ĐÀN RUNG TƠ LẠNH SUỐT MÙA SƯƠNG

trananh

hương tỏa một vùng thơm ngát áo
trăng kề má nguyện lạnh đêm thâu
khói bay mù bóng mây hồ thủy
tạt lạnh vai người không thấy đâu

lạ phút sơ nguyên từ hạnh ngộ
ngủ quên trang sách mộng dăm tờ
bởi mưa chưa động run cành lá
thức chi lòng lạnh giấc mơ xưa

chút lòng khắc khoải cháy thê lương
tóc ơi đã dạt gió mười phương
mà ta một thuở còn nhung nhớ
áo khăn bịn rịn mấy năm trường

ai nghiêng nón đựng mối sầu ta
mắt trong chim lặng khói sương nhòa
phố dài diệu viễn nhiều hoa bướm
lạc ngõ mơ trời chiều thiết tha

còn đợi tơ lòng lạc mấy cung
tay ai bấm nhẹ phím tơ chùng
phím tơ chùng dây kêu đuối tiếng
tang tình tang đàn trầm đáy sông

rượu nhạt men rồi chung lữ khách
tiễn đưa có lá rụng cuối đường
tiễn đưa hiu hắt nhiều mưa bụi
cùng lòng ta lạnh suốt mùa sương.

1973
Tran Anh

Hương

tranngochuong

Môi yêu như sóng, cuộn môi,
Cuộn đầu lưỡi cuộn nhau trôi bềnh bồng
Đong đưa một chiếc cầu vồng,
Cuộn nhau vào giữa cuồng phong đắm chìm.

Bão bùng quá đỗi dịu êm,
Khẽ khàng như gió mịn mềm như tơ.
Bến xưa tre trúc thẫn thờ,
Bềnh bồng đâu bến đâu bờ chiêm bao.

Hỏi em từ phút thiêng nào,
Mặn nồng trót mượn, ngọt ngào trót vay
Tình thơm thấm đẫm men say,
Chắt chiu từng cuộc xum vầy quán trưa!

Anh về, em sắp về chưa,
Vòm xanh nắng rải lưa thưa hạt vàng.
Bao ngày mỏi bước dọc ngang,
Cảm ơn em đã dịu dàng tay nâng.

Quên bao truy vấn ngại ngần,
Cõng nhau qua thác trầm luân phận đời.
Hương môi, hương tóc, hương người,
Vấn vương tận chốn xa xôi …, nhớ về

Trần Ngọc Hưởng

Tháo Mắt

trusa

Gửi Gánh Sách Rong

Một tấm cản. Thứ chướng ngại luôn rào bước mỗi lúc tôi muốn tìm vào sâu hơn trong nàng. Phải, nó đấy : Cái kính.
Cái kính án ngữ trước mắt nàng. Hẳn thế rồi, vì nàng đeo kính. Trên mặt nàng lúc này là một cái kính mắt vuông. Gọng kính Lacoste nâu sẫm phù hợp với nước da trắng của nàng. Đây chỉ là một gọng kính trong số hàng lố những gọng kính nàng trữ trong tủ. Trừ tròng mắt thủy tinh trong, còn thì gọng kính nàng thay thường xuyên. Dường như nàng không mua sắm gì ngoài những gọng kính. Mắt kính nàng vẫn thay đổi để khớp với gọng. Chỉ cần một cuộc hẹn đến phòng khám mắt. Chiều đến, nàng về bên tôi với một mắt kính hoàn toàn mới. Tôi không có thành kiến nhiều với những cái kính. Một cặp kính vừa vặn trước mắt sẽ phủ thêm hào quang. Kính mắt không mang lại tri thức, nhưng đeo kính sẽ tạo thêm quyền lực. Một ông thầy mắt lành luôn mất điểm trước ông thầy đeo kính. Dù học vấn ngang nhau, người đeo kính vẫn luôn có lợi thế về hình thức.
Tôi từng đọc được câu chuyện một kẻ luôn mê mẩn những phụ nữ đeo kính. Hắn sưu tập đủ hình ảnh người mẫu đeo kính. Tranh ảnh, áp-phích, tạp chí play-Boy, ảnh cắt trên báo. Trong máy tính của hắn có đến một nghìn ảnh nữ đeo kính với mọi tư thế. Nếu truy cập các Wed khiêu dâm, ưu tiên hàng đầu của hắn luôn là phim có nữ chính đeo kính. Hắn vẫn thường rình mò ở các phòng thẩm mỹ, vệ sinh công cộng, nhà tắm tập thể để nhìn trộm những cô nàng mắt kính. Những cuộc nhìn vụng trộm thế luôn làm hắn thất vọng vì trừ lúc ỉa đái, chẳng cô nàng nào tắm mà vẫn đeo kính. Niềm say mê của hắn ngày một mạnh. Trong một cuộc triển lãm tranh quốc tế về chủ đề Cái Đẹp Nữ Quyền, hắn đã đập, xé mọi bức tranh chỉ vì không thấy người con gái nào đeo kính. Và rồi, hắn cưới một cô gái mù với cặp kính trắng luôn thường trực trên sống mũi…
Tôi bảo nàng “Em có thể bỏ kính một lúc không?”
Nàng lắc, và nói “Tại sao chứ. Em cần phải đeo kính.”
Cái kính vẫn trên mắt nàng. Thứ mắt kiếng thủy tinh trong làm nàng quý phái, nhưng chính nó đã cản tôi thâm nhập vào đôi mắt nàng. Tôi biết rằng nàng cận không nặng. Những tròng kính nàng đeo luôn mỏng như nhau. Miếng kính mỏng tang như vỏ bánh trứng. Cả hai mắt kính mỏng đều nhau, và cũng trong suốt như nhau. Nàng chẳng cận quá một độ. Việc nàng tránh phải tháo kính chắc vì thâm niên cận thị của nàng. Đôi mắt cận nhẹ dù nhiều năm chưa hẳn sẽ dại nhưng chẳng còn trong và khỏe khoắn như bình thường. Đấy là điều nàng lo ư, khi phải nheo mắt nhìn bạn đời.
*
…Hãy bỏ kính một lần, để anh được nhìn vào mắt em. Đã quá lâu rồi, anh chưa được nhìn đôi mắt trần của em. Một cái nhìn. Sẽ chẳng hệ trọng gì. Thiếu cặp kính, hẳn em không nhìn rõ anh nhưng hãy để anh thay ánh sáng cho em. Một chốc thôi. Anh muốn nhìn vào đôi mắt em, và tìm kiếm khuôn mặt mình. Chính anh. Chứ không phải tên đàn ông lạ khác.
Tôi không ít lần nói vậy. Nàng chẳng gật, hẳn rồi. Từ lâu cái kính đã là vật bất ly thân của nàng. Chưa khi nào nàng bỏ nó ra. Ngay cả khi kính bẩn vì bụi bặm và mưa. Những lúc thế, nàng lấy khăn lau mặt trước kính, rồi quấn khăn vào ngón út, luồn lau mặt sau. Khá mất thời gian nhưng rồi hai tròng mắt cũng sạch. Trong những giấc ngủ, ngắn hay dài nàng vẫn không bỏ kính. Nàng nói mắt nàng không tốt ngay cả trong lúc ngủ, nếu thiếu cặp kính nàng sợ sẽ lạc đường vĩnh viễn trong giấc mơ. Tôi chẳng tin, thế nhưng tôi vẫn nghe và gật. Lúc hôn nàng, tôi luôn phải nghiêng đầu. Những cuộc hôn chỉ dịu nhẹ từ mũi trở xuống. Chưa một lần đầu tôi và nàng ghì hẳn lên nhau, mắt chìm vào mắt. Tôi hoàn toàn tự do với phần thân thể từ đầu trở xuống của nàng. Loài đàn ông luôn vậy, khi lột hết áo quần người tình thì sẽ chỉ chăm chú vào bộ vú và hạ bộ. Cái đầu bạn tình sẽ bị đánh quên, hoặc chỉ ngấu nghiến ở phạm vi vòm miệng. Tôi khác. Tôi cần đôi mắt nàng. Và, chẳng bao giờ nàng thỏa tôi cả. Những lần phối ngẫu, nàng dâng tôi tất cả trừ cặp kính trước mắt. Vậy nên, tôi có cuồng điên mấy vẫn không được tì lên kính. Chính điều này, dù tôi đã rưới được vào trong nàng nhưng chẳng thể coi là cực khoái. Như đã nói, tôi cần cặp mắt nàng. Dõi thật sâu vào đáy mắt nàng, để ngắm nghía khuôn mặt mình. Mắt nàng chẳng to lắm, nhưng vẫn đủ để tôi thấy dù lờ đờ bóng mình. Lúc này đây, tôi muốn thâu tóm trọn vẹn tâm hồn nàng. Chỉ cần đi được vào mắt nàng, bước từng bước sâu để bóng ảnh mình hòa tan vào đấy. Tôi sẽ chiến thắng cả thần Cupid.
*
Đôi mắt nàng nằm khuất sau tròng kính thủy tinh.
*
“Để anh nhìn đôi mắt em, một lần nào.”
“Anh vẫn nhìn thấy mắt em đó thôi.” – Nàng nói, rồi vuốt ve mai tóc tôi.
“Đôi mắt sau kính em kìa.”
“Vẫn chỉ thế thôi anh. Tròng kính đâu có xước, mờ đến nỗi anh không thấy mắt em.”
“Mắt em đang hấp háy. Những này, hãy để anh dõi vào để thấy mặt mình.”
“Em đang nhìn anh, đồng tử em chỉ lưu hình anh.”
Nàng đẩy cao cặp kính. Nụ hôn lứa đôi vẫn nghiêng nghiêng. Tôi chẳng biết cái gã quái gở thích thú đến đâu khi hôn cô gái mù. Hắn sẽ tháo kính nàng ta, hay cũng hôn nghiêng đầu, hoặc hắn ấn mắt hắn vào mặt kính lạnh. Trong album, máy ảnh và Facebook có đủ kiểu ảnh về nàng. Luôn là cặp kính trước mắt. Loại kính gọng đen, xanh, tím than, gọng vuông, tròn, bầu dục…Đủ hết. Phóng to các bức ảnh, tôi chẳng tìm thấy hình gì nơi tâm mắt nàng. Rõ ràng mỗi khi bấm máy nàng đều nhìn tôi. Nhiều bức, do ngược sáng, bị lóa nên chỉ chụp ra cặp kính trắng muốt như sáp nến.
Mỗi ngày, tôi đều ve vuốt thân thể nàng. Chỉ riêng đôi mắt nàng tôi chưa chạm vào. Tôi có thể vuốt vào hàng lông mày nhỏ, ngắn của nàng. Riêng các lông mi nhỏ như lông bàn chải loại mềm là tôi chưa được chạm. Ngay đến việc đầy hào hứng là miết chậm ngón tay qua khóe mắt nàng và cúi sát mặt để đắm chìm vào viên ngọc trai đen, tôi cũng chỉ thử trong tưởng tượng. Tròng kính thủy tinh trong chắn lì trước mắt nàng. Loại mắt kính quá trong, phẳng và nhẵn mịn như lớp băng kết mặt hồ.
*
“Em còn cất giữ ai trong mắt thế?”
“Anh sao vậy? Bộ phim giả tưởng nào đang trong đầu anh thế.”
“Chẳng phim ảnh nào cả. Chỉ là đôi mắt em thôi. Ngoài anh, còn thứ gì trong đấy không?”
“Anh không tin em sao.”
“Đương nhiên có, nhưng anh vẫn muốn thấy nó. Cái mặt của anh.”
“Anh vẫn thấy đấy thôi.”
“Lý do gì mà em không bỏ kính, để anh tìm mình trong đấy.”
“Thôi nào, em sẽ loạng choạng nếu thiếu cặp kính. Anh biết không, em chẳng muốn thấy anh mờ đục đâu.”
Cuộc thoại kết thúc ở đấy. Tôi nghĩ ngợi. Thế rồi tôi ngủ gật. Tỉnh giấc, tôi quả quyết phải thấy được đôi mắt nàng.
…Còn ai nữa trong đáy mắt nàng nếu không chỉ là tôi.
*
Cốc café nóng tôi pha riêng cho nàng. Uống nửa cốc, nàng bảo rằng buồn ngủ. Nghiễm nhiên nàng đã ngủ một giấc say trên giường. Tôi chỉ chờ thế.
Lần này, nàng sẽ không đủ tỉnh thức để tóm, và gạt tay tôi. Mắt nàng nhắm nghiền sau lớp mắt kính thủy tinh. Giờ, tôi sẽ tháo bỏ nó, để tiếp cận đôi mắt nàng. Phần đuôi của gọng kính cong, uốn vào màng tai nên tôi phải vất vả để gỡ ra. Xoay trái, rồi xoay phải. Nàng đeo kính chặt vào sống mũi, nên tôi phải dùng sức. Một lúc, tôi đã lấy được cái kính ra. Mắt nàng vẫn khép lại, rất chặt. Mắt nàng dù đã nhắm, con ngươi vẫn lồi lên như hai viên bi. Nắn vuốt, tôi vỗ mặt để nàng dậy. Mắt nhắm, tôi lay mạnh, nói to dần vào tai nàng. Tôi lại quên cốc café rồi. Nhưng chỉ lúc này thôi. Cơ hội của tôi.
Tôi vạch mắt nàng lên. Da mắt nàng dính quá sâu. Tôi loay hoay, rồi vã mồ hồi. Cơn nóng nực cùng sự nôn nóng đã thiêu cạn sự tỉnh táo trong tôi. Lúc này, đỉnh đầu tôi như có khói bốc lên. Mắt dại hẳn và mờ hẳn. Câu chuyện về kẻ cuồng say phụ nữ đeo kính nối đoạn trong đầu. Phần tiếp sau, kể về cô gái mù đã chạy trốn khỏi hắn sau khi ném chiếc kính đi. Cô nàng mắc chứng Amaurosis Fgax cả hai mắt. Giờ, ánh sáng trở lại và cô đã đi theo lối có đèn. Hắn, không chịu nổi sự phản bội này nên đã tóm cổ cô gái và cầm tù cô vĩnh viễn vào cặp mắt kính. Đôi mắt nàng vẫn ẩn quá sâu dưới da mắt. Tôi cần phải soi. Vì mồ hôi vã nhiều, làm ướt cả đầu tôi thêm rối trí. Loay hoay, tôi chọc hai ngón tay vào một bên mắt nàng. Ngón tay ấn mạnh, rồi đục xuyên. Con ngươi nàng bị móc ra như nhẩy ốc. Con mắt nằm lẫn cùng vũng máu. Tôi đã cướp mắt nàng, hệt như hắn thổi tắt ánh hải đăng của cô gái. Nhìn vào tròng đen, tôi không thấy gì hết. Chẳng một bóng ảnh nào bám lại, dù mỗi mặt tôi ghé vào. Thế rồi, tôi đã lóc con mắt còn lại của nàng. Tôi móc thật nhanh, thuần thục như đã kinh nghiệm. Hai con mắt nằm trên lòng bàn tay. Tôi đã nhìn vào từng con mắt. Rõ ràng chúng còn tươi nóng, và còn trợn trừng. Tuyệt chẳng hình hài gì in lại. Tôi khều, rồi nắn. Chợt nghe tiếng “Rắc” tôi ngỡ mình đạp phải miểng kính. Quá nóng vội, tôi nắm chặt bàn tay. Lúc xòe ra, hai con mắt đã nát nhão, lẫn cả vào nhau. Không còn tròng đen, trắng. Chỉ một thứ bầy hầy như đất sét vùi chung máu.
“Thấy gì chưa.”
Tôi nhìn quanh. Tiếng nói từ nàng. Hẳn nàng đã thức dậy. Tôi luống cuống. Miệng lắp bắp và không biết biện minh thế nào cho hành động điên rồ của mình. Hai hốc mắt nàng cạn dần máu và trơ ra đen ngòm. Tôi tính đi giật lùi, thế mà lại tiến về phía nàng. Chỉ đợi thế, nàng tóm chặt tay tôi.
“Đố thối tha, nhìn tôi xem.” – Tôi rùng mình vì giọng của nàng.
“Anh…Anh…”
“Anh thỏa mãn chưa. Đã tìm thấy chưa.”
Nàng kéo mạnh tôi vào giường. Đôi tay nàng áp hai bên má. Mười đầu ngón tay nàng bấu lấy da mặt tôi. Mắt tôi chạm hốc mắt nàng.
“Nhìn xem, đồ thối tha.”
Giọng nàng đay nghiến. Từ trong hốc mắt hoăm hoắm, tôi nhìn thấy một bóng mờ đỏ. Lúc nàng dí mặt sát kề, tôi nhìn thấy rõ hơn. Cái mặt trong đấy nhác giống tôi và gớm ghiếc hơn tôi. Lúc này tôi quá hoảng loạn, còn kẻ trong hốc mắt thì bình thản và tỏ vẻ đang thích chí dù không cười. Tôi đứng thẳng còn hắn đứng lộn đầu như đang treo ngược. Tôi nhợt nhạt còn hắn đỏ au ảu như con dơi vừa liếm no máu.
“Tìm đi, đồ thối tha…”
Nàng gào lên. Nàng cười, vống cao từng trang như tiếng sói tru. Tôi chưa thể thoát khỏi vòng tay nàng. Tôi chưa tưởng ra đôi bàn tay búp măng lại có lúc nhiều sức mạnh đến thế.
*
Nắng xối qua cửa sổ, đổ chồng thành như mái đình quện vàng vàng. Tôi nhíu mắt, rồi mở mắt từ từ. Sau mắt trái là mắt phải. Do chưa quen với nắng chói, tôi úp mắt vào hai lòng bàn tay và nhìn qua các khe ngón tay.
“Anh chịu dậy rồi sao?” – Giọng nàng lọt từ phòng trong.
Tôi ngồi trên giường hồi lâu, đợi hồi tỉnh hẳn.
“Anh ngủ li bi mấy ngày liền đấy.” – Nàng lại nói.
“Anh có một giấc mộng kỳ quặc.”
“Kỳ quặc thế nào vậy anh.”
“Chỉ là…À…Vớ vẩn thôi em…”
Tôi dậy, và vào với nàng. Tôi muốn ôm, và hôn nàng. “Khoan đã.” – Nàng bỗng nói to. Rồi bảo tôi đợi ở ngoài.
“Em đang thay áo quần đấy ư? Anh có thể giúp em đấy.”
“Ồ không, em đang lựa kính. Em không biết mình đã từng mua loại kính nào màu tối không nữa. Mắt em hơi đỏ, chắc là bị đau mắt. Em sẽ vạ lây anh đấy, nên giờ phải tìm một cái kính khác.”
“Mắt em thế nào?” – Tôi hỏi, và thấy bồn chồn.
“Mắt em đỏ. Triệu chứng đau mắt đỏ, hoặc mắt hột hay gì đấy đại loại vậy. Chốc nữa nữa em sẽ đến viện mắt trung ương.”
Nàng vẫn phòng bên kia. Tôi đứng phòng ngoài. Chân cứ ì một chỗ. Tôi nghĩ về đôi mắt nàng. Sau đấy, nàng ra ngoài bằng cửa sau. Chiều, nàng về với một cặp kính râm trước mắt. Vẫn loại tròng thủy tinh nhưng đủ thẫm màu để không ai thấy đôi mắt nàng. Tôi và nàng làm tình vào cuối buổi chiều. Cặp kính không rời mắt nàng. Tôi đã lả xuống và không phóng tinh.
Tôi không chạm vào cặp kính của nàng, dù một ngón tay. Mắt nàng đang bệnh và cần cách ly, chưa biết bao lâu. Cũng lúc này, tôi tìm thấy trong nhà nửa cốc café uống dở. Café nguội ngắt, và mù đen vì để lâu.
*
…Phần sau chuyện kẻ mê nữ đeo kính tôi chưa được biết. Đoạn sau, là tiếp nối hoặc là phần kết của câu chuyện. Sẽ thế nào đây? Tôi nghĩ ngợi. Tôi vò đầu và nhấp từng ngụm café. Một lúc, tôi thấy ngái ngủ.

Tru Sa

PHÂN ƯU

12969

Chúng tôi vô cùng xúc động và thương tiếc
khi nhận được tin buồn:
Thân phụ của bạn Nguyễn Ngọc Thơ
Đã từ trần ngày 1 tháng 7 năm 2015 tại Tây Sơn ,Bình Đinh
Hưởng thọ 88 tuổi.
An táng tại quê nhà
TuongTri.com xin chân thành chia sẻ nỗi đau buồn và mất mát lớn lao này cùng tang quyến.
Nguyện cầu hương linh Bác sớm được siêu thoát.

THÂU ĐÊM TRẰN TRỌC NGHE MƯA

phamngoclu

Chưa mùa mưa trời bỗng mưa mau
Mái nghiêng gác lệch mưa rêm đầu
Nghe lòng chăn chiếu sao tê tái
Hơi hướm giang hồ chẳng ấm nhau
Cứ gom tâm sự nằm nhai lại
Tâm sự một đời hôi bể dâu
Năm năm mười năm không là mấy
Góp lại không đầy một đêm thâu
Đêm thâu nghe mưa rơi trằn trọc
Đời mòn chí mỏi biết về đâu ?
Bao khách xa nhà trong thiên hạ
Đêm mưa thanh khí chẳng tương cầu
Cứ nghe mưa héo mòn trời đất
Tê buốt lòng ngàn mũi kim khâu…

Chưa mùa mưa sao mưa rười rượi
Không chừng trời ốm khiến mưa đau
Chiếu chăn meo mốc chua mùi mộng
Mộng sớm mộng khuya chóng bạc màu
Nhốn nháo sinh linh thời nhiễu loạn
Lều bều thân thế lộn vàng thau
Năm nổi tháng chìm ngày mắc cạn
Đêm mưa lòng nghẽn nước đục ngầu
Nằm suông thức trắng nghe mưa giọt
Sáng dậy lơ ngơ… tóc bạc đầu !

PHẠM NGỌC LƯ

1973.

KHÚC NGÂU…

tonnuthudung

Thiên sứ muôn đời trong sáng
Thiền sư đôi lúc lỗi lầm
Từng ngày chia nhau khổ nạn
Đừng hỏi ai người vô tâm …

Đời vẫn trầm luân nhật nguyệt
Sương tàng rơi ướt đêm thâu
Thảng thốt những hàng lệ tuyết
Bờ xa, bến thẳm về đâu …

Một dòng mong manh khói biếc
Buông tay…gió tạt hiên người
Nhắm mắt …thả lời ly biệt
Một điều không nói
rơi…
rơi…

Tôn Nữ Thu Dung

The Fourth of July và Giấc mơ Mỹ

trantrungdao

Nhà bình luận nổi tiếng của chương trình News Hour, Roger Rosenblatt, tóm lượt về nguồn gốc nước Mỹ: “Quốc gia được thành lập từ những giấc mơ, và cũng qua đó, đã hun đúc nên giấc mơ của cả một quốc gia”.
Vâng đúng thế. Ngoài trừ số nhỏ người bản xứ, đất nước Hoa Kỳ được xây dựng nên do bàn tay và khối óc của những kẻ bên ngoài. Họ đến đây từ trăm ngã đường khác nhau và hàng trăm vùng đất khác nhau.
Irving Berlin, được xem là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của nền âm nhạc Mỹ và tác giả của nhạc phẩm bất hủ God Bless America được hát trong mọi ngày lễ, nhất là Lễ Độc Lập Hoa Kỳ (the Fourth of July) không phải là người sinh ra và lớn lên trên nước Mỹ.
Cậu bé có tên Mỹ là Irving Berlin sinh tại Nga vào năm 1888. Cậu theo cha mẹ đến định cư tại New York khi mới vừa lên 4 tuổi. Khi còn rất nhỏ, cậu Irving phải vừa làm nghề dọn chén bát trong một nhà hàng và vừa học sáng tác nhạc, một bộ môn mà cậu say mê. Sau khi nhạc phẩm đầu tay được xuất bản vào lúc 13 tuổi, tên tuổi của nhạc sĩ trẻ tài ba Irving Berlin đã trở thành đồng nghĩa với nền âm nhạc Hoa Kỳ thế kỷ 20 qua nhiều nhạc phẩm vượt thời gian.
Bà Madeleine Albright, cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao và là người phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ cao cấp nhất trong chính phủ Hoa Kỳ, vốn là người Tiệp Khắc. Cha mẹ bà đã phải vượt qua nhiều biên giới để trốn tránh chế độ Cộng Sản khi tiếng xích xe tăng Liên Xô nghiền nát đường phố thủ đô Prague vào năm 1948. Cuối cùng bà cùng gia đình đã vượt thoát được và định cư tại Hoa Kỳ khi Madeleine Albright vừa 11 tuổi. Bà theo học Luật, đỗ tiến sĩ và trở thành người phụ nữ đầu tiên giữ chức Ngoại Trưởng Hoa Kỳ.
Edward Bannister, họa sĩ nổi tiếng về phong cảnh của Mỹ là một người da đen thuộc vùng West Indian, Phi Châu. Ông đến định cư tại Mỹ qua ngã Canada vào năm 1848. Tác phẩm Under The Oaks của ông là một trong những thành tựu nghệ thuật lớn của nền hội họa Hoa Kỳ thế kỷ 19. Tác phẩm này đoạt giải nhất trong cuộc thi đánh dấu 100 năm hội họa tại Philadelphia Centennial Exposition. Khi khám phá ra Edward Bannister là người da đen, ban giám khảo có ý định thu hồi giải thưởng. Tuy nhiên, trước sự đấu tranh của những họa sĩ đồng nghiệp, nhất là của những họa sĩ da trắng đã từng cùng tranh giải với ông, Ban Giám Khảo đã hủy bỏ dự tính.
Những người di dân điển hình thuộc nhiều lãnh vực, màu da và chủng tộc khác nhau. Họ không từng quen biết nhau, không cùng một thế hệ, không cùng huyết thống và chẳng hẹn hò đính ước gì nhau.
Những người di dân đầu tiên không phải ai cũng giàu có, học hành, trí thức, trái lại phần đông họ rất nghèo nàn, ít học, đến đây từ hai bàn tay trắng. Tuy nhiên, dù từ đâu đến và trong hoàn cảnh nào, họ đã cùng góp bàn tay đưa nước Mỹ từ một vùng đất hoang vu thuộc địa của Anh thành một cường quốc tự do, dân chủ và thịnh vượng nhất thế giới ngày nay.
Câu chuyện thành công của nước Mỹ, đúng như Roger Rosenblatt viết, đã bắt đầu từ một giấc mơ chung: Giấc Mơ Mỹ hay American Dream như chúng ta thường nghe gọi bằng tiếng Anh. American Dream được định nghĩa trong tự điển Wordsmyth như là “một lý tưởng của người Mỹ, nhờ đó, bất cứ người nào cũng có thể nhận được sự giàu có vật chất, bình đẳng, tự do, và các giá trị tương tự (the American ideal that any man or woman may obtain material wealth, equality, freedom, and the like)”.
American Dream đã giúp nhân dân Mỹ chiến thắng đạo quân tinh nhuệ của Anh Hoàng George III trong cuộc chiến tranh giành độc lập (1775-1783), đã giúp nhân dân Mỹ vượt qua những bất đồng kinh tế chính trị sâu sắc trong thời kỳ chiến tranh nội chiến (1860-1865), đã giúp đưa nước Mỹ trở nên quốc gia có lợi nhất sau cả hai cuộc chiến tranh thế giới.
American Dream là giấc mơ mà những người cha sáng lập của quốc gia Hoa Kỳ từng ôm ấp và theo đuổi: Tự Do, Dân Chủ và Cường Thịnh. Tổng Thống đầu tiên George Washington đã từng dặn dò: “Tôi mong được thấy Hoa Kỳ mãi mãi là đất nước của tự do và công lý”. Tượng đài kỷ niệm Tổng Thống George Washington được kiến trúc dựa theo tinh thần độc lập, tự chủ và vươn lên đó.
American Dream là giấc mơ bình đẳng mà Mục Sư Martin Luther King đã đọc trên thềm đài kỷ niệm Lincoln ngày 28 tháng 8 năm 1963: “Tôi mơ một ngày, trên đồi Georgia, con cháu của những người nô lệ cũ, và con cháu của những chủ nô cũ, ngồi lại với chung một bàn trong tình huynh đệ…Tôi mơ một ngày, bốn người con của tôi sẽ được sống trong một đất nước, nơi đó, chúng sẽ không bị phán xét do màu da mà chính bằng tư cách riêng của chúng”.
American Dream, qua nhiều thời đại, từ những người trên chiếc tàu Mayflower cho đến hôm nay, đã được làm phong phú thêm để trở thành một bản sắc văn hóa, một truyền thống đặc biệt của quốc gia này.

Trần Trung Đạo

Lễ Độc Lập – July 4th- Inpendence Day.

1C9096A0-A680-4359-978A-63F0626D46E7_w640_r1_s
Diễn hành Ngày Độc lập .

-Ngày 4 tháng 7 năm 1777 là ngày Hoa kỳ giành độc lập và trở thành một quốc gia. Tính chất thiêng liêng của ngày này được thể hiện qua câu văn trong báo Virginia ra ngày 18/07/1777: “Ngày 4 tháng 7 là ngày vinh quang và đáng nhớ nhất, từ rày về sau sẽ được tổ chức cho toàn nước Mỹ từ năm này đến năm khác cho đến khi nào thời gian không còn nữa. Amen và Amen”

-Hai nơi làm lễ lớn nhất là Philadelphia (Pennsylvania) và Boston (Massachusetts)

-Năm 1777, người dân Phidalelphia tưởng nhớ ngày 4 tháng 7: chuông ngân, súng nổ, đèn cầy thắp sáng, pháo đốt, nhưng chính thật ngày 4 tháng 7 năm 1777 là một ngày rất giản dị bình thường. Ngày nay, người dân Philadelphia làm lễ trong Independence Hall, nơi những hoạt cảnh lịch sử đã được dựng lại và bản Tuyên ngôn Độc lập được đọc.

-Khi chiến tranh chấm dứt năm 1783, ngày 4 tháng 7 trở thành ngày nghỉ trong vài nơi. Tại Boston, ngày lễ Độc lập đã thay thế ngày 5 tháng 3, ngày thảm sát cuả Boston (Boston Massacre), và được xem như ngày lễ tổ quốc chính. Có diễn văn, sự kiện quân sự, diễn hành và pháo bông.

-Năm 1941, quốc hội Mỹ tuyên bố ngày 4 tháng 7 là ngày lễ chính thức của USA

Một ngày như mọi ngày

nguyenmonggiac

Thượng đế hấp tấp tạo dựng ra muôn vật khi chưa kịp đọc kỹ bản tuyên ngôn nhân quyền. Chàng bật cười nhớ lại cái ý ngộ nghĩnh đó của Will Durant, sử gia người Mỹ đã bỏ cả đời để viết bộ lịch sử văn minh nhân loại. Chí lý thay! Nếu Ngài ngập ngừng thêm một sát-na (xin mở ngoặc đơn lưu ý là một sát-na của Thượng đế bằng khoảng thời gian dằng dặc từ thời khai thiên lập địa cho đến thế kỷ 20) để đọc được bản tuyên ngôn đẹp như mộng ấy đủ hai sát-na, Ngài đã không bắt chàng sống cuộc đời vô tích sự như vậy. Mọi người đều được quyền có việc làm. Nhiều người được ân sủng của Thượng đế. Chàng thì không. Chàng chẳng biết phải làm gì. Ðứa con gái út hỏi nghề nghiệp cha để ghi vào sơ yếu lý lịch nộp cho nhà trường. Chàng bối rối không biết trả lời con thế nào. Vợ chàng nhanh trí đáp hộ: “mất sức lao động”. Con gái chàng không hiểu gì cả. Chàng lườm vợ, bất bình. Vợ chàng đỏ mặt. Chàng hỏi gay gắt:
– Ai cho phép em đặt tên con là Gái Út?
Vợ chàng không vừa:
– Ðó không phải là lao động!
Thượng đế cao xanh ơi! Ðến vợ con còn không hiểu được chàng, làm sao người ngoài hiểu được! Chẳng trách ai cũng gọi chàng là con người lêu bêu vô ích!
Chàng ái ngại thương mình. Kể ra chàng cũng có cố gắng đấy chứ. Việc gì chàng cũng làm hết mình, rán đến nơi đến chốn. Kết quả tuy không ra gì nhưng “mưu sự tại chàng, còn thành sự tại trời”. Chàng thành thực thấy mình oan uổng không đáng trách.
Thử lấy một ngày nào đó từ lúc thức dậy đến khi đi ngủ xem chàng đã làm gì! Ngày nào cũng được, trừ chủ nhật. Một ngày như mọi ngày. Chàng cẩn thận yêu cầu tránh giùm ngày chủ nhật vì hôm đó vợ chàng ở nhà, chương trình làm việc của chàng bị xáo trộn. Chàng cũng không được thoải mái mấy, nên kết quả lao động hôm ấy thiếu tính chất tiêu biểu, nghĩa là không đủ tiêu chuẩn khoa học khách quan.
Chàng thức dậy lúc bảy giờ. Ðáng lý chàng có thể dậy sớm hơn vì đêm nào chàng cũng thao thức tiếc rẻ một cái gì. Tiếc một ngày nữa đã qua chăng? Tiếc những trang giấy vô tội bị bôi bẩn chăng? Tiếc của vì lỡ xé vụn một tờ nháp chăng? Có thể lắm. Nhưng đó là chuyện hôm trước. Chàng chỉ kể đến hôm nay, một ngày như mọi ngày. Chàng dậy trễ để chờ vợ ra khỏi nhà. Chàng thích được tự do, độc lập, hai thứ không có gì quí hơn. Vợ chàng dắt xe cắp cặp đi dạy xong, chàng tung chăn ngồi dậy, vươn vai, ngáp. Khoái thật! Ngáp cũng là một động tác thể dục buổi sáng, theo khám phá mới nhất của phép luyện nội công dành cho người lao lực về trí tuệ. Chàng ngáp một cái, hai cái, ba cái. Ðúng sách vở thì ngáp ba cái là đủ. Nhưng… nhưng sao thế này? Chàng ngáp thêm cái nữa, rồi cái nữa, rồi cái cái nữa nữa! À! Chàng nhớ ra rồi. Sách dạy nội công thánh thật! Quả đúng ngáp ba cái thì uế khí trong người bị đẩy ra hết, nội công lại thâm hậu đủ mười hai thành công lực, trí tuệ trở nên hoàn toàn sáng suốt. Nhờ trí tuệ sáng suốt, qua cái ngáp thứ tư trở đi, chàng nhớ một cách sáng suốt rằng mình chưa hề uống cà phê và hút điếu thuốc lá nào cho hôm nay. Cũng nhờ sáng suốt nên chàng trầm ngâm suy nghĩ được lâu. Chàng khám phá ra cái vòng lẩn quẩn của cuộc đời nhờ qui nạp pháp. Chàng có nói ngoa đâu! Này nhé, chàng bắt đầu từ chuyện ghiền cà phê thuốc lá của mình, một chuyện hoàn toàn vặt vãnh tưởng như không có gì đáng nói tới. Khối óc chàng có mụ mẫm đôi chút, trì trệ ì ạch đôi chút nên chàng cần chút xíu chất kích thích để phấn chấn lên. Cà phê thuốc lá nguyên chất còn vô hại, huống chi thứ cà phê pha 92,4% bắp rang và thuốc lá trộn 89,6% lá đu đủ. Xin yên tâm đừng nghe lời các thầy thuốc dại mồm dại miệng! Chàng cần chút xíu thứ nước và thứ khói gọi là cà phê thuốc lá ấy để đầu óc thêm minh mẫn. Ðầu óc minh mẫn để làm gì? Ðể suy nghĩ chín chắn xem trong các thứ đồ đạc còn lại trong nhà, chàng nên bán thứ gì trước thứ gì sau, bán thứ nào thì được mau mắn hơn thứ nào, nên bán thứ gì để được cao giá hơn thứ khác. Bán để làm gì? Ðể mua thứ nước và thứ khói gọi là cà phê và thuốc lá? Mua để làm gì? Ðể đầu óc thêm minh mẫn? Minh mẫn để làm gì? Ðể nghĩ chín chắn xem thứ gì còn bán được? Bán để mua cà phê thuốc lá! Ðể đầu óc minh mẫn! Ðể nặn óc nghĩ cạn xem còn bán được gì nữa không! Bán để mua cà phê thuốc lá…
Ðấy đấy. Không phải cái vòng lẩn quẩn của cuộc đời là gì. Phóng đại qui nạp pháp rộng thêm nữa, có thể suy ra cả luật tuần hoàn của vũ trụ, từ đó rút ra cả một hệ thống nhân sinh quan hoặc vũ trụ quan đủ, dư xài cho một đời! Kỳ diệu thay cái ngáp! Thế là chàng hăm hở bắt tay vào công việc đầu tiên trong một ngày bình thường, một ngày như mọi ngày!
Sau khi súc miệng rửa mặt xong, chàng đi ra đi vô suy nghĩ lung lắm. Chàng nhìn quanh: cái tủ sách đã vỡ kính, sợ, nép mình sát vào vách tối. Cái bàn viết gỗ tạp hạ chân xuống núp sau tủ sách. Cái radio cũ gãy cần ăng ten giơ cái tay cụt làm chứng như hô hoán: “Tôi là đồ bỏ, không ai thèm mua đâu!” Cái giường thì dọa: “Không có tao, nằm đất bị phong thấp cho coi”. Cái lọ hoa mẻ miệng thều thào: “Lạy Chúa, xin thương kẻ tật nguyền!” Chàng chỉ giả vờ lừ mắt dọa chúng nó thôi. Sức mấy chàng dám động đến những thứ ấy. Chúng thuộc độc quyền của vợ chàng. Chàng không mang được đồng xu cắc bạc nào về, thì không được phép chạm đến các thứ ấy. Phải để cho vợ chàng có phương tiện bù đắp những hao hụt trong chi tiêu hàng tháng chứ!
Chàng chỉ được phép nghĩ đến những thứ vặt vãnh xứng hợp với giá tiền cà phê thuốc lá dỏm. Hôm nay còn bán được món gì đây? Bột ngọt? Giá cao đấy. Hai trăm năm mươi đồng một ký, gấp năm lần số lương của vợ chàng. Vị chi 100 grams bán được những 25 đồng. Hai năm trước, chàng đã từng lén vợ bán 100 grams bột ngọt để đủ bao bốn người bạn văn đi nhậu một bữa phủ phê. Hồi đó tiêu chuẩn nhu yếu phẩm của công nhân viên còn khá, nên chàng tái phạm nhiều lần mà vợ chàng không hề hay biết. Bây giờ mỗi tháng chỉ được chia cho vài ba muỗng cà phê, vợ chàng ham tiền bán ngay trên đường về. Chàng thúc thủ, bỏ ngay ý định thứ nhất. Bao ni-lông chăng? Chàng rất sành giá cả. Một ký loại còn trong giá 20 đồng. Loại tái sinh không biết đến kiếp thứ mấy mầu nâu lợn cợn chất bẩn giá 14 đồng. Cũng cao giá đấy chứ! Nhưng Gái Út đã nằn nì xin chàng 58,6 grams để làm “Kế hoạch nhỏ”. Không nạp bao ni-lông và giấy vụn cho đội làm kế hoạch nhỏ, Gái Út sẽ không được công nhận là Cháu Ngoan Bác Hồ. Không phải là cháu ngoan của Bác, chao ôi, hại tương lai biết mấy! Thế là lại bỏ “phương án” thứ hai. Gạochăng? Hơi phức tạp đấy! Hình như trong lu da lươn còn một ít gạo, loại cửa hàng lương thực bán cho gia đình công nhân viên có độn nhiều thóc, bông cỏ và sạn. Giá một ký ngoài thị trường tự do là 6 đồng 25 xu. Tối hôm qua, vợ chàng căn dặn sáng hôm nay nếu cửa hàng có gọi đi mua gạo thì nhớ xem các cô cân cho đủ. Nhưng nếu nhỡ họ không gọi, hoặc xe chở gạo trên phòng lương thực bị hư chưa chở kịp, thì làm thế nào? Nguy hiểm lắm. Không đùa với lu gạo được. Lấy hết sáng suốt suy đi nghĩ lại, chàng chỉ thấy còn nước cuối cùng: trở về lũ bạn quyến thuộc thân yêu của chàng, lũ bạn đã từng chia sẻ với chàng bao nhiêu đắng cay, vinh nhục, lặng lẽ âu yếm theo dõi cuộc đời chàng. Chỉ còn lũ sách. Chàng đau nhói cả lòng. Bao nhiêu năm chàng sống giữa sách, sống vì sách. Bắt chước một câu khẩu hiệu cũ, chàng có thể nói: “Chàng là của sách, do sách, và vì sách”. Hồi còn đi học, cha mẹ chàng gửi cho mỗi tháng 1.200 đồng. Tiền cơm tháng 700. Tiền nhà 200. Còn lại bao nhiêu thứ chi tiêu quan trọng khác! Thế mà chàng dám bỏ 200 đồng để mua sách đều đều (chàng nhớ giá mỗi cuốn tiểu thuyết bìa mỏng loại Livre de poche chỉ có 10 đồng thôi). Mỗi lần mua được cuốn sách mới, chàng trân trọng nâng niu như nâng trứng hứng hoa. Sau khi bao bìa bằng giấy kính trong suốt, chàng lật trang đầu nắn nót viết vài dòng lưu niệm rồi mới đọc. Nét chữ, lời ghi, cách ký tên giữ nguyên tâm trạng chàng ở từng thời kỳ. Lâu lâu, buồn, đọc lại, chàng cảm thấy ngộ nghĩnh và bồi hồi. “Một chiều không nắng”, “Buồn vu vơ”, “Mùa lá rụng ở thành đô”, “Một sáng heo may bên thành quách cũ”. Vợ chàng thường đem những lời ghi ấy ra chê chàng hồi nhỏ quá “cải lương”. Chàng đỏ mặt, và càng thương cậu học sinh mới lớn học đòi làm thơ hồi đó. Trưởng thành hơn, chàng ghi đơn giản lại: “Kỷ niệm ngày tốt nghiệp”, “Buổi chiều gặp em”, “Ngày cưới”. Ðôi lúc do chưa đọc sách đã ghi dòng lưu niệm, chàng gặp cảnh trái ngoe, như chàng gặp người yêu đầu tiên (và cũng là người yêu cuối cùng) đúng vào hôm chàng mua cuốn truyện La Dame aux camélias, và chàng ghi hai chữ trân trọng “ngày cưới” lên cuốn Sonate à Kreutzer của Léon Tolstoi.
Lũ bạn sách đi theo ôm ấp bảo vệ chàng suốt các chặng đường lưu lạc. Bàn viết, giường ngủ của chàng luôn luôn có sách bao bọc. Chàng chỉ cần giơ tay lên là gặp gỡ được một cuộc đời. Chàng đọc đi đọc lại những đoạn ưa thích, đến nỗi mỗi khi muốn tìm lại, chàng chỉ cần lật đến chỗ giấy lề bị đen bẩn hơn là tìm thấy. Bạn bè tứ phương kiên nhẫn chờ chàng để được hỏi han, chia vui sẻ buồn. Thế mà bây giờ, ở thế kẹt, chàng phải phản bạn. Loại sách từng bị chàng rẻ rúng như truyện kiếm hiệp, bói toán, ái tình lâm ly đã bỏ chàng ra đi từ mấy năm trước vì đắt hàng. Mấy cuốn kinh Phật chàng đã “cúng dường” cho chợ sách một năm trước đây. Sách Mỹ bìa dầy giấy khổ rộng nặng cân nên đã theo các chị ve chai. Trong tủ sách hiện giờ chỉ còn loại sách mỏng, khổ nhỏ và có giá trị theo cách đánh giá của chàng. Xin nói thêm là cách đánh giá ấy không giữ phần chủ động. Sách hay, nhưng nặng ký cũng phải biến thành cà phê thuốc lá. Chỉ có sách hay mà bị các chị ve chai chê mới còn làm bầu bạn với chàng cho tới hôm nay, một ngày như mọi ngày! Phần lớn đều thuộc loại tiểu thuyết tiếng Pháp cỡ Livre de poche, hoặc loại khảo cứu và văn học. Chàng rút ra một cuốn khá dầy: “Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay” của Tạ Tỵ do Lá Bối xuất bản. Chàng tính nhẩm: Ít ra phải được 10 đồng. Mỗi khuôn mặt văn nghệ lớn chỉ đáng 1 đồng, rẻ quá. Nhưng rút kinh nghiệm các lần trước, chàng không dám tin cách định giá khiêm nhường của mình. Ðể chắc ăn hơn, chàng lấy thêm hai cuốn nữa theo lối nhắm mắt may rủi: Sử ký của Tư Mã Thiên bản dịch tuyệt vời của Nhượng Tống, và Sonate à Kreutzer của Tolstoi. Chàng vội ấn cuốn tiểu thuyết của văn hào Nga vào kệ sách. Không được chạm đến kỷ niệm thiêng liêng của hai vợ chồng! Dù Tolstoi bi quan đến mức nào về đời sống lứa đôi, nhưng Sonate à Kreutzer vẫn cứ là một lưu niệm đẹp. Chàng nhắm mắt rút một cuốn khác! Lại Tolstoi: Résurrection. Chàng không dám do dự nữa. Nếu do dự, chàng có thể sẽ nghĩ đến máu lệ từng thấm qua nét chữ Tư Mã Thiên, hay công lao khảo cứu của Tạ Tỵ. Chàng dứt khoát đóng tủ sách lại, dặn con trông nhà, rồi đạp xe lên chợ sách đường Ðặng Thị Nhu (xưa là Bùi Quang Chiêu).
Chàng tránh các sạp bán sách cũ của bạn bè vì hai lý do: bạn văn của chàng vồn vã mời cà phê thuốc lá nhưng lại hay quên trả tiền nợ. Hơn nữa, gặp là kháo nhau đủ thứ chuyện, trong lúc chàng có nhiều việc để làm. Chàng ghé một sạp sách cũ chuyên nghiệp trước từng bán sách ở đường Lê Lợi. Người mua sách mau mắn chận chàng lại hỏi:
– Có gì bán không chú?
Tội nghiệp, đến nước này mà chàng còn ngượng. Chàng không dám cho khách qua đường thấy chàng nỡ phản bội ông bạn già Tạ Tỵ, đại văn hào Nga và nhà viết sử Trung Hoa. Chàng chìa ba quyển sách ra, cẩn thận úp sấp lại. Người chủ sạp sách cũ không cần lật ngược để xem nhan đề, hai con mắt nhà nghề đo lường khổ giấy và chất giấy, trong khi đôi tay nhà nghề nâng lên nâng xuống đo trọng lượng. Một lát, ông ta hỏi:
– Bao nhiêu?
Chàng lấy bạo ra giá:
– Hai mươi đồng!
Bấy giờ chủ sạp mới đeo kính lão vào xem nhan đề. Ông trề môi chê:
– Sách văn học bán ế lắm. Chú còn sách bói toán hay kinh Phật, bao nhiêu tôi cũng lấy. Chàng định phản đối tới cùng, nhưng thấy vô ích. Chàng cố lấy vẻ bất cần hỏi:
– Nhiêu?
– Năm đồng.
– Ba cuốn mới được 15. Rẻ quá.
– Không. Năm đồng ba cuốn. Giấy cũ, gói đồ không được, làm bị rách, các-chú chê không mua.
Chàng giận quá, dằng mấy cuốn sách trên tay chủ sạp, bỏ vào túi vải. Chàng bỏ đi. Ra khỏi chợ, chàng ngáp đến sái quai hàm. Tại thiếu cà phê thuốc lá đây! Chàng do dự, rồi rẽ phía đường Calmette ghé vào hiệu mua bán giấy cũ của chú ba Tàu quen. Chú ba lắc đầu lia lịa:
– Giấy cũ ngộ không lấy. Có L. ngộ mua cho, 18 đồng một ký.
Chàng ngớ người hỏi lại:
– Chú mua sách L. à? Chú tiến bộ dữ!
– Hà hà! Ngộ đọc loại L. toàn tập dữ lắm. Tuyển tập giấy dày hao ký, ngộ không đọc.
Chàng đâm sợ! Tại sao có chuyện lạ vậy? Một tiểu thương gốc Hoa dốt nát không đọc được chữ Việt hỏi mua L. toàn tập! Hay là… hay là một chiến dịch phá hoại mới của Trung Nam Hải như vụ nạn kiều? Biết đâu được! Giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc theo Marx nhưng không theo Lê Nin. Họ hãnh diện là Hán tộc, đâu chịu răm rắp tuân theo lời dạy một người Nga-la-tư. Phải ra lệnh cho đạo quân thứ năm là Hoa kiều các nước tung tiền thu vét hết sách L., rồi lặng lẽ tung M. tuyển ra. Thâm thật! Thảo nào! Chàng sợ rắc rối lôi thôi, vội vàng bỏ đi.
Ði đâu bây giờ? Liếc nhìn cái đồng hồ chợ Bến Thành, đồng hồ đứng. Hỏi thăm đến người thứ 37, chàng được biết lúc ấy mới 8 giờ 45 phút. Sớm quá, nhưng không biết đi đâu khi túi rỗng, chàng đành trở về nhà vậy.
Con gái chàng cho biết tổ 15 của chàng phải mua gạo trước 5 giờ chiều, trễ là khóa sổ. Chàng mừng rỡ. A ha, tìm ra kế rồi. Chiều mua gạo, vậy chàng có thể xúc tạm vài lon đi bán mua cà phê thuốc lá được.
Công việc chóng vánh hơn bán sách nhiều. Chị hàng gạo đong được 1 ký rưỡi, nhân cho 6,25, vị chi 9 đồng 375. Chàng hồi hộp hy vọng được trả 9 đồng rưỡi, nhưng chị hàng gạo bần tiện bủn xỉn keo kiệt tham lam nói:
– Lon cuối cùng hơi lưng, nên trừ bớt còn đủ 9 đồng chẵn.
Ðành nhận vậy, biết làm sao!
Chàng huýt sáo vui vẻ, hùng dũng tiến tới hàng thuốc rê.
Dì bán thuốc nhắc 1 đồng nợ hôm qua. Chàng bớt hăng hái, mua thêm 2 đồng thuốc và một xấp giấy quốc doanh giá 1đ5. còn 4đ5, chàng yên tâm đạp xe lên đường bà Lê Chân uống cà phê ở quán anh bạn thi sĩ.
Cà phê ở đây không rẻ hoặc ngon hơn các chỗ khác. Vẫn loại 92,4% và vẫn giá 1đ5 một tách nhỏ. Nhưng sở dĩ chàng chịu khó đạp xa như vậy là vì ở đấy chàng gặp đủ các bạn cũ làm văn nghệ lỡ-cỡ và lỡ-làng như chàng.
Chàng thất vọng vì thoạt nhìn vào quán hẹp dọn ghé bên chái đình, chàng không nhận ra mặt nào quen cả, anh bạn thi sĩ chủ quán cũng mất tăm. Lỡ khóa xe cẩn thận, chàng đành phải vào. Quanh chàng, hầu hết là thanh niên mới lớn và dân chạy thuốc tây chợ Tân Ðịnh.
Phía bên phải sát bếp bốn cậu trẻ tuổi tóc dài đang hăng hái khoe thành tích văn nghệ. Một cậu có lẽ đang học trường âm nhạc thành phố khoe hôm qua vừa đi nhậu say túy lúy với đại nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Một cậu chuẩn thi sĩ khoe cái đầu vừa được thợ hớt tóc kiêm đại thi sĩ Phạm Thiên Thư chăm sóc cho. Chàng hứng chí, muốn tìm tên một đại văn hào để khoe dây mơ rễ má. Nhưng tìm mãi không được. Người đi tù, người đi Mỹ. Hạng nhà văn lỡ cỡ cũng có đấy, nhiều là đằng khác. Nhưng chẳng lẽ khoe nhà văn X vừa hỏi mượn chàng ba điếu thuốc lẻ, hay nhà văn Y vừa xin bớt chàng một cái quần cũ. Phải giữ thể diện cho ngành văn chứ!
Chàng buồn rầu ngồi một mình, uống cà-phê thật chậm để chờ. Chừng 20 phút sau, ông bạn họa sĩ và ông bạn chuyên viết văn dành cho tuổi thơ tới. Gặp chàng, họ mừng quýnh. Họ gọi rối rít:
– Ra đây! Có chuyện làm ăn khá lắm! Ðãi hai tách cà phê sẽ mách cho.
Chàng bấm bụng gọi thêm hai tách cà phê nữa. Sạch túi. Uống xong, bạn họa sĩ nhìn lơ láo xung quanh sợ người nghe trộm. Chàng càng tin trúng mánh lớn. Thấy hoàn toàn an ninh, họa sĩ chồm tới sát chàng hỏi:
– Mày còn giữ tấm thẻ sinh hoạt câu lạc bộ văn nghệ không?
– Còn.
Hai người bạn chàng reo lên:
– Khá quá. Tao đã bảo chắc thằng này tính cẩn thận, thế nào cũng còn giữ.
Chàng lo lắng hỏi:
– Nhưng có chuyện gì vậy?
– Chuyện làm ăn lớn. Cỡ tuyệt mù trời đất kinh thiên động địa như tư tưởng L. vậy. Chàng xịu mặt, chuẩn bị thủ thế. Bạn nhà văn hỏi:
– Sao mày đổi sắc thế?
Chàng đáp nhỏ:
– Coi chừng âm mưu của Trung Nam Hải. Hai bạn chàng cười ồ:
– Âm mưu cái mốc xì. Bộ L. toàn tập bán tự do ở hiệu sách quốc doanh, ai mua không được.
– Nhưng tụi mày hỏi thẻ câu lạc bộ làm gì?
– Vì họ chỉ bán cho người làm công tác văn hóa. Chàng đáp ngay cho dứt khoát:
– Sách L. tao đọc không vô. Mua làm gì. Bạn chàng lại cười:
– Ai bảo mày đọc! Mua để bán lại kiếm tiền cà phê.
Chàng bắt đầu thấy ham. Chàng e dè hỏi:
– Lời nhiều không?
Anh bạn họa sĩ mừng rỡ rút ngay mảnh giấy trong túi ra vuốt vuốt cho thẳng, rồi đặt trước mặt chàng. Trên mảnh giấy, đã có sẵn mấy phép tính. Anh ta vừa trỏ vào giấy vừa giải thích:
– Kỳ này họ bán 7 cuốn, giá vốn 24đ7 hào. Xé bìa cân ký được 4 ký 45, mỗi ký… Chàng cười tiếp lời luôn:
– Mỗi ký 18 đồng.
– Ủa, mày mua rồi à? Sao không nói từ đầu.
– Không, tao chưa mua. Mày tính tiếp đi. Bạn chàng bớt hăng hái vì hồ nghi, nhưng vẫn tính:
– 18 nhân cho 4,45 thành 80đ10. Dĩ nhiên vựa ve chai không có 10 xu lẻ, nên chỉ trả 80đ. Trừ 24đ7 vốn, còn lời 55đ3. Tao lấy 15 đồng. Thằng này 15 đồng. Phần mày những 25 đồng 3 hào. Chịu không?
Chợt nhớ cảnh đem nài nỉ đánh đổi Tư Mã Thiên, Tolstoi và mười khuôn mặt văn nghệ Việt Nam để lấy 10 đồng không được, chàng đồng ý liền. Gật đầu xong, chàng mới nhớ đã sạch túi. Chàng lo lắng hỏi:
– Tụi mày xuất vốn hả?
– Hả… Hả?
– Tao hết nhẵn cả tiền rồi.
– Sao mày dám bao cà phê?
– Vì bao tụi mày mới hết. Tao chỉ có 4đ5. Khó xử thật! Bạn nhà văn hỏi:
– Nhà mày sách cũ còn nhiều không? Chàng bật cười, vỗ vào cái túi vải:
– Tao vừa mang đi rồi mang về. Ế lắm.
– Ðược mấy ký?
– Tao chưa cân.
Bạn họa sĩ không thèm mở nắp túi vải, nhấc cả túi lên cân bằng tay:
– Nhẹ quá. Sợ không đầy một ký. Mày mượn vợ thằng HT xem sao.
Chàng dẫy nẩy:
– Không được. Tao không quen vay nợ. Bạn nhà văn đột nhiên tìm ra lối thoát:
– Hay thế này. Mày với hai đứa tao đến mua, rồi mày giả vờ quên ví nhờ tao về lấy. Tao chở sách L. đi xuống Cầu Sắt bán, đem tiền về trả. Ðược không?
Cả ba vỗ tay reo. Họ làm đúng “phương án”, và chia chát cũng đúng “phương án”. Với 25 đồng 3 hào trong túi, chàng định mua luôn 100 grams thuốc rê để dành. Nhưng đến sạp bán thuốc, chàng do dự. Không nên để leo việc hôm nay qua ngày mai. Một ngày như mọi ngày, nên mỗi ngày phải giữ trọn tính chất độc lập tự do của nó. Hôm qua chàng thèm thuốc lá quá nên phạm lỗi, đó là điều không được tái phạm. Cho nên sau khi sáng suốt suy nghĩ, chàng chỉ mua thêm 4 đồng thuốc rê và 1 đồng 3 giấy vấn. Còn chẵn 20 đồng. Nhìn đồng hồ một anh chợ trời thuốc tây, chàng thấy đã 9 giờ 50. Phải về nhà để lo cơm nước thôi. Chàng đạp xe về theo đường Trần Quang Khải. Hai bên đường rợp bóng cây bày la liệt những chiếu mua bán đồ cũ. Toàn loại phế thải. Bảng hiệu là một tấm giấy bìa đề chữ cẩu thả hoặc bay bướm dựng trước chiếc chiếu bày hàng. “Mua bán băng nhựa cassette cũ. Giá cao”. Mua giá cao thì được, còn bán giá cao thì lơ đễnh quá! “Mua dao điện” “Mua gọng kính cũ, phim phổi, tiền xưa, bạc vụn” “Mua sách báo cũ. Giá phải chăng”. Ðây mới đúng là một anh chợ trời chân thành! Chàng sẽ trở lại đây nhiều lần! “Mua bán lốp ruột xe đạp. Bảo đảm không đứt triên trong 6 tháng”. Bảo đảm? Loại bảo đảm chợ trời! Chàng đã lỡ nghe một lời bảo đảm như vậy nên mua phải một cặp lốp giả bố làm bằng bao cát mục, cao su pha quá nhiều đất sét, chỉ chạy 6 giờ đồng hồ là nổ. Chàng lẩn thẩn suy nghĩ về cảnh mình đang sống. Có hai đặc tính nổi bật: “tư liệu sản xuất”… và hình thức “giao lưu hàng hóa chợ trời”. Thang giá trị cũng đảo ngược: đồ sản xuất càng lâu năm càng đáng tin cậy. Ðúng là một nền văn minh phế thải. Trên những con đường chàng thường đi qua, hai tiếng “phế thải” cứ vang vọng bất tận trong trí chàng. Những đứa trẻ bị phế thải khỏi trường học lặn hụp mò bao ni lông cũ chìm dưới đáy sông Thị Nghè. Người đàn ông phế thải cưỡi chiếc xe đạp sắp phế thải, vỏ sau chằm vá cột buộc đủ chỗ nhưng còn rán chịu đựng được cái bao rách chứa giấy phế thải. Một chị đàn bà đặt cái cân bàn ở góc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm Tự Ðức mua giấy sách cũ. Họ thành một đôi xứng hợp. Chàng quan sát họ, thầm nghĩ: Có thể thành một đề tài truyện ngắn không? Qua chợ Thị Nghè, chàng vội bóp phanh trước một đám đông cuối dốc. Dây phanh đáng lý nên phế thải bị lưu dụng quá hạn nên đứt ngang. Chàng phải lấy dép chà lên mặt đường hãm đà. Ðôi dép làm bằng nhựa phế thải chịu không nổi, rách quai. Chàng may mắn không tông phải ai. Một vụ cãi vã gay go. Chuyện đó thường tình. Ðiểm đặc biệt là hai đối thủ đều có đủ chất điển hình: ông cán bộ… đội mũ cối mang dép râu và anh lính ngụy… bán chợ trời… Khốn nỗi người đi chợ tuy ghét dân chợ trời nhưng lại thương người ngã ngựa, khiến ông cán bộ nổi sùng. Hình như nội vụ bắt đầu khi ông cán bộ dùng thuốc nam không hiệu quả phải vác tiền ra mua thuốc tây ở chợ trời. Ông không tin ở những gì ở ngoài vòng kiềm tỏa của nhà nước. Ông nghi đang cầm phải một vỉ thuốc giả. Anh chợ trời đâm cáu, giật vỉ thuốc lại, bĩu môi:
– Không có tiền thì thôi. Vào hiệu thuốc quốc doanh mà mua!
Thế là ông cán bộ to tiếng mày tao:
– Hạng chuyên lừa đảo phe phẩy như mày là ghẻ lở của xã hội. Hàng nhà nước thất thoát vì mày! Cán bộ hủ hóa vì mày! Tao kêu công an còng mày bây giờ!
Một số khá đông người hiếu kỳ thấy như mình bị xúc phạm danh dự. Gia đình nào không có thân nhân lăn lóc chốn chợ trời? Vài lời xúi giục có ác ý, hy vọng chứng kiến “cuộc đấu tranh ai thắng ai” giữa hai ý thức hệ. Nặng và hiểm nhất là câu:
– Tao thấy lâu nay mày ngon lắm, sao bữa nay hiền vậy, Hùng Ðầu Bò.
Hùng Ðầu Bò quắc mắt lườm lườm nhìn ông cán bộ. Ông cán bộ quắc mắt nhìn lại. Mọi người nín thở hồi hộp. Hùng Ðầu Bò càm ràm gì đó, rồi quay đi. Bấy giờ ông cán bộ mới thấy mình bạo phổi. Quá dễ bị đòn hội chợ. Ai lại phỉ báng làm nhục dân chợ trời giữa chợ trời? Ông cũng càm ràm gì đó để giữ thể diện nhà nước, rồi lên xe đạp. Chờ ông đi rồi, đám đông quay chất vấn Hùng Ðầu Bò:
– Mày làm mất mặt tụi tao quá. Tao tưởng mày ngon.
– Mày bị nó chê là ghẻ lở, không xấu hổ sao? Hùng Ðầu Bò rút thuốc ra hút, phà hai hơi, rồi nói tỉnh:
– Mụt ghẻ nó đâu có xấu. Ðáng xấu hổ là thằng ở dơ để cho da dẻ mọc mụt.
Ðám đông cười ồ. Thế là danh dự được cứu vãn. Chàng cũng cười, thầm nghĩ: Ðúng là lý luận kiểu AQ. Viết truyện ngắn hoặc cái truyện vừa theo kiểu Lỗ Tấn được không?
Chàng sẽ gắng viết thử. Nhưng việc trước mắt là phải về cho kịp nấu cơm trưa. Thế là hết buổi sáng.
Bữa cơm trưa khá vui, trừ những lúc buồn! À quên, trừ những lúc vui buồn lẫn lộn nữa. Vợ chàng hay kể những chuyện xảy ra trong trường nhìn từ bàn cô giáo xuống cuối lớp. Ðứa con trai chàng bổ khuyết bằng cách nhìn ngược từ cuối lớp lên bảng đen. Ngày nào cũng vậy, câu chuyện hào hứng làm cho cả gia đình quên được cái đạm bạc của mâm cơm độn. Ví dụ khi vợ chàng than:
– Thật tệ quá. Ai đời sáng nay em “chia tiêu chuẩn” được 200 grams thịt ba chỉ. Chờ nửa tháng dài mới được hưởng ân huệ cách mạng, mừng hết lớn. Em đã cẩn thận bọc trong bao ni lông, bên ngoài bao thêm giấy dày giấu kín giữa cuốn sổ kiểm diện đặt ngay phòng giáo viên. Thế mà dạy xong tiết 2, em nghĩ quẩn sợ mất, vội chạy lên xem. Không mất. Nhưng đứa khốn nạn nào đã đổi phần thịt của em rồi. Anh cắn thử miếng này, toàn bầy nhầy.
Con chàng bổ khuyết:
– Hèn gì cô chủ nhiệm của con cứ xách thịt xuống lớp nhờ tụi con giữ hộ. Ðể trên đó, cô không yên tâm.
Hoặc khi vợ chàng kể:
– Ban đời sống trường em làm việc đến kỳ! Ai đời căng tin bán cho học trò không có tổ chức gì ráo trọi. Mạnh ai nấy bán. Giờ học vừa hết, thoáng một cái, mỗi cô giáo một giỏ quà ngồi la liệt trên sân chơi chờ đợi học sinh mua. Giờ học răn đe la mắng nó, giờ chơi phải cười cầu tài. Con chàng bổ túc liền:
– Hèn gì cô con đem quà bán ngay trong lớp học cho tiện. Sáng nay cô dọa khảo bài sinh vật, mà tụi con chiều hôm qua lo tập văn nghệ đã kịp học đâu. Tụi con tìm mánh: Cô vừa xách giỏ bánh mì nướng phết đường vào, tụi con cử một đứa lên mua, đưa tờ 20. Cô không đủ tiền thối, chạy đi đổi dưới căng tin. Thối xong, cô cười cười, khuyên tụi con mỗi lần ăn quà nên tránh ăn đồ lạnh như cà rem dễ đau bụng. Cô con ghét cô Nga chủ nhiệm 7B lắm. Cô Nga bán kem mà ba. Cô nói chuyện một lúc, sắp sửa trở lên bàn thầy giở sổ, thì một đứa khác lên mua. Cô lại cười tươi, than độ này bột mì đắt nên bánh nhỏ. Củi lửa khan hiếm. Cứ thế tụi con kéo dài được đến cuối tiết. Ðại khái trưa nào cũng có những chuyện vui như thế cả.
Chàng ghi vào óc, lúc cần có thể dùng được. Ăn cơm xong, vợ chàng để mặc chén bát nồi niêu cho cha con chàng rửa, lấy nón giỏ tất tả ra chợ trời. Trước khi đi, vợ chàng cũng đi ra đi vào suy nghĩ cho chín chắn như chàng buổi sáng. Ðến lượt những thứ từng lờn mặt với chàng sáng nay phải nem nép sợ hãi. Mấy cái son nhôm, chảo nhôm, thau nhôm… nói chung thứ gì bằng nhôm trong nhà bếp đều cảm thấy hồi hộp trước cuộc đời lưu lạc gian truân sắp chịu. Vợ chàng có trí nhớ tốt, nên không thứ gì bể, mẻ, móp, méo, lủng thuộc đồ nhôm, dù trốn ở gậm giường xó tủ nào, nếu chẳng may bị nàng trông thấy một lần, là không thể thoát được! Chàng biết thế nên không bao giờ dám xâm phạm “đất cấm”. Ngành chuyên môn thứ nhì của nàng là quần áo cũ. Một miếng giẻ nàng cũng tìm được chỗ bán, và bán giá cao mới lạ chứ. Ðôi khi chàng ngờ vợ mình đã cố ý tăng giá lên để “lấy le” với chàng. Hư thực thế nào, đến bây giờ chàng chưa biết!
Ngành thứ ba vợ chàng giành độc quyền là chén bát, ly tách. Lâu lâu lén mua 50 grams cà phê nguyên chất (rồi dối vợ là người bạn thân từ Buôn Mê Thuột vừa về Sài Gòn chơi đem biếu) về pha filtre, chàng tìm cái ly thủy tinh có quai mãi không thấy đâu. Chờ vợ về hỏi, nàng chỉ ỡm ờ bảo “ở đâu đó”. Chàng nghi vợ đã học đòi theo chàng, vợ chàng liền chất vấn:
– Có ông bạn quí nào vừa lẩm cẩm vừa bủn xỉn đến nỗi từ xứ cà phê xuống thăm bạn ở Sài Gòn lại chỉ đem biếu có 50 grams. Nói dối thì cũng phải có lý của nó chứ! Chàng im, dừng lại, không dám tra vấn cái ly mất tích nữa. Rồi nay cái quần sờn đáy xổ lai, mai cái liễng Nhật, mốt cái đèn nhôm Mỹ, cuối cùng cái tủ áo, tủ buffet, chạng thức ăn rỗng ruột. Luật bù trừ mà! Muốn cho cái ruột này đầy thì cái ruột kia phải rỗng. Ngày xưa Nguyễn Du nói: Lạ gì bỉ sắc tư phong.
Tiếc một điều là vợ chàng không biết dùng qui nạp pháp! Nhưng đó là việc của vợ. Hãy trở về việc chàng.
Buổi chiều các con đi học cả, vợ đi vắng, chàng phải ở nhà vậy. Lo giặt dịa, lau chùi nền nhà và bàn ghế, phủi bụi ở tủ sách. Càng ngày chàng càng trở nên cẩn thận ngăn nắp hơn. Chùi nhà một lần, chờ khô, chàng thấy mặt nền còn nham nhám. Chùi lần thứ hai, đỡ hơn, đúng lúc đó con chó SuSu mang bốn cái chân bẩn chạy vào. Lại phải chùi lần thứ ba, lầ này cẩn thận khép cửa. Ði ra đi vào nhìn thứ gì chàng cũng thấy không được chỉnh. Lũ đồ vật gặp cái nhìn của chàng vào buổi chiều, nên yên tâm! Chàng đã hoàn toàn vô hại. Chỉ có thiện chí! Chàng nâng niu cái này, xoa nắn cái kia, đánh bóng cái nọ. Ðồ vật nhoẻn cười yên tâm trong tay chàng. Mải mê làm vệ sinh, chàng suýt nữa quên chuyện trọng đại: mua gạo. Khốn nỗi đến lúc đó chàng mới nhớ vợ chàng chưa đưa tiền. À quên, chàng còn đủ 20 đồng đây. Chắc đủ. Chàng nở mũi hãnh diện. Có thế chứ. Chàng đâu phải là kẻ vô tích sự. Chàng còn đủ sức lo gạo cho gia đình, mà có gạo là có tất cả. L. “vĩ đại” ở chỗ dám đem lý thuyết ai cũng cho là không tưởng ra thực hành ngay trong cuộc đời rối rắm phức tạp này, nhưng còn “vĩ đại” ở chỗ dám giúp một kẻ chưa đáng tin cậy đủ tiền cho hắn mua gạo ăn trong thời gian sám hối. Chàng tự trách đã quá bất công với nhà lãnh tụ Nga. Với tâm hồn yêu đời, chàng đi mua lương thực. “Cửa hàng phục vụ gạo” đông nghẹt. Chàng thích cánh len vai xông vào. Một chị sồn sồn rủa:
– Cái ông già dịch. Ðạp cả lên chân người ta! Già dịch! Cái chân chị là chỗ dễ kích thích chắc! Nhưng chàng đang yêu đời nên chàng quên ngay lời rủa, nghĩ theo cái hướng tích cực: Già dịch! Thế mà bà xã mình dám bảo mình “mất sức lao động”. Ðúng Bụt nhà không thiêng. Này, mất sức lao động này! Chàng lấn thêm cho gần tới bàn cô thư ký ghi sổ. Lại có nhiều tiếng la ôi ối:
– Làm gì như đi ăn cướp vậy!
– Yêu cầu bà con giữ nếp sống văn hóa mới! Chàng khựng lại. Phải, chàng còn mang quá nhiều tàn dư văn hóa cũ, không chịu vì mọi người. Chàng định thối lui để nhường chỗ cho các em bé, cụ già, đàn bà có thai, thương binh liệt sĩ (không phải thương phế binh ngụy), gia đình có công với cách mạng. Không kịp rồi. Dộm bước lui thì một em bé gái khoảng 10 tuổi kêu thét lên:
– Ái! Chết ngộp mất trời ơi!
Có ai vừa đánh rắm thối hoăng. Người ta bịt mũi lại, tiếng chửi nghe thật tức cười. Chàng bị sửa lưng liền:
– “Ðịch” thối om còn đứng cười! Vô duyên. Chàng mắc oan Thị Kính mà không cách nào bào chữa được. Nếu không đánh rắm, sao chàng không bịt mũi. Chịu thưởng thức “của nhà” tức là công khai nhận lỗi. Mọi người nhìn chàng căm tức. Tình thế ngày càng tuyệt vọng, không khéo thu xếp chàng có thể bị đòn hội chợ như chơi. Trước hết, hãy rút lui đã. Ra ngoài được rộng rãi, dễ thanh minh hơn. Mặc tiếng la ó, chàng cố chen trở ra. Cô thư ký ngộp thở, bỏ bàn giấy vùng vằng đi ra phía sau. Sợ không được mua gạo, người ta càng căm tức chàng hơn. Làm sao đây? Chàng bắt đầu ngờ rằng có thể chàng lỡ dại nhưng do gắng sức chen lấn chàng không hay biết. Thanh minh không ai nghe, bỏ về sợ mất phần gạo. Cho nên khi nghe loan báo hoãn thời hạn chót đến chiều mai, chàng mừng rỡ ra về.
Quần áo chàng đẫm mồ hôi, nhọ nhem như quần áo chú bé quét bồ hóng. Chàng cảm thấy ngứa ngáy. Phải về gấp để tắm mới được. Lúc cởi quần dài vắt lên dây thép, chàng thấy túi quần bị đảo ngược, lớp vải lót mầu cháo lòng thò ra ngoài thành một cái tai vểnh. Chàng không hiểu gì cả. Có lẽ tách cà phê sáng đã hết hiệu lực. Ðến khi hiểu, chàng mới biết kẻ gian đã nhân lúc chen lấn mượn tạm 20 đồng của chàng rồi. “Của L. trả lại cho L.”. Ðúng là luật công bằng trong mơ ước của bản tuyên ngôn nhân quyền!
Chàng thường dành buổi tối để viết. Ðáng lý chàng phải để dành 1đ5 để mua sẵn một tách cà phê loại 92,4% làm “tư liệu sáng tạo”, nhưng 20 đồng phi nghĩa không còn nữa, nên chàng phải rán dằn những cái ngáp ác hại.
Phút linh cầu mãi không về.
Bâng khuâng giấy trắng chưa nề mực đen. Chàng gặp y nỗi khổ tâm của Hồ Dzếnh. Ngáp đến cái thứ tư mà xú uế cứ dâng tràn. Chàng nghĩ thầm:
– Phải viết cái gì trung thực.
Chàng ôn lại những gì đã thấy đã nghe trong một ngày bình thường. Âm mưu của Trung Nam Hải? Nếu trung thực thì nguy lắm, chàng sẽ trở thành kẻ tòng phạm… Viết chuyện mua bán sách cũ? Lại mắc tội lưu hành phổ biến văn hóa phẩm đồi trụy nhảm nhí! Chuyện cãi vã ở chợ trời? Không khéo bị tố là nói xấu chế độ! Nhân dân lao động sáng suốt đâu có bênh vực tên lính ngụy đã không chịu sản xuất còn phá hoại kinh tế xã hội chủ nghĩa! Viết chuyện nhà trường? Bôi bác nền giáo dục cách mạng, không phân biệt được khó khăn tạm thời và thuận lợi cơ bản, đánh đồng một cách ác ý bản chất và hiện tượng! Viết chuyện đi ra tổ phục vụ mua gạo?
Thì làm sao giấu được 20 đồng bạc đánh cắp của L.?
Càng nghĩ chàng càng thấy sợ. Chàng hút hết liên tiếp ba điếu thuốc vấn, rồi đặt lại vấn đề:
– Hay là ta nên viết cái gì đăng được?
– Phải đấy. Viết không đăng được thì viết làm gì. Viết rồi đốt là điên, viết rồi giữ đó như giữ bom nổ chậm là khùng. Kẻ khôn ngoan thức thời chỉ nên viết cái gì đăng được. Chàng tìm cuốn lịch bỏ túi xem các ngày lễ. Ðây là kinh nghiệm xương máu do các bạn văn nghệ miền Bắc ưu ái truyền lại cho chàng. Cứ giở cuốn lịch ra, tìm các ngày lễ và viết sẵn một số truyện, thơ “lương khô dự trữ”. Lễ nhỏ viết vài ba cái, lễ lớn phải chín, mười. Các loại sáng tác “nhân dịp” này năm nào cũng đắt hàng. Chàng dò tìm, nhưng thật rủi cho chàng, hôm nay không kề cận với ngày lễ nào sắp tới… Tìm không ra chuyện thành thị, chàng quay về nông thôn. À, cái đề “Mùa bội thu” hay đấy! Sao ta không viết cái truyện tả cảnh một khu kinh tế mới được mùa. Chàng nắn nót viết nhan đề MÙA BỘI THU lên đầu tờ giấy hẩm. Chàng dàn ý, tìm các chi tiết tiêu biểu, nghĩ trước cái kết tốt: “Bác Năm cười quay lại gọi con dâu:
– Hai à!
Chị Hai đang tính công điểm, bỏ bút xuống thưa:
– Dạ con đây.
– Thẵng đã về chưa?
– Dạ ảnh còn mắc chia lúa bội thu cho bà con.
– Ờ được, tụi bay còn trẻ rán giúp đỡ bà con. Làm sao cho mùa sau còn được hơn mùa này nữa. Không nhờ ơn cách mạng, gia đình mình đâu có như thế này.
Chị Hai mỉm cười, mơ màng nghĩ đến cảnh chị ngồi trên cùng chiếc máy cày với anh, mê mải ngắm những đường cày thẳng tắp chạy dài đến tận chân trời.”
Chàng bắt đầu viết, xóa, lại viết, rồi lại xóa. Nặn mãi không ra cái nhập truyện. Vợ chồng anh Hai đang sống khổ cực ở Sài Gòn. Anh làm phu xích lô suốt ngày gò lưng đạp tháo mồ hôi mà không đủ tiền nuôi con. Chị bán cháo huyết ở khu lao động, và vì dân lao động quá nghèo nên cháo của chị quá ngon mà quá ế. Ðứa con của anh chị bị đau. Anh chị không có tiền mua thuốc, đem vô nhà thương bị rẻ rúng vì anh chị nghèo. Con của họ chết, anh đâm ra rượu chè be bét. Chị khuyên nhủ, năn nỉ mãi, anh vẫn chứng nào tật nấy. Rồi Sài Gòn “được giải phóng”. Cả anh lẫn chị đều tham gia vào công tác cách mạng. Công tác nào anh chị cũng xung phong đi đầu. Chính sách kinh tế mới ban hành, anh chị ghi tên ngay đợt đầu tiên, rồi vận động được cả bà con hàng xóm nữa. Thủ cựu như cha chồng là bác Năm mà chị cũng thuyết phục được. Mới lên, họ vất vả trăm chiều. Muỗi, vắt, nước độc, chim kêu vượn hú. Nhưng: Bàn tay ta làm nên tất cả Với sức người sỏi đá cũng thành cơm. Nhà thơ “cách mạng” Hoàng Trung Thông đã nói đúng. Bà con khu kinh tế mới đã biến núi rừng thành đồng bằng, dưới sự hướng dẫn lãnh đạo tận tình của cán bộ. Kết quả là mùa bội thu đầu tiên chàng đang viết đây.
Chàng viết được hai trang, lại ngáp. Hút thêm điếu thuốc vấn 89,6% trí óc chàng minh mẫn trở lại. Chàng nhớ nhiều chi tiết hay hay có thể thêm cho truyện bớt công thức. Và trời ơi, chàng nhớ cả những chi tiết thừa thãi: như cảnh dân kinh tế mới kéo trở về Sài Gòn nằm la liệt hàng đêm trên lề đường Trần Hoàng Quân Chợ Lớn. Như những gia đình sống mòn bên đống rác khổng lồ trên đường Trần Quốc Toản. Như những đứa trẻ cầm que đi nhặt từng mảnh giấy vệ sinh gần chợ Tân Ðịnh! Chàng khựng lại. Ðọc từ đầu, chàng ngượng chín người. Thiếu sáng suốt, chàng vò nhàu hai tờ bản thảo vứt đi. Sau nghĩ lại. Chàng bưng đèn cúi xuống nhặt lên, vuốt cho thẳng, xếp vào xấp giấy cùng số phận các đêm trước. Xấp bản thảo nhàu nhò vô tội đã khá dày. Có thể được đến vài trăm grams.
Với giá 14 đồng một ký giấy học trò viết hai mặt, chàng có thể bán được khoảng 3,4 đồng. Chàng đã có vốn để mua cà phê 92,4% và thuốc lá 89,6% đổi sự sáng suốt cần thiết cho sáng hôm sau.
Ý tưởng đó khiến chàng yên tâm đi ngủ. Lúc đặt lưng xuống cái giường què, chàng nghe cô gái choai choai nhà bên kia hát nhỏ như sợ đôi tai thính của ông công an khu vực:
“Một ngày như mọi ngày, xin trả lại đời tôi”…

Nguyễn Mộng Giác

CƯỠI NGỌN SẤM

cuoingonsam

richardbotkin

Chương Hai (3)
Đến năm 1962 thì binh chủng TQLC với tám năm thành lập ngắn ngủi đã được tăng cường thêm Tiểu đoàn 3. Với Tiểu đoàn pháo binh cơ hữu, một Tiểu đoàn hỗ trợ đổ bộ và một ban tuyển mộ huấn luyện đã đủ lông đủ cánh, TQLC Việt Nam đã có khả năng đưa vào chiến trường cả một Lữ đoàn đầy đủ. Vào thời điểm Bình được gắn lon Thiếu Úy với vạch vàng lên cầu vai, đã có gần sáu ngàn quân nhân Việt Nam được đặc quyền mặc bộ đồ trận rằn ri riêng biệt của binh chủng với châm ngôn “Danh Dự – Tổ Quốc.”

Sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan, sáu mươi Thiếu úy TQLC tân khoa được theo khóa thực tập một tháng tại Thủ Đức để học tập thêm về các đường lối của binh chủng, tập trung vào các chiến thuật bộ binh và đổ bộ, đồng thời để chuẩn bị cho họ đảm nhận công tác chỉ huy ngoài mặt trận ở cấp độ Trung đội và Đại đội. Bình đã tốt nghiệp thủ khoa trong toàn khóa huấn luyện này.

Vào lúc đó, Trung tá Lê Nguyên Khang là một sĩ quan cao cấp của TQLC vừa nhận quyền chỉ huy Tiểu đoàn 3, còn được mệnh danh là “Sói Biển.” Hãnh diện vì đơn vị cũ của mình, ông muốn đưa các sĩ quan trẻ tuổi đầy triển vọng về Tiểu đoàn “Sói Biển” thân thương của ông. Và đó chính là lý do tại sao Bình đã được điều về Tiểu đoàn 3 TQLC.

Các sĩ quan TQLC Hoa Kỳ được giao nhiệm vụ cố vấn cho các TQLC Việt Nam thường thấy nhiều điểm tương đồng với họ vì những người này đã tiếp nhận một cách nhanh chóng tinh thần dẻo dai và niềm tự hào đơn vị mà các cố vấn Mỹ đã truyền bá thành công trong tâm trí họ. Do giá trị quân sự xuất chúng nên các Lữ đoàn TQLC và Nhẩy Dù Việt Nam nổi tiếng đã được chỉ định là lực lượng tổng trừ bị cho toàn bộ QLVNCH vào giữa năm 1959. Hai đơn vị này tuy nhỏ nhưng đáng tin cậy đã trở thành lực lượng ứng trực của quốc gia, các Lữ đoàn “lửa” để sử dụng trong trường hợp cực kỳ khẩn cấp và là những đơn vị để được gởi đi hoàn thành các nhiệm vụ khó khăn nhất.

Đơn vị triển khai chính của TQLC là cấp Tiểu đoàn. Được tổ chức tương tự như các Tiểu đoàn TQLC Hoa Kỳ bạn, hoạt động Tiểu đoàn TQLC Việt Nam còn mang sắc thái của hệ thống Trung đoàn Anh quốc trong các hoạt động có tính cách lâu dài. Là một nhánh nhỏ của quân đội, chưa có bề dầy lịch sử hoạt động nào đáng kể cho nên điều hiển nhiên là các sĩ quan và quân nhân thường được giữ lại trong đơn vị rất lâu tùy theo nhu cầu thực tế. Tuy chưa có ai đủ thâm niên để có thể coi thời gian phục vụ trong TQLC là một binh nghiệp nhưng điều hợp lý là một quân nhân, nếu sống sót qua các chiến trận, có thể được giữ lại trong cùng một Tiểu đoàn trong suốt thời gian phục vụ của anh. Những người chống đối hệ thống này cho rằng điều này có thể bóp nghẹt sự cải cách và ngăn không cho những nguồn “máu” mới được bổ sung vào. Lập luận ngược lại là mặc dù có sự phân loại về đẳng cấp, một môi trường có tính cách gia đình sẽ đóng góp vào nỗ lực chung và tinh thần đồng đội.

Tinh thần chiến đấu của TQLC là một sự pha trộn nét đặc thù Việt Nam và một phần ảnh hưởng của Hoa Kỳ. TQLC Việt Nam cũng giống như bên phía Hoa Kỳ là không hề có một mẫu người riêng biệt nào khi họ tình nguyện vào lính. Tuy vậy cũng có các nhóm người đại diện khác nhau. Chẳng hạn như đối với các giáo phái đặc biệt bị Cộng sản để ý đến như các thanh niên gốc Hòa Hảo và Cao Đài thì họ cho việc gia nhập TQLC là một cách để phục thù lại. Và trong khi báo chí Mỹ thường xuyên trong nhiều năm dài nói về các thanh niên Việt Nam tìm cách trốn tránh hoàn toàn nghĩa vụ quân sự hoặc ít nhất là phục vụ trong những vị trí an toàn đến tính mạng thì không hề thiếu các thanh niên Việt Nam yêu nước khác tin tưởng là chủ nghĩa Cộng sản không phải là câu giải đáp và quan niệm việc nhập ngũ vào TQLC là phương cách tốt nhất để đóng góp cho nền Tự Do của miền Nam Việt Nam.

TQLC Việt Nam là một tổ chức tình nguyện. Việc gia nhập thường lệ, tối thiểu lúc tân tuyển, là ba năm. Công tác huấn luyện dài tám tuần được tổ chức tương tự như các phương cách của TQLC Hoa Kỳ. Rất nhiều huấn luyện viên Việt Nam đã từng học tại San Diego và Parris Island.

Các sĩ quan được giao phó trách nhiệm với thời gian lâu dài hơn. Theo dòng chiến sự, nếu không bị tử trận hay trọng thương thì họ được giữ quân vụ một cách vô hạn định. Và cũng giống như các cấp bậc đã nhập ngũ khác, sĩ quan TQLC Việt Nam không nằm trong bất cứ nhóm người đặc biệt nào khác. Họ bao gồm những người miền Nam, người Bắc di cư, Phật tử và Công giáo.

Không có nơi nào mà sự tôn trọng Khổng giáo và quyền hành theo cấp bậc rõ ràng hơn là trong TQLC. Trong bốn quân chủng Hoa Kỳ thì TQLC là tổ chức chú trọng đến sự phục tùng các cấp trên nhiều nhất. Đối với những người không biết hoặc ngoại cuộc thì họ không hề cảm nhận được cái tình cảm sâu sắc thường chỉ biểu hiện dưới bề mặt sự tương quan giữa sĩ quan và các quân nhân hoặc sĩ quan cao cấp và cấp dưới của mình. Tuy các sĩ quan ít khi gọi thuộc cấp của mình bằng tên riêng và ngược lại kẻ dưới luôn xưng hô cấp trên bằng “Thưa (hay trình)…” cùng cấp bậc của họ, tình huynh đệ chi binh giữa họ hết sức mạnh mẽ ngay cả trong các đơn vị chiến đấu nhỏ nhất. Và mặc dù cấp bậc và chức vụ phần nào phân chia sĩ quan với thuộc cấp nhưng gian khổ và khó khăn là điều phổ quát chung.

Quân đội Hoa Kỳ, nhất là TQLC đặc biệt nhấn mạnh công việc đào tạo những người có khả năng kế thừa mỗi khi cấp trên bị tử trận hay bất khiển dụng. Đây là một điều gần như là độc đáo trong nền văn hóa của Hoa Kỳ, có thể là một phần của tư tưởng “anh hùng cá nhân” và bản chất thứ hai nữa là nó đã cho các đơn vị này có thể tiếp tục chiến đấu một cách hiệu quả ngay mặc dù cấp chỉ huy chính thức đã ra đi.

Sự phân cấp trong TQLC Việt Nam ít phức tạp hơn quân đội Hoa Kỳ, có vẻ Việt Nam hơn hoặc giống hệ thống Âu Châu trên thực tế. Khi đối diện với cấp trên, điều lịch sự và kính trọng thông thường là không nhìn thẳng vào mắt của người đối diện. Khái niệm sĩ diện hay giữ thể diện là điều tối ưu không thể coi nhẹ được. Đối với các cấp chỉ huy, điều quan trọng nhất là các mệnh lệnh phải được thi hành và mọi hành động phải được chấp thuận trước khi thi hành. Khoảng cách giữa sĩ quan và lính tráng khá rõ ràng ngay từ cấp Thiếu úy trở lên. Mỗi Trung đội trưởng đều có một bộ phận nhỏ trong bộ chỉ huy tí hon của mình, thường là từ một đến ba người để làm những chuyện vặt vãnh, phục dịch, đưa tin hay chạy việc cho viên Thiếu úy trẻ. Chức vụ càng cao thì nhóm quân nhân được giao trách nhiệm phục dịch sĩ quan càng đông hơn. Trong quân đội Hoa Kỳ thì nhóm người này thường được gọi là “cao bồi.” Đây là một trách nhiệm danh dự chứ không hề là một sự miệt thị khi được làm “cao bồi” cho một sĩ quan nào đó.

Thiếu úy Lê Bá Bình trình diện “Sói Biển” vào tháng 10 năm 1962, một tháng sau khi chương trình “Beverly Hillbillies” được trình chiếu lần đầu trên truyền hình Mỹ, cùng tháng với ca khúc “Monster Mash” do ca sĩ Bobby “Boris” Pickett trình bầy được xếp hạng nhất của nhạc Pop Mỹ, cũng đồng thời cũng là tháng mà “Đại Bàng Hoa Kỳ” và “Gấu Mẹ Liên Sô” suýt nữa đã choảng nhau bằng hỏa tiễn nguyên tử tại Cuba. Trong một chiến dịch gọi là “Operation Shufly” được tiến hành từ đầu năm, các trực thăng TQLC Hoa Kỳ nay được chỉ định yểm trợ không vận cho các đơn vị TQLC cũng như quân đội QLVNCH bay ra bay vào mặt trận.

Phương pháp sử dụng các tân sĩ quan trong TQLC Việt Nam hầu hết là huấn luyện tại chỗ. Ngay sau khi trình diện Tiểu đoàn 3, Bình được bổ nhiệm Trung đội trưởng thuộc Đại đội 2. (Khác với TQLC Hoa Kỳ đặt mã chữ cho các Đại đội, phía Việt Nam thì vẫn sử dụng mã số ở cấp Đại đội).

Kể từ lúc Thiếu úy Lê Bá Bình trình diện vào tháng 10/1962 cho đến đầu tháng 11 năm 1963, Tiểu đoàn 3 đã được điều động không biết bao nhiêu lần ra mặt trận quần thảo với các đơn vị Việt Cộng từ vùng Trung nguyên mạn bắc Saigon cho đến mỏm Nam bán đảo Cà Mau.

Đối với những người trong cuộc như các TQLC với những người như Lê Bá Bình đầy kinh nghiệm trận mạc thì các cuộc tiếp cận với kẻ địch mang tầm ý nghĩa rất quan trọng. Nhìn theo cách vô tư, từ xa và có tầm bao quát hơn thì có vẻ những cuộc giao tranh này không có gì quan trọng lắm. Trong thời gian hai năm thử thách này, Thiếu úy Lê Bá Bình đã bị thương ba lần khi dẫn Trung đội xung phong tấn công kẻ thù Cộng sản và đã được ghi công trạng anh dũng. Đó là những kinh nghiệm sẽ giúp anh và những binh lính anh sẽ chỉ huy trong các cuộc giao tranh sắp tới. So sánh với những thử thách sau này trong cương vị Đại đội trưởng hay Tiểu đoàn trưởng thì sự khởi đầu chậm chạp và tương đối nhẹ nhàng lại là cách tốt nhất để nhập cuộc đối với một sĩ quan trẻ.

Do sự tình cờ của số mệnh mà vào đầu tháng 11 năm 1963 hầu hết các sĩ quan và quân nhân của Tiểu đoàn 3 đang được nghỉ phép trong khi toàn bộ Sài Gòn cũng như bộ Tư lệnh quân đội Việt Nam lao vào các âm mưu dẫn đến cuộc đảo chánh để thay thế TT Ngô Đình Diệm. Họ đã trình diện lại vài ngày sau khi tướng Dương Văn Minh, được hầu hết người Mỹ biết đến như “Minh cồ”, đã nắm quyền lãnh đạo và sau này bị thay thế bởi tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ vào cuối tháng Giêng năm 1964, sau một vài thay đổi chính quyền. Đối với các TQLC Sói Biển, công tác chiến đấu chống Việt Cộng đã trở lại bình thường.

Trong khi còn đang thu thập kinh nghiệm chỉ huy trong cương vị Trung đội trưởng, Bình được chọn và thông báo sẽ được điều đi học khóa Căn Bản TQLC tại Quantico ở Virginia, Hoa Kỳ. Đối với Lê Bá Bình, viễn ảnh được đi du học ở Mỹ và thụ huấn một khoá huấn luyện cao hơn là một thử thách mà anh rất hăm hở chờ đợi.

Có một điều gì đó không cưỡng lại và né tránh được mà mọi người phải chấp nhận là sự hiện diện và ảnh hưởng toàn diện của nền văn hóa Hoa Kỳ. Trong đề tài này thì không mấy ai thích tranh luận. Lập luận khởi đầu là liệu cái sức mạnh này có tính cách cố ý và liệu có phục vụ cho lợi ích của người Mỹ hay không?

Thành phần ghét Mỹ tại Âu Châu và Á Châu, nhất là những người có khuynh hướng thiên tả hay thân Cộng thì luôn luôn lên án Mỹ vì chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Thành phần khác không phản đối Mỹ thì đơn giản thích hưởng thụ phim ảnh và nhạc Mỹ mà cả 48 tiểu bang và ngay các tiểu bang Alaska và Hawaii tuôn ra không ngừng.

Có thể nào một người yêu quê hương đất nước của họ, đặc biệt là trong một nước thuộc thế giới thứ ba, vừa có thể giữ lại được những tinh hoa của nền văn hóa mình mà vẫn thấy thích thú trước vẻ đẹp nam tính phổ quát của Burt Lancaster hay Gary Cooper hoặc sức quyến rũ của Esther Williams và Deborah Kerr hay không?

Có khi nào một người bình thường, dù chỉ là để giải trí, sau một lần được xem Gene Kelly hay nghe Singin’ in the Rain, có thể biến thành Cộng sản được hay không? Có mấy ai có thể cưỡng lại nổi các phản ứng nhún nhẩy tự nhiên của cơ thể khi thưởng thức Temptations hay Four Tops Song? Mặc dù không hiểu tiếng Anh một chút nào, người ta vẫn cảm thấy hạnh phúc và niềm vui khó tả khi được tiếp cận với một nền văn hóa vượt không gian như vậy.

Điều đó đã xảy đến với Lê Bá Bình, một người Việt Nam yêu nước và một sĩ quan trẻ TQLC. Ngay từ lúc còn nhỏ anh đã không hề bị mất gốc hay vọng ngoại. Anh đã hấp thụ ảnh hưởng Tây phương mà không từ bỏ những gì tốt đẹp nhất của Việt Nam và thường ư ử nhái lại những nhạc điệu của Nat king Cole. Anh vẫn thường đi đến các rạp hát nhỏ bé của Sài Gòn, tay nắm một đống tiền để mơ màng đến sự bao la của Miền Viễn Tây hoang dã trong những phim như High Noon hay Veracruz. Đến tuổi mới lớn thì anh chỉ trễ vài tuần lễ sau giới thiếu niên Mỹ khi tiếp xúc với các giai điệu mới của Bill Haley, nhóm tứ ca Danny and the Juniors, cùng tất cả những người sau đó. Cũng nên biết rằng cuộc “xâm lăng của Anh quốc” không chỉ ngừng lại ở Bắc Mỹ sau này. Các ban nhạc the Beatles, the Animals, Herman’s Hermits, the Yardbirds, the Rolling Stones cũng đã hạ cánh và chinh phục được Đông Nam Châu Á.

Bình đã trải qua quá trình thay đổi từ một sinh viên đại học thành một sinh viên sĩ quan rồi tân Trung đội trưởng và trở thành một thanh niên đầy tự tin sau khi đã sống sót qua chiến trận triền miên. Cách huấn lưyện tại chỗ như một tân sĩ quan thật khác xa với phương cách học hỏi lý tưởng về nghệ thuật chỉ huy nhưng lại là sự lựa chọn duy nhất trong điều kiện đất nước vào thời điểm lúc đó. Do đó, cơ hội được du học tại Hoa Kỳ thật là một món quà từ trên rơi xuống. Anh đã tự hiến mình để thu thập phần lớn kinh nghiệm từ khóa học Cơ Bản.

Gánh nặng là phải duy trì sự hiện diện thường trực của quân đội Hoa Kỳ ở một cấp độ nào đó về sức chiến đấu đã khiến cho những người Mỹ chào đời sau Thế Chiến Thứ Hai không có sự lựa chọn nào khác. Cho đến tận thời điểm đó, kể từ khi lập quốc cho đến lúc khởi đầu của Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ chỉ động viên cho mục đích chiến tranh, chưa bao giờ phải răn đe ai cả. Với những thay đổi của tình thế, tốn phí của Chiến Tranh Lạnh về nhân lực, tài nguyên và của cải đã vượt quá xa kinh nghiệm đất nước nhưng sự cần thiết phải cảnh giác nhằm đẩy lùi hiểm họa Cộng sản đã đặt cho nước Mỹ vào thế không còn sự lựa chọn nào khác.

Từ sau Thế Chiến Thứ Hai, người Mỹ nghĩ rằng nếu có một cuộc khủng hoảng nào xẩy ra bất cứ chỗ nào trên thế giới thì họ chỉ đơn giản gởi TQLC đến, cùng một lực lượng đặc nhiệm với hàng không mẫu hạm gần đó, hoặc máy bay ném bom chiến lược luẩn quẩn đâu đó trên bầu trời sẵn sàng đợi lệnh Tổng thống để xung kích là đủ.

Thế Chiến Thứ Hai đòi hỏi quá nhiều nơi mức sản xuất và nỗ lực của quốc dân tới mức không một bộ phận nào là không bị chiếu cố. Trong bốn năm trời đó, tất cả dồn vào kinh tế. Vào thời kỳ trước khi giành được chiến thắng, sự lựa chọn của kinh tế quốc gia là “bánh mì hay khẩu súng.” Nói chung dân chúng đã chịu đựng và chấp nhận gian khổ cùng nhau. Ngay cả mặc dù có một số thành phần không phải ra trận phục vụ, nhưng những ngày thứ ba không có thịt và sự hạn chế về xăng nhớt cũng là một cách chia sẻ hy sinh vì mục tiêu chiến thắng.

Trong hoàn cảnh hậu chiến với nền kinh tế phát triển mạnh mẽ đã có sự thay đổi quan niệm từ “bánh mì hay khẩu súng” thành “bánh mì và khẩu súng.” Trong khi tốn phí về quốc phòng vượt xa mức sản xuất quốc gia còn hơn thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai nhưng sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật đã đạt tới mức là những chi tiêu thường xuyên cho Chiến Tranh Lạnh vẫn cho phép người dân được tự do hưởng thụ các lợi ích vật chất mà họ không bị đòi hỏi phải hy sinh cá nhân như vài năm trước đó.

Tầm cỡ tuyệt đối của sức mạnh quân sự Hoa Kỳ thật khó mà đo lường được. Từ giai đoạn phác thảo hay tuyển mộ từ tứ phương cho đến lúc huấn luyện các cá nhân thành những quân nhân, thủy thủ, phi công hoặc TQLC, rồi nhiều người trong số đó lại còn được huấn luyện thêm về chuyên ngành đặc biệt để bổ nhiệm họ vào các đơn vị mà sau này họ sẽ phải được huấn luyện thêm nữa, cho tới sự trù liệu một uy lực của Hoa Kỳ ở bất cứ nơi nào cần đến thì quả thật chỉ có một quốc gia thực sự giàu có mới kham nổi. Từ lúc khởi đầu cho đến lúc thật sự tác chiến hay phô trương lực lượng còn có vô vàn phí tổn cho việc tích trữ, xây dựng căn cứ và chăm lo cho các nhân viên phục vụ cho nhu cầu quân sự của quốc gia. Các đòi hỏi về nghiên cứu và phát triển lại còn làm tăng thêm chi phí để bảo đảm cho các chiến đấu cơ Mỹ luôn luôn nắm thế thượng phong đối với các đối phương không thể nào có sức chạy theo cách người Mỹ làm. Thật là không đơn giản chút nào nếu muốn phái một phi đội B.52 đủ sức dội bom trúng mục tiêu, hoặc điều một lực lượng đặc nhiệm hàng không mẫu hạm đến một vị trí chiến lược có tầm ảnh hưởng thuận lợi cho lợi ích của Hoa Kỳ. Người Nga cũng đã cố gắng thực hiện điều đó nhưng họ không bao giờ đạt được chữ “và” trong khái niệm “bánh mì và khẩu súng.”

Một nước nhỏ như VNCH chắc chắn không có đủ nguồn lực hay hạ tầng cơ sở khả dĩ có thể cưu mang và huấn luyện một đội quân đủ sức để thi hành nhiệm vụ sau này được giao phó. Ở giai đoạn phát triển tiên khởi, quyết định phái các tân sĩ quan TQLC đi thụ huấn Trường Căn Bản ở Quantico dường như là một điều tiên tri đúng đắn. Khi một quân nhân tiến dần lên trong hệ thống quân giai và nếu điều kiện cho phép, người sĩ quan này có thể trở lại Quantico để được huấn luyện thêm với tư cách một Đại úy, Thiếu tá hay cao hơn nữa.

Việc cử Thiếu úy Lê Bá Bình và bốn sĩ quan TQLC khác theo học tại Trường Căn Bản Quantico tại Virginia thật hết sức đúng lúc. Cả năm anh TQLC Việt Nam đều là các chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm. Các sĩ quan cấp úy này đều đã thực hiện hàng chục chuyến bay chiến đấu bằng trực thăng xâm nhập hoặc máy bay cánh thẳng để nhẩy vào mục tiêu trong nội địa trên những chiếc C-47 hay đủ loại các máy bay quân sự khác. Họ đều quá quen với hiểm nguy nên chuyến đi Mỹ là một giai đoạn nghỉ ngơi, học hỏi và đơn giản là chuyến đi chơi đầy vui thú. Ít nhất là chẳng có ai tại Mỹ, trong tâm trí họ, muốn hại họ cả.

Từ phi trường Tân Sơn Nhất ở ngoại ô Sài Gòn, qua căn cứ không quân Clark tại Philippines, đến Guam, rồi Seattle và căn cứ không quân Travis tại California, chuyến đi thật là dài, buồn tẻ và lạnh lẽo. Vì lý do nào đó công tác chuyển vận lại thay đổi và đoạn đường ba ngàn dặm cuối cùng là một chuyến xe lửa dài ba ngày trời. Chuyến đi mất ba ngày từ Fairfield, thành phố bên ngoài căn cứ Travis cho đến Quantico. Cuối cùng thì Bình đã có thể nhìn và gần như là sờ thấy khoảng không gian rộng mở bao la mà anh vẫn mường tượng từ lúc còn nhỏ trong những buổi trưa đi coi xi-nê ngay tại Tân Định cách đó không lâu.

Khóa học Căn Bản bắt đầu vào tháng 7 năm 1964 và được đặt tên là khóa Đại đội H, hay Đại đội “Hotel,” có khi gọi đơn giản hơn là “Hotel.” – là một lớp học đa ngôn ngữ và đa văn hóa. Trong đám sinh viên sĩ quan người Mỹ mới tốt nghiệp mặt còn non choẹt còn có các sĩ quan cấp úy trẻ người Đại Hàn, Trung Hoa, Indonesia, Venezuela và Tây Ban Nha cũng mới mẻ không kém. Trong cả nhóm chỉ có đám Việt Nam là những người đã từng có kinh nghiệm chiến trường đáng kể.

Trong lúc tầng lớp thiếu niên Hoa Kỳ còn bận rộn với giày Beatles, nhạc, thời trang tóc tai thì Bình và các bạn trong Đai đội H miệt mài trong Trường Căn Bản để cố gắng học hỏi tất cả những điều học được về chiến thuật bộ binh, thực tập kỹ thuật phối hợp các hỏa lực theo kiểu Mỹ, quân phong quân kỷ, và tất cả những gì mà các sĩ quan huấn luyện có thể nghĩ ra được.

Bình và bốn Thiếu úy Việt Nam khác đều từng là sĩ quan tác chiến. Bạn bè người Mỹ rất kinh ngạc trước những câu chuyện của họ và thường đối xử với họ một cách trân trọng hơn. Thấy trước là không bao lâu nữa sẽ cùng chiến đấu bên nhau thành thử sự quan tâm trên phương diện nghề nghiệp của họ hết sức chân thành.

Đối với các sĩ quan Việt Nam thì cơ hội được chia sẻ ý kiến với các bạn học và giảng viên rất bổ ích và dễ chịu. Cùng với sự lan rộng của chiến trận, việc được học hỏi chính quy các chiến thuật và áp dụng hỏa lực trong lớp học cũng như ngoài trời là những điều mà các TQLC Việt Nam chưa hề có cơ hội được biết đến. Nhóm Việt Nam do đó thường thảo luận với nhau các lợi ích của từng bài học, đi vào những chi tiết nhỏ nhặt nhất và trao đổi với nhau sẽ làm sao để áp dụng những điều học hỏi được với đồng đội khi họ trở về nước.

Trong lúc Đại đội H đang ngày đêm thụ huấn trong các cánh rừng Quantico thì sự tham gia của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á từng bước tiến lên cường độ cao hơn. Ðúng lúc khóa học vừa hoàn tất xong chương trình tập bắn súng trường thì Quốc Hội Mỹ thông qua Nghị Quyết Vịnh Bắc Bộ. Mặc dù không chính thức khai chiến nhưng trên thực tế, Hoa Kỳ đã nhập vào cuộc chiến.

Khi mùa Hạ bước sang mùa Thu, các sĩ quan TQLC Việt Nam tận hưởng sự thay đổi màu sắc của đất trời. Và mặc dù họ đều đã biết đến cái lạnh buốt giá thấu xương trong rừng núi Việt Nam nhưng những nụ tuyết đầu tiên rơi xuống là một trải nghiệm như thể là ma thuật, gây ra niềm vui giống như tất cả các trẻ em khi lần đầu tiên được tiếp xúc với một hiện tượng như vậy.

Sự huấn luyện tại Trường Căn Bản rất khắt khe nhưng hoàn toàn không căng thẳng bằng chuyện có thể bị đạn thù thật sự trên chiến trường. Mặc dù đầu bếp nhà trường phải mất nhiều tuần lễ mới tìm ra cách nấu cơm đúng nhất, và dù họ dùng loại hạt gạo dài theo kiểu Mỹ nhưng Bình không nề hà thưởng thức thịt bí-tết, hamburgers và hotdogs. Cuối tuần thường là thời gian dành cho du ngoạn và đi thăm các thắng cảnh lịch sử và văn hóa trong khoảng cách lái xe được từ Quantico.

Bình tốt nghiệp vào tháng 12 và có được một tháng phép trước khi phải về nước. Chẳng có gì vội vàng cả vì Cộng sản vẫn còn đầy ra đấy để tiễu trừ. Bình đã đi thăm những nơi có thể đi được trong những buổi cuối tuần và bây giờ trong chuyến hồi hương dài và thong thả. Mặc dù anh đã không để lại trái tim nơi đó nhưng San Francisco và khu phố Tầu là nơi anh thích nhất. Anh đã được một người bạn trong Trường Căn Bản hướng dẫn đi chơi rất rành rọt vì anh ta vốn sinh trưởng ngay tại vùng Vịnh.

Vào tháng Giêng 1965 Lê Bá Bình trở về Việt Nam và tái nhậm Tiểu đoàn Sói Biển, giờ đây với cấp bậc Trung úy Đại đội trưởng trung đội cũ của anh. Anh phục vụ tại đó một thời gian nữa trước khi một số bạn học người Mỹ của anh từ trong Trường Căn Bản sẽ đổ bộ xuống phía Bắc gần Đà Nẵng cùng với Sư đoàn 9 TQLC Hoa Kỳ.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM