Nguyễn Bắc Sơn

6988227b5d54581d76c53257d77171b8

Hồi cuốn “Chúng ta qua cách viết” xuất bản được ít lâu, Doãn Quốc Sỹ đi tu nghiệp ở Mỹ về, đọc sách ấy, gặp một đoạn thơ của Nguyễn Bắc Sơn, lấy làm thích ý. Một hôm gặp nhau ở toà soạn Bách Khoa, ông bảo tôi đại khái: “Mới ra khỏi nước vài năm, trở về đã thấy xuất hiện những tài năng mới rất độc đáo. Muốn tìm đọc thêm Nguyễn Bắc Sơn, tìm đâu?”. Tôi lúng túng. Thú thật, bấy giờ tôi chỉ ngẫu nhiên gặp được mấy bài thơ Nguyễn Bắc Sơn trên tạp chí Khởi Hành. Chính mình cũng muốn đọc thêm, và cũng không biết tìm đâu. Có nghe nói “Chiến tranh Việt Nam và tôi” đã xuất bản, nhưng ở các hiệu sách quen không thấy bày.

Tôi đồng ý với ông Doãn. Gì chứ độc đáo thì Nguyễn Bắc Sơn quả độc đáo. Trong lúc chống cộng được nêu làm quốc sách, chống cộng là cái lẽ tồn tại của nước Cộng hòa Việt Nam, trong lúc xung quanh ông thiên hạ trịnh trọng nói về chính nghĩa về lý tưởng, người chết chật đất vì chống cộng, kẻ sống thân tàn ma dại vì chống cộng, thế giới náo động cả lên vì chống cộng, trong lúc ấy ông là lính đang làm nhiệm vụ chống cộng bằng cây súng, ông lại oang oang:

“Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau.”

Thái độ một quân nhân thời chiến như ông, nó khác thường không những vào thời điểm cuối 60 đầu 70, mà vào bất cứ thời nào. Có thể bảo chiến tranh là cái cũ rích, đã có tự ngàn xưa; chán ghét chiến tranh là thái độ cũng cũ cũng xưa không kém. Ở Nguyễn Bắc Sơn chỉ có cái ngông nghênh ngang tàng là mới. – Một chút ngang tàng thôi cũng có sức thu hút người đời dữ vậy sao?
“Một chút ngang tàng thôi”, nói thế là một cố tình đánh trụt giá, gần như mạ lỵ đối với nhà thi sĩ của chúng ta đấy nhé. Thử kiểm điểm xem, trong thi ca khắp nơi bạn bắt gặp được bao nhiêu trường hợp sáng tác như thế của một người đang sống trong vòng quân kỷ? bạn sưu tầm được mấy tác phẩm văn chương rẻ rúng quốc sách một cách khơi khơi giữa thời chiến như thế?

Ấy là về chuyện nghênh ngang. Còn liên quan đến sức thu hút, sau này tôi có nghe Hà Thúc Sinh thuật lại một giai thoại. Năm 1971 nhà xuất bản Ðồng Dao mang thi phẩm Chiến tranh Việt Nam và tôi của Nguyễn Bắc Sơn nộp dự tranh giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc. Thi phẩm không được chọn. Ông Chu Tử nổi dóa, nặng lời với tiểu ban Thơ của Hội đồng Tuyển trạch giải Văn học Nghệ thuật, và doạ sẽ tặng cho Nguyễn Bắc Sơn một giải thưởng của Ao Thả Vịt, còn to hơn giải của tổng thống!

Chu Tử, ai cũng biết ông không hề ấm ớ về thái độ đối với cộng sản, không hề xem cuộc chiến tranh này là một trò chơi. Ấy vậy mà ông vẫn bênh vực tập thơ của Nguyễn Bắc Sơn.
Thu hút là phải chứ. Dễ gì gặp được những câu giản dị mà thấm thía như những câu của người lính Nguyễn Bắc Sơn viết trong các cuộc hành quân:

“Ðêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu…
(…) Linh hồn ta sẽ thành đom đóm
Vơ vẩn trong rừng động Thái An
Miền bắc sương mù giăng bốn quận
Che mưa giùm những nắm xương tàn.”

(‘Mật Khu Lê Hồng Phong’)

hay:

“Buổi chiều uống nước giồng Ma Hý
Thằng Xuân bắn chết thằng Mang Khinh
Hỡi ơi sống chết là mưa nắng
Gió tối mưa đêm chớ lạnh mình.

(‘Thảo Khấu’)

Không phải chỉ ngông nga ngông nghênh chật đường mà đủ làm thiên hạ mê say. Trong cái nghênh ngang phải có gì đẹp đẽ, sau vẻ nghênh ngang phải thấp thoáng một tâm hồn phong phú, những xúc cảm tinh tế, chân thành, những lời lẽ đầy duyên dáng v.v… Có thế may ra mới…

Nguyễn Bắc Sơn không phải lúc nào cũng được như vậy. Thỉnh thoảng ông có những bài tạp luận, viết bằng tản văn.
Ôi, văn với chương! Ông viết: “Trong đời tôi, tôi đã đọc thật nhiều sách. Nếu chất tất cả những quyển sách ấy lại, chúng sẽ biến thành một ngọn núi đủ nặng để đè chết người đọc. Vì đọc nhiều sách văn chương, tư tưởng Tây phương nên tôi chỉ nói riêng về hai loại ấy. Tôi hối hận đã đọc triết Tây. Hồi xưa tôi đã cặm cụi đọc các bản dịch, cũng như cách đây hai năm tôi đã cặm cụi đọc nguyên tác các tác phẩm của các triết gia cổ điển và thời danh.” (“Đi một vòng thành phố, nhìn lại nền văn minh thị trấn”, Khởi Hành, số 78, ra ngày 5-11-70) v.v…
Những khi ông đọc hàng núi sách, ông nhìn lại cả một nền văn minh, ông đọc văn ông đọc triết, đọc tiếng nước nọ nước kia, đọc sách xưa sách nay, sách Đông sách Tây v.v…, ông huênh hoang lố bịch không ai mê nổi, không gì cứu vãn nổi.

Cho hay tự nó cái ngông nghênh không hấp dẫn. Chính cách thế biểu hiện cái nghênh ngang ấy mới có thể hấp dẫn. Ở Nguyễn Bắc Sơn cái cách thế riêng của ông được biểu hiện đẹp nhất trong các bài thơ. Thì đấy. Cũng là đại ngôn cả, nhưng khi ông Nguyễn Đại Lãn nằm chờ sung rụng thì trông ngộ nghĩnh, hay ra phết, mà khi ông ì ạch trình cái núi sách của mình ra thì có đẹp đâu. Mặc dù tự nó cái việc chờ sung rụng không có gì hay hơn phải hơn việc đọc sách.
Thành thử, người đọc thơ bày tỏ sự mến mộ ra đây là đối với cái phong cách, chứ không phải đối với quan điểm, tư tưởng người thơ.

Vừa rồi, một hôm ngồi ở Bolsa lật tờ nhật báo, bỗng dưng gặp một bài thơ lý thú. Sách này viết về thời kỳ 1954-75, ở phần thơ trích tuyển không thể đưa bài này vào, vậy xin chép lại ngay đây, chúng ta cùng xem để tiện tiếp tục câu chuyện:

MỘT NGÀY NHÀN RỖI

“Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc
Vô tình ngang một quán cà-phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về.

Về đâu, đâu cũng là đâu đó
Ðâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba nghìn thế giới cũng chưa to.

Tháng giêng ngồi quán quán thu phong
Gió Nhạn Môn quan thổi chạnh lòng
Chuyện cũ nghe đau hồn tứ xứ
Thương Kiều Phong, nhớ tiếc Kiều Phong.

Bày ra một ván cờ thiên cổ
Thua trận nhà ngươi cứ trả tiền
Mẹ nó, tiền ta đi hớt tóc
Gặp ngày xúi quẩy thua như điên.

Tóc ơi ngươi cứ tha hồ mọc
Xanh tốt như mùa xuân thảo nguyên
Từ Hải nhờ râu nên mới quạo
Thua cờ tớ bỗng đẹp trai thêm.

Lạng quạng ra bờ sông ngó nước
Trên trời dưới đất gặp ông câu
Ta câu con đú, ngươi câu đẻn
Chung một tâm hồn tất gặp nhau.

Khi gã Yêu Ly đâm Khánh Kỵ
Là đâm chảy máu trái tim mình
Sông Mường Mán không dung hào kiệt
Muôn đời bóng núi đứng chênh vênh.

Tháng giêng có kẻ đi tìm cúc
Nhưng cõi đời không có Cúc Hoa
Thấy đám phù bình trên mặt nước
Biết mình đi lộn nẻo bao la.

Những khuôn mặt những người xuân nữ
Phiêu bồng vĩnh cửu lẫn phù du
Yêu rất khó vô tình cũng khó
Khách đa tình sợ nhất mùa thu.

Ghé thăm ông bạn trồng cây thuốc
Mời nhau một chén rượu trường sinh
Bát cơm tân khổ mười năm ấy
Câu chuyện năm năm khiến giật mình.

Nằm dưới gốc cây nghìn cánh bạc
Dường như mặt đất tiết mùi hương
Ngủ thẳng một lèo nay mới dậy
Dường như mình cũng mộng hoàng lương.

Dường như đứa trẻ nghìn năm trước
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua.”

Tôi thầm nghĩ: “Ơ kìa, mình ra khỏi nước vài chục năm, hóa ra trong nước xuất hiện những tài năng mới lúc nào không hay, như ông này: độc đáo quá.” Xem lại cái tên tác giả ký dưới bài thơ. Hóa ra không ai khác hơn là ông Nguyễn Bắc Sơn của chúng ta.

Thảo nào! cũng cái ngông nghênh ấy. Và cũng chỉ “một chút” ấy thôi, đủ độc đáo chán. Ngày trước, trong chiến tranh ông kể chuyện chơi trò nổ súng cắc cù rất độc đáo; ngày nay hòa bình, thiên hạ quanh ông từ lãnh đạo các cấp đến vô sản bần cố cốt cán đều hớt hơ hớt hải lăn xả vào cuộc giành giật đồng tiền, hăng say như điên, thì ông nói chuyện tán dóc, chuyện hớt tóc cạo râu, chuyện lai rai, ngủ nghê, cứ tỉnh bơ: lại rất độc đáo.

Thành thử giữa ông Nguyễn Bắc Sơn trong chiến tranh và ông Nguyễn Bắc Sơn sau chiến tranh vẫn có một chỗ nhất trí. Tuy hai mà một. Do hoàn cảnh khác nhau nên đề tài câu chuyện khác nhau; nhưng phong thái vẫn một thôi. Phong thái ấy khiến cho thời chiến ông thành kẻ phản chiến, thời bình ông thành kẻ phản lao động. Thực ra thơ ông phát biểu về một thái độ sống, không phải chỉ là một thái độ đánh nhau hay một thái độ làm lụng. Sống là nhẹ, không phải chỉ riêng đánh nhau là giỡn, là nhẹ. Ðời là nhẹ, không phải chỉ có giặc là nhẹ. Ðời không có nghĩa phải quấy, không phải chỉ chiến tranh không phải quấy. Một khi đời đã không có nghĩa, thì mọi hoạt động ở đời (kể cả chiến tranh) đều vô nghĩa. Hoặc giả nó có được trao cho ý nghĩa gì thì ông cũng không lý đến. “Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ”; bắn nhau cắc cụp lỡ có trúng đạn ngã ngửa chết tươi cũng là chuyện nhỏ thôi.

Bạn kêu: “Thái độ như thế là sai, là láo. Ít nhất là lếu láo. Ai cũng nghĩ thế thì đánh đá thế nào được. Thua là phải, mất Miền Nam là phải. Ai cũng nhác nhớn thế thì kinh tế lụn bại là phải v.v… Ối Trời, thơ với thẩn!”

Bạn tha hồ quát tháo, tôi không dám xen vào bênh vực Nguyễn Bắc Sơn câu nào. Sai hay đúng, chuyện của ông ta, ông ta rán chịu. Duy tôi xin bạn bớt đi ba chữ cuối cùng: “Thơ với thẩn.”
Thơ ấy quả hay. Doãn Quốc Sỹ với Chu Tử đều là những người chống độc tài cộng sản quyết liệt. Các ông đều bảo thơ ấy hay. Và đó là chỗ làm cho Miền Nam bấy giờ đáng sống.
Không ai có thể bảo Miền Bắc không phải địa linh nên không sản sinh nổi một nhân kiệt cỡ Nguyễn Bắc Sơn, không thể bảo ở đất Bắc không có cái hào khí sánh kịp Nguyễn Bắc Sơn. Đâu phải vậy. Chẳng qua thời bấy giờ ở Miền Bắc chế độ không dung túng một Nguyễn Bắc Sơn.

Miền Nam các quan niệm nhân sinh và chính trị khác nhau vẫn chịu đựng được nhau. Trong văn giới, có những bạn bè cảm nghĩ khác hẳn ta, viết thì nhất định không thể viết giống ta, nhưng ta viết hay họ vẫn công nhiên tán thưởng. Và ngay cả chế độ, ngay cả cơ quan kiểm duyệt mà chúng ta từng nặng lời mắng mỏ, bây giờ thỉnh thoảng quay lại vẫn bắt gặp được những trường hợp nó tỏ ra… biết điều.

Tình đời như thế, chế độ như thế, khiến cho ngay cả trong thời chiến tranh thơ văn Miền Nam vẫn cứ đa dạng, con người Miền Nam vẫn phát huy được cá tính mình. Cuộc sống như thế đâu tới nỗi tệ mà ông Nguyễn vội kêu “Lũ chúng ta sống một đời vô vị”? Nếu phải sống giữa một xã hội bị lãnh đạo chặt chẽ, ngày ngày đọc hàng núi sách của một nền văn học nhất loạt quàng khăn đỏ, cái vô vị ấy đến phải giậm chân mà khóc thét lên thôi.
(1 – 1994)

Võ Phiến
(Văn học Miền Nam, Thơ, trang 2927, nxb Văn Nghệ, 1999)

NGHE TIN Ô. VÕ PHIẾN QUA ĐỜI…

nguyenbatrac

NGHE TIN Ô. VÕ PHIẾN QUA ĐỜI, ĐỌC LẠI MỘT ĐOẢN VĂN TÔI VIẾT NĂM 1986
San Jose, 12 tháng 6 năm 1986.
Chị Quỳnh thân mến.
Em họ tôi ở Hà Nội cũng tên là Quỳnh vừa viết cho tôi một lá thư. Hắn cho biết đã nhận được số tiền sách của tôi bên ấy do chị chuyển sang và đã chia cho những người trong gia đình. Số tiền đến vừa kịp buổi giỗ ông nội tôi tại căn nhà đường Hàng Bông Thợ Nhuộm.
Gia đình tôi rời Hà Nội vào Ðà Nẵng năm 1954. Lúc ấy chú em họ tôi mới lên 9, lên 10. Ba mươi năm qua trong bức ảnh đen trắng gửi kèm, hắn đã thành một ông quá tuổi trung niên (chững chạc ngồi với vợ), sau lưng vẫn còn cái tủ chè ông nội tôi để lại, thêm hai đứa con trai con gái đầu đội mũ bê rê, cổ quàng khăn (chắc là khăn đỏ). Ông cụ tôi cầm cái bì thư và tấm ảnh mân mê mãi (coi bộ cảm động). Tôi cũng thấy vui sướng lắm.
Phần tôi, lại thất nghiệp gần hai tháng rồi.
Tiền trợ cấp vừa đủ trả tiền thuê cái chỗ ở. Ăn uống, điện nước, xăng nhớt, mọi thứ khác có lẽ là do lòng hảo tâm của các bạn hữu, tài vay mượn của tôi, sự nhẹ dạ và rộng rãi của người khác. Tuy nhiên tôi vẫn chưa tích cực trong công cuộc tìm kiếm việc làm. Ngoài ra vừa đi Texas về. Vé máy bay, các thứ cũng do lòng hảo tâm của một chú em bên ngoại.
Hôm ở Houston, Texas, tôi có mượn xe chú em lái qua tiểu bang Louisiana thăm New Orleans, nơi xuất phát nhạc Jazz. Ở đây, thăm một xóm cũ kỹ dành cho dân du lịch: khu French Quarter, nó làm tôi nghĩ đến nước Pháp và Paris nơi chị ở. Tôi lang thang khu này cả đêm: tai nghe nhạc Jazz, mắt nhìn người chen chúc qua lại đường Bourbon, những quán rượu, tiệm ăn kiểu Cajun, tiệm cởi truồng, tiệm bán đồ kỷ niệm treo đầy mặt nạ Mardi Gras, con phố với nhà cửa thò ra thụt vào như Sài Gòn. Gần sáng tôi chui vào một phòng ngủ rẻ tiền nằm với dán mối bò lổm nhổm trên giường. Thưa chị, tôi có vẻ một nghệ sĩ vào thời lãng mạn ở bên Tây!
Louisiana là một tiểu bang nhiều đầm lầy, sông rạch chằng chịt, nơi con sông Mississippi đổ ra biển. Tôm cua cá rất nhiều. Phong cảnh làm tôi nghĩ đến Long Xuyên hay vùng Ðồng Tháp ở Việt Nam. Tôi còn lái xe ra khỏi New Orleans chừng 30 dặm để thăm một khu gọi là làng Versailles. Ðây là nơi sinh sống của chừng 8000 người Việt Nam công giáo, phần lớn là dân Bắc kỳ. Họ quây quần chung quanh cái nhà thờ làm bằng tôn. Một nhà thờ bằng gạch, lớn hơn, đẹp hơn, đang xây. Họ sống như những người Amish ở Philadelphia: khắng khít với văn hóa cổ truyền, phớt tỉnh xã hội tối tân bay vượt chung quanh. Ở đây từ 5 đến 8 giờ sáng người ta họp chợ lộ thiên, trao đổi với nhau ít bầu bí rau muống trồng ngay mé sông (với đám bèo và những cái cầu ao), mua bán tôm cá tươi rói do người ta chài lưới lấy. Mọi sinh hoạt bất chấp cuộc đời siêu tốc ở Mỹ (siêu thị, siêu âm, siêu thanh, máy điện toán, nhà chọc trời bằng kính và thép). Nơi đây các bà nhai trầu bỏm bẻm, đi guốc gỗ cọc cạch. Các cụ chít khăn mỏ quạ đứng chống nạnh chửi mát nhau, thưa chị, nghe sướng cả tai. Tôi bắt gặp hình ảnh ngộ nghĩnh: một bà sơ đội nón lá từ nhà thờ lững thững ra bờ sông, tay cầm tòn ten cái đuôi một con chuột chết. Ở Mỹ ít thấy ai có vẻ lững thững nhàn hạ như thế.
Khi tôi đến, chợ đã tan nhưng vẫn còn lác đác vài cô gái chanh chua mặc quần đen áo cánh ngồi bóc tôm. Dăm bà cụ răng đen co chân lên mấy cái sạp gỗ thu dọn những bó rau đay, rau muống. Tôi khoái quá xông vào chụp hình lia lịa, suýt nữa bị đập máy ảnh vì đồng bào nghi tôi là…ký giả. Tuy nhiên nhờ…duyên dáng (cười nói nồng nhiệt) và… đáng yêu (tuột xăng đan đi đất giữa chợ), đồng bào xúm lại chuyện trò hỏi han về xứ Ca li, cuối cùng còn đãi tôi một chầu tôm luộc. Cứ thế, ngồi xổm giữa chợ bóc tôm chấm muối tiêu trước khi lên đường về lại Texas.
Hiện giờ tôi đang ngồi viết thư cho chị trong tiệm Ð.P., một quán ăn Việt Nam kiểu Bắc kỳ ở San Jose. Chủ tiệm, xuất thân dược sĩ du học bên Tây, nhưng nghiệm ra dù ở Tây hay Mỹ, thuốc men chẳng quan trọng bằng cái dạ dày. Cơm nước no bụng, ấy là mạnh khoẻ. Học xong ở Paris, thay vì mở tiệm thuốc, anh ta mở ngay một tiệm ăn ở khu La tinh, không chừng trước kia chị biết. Bây giờ gia đình Việt Nam sang đoàn tụ bên Mỹ, chuyển tiệm ăn sang Mỹ tiếp tục sản xuất bánh cuốn chả quế, phở tái béo, ruốc chà bông, ô mai Quốc Hương. Ngày ngày anh dược sĩ đi ra đi vào bưng phở, tán gẫu với khách hàng về các vấn đề, trừ vấn đề y dược. Còn bà vợ loay hoay trong bếp với dao thớt, rau mùi, rau răm, rau quế, đến Tết còn gói cả bánh chưng bánh dầy, làm mứt sen trần trong suốt.
Vào giờ trưa như thế này, quán Ð. P. là nơi tụ họp của các nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam lưu vong (nhà đèn, nhà điện, nhà ga, nhà rửa chén bát, nhà thất nghiệp như tôi). Gọi tụ họp với nhau, nghĩa là cùng ngồi dưới một mái…tiệm phở. Nhưng họ vẫn chia nhiều bàn rõ rệt: ai thuộc phe nào đi thẳng đến bàn phe ấy. Không nhìn ai. Cùng ngồi trong quán nhưng giả vờ không biết nhau, không hiểu nhau. Không phe nào ngoài phe ta hiện diện trên cõi đời. Ðây không phải là vấn đề chia rẽ. Ðây chỉ là vấn đề phong phú chính kiến, quan niệm thẩm mỹ, phong phú về giá trị văn chương nghệ thuật.
Thưa chị, San Jose quả là một tỉnh lẻ so với vùng Los Angeles hay vùng Orange County, nhưng tại đây với số dân tròm trèm từ 30 đến 50 ngàn người Việt biết chữ và không biết chữ (biết nhiều hay biết ít), chúng tôi cũng có trên 20 tờ báo thuộc đủ các khuynh hướng: tranh đấu hay mơ mộng. Tranh đấu thế nào? Mơ mộng ra sao? Hội nhập hay không hội nhập? Sự phong phú chính kiến, nghệ thuật, tất nhiên cũng phát sinh ra cãi vã trên mặt báo một cách tục tĩu hay không tục tĩu, đôi khi xỏ xiên bóng gió như chị vợ ghen, đôi khi đánh bốc bằng tay thay vì bằng bút, nhưng rút cục tỉnh nhỏ, đi đâu chẳng gặp lại? Vả chăng lập trường chống Cộng và lập trường dân tộc của phe nào chẳng vững chắc? Người ta khôn khéo đi đến giải pháp: cùng đến ăn phở tiệm Ð.P., nhưng cứ thế…cứ thế…cứ xem nhau như không có mặt trên cõi đời. Và cứ thế…cứ thế…nơi đây các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà đèn, nhà ga, các nhà cách mạng cùng ăn phở tái béo (như nhau), cùng uống cà phê phin sữa đá (như nhau), anh nào có việc làm, có tiền mặt thì hùng dũng rút ví trả tiền mặt. Anh nào thất nghiệp, gãi đầu gãi tai hoặc nhấm nhẳng yêu cầu ghi sổ trả sau.
Ðể hưởng cái thú an nhàn cua một người Ðông Phương thất nghiệp, tôi đang nghiên cứu kỹ thuật trồng cây Bonsai Nhật Bổn. Tôi có làm một số hòn non bộ với các hang hốc nho nhỏ, gắn những ông câu cá, ông tiều phu đốn củi ngồi nghỉ mệt dưới gốc cây thông. Thực tế, tháo vát và có óc thương mại, sáng nay tôi đã mang ra tiệm này hai chậu non bộ nhờ ông chủ chưng trên quầy hàng: chậu nhỏ đề giá sáu chục, chậu lớn tám chục. Giá vốn mỗi chậu chừng ba chục đô la. Nếu có vị thực khách nào sau khi no nê và vui tính bỏ tiền ra để làm chủ các sông núi cây cỏ Ðông Phương, tôi sẽ có tiền đi chợ, đổ xăng, ăn phở tái béo… Còn nếu công việc kinh doanh đều đặn tiến triển hơn, tôi sẽ sản xuất thêm. Không phải vất vả rửa chén, bán nhà, bán bảo hiểm, dắt mối đưa người đi đánh bạc ở Réno. Tôi sẽ đi giầy vải hoặc dép nhẹ lững thững dạo chơi các vùng đồi núi kiếm đá, kiếm hoa, kiếm cây cỏ (Tai nghe chim hót trên cành cây, mắt nhìn bướm bay ngoài đồng nội). Ðêm về, khoan thai ngồi xuống pha một bình trà Vũ Di, châm một điếu thuốc ba số năm. Dùng cái óc thẩm mỹ Ðông Phương đầy dĩ vãng, tôi chế ra những sông núi cây cảnh của một quê hương xa lắc xa lơ thu hẹp lại trong cái chậu nhỏ bán giá rẻ cho người yêu nước nhớ nhà (cây đa đầu làng, mái tranh ngoài ruộng).
Những cái chậu ấy lặng lẽ bình thản.
Nó sẽ làm cho thần kinh của các anh Việt Nam nhức đầu được dịu lại. Nó có tác dụng tốt gấp mấy viên thuốc an thần của những Bác sĩ tâm lý Hoa Kỳ. Nó sẽ làm người ta quên bớt lo âu tiền nong, thất nghiệp, kỳ thị, áp lực và tốc độ. Người ta chỉ cần ra tiệm Ð.P. (góc đường Almaden và đường Santa Clara) bê về một hòn non bộ của tôi (nhà thất nghiệp đầy sáng tạo) để ở một chỗ mát mẻ im lặng, ngồi xuống chống tay lên cằm ngắm nghía: kìa là núi, cũng núi. Kìa là sông, cũng sông. Những người hay suy nghĩ, thích luận lý, còn có thể ngắm hòn non bộ của tôi mà hỏi: tại sao trên lưng chừng núi kia lại có một cụ già chịu khó leo cao đến thế? Tại sao ông cụ ngồi lắc lẻo ở một chỗ cô quạnh trên cái mỏm vời vợi kia lặng lẽ đọc sách? Ðọc cái gì trong cơn biến động này hở trời? Sách ấy là sách gì? Nó là quyển kinh chăng? Nó là một quyển thơ chăng? Nó là sấm Trạng Trình? Nó là một cuốn tùy bút? Tùy tiện mà phóng bút? Nó có làm cho tâm hồn người ta êm ả một chút chăng?
Cách đây chừng một tuần, trong lúc tôi vừa lái cái xe thùng Volkswagen khặc khừ của tôi lui khỏi bãi đậu, chợt có hai thằng Mỹ phóng xe vọt qua. Chúng la vào mặt tôi: “Asshole”; Thưa chị, dịch ra tiếng Việt, có nghĩa là “cái lỗ đít”. Không biết bên Tây chị có gặp cái cảnh ấy không? Bên này khá nhiều. Một lần đứng ở góc đường dưới Orange County (chẳng trêu chọc ai. Chỉ đứng bên lề ngẩn ngơ nhìn xe chạy, mây bay), một thằng Mỹ bỗng chạy ngang nhổ bãi nước bọt đánh phẹt một cái. Không phải một mình tôi gặp cái chuyện ấy! Còn khi lái xe lỡ có chậm chạp lừ đừ hoặc lớ ngớ nhìn địa chỉ tìm ai, cái chuyện chửi tục, chửi thề xảy ra không có gì đáng lạ. Thường tôi bỏ qua (tức là mũ ni che tai: lờ đi). Có khi như A Q., tôi bảo: Mày chửi bố mày. Nhưng hôm ấy, trời nóng trên 100 độ, túng tiền, đang bị sở thất nghiệp gọi đi khai hàng trăm thứ giấy, tôi nổi cơn giận ngùn ngụt lên đỉnh đầu. Cơn giận phừng như thùng xăng bắt lửa. Cơn giận bốc lên vào mùa hè có thể đốt cháy hàng dẫy nhà, có thể thiêu sạch cả một cái thành La Mã như chơi.
Chị Quỳnh. Chị cũng rõ khi hai thằng Tây hay hai thằng Mỹ chửi nhau, đó là việc hai thằng Tây hay hai thằng Mỹ chửi nhau. Nhưng khi một thằng Tây hay một thằng Mỹ chửi một ông Việt Nam, hay một ông Ðông Phương, là nó chửi…cả nước Việt Nam, cả giống da vàng mắt xếch mũ tẹt, (dẫu cho ông Việt Nam hay ông Ðông Phương ấy có hơi lóng ngóng trong lúc lái xe, có làm cản trở lưu thông, và không quen dừng lại những bảng stop). Vậy còn gì? Chính nó là một thằng Mỹ kỳ thị chủng tộc. Như thế, xin lỗi chị, tôi phải tát vào mồm cho nó thè lưỡi trợn mắt ra. Tôi phải đạp xuống đất lấy gót giầy dí bẹt cái đầu nó như một cái bánh tráng.
Cái thời các vị bảo trợ và các công dân Mỹ (cũ) nồng nàn tiếp đón người tỵ nạn Ðông Dương đã qua rồi. Cái thời đó xảy ra cách đây từ hơn một thập niên: bấy giờ các nhà thờ mở rộng cánh cửa, các ông Mục sư nói giọng mũi hân hoan giới thiệu người ta trước bàn thờ Ðức Chúa giời, diễn giảng dài giòng về tình huynh đệ, thời các tín hữu nhà thờ đua nhau mang đến cho người tỵ nạn ti vi, tủ lạnh, dao nĩa, đĩa chén, quần áo cũ… Thời ấy người ta cao cả, bác ái như chúa Giêsu đứng trên dỉnh đồi dang rộng cánh tay tiếp đón bọn tỵ nạn nhỏ bé, nhơm nhếch, tội nghiệp vì nạn Cộng Sản vô thần, duy vật, bọn độc tài tàn bạo, bỏ tù hàng trăm ngàn người mà cứ nói phét là cho người ra đi học tập. Ðám người tỵ nạn ấy rón rén bước đến đất mới, rụt rè nối đuôi nhau bước vào căn nhà lạ, nhũn nhặn như những củ khoai lang luộc hơi già lửa. Họ chào hỏi khúm núm từ ông chủ nhà cho đến bác làm vườn, cái gì cũng cười. Thời ấy đã qua. Nó xẩy ra từ hơn mười năm trước.
Bây giờ là lúc nào? Là lúc chị thư ký Mỹ trắng bắt đầu thấy mình thua thiệt. Chị liếc xéo anh cán sự điện tử Việt Nam: lương mày to hơn, nhà mày lớn hơn, xe mày tốt hơn. Thế mà mày lại vàng. Bây giờ là lúc nào? Là lúc các lãnh tụ cộng đồng Mỹ đen, Mỹ trắng ngà ngà, Mễ Tây Cơ tức là Xích Cà Nồ bực mình vì chuyện giành giật ngân khoản của các lãnh tụ cộng đồng Việt Nam. Ơ kìa, chúng mày giả vờ biểu dương lực lượng! Ðến đây chưa nóng đít mà sao cứ đòi tiền cho nhiều? Nay biểu tình la lối, mai lại mặc quân phục đi ắc ê. Rối cả mắt. Chưa kể những việc mua súng bắn nhau ỏm tỏi, e có ngày lạc cả sang mình hay mấy đứa con nhà mình!
Thưa chị, phần những ông bà tỵ nạn còm cõi, sau 11 năm, khám phá ra: rút cuộc cõi đời ở đây chẳng phải là thiên đàng. Chả có ý nghĩa gì sất ngoài việc toát mồ hôi làm bồi bếp, nô lệ cho các ông chủ lớn, chủ nhỏ, bảo hiểm và nhà băng. Mua được cái xe, cái nhà trả góp 30 năm thì lúc nào cũng tối tăm mày mặt vì lo mất việc, đuổi sở?
Ðôi khi người ta cũng mát mặt chớ? Phải.
Thứ sáu công việc đã xong. Thứ Bẩy, Chủ Nhật, tà tà dăm ông bà bạn ngồi xuống với nhau, người ta khề khà chai bia, điã thịt nướng. Hay là bánh tôm? Hay chả giò? Bò nhúng dấm? Chả cá? Thực đơn có thể thay đổi nhưng đề tài luẩn quẩn loanh quanh. Những đề tài cổ truyền từ hơn mười năm nay. Trước hết, nó bắt đầu bằng hiện tại lương bổng, kiếm việc, mất việc, mua bán bảo hiểm… vấn đề chửi nhau giữa báo X và báo Y, ký giả A tố ký giả B là Cộng Sản, thực ra ký giả B là người Quốc Gia đang móc nối với Trung Cộng (hỡi ơi, bọn Trung Cộng cũng là Cộng Sản). Sau đó đề tài chuyển sang một hợp âm êm dịu. Nó thuộc về quê hương dĩ vãng. Các đề tài này xoay quanh một số tiết mục tùy theo trình độ thẩm mỹ, khuynh hướng thú vui, nguồn gốc địa lý của những người tham dự. Họ xuất xứ ở miền nào? Ví dụ như ông Võ Phiến thì hay nói chuyện về xứ Bình Ðịnh. Như những đề tài trong cuốn Tùy Bút của ông vừa xuất bản ở Mỹ, nó xoay quanh những sự nhớ nhung lẩm cẩm. Cái áo dài. Cái ăn cái uống. Chuyện mắm muối. Chuyện mấy anh Huế chị Huế. Mỗi người một câu, mỗi người thêm thắt một tí tùy theo kiến thức và khả năng ký ức. Tất cả những cái nhỏ bé. Ðường lối cứu quốc kiến quốc phải như thế nào? Ðặt một giải pháp tương lai cho Việt Nam. Hay cho thế giới. Tương lai thế giới, Cộng Sản hay Tư Bản. Thử nhận định một biện pháp hòa hợp dân tộc. Thử khai phá một lý luận và chiến lược chống Cộng hữu hiệu. Vân vân.
Những hợp âm êm dịu sau một chặp thường làm cho lòng người ta chùng xuống. Người ta ngửi thấy cái mùi ngậm ngùi trong ly bia, trên những đĩa chả giò, thịt nướng, mắm nêm. Người ta nhớ đến mùa hè ở Huế với hoa sen nở đầy hồ Tịnh Tâm, con đường Âm Hồn rợp bóng cau bóng nhãn. Người ta lờ mờ như một người loạn sắc nhìn vạn dặm xa xôi những cánh buồm Phan Thiết mỗi chiều từ biển khơi nồng ấm trở về với khoang cá lóng lánh như thỏi bạc. Bấy giờ trong tiếng xe rì rào trên xa lộ, người ta tưởng như tiếng con tắc rán chạy mơ hồ trên sông rạch, hai bên là những cây mắm, cây bần, cây đước.
Người ta khựng lại khi nhớ đến bà mẹ già và cô em gái gầy yếu còn ở lại Việt Nam mà chương trình đoàn tụ gia đình cũng đã khựng lại. Người ta đổi đề tài. Ðề tài cuối cùng trước khi chấm dứt, ai ra xe ô tô trở về nhà người nấy. Ðề tài cải tạo. Cải tạo ở đâu? Bao lâu? Ðôi khi những kỷ niệm đớn đau lại trở thành những nhớ nhung vui sướng. Ðề tài vượt biên. Ði thế nào? Ði ra sao? Mất mấy cây? Thường thưa chị, các buổi nói chuyện đến đây bế tắc vì từ đó nó sẽ quay ngược về hiện tại. Lại đến đảo. Ðến Mỹ. Học nghề. Kiếm việc. Mất việc. Bảo hiểm. Nhà băng. Lại những thằng Mỹ chạy xe qua nhổ nước bọt đánh phẹt một cái, giơ ngón tay lên làm một cử chỉ tục tĩu hoặc la lên “cái lỗ đít”. Hàng chục thứ rối đầu: kháng chiến hay không kháng chiến? Kháng chiến thật? Kháng chiến giả? Tương lai về đâu? Có ngày về hay không có ngày về? Về hay không về?
Tại sao rối loạn? Vì những câu hỏi ấy đặt ra nghe chừng đơn giản mà câu trả lời thì vẫn phong phú. Người nào cũng nhao nhao lên về tia ánh sáng cuối đường hầm. Lúc đầu người ta bảo cái hầm nó thẳng, nhưng ánh sáng thì anh không thấy, tôi không thấy, ông ấy thấy vì ông ấy có điều kiện, ông ấy có dịp đứng giữa miệng hầm. Bây giờ cái hầm nó khúc khuỷu. Ðúng vậy. Ðứng ở đầu này không thể thấy ánh sáng ở đầu kia. Nhưng hãy theo tôi, đến đoạn cuối là đường thẳng, anh sẽ thấy cả một bầu trời quê hương xanh mát, ánh nắng chan chứa trên khắp ruộng lúa bờ đê. Chỉ tiếc là có quá nhiều những cái hầm khúc khuỷu như vậy.
Thưa chị. Khi người ta phong phú ý kiến, người ta có thể khẩu chiến (anh nào có báo ra đều, viết nhiều, anh ấy thắng), đánh bốc (anh nào bắp thịt to, anh ấy có vẻ có lý), đấu súng (bắn trước thì sống). Phải chăng đấý cũng là quy luật của cả Cộng Sản lẫn Tư Bản?
Chừng ấy thứ trộn lộn thành một thứ bột nhão. Nó làm cho những cặp vợ chồng gương mẫu trước cãi cọ, sau thụi thẳng cánh vào quai hàm nhau. Làm cho những bạn bè trên dưới ba chục năm hằm hè nghi nhau là Cộng Sản. Làm cho những anh chị làm báo gọi nhau là ma cô và nhà thổ. Làm cho những đầu óc sáng suốt trở thành nhà thơ lẩn thẩn, bay bổng và dở hơi. Cũng như thế, những hôm mùa thu mùa đông đã qua, mùa hè nóng trên 100 độ fahrenheit, đỉnh đầu người ta bốc khói, người ta có thể nhẩy dựng ra khỏi xe, móc súng bắn thẳng vào giữa họng những thằng Mỹ dám gọi người ta là…cái lỗ đít. Vâng, có thể lắm. Nếu người ta có súng. Và bất cứ một toà án nào biết tôn trọng công lý cũng phải tha bổng hay tối thiểu, cho giảm khinh những trường hợp như thế, khi mà người ta có nhà mà phải đi ở thuê, có đất mà đi ở đợ và cái lão chủ nhà đất mới này té ra cũng là quân cướp. Khi vợ con người ta chết hết trên biển cả bão bùng. Khi bạn bè thân thích vẫn bị Cộng Sản cưỡng bách giáo dục, đã trên 10 năm học hoài học mãi ỏ những vùng sơn lam chướng khí, ma thiêng nước độc, khỉ ho cò gáy, cơm không có ăn, thuốc không có uống. Khi vợ và con gái người ta bị bọn cướp thay phiên hãm hiếp. Khi anh em người ta cứ mòn mỏi ở các đảo tỵ nạn từ mấy năm vẫn chẳng được đưa đi định cư. Khi người ta kiếm không ra việc ở cái thiên đàng chủ nghĩa tự do mà tiền thất nghiệp lại sắp chấm dứt. Những khi như thế, thằng nào gọi ông là cái lỗ đít, ông bắn.
Thưa chị. Trưa hôm ấy trời nóng trên 100 độ, tôi lồng lộn như con thú Phi Châu. Tôi rú ga vọt lên, chạy theo hai thằng Mỹ. Ngoắc tay kêu chúng nó ngừng lại.
Tôi bật tung cánh cửa nhào ra khỏi xe. Khuỳnh tay vụt lên như cái thiết vận xa. Nhưng hỡi ơi, tôi không có súng.
Còn hai thằng Mỹ, chúng nó cũng hùng hục mở cửa bước ra xe. Cả hai đứa: bề cao hơn tôi gấp rưỡi. Bề ngang hơn tôi gấp đôi. Hỡi ơi, mặt mũi chúng nó lại non choẹt chỉ đáng tuổi thằng con trai thứ ba của tôi.
Còn chửi mắng? Khả năng chửi bằng tiếng Anh của tôi làm cho tôi ứ máu lên cổ. Vâng, tôi có thể đi xin việc bằng tiếng Anh. Tôi có thể thuyết trình đôi chút về Văn hóa Việt Nam một cách duyên dáng cho những người Mỹ đồng nghiệp trong sở. Tôi còn có thể tán tỉnh đôi chút với quý cô quý bà. Nhưng chửi nhau bằng tiếng Anh? Quả thật, cái khả năng ấy của tôi chỉ bé bằng cái lỗ đít.
Ông Võ Phiến là một người Bình Ðịnh.
Người Bình Ðịnh có cái gì hay cái gì đẹp? Tôi sẽ gửi cho chị cuốn Tùy Bút, chị sẽ thấy ông Võ Phiến khéo léo kể ra trong hai bài Anh Bình Ðịnh và Người Bình Ðịnh.
Anh Bình Ðịnh được những chị Phú Yên mê vô tả, ông Võ Phiến chứng minh như thế. Anh về Bình Ðịnh chi lâu? Chiều chiều em đứng hàng dâu ngó chừng. Tuy nhiên những chị xứ khác có mê mẩn như thế hay không? Hay chỉ có những chị Phú Yên mới dại dột mà thôi? Ông Võ không nói tới.
Thế còn người Bình Ðịnh? Toàn những người giỏi.
Người hùng Bình Ðịnh: Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng… ngang tàng lẫm liệt. Xóm thơ Bình Ðịnh, được kể ra: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên với những cái làm kinh động sững sờ, những Quách Tấn, Yến Lan mờ mờ những con đường chảy, êm như những giòng sông. Ngó trước rồi lại ngó sau, ông không quên thế hệ trẻ hơn ông. Ông kể tên một người bạn trẻ xứ ông, Nguyện Mộng Giác, chín chắn, kín đáo, âm thầm, lim lỉm vào những suy nghĩ lo lắng.
Những cái ông Võ kể ra về xứ Bình Ðịnh và người Bình Ðịnh làm cho tôi buồn lắm. Tôi, gốc gác lộn xộn: chánh quán làng Mọc Hà Ðông, sinh ở Huế, lớn ở Hà Nội, Ðà Nẵng, Sài Gòn. Không chừng chết luôn ở Mỹ. Thế tôi biết khoe xứ nào?
Tôi nói tiếng Bắc chị Quỳnh ạ. Chị cũng là người Bắc phải không? Tiếng Bắc, chị biết đấy. Nó không nặng như Quảng Nam, ngang như Bình Ðịnh. Ði vào thì mình nói là đi vào chứ mình không nói là đi dzô. Vả chăng các ca sĩ người Trung người Nam…họ cứ uốn éo đổi sang giọng Bắc cả. Ờ, lạ lắm cơ?
Ở Việt Nam, tôi được đọc nhiều bài của ông Võ Phiến nhưng không có dịp gặp. Sang Mỹ, năm 1977 thì phải, Lâm Triết có mời ông Võ ghé ngủ lại phòng tôi nhân dịp từ Los Angeles lên thăm San Jose. Nhưng quả thật không biết nhiều về ông Võ.
Có thể, ông cũng chín chắn, kín đáo, âm thầm, lim lỉm như ông bạn trẻ đồng hương Nguyễn Mộng Giác. Người Bình Ðịnh, họ như thế. Ðọc Thác Ðổ Sau Nhà, tôi khoái cái quan điểm, nhưng chưa dám nói thực hiểu ông Võ nhiều. Gặp tại nhà in N.V. của ông Trần Ðình Long, cũng chưa rõ lúc nào ông ấy đùa, lúc nào ông ấy thực. Mà lúc nào trông ông ấy cũng thành thật. Hoặc giả ông ấy có ngụ ý một điều gì tinh quái sắc bén. Ngày giỗ Nguyễn Hiến Lê ở toà báo Người Việt dưới Orange county cách đây vài tháng, lại thấy chẳng phải ông ấy lim lỉm. Ông ấy nghiêm trang một cách bỡn cợt. Ông ấy liên tục nói năng trôi chảy, hấp dẫn, cái giọng Bình Ðịnh cũng không thực là ngang ngang khó nghe. E chừng ngược lại. Tôi có nhận một cái thư của ông Võ thăm hỏi, cho biết trước cũng từng trọ ở ngõ Tân Hưng, Hà Nội. Nhà tôi ở đấy, lúc ấy tôi hãy còn bé. Ðến nay, đọc Tùy Bút gồm những bài xuất bản, đăng tải từ trước 1975, nhiều bài chưa có dịp đọc, cùng với năm bài mới viết ở Mỹ như một bộ tứ bình: Xuân, Hạ, Thu, Ðông của cuộc đời lưu vong…phải nói cụ Võ Phiến, 63 tuổi, cụ hơn tôi đến 20 tuổi, và tôi thở phào ra. Chị Quỳnh ạ, cụ ấy cũng chửi tục. Cụ ấy viết đến những hai bài về sự chửi và chửi tục, bên cạnh những bài trang trọng như đạo và đời, nhàn và nhã, ông và cháu, mưa và thơ…
Cái sự chửi tục gồm những câu rất tục mà ông Võ Phiến sưu tầm, bàn bạc, nại ra, bình luận, kể lể, dẫu có vì văn chương hay văn hóa, có câu để cả chữ, có câu chỉ viết tắt, thưa chị, tại đây tôi vẫn không dám đề ra cho chị xem mặc dầu chính tôi không phải là người nhã nhặn.
Khi mới gặp nhau, người ta thường thủ lễ, vâng dạ, thăm dò. Người ta chưa tin nhau. Khi đôi bên đã say sưa nồng nàn, co cẳng ngồi trên ghế vừa gãi nách vừa nói chuyện về các đề tài (kể cả văn hóa và chính trị) mà bọt mép sùi ra, tay chân vung lên, lâu lâu ngôn ngữ được đệm vài tiếng chửi, người ta dễ chịu lắm. Người ta bắt đầu rút đi những hàng rào phòng thủ, những mũ sắt áo giáp bao chung quanh, người ta tin nhau được.
Tôi cảm thấy gần gũi với cụ Võ Phiến từ sau những bài bàn về chửi và chửi tục chăng? Hai bài ấy viết ra năm 1959 và 1968, đổ đồng vào lúc cụ bằng tuổi tôi bây giờ: ngoại tứ tuần. Hay chỉ vì những sự ấm ức khi nghe người ta chửi nhau bằng tiếng Anh? Hay chỉ vì nó làm cho tôi nhớ lại đôi ba vấn đề của ngôn ngữ học và riêng về cái mục chửi của chúng ta đây nó dồi dào, phong phú, lảnh lót hơn quá nhiều so với “cái lỗ đít” của mấy thằng Mỹ hỉ mũi chưa sạch?
Hay nó làm cho tôi nhớ lại một ông bạn cũ từ thời niên thiếu lúc học chung với nhau ở Văn khoa đường Nguyễn Trung Trực Sài Gòn? Cái cậu lúc ấy khoái chửi câu “Tiên sư bố nhà mày. Tao căng mồm mày ra làm cái nhà chồ, tao ị vào ngay giữa cái mồm mày.” Dĩ nhiên, câu này cũng không lọt khỏi sách của ông Võ Phiến. Ðó là một sáng tác của nhân vật xứ Bắc, chắc chắn không phải của người Bình Ðịnh, mà cũng không phải của người Mỹ có thể giỏi về khoa học, kỹ thuật nhưng nghèo về văn hóa, triết lý và… đạo đức.
Ðêm qua, tại nhà anh H. hàng xóm tôi, lại nhậu.
Có hai anh H., cả hai cùng có mặt. Anh H. hàng xóm tôi: cựu chiến sĩ sư đoàn 18 Bộ binh, đã rã ngũ nhưng trong nhà không bao giờ có dưới bẩy khẩu súng cả ngắn cả dài. Anh H. hoạ sĩ kỹ nghệ tức cựu Ðại uý Dược sĩ H., đai đen Aikido, dịch là Hiệp khí đạo, người đã nhờ Hiệp khí đạo và các phép đề khí mà trải qua sáu năm cải tạo một cách êm ả, dẻo dai và tương đối mạnh khoẻ. Anh Nha sĩ T. tức cựu Thiếu tá Nha sĩ T. với Anh dũng bội tinh, tức cựu thi sĩ Bàng Hoạch (báo Gió Mới, Việt Nam 1957, 1958). Tất nhiên, có mặt bia Coors và thịt nướng. Vẫn các thủ tục và đề mục thường lệ: bắt đầu bằng hiện tại (lương bổng, thất nghiệp, kiếm việc, Job shop, mua bán bảo hiểm, đá banh bầu dục, báo X chửi báo Y) chuyển dần sang hợp âm êm dịu (bàn về con cua ở Cát Lở, con tôm hùm ở Cà Ná, thịt con cheo ở Long Thành, con đuông tẩm bột chiên bơ ở Chợ Cũ). Lần này trước khi trầm ngâm đổi qua đề tài dĩ vãng cải tạo vượt biên chấm dứt ra về, chúng tôi thêm vào đề tài văn học: Ông Võ Phiến, cuốn Tùy Bút và nhà xuất bản Văn Nghệ. Cuốn Tùy Bút thế nào: Nó dầy ba trăm mấy chục trang, phong phú ghê. Ðủ các đề tài từ văn minh, văn hóa, thơ phú, đạo đời sang đến mắm muối. Ðọc một lúc thì mệt nhưng lâu lâu nhàn nhã, thú nhá. Này là chuyện mấy chú én ríu rít bay lượn ở Hà tiên. Này là chuyện Năm non bẩy núi. Này là chuyện Hội An có phải là Phải Phố hay không?
Ðường trong làng hoa dại với mùi rơm
Người cùng ta đi dạo giữa đường thơm
Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng
Ðất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng.
“Ðoạn đường Ðà Nẵng về Hội an…chỉ gợi nhớ đến cu gáy với bướm vàng trong ca dao… đến con đường thơm… Bóng phượng, phải, còn có bóng phượng nữa. Ðà Nẵng có rất nhiều cây phượng…”
Những cây phượng mùa hè trổ hoa đỏ ngợp con đường Hoàng Diệu Ðà Nẵng. Nó làm cho tôi và anh T. cựu học sinh Phan Chu Trinh Ðà Nẵng, những cựu thi sĩ văn sĩ báo Gió Mới, Việt Nam 1957-1958, những Tuấn, Hải, Chiêu, Nam, Khiết, Dũng, Tình, Ý, Sung, Ui, những kịch sĩ, ca sĩ, thể thao gia ở một ngôi trường đầy hoa phượng… và lớn lên tiếp tục những cuộc chơi lớn…kẻ chết Ðồng Xoài, kẻ đi Biệt kích và biệt tích, kẻ chết trên máy bay, kẻ theo Cộng Sản, kẻ bị Cộng Sản nhốt tù. Tôi và anh T. chắc lại cũng ngửi thấy cái mùi ngậm ngùi bay trong lon bia, trên những gắp thịt và trong chén nước mắm. Vậy chúng tôi đi vào đề tài khác. Chuyện chửi. Chửi tục. Cũng những chuyện trong Tùy Bút của ông Võ Phiến.
Khi đi vào phần ấy, tôi đã kể lại chuyện hai thằng Mỹ ranh con và cái lỗ đít.
Anh T. Nha sĩ lắng tai nghe.
Trước hết, Nha sĩ, họ là ai? Họ là những người vốn ít nói theo thói quen đeo mặt nạ bịt mồm trong lúc cà răng. Thực vậy, người ta không thể bịt mồm mà nói chuyện. Vả chăng bệnh nhân nhổ răng, chữa răng mồm miệng đầy bông băng kìm búa cũng không thể hàn huyên với Nha sĩ như lúc người ta ngồi thảnh thơi cắt tóc. Tiếp đến, Nha sĩ, họ là những người cẩn thận. Họ không thể nhổ lầm một cái răng sâu sứt với cái răng tốt lành. Họ phải chụp hình quang tuyến. Phải đeo kính ngắm nghía, nghiên cứu kỹ trước khi quyết định cà, hay đục, nhổ, hay rút gân máu, bịt răng vàng hay răng bạc. Vả chăng, bạn tôi, một trong những Nha sĩ lành nghề và có lương tâm chức nghiệp hơn hết thẩy tại San Jose. Anh ta luôn trầm ngâm, xem xét, lắng nghe và phán đoán kỹ lưỡng trước khi phát biểu.
“Ông ạ,” Anh T. từ tốn nói. “Lần sau, gặp những thằng Mỹ chửi tục, đánh nhau là thua hoặc bị ra tòa. Ðừng chửi tiếng Mỹ mà thiếu chữ. Ông cứ chửi bằng tiếng Việt, y những câu của ông Võ Phiến viết Tùy Bút. Ông sẽ hả hê sau khi chửi, cơn giận nó tiêu tan. Còn thằng Mỹ, nó chẳng hiểu gì nhưng nó vẫn biết là ông chửi. Như thế nó càng điên lên. Cái ấy kêu là nội thương.”
Chị Quỳnh thân mến. Nha sĩ là những người ít nói và cẩn thận. Bao giờ họ cũng biết săn sóc hàm răng và nụ cười của người ta một cách chu đáo. Cái răng cái tóc là góc con người. Một anh bạn Nha sĩ thân ái luôn luôn có thể cho người ta một lời khuyên sáng suốt, lóng lánh và quý báu hơn cả răng vàng răng bạc.
Và, chị Quỳnh thân mến. Ông Võ Phiến là một nhà văn đàn anh so với lứa tuổi tôi. Ông là nhịp cầu thời gian với những câu chửi lạ lùng như đồ chết tiệt, con khỉ trù, chó nó ăn mất cu. Những câu ấy trang bị cho tôi một thứ võ khí tựa như gậy tầm vông để chống lại cái lỗ đít.
Còn cuốn Tùy Bút mới xuất bản của ông, trong giai đoạn hoang mang lưu lạc này, nó có một giá trị đặc biệt, không phải chỉ vì giá trị văn học.
Nó là nhịp cầu tiếp nối miền đất xa xôi ở quê nhà mà không gian thơm mùi hò mái đẩy, mùi hương hoa tưởng tượng, mùi măng cụt sầu riêng, mùi bánh tráng Bình Ðịnh chấm nước cá, mùi mì Quảng và cao lầu Hội An tiếp sang miền rối rắm này với mùi “khù” (Chữ của cô bạn tôi dịch chữ “smog”, một hỗn hợp giữa “khói và mù”), mùi hoá chất lau chùi trong xưởng điện, mùi nhạc Rock, và may thay vẫn còn mùi bánh cuốn, phở tái béo Bắc kỳ tôi đang ngồi ăn đây trong tiệm Ð.P. ở góc đường Santa Clara và đường Almaden, San Jose.
Ông Võ Phiến là một nhà văn tỉ mỉ, rất tỉ mỉ. Còn kiến bò qua cũng không thoát mắt quan sát của ông. Ở một miền đất dẫu chiến tranh tàn phá trên mấy chục năm, một miền đất dẫu sao người ta chửi dẹ dàng còn như ca hát, nơi người ta dẫu sao vẫn còn có thể bình thản đứng trên cánh đồng, vào buổi xế trưa đầu mùa xuân nhìn đồng không mông quạnh. Ở chân trời, vài đám khói ùn lên chậm chạp tỏa cao và rộng… Chao ơi, những đám khói đốt cỏ ở chân trời trong nắng trưa, sao mà xúc động, cảm hoài. Những đám khói kể lể nỗi niềm bao la cuối một chân trời mênh mông. Ðứng him mắt mà trông: khói lặng lờ, không vội vã, khói bát ngát, nhẫn nại, xa vời, hàng giờ, hàng giờ, khói toả, vừa hiền từ vừa mơ mộng…
Những đám khói êm ả… Chao ơi, trong địa hat suy tưởng của nước Mỹ ào ạt vội vàng, vài ngàn cuốn sách đủ loại xuất bản từng triệu cuốn mỗi tháng dưới đủ các bộ dạng kiểu cọ khác nhau, với những nhà văn sản xuất bằng máy điện toán, điện thoại, điện tín…thì chao ơi…cái tôi yêu mến ở ông Võ Phiến cũng như cái tôi yêu mến những cụ già lững thững ở làng Versailles, nơi đây người ta ngảnh mặt khỏi siêu thị, nơi người ta họp với nhau một cái chợ lộ thiên sát mé sông với cầu ao và những đóa hoa bèo màu tím. Ở miền đất này còn tìm đâu những tâm hồn êm ả, những giây phút không vội vã đứng nhìn khói bay lên hàng giờ hàng giờ? Khói lặng lẽ, nhẫn nại, xa vời, vừa mơ mộng vừa hiền từ?
Thế nhưng chị Quỳnh thân mến, rút cục như lời khuyên của anh bạn Nha sĩ T. một người ít nói và cẩn thận: ta cứ phải chửi bằng tiếng Việt… và khi tôi thán phục cái cao kiến như thế, té ra tôi cũng đang bước chân trở về trên nhịp cầu của ông Võ Phiến và những bà cụ chít khăn mỏ quạ Bắc kỳ, nơi tôi lớn lên ở ngõ Tân Hưng, đường Ga Hàng Cỏ, đường Hàng Bông Thợ Nhuộm trước Vườn hoa cửa Nam. Tôi có về lại được cái thời gian đã mất hay không? Thời gian sẽ đi, đi mãi hay sẽ quay trở về trong cái vòng vô tận? Tôi có về lại được miền đất bên kia không? Tôi chưa rõ. Có lẽ, chị Quỳnh, giờ đây tôi đang lóng ngóng trên đất Mỹ giữa Huế, Hà Nội, Sài Gòn, giữa hiện tại, dĩ vãng, tương lai, tôi ngồi bệt xuống giữa nhịp cầu của ông Võ Phiến và các bà cụ lững thững khoan thai. Tôi nhìn bên này, bên kia, vừa chửi thề bằng tiếng Anh nhưng biết phải chửi thề bằng tiếng Việt, tôi ăn phở tái béo và tôi thu hết núi sông lại mà bỏ vào trong những hòn non bộ: Này là núi, cũng núi. Này là sông, cũng sông…

NGUYỄN BÁ TRẠC
(Trích trong Chuyện Của Một Ngưởi Di Cư Nhức Đầu Vừa Phải, xuất bản tại California 1987)

RỐT CUỘC EM LÀ….

nguyentansi

Em rốt cuộc là trăng ngày nọ
Là nguyệt xưa bãi nại đêm rằm
Mưa thâm thúy đan từng sợi nhỏ
Đêm muốn dài. Ai bảo nắng nôn nao.

Còn lại một xuân thì chưa khép tán
Mượn lá cành thu muộn để trăng lên.
Bên kia chổ bãi bồi anh mắc cạn
Sông miên man bèo dạt hát xa nguồn

Ai đó gọi trống đình hoa cải hát
Đã sang thu vàng mã muốn lên trời
Con chiền chiện lập lờ phổ nhạc
Thơ và em gối vụ cuộc rong chơi

Tàn canh chưa thanh minh lại cho mình
Non tơ lại một vùng chưa kịp chín
Đêm.Đối mặt, em đành là cánh vạt
phù du đôi hơn hớn chói chang đèn

Và có thể là gì chưa biết nữa
Đợi một vùng hoa súng nở thành sen…

Nguyễn Tấn Sĩ

MỘT MAI ĐỜI TRẢ TÔI VỀ

truongquangkhanh

Một mai đời trả tôi về
Bên đây hoa lệ, bên kia hoang tàn
Ngẩn ngơ không chuyến đò ngang
Ai đưa tay vẫy một hoàng hôn trôi
Môi nào hoa có còn cười?
Để tôi lặng lẽ bên người vườn xưa
Để chân mỏi kiếp gió mưa
Còn đi đến cuối cùng bờ trần gian
Một mai tôi trả đời sang
Chiếc cầu đã mất, sông càng thêm sâu
Phố nào như giấc chiêm bao
Giật mình cỏ lá lao xao chỗ nằm
Chợt còn nhớ nợ trăm năm
Tôi ngồi đốt khói hương trầm lãng quên…

Trương Quang Khánh

PHÂN ƯU

12039515_1033513883335790_7396955425592080965_n

Nhà văn Võ Phiến là một trong những nhà văn hàng đầu của Việt Nam, vừa qua đời tại bang California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 90 tuổi.
Sinh năm 1925 tại Bình Định, ông nổi tiếng ở miền Nam trước 1975 qua hơn 20 tác phẩm thuộc nhiều thể loại.
Đa số các nhà phê bình và độc giả cho rằng ông thành công nhất ở thể loại tùy bút.
Nói với BBC ngày 29/9, nhà phê bình Đặng Tiến từ Pháp nhận xét tùy bút của Võ Phiến rất đa dạng.
“Tùy bút là thể loại mà Võ Phiến thành công nhất, để lại nhiều tác phẩm và tư liệu hay nhất.”
Từ sau 1975 đến nay, hầu hết tác phẩm của Võ Phiến vẫn chưa được xuất bản tại Việt Nam.

Vĩnh Biệt Võ Phiến

tranvanle

Tối đó trăng tròn, trăng tròn đầy,
người đi tan khuất tựa làn mây!
Cali đưa tiễn mưa không hạt,
tôi nóng ran người thương tiếc ai…

Con hạc vàng bay trong trăng vàng.
Con hạc vàng bay về Quy Nhơn.
Tôi đưa tay hứng gì, không biết.
Một chiếc lá rơi. Một nỗi buồn!

Tôi khóc. Trời ơi tôi bật khóc.
Từ nay tôi mất một Tình Yêu.
Từ nay, vĩnh viễn…người-tro-bụi,
còn lại Người…trang sách lật theo!

Còn lại Người…Non Nước mỏng manh.
Mừng Người rời được chốn hôi tanh.
Mừng Người, lòng vẫn nguyên lòng dạ.
Mà quạnh hiu đời. Tôi ngó quanh…

Từ nay…cánh cổng nhà ai mở?
Cánh cổng nhà tôi đứng bấm chuông.
Con quạ lặng thinh…không thấy Bác,
không thấy gì…gì nữa, ngoài sương!

Bác Võ Phiến ơi, thôi vậy…hết!
Trăm năm, Bác thiếu nợ mười năm.
Tách trà bay khói thơm thơm phức,
con nhớ Bác hoài những tối trăng…

Trần Vấn Lệ

(*) Nhà văn Võ Phiến mất lúc 7 giờ chiều 28 tháng 9 năm 2015.  Trăng 16 tháng Tám  năm Ất Mùi đang lên.  Thọ 90 tuổi.  Tôi từng chúc Bác sống tới trăm tuổi, mà thôi!  Xin gửi những giọt nước mắt lăn theo tiễn Bác…

SAO BĂNG…

hacthanhhoa

Em còn bóng mát đầu sông
Nắng đi trải lụa nằm hong tơ chiều
Bụi mờ lạc nẻo chân xiêu
Hàng cây lượn khói tiêu điều chưa tan
Em còn tươi búp ngọc lan
Hương bay từ cõi thiên đường nào xa
Kiếp trần trơ một hồn hoa
Thương mây trắng những ngày qua biển sầu
Em còn vầng nguyệt đêm thâu
Từ nao nao ánh hỏa châu cuối trời
Chim qua trăng sáng tuyệt vời
Chợt bâng khuâng tiếc thương đời sao băng

