin đến với nhà nó khá trễ.
Ba nó kịp về làm cái tủ thờ thì đã đúng bốn mươi chín ngày mất của ông nội. Tin tức cũng không rõ ràng, chỉ được biết ngày mất, có tin nói ông nội bị bịnh, có tin nói ngoài đó lụt bão lớn lắm, nhiều người già không chịu nổi rồi có tin ông nội bị tai nạn. Nhưng dù tin như thế nào thì ông nội cũng đã về với tổ tiên ông bà. Ba nó thắp nhang trên mâm cơm lầm rầm khấn vái rồi trầm lặng như mấy ngày qua đã trầm lặng, không nói lời nào. Chắc chắn nỗi đau lớn nhứt là không được về bên ông nội. Má nó, mấy chị và anh rưng rưng nước mắt. Nó cũng thấy thiệt buồn rưng rưng theo nhưng thực tình thì vẫn chưa cảm nhận hết, khoảng thời gian ở bên ông nội chẳng được bao lâu, rồi phần thời gian sau này cũng đâu ai đủ nhớ để nhắc nhiều về ông, trí nhớ ẩn mình theo năm tháng bôn ba, lo lắng cho phía trước.
Ba nó thở dài trở lại rẫy.
Nó mong mùa măng tới. Phụ tùng cho chiếc xe đạp đã đầy đủ, giờ chỉ còn thiếu cái sườn nữa mà thôi. Nó muốn một cái sườn ngang bởi nhớ chiếc xe dàn cái ngày trước ba chở lòng vòng Sài Gòn.
Mùa măng cũng tới.
Như mọi năm nhưng bây giờ thì nó không chỉ phụ chỉ lột vỏ, đã lao vào xắn, đã gánh đầy măng về.
Ba nó phải ở nhà với ruộng một ngày và nói:
“Hai con cũng nên nghỉ xả hơi một bữa”.
Nó khá mệt mỏi nhưng nghĩ lại thôi:
“Dạ, ba cho con đi tiếp vì chưa đủ cho cái sườn xe đạp”.
Ba nó gật đầu:
“Ừ, thôi ráng đi”.
Hai anh em không đi Dốc Lớn mà chuyển hướng đi Dốc Lết. Đêm đó anh nó nằm mơ thấy Dốc Lết măng nhiều vô kể. Mà măng Dốc Lết đúng là nhiều, tre cây gỗ phía bên kia dốc cũng còn rất nhiều cây lớn, bởi phía bên đó có sườn núi hiểm trở, Dốc Lết đi ngang qua suối lớn cũng hiểm trở không kém, đã gọi là lết còn gì. Dốc Lết bùn lầy đầy hết, xe bò kéo gỗ qua một cặp không bao giờ kéo nổi, phải móc thêm một có khi là hai cặp nữa, bùn sình lún hết cả chưn bò, còn phần bụng to mới không chìm xuống, bò kéo xe gỗ qua như bơi trong sình, bò khó đi cứ đứng chững, người ta phải nện ình ình bằng cái cây dẻo cỡ bắp tay chớ không còn là roi oánh chóc chóc nữa. Người phải nói là gan lỳ đi ngang thấy cũng phải rùng mình chạnh lòng. Bò chiến kéo xe Dốc Lết chỉ xài được một mùa, mùa sau cho về làm loạch hoạch chuyện nhẹ nhàng, hay bị xẻ thịt.
Vừa qua đứng bóng là anh em nó đã đóng đủ gánh măng. Cơm nước xong nghỉ một chút là rời khỏi lao tre. Hai anh em mừng rơn vì được về sớm nghỉ ngơi. Ra tới đường xe bò một chập nó thấy bóng người ở trần lại đang loay hoay giữa đường, rất kỳ lạ. Tiến lại gần thì gặp gương mặt thằng Thà đầm đìa nước mắt vừa thở hộc hộc vừa rên rỉ. Hai anh em tá hỏa, thằng Thà đang ôm anh Thững của nó đứng dậy định đi tiếp, cẳng chưn anh Thững được bó bằng cái áo của thằng Thà máu nhuộm đỏ gần hết, anh Thững đang vật vã trong cơn đau, anh nó hỏi gấp:
“Có chuyện gì?”.
Thằng Thà thều thào:
“Anh Thững bị thương”
“Nặng hông?”.
“Nặng lắm, đụng tới xương, máu ra xối xả phải lấy áo băng đỡ”.
Anh nó nói tiếp:
“Bỏ hết măng đi, cùng đưa ảnh mau mau về”
Nó sực nhớ ra:
“Ba anh em mình đưa ảnh qua Dốc Lết nổi hông, hay để em chạy nhanh về rẫy kêu ba với chú Ba, anh với thằng Thà đưa ảnh tới Dốc Lết đi còn cả hai cây nữa chớ hông ít đâu”
Anh nó ừ, hối:
“Đúng đó, chạy nhanh đi, à mà cởi áo để lại đây”.
Nó phóng như bay, anh nó băng thêm cho anh Thững rồi cùng thằng Thà cõng thay phiên tới Dốc Lết.
Về báo cho ba nó xong, ba nó nói:
“Con chạy nhanh về nhà báo bà con kiếm chiếc xe lam chờ sẵn ở nhà ông Sáu để chở đi bênh viện tỉnh” – Ba nó cùng chú Ba Mạnh lao đi Dốc Lết, còn nó lao về làng.
Hơn ba tiếng đồng hồ thấp thỏm đợi chờ ba nó và chú Ba Mạnh cõng được anh Thững về tới. Anh Thững lúc ngất lúc tỉnh được chút xíu, người tái ngắt. Xe lam rồ máy, chú Tám Thạnh chạy lại nói nhanh với chú xe lam:
“Chút xíu nữa quên, anh ghé trạm xá lấy giấy giới thiệu”.
Ba nó la lớn:
“Giờ này mà lấy giấy gì nữa, chạy lẹ còn hông kịp”.
Chú Tám Thạnh đưa tay ngăn:
“Anh Hai ơi hông được đâu, ráng chút đi, tui bị rồi hổm đưa cấp cứu không có giấy họ hông nhận, phải quay đầu lại lấy, họ nói phải làm đúng nguyên tắc”.
Xe lam chạy bỏ lại nhiều cái lắc đầu ngao ngán. Tới trạm xá, chị ý tá viết giấy rồi sực nhớ:
“Chết cha, cô trạm trưởng hông có đây, đâu có con dấu, mấy anh chờ em chút”.
Anh Ngạo giựt chiếc xe đạp của chị y tá vừa cầm ghi đông:
“Để tui chạy chở cho lẹ”.
Anh Hải tặc hỏi:
“Có máu hông truyền cho nó đại đi”.
Chị y tá lắc đầu:
“Trạm xá làm gì có máu anh”.
Anh Hải bồn chồn lo lắng đứng ngồi không yên, than trời than đất nhìn anh Thững ngày càng lả đi. Cuối cùng con dấu cũng được đóng và xe tiếp tục chạy hết tốc lực.
Bà con tụ tập ở nhà ông Sáu Hoàng chờ tin. Vừa nghe tiếng chiếc xe lam quay trở lại, mọi người nhào ra, xe vừa ngừng, anh Ngạo phóng xuống hai tay bứt đầu tóc rồi hét lên một tiếng, bưng mặt khóc nức chạy đi mất. Trên xe thằng Thà gục đầu trên người anh Thững chỉ thấy đôi vai run bần bật và nghe tiếng ục ặc ức nghẹn. Anh Hải ngồi thừ như gỗ đá, hồi lâu anh mới thốt ra:
“Nó trút hơi thở cuối cùng khi vừa tới nhà thương, mất quá nhiều máu, phải chi được nhanh một chút… biết đâu… Trời ơi, giấy với tờ…”.
Một không khí ảm đạm chưa từng có bao trùm khắp nơi. Chú Tám Thạnh thở hắc hơi:
“Tối mấy ngày trước nghe tiếng con cú kêu, không ngờ mang điềm tang thương tới xóm mình”.

***

Ba nó bàn với bà con:
“Nhà hai anh em nghèo xơ xác với bà mẹ già nay đau mai bịnh, bà con xóm làng mình cùng xúm xít lo hậu sự cho thằng Thững, tui giờ chạy ngay vô Thầy trong chùa coi ngày giờ với nhờ Thầy tụng cho nó luôn”.
Chú Sáu Tình gật đầu:
“Phải vậy thôi, tui có lóng* gỗ đã đẽo vuông (*khúc gỗ), mấy đứa thanh niên qua nhà khiêng xẻ ngay đóng cái áo coi cho được”.
Má nó nói tiếp:
“Sáng mai tui chạy lên huyện sớm mua vải, tui lấy tem phiếu của tui cho nó, tui cũng chưa cần lắm”.
Dì Tư Thể xen vơ:
“Vậy giờ ai coi phụ được gì thì phụ, lo nhang đèn, nấu chén cơm…”.
Ba nó đạp xe vô chùa, Sư Thầy coi đúng trưa mai phải nhập quan, để một ngày sau là chôn cất. Sư Thầy hẹn tối mai sẽ vô tụng, không dám đi ban ngày ban mặt bởi sợ chính quyền làm khó dễ, họ quy cho cái tội mê tín dị đoan, không thầy không bà tụng tiếc gì cả. Mấy ông ở xã nói xã hội ta không chấp nhận những chuyện đó, xã hội tiến bộ với chủ nghĩa vô thần, chết là hết. Lập bàn thờ ông bà cúng kiếng đã rất khó khăn cho bà con. Lớp nó hôm có đứa ngủ gục, cô giáo hỏi tại sao, bí lối thằng này đành nhận là đi lễ nhà thờ buổi sáng quá sớm để tránh tai mắt cán bộ vậy là bị liệt ngay đạo đức trung bình, vài ngày sau có giấy báo mời cha mẹ lên xã làm việc, thực ra là nghe rao giảng về tư tưởng mới và phải cam kết không được đến nhà thờ. Nó thấy người lớn này đôi khi chẳng khác gì con nít tụi nó, bên xóm chùa trêu xóm đạo là Chúa Jê Su đánh đu gãy cẳng, còn xóm đạo ghẹo lại là ông Phật là ông có tật… Chỉ có khác là với mấy ổng ông nào cũng tào lao ông nào cũng gãy cẳng, ông nào cũng có tật hết.
Về chuyện này nó nghĩ cũng lạ, nó nhớ cái hôm làm cái đường đi vô hội trường xã mới cất, ngay đường vướng cái miếu bà con thờ âm hồn nào đó đã có từ lâu, cán bộ xã kêu dỡ bỏ, kêu chiếc xe ủi đất làm đường bang luôn, bác tài lái xe chạy gần tới là khựng khựng lại rồi máy bị tắt, bật tiếp nhiều lần cũng không nổ cứ cà khựng miết, bác nhảy xuống chỉ có lắc đầu, chẳng biết sao xe hông nổ. Cán bộ xã hỏi nút mở máy, bác tài chỉ, họ cử mấy anh du kích lên bật, cũng chẳng nổ lấy một tiếng. Chuyện này thì không ai biết, bác tài có mánh khóe gì không, cho xe lui thì nổ liền, biết đâu bác hông muốn ủi cái miếu. Cán bộ kêu mấy anh du kích đập đi, ai cũng né tránh bởi nghe bà con người kể khơi khơi một vài câu chuyện, ở xóm này ở xóm kia có người phá miếu phá am, người thì bị điên điên khùng khùng, người bị giựt méo mỏ… nghe qua ai cũng tái mặt. Cán bộ kêu bà con làm, ai cũng lắc đầu, tui hông làm chuyện thất đức, muốn làm gì cũng được. Sau treo giá, đập cái miếu mất chỉ mươi lăm phút nhưng sẽ trả tiền công bằng năm ngày, tưởng đâu sẽ có người làm, ai dè chỉ gặp toàn gài dố de. Con đường vô hội trường không còn thẳng mà phải đi đường vòng, tránh xa cái miếu, mấy ông cán bộ cho trồng mấy cây phủ che bớt, bịt mắt cấp trên chớ bà con cần nhìn rõ để nhang khói…
Qua nhà chú Sáu Tình, thấy hai lóng gỗ anh Ngạo hỏi:
“Lấy lóng nào chú Sáu, bằng lăng hả?”.
Chú Sáu ngẫm nghĩ chút rồi trả lời:
“Ừm… thôi lấy lóng giáng hương đi, tội nghiệp thằng nhỏ, đi mà chưa biết được mùi đời bao nhiêu, chưa vợ chưa con, nên cho nó đồ tốt một chút”.
Mấy anh thanh niên tranh thủ khiêng ngay về xẻ đóng cho kịp.
Mười lăm cây số đạp lên huyện má nó đi rất sớm, má nó sợ đi trễ sắp hàng lâu. Lên đợi hơn tiếng đồng hồ thì cửa hàng thương nghiệp cấp ba mở cửa. Cô bán hàng còn kêu là mậu dịch viên ẹo ẹo đi qua đi lại mấy vòng rồi ngồi vào bàn. Má nó rón rén đi lại nói nho nhỏ:
“Cô ơi cho tui nộp sổ”.
Cô bán hàng đang cuối mặt, soi kiếng hay đọc báo gì đó đáp:
“Thì bà nộp đi chớ nói gì”.
Nhìn quanh quất chưa có một ai, má nó nhỏ nhẹ tiếp:
“Cô ơi…”
Một tràng từ cô bán hàng không ngẩn mặt lên:
“Gì nữa đây, nộp đó thì để đó từ từ giải quyết chớ nói gì, bộ hông thấy tui đang làm việc hả, tui ngồi chơi hay sao, làm như cha chết”.
Má nó giằng mình:
“Dạ đúng, ở làng có người chết”.
Cô Bán hàng bây giờ mới ngẩn mặt lên nhưng trừng mắt:
“Chết thì chôn, làm như cha tui chết”.
Nghe tới đó má nó chực muốn khóc nhưng ráng kìm nén:
“Cô làm ơn, chôn gấp quá”.
Cô bán hàng hỏi như nạt:
“Bà mua gì?”.
Má nó mừng rơn:
“Dạ, mua vải may áo cho thằng cháu trong xóm vừa mất, xin cô bán vải trắng”.
Cô bán hàng tiếp:
“Nhìn tui ngu lắm hả, hông biết bán vải liệm màu gì sao, mua nhiêu?”.
“Dạ, tiêu chuẩn năm của tui nhiêu mong cô bán cho hết”.
Cô bán hàng chề môi:
“Tiêu chuẩn tem phiếu bà còn hai người một năm tám mét mấy, may cho người chết làm gì hết chừng này, chắc bà mua ra ngoài bán chớ gì, tui giải quyết cho bà một người thôi”.
Má nó gật đầu lẹ:
“Dạ, sao cũng được”.
Cô bán hàng nói vậy chớ chưa viết phiếu liền, một người thanh niên đạp xe tới, cầm cái sổ đưa:
“Cô cho tui mua gạo với”.
Má nó đứng dạt ra. Nghe giọng thanh niên, cô bán hàng đon đả:
“Ủa anh Phương đi mua gạo hả, để em ghi phiếu”.
Người thanh niên tên Phương quay qua nhìn nhận ra:
“Ủa, bác Hai nãy giờ con hông để ý, dạ, bác đi mua gì à?”.
Má nó ghìm cơn tấm tức:
“Dạ, đi mua vải về liệm cho thằng cháu trong xóm, nó mới mất hồi hôm”.
Anh Phương trố mắt:
“Dạ, đứa nào vậy bác, con có biết hông?”.
“Chắc thầy hông biết, nó ở xóm trong, ít có ra ngoài lắm”.
Thầy Phương hỏi tiếp:
“Bác mua xong chưa?”.
Má nó ậm ừ:
“Dạ… dạ…”.
Hiểu ý mấy cô bán cửa hàng thương nghiệp cấp ba nổi tiếng là hách dịch, coi bà con đi mua như đi xin, chỉ có những cán bộ, hay những chàng thanh niên các cô thích thì khác, thầy Phương nói ngay:
“Cô, cô giải quyết trước dùm bác tui, bác ở xa lại có chuyện gấp, tui mua sau cũng hông có sao”.
Cô bán hàng cười tươi rói:
“Bác anh hả, để em viết phiếu chuyển cho tổ bán liền”.
Phiếu được viết có đánh dấu chéo màu đỏ, chuyển qua là được xé vải ngay, ký hiệu phiếu đặc biệt giao ước của mấy cô chớ không lại phải chờ thêm dài cổ. Nhờ có thầy Phương má nó mua được nhanh và đúng tiêu chuẩn hai người lại được vải kate tốt chớ hông là vải kalicot, vải tám vải sô. Má nó cảm ơn thầy rối rít:
“Dạ, cảm ơn thầy, có đi ngang thầy ghé nhà uống nước”.
Thầy Phương gật đầu:
“Dạ, vài bữa có công tác con lại ghé nhà bác, bác về cẩn thận”.
Má nó đem vải về là mấy cô mấy dì cùng xúm vô cắt may ngay, may bằng kim tay. Thiệt may là kịp giờ. Sư Thầy thấy quá tội nghiệp cho anh Thững, ngày đưa đi chôn cất, Sư Thầy đi trước đoàn gõ mõ tụng kinh, không e dè gì nữa.
Từ ngày anh Thững mất về sau, thằng Thà một trong những đứa hay vui đùa, hay kể chuyện chọc cười cho đám con nít tụi nó trở nên trầm hẳn, im lìm như người câm, có gì đặc biệt lắm mới hở môi nói một vài lời, chỉ một lần kể lý do anh Thững bị thương. Hai anh em trên đường gánh măng về, cán câu liêm bị gãy, anh Thững chặt cây le thay, cái rựa quá bén với lại ảnh chặt mạnh nên cây le đứt ngọt sớt, mũi nhọn phóng cắm xuống ống quyển luôn, xé thịt thấu tới xương…”
Nhìn thằng Thà lúc này nó mới thấu hiểu được sự im lặng trầm uất của ba nó khi nghe tin ông nội qua đời. Và không lý giải được về giấc mơ của anh nó, có phải là điềm báo, tiếng kêu con cú vọ bay về làng chú Tám Thạnh nói cũng vậy. Nó tiếc rằng phải chi đã báo thì báo rõ hơn anh Thững đã không ra đi sớm. Bà con thì nói có chớ, đó là thế giới tâm linh và cũng có định mệnh, định mệnh của anh Thững là yểu mệnh. Nhưng những chuyện như vậy thì chỉ xầm xì rỉ tai nhau chớ không dám bàn tán lớn ra ngoài.

