Một ngày tháng chín

tranhoaithu
Thôi cũng tạ từ nhau tháng chín
Tạ từ. Người có nhớ gì không?
Một lần sum họp rồi hai ngả
Hai nhánh sông xa đến não nùng

Tháng chín. Trời ơi là tháng chín
Để đồi vàng lá ở bên sông
Để sông hun hút bờ vô tận
Để nhớ nhung nhung nhớ trùng trùng

Mênh mông. Còn lại đây lòng lạnh
Dường như có những dấu chân êm
Dường như có cả mồ phong diệp
Trên bãi lòng ta đang ngủ yên

Tháng chín. Ừ. tháng này tháng chín
Ngày này như ngày khác. Thời gian !
Sao ta thì khác, ta thì khác
Mùa thu về tặng một vết thương !

Tặng ta ánh nắng hoàng hôn lụa
Tràn ngập lòng xe ấm chỗ ngồi
Tặng ta cái bóng thời si dại
Bờ vai gầy, đôi mắt nọ, bờ môi…

Giờ đây, tháng chín vàng bên ấy
Bên này, có kẻ lại bậng khuâng
Cầu xưa mấy nhịp dài sông nước
Có nối dùm một nỗi nhớ mong

Trần Hoài Thư

CƯỠI NGỌN SẤM 23 (2)

richardbotkin

soibien

Nhận nhiệm vụ tại Tiểu đoàn 3

Sau khi mãn khóa, Thiếu úy Nguyễn Lương tận dụng hết 15 ngày phép được cấp để thăm gia đình và đi chơi với người bạn gái đã quen từ lâu. Anh cũng nhân dịp này sửa soạn tinh thần để thay đổi đời sống từ một sinh viên sĩ quan thành một sĩ quan TQLC thực thụ.
Mặc dù binh chủng TQLC Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển một cách nhanh chóng nhưng cho tới tháng Giêng 1972, đơn vị này vẫn còn tương đối nhỏ thành thử mối liên hệ có tính cách gia đình giữa các binh sĩ vẫn còn được giữ như từ trước đến nay.

Trong suốt cuộc chiến, binh chủng TQLC giữ vững được các tiêu chuẩn cao đối với sĩ quan và binh lính, đồng thời không bị các rối rắm về chính trị vẫn tiếp tục ám ảnh các sĩ quan cao cấp và đơn vị của họ trong Quân lực VNCH, tương tự như trường hợp các quốc gia đang phát triển khác. TQLC Việt Nam không có nhiều tướng lãnh. Trung tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh Binh chủng TQLC là sĩ quan cấp tướng duy nhất đã phục vụ từ đầu năm 1972.

14 tân Thiếu úy mới tốt nghiệp từ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt vào tháng Mười Hai được phân bổ một cách hợp lý cho các tiểu đoàn khác nhau. Vì có chín tiểu đoàn bộ binh thành thử có nơi sẽ nhận được hai tân sĩ quan. Tiểu đoàn 3 thường xuyên đụng độ nặng nhất cho nên luôn luôn cần bổ sung sĩ quan mới. Thiếu tá Lê Bá Bình lần này được nhận hai Trung đội trưởng.

Việc bổ nhiệm Lương về Tiểu đoàn 3, ngoài chuyện vì nhu cầu quân vụ thật sự, phần nào cũng do cái tính bông đùa của nhân vật mà sau này sẽ trở thành một vị tướng của TQLC. Đại tá Bùi Thế Lân, sau đó không lâu lên nắm quyền tư lệnh, lúc đó đang phụ trách công tác thuyên chuyển các sĩ quan. Ngày hôm đó, Lương trình diện cùng với người bạn đồng khóa là Thiếu úy Nhái. Trong mọi ngôn ngữ, một số từ ngữ và tên gọi thường có nhiều nghĩa khác nhau. Trong tiếng Việt thì nghĩa thứ hai của “Lương” (đọc theo giọng người Nam) là con “lươn.” Cũng trong tiếng Việt thì chữ “Nhái” ám chỉ con vật mà người Mỹ thường gọi là con “ếch,” hay một loại động vật tương tự đặc trưng của Việt Nam. Do đó, hai con “lươn” và “nhái” được cùng về Tiểu đoàn 3 Sói Biển. Lương về Đại đội 4 và Nhái về Đại đội 2. Mọi người cứ rũ ra mà cười. Cả hai con “động vật” này đều là loài lưỡng cư, sống được cả dưới nước lẫn trên cạn, do đó sẽ là một điềm lành cho viên Tiểu đoàn trưởng mới. Thiếu tá Bình rất vui khi đón nhận họ. Sau đó mọi chuyện trở lại với vấn đề cố hữu là tiêu diệt kẻ thù Cộng sản.

Đi cùng đường
Vùng I Chiến Thuật, Việt Nam Cộng Hòa
Ngày 29 tháng Ba 1972

Với tư cách phụ tá cố vấn trưởng binh chủng TQLC Việt Nam, tiến trình hội nhập của Trung tá Gerry Turley mất nhiều thời gian hơn so với các Đại úy Ripley và Philip. Giống như trường hợp John Ripley và một số người nữa, Gerry Turley lãnh nhiệm vụ mà không qua khóa huấn luyện về sinh ngữ nhưng ông có thuận lợi là có một trình độ cao về chỉ huy, kế hoạch, tiếp liệu, phối hợp hỏa lực và tất cả các mặt mà các sĩ quan bộ binh TQLC khác đều cố gắng mong đạt được.

Với cương vị người nắm vị trí thứ hai trong cái nhóm chọn lọc này, ông biết là ông có thể sẽ phải, trong vài tình huống đặc biệt, nhập vai hay thay thế viên chỉ huy là Đại tá Josh Dorsey hiện là cố vấn trưởng cho Sư đoàn TQLC Việt Nam. Chẳng cần phải đọc huấn lệnh chính thức về nhiệm vụ của mình, Gerry biết là ông phải học hỏi tất cả mọi thứ có thể học được, nắm vững cái liên hệ khác thường về chỉ huy của TQLC và làm quen với các nhân vật trọng yếu của Sư đoàn TQLC Việt Nam. Giống như một huấn luyện viên quyền anh chăm chỉ, ông phải “đi guốc vào trong bụng” các thuộc hạ của xếp, cũng đồng thời là của ông nữa, những tay cố vấn được phái cho các lữ đoàn và tiểu đoàn và xuyên qua họ, phân biệt được các ưu khuyết điểm của các đơn vị mà họ đang làm việc chung. Vì đây là một công tác của binh đoàn TQLC Hoa Kỳ cho nên cũng không có gì lạ là ông đã quen khá thân với một số lớn các cố vấn, phần còn lại thì ông đã nghe tiếng về họ rồi.

Với tư cách phụ tá cố vấn trưởng TQLC, Trung tá Turley được tiếp xúc với các báo cáo tình báo ở mức độ cao hơn mà hồi trước ông không hề được biết. Với trách nhiệm mới này, ông trực tiếp tham gia vào mọi khía cạnh về công tác soạn thảo kế hoạch và yểm trợ tiếp vận, không những cho các cố vấn khác ngoài chiến trường mà cả cho sự yểm trợ của TQLC Hoa Kỳ đối với TQLC Việt Nam nữa. Trung tá Gerry Turley là một người rất bận rộn. Ông có quá nhiều chuyện phải làm.

Mặc dù có nhiều chuyện Gerry không thể hoặc không muốn kể lại cho Bunny và mấy đứa trẻ biết trong những lá thư đều đặn nay đã thành thông lệ trở lại, sự phấn chấn chỉ cần có mặt tại Sài Gòn và trông thấy được sự độc đáo của nó cũng đủ là đề tài phong phú để viết thành truyện. Sài Gòn dạo này đẹp lạ lùng và yên bình đủ để ông tự nhủ có nên để Bunny đến thăm vào cuối chu kỳ nhiệm vụ của mình hay không?

Mọi chuyện ở nhà đối với Bunny Turley và gia đình thiếu đi một người giờ đã tiến triển đáng kể từ lúc Gerry nhận nhiệm vụ tại Việt Nam hơn năm năm về trước. Anne, đứa con gái lớn và là “bạn tâm đầu” của Bunny đã ra riêng và đang học nốt năm thứ ba về điều dưỡng tại St. Louis. Hồi này Bunny không cần để mắt quá mức tới hai đứa con trai nhỏ và hai cô chị, tuy lớn hơn một chút nhưng vẫn dễ thương và ngây thơ như dạo nào. Tuy nhiên nhiệm vụ làm mẹ lại cần trở nên tình cảm hơn và sử dụng đầu óc nhiều hơn trước.

Chris và Bob, 10 và 11 tuổi, đúng nghĩa là con trai, đã tham gia Hướng Đạo, chơi thể thao và đùa nghịch trong xóm như mọi cậu bé cùng lứa. Cô bé Jeri bây giờ lớn nhất trong nhà và sẽ làm lễ ra trường trung học trong ba tháng nữa. Cha cô sẽ phải tự tìm cách để khỏi bị mang mặc cảm tội lỗi vì sẽ không có mặt trong cái ngày trọng đại này của cô. Cô nhỏ Peg đang học lớp tám rất khá. Cả hai là những nữ sinh trung học khỏe mạnh, rạng rỡ và điều này làm cho mẹ các cô rất vui mừng.

Ít nhất lần này Bunny Turley được an ủi khi nghĩ rằng mọi rủi ro tại Đông Nam Á không còn đáng kể nữa, cuộc chiến đã sắp kết thúc rồi, và Gerry chắc sẽ được an toàn hơn. Tương tự như kỳ Gerry thi hành nhiệm vụ lần đầu tại Việt Nam, vấn đề tài chánh cũng là một khó khăn, và ngày tháng luôn luôn dồi dào hơn tiền bạc. Những đứa trẻ thường xuyên bị ăn hamburger dài dài chứ chẳng mong gì được món thịt steak.

Gerry Turley mất hai tuần lễ tại Sài Gòn để làm quen với nhiệm vụ mới. Trong giai đoạn này, ông gặp gỡ tư lệnh TQLC là Trung tướng Lê Nguyên Khang và đi thăm viếng các cơ sở huấn luyện TQLC tại địa phương cũng như bệnh viện của họ tại Thủ Đức. Hằng ngày ông nghe các báo cáo hành quân liên quan đến sự bố trí của các đơn vị TQLC Việt Nam. Ông cũng nhiều lần qua bên trung tâm MACV, đầu não của các hoạt động Hoa Kỳ để nghe báo cáo thường xuyên các tin tức có liên quan đến công việc.

Đại tá Josh Dorsey, viên cố vấn trưởng, trước kia đã từng làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 thuộc Sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ hoạt động tại Vùng I, quan niệm là chiến tranh đang đến hồi kết thúc. Đã có nhiều lần Đại tá Dorsey trao đổi với viên phụ tá mới rằng ông tin sẽ phải đóng cửa đơn vị nội trong chu kỳ nhiệm vụ này của họ. Các cuộc đụng độ tại Vùng I Chiến Thuật, tuy chưa hoàn toàn dứt hẳn nhưng chắc chắn không còn ở mức độ từng thấy trước kia. Mọi chuyện có vẻ rất khả quan.

Đối với Gerry sau khi đã tìm hiểu xong mọi điều cần thiết tại Sài Gòn, ông nghĩ rằng đã đến lúc phải làm những gì mà một sĩ quan TQLC cần làm là đi thăm các cố vấn và đích thân cảm nhận những chuyện gì đang xảy ra. Gerry dự tính sẽ chỉ là một chuyến khứ hồi bình thường như thông lệ. Không có gì quan trọng cả. Trong khi Gerry đang bay lên miền Bắc thì Đại tá Dorsey sửa soạn để đi nghỉ phép dưỡng sức ngắn hạn nhân dịp lễ Tạ Ơn với gia đình tại Philippines. Giống như mọi cố vấn khác khi đi ra miền Bắc, Gerry được nhắc nhở phải mang theo túi bưu phẩm. Bây giờ xếp đi vắng rồi thì Gerry sẽ đảm nhận chức quyền cố vấn trưởng.

Lên miền Bắc rồi vào chốn lạ

Các chứng cớ khoa học còn đầy dẫy đó. Qua kinh nghiệm thực tế trong đời, Gerry Turley đã hai lần lâm vào tình huống linh cảm về thần chết. Lúc còn là một đứa trẻ, ông bỗng nhiên cảm thấy cần phải ở lại nhà tại Ogallala, Nebraska trong cái ngày mà đám bạn đi bơi trong khu mỏ đá và bị chết đuối hết. Một lần nữa là lúc còn là một sĩ quan trẻ trong cuộc chiến Triều Tiên, ông đã từ chối một chuyến bay nghỉ phép đi Nhật Bản, và chiếc máy bay này đã bị rơi.

Lần này, Gerry không có cách chi mà thoái lui nữa. Cho dù không bị đè sát xuống sàn chiếc C-130 bởi hai anh chàng TQLC Việt Nam bên cạnh đang dùng người ông như một cái gối ôm, ông cũng hết cách thoát ra. Thật là hết lối thoát.

Cho đến tháng Ba năm 1972, Gerry đã quá thâm niên, quá chuyên nghiệp để có thể chùn bước trong lúc này, bất cứ vì lý do nào đi chăng nữa. Tuy còn trẻ tuổi nhưng vì Đại tá Dorsey đang đi vắng thành thử ông đã trở thành “xếp sòng,” thành “bố già” rồi. Lúc nói về bộ phận chỉ huy có khả năng thay đổi các sự việc, các binh sĩ ngoài tiền tuyến thường nhắc đến chữ “họ” trong các câu chuyện. Bây giờ Gerry cũng nằm trong cái thành phần “họ” đó rồi. Vì vậy, Trung tá Gerry Turley, TQLC Hoa Kỳ, chồng của Bunny, cha của Anne, Jeri, Peggy, Bob và Chris, bạn của một số đông sẽ sẵn sàng cưỡi chuyến tàu này rơi xuống vực thẳm nếu cần thiết phải làm như vậy. Và ông sẽ hết lòng thực hiện nó. Cái điều giữ cho ông được bình tĩnh, tránh không bị hoảng loạn là nhờ có chức vụ và trách nhiệm mới đặt trên vai, tốc độ các sự việc xảy ra sẽ làm ông quên đi những cảm giác đen tối, ít nhất là một phần nào đó.

Chuyến bay từ Tân Sơn Nhất ra Phú Bài, ngoại trừ cái cảm giác khó chịu là có cái gì đó khủng khiếp sắp xảy ra, hóa ra lại hoàn toàn vô sự. Lúc đáp xuống đất, Gerry rất ngạc nhiên khi thấy sự thay đổi tại những nơi mà chỉ một hay hai năm trước đó là những vùng tranh chấp nóng bỏng với quân Bắc Việt.

Phi trường Phú Bài, một thời từng là một “tổ ong” đầy sức sống và được coi như là một trong những phi trường nhộn nhịp nhất trên thế giới, bây giờ cỏ dại lên cao, mọc len cả trên đường phi đạo lót phên được xây dựng bởi toán công binh Ong Biển của Hải quân Hoa Kỳ. Nơi mà trước kia hàng trăm chiếc trực thăng và chiến đấu cơ lên xuống thường xuyên nay chỉ có độc nhất chiếc C-130 của Không Lực Hoa Kỳ thả Gerry và các bạn TQLC mới quen của ông xuống thành thử trông có vẻ khá kỳ dị.

Không phải chỉ có Phú Bài mới như vậy. Khi ông đáp trực thăng lên phía Bắc dọc theo Quốc lộ 1 thì thấy đâu đâu cũng thế. Và khi Gerry nhớ lại hàng chục đồng đội mà ông quen đã từng chiến đấu, từng đổ máu và hy sinh tại những vùng giờ đây trông có vẻ an bình một cách kỳ lạ, ông cũng vui khi thấy những dấu hiệu rõ ràng về thương mãi và tiến bộ tại những nơi trước kia chỉ có tranh chấp mà thôi. Tuy người dân địa phương tỏ ra thờ ơ với ông, nhưng ông vẫn rất mừng thấy mọi chuyện có vẻ như đã trở lại bình thường, dù đấy chỉ là một cảm nhận. Có thể nào, có thể nào như thế được, là chiến tranh thực sự sắp chấm dứt rồi chăng?

1972: Năm bầu cử

Vào cuối năm 1972, Việt Nam ít khi còn xuất hiện trên các trang nhất của báo chí Hoa Kỳ nữa. Cùng với việc Việt Nam hóa chiến tranh đang được đẩy mạnh một cách nhanh chóng, càng ngày càng có ít người Mỹ bị thiệt hại hơn. Ngày 27 tháng Ba, cơ quan thông tấn UPI loan báo là lần đầu tiên trong hơn sáu năm, nếu không tính các thủy thủ trên các chiến hạm ngoài khơi và các lực lượng Không quân đóng tại Thái Lan thì đã có ít hơn 100.000 binh lính Mỹ tại Việt Nam. Theo đúng kế hoạch rút thường xuyên 1.100 quân mỗi ngày, Hoa Kỳ có thể sẽ đạt mục tiêu chỉ giữ lại 69.000 quân vào ngày 1 tháng Năm 1972.

Đặt trọng tâm vào lời hứa hẹn rút quân ra khỏi Việt Nam, đến tháng Ba 1972 Richard Nixon có vẻ sẽ thắng cử Tổng thống một cách dễ dàng. Sự bang giao với Trung Cộng là một cuộc đột biến lớn về chính trị với những tầm cỡ quan trọng có thể đặt vùng Đông Nam Á vào vị trí thuận lợi hơn vào dự tính lợi ích toàn cầu của người Mỹ. Ngoài ra sự gia tăng hợp tác chính thức với Liên Xô về vấn đề cùng nhau thám hiểm vũ trụ một cách hòa bình cũng rất thuận lợi. Đó cũng chính là chiến thuật “vừa đánh vừa đàm” ở cường độ tối đa.

Trở lại vấn đề Sài Gòn, hơn vài tháng nay các phân tích gia tình báo Hoa Kỳ và phía Việt Nam đang phân vân trước sự kiện có nhiều sư đoàn Bắc Việt chủ chốt bị gọi về từ mặt trận. Đã có nhiều tranh cãi về các ý định của đối phương. Ngay từ năm 1970 Bắc Việt đã nhận được viện trợ chiến tranh càng lúc càng nhiều từ cả hai nước Trung Cộng và Liên Xô. Nhiều người tin rằng sự yên lành tương đối hiện tại không báo hiệu điều gì tốt lành cả mà chỉ vì Hà Nội đang tập trung lực lượng để sửa soạn cho một cuộc tổng công kích mới. Lời tiên đoán, được loan báo cả cho giới truyền thông, cho rằng quân Bắc Việt sẽ tấn công đầu tiên và mạnh mẽ nhất ở hướng Tây từ phía Lào, Cambodia, Trung Nguyên và tỉnh Kontum với tỉnh lỵ trọng yếu là Pleiku với ý đồ cắt đôi đất nước Việt Nam, đồng thời phá đổ niềm tin đang nhem nhúm trong dân chúng đối với chính quyền Sài Gòn và chương trình Việt Nam hóa chiến tranh của Nixon.

Cảm xúc vụn vặt

Tới nay Gerry Turley đã gia nhập TQLC gần 23 năm rồi. Giống như mọi quân nhân khác, ông biết binh đoàn TQLC chưa hẳn là lý tưởng. Vậy mà, sau khi đã trải qua các nhiệm vụ chiến đấu và tất cả những công tác khác, tuy bình thường đối với TQLC nhưng là kỳ công đối với người khác, tổ chức TQLC này vẫn không ngừng làm ông ngạc nhiên, nó đã khẳng định với ông điều này và làm ông vững niềm tin vào sự cao cả của nó mỗi khi ông quên mất đó là một nơi tập trung những người tốt nhất đã tự nguyện tập hợp lại với nhau trong những điều kiện tồi tệ nhất. Các điều linh cảm xấu trước đó đã được tạm quên đi khi ông nghĩ đến các đồng đội cố vấn phân tán khắp nơi trong các đơn vị TQLC Việt Nam. Họ là những người tốt, những người giỏi nhất mà đất nước Hoa Kỳ có thể có được. Trong mọi vị trí họ đều là những người xuất sắc mặc dù mỗi người đều là những cá tính độc đáo và đặc biệt. Cảm tưởng khi nghĩ về những người ấy đã khiến Gerry thấy yên tâm, tin tưởng và họ đã mang lại cho ông niềm vui thật sự. Nếu sóng gió có ập vào đây trùm lên trên họ, họ sẽ là đoàn thủy thủ cần thiết để lao vào tâm bão.

Trên mọi ngã đường

Thiếu tá TQLC Hoa Kỳ Jim Joy, cố vấn trưởng cho Lữ đoàn 147 TQLC Việt Nam được cử làm hướng dẫn viên chính thức cho Gerry Turley và phụ trách phần đầu của chuyến đi bốn ngày thăm Vùng I Chiến Thuật của ông. Từ Phú Bài, họ lấy trực thăng Huey bay lên hướng Bắc rồi về hướng Tây đến căn cứ hỏa lực Mai Lộc là nơi đặt bộ chỉ huy của Lữ đoàn 147. Gerry sẽ quan sát hoạt động tại nơi đó và ở qua đêm với Thiếu tá Joy. Theo chương trình thì ông sẽ nghỉ đêm thứ hai tại căn cứ hỏa lực Sarge sau khi đã đi thăm một số vùng lân cận. Thiếu tá Walt Boomer sẽ là người hướng dẫn. Thiếu tá Boomer là cố vấn trưởng cho Tiểu đoàn 4 TQLC Việt Nam và, giống như các cố vấn trưởng tiểu đoàn khác, được phân nhiệm đi theo Ban chỉ huy Alpha của tiểu đoàn.

Trong chuyến đi ngắn hạn bốn ngày tại vùng Bắc, Trung tá Turley mong là ông có thể đích thân gặp gỡ được càng nhiều cố vấn Hoa Kỳ càng tốt. Vì Lữ đoàn 369 đang ở Sài Gòn theo chu kỳ dưỡng quân, tái trang bị và tái huấn luyện thường lệ, nên Gerry sẽ đi thăm phần lớn các tiểu đoàn của Lữ đoàn 147 và 258, hai đơn vị đang có mặt và sẵn sàng hoạt động tại Vùng I Chiến Thuật.

Nếu cho rằng Turley đã có một đội ngũ cố vấn thật tài giỏi thì đó cũng là một nhận xét không quá đáng. Bắt đầu từ các cố vấn trưởng Lữ đoàn – Jim Joy với Lữ đoàn 147, Jon Easley với Lữ đoàn 258, và Bob Sheridan tại Lữ đoàn 369 – xuống đến từng cố vấn tiểu đoàn đều là những nhân vật xuất sắc. Tiểu đoàn 4 có cố vấn trưởng Walt Boomer, cựu Tiểu đoàn trưởng trong lần nhiệm vụ tại Việt Nam trước đó, đã từng được tặng thưởng huy chương Silver Star. Cố vấn phụ là Đại úy Ray Smith. Trong lần nhiệm vụ trước tại Việt Nam anh cũng đã được đề nghị huân chương Navy Cross hai lần và được ân thưởng huy chương Silver Star trong cả hai lần đó. Ngoài uy danh là một chiến sĩ can trường, Đại úy Smith còn được công nhận là người thạo tiếng Việt nhất trong tất cả nhóm cố vấn. Trong thời gian Gerry đi thăm căn cứ hỏa lực Mai Lộc thì Đại úy Smith đang đóng với ban chỉ huy Bravo của Tiểu đoàn 4 tại Núi Ba Hồ.

Tại Tiểu đoàn 6, Thiếu tá Bill Warren và Đại úy Bill Wischmeyer là một cặp bài trùng xuất sắc và phải làm việc trong các điều kiện tồi tệ như mọi cố vấn khác. Cặp Warren – Wischmeyer còn chịu thêm một khó khăn khác là phải làm việc dưới quyền một Tiểu đoàn trưởng người Việt nổi tiếng không ưa người Mỹ. Bản tính dễ chịu của Warren và Wischmeyer vốn đã kiên nhẫn nay còn thêm tài ngoại giao khéo léo ngày mỗi khá hơn để thêm vào việc chu toàn nhiệm vụ tác chiến hàng ngày của họ.

Tại căn cứ hỏa lực Barbara, John Ripley là cố vấn duy nhất cho Tiểu đoàn 3 với anh bạn Lê Bá Bình. Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh và kế hoạch giảm bớt các lực lượng Hoa Kỳ cũng đã ảnh hưởng đến các cố vấn. Vào đầu năm 1972, khi các cố vấn đã hoàn tất chu kỳ nhiệm vụ họ được về nước nhưng không được thay thế nữa.*

Nói chung, tình hình tại các tiểu đoàn TQLC Việt Nam khác cũng tương tự. Các tiểu đoàn này được phối trí một cách hợp lý để bảo vệ các khu vực tiếp cận khu phi-quân-sự và biên giới phía Tây Bắc của VNCH với Lào. Khi cùng Jim Joy đến bộ chỉ huy của Lữ đoàn 147, Gerry được các nhân viên của Joy báo cáo đầy đủ về tình hình. Ông cũng nghe các báo cáo qua điện đàm của các cố vấn đang đi theo các tiểu đoàn ở xa. Mặc dù căn cứ hỏa lực Mai Lộc chưa hề bị pháo kích trong vòng hơn hai năm qua, nhưng hoạt động gần đây của đối phương trong các vùng tranh chấp có vẻ báo hiệu một chuyện gì trọng đại sắp xảy ra.

Ngoại trừ các cuộc bắn yểm trợ hỏa lực theo thông lệ, được coi như là bình thường, từ pháo đội VNCH tại căn cứ Camp Carroll thì đêm ngày 29 tháng Ba trôi qua mà không có biến cố nào xảy ra. Do đó Jim Joy tin rằng tình hình đã đủ an ninh và không ngần ngại đề nghị đi bằng xe thay vì trực thăng theo dọc Quốc lộ 9 đến tận căn cứ Ái Tử và tỉnh Quảng Trị để họp với bộ tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ Binh Việt Nam vào sáng ngày thứ Năm. Thiếu tá Joy đã thu xếp để Gerry đến thăm Đại tá cố vấn trưởng Hoa Kỳ, người trực tiếp làm việc với tướng Tư lệnh Sư Đoàn 3. Đây không phải là một chuyến đi thăm thường tình. Sư đoàn 3 có quyền hành điều động hai Lữ đoàn TQLC đang bố trí tại Vùng I Chiến Thuật. Nhóm của Gerry và các quân nhân Hoa Kỳ của Toán Cố Vấn 155 sẽ trao đổi các nhận xét với nhau, cùng dùng cơm trưa và sau đó thì Gerry sẽ bay đi căn cứ hỏa lực Sarge để gặp Walt Boomer như đã hẹn trước.

Khi ngồi trên ghế bên tay mặt của chiếc xe jeep M151, Trung tá Turley đột nhiên cảm thấy chung quanh yên tĩnh một cách lạ kỳ. Các khẩu trọng pháo VNCH tại Camp Carroll đều im tiếng không bắn ra trái nào, và may thay, cả bên phía kẻ địch cũng vậy. Hoàn toàn không có chuyện gì xảy ra. Trong suốt các thời gian ông đã từng ở Vùng I Chiến Thuật vào các năm 1966, 1967 và nay là 1972, Gerry Turley chưa bao giờ gặp một tình trạng yên ắng như vậy. Sự tĩnh lặng này mang một vẻ gì đó phi lý mà ông chưa thể phân tích được. Nhưng rồi cũng giống như những lần trước, các cuộc trao đổi đứt đoạn với Jim Joy đã xóa tan đi những suy tư ngờ vực đó.

Turley và đoàn tùy tùng đến vị trí Toán 155 vào khoảng 9 giờ 30. Còn một vài tiếng đồng hồ nữa trước khi đi căn cứ hỏa lực Sarge như theo kế hoạch, Gerry được giới thiệu với các nhân vật chủ chốt của Toán 155 và nghe báo cáo về tình hình bố trí của ba Trung đoàn thuộc Sư Đoàn 3. Trong lúc buổi thuyết trình đang tiến hành thì tiếng ầm ì và tiếng nổ từ phía xa của pháo binh địch cho thấy ngay tức khắc là tình hình đang biến chuyển. Trong vòng vài giây đồng hồ, điện đàm tới tấp gọi về cũng báo động điều tương tự. Là những chiến binh dày dạn kinh nghiệm, tất cả đều nắm ngay tình thế và họ tiếp tục lắng nghe cho hết buổi thuyết trình. Chuyện gì đó chắc chắn đang xảy ra. Cường độ như thế nào thì còn phải xác định lại.

Trung tá Gerry Turley rút về khu nhà bếp để ăn vội bữa trưa trước khi đáp trực thăng bay một đoạn ngắn đến căn cứ hỏa lực Sarge như đã dự tính. Ông mới dùng xong món chính thì nghe thấy tiếng pháo kích bắn đi ở một khoảng cách gần đó, hướng về phía tổng hành dinh Sư Đoàn 3 và đã làm tan đi sự yên tĩnh. Mấy thằng Cộng sản chó má đã hành động đúng lúc làm cho ông phải bỏ món tráng miệng. Trong khi mọi người đang chạy về các hầm trú ẩn và chưa biết chuyện xảy ra thì cuộc tổng công kích Mùa Hè Đỏ Lửa đã bắt đầu.
__________________________________________________________
* John Ripley là cố vấn trưởng cho Tiểu đoàn Sói Biển. Đại úy Jim Johnson là cố vấn phụ nhưng không còn tại Việt Nam nữa.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

VUA CHUỘT CHÙ VÀ MÈO ĐÔRÊMÔN

khuatdau

Sau khi được mèo Tom cho uống sâm banh và ăn bíp tết, hứa làm bạn không cần mười sáu chữ vàng mà chỉ cần một chữ bạc, vua chuột chù yên tâm tìm đến mèo Đôrêmôn để mong kết thêm bạn.
Đây là một loại mèo máy cực kỳ tinh xảo và khôn ngoan, được nặn ra từ đống tro tàn sau thế chiến thứ hai và cũng như mèo Tom, mèo Đôrêmôn không thèm ăn thịt chuột, chỉ thích ăn sushi và uống rượu sakê.
Suốt bao nhiêu năm, cặp đôi này vừa giàu có lại vừa hào phóng, oai trấn giang hồ một cõi. Ngay cả con mèo đi hia, khôn ngoan đến nỗi biến một anh chàng nhà quê thành bá tước được vua gả con gái và truyền ngôi, cũng phải hạ mình xin tôn làm minh chủ.
Vua chuột chù cũng đã bớt lú để nhận ra rằng, muốn thoát khỏi nỗi sợ lũ mèo già hóa cáo, hiểm độc và tinh quái khôn lường đang nhe nanh giương vuốt bên sân nhà, thì không còn cách nào khác là bám đuôi mèo Tom và mèo máy Đôrêmôn.
Một ngày mưa gió ủ ê sau quốc khánh chuột, vua và cả đám cận thần sang xứ mặt trời mọc. Quan tướng quốc Đôrêmôn thân hành ra đón.
Đúng là mèo máy, quan vừa cao to đường bệ, vừa trẻ trung lịch lãm, lông trên đầu đen mượt chứ không cần mua thuốc nhuộm như quan tướng quốc chuột đồng. Cả hai cùng song hành duyệt hàng quân danh dự mình đồng da sắt đang đứng dàn chào dưới mưa, trông rất lẫm liệt uy nghi. Vua chuột chù sợ điếng người, chân cố giữ thẳng, đầu cố giương cao mà vẫn cứ lóm thóm run rẩy như muốn bò lê trên đất.
Nhưng rồi, cái phút giây hãi hùng ấy cũng qua nhanh, vua được hộ tống về nghỉ tại nhà quốc khách. Vua thở phào nói với đám cận thần: “Lũ mèo máy này đáng sợ thật. Nanh vuốt chưa giương ra mà ta đã thấy lạnh cả mình. Ngày mai bệ kiến với vua mèo, không biết ta có còn giữ nổi cái thần hồn của mình không?!”. Chúng thần chít chít thưa: “Bệ hạ chớ quá lo xa. Dẫu gì mình cũng là vua”. Vua chuột ậm ừ: “ Ta cũng biết vậy, nhưng sợ là cái gien di truyền của bè đảng chuột nhà ta”.
Sáng hôm sau bệ kiến vua mèo Đôrêmôn.
Không giống như mèo Mao ngầm cho vệ sĩ mật phục, chỉ chờ ra hiệu lệnh là nhảy xổ vào xé xác, vua mèo Đôrêmôn tiếp kiến trọng thị coi như cùng đẳng cấp. Nỗi sợ trong lòng vua chuột nhờ vậy được vỗ yên, nhưng cái nỗi tự hào rỗng tuếch bỗng dưng lại trổi dậy. Vua bắt đầu vung vít tự khen bè đảng mình.
Trong cuộc họp báo, một phóng viên hỏi:
“Nước của ngài là XHCN mà sao các ngài cứ truyền ngôi cho nhau hoài vậy?”.
Vua cười bảo: “Ấy là vì các bè đảng khác bị tiêu diệt hết cả rồi. Heo thì vào nhà máy thịt hộp. Gà vào chuồng công nghiệp. Chó nếu không bị thiến thì vào các quán thịt cầy. Vậy thì bè đảng chuột truyền ngôi cho nhau là phải thôi.”
“Nhưng cái giống chuột của ngài, ai cũng ghét?”.
”Ai ghét mặc ai, bè đảng ta yêu nhau là đủ rồi, vua chuột chù kiêu hãnh nói. Với cương lĩnh không làm vẫn có ăn. Muốn ăn gì cứ ăn, muốn phá gì cứ phá. Hỏi có đảng nào được làm được như vậy không?”
Nghe nói thế các phóng viên đều bịt mũi lui ra.
Các nhật trình và báo điện tử trên khắp thế giới cùng đồng loạt chạy tít cực hot: Đại dịch hạch thế kỷ 21 sắp bùng phát!
Người ta bỗng rùng mình nhớ tới trận đại dịch do bọ chét chuột gây nên từng giết hại hàng triệu người ở châu Âu trong thế kỷ 14.
Thấy thế giới phát hoảng vì mình, Vua chuột chù và bầy đoàn lại được dịp tự hào và chít chít chúc mừng nhau thắng lợi.

(Mèo chuột ký sự)
20/9/2015
Khuất Đẩu

Khi rừng nhớ phố

truongdinhtuan

có khi như chú mán chú mường
lạc rừng mê hoặc nhánh trầm hương
bứt sợi mây treo hai đầu vực
đồng bằng lắc lẻo mấy tà dương

nhớ phố muốn về chơi đôi bữa
bạn chừ xa lạ quá nên thôi
nhớ quán muốn tìm bàn ghế cũ
e bình rượu nọ đã bốc hơi

nằm nhấm nha từng chòm mây bạc
đói lòng thì hái trái qua truông
xác lá vàng rơi đau lưng ngựa
thôi đừng hí lộng nhớ yên cương

có khi hồn khô như gạch ngói
vốc hạt mưa thơm nẻo chim về
ngậm mảnh trăng non mà nhả hạt
mai mọc vào đây mấy châu thành

trương đình tuấn

Chén rượu bốn mươi năm cùng bằng hữu

lesa

Về quê chẳng thấy hương quê
Chỉ nghe cuốc gọi não nề khan khô
Bốn mươi năm bụi phong hồ
Vẫn chung chiếc lá sầu ngơ ngẩn đường
Thôi thì chuốc chén rượu suông
Nhìn nhau ấm chút đoạn trường thế thôi
Thơ không nói hết được lời
Kìa… con chiền chiện mách lời đa đoan
Bặm lòng hỏi hỏi núi hỏi non
Trời kia đất nọ
Ai tròn ai vuông.

Lê Sa
(Một chiều Manương cùng Bảy Đời)

VỀ MÁI NHÀ XƯA

phamkhanhvu

Các độc giả vẫn thường hỏi tôi về nhà thơ Phạm Khánh Vũ của TUỔI NGỌC ngày xưa.
Xin gởi đến các bạn một truyện ngắn của bạn ấy, bây giờ đã là Mục Sư Trần Nguyên Đán và là một trong những giám khảo của cuộc thi VIẾT VỀ NƯỚC MỸ hàng năm do VIỆT BÁO tổ chức.

1.

Cha ơi, con đã về đây, đứa con đi hoang đã về đây.

Con không dám đi cửa trước, con vòng ra cửa sau. Mùa Xuân đã trở lại, những củ tulip con trồng trên luống mùa thu năm nào trước khi bỏ đi đã mọc lên và ra hoa, những bông hoa tulip mà cha yêu. Mọi thứ trông buồn bã và tàn tạ, chỉ có những bông hoa tulip rực rỡ. Mầu đỏ và vàng, xen lẫn với những mầu hồng nhạt, cánh mỏng manh sang cả, lay động trong gió và nắng.

Con ngẩn người trước vẻ đẹp của hoa, trong thoáng chốc quên mình như một đứa con hoang đàng, đã phạm tội cùng cha và bỏ nhà ra đi, đã làm cho cha đau, đau đến tim óc. Cái vòi nước tưới cây vắt ngang trên cái trục gỗ đã mòn. Bình trầu bà leo gầy guộc bên gốc cột. Tất cả vẫn như cũ. Chỉ có hư hao hơn xưa. Hoặc giả như nó có thay đổi thì con cũng không nhận ra, vì những hình ảnh ấy đã sống với con hàng chục năm, quen thuộc quá, như là máu thịt …

Con thoáng thấy bóng cha trong cửa, con lùi lại, nấp sau bụi cỏ rậm không ai tỉa sửa đã xác xơ. Cha áp mặt vào cửa kính nhìn ra vườn, không biết nhìn cái gì. Con muốn nhảy xổ ra, chạy băng qua khoảng sân, tông cửa, lao vào nhà, ôm cha lại. Nhưng con không dám làm thế. Từ xa con không nhìn thấy mặt cha, nhưng con có thể hình dung ra nỗi buồn trong đôi mắt cha, nỗi buồn của niềm đau mất vợ, mất con, nỗi buồn của tuổi già bất lực, nỗi buồn cô đơn có lẽ là nỗi buồn sâu kín và day dứt nhất… Cha đứng yên như thế trước khung cửa kính một hồi lâu rồi lặng lẽ quay đi, đầu cha cúi xuống vì tháng năm, vì chịu đựng, cũng có thể vì nỗi buồn.

Con rời chỗ nấp, tiến lại gần nhà hơn. Con ngạc nhiên khi nhìn thấy con Lucky, nó từ trong cái chuồng gỗ lừ đừ bước ra, và con ngạc nhiên vì không thấy nó sủa, dù là sủa mừng hay sủa cảnh giác. Có lẽ nó vừa cảm thấy vừa quen mà vừa lạ, vừa nhớ cậu chủ từng cho nó ăn và chơi đùa với nó, vừa cố lục lọi trong trí nhớ xem chàng trai ăn mặc luộm thuộm, tóc rối bù này là ai … Nếu nó sủa có lẽ con sẽ bỏ chạy, vì con chưa thật sẵn sàng để gặp cha. Con chưa biết phải làm gì, phải nói với cha thế nào … Lucky lừ đừ tiến lại gần, con quỳ xuống, cố gắng nở nụ cười với nó, tay đưa ra… tao đây mà, đừng sủa… Lucky nhìn con một chập, rồi nhảy vào con, mà không sủa. Nó liếm mặt con, liếm tay con, mà không sủa, đuôi nó quẫy lên vì mừng. Nó đã nhận ra con, con vuốt ve bộ lông xám xỉn màu của nó, ứa nước mắt. Một con vật nuôi mà còn có tình nghĩa như thế. Con phải quay mặt đi, tránh những cái hôn quá nồng nhiệt của Lucky, chính mình thấy không xứng đáng. Con đứng dậy, nắm sợi dây kéo nó đi ra mảnh sân sau.

Sân nhà quạnh quẽ quá. Lá vàng từ mùa thu năm trước vương vãi đây đó chưa có ai cào dọn. Mọi năm con vẫn làm công việc đó, khi con đi rồi, người cha mạnh mẽ ngày nào của con nay đã già yếu, hay vì buồn thương mà không thể lay động cả những xác lá” Con tìm thấy cái cào lá dựng trong vách, và bắt đầu khởi sự cào lá khô dồn lại. Đột nhiên con Lucky sủa vang, con không biết làm sao hơn là nằm dài xuống đất, trong khi mắt len lén nhìn vào nhà, từ đây vào đến nhà khá xa, nếu cha xuất hiện, con sẽ bò đi cho đến cái hàng rào phụ qua khoảng đất trống giữa nhà mình và nhà hàng xóm. Nhưng không thấy gì cả, con Lucky thôi sủa. Chờ đợi một lát, con nhẹ nhàng đứng dậy, tiếp tục cào lá, dồn thành đống lại, dồn vào những gốc cam và chanh.

Bầu trời buổi sáng mùa Xuân trong xanh, những con chim én bay ngang, tiếng xe chạy qua rồi mất dần ở phía xa. Con dừng lại lắng nghe những tiếng động, và lắng nghe cả những tiếng động trong lòng mình. Những đau khổ như lắng đọng lại, ở một nơi nào đó, chứ không phải ở đây. Ở đây, mái nhà này, vẫn bình yên vô cùng, những ngày thằng con trai ngủ vùi trong đống chăn gối quên mất giờ giấc, và khi thức dậy, chính là cha, chứ không phải mẹ, đã làm sẵn cho con những món ăn đơn giản, pha cho con ly cà phê, ít sữa thôi nghe bố, con thích uống thật đắng. Con dặn với theo bằng giọng ngái ngủ. Giống bố hồi trẻ, bây giờ thì bố không chịu nổi cái vị đắng của cà phê nữa. Cha nói. Và khi con từ phòng tắm đi ra, chỉnh tề ngồi lại bàn, thì cha ngồi vào bàn với con, chỉ để nhìn con ăn.

– Bố không ăn gì sao” Con hỏi.

– Bố ăn rồi. Con cứ ăn rồi đi học. Trước đây 1 giờ Jennifer có gọi con, bố nói con còn ngủ bố không muốn đánh thức con dậy, lát nữa con nhớ gọi lại cho nó.

Jennifer. Thôi cha, con đang cố gắng để quên cái tên ấy, con đang cố gắng để quên. Cái tên ấy đã gây ra những đổ vỡ không bao giờ còn có thể hàn gắn được giữa cha và con, và giữa con với cô ta, bây giờ.

Con đã cào xong đống lá, ngừng cào, và chợt ngẩn người ra, không biết mình phải làm gì nữa. Con sẽ phải làm gì đây” Con có mặt ở đây làm gì” Con đã tìm đủ tiền để mua vé máy bay, vượt bao nhiêu ngàn miles từ miền Cực Tây bay về đây, để làm gì đây” Trở về nhà, mà không dám vào gặp cha. Cha đang rất gần con, chỉ cần con đứng dậy, chạy vài bước, con có thể ôm cha vào lòng … Con muốn thế. Nhưng mà cha ơi, cha có thể nào tha thứ cho con không”

Con đã ăn cắp tiền trong ngân hàng của cha, trong saving và cả trong checking, chỉ chừa vừa đủ để người ta không nghi ngờ. Con đã thừa lúc cha đi tắm, rút cái driver license của cha, và con ký chữ ký của cha giống hệt, con thuộc lòng số PIN của cha, số account của cha, đâu có lạ gì, vì cha vẫn thường đưa những cái check lương của cha cho con đi deposit, vẫn nhờ con rút tiền trong máy ATM. Những người làm việc trong ngân hàng đã quá quen mặt con. Con đã bán luôn chiếc xe Honda Accord đời mới cha mới mua cho con. Không những thế, con cũng rút luôn những cái credit card cha thường để dưới những chồng sách ít khi nào dùng tới.

Con rút hết tiền buổi sáng, thì buổi trưa con đã nhanh chóng thu gọn áo quần đồ đạc vào va ly. Cô gái tinh quái ấy đã hẹn đúng giờ đến đón con ra phi trường. Nhưng điều mà con không bao giờ tưởng tượng là cha trở về ngay khi con vừa buớc chân ra cửa, tay còn vướng víu cái va ly nặng.

Cha sừng sững trước cửa, ngay lối đi của con, như một cơn ác mộng. Trong giây phút khủng khiếp ấy, con không còn kịp suy nghĩ một cái gì, con gạt phắt cha ra, và cha cũng không thể nào ngờ thằng con trai của mình có thể làm thế, cha loạng choạng ngã xuống đất, đầu đập vào cửa.

Con không nhìn cha lúc ấy, nhưng con nghe tiếng cha kêu:

– Thư, con đi đâu, đứng lại …

Con chạy băng băng qua khoảng sân trước và thấy nó quá dài. Nếu con không chạy thật nhanh thì có lẽ con sẽ đứng lại, sẽ quăng hết đồ đạc, chạy vào đỡ cha dậy, và rồi sẽ thú tội cùng cha. Nhưng không, con không thể làm như thế nữa. Con đã leo lên lưng cọp rồi, con cọp sẽ phóng đi. Nó đang ngồi trong chiếc xe mầu xám đậu bên kia đường, với khuôn mặt đẹp, nụ cười quyến rũ, hai cánh tay dài. Nó, chính là mụ phù thủy đã cướp mất linh hồn con, cướp lấy thể xác con, lôi con ra khỏi vòng tay từ ái của cha. Con phải chạy. Cửa xe đã mở chờ sẵn con, con lao vào, đóng sập cửa lại. Chiếc xe chạy vù đi, và con không thể nào không quay lại nhìn một lần nữa, trời ơi, cha đã chạy được ra tới cửa trước, và hình ảnh cuối cùng con thấy là … cha quỵ xuống, nhưng hai tay còn đưa lên trời. Cha ơi, cha có chết lúc đó, thì con cũng ra đi … Tội của con lớn dường ấy.

Con thấy cay ở mũi. Cha ơi, đã từ lâu con không còn khóc được nữa, cuộc sống của con chỉ là cay đắng và hận thù. Con ngụp lặn trong vũng bùn, sa đọa tới tận nền móng của địa ngục. Cho tới khi con nhận ra rằng đứa bé trong bụng cô ta không phải là của con, mà là của một người khác, cuộc đời từ đó chỉ còn là địa ngục. Những ngày sau đó là nguyền rủa, cay cú, đập phá, tiếp diễn từ ngày này qua ngày khác, mà không thể dứt bỏ. Con vẫn đam mê cô ta, một thứ đam mê kỳ quái, như một loại thuốc phiện cực mạnh.

Rồi nửa năm sau ngày sinh con, cô ta đã bỏ con. Tối hôm ấy con biết là cô ta sẽ đi. Con tìm được một khẩu súng, và nghĩ rằng tối hôm ấy sẽ có ba người chết, có thể bốn, thằng nhân tình cũ của cô ta, nếu nó ló mặt ra. Nhưng trời đã đoái thương con, thương cha, đã không để cho con làm cái hành động hủy diệt ấy. Cô ta đã ra đi trước khi con về. Con đập phá đồ đạc trong nhà trọ, và trong cơn điên cuồng con muốn nổi lửa lên đốt nhà, nhưng một lần nữa, con dừng lại. Có một cái gì đó ngăn con lại.

Và cha ơi, những ngày sau đó nữa cha biết là gì không”

Thôi, cha ơi, con không dám nghĩ tới nữa.

Bây giờ con đã về đây, nhưng không dám bước vào nhà. Con về, để thấy là cha vẫn còn sống, con chỉ nhìn cha một lần nữa thôi, rồi con sẽ ra đi. Mà lần này, con không biết là con sẽ đi đâu. Xin cha nhận một lạy này, như là một lạy đáp tạ ơn dưỡng dục sinh thành, ơn cha đã yêu con, một tình yêu không bến bờ, không gì so sánh được. Xin cha …

Con quỵ xuống bãi cỏ, vì có một cái gì đó thắt lại nơi trái tim con….

Con Lucky lại sủa …

2.

Con, cha của con đây.

Ngày hôm nay vết thương cũ trong những năm chinh chiến lại hành hạ cha nhức nhối và cha xin phép nghỉ ở nhà một ngày, cha mới đi bộ một vòng ngoài đường trở về.

Cái khu nhà này mình đã ở cho đến bây giờ là mười lăm năm rồi. Sau nhiều năm đi làm cực nhọc cố gắng dành dụm mua được căn nhà này, nó đã trở thành một phần đời sống của cha, quen thuộc đến nỗi cha có thể nhắm mắt lại hình dung ra những căn nhà nằm ở đâu, như thế nào, ngay cả những người hàng xóm cũng cũ kỹ như những tấm ảnh ố vàng. Cha mới đi một vòng về, vào trong bếp nấu ít đồ ăn, và lại nhớ đến con. Cho tới khi nào con trở về, còn không thì cha vẫn cứ nhớ mãi.

Con biết không, từng tiếng động ban ngày, ban đêm, đều làm cho cha nhớ con. Mỗi khi nghe tiếng điện thoại reng, cha đều thầm mong đó là con, cha hồi hộp cầm máy lên, và nghĩ rằng chắc mình sẽ bật khóc nếu nghe tiếng con trong máy. Mới hôm qua đây, khi thức giấc giữa đêm, cha chợt vội vã tung mền ra, chạy vội lại cửa sổ nhìn ra drive way, vì cha chợt nghe tiếng cửa xe mở ra và đóng lại rất gần, tiếng đóng cửa xe rất giống tiếng đóng cửa xe của con, không nhẹ mà cũng không mạnh lắm. Cha nghĩ rằng sẽ lại nhìn thấy chiếc xe Honda Accord mầu đen của con nằm phía sau chiếc xe cũ kỹ của cha, và cái dáng cao cao gầy gầy của con băng qua bãi cỏ vào nhà. Đường xi măng không đi, mà cứ hay băng ngang bãi cỏ, cha nói hoài, mà con cứ quên. Nhưng cha thất vọng, vì cái thằng con của ông Mark cạnh nhà đi đâu mới về. Dạo này nó cũng hay đi khuya như vậy. Cha lại quay vào giường, và trằn trọc mãi cho đến sáng. Con đang ở đâu”

Con bây giờ chắc đã lớn lắm rồi, có … vợ, và chắc cũng đã có con. Sao con không liên lạc về cho cha biết, sức khỏe con thế nào” Vợ của con, nó có săn sóc con đàng hoàng không” Cha không yên tâm lắm về người vợ Mỹ của con. Mẹ con mất sớm, cha săn sóc con cũng như mẹ vậy. Dù thế nào thì người Việt Namvới nhau cũng còn giữ được chút truyền thống gia đình đẹp đẽ, con biết không” Nhưng bây giờ lỡ rồi thì phải đành chịu vậy. Còn con của con thì thế nào” Nó giống con hay giống người mẹ Mỹ của nó” Con trai hay con gái”

Con biết không, những người quen của cha thỉnh thoảng đến nhà nhìn thấy cái bảng cha treo trước cửa, mà khuyên cha: sao anh cứ treo cái bảng đó mãi thế, biết bao giờ nó mới về” Cha nói với họ: nó sẽ về, tôi tin rằng nó sẽ về mà, khi nó về, nhìn thấy tấm bảng đó, sẽ yên tâm mà vào nhà. Tấm bảng đó cha viết từ lúc con mới bỏ đi, bây giờ đã mờ nhạt rồi: Thư, nếu con về hãy mở cửa vào, Bố vẫn chờ con. Con vẫn còn giữ chìa khóa chứ” Thư, nếu con có về, bất cứ giờ giấc nào, cứ mở cửa mà vào nghe con. Nhà này là nhà của con mà. Cha mua nó là cho con, chứ cha đâu có sống cho đến ngày trả dứt nợ ngân hàng. Con đừng lo lắng gì nữa. Cha tha thứ cho con hết thảy, cha quên hết những gì đã xảy ra ba năm trước đây, cha không nhớ gì những chuyện đó nữa, ngay cả lúc con xô cha ngã đập đầu vào cửa, cha cũng không giận con, cha chỉ đau đớn, vì thương con, biết là con còn trẻ người non dạ, chứ con thì thương cha nhiều lắm, cha biết, dù con không nói ra, nhưng cha biết. Dù gì thì cũng là cha con mà, phải không con” Cha vẫn hối tiếc là hôm ấy sở cha bị cúp điện được cho nghỉ, cha về nhà sớm và ghé qua ngân hàng định rút tiền gởi về cho ông nội con ở Việt Nam, khám phá ra tiền trong ngân hàng không còn nữa, cha vội vã chạy về, và đụng đầu con trước cửa. Giá mà cha đừng về, cứ để cho con đi, như thế sẽ hay hơn …

Cha mới ở trong phòng con đi ra, mọi thứ trong phòng con cha vẫn để nguyên như vậy, để khi con về, con có thể vào đó, nằm xuống, và ngủ, bình yên như ngày xưa. Cha đến bên cửa, nhìn ra sau vườn, hoa tulip đã nở rồi, những bông tulip này chính con đã đi mua ở Home Depot về trồng, và cha săn sóc chỉ mỗi những luống tulip đó, vào mùa xuân, khi nó ra hoa. Hoa tulip đẹp lắm con ạ. Ngày xưa mẹ con khi còn ở Việt Nam, được xem những tấm card postal chụp những vườn hoa tulip tuyệt đẹp ở Hòa Lan, cứ ao ước phải chi có được một lần tận mắt nhìn thấy. Tội nghiệp mẹ con sớm qua đời, không theo cha con mình đi vượt biên, để bây giờ cũng có thể tận mắt nhìn thấy những bông hoa tulip mà bà thích. Cha lại muốn khóc. Cha thật là ủy mị. Cũng bởi vì cha đã làm gà trống nuôi con từ khi con gà con còn quá nhỏ, con trai yêu dấu của cha.