HẠC THÀNH HOA

BÊN HIÊN ĐỜI GIÓ TẠT

daolam

về nghiêng chiều sông hát
tím biếc một giòng Hương
chở nặng bốn mùa thương
sáu vai cầu trầm mặc

về thắp lên khao khát
nhớ một màu nắng xa
vịn vai cầu ta qua
hoàng hôn quàng khăn gió

về đắm trong hồn cổ
nghe hoài niệm tỏ tình
nhặt một cọng cỏ xanh
thương bốn mùa trời đất

về nghiêng chiều sông hát
dỗ giấc tình sóng đôi
( dù tóc lệch đường ngôi
dù hương phai gối lẻ)

chiều ni về với Huế
nhớ lắm một mùa xưa
TA NHƯ KẺ TRÚ MƯA
BÊN HIÊN ĐỜI GIÓ TẠT

DaoLam

Ăn và đọc – Tùy bút của nhà văn Võ Phiến

image002

…Tháng 4/1975 ông rời nước định cư tại Los Angeles, Hoa Kỳ. Làm công chức thuế vụ. Võ Phiến là một trong những người đầu tiên có công đóng góp vào nền văn học Việt Nam hải ngoại, chủ trương tập san Văn học nghệ thuật từ 1978 đến 1979, rồi từ 1985 đến 1986. Tờ Văn học Nghệ thuật đã mở đầu cho một trào lưu văn học đích thực mà sau này trở thành Văn Học Việt Nam Hải ngoại…
VĨNH BIÊT NHÀ VĂN VÕ PHIẾN

1

Thỉnh thoảng chúng ta gặp ở tiệm một vài người Mỹ ngồi ăn phở. Có người cầm đũa khá thạo. Trong số một đôi triệu người Mỹ luân phiên đến xứ này rồi ra đi, những kẻ tò mò tiến xa vào nếp sống Việt Nam tới mức ấy chắc không lấy gì làm nhiều. Các kẻ ấy trở về nước, giữa dăm ba câu chuyện ly kỳ về đất Việt xa xôi kể với bạn bè, có thể múa biểu diễn cặp đũa, có thể nói đến cái mùi lạ lùng của rau quế vừa ăn vừa ngắt từng lá bỏ vào tô phở, đến cái vị ngộ nghĩnh của những tép củ hành nhúng trong nước dùng vớt ra với chỏm lá xanh xanh v.v…
Như thế là vượt xa quá những khuôn sáo, những chỗ gặp gỡ thông thường của các du khách rồi. Du khách Tây phương nói về món ăn Việt, bất quá gặp nhau ở món nước mắm, rồi thôi.
Vậy những người Mỹ hiếm hoi nọ đáng khen, về sự hiểu biết rộng rãi.
Tuy nhiên từ chỗ biết ăn phở cho đến cái trình độ am hiểu các đặc điểm, các sở trường sở đoản của từng thứ phở bò, phở gà, phở nước, phở áp chảo, phở tái, phở chín, phở nạm, phở gầu, phở sụn v.v…, còn nhiều cách biệt. Rồi từ chỗ thạo phở cho đến cái tâm tình về phở như của Nguyễn Tuân, lại còn một tầng cách biệt nữa. “Nắm vững” một món ăn — chỉ một món thôi — đâu phải dễ.

Thật vậy, không cứ là khách ngoại quốc, ngay đến người Việt Nam không phải ai cũng bưng tô phở mà ăn như nhau, với những cảm tưởng giống nhau. Một nông dân ở thôn ấp nào đó ngoài Phú Yên, Quảng Ngãi v.v… ăn phở Bắc cũng như ăn hủ tiếu Mỹ Tho, cũng như ăn mì Tàu, nghĩa là hững hờ. Còn người nông dân ở Cà Mau, Rạch Giá v.v… chẳng hạn có thể có sự thiên vị bất lợi cho phở. Người Việt miền Nam chỉ hoan hỉ chấp nhận món phở sau một vài canh cải, tức sau khi đã trút vào tô phở được non nửa dĩa giá sống.

Phở là món ăn phổ biến hết sức rộng rãi từ Bắc chí Nam mà còn thế, huống hồ là những món ăn khác. Mỗi món ăn thường chỉ được sủng ái ở một vùng, hoặc rộng hoặc hẹp. Xơi nó thì ai cũng xơi được, nhưng gọi là tri kỷ, biết đến tận cùng cái ngon của nó, chỉ có thể là người một địa phương. Chả cá, bún thang, là những thứ quí của đất Bắc; từ ngày vào Nam dường như nó lạc lõng, ít ai thấu triệt ý vị của nó. Bún bò, bánh lá, ngày nay lưu lạc khắp nơi; nhưng tôi tưởng tượng ở một góc chợ Trương Minh Giảng, ở một hẻm Bàn Cờ, thỉnh thoảng miếng bánh lá mỏng mà gặp lại một cái lưỡi Huế có phảng phất mùi thuốc Cẩm Lệ nó sẽ mừng rơn. Bỏ một miếng bánh, húp một muỗng bún vào mồm, có phải ai cũng thưởng thức như ai đâu. Giữa món ăn với người ăn phải có sự tương đắc. Khi đã tương đắc, đã cảm thông sâu xa với nhau, người Nam ăn ba khía, ô môi, người Huế ăn cơm hến, người Bình Định ăn mắm cua chua chan bún thấy thấm thía, nồng nàn. Cái mùi vị nồng nàn ấy, kẻ khác không chịu được.

Mỗi món ăn chỉ có một số người thực sự hiểu nó, số người ấy là của một địa phương. Vậy món ăn có liên hệ đến khí hậu địa phương chăng?
Ở xứ lạnh dễ thấy cái ngon trong trong chất mỡ béo, ở xứ nóng dễ rành về các thứ rau, canh. Người Huế ăn cay, một phần hình như cũng vì khí trời ẩm ướt của những mùa mưa dai dẳng. Người miền Nam thích giá sống vì nó giải nhiệt?

Khi đã chuyên ăn một món nào đó, người ta càng ngày càng thành thạo trong việc chọn lựa, sử dụng, người ta tìm thấy ở nó những đặc điểm mà kẻ khác không để ý đến; do đó người ta vượt bỏ, tách rời khỏi quần chúng. Về quả ớt chẳng hạn, chắc chắn đồng bào ở các nơi ít ai theo kịp người Huế trong cách thưởng thức: kẻ yêu ớt không chỉ yêu nó vì cái vị cay, mà còn vì mùi hăng nồng, vì cái tiếng kêu giòn phát ra dưới răng khi cắn nó, lại yêu vì trông nó sướng mắt, cầm nó sướng tay trong giây phút mân mê trước khi đưa lên mồm… Người Huế ngoài cách ăn ớt bột, ớt tương, ớt xắt, ớt giã v.v…, còn thích lối ăn cầm cả trái ớt tươi rắn chắc mà cắn kêu đánh bụp trong miệng thật ngon lành; để cắn, họ chọn ớt xanh.

Nhưng một chuyện khí hậu nhất định không đủ. Cái ăn còn tùy thuộc ở sản phẩm sẵn có của địa phương, ở lịch sử v.v… Ở lịch sử? Nghe thì to chuyện, nhưng chính tại lịch sử mà người Bình Định quen ăn bánh tráng. Thứ bánh tráng Bình Định tìm mua ở Sài Gòn rất khó, vì không thấy bán ở các chợ, chỉ gặp tại một vài nơi ngoại ô hẻo lánh; người Bình Định có những bữa ăn dùng toàn bánh tráng thay cơm, cho nên bánh tráng ở đây có địa vị quan trọng hơn ở các địa phương khác. Đi xa, người Bình Định nhớ bánh tráng như người Việt sang Âu châu nhớ cơm, nhớ bánh cuốn. Như thế có phải vì bánh tráng từng là lương khô dùng trong quân đội Nguyễn Huệ, xuất phát từ Bình Định?

Món ăn còn quan hệ với lịch sử theo cách khác. Thiết nghĩ người Việt Nam đời Trần dùng món thịt cầy không đối diện với dĩa rau thơm giống dĩa rau thơm chúng ta có trước mặt ngày nay. Không phải đột nhiên tự lúc đầu lá mơ đã đi với thịt cầy, rau om đã tìm đến thịt cầy. Tôi chắc thế. Các đấng tổ tiên phải có một thời kỳ mò mẫm, thí nghiệm; có thể các ngài đã thử dùng lá chanh và rau răm ăn với thịt heo chẳng hạn, dùng rau om với thịt gà, dùng lá lốt với thịt cầy chẳng hạn v.v… Cả tập thể tham gia vào cuộc tuyển trạch, mọi người đều có quyền tự do khen chê. Những cái không thích hợp dần dà bị đào thải, các lầm lẫn được sửa chữa, các thiếu sót được bổ túc. Cứ thế, từ thế kỷ nọ sang thế kỷ kia, hết thế hệ này đến thế hệ khác kế tiếp nhau canh tân, rốt cuộc mới đến chỗ toàn mỹ.

Nhưng đã toàn mỹ chưa? Chưa chắc. Hôm nay ta nhắm nháp chả cá, lấy làm đắc ý và hãnh diện về nghệ thuật nấu nướng của dân tộc; tam bách dư niên hậu, có thể cách ấy sẽ bị xem là quá thô sơ. Trước đây năm bảy thế hệ, trên mâm chả cá có thể thiếu thìa là, có thể thiếu chén đậu phụng rang, mắm tôm có thể thiếu giọt cà cuống… Sau đây năm bảy thế hệ người Việt nữa, ai ngờ được sẽ xảy ra thêm những phát kiến gì mới?

Một món ăn, nó cần có thời gian để tự cải tiến; mỗi địa phương cần có thời gian để hoàn thiện các món ăn của mình. Lâm Ngữ Đường chê bai món ăn Tây phương nghèo nàn: nó nghèo nàn như vậy phải chăng vì lịch sử văn minh của Tây phương ngắn ngủi hơn của Trung Hoa? Lịch sử dần dà làm phát triển văn chương, khoa học; nó cũng làm phát triển các món ăn nữa. Nhưng trong khi các kế hoạch gia hy vọng đốt giai đoạn để sản xuất gấp bom nguyên tử, không ai đốt được giai đoạn để cải thiện món phó-mát, để sản xuất gấp một thứ phó-mát mới ngon hơn các thứ cũ. Nghệ thuật khoan thai đủng đỉnh hơn khoa học; nó không chịu sự thúc bách giục giã. Phải chờ đợi. Phải có thời gian cho nó.

Sự hình thành của một món ăn cũng như của một câu ca dao, của một điệu dân ca. Ấy là những công trình tập thể, trong đó mỗi cá nhân đều có sự đóng góp. Thật dân chủ, bình đẳng: mỗi người một lá phiếu. Lá phiếu ở đây là cái lưỡi. Và sự chọn lựa của mỗi người không có lý do gì để thiếu chân thành. Mỗi người chọn lựa bằng cả các tạng phủ của mình, bằng tất cả các đặc điểm thể chất của mình, để cùng nhau đi đến cái kết quả chung trong đó mỗi người của địa phương đều có trách nhiệm: người Huế tìm ra cái hay ho của ruốc, người Nam thấm thía ý vị của nước cốt dừa v.v… Tại sao vậy? Người ta không tìm được câu trả lời dễ dàng. Sự chọn lựa ấy, căn nguyên của nó bắt nguồn từ những cội rễ nào thâm thiết sâu xa trong kiến trúc sinh lý của con người mỗi nơi. Người của mỗi địa phương có một cá tính riêng về tâm lý: có nơi hào hùng, có nơi keo kiệt, có nơi ưu du nhàn dật… Mỗi địa phương cũng có thể có một cá tính sinh lý chăng? Sự dị biệt trong thứ cá tính ấy hẳn là mong manh, tế nhị, tinh vi lắm; khó lòng mà biện biệt phân minh. Tuy nhiên rõ ràng nó đã nêu ra những đòi hỏi khác nhau, những sở thích khác nhau.

Như vậy người ta không chỉ ăn bằng mồm. Con người ăn là ăn bằng cả gốc gác quê hương, bằng phong tục tập quán của mình, bằng cái khí chất riêng biệt của cơ thể mình, cũng như bằng lịch sử, bằng trình độ văn hóa của xứ sở mình. Trong một dĩa đồ ăn, có phản ảnh của khí hậu một miền, của những đặc điểm sinh lý con người địa phương… Và giả sử nói có cả phản ảnh của một phần nào những đặc điểm tâm hồn trong đó có quá chăng? Cái vị ngọt rất thanh của các thứ chè ở Huế gợi nhớ đến nét dịu dàng trong giọng nói và trong tính tình người Huế. Nhất là nếu so sánh thứ nước chấm pha chế rất dịu ở Thừa Thiên với thứ nước mắm thường dùng giữa khoảng đèo Hải Vân cho đến đèo Đại Lãnh, người ta không khỏi nghĩ đến cái tâm lý xẳng xớm bộc trực của người dân Việt từ Quảng Nam Quảng Ngãi trở vào…

Từ chút nước mắm chấm rau chấm thịt mà nói đến tâm hồn con người, e đã quá xa. Tưởng không nên tiếp tục chuyện ăn uống nữa, nếu không muốn lạc vào chỗ viển vông lố bịch.

Nhưng văn chương nghệ thuật lại cũng không khác cái ăn là mấy. Ca dao, dân ca là sản phẩm của một địa phương; và thưởng thức đến tận cùng cái hay ho của nó hình như cũng chỉ có thể là người của địa phương. Nghe một điệu ru à ơi trong đêm khuya chúng ta rung cảm thấm thía đến đáy lòng, tưởng trên thế giới khó có một giống dân nào nghe điệu hát ấy mà cùng có được cái rung động của chúng ta. Họ có nghe chăng bất quá là nghe bằng lỗ tai thẩm âm tinh tế; còn chúng ta nghe bằng cả quãng đời thơ ấu của riêng mình, bằng truyền thống của dân tộc mà mỗi chúng ta thừa tiếp nơi mình…

Hiểu một câu ca dao, một bài thơ cũng vậy. Ngôn ngữ dùng để làm ra thơ văn không thể là cái ngôn ngữ chỉ có nghĩa mà thôi. Tiếng Espéranto không có hy vọng dùng vào thi ca. Nó chỉ có nghĩa, nó không có hồn.

Hồn của ngôn ngữ là cái quái gì?
Mỗi tiếng nói: non sông, ruột thịt, xanh, vàng v.v…, ngoài cái nghĩa nó ra, còn có khả năng khơi động nơi mỗi chúng ta một rung cảm nào đó. Liên quan giữa rung cảm nọ với ý nghĩa của mỗi tiếng nói thật xa xôi mơ hồ. Bởi vì cùng một tiếng có một nghĩa nhất định, lại có thể gợi lên những xúc động khác nhau tùy mỗi người, mỗi dân tộc. Cái nội dung tình cảm mơ hồ nọ do cuộc sống của tập thể gửi vào ngôn ngữ. Có dự vào cuộc sống của tập thể nào mới cảm thông với cái hồn của ngôn ngữ nấy. Chủ trương thơ thuần túy chính căn cứ vào sức tác động bí ẩn của ngôn ngữ, chứ không phải vào ý nghĩa minh bạch của nó; bởi vậy cái hay mà thơ thuần túy nhằm đạt tới là ở ngoài phạm vi ý nghĩa. Và như thế một kẻ trí thức ngoại quốc, sống ngoài cộng đồng dân tộc Pháp, một kẻ mà những buồn vui sướng khổ trong đời không liên hệ gì đến tiếng nói Pháp, mà hàng ngày những tai nghe mắt thấy cùng xúc cảm trong lòng không dính líu gì đến tiếng nói Pháp…, một kẻ như thế có thể thưởng thức được gì ở thơ Valéry, Mallarmé? có thể thưởng thức sao được như một người Pháp?

Cũng như ăn không chỉ bằng mồm, người đọc không chỉ đọc bằng khối óc suy xét. Người ta thưởng thức cái đẹp của một văn phẩm nước nào bằng cả cái kinh nghiệm chung chạ cùng tiếng nói nước ấy, bằng cả sự gần gũi với nếp sống đã từng phát sinh và không ngớt bồi đắp cái tiếng nói ấy… Nếp sinh hoạt nọ đã thổi sinh khí vào ngôn ngữ kia, làm sao hiểu hết một công trình mỹ thuật xây dựng trên ngôn ngữ kia mà không cần biết đến nếp sinh hoạt nọ?

Nguyên một tiếng nói để sử dụng đã thế, những công trình xây dựng bằng tiếng nói ấy lại còn mang thêm nhiều nét cá tính của từng xứ sở, từng dân tộc. Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner là một tuyệt phẩm của Mỹ. Con người Việt Nam chúng ta biết tìm ở chỗ xó xỉnh nào trong tâm hồn mình cho ra cái “cuồng nộ” tương tự? Sách đọc mà thực tình thấy khoái là khi nào người đọc cảm thấy giữa mình với tác giả có chỗ đồng thanh đồng khí. Đàng này cái “cuồng nộ” nọ chỉ làm ta kinh ngạc.

Người Mỹ, qua các nhân vật của Steinbeck, của Hemingway, của Caldwell v.v…, thấy quả thấp thoáng họ có cái bạo liệt dữ tợn riêng. Những anh chàng mê say vuốt lông chuột, ham đấm đá, đấu bò rừng, những ông cha trông thấy đứa con trai độc nhất vừa tự tử chết lại tiến đến bắn thêm cho nó một phát vào đầu, trông thấy thằng rể da đỏ liền quạt cho nó một loạt đạn dưới chân v.v…, những nhân vật ấy đã mang sẵn ít nhiều cuồng nộ nơi mình; tâm hồn của họ tương ứng với nhau. Gặp nhau họ thích thú, họ khoái trá. Còn chúng ta, không phải là cá mà đòi vui cái vui của cá sao được! Trái lại, một vài tác giả Việt Nam như Nguyễn Tuân chẳng hạn làm sao được thưởng thức ở một dân tộc hiếu động? Nguyễn Tuân tiền chiến có cái ề à dềnh dang, chuyển ra ngoại ngữ có lẽ là vô duyên mà đối với chúng ta thì là hấp dẫn. Bút pháp ấy biểu hiện một phong thái đặc biệt, quen thuộc ở một lớp người trong xã hội ta, nhắc nhở đến nếp sống của dân tộc ta trong một thời đã qua; ta thấy nó đẹp, người ngoài có thể chỉ thấy là lạ, nếu không là kỳ cục.

Như vậy bảo rằng nhân loại giống nhau quả có giống, nhưng chú ý đến chỗ khác nhau thì cái khác cũng sâu xa lắm lắm.Hơn ba mươi năm trước, khi những cuốn truyện của Pearl S. Buck ra đời, Âu Mỹ lấy làm ngạc nhiên. Trong bài tựa cuốn Người mẹ, Louis Gillet cho rằng Pearl Buck đã trình bày được chỗ lạ lùng nhất của người Tàu, ấy là họ rất giống người Âu Mỹ.

Xưa kia, phương tiện giao thông hiếm hoi, xứ xứ cách nhau, người người xa nhau, vì vậy dân Tàu cho dân Âu là quỉ, dân Âu cho dân Tàu cổ quái: tục lệ kỳ dị, ăn mặc lố lăng, ngôn ngữ líu lo. Cái bề ngoài dị biệt làm cho các dân tộc không hiểu nhau. Sau bước đầu tiên kết thân, người ta thở ra nhẹ nhõm: Thì ra Tàu với Tây cùng là người cả, không ai là quỉ. Cũng hỉ, nộ, ai, lạc… Giống nhau đáo để! Hay nhỉ.

Nhưng rồi gần gũi lâu dài hơn chút nữa, đi sâu vào các hỉ nộ ai lạc ấy, mới lại thấy muôn vàn khía cạnh khác nhau.
Như thế có một thời kỳ để chúng ta phát giác ra chỗ giống, và một thời kỳ nữa để nhận định ra các chỗ khác của nhau.
Một cuốn sách về cơ học, dịch ra tiếng nước nào cũng hiểu được cùng một cách; nhưng một tác phẩm văn nghệ phải tìm đến những tâm hồn đồng điệu. Bạn đồng điệu, tôi ngờ rằng không thể cách ta quá xa trong không gian.

Thỉnh thoảng gặp những người không thích ứng được với những món ăn của đồng bào khác địa phương ở ngay trong nước mình, mà lại tiếp đón niềm nở tấm tắc ngợi khen ngay các hình thức văn nghệ mới lạ từ xa đến, các trường hợp đó đôi khi đáng ngờ.Cơ thể chọn món ăn riêng cho nó và có những yêu ghét rõ rệt; tâm hồn chọn cái đọc lại dễ dàng hơn sao?

VÕ PHIẾN

Nguồn: Tạp chí Tân Văn số 4. — Xuất bản trong cuốn Tạp luận năm 1973, tại Sài Gòn.

Bên trời

tranngochuong

Anh về, mắc võng hiên trưa,
Phả hồn quán xá cho vừa yêu nhau.
Làm sao anh ở được lâu,
Lần này, lại có lần sau, cõi tình …

Đợi em rũ áo thị thành,
Trái mơ hồng vấp vào anh nồng nàn.
Mùi hương chín tới giòn tan,
Ru anh thức ngủ bàng hoàng ngực thơm.

Chảy dòng sữa ấm tận hồn,
Hoa vườn nhụy ngọt môi hôn phiêu bồng
Mang mang thiên địa mù không,
Chập chờn khoảnh khắc tình nồng men say.

Chung nhau ấm chén rượu đầy,
Thả hồn vút cánh thơ bay tận trời.
Vẻ ngon ngon đọng vành môi,
Vẳng trong tâm thức muôn lời hoan ca.

Tạm rời nhau giữa chiều tà,
Anh còn thơm đọng hoàng hoa chén mời.
Một lần, lại một lần trôi,
Thương hoài người đứng bên trời liêu xiêu.

Trần Ngọc Hưởng