***

Nó ngồi bật dậy lấy tay che đôi mắt đỏ hoe, giọng nghẹn ứ lại. Cơn gió mang hồn lững thững vỗ về:
“Buồn thiệt, nhưng bạn phải ráng lên, phải vượt qua”.
Nó cố cho trôi ức nghẹn:
“Mình phải… phải… phải làm gì bây giờ?”.
“Tiếp tục như bao lâu nay, gạt bỏ những đau thương, tiếp tục con đường đi học”.
Hoàng hôn dìu dịu buông xuống, một làn khói lam chiều từ một ngôi nhà nhè nhẹ bay lên, nó hít một hơi thật sâu rồi thở mạnh ra, cảm giác như nỗi buồn man mác bay theo đi mất, cơn gió hiểu ý phụ xua cho bay càng nhanh. Nó chào từ biệt cơn gió mang hồn lững thững mà nghĩ về con đường phía trước và như hay nghe người lớn nói: “tiếp tục sống”.

***

Ba năm trung học phổ thông, ngày hai lượt đi về nó đạp xe bốn mươi hai cây số. Trên chiếc sườn ngang ban đầu rất tốt sau dần tàn dần theo vòng quay quá độ. Vỏ xe chạy bung ta lông cặp thêm cây căm cũ đã hư mà may lại bằng dây cước và cây kim may bao bố, không có kim thì mài nhọn cây căm đập dẹp đầu, dũa có nghạnh như lưỡi câu đâm xuyên vỏ móc dây kéo qua. Vỏ còn đỡ ít hư hao, ruột mới ngặt, chạy dăm ba bữa thì lủng, tới hồi lủng lỗ mọt thì liên tù tì, vừa vá xong bỏ vô lại xì, lại tháo ra vá lại, lỗ mọt lỗ nào lỗ nấy nhỏ li ti khó thấy bong bóng nổi khi cho vào thao nước thử, bỏ vô nó lại xì đến tức điên người, có người nói cái ruột như có ma. Đi học lúc nào cũng kè kè bộ đồ nghề, nhứt là vá ruột xe, keo kiếm nhựa thông ngâm xăng, cuộn miếng thiết đục lỗ nhỏ và dày làm cái bào ruột… Líp có con chó chạy mòn lĩn trật lên trật xuống, cắt đế dép xốp chèn vô mệt xỉu, bi bị nghiến bể cũng lấy cây căm uống vòng tròn mà thay thế, cây căm xe thiệt quá lợi hại. Sợi dây sên nữa, chạy đã đời bị giãn chặt đi vài mắt nối lại, chạy giãn hết được chưa bỏ liền đâu mà lật mặt cái cụp chạy tiếp. Ba năm học nó biết sửa xe không thua gì thợ.
Chiếc xe cho nó hai ký ức đậm, mãi về sau nhìn thấy chiếc xe dàn cái thì ký ức lại trỗi dậy.
Một bữa vừa chạy được vài cây số, ra khỏi thị xã sợi dây sên đứt cái rụp, cắc cớ cái chốt văng mất tiêu, tìm mãi miết không ra, tìm quanh tìm quất cũng chẳng có cái gì thay được, cuối cùng phải lấy sợi dây ni lông mà cột ngang lại, dây đi qua cái dĩa hay cái líp bị nghiến lại đứt rụp, trong cái khó ló ra cái khôn, đạp tới một cái canh cái sợi dây gần tới dĩa thôi thì trả lại cũng không cho chạm líp, cứ vậy đạp tới trả lui, đạp tới trả lui như đang đùa chơi mười mấy cây số về nhà. Hà hà, rồi cũng về tới.
Một bữa nữa thì đang đạp xe phát ra tiếng bùm, ruột không xì mà nổ banh xác pháo, chiếc xe thành con bò cho nó dắt gần hai mươi cây số lội bộ. Trước đó một lần cũng vậy, cô bạn còn học đèo nó về, tay dắt chiếc xe bể bánh quặc quẹo vậy là thôi cho lên vai “anh thợ cày vác con bò” cho chắc.

***

Ba năm học buổi sáng buổi chiều có đủ.
Con đường từ nhà tới trường quen thuộc đến nỗi nó có thể nhắm mắt biết được cái ổ gà lớn, ổ gà nhỏ chỗ nào, đoạn đường đá lổm chổm ở đâu để mà lách né. Ổ gà đầy đường, có thêm những cái ổ… voi, vũng trâu nằm nữa. Đường đá xanh lục cục lòn hòn bằng nắm tay người ta rải rồi rải chồng thêm lớp đất, đất lọt xen kẻ vô hốc đá, đá ngóc đầu lên lổm chổm, một chiếc xe lớn chạy qua mùa nắng bụi tung mù như vó ngựa vừa phi qua, đoạn đường này cũng không phải là ít, trải dài một hai cây số, và mấy đoạn. Có những chỗ người ta lại đổ đống đá, đống đất hai bên đường, để ngày này tháng nó thậm chí cả năm chẳng bang bằng ra, những đêm tối trời người đi đường không quen đụng phải lộn nhào đầu là thường tình.
Chuyện sớm hôm đêm tối nó cũng quá rành rẽ, cứ theo dân gian “đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối”. Bước ra khỏi nhà lúc nào nó biết sẽ đón được ánh bình minh ban sớm, lúc nào nó biết ánh nắng chói chiếu thẳng vào mắt, bước ra khỏi lớp cũng vậy nó biết lúc nào phải ba chân bốn cẳng đạp để tránh đàn bù mắt lờn vờn, lúc nào tà lơn như những chú thỏ nhởn nhơ dưới ánh trăng, mộng mơ một chút với những câu ngâm thơ Hàn Mặc Tử của thằng Chí.
Ba năm trung học, nó, đám bạn học lực hiếm khi có học kỳ đứa ngoi lên hạng khá, trung bình và hàng hàng là yếu. Ngược lại là những “anh hùng lao động” gánh vác cho phần còn lại, “yếu liễu đào tơ” toàn là dân thị xã. Lao động bắt buột tuần một buổi và nhà trường chừng biết được nên giao toàn việc nặng, lúc vét ao, vét giếng nước, lúc ướp cá cho vô thùng lều, gọi là thí nghiệm làm nước nắm nhưng nghe râm rang để thầy cô cải thiện đời sống, nước nắm đóng chai nhãn nhà trường đàng hoàng. Những ngày lao động tụi nó phải dỡ cơm theo, ban đầu chưa biết chạy ra cầu Muối chui xuống gầm cầu mà xực, mắc cỡ lắm chớ, sau tìm ra chỗ tuyệt vời, vắng vẻ ban trưa, đồi dương mát rười rượi với gió biển và tiếng sóng rì rào, nóng nực nhảy ào xuống mặc cho khi trở lại học người rít chịt và lấm tấm những hạt muối trắng li ti.
Mỗi năm thêm lao động tập trung một hai tuần, tùy việc nhiều việc ít năm đó, làm nguyên cả ngày. Và trong cả ba năm là dầm mình đào đất đấp bờ bao thành ruộng nuôi tôm cho hợp tác xã thủy sản. Tụi nó lại là “đầu tàu chìm dưới nước”, nước ngang thắt lưng, nước lờ lợ, xắn từng khối đất sình bùn chen trong những thân cây mắm và những con rắn biển chuyền lên. Năm đầu rất sung sức, khí thế hừng hực bởi nhà trường hứa hẹn “ký hợp đồng lớn với hợp tác xã” sẽ trả công ngày mấy đồng cho học sinh, học sinh mừng rơn, chí ít có cái liên hoan rôm rả cuối năm, kỷ niệm đời học sinh. Rồi lời hứa dần bay theo gió biển về nơi thăm thẳm, có đứa ca thán: “Thầy ơi, sao lại biến lũ học sinh tội nghiệp thành những đàn cừu non”. Thầy – “chú lừa có cánh cất cao”, nói gì đó học sinh nghe không rõ.
Giống chiếc xe nó, ngày càng tàn, bạn bè mười bốn đứa cùng xã cùng lớp như sung lộp độp rơi rụng, giữa năm lớp mười một còn… ba đứa. Khi lên lớp mười hai thì còn lại… một mống là nó. Hai thằng kia lưu ban, một thằng nghỉ tiếp, thằng Chí lọ dọ ở lớp đàn em.

***

Nó với thằng Chí mang nhiều kỷ niệm rong ruổi trên con đường đến lớp.
Một bữa cũng vừa chạy được vài cây số, ra khỏi thị xã gặp một bác già quẩy tay nải trên vai đón lại, nhìn bác ốm nhơ ốm nhách, gương mặt khắc khổ biết chắc không phải người xấu, nó dừng xe, bác nói:
“Con cho bác quá giang với”.
Bác lên xe nó hỏi:
“Dạ, bác về đâu?”.
Bác nói chầm chậm:
“Bác về xa lắm, bác về cách đây hơn trăm cây, còn tụi con về tới đâu?”.
Thằng Chí giựt mình không tin tai mình vừa nghe:
“Bác về xa dữ?”.
Bác gật đầu:
“Phải đó con, bác về mà bác hết tiền, xe hông cho đi ké, bác xin về trên đó kiếm tiền rồi trả họ cũng lắc đầu mà chạy đường này một ngày chỉ có một chuyến”.
Nó nhăn mặt:
“Tụi con chỉ về cách đây khoảng hai chục cây số thôi, còn đường dài bác tính làm sao?”.
Bác im lặng một lát rồi trả lời:
“Thì bác tiếp đi bộ vậy, gặp được ai có lòng tốt như tụi con bác xin quá giang, tới đâu hay tới đó”.
Thằng Chí hỏi tiếp:
“Còn ăn uống nữa?’.
Bác nói ngèn nghẹn:
“Nếu đói quá chắc phải xin thôi, bác mong về tới nhà là được”.
Nó sợ bác dấu bị mất trộm, không nói ra, nhiều người đi đường xa bị chuyện này, có người bị đuổi xuống xe và vì lòng tự trọng không xin xỏ, đi đói quá ngã xỉu giữa đường, nó hỏi:
“Bác bị mất trộm hết tiền phải hông?”.
Bác lắc đầu:
“Hông có, bác đi làm giấy tờ dưới ủy ban tỉnh, ở hơn cả tuần nay nên hết sạch tiền”.
Thằng Chí trố mắt:
“Làm giấy tờ gì phải từ trên đó xuống đây lại mất cả tuần vậy bác?”.
“Bác đi lần thứ hai rồi đó con, lần trước có ba ngày, lần này bác ỷ y cũng như vậy, ai dè…”.
“Sao kỳ vậy bác?”.
Bác ho mấy tiếng:
“Bác cũng chẳng biết, lúc họ nói thiếu cái này, lúc họ nói cán bộ đi họp xa, tới giờ vẫn còn thiếu, chưa xong, còn một giấy bổ sung cuối cùng”.
Thằng Chí nghe ớn lạnh:
“Chưa xong nữa hả bác, vậy phải xuống lần nữa, mà giấy tờ gì mà rắc rối vậy bác?”.
“Chỉ có cái hộ khẩu thôi đó con, ở huyện họ ghi tên lót và ngày tháng năm sanh sai, nay phải xuống tận tỉnh điều chỉnh, đâu có chờ tới đợt làm được, có biết bao giờ tới đợt đâu, khổ lắm mấy con ơi, bỏ công ăn việc làm, tốn tiền tốn bạc, bị hành lên hành xuống mà có phải lỗi mình đâu, từ đội từ hợp tác từ xã xác nhận rồi tới huyện bây giờ lên tỉnh hai tháng rồi đó, nhiều lúc muốn bỏ nhưng hông có thì mấy đứa nhỏ đâu có đi học được”.
Hai đứa nó hết biết nói gì, lặng lẽ đạp xe thay phiên nhau chở bác, nói lái sang những chuyện khác cho vui.

***

Một bữa nữa hai đứa ể oải đạp về trong nắng gắt xế xế trưa, gần tới nhà nhìn thấy cột khói đen bay lên ngùn ngụt. Giựt mình không biết chuyện gì xảy ra, vội vã cắm đầu cắm cổ đạp về. Về tới nơi thì thấy thêm ngọn lửa đã bốc lên cao, lửa gặp mái nhà tranh mùa nắng và gió cháy ào ào rừng rực, nhưng không phải đang cháy nhà nó mà là nhà dì Ba Ninh kề bên. Ngọn lửa đã thiêu rụi đám mía trước nhà đang lan sang vườn nhà nó, bà con chạy tới chạy lui rần rần, la í ới, người múc nước chuyền tay tạt vào dập lửa người tìm cách không cho lửa lan sang chỗ khác, lan cháy cả làng là chết chùm hết, người phụ khiêng đồ ra hết bên ngoài phòng lỡ có chuyện xấu tới. Nhà dì Ba Ninh thì coi như không thể cứu chữa. May sao lửa đang cháy bừng bừng, tàn bay rợp trời tứ tán, chực chờ bay lên nóc nhà nó thì cơn gió khựng lại và đổi chiều, một chuyện lạ lùng xảy ra. Lửa từ từ bị bà con dập tắt. Cả nhà và bà con thở phào nhưng nhà dì Ba thì chỉ còn đống tro tàn. Dì Ba bần thần không thốt ra lời mà nước mắt cứ tuôn rơi. Nhiều người không biết lửa từa đâu, dì Tư Thể hỏi:
“Làm sao mà nên nông nổi này?”.
Dượng Ba Ninh ngơ ngác:
“Tui chẳng biết gì hết, đang nằm hóng mát phía sau nhà, thiu thiu giấc trưa thì nghe cháy rột roạt từ vườn mía rồi, cháy nhanh hơn bão, ào ào táp vô nhà luôn”.
Chú Tám phèn nói:
“Rồi, bị xe than rớt xuống rồi, hồi nãy có một chiếc chạy ra, cháy lại bắt đầu từ ngoài đường cháy vô”.
Anh Ngạo chạy ra phía đường rồi chạy vô, anh giơ lên cục than còn khói:
“Đúng rồi, còn nó đây nè”.
Mọi người lắc đầu:
“Biết làm sao bây giờ, làm sao đền được, nó chạy mất tiêu rồi, lại không bắt tận tay làm sao vây được cánh”.
Tai họa chưa dừng lại. Có ai thấy gì đó trong đống tro tàn nhà dì Ba và báo lên xã. Công an xã lại kiểm tra phát hiện ra nhiều thịt bò bị cháy khét, lục lọi quanh nhà phát hiện thêm nhiều xương khô, những con chó moi lên mà dì Ba chôn không kỹ. Công an hốt hết và mời dượng Ba đi cùng. Dượng Ba phải khai ra là mổ bò lậu đưa đi Sài Gòn, cỡ mỗi tháng một con và làm lậu đã gần một năm nay.
Hai ngày sau trong lúc bà con cô bác lại giúp dì Ba dựng đỡ căn nhà ở tạm thì dượng Ba bị còng và dẫn giải ra chiếc xe lam chở đi. Dượng Ba đi tù sáu tháng. Cũng từ đó nhà nó và bà con cận kề mất phần thịt như đầu, xương, giò cẳng, lòng mà dì Ba bán rẻ như cho, phần chuyển lậu đi chỉ chủ yếu là phần thịt và xương sườn. Mỗi lần nhận phần từ dì Ba má nó cho vô cái nồi gang số năm mươi miệng to hơn cái miệng thúng, thường để luộc măng tươi cả mấy chục ký mùa măng, cái nồi số mười nấu cơm phải hai chục người ăn rồi mà, nồi lớn dấu trong cái thùng phuy bị sét đáy cắt đứt luôn, độn thiệt chặc trấu bên trong, đốt trấu âm ỉ cháy thành cái bếp hâm nóng cho nồi thịt khỏi thiu, khi ăn dở nắp đậy phuy chồng thêm mấy lớp mấy tầng thúng mủng có đồ đè nặng cho kín kẽ mà múc. Dì Ba bán rẻ dĩ nhiên một phần tình cảm phần còn lại cũng ý muốn bà con che dấu, gần kề bên dễ gì không phát hiện. Bà con thì được có thịt thà lại rẻ trong hoàn cảnh khó khăn thì sao lại không im lặng. May là dượng Ba chỉ khai một mình làm, bà con xung quanh không ai biết, chớ không sẽ liên lụy vướng tội không khai báo, tiêu thụ tài sản phạm tội.

***

Từ ngày nhà dì Ba Ninh bị cháy, dượng Ba bị bắt, món thịt đầu, xương, giò không còn nữa, nó thằng Chí bầu bạn với trái khế chua, lá me, lá giang mọc hoang trên những ụ mối sau vườn, lá giang mọc quanh năm, mùa nắng lá nhỏ và lá không còn xanh mơn mởn, chuyển vàng vàng trong nắng gió và chua thêm. Chỉ cần một trái khế, nhúm lá me, lá giang với chất chua này thảy vô nồi nước sôi, chút muối chút bột ngọt, lâu lâu có vài con cá liệt cá mai là đủ đẩy miếng cơm, lát khoai xuống khỏi cổ họng, lấp đầy bao tử. Với tụi nó những loại chua này là “món vàng” theo năm tháng!.
Gần cuối năm lớp mười một, tiết trời sắp mưa nên nóng bức. Nó nói nhỏ với thằng Chí:
“Lát chờ tao cầu số năm nghe mậy, có lạc cũng đừng có về trước”.
Thằng Chí hỏi lại:
“Chi vậy, có gì sao giờ hông nói?”.
Nó đá lông nheo”
“Bật mí chút đi, giờ chỗ đông người”.
Nó tới trước, đứng đợi ngay cầu. Thằng Chí hơi căng căng:
“Có gì hông mậy?, làm tao hồi hộp”.
Nó cười:
“Có khỉ gì đâu mày ơi, hồi nãy hông tiện nói, kỳ thấy mồ, chuyện ăn uống…”
Thằng Chí cắt ngang:
“Tao làm gì bậy hả?”.
Nó giãy nãy:
“Đâu có, đâu có, ý tao nói mày chờ tao cùng về nhà tao, bữa nay có đám giỗ”.
Thằng Chí ạ ra:
“Trời! làm tao hết hồn hết vía”.
Hai đứa cười ha ha, theo con gió bấc đang thổi mạnh đạp vèo vèo.
Hai đứa về tới thưa đi học về, Má nó khựng lại:
“Ý, chết cha, con kêu thằng Chí mà hông nói với má, với lại bà con tới đông, lâu ngày được bữa ăn như tằm ăn rỗi, mì Quảng còn có một tô hà con, hay chia nhau đi rồi ăn xôi gà, xôi gà còn nhiều, dĩa nhỏ với dĩa bàn hột xoài bự đó con”.
Nó hơi buồn, nhưng nghĩ lại thôi, bà con cô bác không mà. Nó nói:
“Ê, mì tao xực hoài, ăn mòn răng rồi, thôi mày ăn tô mì với dĩa nhò, còn tao dĩa tổ chảng này, tao đói lắm rồi”.
Thằng Chí bưng tô mà lựng khựng:
“Được hông đó mày”.
Nó ngoạm miếng xôi gà:
“Gì hông được, mày biết tánh tao mà”.
Thằng Chí húp nước rột rột, cắn trái ớt hiểm:
“Đã quá mậy, má mày nấu đồ ăn là số zdách”.
Nó vừa nhồm nhoàm vừa cười hề hề:
“Ừ, má tao nấu ai chê tao… xực hết, xôi gà cũng tuyệt đỉnh nè mày”.
Thằng Chí xong tô mì, tiếp dĩa xôi gà và gục gật, nó chiến gần xong dĩa bự, nó hỏi:
“No hông mậy?”.
Thằng Chí gật đầu:
“No cành hông, uống nước hông nổi”.
Một dĩa bàn xôi gà nhét vô cái bao tử bụng nó phình lên như cái trống, khệ nệ rinh “cái trống” dẹp dọn ra ảng nước, bưng cái ấm đen thùi vì ám khói đang bắt trên bếp ngậm vòi uống ngụm nước, cái bụng phình ra thêm như bà chửa, tức anh ách khó chịu, mùi mỡ, mùi thịt gà còn vướng lại trên cần cổ còn khó chịu hơn làm muốn mữa ra, nó lấy hết sức vịn chặc bụng cổ, đâu muốn món ngon hiếm có trào ra ngoài. Thằng Chí thấy nó nhợn nhợn hỏi:
“Bị gì hông mậy sao thấy tái lét?”
“Hông có gì, tao no quá thôi”.
Thằng Chí vừa cầm ghi đông xe ra về, nó định bước vô phản nằm xuống nhưng cái bụng cái cổ hết chịu nổi, bụm miệng chạy ào ra bụi chuối, bao nhiêu xôi bao nhiêu gà, bao nhiêu nước tuôn ra, tuôn ra như dòng thác, người nó quay cuồng rồi ngã cái ình trên cái đống mới vừa ói ra. Thằng Chí buông tay rùng mình dìu nó vô nhà lăn xăng tìm chai dầu sức tới tấp:
“Nghi mày trúng gió quá”.
Nó đã thấy đỡ lòm cồm ngồi dậy:
“Hông phải đâu mày, ham ăn hốc uống quá thôi”.
“Đói thấy mồ hông ham sao được, nhìn bụng y như bị mắc tam tích”.
“Ích bụng, tiêu có kịp đâu”.
Hai thằng cười hà hà.
Từ đó về sau này, thịt gà thì nó còn ăn chút ít, nhưng nghe nói tới xôi nếp, và nhứt là xôi gà là nó tránh xa liền, sợ như gặp phải rắn hổ mang, năn nỉ cho tiền nó cũng chạy, thêm hai món nó cũng không bao giờ đụng tới là khoai lang hầm dù có ngào đường và bobo. Về chuyện thấy ớn này nó nhớ lại chuyện anh thằng Hào kể về anh bạn chiến đấu cùng đơn vị, một người gan lỳ từ nhỏ chưa biết sợ điều gì ấy vậy mà từ chiến trường trở về, mỗi lần thấy con bọ hung, hay những con giông giống như vậy, bọ cánh cứng, con gián là nhắm mắt nhắm mũi chạy, chạy mất dép không dám nhìn, một cái ngoái đầu liếc sơ cũng không, nhiều người thấy lạ sau cùng mới biết ra anh đã thấy xác người phân hủy và bị bu quanh đầy là những con vật hình thù này.
Những ám ảnh không bao giờ xóa nhòa được…

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

TÂN XUÂN

nguyenducbatngan

em nằm vọng trên bao mùa tao loạn
trời xa xưa ráng đỏ bỗng quay về
ta yêu dấu cũng hút mù tăm dạng
nghe thì thầm trở gót giữa hôn mê

con chim đó nghìn năm sau trở giấc
cùng với mình nhớ lại nghìn năm xưa
tình rụng xuống trên đầu chăn chiếu cũ
còn hoang mang cạn hết một âm thừa

em hiền dịu trên đời đôi cánh trắng
những vì sao hôn phối những vì sao
em thả dại theo ngày mưa tháng nắng
còn bao lâu hơi ấm cũ dâng trào

ta gửi ta một nụ cười héo hắt
là âm vang của trăm kiếp tao phùng
em hãy nhớ giữa vô cùng lặng lẽ
phương xa người là ánh mắt rưng rưng

nụ hôn mỏi theo hồn se ý ngại
vòng tay ta cũng hết thuở chần chờ
thôi hãy bỏ cũng đành như ở lại
chờ hôm mai sương khói đã qua bờ

đêm thức dậy theo vũng lầy nước mắt
ta khù khờ nên suốt kiếp rong chơi
ngày thánh hiện theo muôn nghìn tủi nhục
em hào quang phủ rạng giữa môi cười

ta có thấy chỉ vẫn là tăm tối
em nhìn theo dù nước mắt lưng tròng
ta đã lỡ trong vai người đắm đuối
lẫn hư hèn ngạo nghễ giữa thinh không

Nguyễn Đức BạtNgàn

XUÂN TỐNG BIỆT.

nguyentancu

Tống biệt em hề tống biệt ta
Qua sông con sáo đậu đuôi xuồng
Qua sông con nước về châu thổ
Hiu hắt mưa buồn ta khóc ta

Tống biệt
Khà
Ta uống cạn
Có hề chi một khúc ca hành
Mười năm sương phủ ha đời lạnh
Một mình ta tiễn một mình ta

Khoát áo ta cười vang bến khuya
Cớ sao nước mắt vẫn tuôn tràn
Khum tay nhúm lửa hơ tình lạnh
Từ người – như một nhát dao đâm

Tống biệt em – hề- tống biệt biệt câm
Tê môi cóng lưỡi – ruột gan bầm
Thảm thê tay nắm – rời tay nắm
Vĩnh biệt thôi rồi … em lá răm

Tống biệt em – hề – tống biệt năm
Lên non – hề – lót ổ ta nằm
Kỉ niêm bây giờ như … hố thẳm
Một trời thương nhớ – biệt hành xuân .

NGUYỄN TẤN CỨ

Câu đêm ở vịnh biển Botany

phamnga

au bottany park

1.
Đang mùa hè ở nước Úc, ngày dài đến 15 tiếng. Năm giờ chiều, chiếc tàu câu của Phương – nhà tổ chức, chủ xị bao biện mọi thứ cho chuyến câu đêm nay – được thà xuống nước xong xuôi ở cảng nước sâu Botany Port, mặt trời vẫn còn chói chang ở phía Tây, nắng rực ngỡ như xế trưa ở Sài Gòn.
Dù bờ biển phía bắc vịnh Botany có phi trường quốc tế Sydney luôn rộn rịp, phi cơ lên xuống liên tục, vịnh biển xanh này vẫn có vẻ gì đó vắng lặng, hoang liêu.
Tàu câu sơn hai màu đen/trắng, kiểu dáng thật đẹp, số đăng ký “AHW663N”, dài 6.5 m, máy Honda 225 phân khối. Phương nói đã mua 60,000 AUD, tức gần 1 tỷ VND. Và hôm nay đi biển 5 người là không nhẳm nhò gì cả vì tàu chứa thong thả 7 người, có khi người lớn cùng con nít lên đến 10 người cũng all right. Có điều là rất hiếm phụ nữ, bà xả Phương chẳng hạn, theo nổi thú vui đi tàu câu trên biển này vì không chịu nổi sóng gió. Lúc mới lên xe kéo tàu đi, Cường – bạn câu rất thân của chủ tàu – đã chia cho tôi và anh Thành ‘sui gia’ uống ngay 1/2 viên chóng ói.
Mở đầu buổi câu, Phương cho tàu chạy băng qua vịnh, đến một bãi rất cạn có nhiều rong để mò bắt sò lông. Chỗ nước sâu ở đây cũng chỉ đến thắt lưng. Bàn chân mình chạm gì đó cứng cứng vùi dưới cát đáy biển là ‘nó’ đó, Cường nói lớn. Vừa dứt lời, cậu ta đứng thẳng lên thì trên hai bàn tay đã có hai chú sò đen thui.Và do sò ăn rong biển nên nếu chịu khó hụp người xuống, ngồi mò vào các bộ rễ rong là bắt được, nói như Cường là cả family sò con, sò cha. Chừng nửa tiếng, vừa tiếu lâm về sò lông, lông sò, lông phía trên sò… vừa lơ đãng mò mẫm, bốn người chúng tôi đã làm đầy nhóc hai thùng nhựa xách theo, với khoảng 15-18kg sò mỗi thùng.
Trở lại tàu thì thấy Phương đã nhanh chóng ráp, cắm xong hết bốn cần câu dọc theo hai mạn tàu nhưng vẻ mặt hơi bí xị. Tàu đang mắc cạn vì hồi nãy vào quá gần bờ. Vậy là hai ông già được ngồi lại trên tàu, ba thanh niên nhảy ùm xuống nước… Một đỗi sau, tàu đã được được đẩy lùi và quay đầu, Phương nổ máy, tàu chạy tiếp ra cửa biển.

2.
Tàu câu chồm mũi tới như cắt sóng, lướt nhanh trên mặt biển. Chỉ cho tôi thấy mấy cái phao màu cam đang nhảy chập chờn trong làn sóng trắng xóa, cuồn cuộn phía sau đuôi tàu, Cường nói đang dùng mồi giả, dạng con mực nhỏ bằng ngón tay, làm bằng nhựa dẽo và ở chỗ biển sâu này hy vọng bắt được cá ngừ hay king fish, một loại tương tự cá bốp.
Phương cho tàu chậm lại rồi giao cho Cường lái. Anh cười hể hả nói, có sò làm mồi thì làm sương sương 1 -2 chai thôi, khi nào có cá, mình nhậu tiếp cá nướng. Rõ ràng anh chủ tàu trung niên vui tính này không chỉ giỏi giắn, nhanh nhẹn trong các việc điều khiển tàu hay soạn, ráp cần câu. Ở mặt bàn bếp gắn vào đuôi tàu, Phương khéo léo tách võ một mớ sò lông, mời mọi người ăn sống với vài giọt chanh hay mù tạt wasabi, tương tự như ăn hàu. Thịt sò sống không hề ngậm một chút rong hay cát nào, vị hơi mặn nhưng không mềm nhẽo như hàu mà ngon, dòn cực kỳ.
Thân tâm đều vui vẻ, mãn nguyện, tôi nhìn quanh sàn tàu và bên trong “nội thất” tàu AHW663N. Bên cạnh những thứ mà Phương gọi là hộc chứa hay thùng cất đồ nghề, như dụng cụ câu cá, gồm cần câu, dây cước, phao, lưỡi câu; hay dụng cụ sửa chữa nhỏ tại chỗ cho máy tàu, máy cần câu…gồm búa, tua-vít, mỏ-lết, máy khoan mini, cờ-lê đủ cỡ…, còn có những thùng, hộp nhựa chứa đồ chơi – chữ dùng của Phương – như: bếp than, túi than đá, chén bát ly giấy, soong, chão, dao, thớt… Riêng trong thùng trữ nước đá là rau sống, nem chua không-hàn-the và lổn ngổn những chai Victoria Bitter. Toàn thể thủy thủ đoàn – gồm cả hai ông già vô tích sự – đều thích VB, nhãn bia Úc chai lùn này. Đặc biệt, từ lúc sang Úc đến giờ đã hai tháng, tôi từng nhiều lần uống VB, nhưng bữa nay mới thấy vị bia này ngon lạ lùng khi nhậu với sò sống tái chanh.
Tàu chạy qua khỏi vịnh và chạy dọc bờ biển phía nam cảng hàng hóa Botany. Bên mạn phải tàu là khơi thẳm của đại dương Úc châu. Mặt trời xuống thấp hẳn, đường chân trời chói lòa những tia nắng cuối cùng của ngày. Tuyệt vời cảnh mặt trời lặn!
Sốt ruột vì tàu chạy lên xuống đã hai vòng mà cần VIP lưỡi lớn chỉ dính được một trự cá ngừ nhỏ, Phương quyết định cho tàu trở vào vịnh, bỏ neo ở một chỗ nước cạn cạn gần bờ. Máy định vị ở ca-bin cho thấy 2.8m sâu và lăn tăn có cá. Phương gật gù nói để anh thay lưỡi câu nhỏ hơn, gắn thêm cục chì là bắt cá cam, cá nục. Và đốt than đi, Cường ơi! Cứ nướng sò trước!

3.
Đã tám giờ đêm. Tôi tình nguyện quạt cái lò mini bằng một miếng bìa cứng cho than đá mau hồng. Cường bước ra mạn tàu, vừa đúng lúc để giật lên mở hàng một con cá cam khoảng 0.5 kg. Cứ thế, ba cần câu dính cá lai rai. Vẫn bọn cá cam và yellowtail fish tức cá nục gai hay cá nục đuôi vàng. Con nào rỉa mồi, giật lên thấy quá nhỏ thì thả xuống nước trở lại. Riêng về tailer fish, tức cá thợ-may, hàm răng bén như cá piranha, cắn đứt dây cước, mất mồi, mất lưỡi rồi vuột mất 2-3 bận nhưng rốt cuộc cũng dính hai trự cỡ 200 – 250gr. Vô tích sự như tôi cũng ra cầm cần câu. Rốt cuộc ngư ông dỏm cũng giật lên được một con cá cam nhỏ.
Vừa lật con cá cam dính mở hàng trên vĩ lò thì mớ sò lông cũng vừa chín tới. Lại khui một loạt năm chai VB hổ trợ cho việc tách võ sò và trét mỡ hành. Vô! Chủ tàu còn cười lớn, enjoy đi, mấy chú ơi!
Tuy nhiên, đêm nhanh chóng lạnh hơn và sóng lớn lắc tàu quá mạnh, nhậu cũng khó mà câu cũng khó. Phương lại quyết định nhổ neo, đưa tàu vào núp sâu trong vịnh cho ít sóng hơn. Tàu bỏ neo cạnh một bãi đá “ba chân”, tức các khối bê-tông ngăn sóng xâm thực bờ biển. Chủ tàu AHW663N vừa hơi ẩu vì từ lâu đã có qui định cấm tàu đậu gần bãi đá này. Nay tàu có thể bị buộc phải đi chỗ khác bởi chiếc tàu tuần của bảo vệ cảng đang chạy rề rề phía xa kia. May thay, chiếc tàu tuẩn chạy luôn về hướng khác!
Vì số cá giật lên, đem rộng trong cái hầm nhỏ chứa một ít nước biển, nằm dưới sàn tàu đã khá nhiều nên Phương dẹp bớt cần câu, chỉ chừa lại một cần thôi. Cuộc nhậu tiếp tục. Cá biển mới câu lên, đem nướng đã thơm lừng, giẻ ra chấm nước mắm ớt thì thịt loại cá nào cũng ngon, béo, thơm không tả nổi. Cuộc đời ơi, enjoy nhé!
Gió biển lồng lộng bốn bề. Anh Thành, hơi co ro trong chiếc áo lạnh mới mặc thêm, nhìn ra khơi xa, ngâm nga:
Chiều về trên biển Sydney,
Sò lông nướng với Vi Bi tuyệt vời.
Nhấp nhô sóng vỗ liên hồi,
Tha phương rồi cũng một đời phiêu linh
(*)

Cả tàu vỗ tay rần rần, hô lão thi sĩ phải đọc lại bài thơ lần nữa. Vô!

Mười một giờ đêm, gió rất lạnh, tàu nhổ neo, quay đầu về bến. Phương rất nghề trong việc lái tàu lên an vị trên trailer (cái xe mooc 4 bánh cõng chiếc tàu) gắn phía sau xe hơi và lái xe kéo tàu về nhà.
Tôi hiểu đối với Phương, anh chủ tàu chịu chơi, đêm câu này có thể xem là không thành công vì không trúng cá lớn, nhưng rõ ràng vui là chính, rõ ràng Phương đã hào sãng và đầy kinh nghiệm để tổ chức quá tốt cho mọi người, đặc biệt là hai ông chú mới quen, được enjoy một đêm vui chơi phóng dật, mãn nhãn, mãn ý với biển trời, sóng gió, cá tươi, bia ngon và cả thơ tức cảnh sinh tình đầy thú vị nữa.

PHAM NGA
Sydney, tháng 1/2016

(*) Nguyên văn bài thơ:
Chiều về trên biển Sydney,
Sò lông nướng với VB tuyệt vời
Nhấp nhô sóng vỗ liên hồi
Tha phương rồi cũng một đời phiêu linh
Cầm chai nốc cạn nghĩa tình
Trời cao,biển rộng chỉ mình với Ta
Mặt trời khuất núi mờ xa
Bấy nhiêu thôi cũng gọi là vấn vương……….

Nguyễn Ngọc Thành