Cha nhìn thấy bóng ai đó ngoài vườn, sau bụi cỏ. Ai vào nhà mình vậy. Cha hơi lo, nhưng nghĩ có lẽ là những người làm vườn cho nhà bên cạnh đến để cắt cỏ. Cha nhìn sân sau nhà mình điêu tàn quá, chắc rồi cũng phải mướn người sửa sang lại. Từ ngày con đi, cha không nhấc tay lên nổi để làm gì, ngoại trừ vẫn phải đi cày từ sáng đến chiều để mà sống. Hay là để chờ con về con làm. Con sẽ về mà, cha tin chắc là con sẽ về. Con nhất định sẽ về. Ai cũng ít nhất một lần lầm lỡ, có ai mà trong suốt cuộc đời mình không bao giờ có lầm lỗi. Nhưng những gì cha đã dạy con từ khi con còn nhỏ dại cha tin là con vẫn nhớ. Ngay cả khi lớn lên, có vài lần khi còn học trung học con bỏ lớp đi chơi với bạn mà không cho cha biết, trường gọi về báo tin. Cha giận lắm, nhưng khi con về cha không nói một lời nào cả. Hôm sau nữa cha gọi con lại bên bàn:

– Con có biết là Bố giận con nhiều lắm không”

Con lấm lét:

– Dạ biết.

– Con biết thì con phải làm gì”

– Dạ con xin lỗi Bố, con hứa là từ rày về sau con sẽ không làm điều gì cho Bố buồn nữa.

Cha đã ôm con vào lòng, dù lúc ấy con có thể đã cao hơn cha rồi. Cha nói:

– Lầm lỗi là chuyện bình thường, ai cũng có thể lầm lỗi, nhưng quan trọng là mình có thật lòng hối lỗi và thay đổi hay không. Nhớ nghe con.

Nhưng rồi một lần nữa con lại lỗi lầm. Lỗi lầm này nguy hại hơn nhiều và có thể làm cho con ân hận cả cuộc đời mình. Cha không tiếc hối gì cả vì đã dạy con đủ những điều cần thiết, nhưng cha cầu xin Trời ban cho con một cơ hội quay về. Con có thể mất nhiều thứ, nhưng con vẫn còn một điều, đó là tình yêu cha vẫn còn đây. Biển không bao giờ cạn cả.

Cha chợt nhớ sáng nay quên chưa cho con Lucky ăn. Khi con đi nó đã buồn nhớ con nhiều ngày, bỏ ăn uống. bây giờ cha chỉ còn nó là bạn. Cha mở cửa ra sân sau, và không thấy Lucky đâu cả, cha đưa mắt tìm kiếm nó, và …

Cái gì đó” Có phải là cha đã hoa mắt không” Hay vì sự nhớ thương đè nặng lâu ngày làm cho cha hóa ra nhầm lẫn, con Lucky đang đứng bên cạnh một người, người ấy quay lưng lại, chống cái cào cỏ dưới chân. Không, cha không thể nào nhầm lẫn, cho dù mười năm sau hai mươi năm sau, con vẫn là con của cha. Chính là con, cái dáng cao cao gầy gầy ấy … Nhưng cha cố trấn tĩnh, cha đã bị nhầm lẫn nhiều lần, cha không muốn mình phải bị thất vọng lần nữa, cha đứng chôn chân một chỗ, mở to mắt nhìn về hướng ấy.

Con, con đã quay lại. Con, chính là con.

Cha muốn hét lên, nhưng cổ cha nghẹn lại, cha cố nhấc bước lên, nhưng cất bước chẳng nổi.

Cha nhìn thấy con quỵ xuống cỏ, tay chắp lại hướng về phía trước, như một cái lạy.

Con Lucky lại sủa …

3.

Người cha đã di chuyển được đôi chân run rẩy, ông chạy tới, hai tay ông đưa ra phía trước.

Người con cũng vừa ngẩng đầu lên, tay vẫn còn ôm ngực.

Như trong các đoạn phim quay chậm, rất chậm, gió làm tóc bay lên, áo bay lên. Không, tóc không bay, áo cũng không bay, chỉ có những bước chân bay lên, những linh hồn bay lên …

Một bước nữa, một bước nữa, gần hơn gần hơn.

Người con đã đứng dậy được, tay giang ra.

Nếu, bạn ơi, bạn có sẵn trong tay chiếc máy chụp hình, xin chụp lại cho tôi khoảnh khắc ấy. Tôi cho rằng đây là một khoảnh khắc tuyệt đẹp – một khoảnh khắc tuyệt đẹp khó tìm thấy trong đời.

TRẦN NGUYÊN ĐÁN

MẮT BIẾC

nguyenphuoctieudi

Không còn chiếc lá nâu
Rơi xuống lòng phố lạ
Cỏ hồn nhiên xanh màu
Rêu thơm bờ tường cũ
Những cánh chuồn về đâu
Lang thang chiều ngái ngủ?

(Em có còn tóc xõa
Như tơ trời mong manh…)

Không còn một vầng trăng
Soi xuống hồ lạnh biếc
Đôi mắt đêm dịu dàng
Khẽ như lời tiễn biệt
Ngàn năm và ngàn năm
Chớm một niềm luyến tiếc!

(Em có còn mắt biếc
Thuở học trò long lanh…)

Không còn tiếng chim khuyên
Rộn ràng vườn cổ tích
Những vọng âm đã chìm
Những ngày xưa biệt dạng

(Em có còn áo trắng
Của một thời xuân xanh…)

Nguyễn Phước Tiểu Di
( Những bài thơ từ tuần báo TUỔI NGỌC)

CHÙM GIÀ QUÁ ĐÁT

dungkqd

1.
Đêm dấu nỗi buồn vào trong tóc
Sáng ra nở một vạt hoa râm
2.
Tiếng kim đồng hồ chém
Đứt lìa từng đoạn đêm
3.
Năm cũ đâu rồi nhỉ
Hỏi ai cũng im lìm
Thì ra nó lên mắt
Khắc vài dấu chân chim
4.
Bạn bè bốn năm sáu chục
Vẫn hồn nhiên như trẻ ranh
Vẫn tin thằng Bờm, ông Bụt…
Sống lâu chẳng chịu trưởng thành
5.
Loay hoay tìm bốn phía
Năm cũ trốn đâu rồi?
Giao thừa mà giao thiếu
Một chút gì xa xôi…
6.
Mưa dột vào nỗi buồn
Tràn ra hai khoé mắt
Chảy qua những nếp nhăn
Nước theo dòng trong vắt
7.
Tóc đã đủ thời gian để bạc
Mùa bội thu gặt về toàn tuổi tác…

DŨNG KQD

TRĂNG HÒA VANG VẪN THẾ

phantranghy

Gần đến Trung thu, thằng Quân háo hức chi lạ. Nghe cô nói năm ni các học sinh lớp 6 phải làm lồng đèn để chơi. Cô khuyên, đã lên học trung học rồi, nên làm chớ không nên mua. Có thế mới thấy ý nghĩa của cái Tết Trung thu. Chớ mua dù có đẹp nhưng cũng chẳng có kỷ niệm gì sau này. Nghe cô nói vậy, thằng Quân chỉ biết thế, chứ nó chưa thấy ý nghĩa, kỷ niệm gì cả. Nhưng nó nghe lời cô. Nó phải nhờ ba nó hướng dẫn nó làm mới được.
Mấy năm trước, ba mẹ thương nó nên thường mua lồng đèn bán sẵn. Có khi là lồng đèn xe hơi, con cá, hay thứ gì khác, đều là lồng đèn bằng nhựa có pin… Có thể, một thời hợp mốt đối với trẻ con. Nhưng rồi, vài năm trở lại đây, mốt lồng đèn được sản xuất tại Trung Quốc không còn hợp thời. Xu hướng chọn đồ chơi cho trẻ có khác trước.
Và qua lời cô, nó biết lồng đèn thắp bằng pin không phải là lồng đèn truyền thống. Và nó cũng từng nghe cô giáo nói có một số lồng đèn do Trung Quốc làm có chứa độc, nên nó sợ. Nhưng gần đến Trung thu rồi, lấy chi chơi đây, nên nó lại hỏi và nhờ ba:
– Ba ơi! Con không thích lồng đèn nhựa của Trung Quốc. Ba đừng mua nghe. Con thích chơi lồng đèn tự làm. Ba bày con làm nghe.
Nghe Quân yêu cầu, ba nó chép miệng:
– Tiếc thật! Ba muốn cùng con làm. Nhưng ba bận quá. Con nhờ nội đi. Nội con bày là nhất đó.
Quân năn nỉ ba, nhưng ba vẫn nói bận. Không còn cách nào khác, Quân nói lí nhí:
– Dạ. Con sẽ nhờ nội bày.
Mấy bữa nay, thằng Quân chưa dám nhờ nội. Nó đợi chiều, đi học về, nó sẽ nói với nội mới được. Trung thu gần đến rồi mà. Không nhờ nội thì làm sao có lồng đèn chơi.
Vừa vào nhà, thằng Quân thấy nội đang tưới nước mấy chậu mai, nó bèn chạy lại bên nội, nói:
– Nội ơi! Gần Trung thu rồi, nội bày con làm lồng đèn nghe!
Vừa tưới nước, lão cười nói:
– Cái thằng, bữa ni bắt nội bày làm lồng đèn, lạ ghê, Mà sao con biết nội làm được?
Nghe thằng Quân kể lại là ba nó nói thế, lão Thạc thấy vui vui. Lão cười:
– Cái thằng cha mi! Được, nếu con thích thì ông cháu ta cùng làm.
Thế là, hôm sau, lão Thạc tìm tre. May mà quê lão vẫn còn tre. Dù quê có thay đổi, làng như phố, nhưng tập tục, ruộng vườn vẫn còn. Những lùm tre bên sông vẫn còn. Chiều chiều có những con chim về đậu. Chiều chiều vẫn khói đồng sau mùa gặt. Vẫn những tiếng cười, tiếng nói mộc mạc đậm chén mắm cái chấm với rau lang, rau muống luộc. Lão gật gật cái đầu, mỉm cười một mình. Mắt lão nhìn con đường bê tông trước mặt. Quê lão có cuộc sống hiện đại hơn. Rồi điện về. Nhà lão có ti vi màn hình phẳng. Thằng con lão lại bắt cả kỹ thuật số. Nhiều kênh chi lạ. Không những phòng khách có cái ti vi to đùng, mà phòng ngủ của thằng con lão cũng có. Bọn trẻ bây giờ sướng thật. Quê mà có tủ lạnh, quê mà có máy giặt, xe hơi…
Vừa đi vừa ngẫm nghĩ, lão thấy sướng cả bụng. Chợt lão nghe tiếng gọi:
– Nè, ông Thạc ơi, đi đâu đó? Có rảnh ghé tôi uống chén nước chơi. Có
chút chè của thằng cháu mới mua.
Thì ra lão Đôn. Là bạn từ thời còn học trường làng đến giờ. Hơn 50 năm là bạn của nhau. Có chút vui, chút buồn họ đều chia sẻ cùng nhau. Thấy lão Đôn ra tận cổng đón, lão Thạc nắm tay bạn, nói:
– Được thôi. Nhưng không ngồi lâu đâu nghe. Tôi phải đi tìm tre làm lồng đèn cho thằng cháu nội.
– À, ra rứa. Tưởng chi, chứ tre nhà tôi có. Mình uống nước, nói chuyện chơi chút đã, rồi tôi đưa tre cho.
– Rứa là may cho tôi rồi.
Hai lão ngồi uống nước, nói chuyện. Chén nước chè làm tuổi già vui thêm. Tình quê đậm đà qua chén nước.
Và cái tình quê của hai lão lại rôm rả, xôm trò qua trò chuyện. Dù cảnh quê có thay đổi, nhưng tình làng xóm vẫn như ngày nào. Nhiều khi mưa gió, đúc được cái bánh xèo họ cũng đem cho. Có con cá tràu bắt được, làm mỳ, cũng mời nhau. Nhà có giỗ, cũng đem phần kỉnh hàng xóm. Nếp quê vẫn như cái thời hai lão còn con nít.
Hai lão nói không biết bao nhiêu chuyện. Nào là chuyện chuẩn bị tế Thu; nào là chuyện chuyển cơ cấu cây trồng sao cho hợp với hoàn cảnh khi Hòa Vang có chính sách hỗ trợ nông dân. Toàn chuyện vui. Mà không vui sao được, khi tuổi già thấy con cháu yên ấm, thấy làng xóm thương yêu nhau. Tình làng nghĩa xóm như hàng tre cứ xanh trên bờ sông Túy Loan, như hương lúa ngày mùa, như làng vào hội đình nhân lễ Kỳ yên, cầu quốc thái dân an… Hai lão cũng bàn chuyện năm đến làng tổ chức lễ hội. Hai lão đều ước năm đến lễ hội đình làng Túy Loan cũng được nhiều người tham dự như làng Phong Lệ ở Hòa Châu tổ chức lễ hội Mục đồng vừa rồi.
Rồi, chuyện cũng vãn. Lão Đôn tìm mấy khúc tre đưa cho lão Thạc. Cầm tre từ tay bạn, lão Thạc cười nói:
– Cảm ơn ông nghe!
Tiễn lão Thạc ra tận cổng, lão Đôn vỗ vai bạn:
– Thôi, ông về.
Những ngày sau đó, khi hai ông cháu rảnh, lão hướng dẫn thằng Quân làm lồng đèn. Thực ra, lão làm đủ thứ, nào là chuốt tre, chặt theo kích cở. Thằng Quân chỉ ngồi bên hỏi đi hỏi lại cánh làm. Nó cũng cột được vài chỗ. Đặc biệt, khi dán giấy màu trên lồng đèn, thằng Quân nói với lão:
– Ông bày con vẽ bản đồ Việt Nam có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nghe ông.
– Được thôi. Ông sẽ bày.
Rồi lão hướng dẫn thằng Quân vẽ đường cong hình chữ S. Tiếp đến lão chỉ cách tạo thành 2 quần đảo với những chấm nhỏ xinh xinh. Nhìn cũng được. Rõ ràng trước mắt hai ông cháu là hình ảnh nước Việt Nam thân yêu với hai quần đảo như châu ngọc trên biển Đông. Nhìn cây cọ chấm màu trên tay thằng Quân, lão như thấy đó là bàn tay của lão khi còn bé, học ở trường làng. Ngày xưa, ngày xưa, đối với lão như mới đây. Lão cũng làm lồng đèn, nhưng giấy dán chỉ là giấy vở, đâu đẹp như bây giờ. Còn màu thì lấy nào than, nào gạch, nào nghệ, lá cây… giã ra, cho tí nước vào. Thế là cũng thành hoa, thành chim, gà, cá… được vẽ cho lồng đèn thêm đẹp.
Đến Trung thu, thằng Quân đem lồng đèn cùng mấy đứa trẻ dạo chơi quanh xóm. Trống múa lân rộn ràng. Lão Thạc cũng rộn ràng theo nhịp trống. Lòng lão rộn lên lời hát: “Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già ôm một mối mơ…”.
Quê lão còn biết bao chuyện còn phải làm. Lão mơ như thằng Cuội già năm nào. Giấc mơ của lão không là tiếng hát xẩm của con dế mèn. Mà giấc mơ của lão là thấy quê thay đổi. Càng già, lão càng hiểu sự thay đổi nào cũng phải trải qua những trở trăn, lột xác. Có trở trăn, lột xác nào được êm ả?
Tiếng trống vẫn rộn ràng. Trăng trên trời ngời sáng. Trước mắt lão là xóm làng lão, là ngôi nhà lão, là con cháu lão. Và trên tay thằng Quân là ánh đèn ngôi sao lung linh. Trên tay bọn trẻ là những ánh sáng nhảy múa theo nhịp trống múa lân. Lão thấy hình bóng của lão, hình bóng của lão Đôn, của bạn bè trong làng ngày xưa hiện về. Tất cả đang rước đèn mừng Trung thu.
Lão thấy bản đồ Việt Nam có cả Hoàng Sa, Trường Sa trên lồng đèn. Quê lão mừng Trung thu trong ánh đèn con trẻ. Hòa Vang quê lão rộn ràng trong tiếng trống múa lân.
Đêm khuya. Trăng sáng dịu hơn. Cả làng yên bình dưới trăng ngà như mọi khi. Trăng Hòa Vang đêm nay vẫn thế!

Phan Trang Hy

MỘT MAI

nguyenlienchau

Một mai nếu núi không còn
Gió thôi hết hú vọng mòn ruột gan
Sương thôi cách điệu hợp tan
Thôi mau mắn, thôi muộn màng… tình yêu
Một mai ngày chẳng còn chiều
Người thôi thả khói quạnh hiu xám trời
Nhạc thôi ru ám ghế ngồi
Tiếc nuối hết, nhớ nhung rời… sân rêu
Một mai thân xác nhẹ hều
Ai đi qua phố lêu bêu nói cười
Đám đông nhưng chẳng còn người
Nghe vo ve một tiếng ruồi quẩn quanh
Một mai hết thảy mong manh
Cõi nhân gian cũng trở thành hư vô

NGUYỄN LIÊN CHÂU