nghe sương bay ngang sông

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

sáng thức giấc
chợt đời vui rất lạ
ta thì buồn
ô
một khúc tạp âm
em đâu nhỉ ? em đâu rồi
ờ mất
nhớ tiếng hát em khe suối chẩy thì thầm

ai đánh thức ta
ai lay vai gọi dậy
đôi bờ nào ni nớ đọc lời kinh
ai sám hối trong muôn nghìn tội lỗi
ta nhớ em
ôi
cơn nhớ
cũng một mình

sáng thức giấc đường hoa vàng lại nắng
bước chân đi khất thực biết về dâu
một câu hỏi
câu trả lời
ôi
lặng
bay như hoa trắng
dâu bể
trắng
phương nào …

Ngô Yên Thái

DỰ NGÔN BUỒN

nguyenlienchau

Gởi Hồ Trầm

Khi chia tay tình yêu
Những con đường ta qua lá không còn xanh nữa
Góc phố bụi mờ ảo ảnh nhân gian
Tiếng khóc lời cười tỉnh khô đưa đẩy
Vị cà-phê vô cảm đầu môi
Phù hoa phố nắng
Những chiếc xe băng qua ngã tư khói đen chờn vờn lởn vởn
Băng qua đời nhau tình oan khiên chín rụng những trái sầu
Khi chia tay tình yêu
Sóng cả cuồng ngông những huyền thoại trắng
Chúi nhủi dã tràng hồn cát tuột trơn
Lời dương đằng đẵng sân si
Người hụt hơi theo đuổi tay phao
Biển đen từ đấy
Khi chia tay tình yêu
Đồng rơm gốc khói cay mù xót
Vụ và mùa
Bình yên ai đong thương đau ai gặt
Dáng trâu buồn nhai lại rạ chiêm bao
Khi chia tay tình yêu
Núi trầm mặc niềm cô đơn truyền kiếp
Đá tảng tiên tri những mặc khải nguồn
Lũng thấp non cao
Ngó xuống nhìn lên đòng đòng chán ngán
Khi chia tay tình yêu
Tự tay mình cắt ba xẻ bảy
Phần vất vưởng phần đun đẩy
Bừa bộn tâm can
Ngỗn ngang lòng dạ
Gỡ kiếng ra chùi mắt
Đón buồn
Ti hí con ngươi biệt ly
Tia nhìn nhỏ nhen thân phận
Dọn dẹp thôi
Nỗi đau dọn dẹp lòng mình: nỗi sợ hãi duy nhất của đàn ông

NGUYỄN LIÊN CHÂU

CƯỠI NGỌN SẤM(9)

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 4: Nhiệm vụ cảm tử

Trung đội 1, Đại đội Lima, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 3 (3/3)
Vùng 1 Chiến Thuật, VNCH

Thứ Năm, ngày 2 tháng 3 năm 1967 4 giờ 30 chiều
Đối với các TQLC Hoa Kỳ thuộc Đại đội Lima 3/3 đã sống sót qua cái trận đánh không tên, mà chỉ được mệnh danh bằng một tọa độ mờ nhạt ở đâu đó trong khu rừng rậm phía Tây Bắc Đông Hà gần khu phi quân sự trong buổi sáng ngày 2/3/1967, thì đó là thời điểm đã xác định, đã đánh dấu, cũng như đã thử thách xem họ có đủ các đặc tính giúp họ vượt qua được tất cả những gì mà chiến tranh có thể giáng lên họ.

Vào khoảng 3 giờ chiều ngày 2/3/1967, Chuck Goggin, mới thăng cấp Hạ sĩ hai ngày trước đó vì nhu cầu chiến trường đã lên nắm quyền chỉ huy các chiến binh sống sót thuộc Trung đội 1 Đại đội Lima. Chưa đầy 13 tháng trước đó, Chuck Noggin chỉ là một thường dân, một lực sĩ trẻ đầy triển vọng đang sửa soạn vào đội ngoại hạng Liên đoàn bóng chày Mỹ. Là một trong một nhóm nhỏ các TQLC thực sự bị động viên trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Chuck đã được lên binh nhất trong khóa huấn luyện căn bản đã được rút ngắn lại chỉ còn tám tuần do đòi hỏi của chiến tranh. Tiếp theo những ngày gian khổ tại Parris Island là trường ITR, (Infantry Training Regiment – Trung đoàn Huấn Luyện Bộ Binh), tức một chương trình huấn luyện bốn tuần lễ dành cho các TQLC sửa soạn lên đường chiến đấu ngoài mặt trận. Vậy mà bây giờ anh đã nắm quyền chỉ huy sinh sát của những binh sĩ sống sót của Trung Đội 1 Đại đội Lima trong một trận đánh sống còn của đời anh.

Từ tháng 7 cho đến thượng tuần tháng 12/1966, Chuck là một chú lính quèn thuộc một trong ba Tiểu đội của Trung đội 1 Đại đội Lima. Thời gian đó đủ dài để biến đổi anh từ một người lính tò te trở thành một chiến binh dày dạn kinh nghiệm trong rừng rậm. Thời gian 5 tháng đó đã tạo cho anh cơ hội được tham dự chiến trận nhiều hơn là anh tưởng, cho anh chứng kiến quá nhiều đồng đội bị giết hay bị thương, và đã phát triển tình đồng đội của anh với các TQLC khác lên tới mức vượt qua tất cả những gì mà anh có thể thấy được ở bất cứ nơi đâu.

Thiếu úy John Bledsoe đã chú ý đến sự xông xáo và khả năng chỉ huy của Chuck Noggin nên đã chọn anh, lúc đó là Hạ sĩ, làm nhiệm vụ liên lạc truyền tin cho Trung đội vào đầu tháng 12. Vai trò truyền tin hết sức đặc biệt. Thông thường, kẻ địch luôn luôn nhắm bắn đầu tiên vào vị chỉ huy đơn vị, sau đó là binh lính chung quanh và nhân viên truyền tin. Cộng thêm vào chuyện trở thành mục tiêu của kẻ thù là cái thử thách phải đeo thêm khối nặng 30 cân Anh kể cả bộ pin dự bị của máy truyền tin AN/PRC-25’s (gọi là “prick 25

Nhiệm vụ truyền tin đòi hỏi phải luôn luôn đi sát như bóng và hình với sĩ quan chỉ huy mà anh phục vụ. Họ đi tới đâu thì phải theo sát tới đó. Khi truyền tin chưa cần phải gọi pháo binh, gọi không yểm hay di tản thương binh thì họ cần phải chú ý tiếp nhận lệnh lạc từ đơn vị trực tiếp cấp trên gọi xuống. Trong trường hợp Hạ sĩ Goggin thì đó chính là các mệnh lệnh từ Đại đội trưởng. Các Trung đội trưởng, Đại đội trưởng thường sống, ăn ngủ và chiến đấu bên cạnh các nhân viên truyền tin riết rồi trở thành đồng cảm với nhau. Cường độ của các trận giao tranh đã làm cho mối tương quan và nhu cầu sống còn phát triển mạnh mẽ đến mức một nhân viên truyền tin giỏi có thể đoán được ý xếp của mình để hành động trước và gần như biết hết những gì cần làm, phải yêu cầu cái gì và khi nào thì cần xin hỏa lực yểm trợ.

Cơ hội được quan sát thường xuyên các hoạt động của các sĩ quan đã từng được huấn luyện qua trường lớp, được chứng kiến sự phối hợp giữa các đơn vị yểm trợ với nhau để bảo đảm thành công, được thấy từng phần ăn khớp với nhau để kết thành một bức tranh toàn thể rộng lớn như thế không thể có được khi ở vị trí một binh sĩ bình thường. Một nhân viên truyền tin đặc biệt sáng suốt còn có thể học hỏi thêm khi quan sát các toán quân di hành, phải làm những gì để dẫn dắt một đơn vị chạm được địch và điều chỉnh pháo binh vào một mục tiêu di động. Nếu 5 tháng đầu tiên của chu kỳ nhiệm vụ tại Việt Nam là trình độ “cử nhân” về kỹ thuật chiến đấu thì Hạ sĩ Goggin đã bắt đầu chương trình “thạc sĩ” mà không cần phải trình luận án, kể từ cái ngày anh đeo vào vai cái máy truyền tin PRC-25. May mắn cho các binh sĩ của Trung đội 1 là Hạ sĩ Chuck Goggin đã chứng tỏ nhiều lần anh là một người học rất nhanh.

Không có gì bất thường cả, do cách mà những cá nhân được thuyên chuyển qua lại, bị thương hay thiệt mạng mà nhiều đơn vị được chỉ huy bằng những người mang cấp bậc thấp hơn là cấp số chức vụ. Chu kỳ nhiệm vụ của Thiếu úy Bledsoe với Đại đội Lima 3/3 đã chấm dứt vào tháng 12/1966. Vì thiếu sĩ quan cấp úy để nắm quyền Trung đội ngay tức khắc nên chức Trung đội trưởng rơi xuống viên Thượng sĩ của Trung đội 1. Thượng sĩ nhất Gerald Witkowski, lẽ đương nhiên được các TQLC gọi là “Thượng sĩ Ski”, đã đảm nhận nhiệm vụ Trung đội trưởng trong vòng chín đến mười tuần tiếp đó cho đến khi có một sĩ quan cấp úy khác đến thay. Thiếu úy Terry Heekin, mới tốt nghiệp trường Căn Bản Quantico rốt cuộc là người đến thay vị tiền nhiệm chỉ một vài ngày trước trận đụng độ của Đại đội Lima vào ngày 1 tháng 3/1967.

Trước kia, Chuck Goggin từng là cầu thủ bóng chày. So với đa số các đồng đội trong Trung đội 1 và Đại đội Lima, anh tương đối là một người lớn hơn hết với số tuổi gần hai mươi hai. Anh xong trung học tại trường Pompano Beach năm 1963 và là một ngôi sao trong đội bóng chày. Anh đã theo học một thời gian trong trường Đại học tại Florida trước khi được đội Los Angeles Dodgers chọn vào năm 1964. Trong hai năm trời anh chơi cho các đội hạng A của Dodgers, khởi đầu ở vị trí ngăn chặn với đội Salisbury Dodgers trong Liên đoàn West Carolina và sau đó giữ chân phòng thủ trong đội St. Petersburg Saints của Liên đoàn Tiểu bang Florida. Trong mùa đầu tiên anh đã bị chấn thương trặc gân chằng ở đầu gối trái, một dạng thương tích cần phải giải phẫu và đã để lại một vết thẹo lớn, một bệnh trạng có thể được hoãn dịch quân sự nếu anh muốn. Tuy nhiên đó không phải là cung cách sống của Chuck Goggin.

Ngoài những thời gian không sao kể siết phải canh điện đàm, đào hầm cá nhân, lội đường mòn trong rừng rậm, hay đánh nhau với thời tiết và quân Bắc Việt, thỉnh thoảng Hạ sĩ Goggin cũng có những giây phút xa hoa để ngẫm nghĩ về cái thế giới của bóng chày và đau lòng nhận ra là mọi chuyện vẫn trôi qua mà không cần sự có mặt của anh.

Vào khoảng thời gian Đại đội Lima bận luân chiến với các đơn vị Bắc Việt đang vô vọng cố tình muốn tiêu diệt họ bằng mọi giá thì các bạn thể thao cũ của Chuck chẳng hề quan tâm đến chuyện gì đang xảy ra tại phía Bắc Vùng 1 Chiến Thuật mà bắt đầu vào đợt tập dượt mùa Xuân. Họ chỉ lo có được tham gia đội hình hay không. Trong khi Đại đội Lima đang bị nung lửa gần khô cháy trong lò nung rừng rậm ẩm ướt của Việt Nam lại còn bị hạn chế nước uống nữa thì Goggin biết là nhóm bóng chày bạn cũ hằng đêm vẫn vui chơi với gái tơ có đầy dẫy tại xứ nắng ấm Florida.

Trong nỗ lực liên tục để truyền bá và huấn luyện các cấp chỉ huy, quân chủng TQLC Hoa Kỳ đã thành công trong việc nhấn mạnh các nguyên tắc về chỉ huy, đặc biệt là trong chiến đấu. Trong khi lớp học chỉ tập trung vào những khái niệm căn bản nhất và biến chúng thành các chữ tắt hay mẹo vặt cho dễ nhớ và làm bài tập thì thực tế ngoài đời thật khó khăn hơn rất nhiều. Khi tất cả các châm ngôn lãnh đạo, mà thường có vẻ như một trang cóp nhặt từ sách của Hướng đạo sinh được xào nấu cho hợp thực tế, thì mọi điều có thể được tóm lược là; người chỉ huy thành công là người biết chăm lo cho cả hai việc hoàn thành nhiệm vụ được giao phó và chăm lo cho binh sĩ của mình. Có một câu nói đùa đã lâu đời rằng điểm khác biệt duy nhất giữa Hướng đạo sinh và TQLC là ít nhất Hướng đạo sinh được người lớn đi theo dìu dắt. Nếu một cấp chỉ huy có thể kết hợp lại được tất cả các yếu tố phức tạp cần thiết để thi hành nhiệm vụ mà vẫn chăm sóc thực tình cho thuộc hạ thì cơ hội thành công rất cao. Hoàng đế Napoléon đã từng tuyên bố: “Các Trung đoàn không hề dở mà chỉ có các Đại tá kém.” Và có một người Pháp Dutourd vài năm sau Napoléon đã nhận xét tương tự với câu nói bất hủ: “Người lính không phải là những con sư tử hay con cừu. Chính người chỉ huy biến họ thành sư tử hay cừu.” Đại úy John Walter Ripley muốn bảo đảm rằng các TQLC của ông sẽ xung trận như những con sư tử. Mục đích của Ripley là Đại đội Lima sẽ trở thành đúng nghĩa của nó là chúa sơn lâm trong chốn rừng xanh.

Công việc xây dựng Đại đội Lima trong đầu viên Đại úy trẻ bao gồm nhiều việc hơn là những chuyện hiển nhiên, ngay cả đối với những người có nhiều kinh nghiệm. Không phải chỉ lo quân trang quân dụng là đủ mà có nhiều chuyện khác nữa phải làm. Những chuyện lắt nhắt. Hàng đống chuyện như thế. Từng chút một gộp lại sẽ hiệp lực trở thành hiện thực. Những chuyện như phái đầu bếp của Đại đội leo tận lên “đồi Đại đội” tại Cà Lũ còn hơn là giữ anh ta lại hậu tuyến để binh lính có nước nóng mà cạo râu, nấu súp và pha cà phê nóng. Những cái chuyện nói lên sự lo lắng mà người khác có thể cho rằng vô lý hay không thực tế. Nếu có ai đó ở hậu phương bảo Đại úy là “không” thì anh có cách để biến thành “có.” Trong lúc huấn luyện các TQLC của mình, trong số đó có nhiều người còn dồi dào kinh nghiệm chiến đấu hơn anh, Ripley đã mang những kiến thức học được ở trường Biệt Động Quân ra, cũng như nghề thám sát của mình trong thời gian phục vụ trong lực lượng thám báo. Anh luôn giữ vững những điểm căn bản nhất. Nếu trong dã cầu gọi là “chặn và húc” thì trong TQLC họ gọi là “di chuyển, bắn và liên lạc.” Nắm vững được những điều căn bản là bạn làm chủ được chiến trường.

Tất cả mọi thứ phải được diễn tập. Các TQLC đều thông suốt nhiệm vụ của mình và hầu hết phải biết nhiệm vụ của đồng đội để nếu trong trường hợp họ gục ngã thì anh có thể thay thế được. Khi hành quân chạm địch thì cả hơn hai trăm TQLC của Đại đội Lima đều di chuyển không để lại hình bóng, mọi liên lạc đều một trăm phần trăm thực hiện bằng thủ hiệu. Khi đụng trận, dĩ nhiên một số mệnh lệnh nào đó phải được tung ra trong sự hỗn loạn và gầm thét của chiến trường. Lúc xung trận các TQLC luôn luôn tin tưởng vào vị chỉ huy của mình. Điều này phát sinh không phải từ tình cảm cá nhân mà vì bản năng sinh tồn thì đúng hơn. Cấp chỉ huy giỏi không bao giờ thí quân của mình một cách điên rồ. Thêm vào các điều trên là niềm tin của binh sĩ Đại đội Lima đặt vào khả năng của Đại đội trưởng có thể gọi yểm trợ thật chính xác. Ngoài chuyện phải bận tâm về một loạt các chuyện mà một cấp chỉ huy ngoài chiến trường phải làm và tự giữ mình, chẳng hạn như tác phong quân cương quân kỷ của TQLC, và có lẽ quan trọng hơn cả là khả năng thực hiện giỏi các cuộc đổ bộ vào đất liền. Cộng vào đó là chuyện di tản thương binh khẩn cấp, gọi và điều chỉnh pháo binh, và nếu gần bờ biển thì gọi hải pháo, tất cả những điều kể trên chính là trình độ của Đại đội Lima đã thể hiện được trong bất kỳ lúc nào.

Phần lớn các bài học tại Trường Căn Bản chú trọng vào việc nắm vững các khía cạnh trong việc di hành địa hình. Các sĩ quan trẻ dành thật nhiều thời gian trong lớp học để xem lại những nguyên tắc căn bản và các điều thiết thực nhằm sử dụng bản đồ và địa bàn một cách đúng nhất. Từ trong lớp học ra đến ngoài trời họ phải khổ nhọc cố gắng di chuyển thật chính xác từ một điểm này đến một điểm kia, sử dụng tất cả khả năng và trau dồi các kinh nghiệm về địa hình của mình. Một số người bẩm sinh giỏi hơn những người khác, tương tự như ở bất cứ môi trường nào, nhưng việc nắm vững di hành địa hình đòi hỏi một sự tập trung và nỗ lực về đầu óc rất nhiều. Một trong những lỗi lầm lớn nhất của một sĩ quan non nớt có thể phạm vào, một cách chắc chắn nhất để phá tan niềm tin của Trung đội hay Đại đội là bị lạc hướng, nhất là nếu nơi ấy là Vùng I Chiến Thuật.

Một trong những chương trình truyền hình phổ biến trong thời kỳ đó là chương trình F. Troop. Bộ phim này chế diễu cả hai phía trong thời kỳ Viễn Tây của Hoa Kỳ trong đó lính kỵ binh Mỹ vụng về, đọ sức với mọi Da đỏ cũng vô dụng không kém. Bộ lạc da đỏ gọi là Hekawi có cái tật là hay đi lạc. Do đó cái câu mà Trung sĩ O’Rourke hay Hạ sĩ Agarn trong phim thường hỏi sau này đã trở thành nổi tiếng là: “Bọn Hekawi đâu rồi?” Lính TQLC nói chung không phải là kém văn hóa thành thử mỗi khi bị dắt đi lạc hướng, nếu tình hình chưa đến nỗi nguy kịch, họ thường hỏi cấp trên bằng câu hỏi ý nhị là: “Bọn chết tiệt Kawi đâu rồi?” Một sĩ quan TQLC không bao giờ muốn và cũng không thể trở thành là mục tiêu của cái câu nói đùa đó hoặc là thủ lãnh của một bộ lạc da đỏ như vậy.

Bẩy tuần trước ngày sinh nhật của mình, Thiếu úy Terry Gene Heekin từ Covina, California vừa mới tốt nghiệp khóa Căn Bản Quantico đến nhận nhiệm vụ tại Việt Nam. Được bổ nhiệm về Trung đội 1 Đại đội Lima vào hạ tuần tháng Hai, hoạt động đầu tiên đáng kể nhất của anh là tham gia chiến dịch bắt đầu vào ngày đầu tháng Ba năm 1967.

Áp lực đè lên các tân sĩ quan rất nặng nề. Vốn không được cơ hội thứ hai để gây cảm tưởng ban đầu, các sĩ quan mới ra lò đều biết là họ luôn bị các TQLC soi mói bằng kính hiển vi về khả năng chỉ huy của họ. Thật nhanh, các Trung đội trưởng chưa đủ kinh nghiệm và thử thách cần phải xây dựng lòng tin cậy và sự kính trọng của thuộc hạ, đồng thời phải mau chóng học hỏi nghệ thuật chiến đấu đầy khó khăn. Có vài sĩ quan trẻ, trong sự cố gắng thật tình để chứng tỏ bản thân, lại thường hành động quá độ hay áp dụng các điều quá bài bản sách vở.

Thông thường thì sự chuyển biến từ một người mới thành một người dầy dạn kinh nghiệm chiến trường chỉ đòi hỏi một ít thử thách không quan trọng lắm. Thiếu úy Terry Heekin ngay từ đầu đã có vẻ thuộc vào nhóm người này. Anh là một người thông minh, sâu sắc và đàn ông tính đủ để hỏi những câu hỏi đúng, biết dựa vào sự đánh giá của viên Trung sĩ Trung đội giàu kinh nghiệm cũng như tay truyền tin để học hỏi nhanh hơn ai hết.

“Lưỡi lê em chưa gãy!”

Khi Đại đội Lima cụ bị hành trang di chuyển vào sáng sớm ngày 1 tháng Ba năm 1967, Đại úy Ripley chỉ định Trung đội 1 đi tiên phong. Trên đường tiến công chạm địch, đặc biệt là trong môi trường rừng rậm, những binh sĩ dẫn đầu hầu như luôn luôn bị đụng độ hay bị lọt vào ổ phục kích trước khi phần còn lại của đơn vị tới được chỗ giao tranh. Do đó những khinh binh và đơn vị trinh sát có một nhiệm vụ đặc biệt phải cảnh giác đề phòng các dấu hiệu chứng tỏ sự hoạt động và hiện diện của kẻ địch, các mìn bẫy v.v… Toán tiên phong có thể chỉ cần một người, một toán trinh sát, hoặc một trung đội trinh sát hoạt động thật hữu hiệu để bảo đảm kẻ thù không thể sử dụng yếu tố bất ngờ đối với đại đơn vị đi phía sau.

Đại úy Ripley đã cho Trung đội 1 đi đầu vì nhiều lý do. Ngoài chuyện đã đến phiên họ và mức độ đe dọa khá cao, đi trinh sát cũng là một dịp học hỏi cho Thiếu úy Heekin để hòa nhập nhanh hơn. Và mặc dù Heekin là một Trung đội trưởng chưa dày dạn lắm nhưng Đại úy Ripley tin tưởng đã có Thượng sĩ Trung đội và các Tiểu đội trưởng mà kinh nghiệm và sự phán đoán có thể bù đắp phần nào cho sự non nớt của viên Thiếu úy.

Cách di chuyển đúng và hiệu quả nhất theo dọc các đưòng mòn trong rừng rậm, đối với một Đại đội bộ binh trang bị đầy đủ trên đường chạm địch không phải là chuyện dễ dàng. Cho dù mọi chuyện suôn sẻ, mà thường thì hiếm khi như vậy, việc duy trì sự tập trung và định hướng cho chính xác đòi hỏi khả năng chỉ huy tối đa từ Đại úy Ripley xuống cho đến từng chiến sĩ một.

Đại đội Lima được chuyển vận bằng xe vận tải qua hướng Đông trên đường số 9 từ một căn cứ hỏa lực gọi là Rockpile đến một điểm xuống xe đâu đó giữa căn cứ và thị xã Đông Hà. Tại đó thì họ bắt đầu hành quân. Hầu hết binh lính đã bắt đầu vã mồ hôi đầm đìa khi Đại đội di chuyển hơi gấp gáp, nhưng rồi nhịp độ của cuộc di hành đã được điều chỉnh lại. Có vẻ sẽ lại là một ngày vất vả nữa, họ đoán vậy và vẫn còn nhiều giờ nữa trước khi mặt trời nóng cực điểm.

Khi buổi sáng trôi qua và họ chậm chạp tiến lên hướng Bắc, cánh rừng bắt đầu dày lên và các ngọn đồi dần dốc lên nhiều hơn. Một vài tiếng đồng hồ trước ngọ Đại đội Lima có đụng nhẹ với một đơn vị Bắc Việt không rõ bao nhiêu tại một ngã rẽ của con đường mòn mà kết quả lạ lùng thay là không có nổ súng hay thương vong nào cả. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, trong lúc Trung đội 1 còn đi trinh sát, với Binh nhất Taylor đi trước cách đơn vị vào khoảng 20 thước. Ngay lúc anh vượt qua đỉnh đồi với triền đồi bên kia có nhiều trảng trống và trong lúc anh đang tìm cách leo theo đường mòn xuống đáy một khe núi có rừng phủ dầy đặc thì một loạt đạn nổ ra. Bị bất ngờ, Taylor trúng đạn vào chân và ngã xuống.

Toán còn lại của Trung đội 1 còn chưa lên đến đỉnh đồi. Ngay tức khắc, không một lời nói hay chỉ thị của Trung đội trưởng hay Tiểu đội trưởng, mọi người tản ra theo hàng ngang thẳng góc với hướng di chuyển, một nửa bên trái và một nửa bên mặt. Hạ sĩ Goggin băng qua đồi theo Taylor và mang anh về tuyến phòng thủ mới do các TQLC Trung đội 1 mau mắn dựng lên.

Ngay trước khi Hạ sĩ Goggin kéo Binh nhất Taylor về được chỗ an toàn thì TQLC bắt đầu bắn trả đũa, dù chưa biết được tiếng súng kẻ thù từ đâu tới. Bụi cây và cỏ dại trong cánh rừng cao gần ngang đầu gối và các TQLC cúi sát đất chỉ có thể bắn trả theo tiếng súng vì không thấy được mục tiêu bị che khuất. Qua cường độ hỏa lực, họ đoán là kẻ địch có ít nhất hai khẩu liên thanh đang nhả đạn về phía họ. Tuy nhiên đạn đối phương chỉ có hiệu quả làm cho các TQLC không tiến lên phía trước được mà thôi.

Đàng sau lằn lửa của Trung đội 1, phần còn lại của Đại đội Lima tản ra dọc đường mòn, mọi người núp xuống ở tư thế phòng thủ, súng chĩa ra đàng trước và sẵn sàng nhả đạn. Trong vòng vài giây đồng hồ sau loạt súng liên thanh đầu tiên của địch nổ ra, Đại úy Ripley lập tức gọi truyền tin yêu cầu Trung đội 1 báo cáo tình hình. Sau khi kéo Binh nhất Taylor về xong thì Hạ sĩ Goggin chụp máy truyền tin trả lời viên chỉ huy.

Đại đội TQLC ra trận với ba Trung đội bộ binh và một Trung đội vũ khí. Với quân số tương đương một Trung đội thường, Trung đội vũ khí là “pháo binh riêng” của Đại đội trưởng và là hỏa lực nặng cơ hữu của đơn vị. Trung đội vũ khí được trang bị hai loại vũ khí chính là một số toán sử dụng đại liên M-60 còn một toán khác thì sử dụng bích kích pháo 60 ly, thường là 3 khẩu. Phải khiêng súng cối cùng với hạ bàn và đồ phụ tùng lỉnh kỉnh ra chiến trường thật khổ nhưng trong những tình huống mà Đại đội Lima đang gặp phải ngay lúc này thì lại rất hữu ích. Với tầm hữu ích tối đa khoảng 800 thước, khả năng bắn cầu vồng với góc độ cao (mà không cần trông thấy mục tiêu), súng cối có thể được đặt thật gần với mục tiêu giống như kẻ địch đang ở ngay bên ngoài bờ phòng thủ vậy. Súng bích kích pháo thật sự là vật cứu sinh cho đến khi hỏa lực yểm trợ thứ thiệt có thể được mang tới.

Ngay lúc tiếng súng ở tuyến đầu nổ ra là không cần phải đợi có lệnh, đội súng cối bắt đầu dàn đội hình. Theo bản năng họ biết ngay chuyện gì sắp tới. Những quả đạn được truyền tay nhau giữa các binh sĩ cũng vui vẻ được cởi bớt gánh nặng phụ trội đeo trên vai. (Đạn súng cối và súng liên thanh thường được chia ra cho tất cả mọi người trong đơn vị phải đeo theo).

Có một thủ tục và thông lệ nhất định cho TQLC trong công việc liên lạc truyền tin. Trong giao tranh, thủ tục này thường phải được tuân theo với hiệu ứng thích hợp. Mỗi đơn vị có một tần số và mật hiệu được thay đổi hàng ngày nhằm tránh kẻ địch nghe lén và nhận diện được ai đang gọi. Để giảm thiểu thời gian phát sóng, các cuộc điện đàm phải thật ngắn. TQLC có lý do chính đáng để làm chuyện này. Quân đội Bắc Việt có khả năng tìm mục tiêu rất nhanh và cho phép họ điều chỉnh pháo binh vào vị trí phát sóng của đối phương trong một khoảnh khắc cấp kỳ. Cho đến năm 1967 TQLC Hoa Kỳ đã thấm thía điều này đủ để giả định rằng phần lớn các cuộc điện đàm của họ đã bị địch nghe lén được.

Trong lúc gọi điện qua lại bình thường trong phạm vi đơn vị, người chỉ huy được mệnh danh là “anh Sáu.” Đại úy Ripley do đó là “Lima Sáu.” Khi Ripley gọi đi hay nhận điện thì tự xưng hay được gọi là “Đích thân Lima Sáu” hoặc “Đích thân Sáu” cho ngắn gọn. Mỗi Trung đội trưởng được nhận dạng qua một con số và chữ “Đích thân” phía sau. Trung đội 1 như vậy là “Lima Một,” và Trung đội trưởng là “Lima Một đích thân,” Trung đội 2 là “Lima Hai,” và Trung đội trưởng là “Lima Hai đích thân,” v.v… Tuy khó tin là quân Bắc Việt có thể bị lừa bởi chuyện này nhưng đó vẫn là một thủ tục tốt hơn là gọi thẳng tên ra.

Trung đội 1 lúc này tiếp tục tưới đạn về hướng bìa rừng dưới chân đồi. Qua nhận định tình hình chung được báo cáo từ Hạ sĩ Goggin, Đại úy Ripley ra lệnh đội súng cối nã đạn, hi vọng là chỉ một loạt ba quả là có thể làm tắt tiếng súng địch thủ. Trong lúc đó thì một TQLC của Trung đội 1 bực mình vì không thấy mục tiêu bèn nhổm lên để bắn. Bạn bè gọi anh là “Vịt Cồ Baby Huey” do cái tướng đồ sộ và sức lực phi thường. Tuy nhiên anh chỉ nhả được vài phát đạn thì bị địch bắn thủng cho một lỗ ngay trên ngực. Có lẽ chính cái kích thước khổng lồ của mình đã cứu mạng anh ngày hôm đó nhưng anh đã trở thành người thứ hai của Trung đội 1 bị thương trong buổi xế trưa hôm đó.

Sau loạt đạn bích kích pháo bắn rào đầu tiên, binh sĩ của Trung đội 1 thất vọng là quân Bắc Việt tiếp tục bắn xối xả tuy không chính xác nhưng với hỏa lực tương đối lớn. Trong vài phút đồng hồ tiếp theo, Trung đội 1 duy trì bắn trả nhưng cầm chừng hơn để tiết kiệm đạn dược.

Ở phía sau trên đường mòn, Đại úy John Walter Ripley cùng thành phần còn lại của Đại đội Lima bắt đầu hết kiên nhẫn. Với lòng tự tin tuyệt đối và có lẽ hơi lỗi thời một chút, Ripley tiếp tục đích thân gọi điện đàm. Quân Bắc Việt bắt đầu làm ông bực mình vì đã cản trở bước tiến của lính ông. Lúc này trực thăng cứu thương đang bay tới để di tản Taylor và Vịt Cồ Baby Huey. Quyết định tiếp theo của Ripley đòi hỏi truyền tin của Trung đội 1 phải tròn xoe mắt.

Đại úy Ripley gọi Trung đội 1 trên mạng của Đại đội: “Gọi đích thân Một tới đây.” Lúc này Thiếu úy Heekin đang bận chỉ huy binh sĩ như nhiệm vụ anh phải làm như vậy. Tiếng súng bắn mỗi lần chạm địch ở đâu cũng vậy thật là điếc tai.

Hạ sĩ Goggin trả lời Đại úy: “Đích thân Một khá bận, xếp.” Lúc này gọi điện đàm cũng rất cực nhọc.

“Tôi muốn anh chuyển lệnh này lại cho đích thân Một.” Ngưng một chút. “Tôi ra lệnh cắm lưỡi lê lên súng.”
Hạ sĩ Goggin không thể nào tin được tai mình mới nghe cái gì. Anh hy vọng nghe lộn hay nhiễu loạn cách nào đó trong cuộc điện đàm. Ngạc nhiên, anh hỏi lại: “Đích thân Sáu, nói lại câu chót.”

Đại úy Ripley khẳng định:

“Gắn lưỡi lê vào. Tôi sẽ bắn dọn đường một loạt súng cối. Xong phát cuối, đứng dậy xung phong. Gắn lưỡi lê vào.”
Vẫn còn choáng váng bởi cái lệnh, Hạ sĩ Goggin bò lại hướng Thiếu úy Heekin đang chỉ huy tuyến trước. Thiếu úy Heekin biết đúng ngay là Đại đội trưởng đang phát lệnh cho anh. Khi thấy Goggin trườn đến gần vừa đủ để có thể hét lớn hơn là tiếng đạn, anh hỏi: “Ổng muốn cái gì?”

“Thiếu úy, ổng muốn lên lưỡi lê và xung phong.”
Không chần chừ, Thiếu úy Heekin yêu cầu:

“Hỏi lại coi.”
“Em hỏi rồi, Thiếu úy.”
Sau đó Hạ sĩ Goggin giải thích kế hoạch do Đại úy Ripley chỉ thị. Hạ sĩ Goggin đề nghị với Thiếu úy Heekin:

“Thiếu úy truyền lệnh bên trái, để em nhắn bên phải nhe?”
Cả hai thầy trò chỉ trang bị súng lục.

Trong cảnh ồn ào, la hét và hỗn loạn, thật khó mà ra lệnh lạc. Do đó lệnh phải được truyền dọc theo tuyến phòng thủ cho từng người một. Ngay bên tay mặt Goggin là một tay lính trẻ từ Louisana đang say sưa chiến đấu, tập trung vào địch ở dưới chân đồi. Mặc dù anh chàng chắc không học trường Harvard hay sẽ chẳng được học tại đó sau khi mãn hạn nhưng đã chứng tỏ là một tay súng cừ khôi. Anh mải bắn nên không nghe Goggin hét ra lệnh. Sau cùng hạ sĩ Goggin phải dùng báng súng lục gõ lên nón sắt hắn để gây chú ý. Mặt sát mặt chỉ cách nhau vài phân, Goggin thét lên,

“Gắn lưỡi lê!” (Fix bayonets! – Trong tiếng Anh, fix còn có nghĩa là sửa chữa.)
Tay TQLC trẻ ngẩn ngơ một chốc để ngẫm nghĩ về cái lệnh, cố gắng hiểu những điều có vẻ hoàn toàn vô lý đối với anh ta, rồi trả lời một cách thành thực:

“Lưỡi lê em đâu có bị gãy!” Tạm dừng.
“Bố cắm cái lưỡi lê vào đầu súng cho con đi!!!”
và Hạ sĩ Goggin ra hiệu cho hắn.

Lệnh được chuyền từ TQLC này đến TQLC kia và sau đó những người còn lại thấy chuyện gì sắp xảy ra nên làm theo. Chẳng hề có tình cảm lãng mạn gì trong cái lệnh này. Cũng chẳng có hào quang Holywood chói sáng hay kèn trống gì ráo. Tiếng bập của kim loại khi lưỡi lê được gắn vào đầu họng súng không thể nghe thấy được trong tiếng súng bắn nhau. Không ai biết thời gian trôi qua bao lâu. Có lẽ khoảng một phút thì tất cả Trung đội 1 gắn xong lưỡi lê. Thiếu úy Heekin liếc nhìn tay truyền tin. Vì là ma mới nên Heekin hỏi một cách thực thà:

“Hạ sĩ Goggin, có bao giờ chúng ta làm chuyện này chưa?”
“Thưa Thiếu úy, em nghĩ là chưa hề có chuyện này kể từ thời nội chiến Hoa Kỳ.”
Đúng lúc đó thì Đại úy Ripley gọi tới qua truyền tin:

“Sẵn sàng cả chưa?”
“Xong rồi!”
“Chờ đó.”
Ngay tức thời tiếng đề pa thật nhanh và tiếng nổ của hàng loạt đạn 60 ly từ 100 mét phía sau bắn tới tấp qua đầu.

Chỉ một khoảnh khắc ngắn sau đó, tiếng Đại úy Ripley vang lên qua tần số truyền tin:

“Xung phong.”
Đầu tiên cả Trung đội 1 đồng loạt đúng dậy không chừa một ai. Khoảng đâu chừng 40 TQLC còn lại dàn hàng ngang. Mọi người đều căng thẳng khô đắng cả miệng nhưng vì lý do nào đó, dường như được kích thích bởi cái táo bạo tuyệt đối của hành động đó, họ chủ đích xông nhanh lên phía trước. Và họ cũng bắt đầu la hét chửi bới như những gã điên. Tiếng hét của kẻ khởi loạn. Tiếng hét đầy sắt máu. Giống như những người đã từng đi theo Stonewall Jackson và Jeb Stuart. Ngày nay trong khu rừng rậm bị bỏ quên của Việt Nam một trăm năm sau lại có một tay Virginia điên như chó dại ra lệnh thuộc hạ lên lưỡi lê và xung phong. Tưởng chừng như họ nhào vào họng súng sát thủ của súng liên thanh quân đội Bắc Việt. Nhưng khi họ tới cuối chân đồi thì không bị một phát đạn nào cả. Gần như là rơi vào hầm ngụy trang khéo léo của Bắc quân bỏ chạy mất tiêu, tất cả những gì họ thấy là hàng trăm và hàng trăm vỏ đạn. Và một vài vết máu. Với lượng adrenaline tiết ra trong máu ở những mức độ chưa từng thấy dù là đối với những người lính dày dặn nhất, cảm giác còn sống thật là dễ chịu. Thật là tốt.

Tiến lên mục tiêu kế tiếp

Tuy nhiên không có mấy thời gian để mà ăn mừng. Đây không phải là xi-nê. Phần còn lại của Đại đội Lima tiến lại. Đại úy Ripley và những người khác đánh giá tình hình. Các vết máu chứng tỏ ít nhất TQLC cũng “xơi được vài mống.” Cuộc di hành tiếp tục sau đó.

Đại đội Lima chưa đi mấy xa trên đường mòn thì phát giác ra thi thể của nhiều quân Bắc Việt hiển nhiên là đã bị giết trong trận đụng độ vừa qua. Rõ ràng là Đại đội Lima đang tiến vào, chứ không phải là rời xa, đất của “mọi da đỏ.” Họ đi thêm không đầy một cây số nữa thì Đại úy Ripley quyết định đóng quân lại và sửa soạn qua đêm. Ripley tìm được một vị trí khá tốt, được che chắn và khuất có thể tổ chức phòng thủ hữu hiệu. Các TQLC Đại đội Lima bắt đầu đào hầm trú ẩn.

Khi TQLC ngoài chiến trường cắm trại ban đêm thì những việc đầu tiên họ thực hiện đồng thời là chỉ định một ít ra ngoài vòng đai an ninh phòng thủ, đào hầm cá nhân và tổ chức các toán tuần tiễu gần chung quanh bộ chỉ huy nhằm bảo đảm là quân Bắc Việt không thể bất ngờ tấn công họ. Không thể không phòng bị được. Buổi tối hôm đó ngày 1 tháng Ba 1967 tương đối vô sự, giống như câu châm ngôn nói về sự yên lặng trước cơn giông vậy. Ít nhất các binh sĩ có dịp đổ đầy bình nước từ con suối gần đó và ăn tạm khẩu phần C-rations mà họ mang theo. Từ đầu cuộc hành quân sáng sớm trong ngày đến nay, Đại đội Lima vẫn chưa được tiếp tế. Đại úy Ripley ra lệnh đạn dược từ các Trung đội khác được san sẻ đều cho Trung đội 1 đã sử dụng một số lượng đáng kể trong trận đụng độ trước đó.

Với sinh mạng của hơn hai trăm TQLC trong tay, Đại úy Ripley cảm thấy bị áp lực khá nặng nề trong cái xứ “mọi da đỏ” này. Lúc này cả Đại đội đã được bố trí thành một vòng tròn phòng thủ khá chặt chẽ, các Trung đội trưởng và Tiểu đội trưởng ai công việc nấy, vị trí tọa độ đã được chuyển về tổng hành dinh cấp trên và sẵn sàng trong tay một hỏa lực pháo binh yểm trợ dồi dào chỉ đợi lệnh bắn, Đại úy Ripley đã sẵn sàng cho buổi đêm. Hoàn toàn sẵn sàng.

Đối với bất kỳ chiến sĩ nào, thật khó mà tưởng tượng nổi cái vũ trụ bên ngoài thế giới của họ lại có thể tiếp tục trôi qua nhưng mọi người đều biết điều đó đang xảy ra và họ biết ơn chuyện đó. Với Đại úy Ripley, cái thế giới bên ngoài của anh là Moline và Stephen. Với tất cả nghị lực có thể cố gắng được, anh gắng bỏ ra ngoài tâm trí để chỉ nghĩ về ngày thứ Tư 1 tháng 3, 1967 mà trên thực tế nó vẫn chưa đến tại quê nhà tại Alexandria, Virginia.

Vì giờ đi sau Việt Nam 11 tiếng, nên trong khi mỗi Tiểu đội của các Trung đội Lima đang âm thầm len lỏi trong bóng tối của rừng rậm để tuần tiễu bên ngoài vị trí Đại đội thì chắc Moline đang lo cho thằng bé Stephen, lau cho nó, cho nó ăn, tắm và dắt nó đi dạo trong chiếc xe đẩy hay chơi trong một công viên nào đó, hoặc làm bất cứ chuyện gì. Ripley cũng yên tâm khi biết rằng cô chị dâu Maureen, vợ của ông anh lớn George và ba đứa con gái của họ, đều lớn hơn Stephen, đang sống chung trong một chung cư tại Alexandria, phía Nam thủ đô Washington DC. Cả hai người chồng đều đang ở Việt Nam, Maureen và Moline đã trở nên thân cận với nhau hơn lúc nào hết. Và cũng không xa nơi đó lắm, chỉ chừng hai giờ lái xe, là Moline có thể sắp xếp để chạy xuống Radford nơi cả phụ mẫu của Moline, ông bà Blaylocks và cả bố mẹ của Ripley cũng đang cư ngụ. Về phía dòng họ Baylocks thì Stephen là đứa cháu ngoại đầu tiên và duy nhất. Khi nó về nhà thì luôn luôn là trọng tâm của mọi người. Ngay cả trong nhà Ripley, dù đã có vài đứa cháu nội còn lớn hơn Stephen, mẹ con nó luôn luôn được tiếp đón nồng nhiệt. John Ripley không phải lo lắng cho hai mẹ con nhiều lắm, anh chỉ thấy nhớ họ vô cùng.

Dù dễ chịu cách mấy khi nghĩ về Moline và Stephen, cái thực tại gần gũi nhất là trong phạm vi cái thế giới vài cây số vuông của Ripley có sự hiện diện của ít nhất hàng trăm, có thể là hàng ngàn lính chính quy Bắc Việt bằng xương bằng thịt như binh sĩ Lima, cũng lăm le chực tiêu diệt lẫn nhau. Anh luôn cần phải giữ cái quan điểm đó với khía cạnh của một chiến binh. Ripley cần phải tập trung tư tưởng để mà sống còn.

Một nơi nào đó phía Bắc con lộ số 9, hướng Tây của Đông Hà
Thứ Năm, ngày 2/3/1967
Khoảnh khắc nào đó khi mặt trời đã lên
Mặc dù theo lịch thì một ngày mới được xác định bằng mặt trời mọc, nhưng rất khó mà mường tượng ra được là một ngày trời đã trôi qua. Tỉnh giấc vào ngày thứ Năm, 2/3/1967 đối với các TQLC của Đại đội Lima, nếu họ có chợp mắt được chút nào, nó không giống như bất kỳ nơi nào khác ngoại trừ Vùng I Chiến Thuật.

Sống trong xứ của kẻ ác không có chuyện tạm ngưng đối với ngày hôm trước, đừng có mơ tưởng chuyện ngưng đấm đá cho đến khi Lima được rút ra khỏi chiến trường, mà chẳng biết đến bao giờ nữa. Ở ngoài đó, hoặc là họ bận chiến đấu, hồi phục sau trận đánh vừa qua, hoặc sửa soạn cho trận kế tiếp. Ngoài chuyện lúc nào cũng bẩn thỉu, ngoài chuyện lúc nào cũng mệt mỏi, lúc nào cũng đói khát và vã mồ hôi, còn có cái điều liên tục hiện diện là nỗi sợ hãi, sợ hãi một cách đơn điệu. Trong bụi cây cỏ không hề có chuyện tạm nghỉ, không có quảng cáo thương mại, không có chiếu lại cấp thời, không có giờ hạnh phúc, không có nghỉ cuối tuần; mà chỉ có cái chết và sự sống còn.

Mặc dù các biến cố trong ngày thứ Tư khá sôi động đối với Đại đội Lima 3/3, Đại úy Ripley và các TQLC của anh chỉ là một con ốc nhỏ trong một nỗ lực khổng lồ đang tiến hành trên toàn cõi Việt Nam. Chỉ riêng tại Vùng I Chiến Thuật, Tiểu đoàn mẹ của Lima được sự hỗ trợ của bốn Tiểu Đoàn TQLC Hoa Kỳ khác tại mặt trận. Yểm trợ trực tiếp cho năm Tiểu đoàn đó là toàn bộ Trung đoàn 12 pháo binh TQLC cùng với nhiều phi đoàn trực thăng và chiến đấu cơ cánh thẳng. Chuyên viên phân tích của tình báo tin tưởng rằng quân Bắc Việt có ít nhất bốn Sư đoàn hoạt động trong vùng. Nếu họ đánh giá đúng thì TQLC Hoa Kỳ sẽ vất vả để đối phó với tình thế đó.

Thông thường thì lính Mỹ rất thích hỏa lực áp đảo tại chỗ, đặc biệt là nếu hỏa lực không yểm được sử dụng tối đa, và nếu gần bờ biển đủ thì họ có thêm hải pháo thêm vào nữa. Trực thăng được sử dụng để chuyển vận binh sĩ và quân dụng khiến cho các cấp chỉ huy có nhiều phương tiện linh động vô tiền khoáng hậu. Hệ thống tiếp tế khá nhanh chóng khiến cho các chiến sĩ trên bộ tin tưởng là nếu họ có bị thương thì bằng mọi cách họ sẽ được tản thương cấp kỳ đến một bệnh viện gần nhất. Và nếu thực phẩm và đạn dược có sắp cạn thì chúng sẽ được tiếp vận ngay lập tức. Mặc dù vậy, kết quả của một trận giao tranh vẫn nằm trong tay một đám thanh niên thuộc cả hai phía thường chỉ là các thiếu niên chưa đầy hai mươi tuổi được chỉ huy bằng những người cũng chẳng già hơn bao nhiêu.

Lính Bắc Việt cũng không phải là không có những lợi thế tại địa phương. Họ hoạt động khá gần phần đất Bắc Việt và Hạ Lào nơi mà các nhánh phụ của con đường mòn Hồ Chí Minh giúp cho họ được tiếp tế dồi dào, mặc dù nỗ lực tiếp viện phần lớn là về nhân lực và công việc chuyển vận dựa vào sức người nhiều hơn là phía Hoa Kỳ phụ thuộc vào khoa học kỹ thuật. Thông thường thì lính Bắc Việt không bị trở ngại về tiếp vận tại Vùng I Chiến Thuật.

Có lẽ lợi điểm lớn nhất của Bắc Việt là lời tuyên bố công khai của chính sách Hoa Kỳ là các lực lượng bộ binh sẽ không xâm phạm biên giới Lào hay Bắc Việt. Điều này đã giúp cho Bắc Việt giải phóng được vô số binh lính cần thiết để bảo vệ các mật khu, kho tàng tiếp vận, vị trí pháo binh nếu phải lo lắng các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH có thể tấn công qua. Sự hạn chế tự áp đặt này về chính trị đã nhường thế chủ động chiến lược ngoài chiến trường cho quân địch.

Chiến thương bội tinh và Anh dũng bội tinh
Các tiêu chuẩn trong việc trao tặng các huy chương về lòng dũng cảm – Bảo Quốc Huân Chương, Hải Quân bội tinh (Phía Quân đội trao tặng Lục Quân bội tinh và Không quân thì trao tặng Không Lực bội tinh), Anh Dũng bội tinh với ngôi sao bạc, Anh Dũng bội tinh với ngôi sao đồng – được đi kèm theo các điều hướng dẫn của Quân chủng TQLC.

Việc báo cáo nhằm trao tặng huy chương được khởi xướng và xem xét đầu tiên ở cấp độ Tiểu đoàn và chuyện quyết định trao tặng các huy chương vì lòng dũng cảm này tùy thuộc vào một số nhận xét chủ quan. Việc thuyên chuyển bình thường nhưng tương đối nhanh của các Tiểu đoàn trưởng là những nhân vật chủ chốt làm cho các tiêu chuẩn bị thay đổi vì họ thường có ý kiến khác nhau rất nhiều liên quan đến lòng dũng cảm. Những vấn đề khác có tác động đến việc tặng thưởng cũng tùy thuộc vào khả năng viết lách của người viết biết mô tả kỹ lưỡng các biến cố đã xảy ra và đưa chúng vào một bản báo cáo thật hấp dẫn. Số lượng và uy tín của các nhân chứng cũng rất quan trọng. Trong hàng ngũ các sĩ quan trung và cao cấp của Quân chủng TQLC có một số không ít tin rằng chỉ mặc bộ quân phục, và hiện diện ở vị trí chỉ huy trong những tình huống đặc biệt nghiêm trọng đầy thử thách cũng đủ để được công nhận rồi. Vấn đề này khi áp dụng cho TQLC nói chung và Đại đội Lima 3/3 nói riêng thì hết sức nhỏ mọn hẹp hòi và vô lý trong việc trao tặng các huy chương anh dũng cho các sĩ quan và binh sĩ tình nguyện đã sống sót qua thời gian chiến đấu của họ.

Các tiêu chuẩn trong việc trao tặng Chiến thương bội tinh dù ít keo kiệt và ít chủ quan hơn cũng tùy thuộc vào một số điều kiện rất khắt khe. Một điều đáng khuyến khích được nêu ra ở đây là có một số lớn những người bị thương thường từ chối Chiến thương bội tinh vì có điều lệ là nếu một chiến sĩ bị thương ba lần là coi như phải tự động giải ngũ. Lòng trung thành và tình đồng đội đã quá nhiều lần giữ các TQLC ở lại chiến đấu tiếp. Sau khi đã xem qua những điều trên thì tiêu chuẩn đối với Tiểu đoàn 3, Sư đoàn 3 TQLC gồm ba yếu tố. Đầu tiên vết thương phải do đạn thù. Thứ hai, TQLC đó phải bị “ngã gục.” Và sau cùng, phải có vết đạn xuyên qua người. Chiến thương bội tinh không bao giờ được ban cho TQLC bị thưong khi chạy núp. Các vết thương do nhảy xuống hầm hố khi bị pháo kích hay quên cúi đầu lúc chạy ra hay chạy vào một tòa nhà rồi va đầu vào thanh sắt nóc nhà treo thấp không đạt tiêu chuẩn 3/3 cho một vết thương lúc chiến đấu.

Trong trường hợp Đại úy Ripley sau khi lãnh trách nhiệm chỉ huy Đại đội Lima, anh đã báo cho cấp trên là đừng bao giờ di tản anh nếu không có sự đồng ý của anh hay thực sự là anh đã thiệt mạng. Các biến cố xảy ra ngày 2/3/1967 đã chứng minh sự tiên đoán của ý nguyện đó

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

Rủi-May !

trachantranhuuhoi

Phận lại thức giấc. Nhiều đêm nay, từ cái ngày ấy, anh bị thức giấc nhiều lần trong đêm. Anh quơ tay bên cạnh, không đụng vợ. Anh chợt nhớ, cũng từ dạo ấy, đêm khuya thức giấc thường không có chị bên cạnh …
Phận lại thao thức tiếc xót và rủa sả mình thậm tệ !
Hồi đi nghĩa vụ quân sự, anh đóng quân tận Vĩnh Long, gặp Lài rồi lấy làm vợ. Mồ côi từ nhỏ, anh nghe chốn này có ông chú ruột nên tìm về, nào dè vế tới nơi thì ông chú đã chuyển đi làm ăn đâu trong Xuyên Mộc, Bà Rịa !
Vốn liếng không có là bao, tằn tiện mua lại được cái nhà.
Cha xứ thường thăm viếng và rồi cả hai học giáo lý, rửa tội theo đạo và làm phép cưới ở nhà thờ. Bốn năm rồi mà vẫn không có con!
Công việc tuy không phải là nghề, nhưng cũng mang lại cho hai vợ chồng Phận miếng cơm hàng ngày…
Dưới gốc cây me, trước cổng vào nhà thờ, với một cái bàn chữ nhật nhỏ bỏ dăm đôi giày, đôi dép… đã may xong, một ghế thấp để ngồi và mấy cuộn chỉ, hộp keo “con chó”, anh gia công khâu, dán lại các loại giày dép, cũng tạm qua ngày. Chị lài không quen làm rẩy nên chỉ ở nhà …
Thế nhưng hai con mắt anh không biết tại sao càng ngày càng mờ, nhất là những lúc trời nắng !
Hôm đi bệnh viện tỉnh khám, Bác sĩ bảo anh bị đục thủy tinh thể, chờ có phái đoàn mổ từ thiện của nước ngoài ghé địa phương thì xã sẻ thông báo. Phải chờ thôi chứ tiền đâu mà không chờ! Hai năm rồi chưa ai ghé, mắt ngày càng mờ thêm. Không thấy rõ nên may cũng chẳng xong !
Anh dẹp may giày, bày ra bán vé số, cũng có mắm có muối nhờ ở ngay trước cửa nhà thờ, có ngày anh bán cả trăm tấm !
Chục ngày trước, có cậu thanh niên ở đâu đi xe máy sà vô mua sáu tấm, sau khi trả tiền, cho lại anh một tấm, Phận mừng lắm, gấp đôi cho vào chiếc ví ở túi sau. Chiều còn lại mười hai tờ, đại lý ghé lấy .
Về nhà sớm một bữa.
Gần đến nhà, thằng Toàn hàng xóm đứng trong hàng rào vói ra hỏi:
-Còn vé không?
-Hết rồi !
Đi được một quãng, anh lại nhớ tấm vé cậu thanh niên cho hồi sáng,
-Chậc, biết có trúng không, bán mẹ nó lấy năm ngàn cho chắc ăn ! Cái số mình nó nghèo rồi, mấy lần bỏ tiền mua còn không trúng huống là cho !
Anh quay lại,
-Ê, còn một tấm, lấy không?
-Lấy !
Toàn đưa anh mười ngàn, anh thối hắn năm ngàn.
Sáu giờ thì tin trúng số lan nhanh. Anh Từ đại lý, ghé đưa cho Phận tấm giấy kết quả xổ số, nói :
-Lốc của mi trúng độc đắc, mi nhớ bán cho ai thì ghé nhà xin người ta ít triệu !
Không nhớ ai mua vì mắt kém, Phận kêu thắng Toàn dò thử.
Trúng ! 125 triệu !
Phận như trúng phải gió độc, sụm ngay trước nhà, hai ngày sau không dậy nỗi, ốm luôn!
Và rồi đêm nào cũng giật mình thức giấc, nằm tiếc xót 125 triệu, rủa sả mình ngu !
Nằm chờ chán vẫn không thấy chị Lài, “đêm đi tiểu đi tiêu cũng đâu có lâu như vậy?”. Phận thoáng chút nghi hoặc. Từ mấy tháng gần đây, thằng Toàn qua nhà anh luôn, Lài thì cớt cớt nhả nhả… “Mà thằng Toàn thì có vợ, có con, không lẽ…”
Mắt anh ban đêm, trời không sáng thì còn ro rõ, anh lần ra bếp. Ngay trong cái chuồng heo từ lâu không có heo, hai tấm thân trần truồng, quấn vào nhau say sưa… !
Thằng Toàn và chị Lài, vợ Phận !
Anh lảo đảo trở lại giường chong mắt nhìn lên đỉnh mùng rách lỗ chỗ !
Hơn mười ngày ốm, cộng với những đêm thức giấc không ngủ … thể chất và tinh thần anh bủn rủn…Những ý nghĩ hỗn độn, chập chờn, như ma trơi trong đầu anh !
Lài trở vào giường, còn thở hồng hộc như vừa cày xong đám rẫy mì!
Hai ngày sau thì mất tích, cả Toàn, Lài vợ anh, cùng ông Ngoạn cha của Toàn. Thì ra họ có sắp đặt rồi !
Phận cũng không dậy nỗi mà nấu chén cháo cho mình !

***
-Anh Phận , dậy húp chút cháo !
-A…i… đ…ó? Phận nói như rên .
-Em đây, Thê đây anh Phận ! Cái tụi nó anh đừng buồn nữa, em cũng chẳng tiếc tác chi cái thằng say vũ phu đó !
Thê là vợ của Toàn.
Thê hiền, đẹp và chăm. Chỉ tội cái hồi còn nhỏ, cháy nhà, phỏng nặng, chân phải bị teo, đi khập khễnh ! Toàn ưng chị vì một mẹ một con, tưởng đâu bà mẹ góa có vốn liếng nhiều, nào dè cưới xong hai năm, sinh được đứa con gái, mẹ Thê chết, giờ hắn mới biết là chẳng vốn chẳng liếng gì, ba chỉ vàng không đủ cho hắn mua chiếc xe cũ đời 86 ! nhưng cũng còn có cái nhà ! Hắn bán cái nhà cha hắn, rồi đem cha về ở chung trong nhà vợ !
Dạo gần đây, đêm lại, kéo quần vợ ra, thấy cái chân dúm dó hắn mất hứng, nổi quạu, tống một đạp làm Thê rớt xuống giường! Chị không dám leo lên, sợ hắn lại cho thêm một đạp khác nên cứ ngồi mé giường khóc rấm rức !
Phận cố ngồi dậy, muốn bỏ chân xuống giường mà không nổi, anh nhìn thấy gương mặt Thê nhờ bóng tối ! Mắt anh rưng rưng !
-Anh phận gắng nuốt miếng cháo lấy sức !
Phận nuốt cháo và cũng nuốt luôn nỗi xót xa trong lòng. Xóm giềng lúc này, ai ai cũng ghé thăm và khuyên nhủ anh quên cái con phản trắc lăng loàn ấy đi .
Thê săn sóc anh tận tình như một người vợ, hai con người chung nỗi thất vọng. Cái nghèo, cái khổ làm cho người ta dễ chấp nhận nhau.
Thê bồng đứa con gái một tuổi qua nhà Phận cả ngày để tiện chăm sóc cho anh hơn,tối về nhà mình. Chừng mười ngày thì anh đã phục hồi trí lực, chuyện cũ cũng nguôi ngoai nhờ có Thê. Chạng vạng chiều hôm đó, anh buồn bã nói với Thê
-Cứ đi qua đi về mệt, hay là Thê ngủ lại đây luôn ?
-Đóng cửa nhà à, người ta nói vô nói ra…
-Thì để họ nói !
Đêm đó chị Thê ở lại…
Hai ngày sau thì cha xứ ghé thăm, cha cho hai lon sữa và 100 ngàn, khi sắp về cha nói:
-Cha có nghe người ta đồn này đồn nọ, cha cũng rỏ hoàn cảnh hai con, nhưng cha nghĩ nên chờ một thời gian coi sao đã. Sống với nhau như vậy e khó coi và còn luật hôn phối nữa, hai con đều có làm phép nhà thờ !
Tối hôm đó,Thê ẵm con về lại nhà, nằm thao thức không ngủ được !
Bên này, Phận cũng không ngủ ! Anh cảm thấy trống trải hơn cả lúc Lài mới bỏ đi !
Chiều tối lại, anh qua nhà Thê:
-Đêm qua tui không ngủ được, Thê tính chuyện tụi mình thế nào ?
-Cha đã nói vậy biết sao giờ ?!
-Cha chưa ở với thằng Toàn và con Lài, Cha chưa thấy tụi hắn mần chuyện lăng loàn sau chuồng heo, cha có người lo nấu nướng cơm nước hàng ngày…nói chung, cha không phải là tui và Thê. Thê không qua bên đó thì tui ở lại bên này !
Tối đó, Thê lại ẵm con qua với Phận. Đêm không còn thao thức, Phận không chê cái chân nhăn nhúm của Thê. Họ mặn mà như một đôi mới cưới, sau phút giây hạnh phúc …Thê đặt tay lên bụng Phận:
-Anh Phận…
-Chi vậy Thê?
-Mình đi vô trong Sài gòn mổ mắt đi!
-Có tiền đâu mà mổ ?
-Hồi chưa chết, mạ có đưa em năm chỉ vàng, nói là phải chôn kỷ, không cho thằng Toàn biết, để sau mà phòng thân !
-Của Thê và cho con bé sau này, chừ lấy mổ mắt sao được !?
-Sáng mắt rồi mình làm bù lại, của mạ cho em, thì cũng như của anh, lo gì ! mình đã…!
Một chỉ vàng là bốn triệu ba, thay thủy tinh thể một con mắt hết năm triệu tư, bán hai chỉ cũng còn thừa làm vốn, Thê muốn thay luôn cho Phận cả hai mắt nhưng bác sĩ không chịu làm, phải đợi một năm sau.
Chao ôi, một con cũng đủ sáng rực như đèn pha rồi, Phận như lanh lẹ hẳn ra…
Bây giờ cái bàn phải làm to ra, một bên bày vé số, một bên bỏ mấy đôi giày…Mua thêm một cái ghế vì hai người cùng ngồi, vừa bán vừa khâu giày…Chị Thê cũng mau mắn, miệng mồm, vui vẻ. Cột một cái võng nơi chãng hai của gốc me, con bé ngủ, hết ngủ thì dậy đùa chơi bên họ.
Phận tươi tắn lại. Chuyên buồn cũng không còn bận trí của hai người. Nhưng cứ mỗi lần thấy Cha xứ thì họ lại như kẻ phạm trọng tội, mặc dù cha chẳng trách móc gì ! Chúa nhật họ đi lễ nhà thờ nhưng không đi rước lễ !
***

Tin dữ lan nhanh làm cả xã rúng rính !
-Sao mà chết ?
-Thì đi buôn xăng bên Campuchia, lật xuồng chết cả đám chứ sao !
-Ai báo về ?
-Hai ông Công an dưới Miền Tây họ ra làm việc với xã cả buổi chiều đó !
-Chừ làm sao ?
-Họ chôn luôn dưới đó rồi, chờ lâu thối quá mà.
-Ông Ngoạn cha thằng Toàn cũng chết à?
-Thì đã nói là cả đám mà !
Đêm đó cả Phận và Thê không ngủ, họ ngồi suốt đêm, không ai nói chuyện với ai .Gần sáng, Phận nói:
-Hay là mình xuống dưới đó cho biết chỗ, rồi về làm cái tang cho cả ba người, cho con bé để tang cha và ông nội nó, sau này thuận tiện mình đem cốt về ?!
-Anh tính vậy cũng được !
Cũng phải hơn mười ngày mới xong thủ tục dưới miền Tây. Phận và Thê về lại nhà, Phận nói:
-Mở cửa nhà bên đó, anh đóng cái bàn thờ cho cả ba người Thê ạ.

***
Hơn bốn tháng rồi từ ngày họ cho con bé chịu tang và dọn mấy mâm cho bà con tới đốt nhang trên bàn thờ nhà của Thê. Nhà chỉ mở cửa khi nào Thê qua quét dọn rồi thắp nhang…
Hôm ấy, Thê nằm nghiêng thì thầm vào tai Phận:
-Hồi học giáo lý anh có biết luật Hôn nhân thế nào không?
-Không?
-Hai người họ đều chết thì mình có quyền làm phép cưới với nhau. Em muốn đi lể và rước lể bình thường như mọi người, cứ như vầy hoài em bứt rứt lắm !
Phận nằm im lặng một lát, anh nắm tay Thê như năn nỉ:
-Chờ một năm nữa em ạ. Làm giỗ xong, mình qua xin cha làm phép cưới !
Chị Thê ôm lấy anh Phận:
-Anh tính vậy cũng được !
Chị Thê lại tỉ tê:
-Hôm qua đi chợ, người ta nói với nhau em nghe được…
-Họ nói gì?
-Họ nói anh sống có tình !
Phận nằm ngẫm nghĩ một lúc:
-Không biết anh có tâm có tình hay không, nhưng cái bụng anh nó nói sao anh làm theo như vậy !
Phận nói xong, cho tay vào quần chị thê, xoa lên chỗ da nhăn nhúm vì phỏng, chị Thê nhột quá, níu lấy tay anh…

Trạch An – Trần Hữu Hội.

THÀNH PHỐ NHÓN CHÂN

dotandat

Bất ngờ những buổi tối
Nở ra từ phía bình minh nào đó
Giọng oanh vàng thỏ thẻ
Trên vuông mặt của ngày
Lời mọc chồi tơ non
Lời mọc rừng yêu

Thành phố anh và cơn say
Những dụ mị em huyễn trăng mười sáu
Thành phố anh và cuộc tình vội vã
Đêm hôn vào bụi và mắt cay vào nhớ

Say đắm Boulevard
Say đắm tuồng yêu điên cuồng

Gã ăn mày lề đường ngửa mặt trút vội chai rượu ăn mày
Gã quên rằng gã đang ăn mày bóng tối
Trên những xó xỉnh ngủ quên nào đó
Ai thèm khát ăn mày tình yêu

Thành phố anh và cơn say
Bọng đêm vỡ ối
Những mạch đường chảy máu nỗi nhớ
Cô đơn đông đặc nỗi buồn

Phía giao lộ anh và em
Không kịp 3 giây đèn vàng

Nhón chân…

ĐỖ TẤN ĐẠT

Sau Lưng

nguyenducbatngan

em nhớ nối sợi chỉ hồng giữa hai đầu kiêu bạt
dù muôn trùng quê hương là mây trắng trời cao
anh còn lại một thời phiêu dạt
nghiêng trong đêm gương soi thầm vọng mắt chào

hạnh phúc em bay theo mùa xuân trước
gọi bóng anh về từng độ thu phân
đầu sóng gió ngọn nguồn anh vẫn bước
có tình thiêng em trắng mộng bao lần

em đồng vọng theo lòng tiếng suối
anh từ ly qua những con sông
này gió bụi ân cần mừng tuổi
nặng linh hồn mỗi bước lưu vong

giờ vĩnh biệt máu trào lên tiếng nấc
là đường đi anh nổi lửa hôm sau
trời viễn xứ cũng tròn hương mật
giữa mắt em xưa nghe bào ảnh lên màu

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Bước luẩn quẩn với cái rọ trên đầu.”

 

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

ĐẠI SỨ GRAHAM MARTIN
“Bước luẩn quẩn với cái rọ trên đầu.”

Cho đến 1975 Việt Nam không đáng để Hoa Kỳ tốn thêm sinh mạng nữa. Lẽ ra, Hoa Kỳ đừng nên gửi quân tham chiến. Tôi đã chống giải pháp này. Khi làm Đại sứ ở Thái Lan, tôi cũng chống lại việc gửi cố vấn sang Thái, và tôi đã phải đương đầu bốn năm trời ròng rã với Robert Mc Namara (*) để giữ chiến tranh khỏi lan tràn vào đất Thái.

Miền Tây Bắc Thái Lan lúc ấy cũng giống như giai đoạn đầu ở Đông Dương đã có những cuộc nổi dậy nhưng tôi nhất định chủ trương: Chúng ta chỉ cần yểm trợ cho chính phủ, không gửi quân chiến đấu, cố vấn cũng không-vì lẽ bên hàng ngũ đối phương không có một bộ mặt da trắng nào, chắc chắn chúng ta không nên gửi nhân viên quân sự xuống đến cấp dưới tiểu đoàn.

Một ký giả ở nơi nào đó tại vùng Trung Tây nước Mỹ tên Paul Harvey từng mỉa mai: “Có một Đại sứ ở Thái Lan trình độ chỉ đáng đưa đi làm đại sứ ở hòn đảo Johnson, nghĩa là một hòn đảo 1000 bộ chiều dài, 50 bộ chiều ngang, không thể lớn hơn cỡ ấy” chỉ vì tôi đã không cho phép người Mỹ mang súng, ngay ở trong căn cứ cũng vậy.

Đúng. Tôi giữ quan điểm và chấp nhận rủi ro vì lẽ chỉ cần một vụ phục kích xảy ra là công luận sẽ đưa tôi ra mà cắt họng. Nhưng tôi đã bẻ gẫy các vụ nổi dậy. Cũng không để xảy ra một vụ tàn sát Mỹ Lai nào. Tôi đã thành công.

Nhưng ở Việt Nam, Mc Namara và nhóm quân nhân đã áp dụng đường lối của họ. Và một khi quân đội chúng ta đã được gửi sang bên ấy, chúng ta không muốn thấy quân đội thất bại và rồi cho đến 1975, còn một vấn đề quan hệ nữa vẫn phải đặt ra, đấy là lời hứa của chúng ta. Liệu chúng ta có giữ lời hứa và giữ lời cam kết của chúng ta hay không?

Vụ tấn công Ban Mê Thuột và quyết định rút quân ở Cao Nguyên của Thiệu làm tôi hoàn toàn kinh ngạc. Vào giai đoạn này Tổng thống Thiệu yên trí rằng một vài người Mỹ thường hở cho báo chí biết tin, rồi tin tức lọt sang các nhóm chủ hoà, cuối cùng lọt sang đối phương. Không rõ ai đã thuyết phục ông như thế, nhưng suốt thời gian này ông không cho chúng tôi biết gì nữa. Chúng tôi chỉ còn dựa vào tin tình báo để theo dõi hành động Bắc quân, nhưng các tin tức này không phải lúc nào cũng chính xác.

Thời gian này tôi về Hoa Thịnh Đốn để cố xin viện trợ cho Nam Việt Nam. Trong chuyến về Mỹ tháng Ba cùng với phái đoàn quốc hội, tôi đã yêu cầu những người có thẩm quyền quyết định chính sách riêng: Cần phải chuẩn bị vấn đề tỵ nạn, xin hãy sắp xếp mọi thứ liên hệ cho người tỵ nạn ngay. Nhưng rồi, chẳng ai lo liệu gì.

Trong buổi họp cuối tại Bộ Ngoại giao ở Hoa Thịnh Đốn vào tháng 3/1975, Kissinger bảo: “Ông phải trở lại đấy vì dân Mỹ cần có một người để trút hết các trách cứ lên đầu.”

Thực vậy, người Mỹ chúng ta vẫn có cái thói ấy và luôn luôn như thế, cho nên tôi bảo:

“Ông hãy nhớ hộ một điều: Đối với mọi chuyện ở Việt Nam, tôi là người duy nhất liên hệ đến toàn thể nội vụ, mà tuyệt đối chẳng có áp lực để làm bất cứ một quyết định nào hầu tránh khỏi các phê bình chỉ trích. Tuyệt đối chẳng có cách gì tôi thoát việc nhận lãnh trách nhiệm sụp đổ Sàigòn. Cái gì cũng đổ cho tôi, từ đầu đến đuôi. Vậy tôi sẽ không thích dính dáng bất cứ chuyện gì khác ngoài một chuyện duy nhất hợp lý vào lúc này, đó là: Mang người Mỹ sống sót ra đi an toàn, mang những người bạn Việt Nam liên hệ với chúng ta đi khỏi càng nhiều càng tốt. Tôi sẽ làm như vậy, và tôi sẽ không để cho ai thúc bách gì, ngoại trừ trường hợp ông giải nhiệm tôi.” Rồi tôi quay lại Việt Nam.

Đối với người Việt, tôi không có mối liên hệ riêng tư, bất kể người Bắc hay ngưòi Nam. Tôi chẳng đặc biệt thích một người Việt nào. Tôi yêu mến người Thái, tôi nghĩ họ là một giống dân kỳ diệu nhất thế giới. Tôi thích một số đông người Tàu, nhưng tôi đặc biệt không thích người Khờ Me, tôi không thích người Lào, tôi không thích người Mã Lai. Tôi thích người Nam Dương.

Tôi có một đứa cháu trai chết ở Việt Nam từ đầu cuộc chiến. Nhưng việc này tôi chỉ oán trách Thủy quân Lục chiến Mỹ đã không chịu gắn lá chắn thép dưới gầm trực thăng trước khi tung nó ra một chiến trường mà bên dưới đầy súng đại liên 50.

Nói như thế là để hiểu rằng: Sự cam kết của tôi đối vói người Việt không quan hệ gì đến cái chết của cháu tôi, cũng chẳng dính dáng gì đến cảm tình riêng tư nào của tôi đối với người Việt Nam. Đối với tôi, vấn đề thuần túy phải đặt ra là: Chúng ta đã tuyên bố một lời hứa. Khi đã hứa mà lại bội hứa thì chúng ta sẽ có ngày phải trả một cái giá đắt khôn lường ở khắp mọi nơi trên cái thế giới máu me tàn khốc này.

Khi trở lại Việt Nam, một người đã đến gặp tôi là Ed Daly bên hàng không World Airways. Anh ta đeo súng lủng lẳng bước vào phòng, tôi yêu cầu bỏ súng ra, để bên ngoài. Thấy anh ta ngần ngừ, tôi kêu Thủy quân Lục chiến đưa ra ngoài tước súng. Hắn trở vào lại, ngồi xuống nói với tôi: “Ông có biết không, mấy người Việt Nam họ bảo nếu tôi cất cánh ra Đà Nẵng, họ sẽ bắn hạ tôi. Ông sẽ làm gì?” Tôi đáp “Vỗ tay hoan hô chứ sao! Ông cho ông là cái thá gì? Ông chúi trong cái lỗ đục dưới đất, đến cái đít của ông, ông cũng cóc dòm ra. Ông không biết một cái đếch gì ở đây cả.” Sau đó, tôi với anh ta không bao giờ nói chuyện gì thêm, anh ta cũng không bao giờ trở lại toà Đại sứ nữa.

Tôi gửi Harry Summers ra Hà Nội trong tháng Tư (1). Chúng tôi vẫn có chuyến bay ra Hà Nội là để chuyên chở người thuộc ủy ban liên hợp quân sự ở căn cứ Davis. Đề đốc Geyler phản đối, nhưng tôi nhất định gửi người đi. Tại sao? Tại vì bấy giờ ở đấy có một việc không một ai biết ngoại trừ tôi và Wolf Lehmann, phụ tá của tôi. Việc ấy là chuyện đi lại của Brezhnev và Kissinger với Hà Nội. Và theo Leonid Brezhnev, Hà Nội đã đồng ý ấn định thời hạn cho chúng tôi rút. Hạn chót là ngày 3 tháng 5. Đó là một thỏa thuận.

Tôi có nói với Kissinger: tôi cần hai tuần lễ. Kissinger cho biết ông đã thông báo cho Hà Nội và Hà Nội đã chấp nhận. Bắt buộc phải chấp nhận luật chơi thôi, lỡ cái xảy nảy ra cái ung thì tôi cũng đành phải chịu (2). Người ta bảo máy bay có thể bị hạ, nhưng tôi nhất định cho đi. Vì thế chúng tôi bốc người từ căn cứ Davis, và Summers đã đưa họ ra Hà Nội, ngồi xuống mà thảo luận với người Việt Nam. Chúng tôi muốn nói chuyện (thẳng) với người Việt Nam là chúng tôi chấp nhận thi hành phần chúng tôi trong cuộc mà cả của Kissinger-Brezhnev. Họ sẽ để chúng tôi yên. Tôi tính là chỉ cần đến ngày 1 tháng 5, không cần đến 3
tháng 5. Tôi không muốn quá ngày ấy.

Đâu chừng một tuần trước ngày sụp đổ, tôi gửi một điện văn, lúc ấy Hoa Thịnh Đốn bất đầu tỏ ra bực bội. Tôi nói “Điều duy nhất ở đây chúng tôi có là sự điềm tĩnh của tôi, là khả năng phán đoán tình hình của tôi. Thực sự chúng tôi không còn gì khác. Bây giờ chẳng có gì để mất, vì tôi đang bước đi luẩn quẩn với cái rọ úp trên đầu rồi.”

Ngày 21 tháng 4, Tổng thống Thiệu từ chức. Tôi không thuyết phục ông rời xứ. Chính người kế vị của ông (3) đã gọi tôi, bảo Thiệu vẫn ở trong dinh Tổng thống làm ông khó cựa quậy, đó là cách lịch sự để bảo tôi rằng Thiệu vẫn tiếp tục gặp gỡ các tướng lãnh. Ông hỏi tôi có thể giúp đưa Thiệu đi không? Tôi trả lời tôi sẽ giúp nếu ông Thiệu yêu cầu. Sau đó chừng 15 phút, Thiệu điện thoại nhờ tôi đưa ông ra khỏi xứ. Bây giờ tôi lại phải đương đầu một vấn đề khác. Nên sử dụng quân đội Mỹ để lo việc này hay không? Như thế là gây rắc rối cho Bộ Tham Mưu Liên Quân (Mỹ), gây rắc rối với người Bắc Việt và máy bay có thể bị hạ. Tôi đã yêu cầu quân đội đưa đến Sàigòn một máy bay bốn động cơ bấy giờ cất ở Nakhon Phanom (Thái), và tôi giao việc này cho Polgar (4) thay vì cho quân đội lo. Bên quân đội biết máy bay đến, nhưng họ không rõ sử dụng vào việc gì. Tôi hy vọng bên quân đội sẽ không biết việc chở Thiệu ra khỏi xứ cho đến khi đưa ông ta vào được tàu bay. Đây là tôi muốn nói Quân đội Mỹ, đặt quân đội Việt Nam sang một bên. Vì thế tôi bảo Polgar cho Frank Snepp (5) lái xe vào căn cứ quân sự, lên phía trên chỗ máy bay đậu một chút, rồi tôi đưa họ vào máy bay. Trước đấy, Charlie Timmes (6) và tôi đã đi gặp Nguyễn Cao Kỳ. Timmes có hẹn với Kỳ, nên tôi bảo Timmes: “Rồi, để tôi đi cùng với ông.” Hai chúng tôi lái chiếc xe Volkswagen nhỏ của Timmes, chuyến đi hơi rợn tóc vì thành phố đã bắt đầu hỗn loạn. Tất cả chủ đích chuyến đi là để bảo cho họ biết rằng một cú đảo chánh máu me sẽ không phục vụ bất cứ một cái gì cho cõi trần gian xanh tốt này ngoại trừ một việc: Phục vụ cho cái tôi của Kỳ. Có thể ông ta đã suy đoán được để hiểu rằng thời điểm của ông ta không đúng lúc, và mục đích của tôi là chỉ muốn ông ta bỏ cái ý định ấy đi. Tôi để cho các người khác làm việc với ông ta. Tôi dặn họ: đừng để ý gì nhiều đến ông ta cả.

Nếu có một nhân vật biết được ngọn ngành mọi việc mọi trò của những người ở đấy thì chính là tôi. Nhưng vào giờ phút cuối, có những người khác nữa làm gì, thì chịu, tôi không biết đích xác cho nổi. Một ông đã gây rối cho tôi như thế lại chính là một bạn tốt, mà đến nay tôi vẫn thích, đó là Erich Von Marbod. Erich Von Marbod đến từ bộ Quốc phòng. Ông ta cho không quân Việt Nam bay đi vài chiếc F-5 của họ sang Thái. Chuyện này trái lệnh tôi. Một mặt, chả quan hệ gì. Nhưng mặt khác, lại vô cùng hệ trọng. Bởi vì tôi đã yêu cầu Kissinger một thời hạn, tôi nói là hai tuần. Chúng tôi cố mang đi tất cả các nhà thầu công tác quốc phòng mà chúng tôi không thể rõ hết là những người ấy ở những nơi nào. Không thể bỏ họ lại mà đi. Đó là lúc cần đòi hỏi sự chậm rãi, sự thận trọng, cho nên việc Erich Von Marbod thuyết phục tướng Trần Văn Minh cho mấy cái phi cơ bay sang Thái là một lỗi lầm rất lớn. Nó làm người Thái e ngại. Rồi những người đưa phi cơ sang bên ấy lại bị giấu diếm, họ không được bảo trước rằng sau đó họ sẽ không được phép trở về với gia đình. Để làm họ dịu xuống, người ta phải phục thuốc họ. Và chính những người này đã gây rối khi đến Guam. Lỗi của tôi. Đáng lẽ tôi phải tống cổ Von Marbod từ hai ngày trước. Đáng lẽ tôi cũng phải tống cổ cả Polgar đi: Hắn không biết trời đất gì. Hắn không xứng đáng điều khiển cơ quan tình báo ở đấy. Hắn muốn chơi trội cùng với gã Malcolm Browne bên tờ Times và các ông bạn Hung Gia Lợi của hắn bên ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến, rồi cả William Colby (7) lẫn Kissinger đều nói lại với tôi việc ấy (8) Và tôi đã nói với Polgar rằng nếu anh cứ tiếp tục làm những chuyện như thế, tôi sẽ cắt hai hòn dái nhét vào mỗi lỗ tai của anh một hòn. Jim Kean đã nghe tôi nói với hắn như thế trong cầu thang máy.

Tôi không có gì để ân hận nhiều ngoài việc ân hận đã không tống cổ cả Polgar lẫn Von Marbod từ sớm. Họ đi hay ở cũng chẳng có gì khác biệt. Chỉ có một khác biệt trầm trọng mà sau đó tôi khám phá ra khi đọc tấm điện văn của các tướng Bắc Việt: Họ nghĩ việc đưa mấy chiếc phi cơ sang Thái là chúng ta nuốt lời hứa với họ. Chúng ta đã nói chúng ta sẽ không mang các chiến cụ đi. Chúng ta chỉ muốn họ để chúng ta yên ổn ra đi trong trật tự. Vì họ nghĩ chúng ta nuốt lời, hôm sau họ pháo kích phi trường, giết mất vài Thủy quân Lục chiến của chúng ta. Vì vậy, đến lúc tôi phải hạ lệnh trực thăng vận. Đây là lúc mọi sự bắt đầu bung ra.

Tôi vào Tân Sơn Nhất xem xét sau khi xảy ra vụ pháo kích. Hơn ba mươi năm trước, tôi đã là Đại tá không quân, bổ nhiệm từ 1936, nên những chuyện phi cơ, cái gì bay được cái gì không, tôi nắm trong bàn tay. Tôi đã là Tư lệnh phó sư đoàn Thái Bình Dương thời đệ nhị thế chiến, kiêm chỉ huy quân báo. Việc gì tôi làm, tôi làm cật lực, tôi nắm vững, tôi biết rõ. Buổi sáng 29/4 hôm ấy ở phi trường Tân Sơn Nhất, họ bảo tôi máy bay không đáp xuống được. Chuyện này vô lý. Ra tận đấy quan sát, tôi vẫn thấy chuyện họ nói chả nghĩa lý gì, người ta chỉ cần vác một cái xe Jeep quần ra phi đạo ba mươi phút là dọn sạch mọi thứ vụn vặt. Nhưng lúc ấy, quả là bên quân đội Việt Nam bắt đầu rối loạn. Chỉ huy cao cấp đã chạy, Tân Sơn Nhứt không còn chỉ huy nữa. Trong tình trạng này nếu máy bay đáp xuống là bị tràn ngập bởi đám đông vô kiểm soát. Chúng tôi cần dựa vào quân đội Việt Nam để di tản trong vòng trật tự, và chúng tôi cũng đã hứa với họ phút cuối sẽ bốc họ đi. Nhưng đến giây phút ấy, không còn có sự bảo vệ của họ nữa.
Vì Tân Sơn Nhứt hết bảo đảm được an ninh cho máy bay có cánh đáp xuống, nhưng khu vực văn phòng tùy viên Quân sự hãy còn hệ thống phòng thủ tốt, chúng tôi bèn cho trực thăng đáp xuống khu này thay vì Tân Sơn Nhứt.

Tôi liên lạc với hạm đội, và với sự khẳng định của Hoa Thịnh Đốn, tôi nói với mọi người-tôi nói với rất nhiều người Việt là: “Chúng tôi không thể bảo đảm di tản tất cả quý vị. Nhưng nếu quý vị có thể dùng thuyền ra khơi, chúng tôi vớt.” Chúng tôi đã cho tàu đậu ngoài khơi ba ngày ròng rã để vớt người đến khi tàu chật ních. Khi sĩ quan chỉ huy quân y cho biết nếu cứ tiếp tục, có thể bị bịnh dịch đe dọa, lúc ấy chúng tôi mới cho tàu đi. Tôi cũng ra lệnh cho hai máy bay tại căn cứ Clark đáp xuống Vũng Tàu để bốc gia đình lính Thủy quân Lục chiến Việt Nam. Đề đốc Geyler phản đối, nhưng tôi gạt đi. Hai chiếc máy bay đáp xuống, hoàn tất việc bốc người trong vòng mười lăm phút rồi thẳng cánh bay qua Clark. Từ giờ phút ấy, Thủy quân Lục chiến thuộc quyền điều động của tôi. Họ phụ trách bảo vệ trong trường hợp chúng tôi cần di tản ra từ bãi biển. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương không có nhiệm vụ di tản người từ bãi biển ra. Từ nhiều tuần trước ngay việc đáp phi cơ trinh sát xuống, họ cũng không chịu, nhưng chúng tôi vẫn cứ làm. Đấy, tôi đã phải đối phó công việc với những cách thức như vậy.

Còn về câu chuyện cây me, thật là một câu chuyện vô nghĩa (9) Hạ cái cây xuống cũng là chuyện hoàn toàn vô nghĩa. Cây me này chả mang một biểu tượng gì. Về chuyện này, mục đích là tôi cố giữ cho Sàigòn một bộ mặt yên tĩnh, phải tránh mấy chuyện rối loạn đã từng xảy ra ở Đà Nẵng, Nha Trang. Ngoài ra, quỷ thần ạ, cần gì phải chặt cái cây ấy để lấy chỗ cho trực thăng? Nên tôi bảo “Để cái cây ấy yên đi!” Đơn giản thế thôi. Khi cần phải chặt, chỉ mười phút là xong. Cuối cùng mọi sự cũng đã xảy ra y như vậy. Chúng tôi không muốn có một hành vi bộc lộ rằng chúng tôi đang thua chạy, để Sàigòn phải nháo nhào lên.

Cái cây này tuyệt nhiên không biểu trưng gì cho sự có mặt của người Mỹ. Nhưng về một phương diện, Jim Kean cũng có lý khi nói vậy.(10) Bởi vì nó là cái dấu hiệu vật chất cho thấy chúng ta sắp rời đi, nên tôi phải che đậy. Việc tôi giữ cái cây chẳng có cái ý nghĩa thâm thúy gì như đó là biểu tượng cam kết của chúng ta cả.

Vào những giây phút chót, có nhiều việc không thể làm ngơ. Về những việc này Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger đáng phải lãnh điểm xấu. Ông tỏ ra ngu xuẩn, nhiều phần trong con người ông luôn luôn như vậy.

Chúng tôi có một gã tên Stuart Herrington làm dưới quyền Đại tá Madison (11) Gã này đang giúp việc xếp người vào trực thăng trong sân toà Đại sứ. Gã có biết cái gì hơn là xếp người? Nhưng khổ nỗi, gã là thứ mồm loa mép giải, đáng lẽ biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe. Đàng này ai hỏi gì gã cũng trả lời láo lếu. Vì thế khi các phi công bay vào, họ muốn hỏi tôi còn phải chở bao nhiêu người nữa, gã Herrington mau mồm nói “Hai ngàn hoặc hai ngàn rưỡi nữa.” Ông Đề đốc Noel Gayler ở ngoài hạm đội dãy nảy như gái ngồi phải cọc. Chở nhiều quá lỡ xảy tai nạn, ai gánh đây? Ông ấy là người phụ trách công tác, ông bèn áp lực khủng khiếp mà thúc chúng tôi “Di tản người Mỹ! Di tản người Mỹ! Di tản người Mỹ xong là đi quách đi, bỏ những người khác lại.” Chuyện này không được. Đây là chuyện mà tôi từ chối. Brent Scowcroft (12) đã hứa với tôi rằng tôi sẽ có năm mươi chuyến trực thăng người Việt và Đại Hàn mà chúng tôi cam kết. Chúng tôi đã đếm kỹ lưỡng số người khi kéo họ qua bức tường lọt vào toà Đại sứ. Nhiều người là những nhân vật trọng yếu, có người là bộ trưởng chính phủ. Tất nhiên chúng tôi không có ý định mang họ vào rồi bỏ họ mà đi! Khốn thay, lời nói của gã Herrington với viên phi công được chuyển tới ông Đề đốc, rồi chuyển tới Tư lệnh Thái Bình Dương, lời nói ấy chuyển vòng đến Bộ trưởng Quốc phòng Schlesinger ở Ngũ Giác Đài. Các tướng Tham mưu thúc hối Schlesinger rằng: “Hễ cứ hỏi là lúc nào Martin cũng bảo còn 2000 nữa, bất kể đã chở được bao nhiêu. Cứ cái đà này đến phút chót vẫn là 2000!” Trong công tác bê bết máu lửa này dựa trên lời hứa của Scowcroft, chúng tôi đã phải thực sự tính toán cẩn thận: cứ mỗi chuyến chín mươi người. Ông ấy là Cố vấn An ninh của tổng thống, không tin ở ông thì tin vào trời đất quỷ thần nào? Thế rồi đột ngột họ gửi điện văn bảo: Chấm dứt. “Chuyến trực thăng kế tiếp đến, xin ông đi cho!” Tất cả chỉ vì gã Herrington này, và sau đó anh ta lại viết sách rồi trở nên một đại anh hùng !(13)

Tôi cũng lấy làm phiền về viên chỉ huy an ninh toà Đại sứ, người lãnh trách nhiệm di tản cảnh sát Việt Nam. Tôi đã giữ riêng cho họ hai cái tàu trên sông, nhưng ông ta cứ lằng nhằng muốn đưa họ ra đi sớm. Phía tướng tá Việt Nam báo cho tôi biết: không cách gì có thể duy trì trật tự trong thành phố nếu tôi rút cảnh sát Sàigòn đi. Vì thế tôi bảo ông ta khoan lại, đợi đến ba giờ trưa hãy đi. Ông ta bực bội chỉ muốn làm theo ý riêng mình. Nhưng ông ta cũng đợi được đến ba giờ trưa rồi cho cảnh sát lên tàu di tản cùng với gia đình họ. Tôi không có gì để than phiền nhiều về chiến dịch di tản này vì tổng thống và Kissinger đều đứng bên tôi, hỗ trợ tôi cho đến tận giây phút cuối cùng.

Tôi không bảo chiến dịch ấy hoàn hảo, nhưng khi duyệt xét lại, tôi có quyền hỏi: “Ai có thể làm khác hơn trong những hoàn cảnh đặc biệt ấy?”

Khi rời toà Đại sứ tôi biết đấy là giây phút lịch sử. Chắc chắn như vậy. nhưng trước đây tôi từng hỏi Hoa Thịnh Đốn: “Chúng ta có sự lựa chọn. Trong sự lựa chọn đó cần phải hỏi: Sau tôi, còn những việc gì sẽ xảy ra? Đối phương sẽ lấn chúng ta hơn nữa, ở khắp nơi trên thế giới. Chúng ta cần phải giữ những lời cam kết của chúng ta!”

Trong lúc trực thãng bay, tôi nghĩ chúng tôi đã rũ bỏ xong. Chúng tôi đã kinh qua biết bao việc, chúng tôi đã mang hết được người Mỹ đi. Và mang hết người Mỹ ra đi, đó là trách nhiệm chủ yếu của chúng tôi. Chúng tôi cũng mang được một số lớn người Việt trong khả năng chúng tôi. Đáng lẽ chúng tôi nên mang đi nhiều hơn nữa, chúng tôi đáng lẽ phải mang 400 con người cuối cùng ấy ra đi, nhưng rất tiếc chỉ vì sự lôi thôi đã xảy ra trong lúc rối loạn như thế thôi.

Tôi nghĩ người Mỹ có quyền hãnh diện về chiến dịch di tản. Phần tôi tuyệt đối chẳng có gì dính líu đến những chuyện phải xin lỗi cả.

Tôi đã nhận lãnh nhiều trách cứ về vụ Việt Nam. Chính vì thế mà rất lâu sau, đợi cho mọi thứ lắng xuống, tôi mới ra trước Quốc hội để mọi người đứng lên lãnh trách nhiệm và nhận lỗi của mình, và họ đã làm như thế.

Dẫu sao tôi cũng có nhiều điều thích thú. Tôi không bao giờ lo rằng mình có thể bị giải nhiệm. Tôi đã tính nếu bị sa thải, thì sẽ về ngồi với cái máy chữ mà viết.

Áp lực của nhóm chủ hoà đã áp đặt trên hệ thống giáo dục, và sự mù quáng của cái chủ trương “đừng-làm-một-cái-gì-có-thể-gây-tranh-luận- hoặc-bị-tấn-công” đã có khuynh hướng chế ngự hệ thống giáo dục chúng ta, do đó các nhà xuất bản sách giáo khoa hoặc giả lơ chuyện Việt Nam, hoặc chỉ mô tả sơ sài nhạt nhẽo chẳng giúp cho ai có thể hiểu sự thực thế nào. Điều này đáng tức cười, bởi vì về một phương diện khác, nó lại là điều tốt. Thỉnh thoảng nói chuyện với sinh viên, tôi nhận ra đa số chẳng những không hiểu biết gì, mà còn cực kỳ ngây thơ về chuyện Việt Nam. Nhưng chính vì thế, họ lại có thể tìm hiểu vấn đề với một quan điểm hoàn toàn khách quan. Chính vì thế, họ trở thành nhóm người duy nhất tại nước Mỹ có thể nhìn mọi sự với quan điểm khách quan ấy. Nhưng vì vậy, khi thấy được những sự kiện phô bày đầy đủ rõ rệt trước mắt, họ bực tức vì họ đã bị bưng bít, do đã bị từ chối trong việc tìm hiểu và đã chỉ được đọc một phần của cả vấn đề.

Hiển nhiên, sau này các sử gia sẽ đào sâu mở rộng hơn. Có lẽ họ sẽ đối xử rất tử tế với tôi, có lẽ còn tử tế hơn cả sự xứng đáng của tôi. Dầu vậy, chúng ta hãy còn biết bao nhiêu chuyện trời đất mà những chuyện ấy vẫn chưa từng được kể hết ra!

____________________________

(*) Mc Namara Bộ trưởng quốc phòng Mỹ.
(1)Harry Summers là Đại tá văn phòng tùy viên quân sự, DAO.
(2) Người Mỹ gọi là luật Murphy-” Murphy’s Law”-Khi cái gì hư hỏng xảy ra, là nó xảy ra, thế thôi!
(3)Tổng thống Trần Văn Hương.
(4) Trưởng nhiệm Sở Trung Ương Tình Báo Mỹ.
(5)Thuộc Trung ương Tinh Báo Mỹ.
(6) Trung tướng Mỹ văn phòng Tùy viên Quân sự.
(7)Giám đốc Trung Ương Tinh Báo Mỹ.
(8) Đây là việc Polgar tự động liên hệ với nhân viên Hung Gia lợi sắp đặt việc thương thảo với Bắc Việt. Chuyện này sẽ do Polgar tự kể trong chương kế-Polgar không biết những người làm chính sách Mỹ chỉ muốn rút, không thương thảo gì, không có ý định lập chính phủ liên hiệp. Việc này phụ tá Đại sứ Lehmann đã nói ở phần đầu của chương 4. Ghi chú của người dịch.
(9) Xem phần phỏng vấn Phụ tá Đại sứ Wolf Lehmann và phần phỏng vấn Thiếu tá Jim Kean chương 9. (10) Jim Kean, Thiếu tá Thủy quân Lục chiến, sẽ có bài ở Chương 9.
(11) John Madison, Đại tá Bộ binh, thành viên ủy ban Liên Hợp Quân Sự.
(12) Cố vấn an ninh quốc gia.
(13) Xem phần phỏng vấn Stuart Herrington ở Chương 7 . Ghi chú của người dịch.

LỘI QUA NHÁNH ĐÊM BUỒN

phuonguy

anh học nói trên nhành thời gian gãy
nghe mùa đông về đập cánh chiêm bao
giọt nắng sót cố nhuộm tàng lá vỡ
gió mùa xưa còn lồng lộng ầm ào

dấu mưa cũ đâu còn in nhịp bước
lật tầng tầng kí ức cũng im hơi
anh mải mốt chỉ một điều vô ích
chốn tinh khôi không có lối khứ hồi

anh học vẽ mùa anh bằng mơ ước
bằng mùa đông bấc thổi rát trên cành
bằng tiếng xuân trôi giữa chiều lịm tắt
bằng nỗi buồn lăn mệt mỏi đêm thanh

anh học hát những ca từ cũ nát
đám kí âm rơi rụng trắng hiên nhà
em ngút ngát không về mùa di trú
nghe vô thanh ngồi khóc tiễn đêm qua.

Hoàng Phương Uy

Bóng Nắng

tranvanle

Cả thế gian như một cõi Thiền:
núi đồi không tóc nắng nghiêng nghiêng,
đêm trăng không biết làm sao nhỉ,
tấm áo cà sa mấy lớp sương?

 Cả thế gian muông thú mất rồi,
trên trời rải rác chút mây trôi,
cây không thấy nhánh nào xanh lá,
bờ suối vài hoa ngỡ nụ cười…

 Bờ suối hình như còn dấu gót
của ai để lại đã ngàn năm?
Bài thơ ai gắn trên tường đá
còn lại mơ hồ mấy nét trăng…

 Cả thế gian hiu quạnh nghẹn ngào
chỉ là tiếng gió chợt lao xao,
chùa rêu mái ngói xanh màu nắng;
nắng với màu rêu tưởng một màu!

 Tưởng…tượng,  tưởng tượng…không hình tượng!
Sắc tức thị không vậy đó ư?
Không trung không khéo mà tan vụn,
tiếng thét nào vang một kiếp tu?

 Những lối mòn không một bước nai,
nắng ơi là nắng cả trong ngoài –
trong tâm tưởng của người lưu lạc,
ngoài một niềm mong thấy một mai…

(Cả thế gian như thế, nước nhà,
Trời làm dâu biển một cơn qua,
người tu thay áo đi vào chợ,
cuộc đổi đời mơ đá trổ hoa!)

 Đá trổ hoa không?  Lòng trổ huyệt!
Mồ cha mộ Mẹ thấy mô nào?
Nhân danh Cách Mạng, nhân danh được!
Bình Trị Thiên…Trời ạ, thế sao?

 Thiên trị may ra mới Thái Bình…
Người ta sửa lại cái-nhân-danh,
núi kia không tủi đồi trơ trọi,
thơ một câu thôi cũng có Tình

Trần Vấn Lệ

CƯỠI NGỌN SẤM

cuoingonsam
richardbotkin

Chương 3

Đại úy Ripley – Đại đội Lima 6

Khi Đại úy John Ripley đến vùng đất này vào tháng 10 năm 1966, có lẽ ông là người cuối cùng trong số ba anh em nhà Ripley cùng năm đó đã đến để chiến đấu chống kẻ thù Cộng sản. Trong lúc người anh Mike lớn hơn John một tuổi, nhưng là người sau cùng trong dòng họ Ripley gia nhập vào binh chủng TQLC, đã từng lái chiến đấu cơ A-4 và đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của mình vào tháng 6, thì người anh cả George, vốn đã “đầu độc” đứa em ruột của mình bằng cách cho đọc “Tiếng thét xung trận” của Leon Uris và do đó củng cố ước vọng trở thành TQLC của cậu ta, lúc đó đã là một Thiếu tá phục vụ với vai trò sĩ quan ban 3 cho Trung đoàn 3 TQLC, đơn vị phụ thuộc 3/3. Cũng trong năm đó, người cha Bud Ripley đã viết một bức thư rất xúc động gởi đến Bộ trưởng Hải quân xin cho cả ba đứa con trai của ông cùng lúc được phục vụ trên chiến trường. Lo ngại các điều luật hạn chế sự tổn thất mà một gia đình có thể chịu đựng nổi sẽ không cho phép tất cả các con trai ông được thi hành nghĩa vụ cho tổ quốc, ông đã vì đất nước thân yêu mà sẵn lòng phó thác những người con ông yêu thương nhất cho sự may rủi.

Số mệnh của Đại úy John Ripley đã không hề bị ngăn trở bởi điều luật hay bất kỳ ai. John Ripley đã tự nhủ, tính toán và tự nguyện thực hiện ước nguyện mình. Đại đội Lima, gần đây đã thay hai người chỉ huy trong một thời gian ngắn và từ đơn thuần là một Đại đội bộ binh, đã thay đổi trong vòng vài tuần khi có viên Đại úy mới đến thành một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất. Chỉ chưa đầy một tháng khi anh nắm quyền, sự biến chuyển đã trọn vẹn.

Lê Bá Bình
Sài Gòn
Tháng Hai năm 1965

Nhận xét bên ngoài từ quan điểm của người Mỹ, thật là kỳ lạ khi mà Lê Bá Bình, mới được thăng chức trung úy gần đây và nắm quyền chỉ huy Đại đội 1 Sói Biển, vừa quay về nhà đã lại phải trở ra mặt trận. Ngoại trừ trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ, người Mỹ không có kinh nghiệm nào về chiến tranh trong nội bộ đất nước họ. Đối với những người còn sống, trong ký ức chung của họ là các chàng trai Mỹ luôn luôn đi ra mặt trận hay các nơi khác ngoài nước Hoa Kỳ – thường là châu Âu nhưng cũng có ở Thái Bình Dương hoặc tại châu Á – một nơi nào đó rất xa nhà. Mặc dù viễn cảnh hạt nhân của ngày tận thế luôn ám ảnh trong tâm trí của cả quốc gia, sự kiện một thanh niên trở về quê hương để chiến đấu thật sự là một điều quá khủng khiếp để có thể suy ngẫm một cách cặn kẽ được.

Đối với người dân, nước Mỹ là nhà, nơi mà trái tim họ đang đập, được cô lập và ngăn cách bởi hai bờ đại dương, là một pháo đài hùng vĩ. Binh lính Hoa Kỳ không lo là thành phố hay quê hương họ có thể bị cướp bóc, hay vợ con họ có thể bị xâm hại. Nhưng đối với Lê Bá Bình và những người lính TQLC thì không như vậy. Không có những chuyện tương tự như là “Pháo đài Việt Nam.” Ít nhất là chưa có ngày ấy.

Chuyến trở về Việt Nam của Bình gần như không có gì đáng lưu ý. Anh nhớ nhà, nhớ đồ ăn Việt Nam, nhớ những mùi vị và âm thanh thân quen của gia đình. Thật là hạnh phúc khi được trở về nhà và anh hài lòng khi nghĩ rằng sẽ sớm được đáp ơn những gì mà Tổ quốc đã kỳ vọng nơi anh. Anh rất thích nước Mỹ, thích cái vĩ đại và các khoảng không gian mở rộng, thích sự chuyển động không ngừng của người dân tại đó.

Bình đã học được rất nhiều trong trường Huấn Luyện Căn Bản và kết thân được với một số TQLC Hoa Kỳ, những người sẽ sớm đến cùng sát cánh trong cuộc chiến đấu ngay trên quê hương anh. Bình rất háo hức được áp dụng những bài vở đã học được với mong muốn, mà theo anh, sẽ cứu sống những người lính của anh, và quan trọng hơn hết, là tiêu diệt thêm nhiều quân cộng sản nữa.

Vào những năm sau khi kết hôn với ông Lê Bá Sách, bà mẹ kế của Lê Bá Bình đã sinh hạ ra thêm bảy người con, nuôi nấng bốn người con riêng của chồng cũ và tất bật với cửa hàng tạp hóa kiêm luôn gian hàng thực phẩm ở chợ Tân Định. Bà chuyên bán những món ăn bún và gạo miền Bắc và làm ăn khấm khá với sự hỗ trợ của bầy con đến giúp sau khi tan học.

Đối với Bình, Tân Định là nhà, một ốc đảo yên tĩnh, một nơi trú ẩn, một nơi để luôn luôn quay về vào cuối tuần khi Tiểu đoàn 3 nghỉ hành quân, từ căn cứ bản doanh chỉ cách xa mười lăm cây số ở Thủ Đức. Cuộc sống hàng ngày tại Tân Định dường như không bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến đang xảy ra liên tục trong các làng mạc và vùng quê không xa nơi đó mấy. Ngay bên ngoài Sài Gòn, bằng chứng về sự bành trướng của Cộng sản và các vùng kiểm soát của Việt Cộng rất dễ nhận thấy.

Người Mỹ rất khó mà hiểu nổi hoàn cảnh của bạn đồng minh Việt Nam. Đối với họ, ra mặt trận có nghĩa là một chuyến đi dài đằng đẵng bằng máy bay hay tàu thủy. Đối với Bình và hầu hết các quân nhân TQLC Việt Nam, thường thì là vài phút rong chơi trên yên một chiếc xe gắn máy.

Vào những lần xuất hành trong các cuộc hành quân thường lệ, các đơn vị chiến đấu TQLC Việt Nam thường mang theo khẩu phần ăn cho sáu ngày gồm có gạo, cá khô, xúc xích, và nước tương. Khẩu phần C-rations cũng được mang theo nhưng chỉ được sử dụng như sự lựa chọn cuối cùng đối với những người lính TQLC Việt Nam với khẩu vị khác với người Mỹ.

Một phương cách ít phức tạp và rườm rà hơn là các Tiểu đoàn trưởng được trợ cấp tiền mặt và ông có thể xuất ra để bổ sung vào khẩu phần ăn cho các binh lính của đơn vị mình.

Mang tiền mặt theo dễ hơn là mang theo cả tấn lương thực. Tiền mặt có khả năng mua được cá, gạo, sản vật và bất cứ thứ gì mà quân đội cần thành thử lại khiến cho các đơn vị tạo được ảnh hưởng trong các vùng mà họ hoạt động. Tiền nhẹ nhàng hơn cũng giúp đơn giản hóa các nỗ lực về tiếp vận.

Về nước uống thì thường được lấy từ các nguồn nước tại địa phương, thường là giếng hay suối. Các quân nhân TQLC Việt Nam, dù là gốc thành thị hay nông thôn, thường có thể tạng phù hợp với các loại nước uống kém tinh khiết hơn là lính Mỹ. Việt Cộng nổi tiếng hay bỏ thuốc độc vào các giếng bất cứ lúc nào họ làm được. Một cách thử tuy thô sơ nhưng hữu hiệu nhằm đối phó với những sự phá hoại ngầm như vậy là nhúng ớt tươi vừa cắt vào nước mới lấy được. Tùy theo sự thay đổi màu sắc của nước mà biết được nước có an toàn để uống hay không.

Một trong những khó khăn lớn nhất khi hoạt động trong hoặc xung quanh khu vực đông dân cư là làm thế nào xác định được ai có cảm tình với Cộng sản. Khác với bộ đội Bắc Việt, Việt Cộng không mặc đồng phục. Họ luôn luôn tìm cách khai thác các lợi thế như lén lút và lừa dối, với khả năng có thể trà trộn lại vào đám dân chúng mà họ vừa từ đó chui ra.

Người Mỹ đặc biệt gặp khó khăn khi muốn phân biệt những người dân bình thường với kẻ thù mang vũ khí. Sự khác biệt quá lớn về ngôn ngữ và văn hóa cộng lại đã làm cho việc giao tiếp và hiểu biết về những nét tinh tế của lối sống Việt Nam rất khó khăn. Những điều này hoàn toàn ngoài tầm hiểu biết của của người lính Mỹ bình thường. Đó là một trở ngại lớn đối với nỗ lực của người Mỹ để đánh bại một kẻ thù mà họ hơn hẳn về hỏa lực nhưng kém hơn trong sự xảo quyệt hay sự quyết tâm.

Lính TQLC Việt Nam không hề bị các rào cản về văn hóa hay ngôn ngữ như vậy nên nói chung dễ phát hiện các khu vực mà Việt Cộng hoạt động hơn là người Mỹ.

Có nhiều phương cách và dấu hiệu để phát hiện ra Cộng quân. Chỉ cần nói chuyện bâng quơ với dân làng là đã có thể nhận ra lòng dạ hay ý định của họ. Một điều rõ ràng là nếu họ chịu tiết lộ thì biết ngay họ có chống Cộng hay không vì nếu giúp chính phủ thường phải trả giá rất cao. Việt Cộng sẵn sàng trả đũa những hành động giúp địch như vậy một cách nhanh chóng và tàn bạo. Trong vùng kiểm soát hay khủng bố của Việt Cộng, người dân thường giữ im lặng và miễn cưỡng trả lời những câu hỏi thông thường nhất.

Chỉ nội sự im lặng cũng đủ báo hiệu cho TQLC biết cần phải thận trọng hơn. Trong các làng mạc và cánh đồng lúa giáp với khu dân cư mà chỉ có lác đác vài người lớn làm việc trong giờ làm đồng vào ban ngày thường có nghĩa là họ phải tham dự các lớp học về tuyên truyền và nhồi sọ. Đôi khi TQLC yêu cầu các ngôi làng nghi ngờ có VC hiện diện phải đốt đèn ban đêm để có thể dễ dàng quan sát mọi sự di chuyển. Đèn tắt chứng tỏ cho TQLC biết có điều gì đó ám muội đang xảy ra.

Có một loạt các dấu hiệu riêng rẽ hay liên quan với nhau, có khi rất rõ ràng và đôi khi mù mờ nhưng nếu biết kết hợp lại với nhau thì có thể xác định mức độ đe dọa của bất kỳ một khu vực cụ thể nào đó. Tuy nhiên có một nguồn tin tức tốt, chắc chắn nhất để biết có Cộng sản chung quanh hay không là hỏi trẻ em. Tách chúng ra khỏi đám đông, ân cần hỏi han và cho bánh kẹo là cách dễ dàng nhất để lấy niềm tin của đám trẻ thơ ngây mà bất cứ sự huấn luyện hay đe dọa nào của cha mẹ chúng đều không ngăn chận được, cho dù là họ có là cán bộ nòng cốt của Việt Cộng đến đâu đi nữa.

Những điều mà Bình và số lượng ngày càng đông các sĩ quan trẻ TQLC đã được học thêm tại Quantico rất có ích. Khả năng tác chiến của họ đã được nâng cao và quy mô của TQLC Việt Nam cũng được phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của chiến tranh vào năm 1965 cùng với sự khốc liệt của cuộc chiến đang được tiến hành. Khi Bình còn là một thiếu úy, phần lớn các trận chiến gần Sài Gòn hơn để đối phó với các đơn vị nhỏ của Việt Cộng. Ngay sau khi được thăng chức trung úy và nhận nhiệm vụ Trung đội đội trưởng TĐ1 của TĐ3, đơn vị Bình được điều ra phía Bắc đánh nhau với các đơn vị VC lớn hơn và cả bộ đội Bắc Việt nữa.

Từ lúc đầu tiên ra mặt trận, ngay trước những ngày tại Quantico, Bình đã chiếm được cảm tình của các cố vấn TQLC Mỹ hiện diện bên cạnh các đồng minh Việt Nam nhằm bảo đảm cung cấp một hỏa lực dồi dào. Sự yểm trợ của không lực nếu được đáp ứng một cách nhanh chóng và tương đối chính xác từ các phi công Việt Nam và Mỹ cùng với yểm trợ pháo binh từ của tiểu đoàn pháo binh TQLC thường đánh dấu sự khác biệt giữa chiến thắng và thất bại, sự sống hay cái chết, đặc biệt là chống lại các lực lượng thù địch Bắc Việt thường có quân số đông hơn.

Địa bàn hoạt động của Đại Đội 1 vào năm 1965 thường diễn ra tại một vùng mà giới quân sự và dư luận Hoa Kỳ gọi là Vùng I (còn gọi là Quân Đoàn 1), phát âm là “Ai-Coọc” (I-Corps). Việt Nam Cộng Hòa được chia ra làm bốn vùng chiến thuật. Vùng I là phần đất nằm phía Bắc của Việt Nam Cộng Hòa. Vùng chiến thuật này bao gồm biên giới với Bắc Việt (vùng phi quân sự) cũng như tiếp giáp với biên giới Lào nơi quân Bắc Việt duy trì đường mòn Hồ Chí Minh cùng với các căn cứ quan trọng có thể dùng để xâm nhập miền Nam Việt Nam qua nhiều ngả khác nhau. Vì vậy đây là một trong bốn vùng chiến thuật xảy ra các trận đánh khốc liệt và gây nhiều thương vong nhất trong suốt cuộc chiến.

1965 chưa phải là năm đẫm máu nhất cho Tiểu đoàn Sói Biển TQLC Việt Nam. Do nhu cầu chiến sự, khả năng chỉ huy cấp đại đội bộ binh của Bình đã được nâng cao theo cấp số nhân. Các cuộc đụng độ quan trọng với các đơn vị lớn gấp bội của Việt Cộng tại những nơi như Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, tiếp giáp với Quốc lộ I, cách 60 km về phía nam Đà Nẵng, 570 km về phía bắc Sài Gòn, và chỉ cách bờ biển sáu cây số, đã là nơi Đại đội 1 của Bình tham gia vào một chiến thắng quan trọng trước một số trung đoàn VC. Các cuộc đụng độ khác, như trận đánh tại Ba Gia và tiến sâu vào nội địa, cách Tam Kỳ 40 km về phía nam, là một bài học đắt giá trong việc tránh bị đánh lừa. Tại Ba Gia, VC đã xuất sắc trong việc chuẩn bị chiến trường trước trận chiến. Mặc dù Đại đội 1 đã tiêu diệt được một số quân Cộng sản đáng kể, sau trận đánh chính kẻ địch đã gây tổn thất nhiều hơn cho quân VNCH trong lần đó.

Bị thương lần thứ tư lúc chỉ huy Đại đội 1 đánh nhau phía Bắc và một lần nữa được công nhận là chiến sĩ anh hùng, danh tiếng của Bình như một nhà tư tưởng và một chiến sĩ không quản gian nguy chiến đấu chống một kẻ thù dai dẳng đã lan truyền sâu rộng trong giới TQLC tuy còn nhỏ bé nhưng đang phát triển lớn mạnh dần. Bố mẹ Bình, đám em và bạn bè rất ngưỡng mộ lòng quả cảm của anh và dường như lúc nào anh cũng đang phải hồi phục từ các vết thương do mảnh bom đan hoặc rừng rậm ô nhiễm. Giữa những cuộc hành quân, Tiểu đoàn Sói Biển bổ sung quân số, nghỉ ngơi và tái huấn luyện tại Thủ Đức. Vì vậy Bình có thời gian rảnh rỗi để thăm gia đình và bạn bè gần đó tại Tân Định.

Trong vùng Tân Định không có vị trí chiến lược nào ngoại trừ một đồn cảnh sát nhỏ cho nên khả năng VC tấn công khủng bố rất xa vời. Đối với Bình sự thay đổi liên tục giữa chuyện phải điều đi đánh nhau ở bất kỳ nơi nào đó và trở về nơi tạm yên Tân Định đã trở thành một tập quán. Ngày nào Cộng sản bị đánh bại và hòa bình tái lập, họ sẽ trở về cuộc sống mà thực sự chưa có ai từng sống qua nhưng tất cả đều hoài mong chờ đợi. Trong lúc này họ phải chịu những sự hy sinh cần thiết thôi.

Không có nơi nào mà niềm tin tưởng là những sự hy sinh cần thiết ngày nay cho một tương lai tốt đẹp hơn được thể hiển rõ ràng nhất trong âm nhạc của thời đó. Nền tân nhạc cận đại của Việt Nam vào thời kỳ đầu và giữa thập niên 1960 là một sự pha trộn khác thường của nhạc trẻ Mỹ và Pháp cùng với hai ngàn năm văn hóa của đất nước. Nhạc mới Việt Nam có thể được chia ra thành hai giai đoạn chính. Từ 1954 cho đến khoảng 1962, lúc nỗ lực chung được tập trung vào việc xây dựng nội bộ đất nước, các bài hát ghi chép lại các cuộc đấu tranh gần nhất và niềm tự hào về khả năng của nước cộng hòa. “Chuyến đò vĩ tuyến” nhằm vinh danh hơn 800 ngàn người đã hy sinh rất nhiều để di cư vào Nam bằng đường thủy. “Nắng Đẹp Miền Nam” (The Rising Sun of the South), một giai điệu rất được ưa thích và được phổ biến rộng rãi như cái tựa đã nói lên được ý chính, là một trong những bài ca theo chủ đề tương tự tiêu biểu cho thời kỳ đó.

Từ năm 1962 trở về sau, âm nhạc được phát triển cùng với nhịp độ ngày càng tăng của cuộc xung đột. Giọng ca ủy mị và diễn xuất tuyệt vời của Hoàng Oanh trong bản “Tình Anh Lính Chiến” (The Love of a Fighting Man) đã được biết đến và ghi khắc trong lòng của mỗi quân nhân cũng như những phụ nữ đang chờ đợi họ. Trong bài hát, người lính chiến đấu ngoài mặt trận và người yêu thì ở lại hậu phương. Trong màn đêm, chàng trai ngắm trăng tròn và tự hỏi, giống như mọi chiến binh khắp nơi, không biết người yêu có đang ngắm cùng một vầng trăng và nghĩ đến mình hay không?

Nhiều bài ca khác không ủy mị bằng thì kêu gọi lòng ái quốc và gương hy sinh. “Ai Ði Chinh Chiến” đặt và giải đáp câu hỏi “Ai là những người tòng quân để xây dựng một tương lai hòa bình?” Có thật nhiều các bài hát yêu nước và chống cộng nhưng không phải tất cả các bản nhạc đều như vậy. Miền Nam đã đủ lớn mạnh và an ninh để chấp nhận cả nhạc phản chiến của Phạm Duy rất được phổ biến.

Ngay từ năm 1962, dấu chân của người Mỹ ở Việt Nam là đủ quan trọng và phổ biến, cũng như các chuyến công vụ của họ cũng đủ lâu dài để ảnh hưởng nền văn hóa Mỹ lên nước nhà. Do đó người Mỹ không muốn và cũng không có lý do nào để họ vượt ra ngoài những điều dễ dàng có sẵn. Ngay từ việc chuyển từ tiếng Anh qua tiếng Việt đã không giống như việc học tiếng Tây Ban Nha hoặc tiếng Pháp ở trung học. Bạn không thể thêm một “o” ở cuối của mỗi từ và giả bộ đó là tiếng Việt, mặc dù một vài từ tiếng Pháp vẫn còn được dùng như vậy. Chẳng lẽ binh sĩ và Thủy quân lục chiến Mỹ lại nói: “Boocoo VC,” “boocoo này” và “boocoo đó?” (beaucoup).

Người Mỹ, ngay cả cách sử dụng đôi đũa còn nhiều lúng túng, hoàn toàn không hiểu các ngữ điệu tinh tế tựa như tiếng hát của ngôn ngữ địa phương. Vì vậy họ thấy văn hóa Việt Nam có vẻ cầu kỳ vòng vo và không thích hợp với những phương pháp kinh doanh Tây phương thẳng thắn trực diện mà họ tin là có ưu thế hơn.

Trong đám thương gia Việt Nam có những người đàn ông cũng như đàn bà tham lam và siêu-tư-bản chỉ muốn bám vào sự hào phóng của người Mỹ còn chưa biết cả cách đổi tiền sòng phẳng. Trong phạm vi những khu vực “Hoa Kỳ nhỏ”, thường xuất hiện bất kỳ nơi nào có quân đội Hoa Kỳ hoạt động, có đủ các thú vui thể xác mới lạ mà hầu hết những người lính Mỹ trẻ rất muốn thử qua. Do đó, rất ít người Mỹ thật sự hiểu được dân bản xứ và nền văn hóa một cách thân thiện ngoài những gì có sẵn trong khu ồn ào, các nhà thổ và các quán ba.

Trong khi chủ nghĩa đế quốc văn hóa Mỹ dường như chừa lại chẳng bao nhiêu cho những gì không phải là văn hóa Mỹ thì Bình, cũng như đa số bạn bè của anh và gia đình, lại thích loại âm nhạc tổng hợp nhiều màu sắc lúc nào cũng hiện diện trên các làn sóng phát thanh hơn. Mọi người đều thuộc lòng nhịp điệu bản “C’est Si Bon” và hầu hết đều hiểu “thấu lời bài hát do di sản văn hóa Pháp để lại. Với trình độ tiếng Anh của mình, Bình còn hiểu được lời các bản nhạc của Beatles như “I Saw Her Standing There.” Và anh cũng thích những bài hát như vậy, giống như hàng trăm ngàn người Việt Nam thuộc giới trẻ không cần biết và cũng không quen với ý nghĩa lời nhạc nhưng lại được truyền cảm hứng qua các giai điệu. Ít nhất là người Việt Nam và người Mỹ còn có chung một thứ gì đó để chia sẻ với nhau trong tính phổ quát của nhạc Rốc.

Đối với những người Mỹ yêu nước thuộc thế hệ xưa, những người thích Trung sĩ Barry Sadler với bài “Ballad of the Green Berets” nếu như họ biết thì có lẽ “Tình Anh Lính Chiến” sẽ hấp dẫn và quen thuộc với họ hơn.

Với tư cách một Trung úy bộ binh trẻ, Lê Bá Bình tập trung vào nhiệm vụ chiến đấu và chăm lo đến các binh sĩ trong Đại đội 1 nhiều hơn mọi thứ khác. Tuy anh rất thích âm nhạc thời đó nhưng anh không màng đến ý nghĩa của bất kỳ bài hát đặc biệt nào. May mắn cho anh là có một người phụ nữ trẻ, đặc biệt với một nhận thức sâu sắc hơn về nghệ thuật và thơ văn cũng như tính lãng mạn của thời kỳ độc đáo duy nhất đó. Sau này Bình có lý do riêng để cảm ơn Hoàng Oanh đã hát bài “Tình Anh Lính Chiến” ra rả liên tục vì điều này chính là yếu tố quyết định sau rốt để Cầm Bành nhận lời cầu hôn của anh.

Đại đội Lima 6

Khi John Ripley có mặt tại Việt Nam, ông chỉ có một mục tiêu chuyên nghiệp trong đầu. Mặc dù lòng thương nồng nàn anh dành cho bà vợ Moline và đứa con trai Stephen, nhưng John Ripley vẫn là một sĩ quan bộ binh thuộc binh chủng TQLC. Anh là một đại úy Thủy quân lục chiến. Cấp bậc Đại úy thuộc binh chủng TQLC, trên danh nghĩa, có nhiệm vụ chỉ huy Đại đội bộ binh để ra mặt trận khi cần thiết. Bất cứ cấp chỉ huy “skipper”* (danh xưng chỉ huy trong TQLC, vốn thuộc vào bộ Hải Quân được gọi là “skipper” tức thuyền trưởng) nào với mức độ nam tính vừa phải hoặc đủ mức gan lì thường sẵn sàng vượt chông gai để có cơ hội dẫn dắt đám TQLC đi đánh nhau. Người nào mà không đủ mức độ nhiệt tình như vậy thường thất bại khi chỉ huy binh lính của mình. *

Rất ít người sống ngoài quân ngũ hiểu và đánh giá nổi cái quyền quyết định tuyệt đối như ông Trời đã giao cho những thanh niên chỉ ngoài đôi mươi ngoài mặt trận.

Trong chiến sử đầy dẫy các trường hợp những chàng trai mới lớn và quá trình thay đổi nhanh chóng của họ. Bản chất cuộc chiến tại Việt Nam là trên bộ thành thử đã có một số lượng hỏa lực khổng lồ được tập trung vào những tay Đại úy chỉ mới hai mươi bốn, hai mươi lăm, hoặc hai mươi sáu tuổi. Họ thường xuyên dẫn Đại đội hành quân xuyên qua những cánh đồng, những cánh rừng rậm và lên xuống các đường mòn quanh co. Đối với những sĩ quan bộ binh nào thích được thử sức tới cùng và dứt khoát muốn biết mình có đủ đảm lược để chỉ huy binh sĩ chiến đấu trong tình huống tuyệt vọng hay không thì nhiệm vụ Đại đội trưởng bộ binh chính là cái thử thách đó.

Có nhiều yếu tố kết hợp lại để nhiều người gọi chiến tranh tại Việt Nam là một cuộc chiến “cấp Đại đội.” Thế đất và địa hình thường giới hạn việc sử dụng các đại đơn vị cũng như các chiến thuật càn quét. Hầu hết các trận đánh xảy ra trong rừng rậm, tầm nhìn bị hạn chế, thông tin liên lạc khó khăn và kẻ thù thì phải cận chiến. Điều này có nghĩa là những đơn vị lớn hơn cấp Đại đội thường không được sử dụng với một hiệu quả tối đa. Chính vì những giới hạn về địa lý cho nên các tướng lãnh tư lệnh Sư đoàn, các Đại tá chỉ huy Trung đoàn, ngay cả cấp Trung tá Tiểu đoàn trưởng thỉnh thoảng phải chấp nhận quan sát mặt trận từ những hầm chỉ huy ở phía sau hay phải bay trực thăng trên không, rất hiếm khi nào ngay từ tiền tuyến. Cuộc chiến tại Việt Nam được lên kế hoạch tỉ mỉ từ cấp cao và trung bình nhưng phần lớn được thực hiện bởi cấp Đại úy trở xuống. Vai trò của một “skipper” có một sức hấp dẫn đặc biệt. Nó là điểm tựa, là trung tâm tuyệt đối của thế giới TQLC mà chung quanh đó là một sự pha trộn đặc biệt của tinh thần chỉ huy tại chỗ. Sĩ quan Đại đội trưởng là người điều hành và quyết định tuyệt đối. Tuy nhiên họ cũng có thể gần gũi như một người anh cả đối với các cấp Trung đội trưởng và binh sĩ, có thể nhìn thấy ngay các kết quả tức khắc – thành quả của khả năng đơn vị mình – và đồng thời sử dụng được toàn bộ kỹ năng trí tuệ nhằm phối hợp và hướng dẫn các phương tiện hỏa lực hỗ trợ trong quá trình suy luận có thể thực hiện được.

Trong một trận đánh không có điều gì khó khăn hơn là việc gọi hỏa lực khủng khiếp từ các chiến hạm, các đơn vị pháo binh, không lực yểm trợ, để rồi phối hợp thành công và điều chỉnh lại qua những người trên mặt đất. Khi mọi chuyện kết hợp lại với nhau tốt đẹp như vẫn thường xảy ra thì chiến thắng gần như là chắc chắn. Thỉnh thoảng cũng có những trường hợp mọi chuyện không tốt đẹp như vậy.

Ngay cả những lúc như thế, vẫn luôn luôn có những hành động chung của các TQLC được huấn luyện và chỉ huy đúng mức trong các toán hỏa lực, các Tiểu đội và Trung đội trong thành phần Đại đội vượt qua được các sai lầm về phán đoán, liên lạc bị thiếu sót, những vụ bắn lầm phe bạn, những tình huống bất thường và một kẻ thù không kém ngoan cố để tạo nên sự khác biệt giữa thành công và thất bại.

Một giàn hỏa lực có sức tàn phá khủng khiếp chỉ kém vũ khí hạt nhân một mức, được thiết kế bởi những khoa học gia lỗi lạc nhất của các công ty lớn nhất của ngành kỹ nghệ chiến tranh Hoa Kỳ hùng mạnh luôn luôn sẵn sàng chờ đợi sự phán đoán chín chắn đã được giao cho viên chỉ huy “skipper.” Anh ta chỉ việc yêu cầu và chỉ định sự tàn phá cần thiết sẽ được thực hiện tại đâu. Tất cả đã được dọn sẵn cho anh ta và các chiến binh TQLC như một mâm cỗ khổng lồ vô hạn định về thời gian. Toàn là những thứ “nặng ký”; một hỏa lực tàn khốc có khả năng xé toạc mặt đất ra từng mảnh, một hỏa lực khốc liệt có thể biến con người thành tro bụi, xóa hết vết tích người đó đã từng hiện hữu. Tất cả sức mạnh đó nằm trong tay một thanh niên trẻ tuổi. Trách nhiệm nặng nề về sự an nguy của hai trăm binh sĩ và khả năng nắm trong tay một hỏa lực vô giới hạn tùy thuộc vào sự quyết đoán của một người còn chưa biết cạo râu mà một hay hai năm trước đó còn thắc mắc làm sao qua được một kỳ thi đại học hay giường chiếu của một vài cô gái đầy hứa hẹn, hoặc chẳng suy nghĩ gì cao xa hơn những bản nhạc như “Who Wrote the Book of Love” hay “Who Put the Bomp in the Bomp Bah Bomp Bah Bomp?”

Không có một nơi nào có thể mang lại một cảm giác kinh sợ, những tình cảm cao độ, tinh thần trách nhiệm và cơ hội rủi ro cá nhân và phần thưởng tinh thần và sự mất mát như vậy được. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy Đại đội, người đàn ông sẽ không bao giờ có lại được cái cảm giác tuyệt đối như thượng đế nữa. Sau này nếu có trở về đời sống dân sự, mọi của cải tích lũy được cũng không sánh bằng mức độ trách nhiệm và uy quyền đã từng có được trước kia. Ngay cả nếu có được thăng cấp lên chỉ huy các đơn vị lớn hơn, kinh nghiệm này cũng sẽ làm kém đi tình cảm gắn bó với thuộc cấp nơi đầu sóng ngọn gió. Người ta nói rằng hầu hết các tướng lãnh TQLC đều sẵn sàng đánh đổi các ngôi sao của mình để làm chỉ huy Đại đội ngoài mặt trận một lần nữa.

Phải mất một chút thủ tục sau khi đến Việt Nam nhưng cuối cùng John Ripley đã được giao nhiệm vụ chỉ huy Đại đội mà anh hằng khao khát. Sự vụ lệnh bổ nhiệm là sĩ quan chỉ huy Đại đội Lima tương đối nhanh chóng. Chẳng là Đại đội đã trải qua nhiều cấp chỉ huy trong một thời gian ngắn vì những lý do không khác thường lắm. Mặc dù còn sót lại một ít chiến binh đầy kinh nghiệm từ những chiến dịch trước, nhiệm vụ này đã có nhiều sự thay đổi. Trước kia đơn vị này được phối trí tại một khu vực gần Đà Nẵng và hoạt động chính của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 3 nhằm chống lại du kích Việt Cộng trong những cuộc đụng độ không thường xuyên và nhanh chóng. Cuộc giao tranh mà họ sắp tham gia ở phía Bắc Vùng I Chiến Thuật sẽ gay go hơn, có tính cách qui ước và liên tục hơn so với những gì đã trải qua. Hằng ngày phải chạm trán với các lực lượng Bắc Việt mạnh và được huấn luyện khá hơn (so với Việt Cộng) trên một địa bàn khắc nghiệt đã làm cho cuộc chiến trở nên đẫm máu hơn. Khi Đại úy Ripley nắm quyền chỉ huy Đại đội Lima, anh chưa có kinh nghiệm cá nhân mấy. Nhưng anh cũng không có tật xấu nào cả. Một tâm trí cởi mở đi đôi với lòng nhiệt thành muốn làm hết khả năng của mình đã là một sự khởi đầu tốt đẹp. Kinh nghiệm Thám Sát kết hợp với sự huấn luyện về Biệt động cùng với nhiệt huyết riêng về Trinh sát, tài năng dọ thám địa hình, đồng thời một khái niệm vững chắc làm cách nào tận dụng hỏa lực yểm trợ có sẵn là những yếu tố anh sớm sử dụng với một hiệu quả trông thấy được.

Đại úy Ripley là một người rất khó tính khi huấn luyện lại Đại đội Lima với những chiến thuật bộ binh căn bản nhất. Muốn di chuyển toàn bộ một Đại đội bộ binh cộng thêm mọi trang bị với con số lên tới 225 lính TQLC cùng với lính Hải quân không phải là chuyện đùa, đặc biệt tại phía Bắc của Vùng I Chiến Thuật. Tuy nhiên chỉ trong vòng hai tuần lễ, Đại đội Lima đã có khả năng thực hiện được điều đó chỉ bằng cách ra dấu 100%.

Không có chuyện lộn xộn hay giỡn chơi được. Mọi giác quan lúc nào cũng phải căng thẳng sẵn sàng. Mỗi TQLC và lính đều phải biết vai trò của mình, biết khi nào sẽ có đụng độ. Các chiến binh đều trở thành chó săn, đánh hơi được từng dấu hiệu của sự hiện diện của đối phương trước khi quân Bắc Việt nhận ra họ. Trong những tháng sau đó, Đại đội Lima không bao giờ bị bất ngờ hay bị phục kích bởi kẻ thù. Chính Đại đội Lima chủ động các cuộc chạm trán và không hề thiếu những tình huống như vậy. Một người bạn đồng thời là đệ tử của Ripley tên là Ed “Ed mã tấu” McCourt, khi đó là Trung úy của Trung đội 3, Ðại đội 3 India, đã nhanh chóng nhận xét về anh: “Rip là một thứ nam châm hút bộ đội Bắc Việt. Đám TQLC chúng tôi thường xin hành quân bên hông của Đại đội Lima vì chúng tôi luôn luôn thấy chắc chắn là có đánh đấm.”

*Danh xưng “skipper” không được gọi một cách dễ dàng. Trong Hải Quân Hoa Kỳ, skipper là sĩ quan chỉ huy của bất cứ loại tầu bè nào; từ cái xuồng thoát hiểm cho đến hàng không mẫu hạm. Trong TQLC Hoa Kỳ, danh xưng này dùng để chỉ người nắm quyền chỉ huy Đại đội – trong trường hợp này là Đại đội bộ binh. Trong mọi trường hợp, đây là một danh xưng để bày tỏ niềm kính nể và sự thân mật.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM