NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Chúng tôi như rắn mất đầu.”

nuocmattruocconmua

larryengelmann
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
PHẠM VĂN XINH
(Sĩ quan An ninh, Sư đoàn 2 Bộ binh)
“Chúng tôi như rắn mất đầu.”

Tôi ở Đà Nẵng khi nơi này rơi vào tay Cộng sản. Bấy giờ tôi là Sĩ quan An ninh thuộc Sư đoàn 2 Bộ binh. Tôi đã phục vụ trong quân ngũ kể từ năm 1968. Chúng tôi đóng ở Tam Kỳ, nhận được lệnh ra Đà Nẵng. Nhưng vừa đến Đà Nẵng, ra khỏi tàu thì chúng tôi được biết ngay là các sĩ quan chỉ huy của chúng tôi đã lấy tàu khác vào Nam cả rồi. Chúng tôi bị bỏ rơi. Chúng tôi không biết phải làm gì. Không biết đi đâu. Chúng tôi hệt như rắn mất đầu.

Một số quân nhân lên những chuyến tàu của người tỵ nạn chạy vào Nam. Tôi không làm như vậy. Tôi rất sợ hãi bởi vì tôi biết rõ vụ tàn sát Mậu Thân ở Huế, lúc ấy Cộng sản đã giết hàng ngàn người Việt. Chúng tôi nghĩ chúng sẽ tái diễn việc này, chúng sẽ giết các quân nhân trước tiên. Vì vậy chúng tôi vứt quân phục, thay đổi quần áo thường dân.

Đến Đà Nẵng, lúc đầu Cộng sản không có hành vi gì ghê gớm. Không bắt bớ, cũng không đưa ai vào tù. Nhưng chỉ vài ngày sau, chúng tôi khám phá ra Cộng sản có một danh sách những người cộng tác với Mỹ. Cộng sản gọi những người này là bọn phản bội, chúng nói những người này là thành phần tối nguy hiểm. Tôi không rõ có bao nhiêu tên người trên danh sách, nhưng tôi thấy nhiều người bị bắt. Những người có tên trong danh sách đặc biệt bị bắn tại chỗ, ngay trên đường.

Cộng sản nói những người này không đáng sống. Việc ấy không giống chuyện hành quyết, mà giống những vụ sát nhân trên đường phố. Chúng không cần đưa họ đi đâu, như ở Huế. Hễ tìm thấy những người ấy ở đâu, chúng giết ngay ở đó.

Tôi đã nhìn tận mắt vài người bị bắn như thế. Bọn Cộng sản không hề có lòng thương xót. Hoàn toàn không. Tôi rất sợ, bởi vì tôi là một quân nhân, tôi nghĩ tên tôi đã nằm trong danh sách của chúng rồi.

Tôi yên tâm hơn khi bỏ quân phục mặc quần áo thường dân. Nhưng Đà Nẵng là quê quán của tôi, nhiều người trong xóm biết tôi ở trong quân đội. Tôi không thể giấu giếm được. Tôi lại biết có kẻ có thể đem nạp tôi mà lấy lòng Cộng sản, vì thế tôi rời sang một khu phố khác trong thành phố, tìm nơi không ai quen biết. Nhưng có kẻ đã cho tên tôi, nên Cộng sản đến kiếm. Chúng có một danh sách trong đó có tên tôi. Tôi cảm thấy rất nhục nhã khi bị bắt. Tôi nghĩ đáng lẽ tôi cứ mặc quân phục. Tôi nghĩ đáng lẽ tôi phải chống trả. Nhưng không còn chỉ huy, cũng không có lệnh lạc gì nữa, vì vậy làm sao tôi chiến đấu được.

Cộng sản gửi tôi đến vùng Kinh tế mới. Tôi ở đấy sáu năm. Tôi rất căm ghét. Tôi biết khi có cơ hội là tôi rời Việt Nam ngay. Nhưng tôi không có tiền. Muốn lên tàu phải có tiền.

Năm 1983 trở lại Đà Nẵng tôi gặp được một người có tàu. Tôi bảo người này rằng tôi nhận làm tài công nếu anh ta đưa tôi ra khỏi Việt Nam. Tôi bảo tôi sẽ tìm thêm những người khác trả tiền cho anh. Người này đồng ý giúp. Tôi kiếm được hai mươi hai người muốn rời Việt Nam, những người này chịu trả tiền cho chủ tàu. Chúng tôi đi vào một đêm tháng Chạp, năm 1983, giương buồm tới đảo Hải Nam. Người Trung Quốc tại đây đã giúp đỡ chúng tôi. Họ cho chúng tôi đồ ăn và nước ngọt. Rồi chúng tôi đến được Hồng Kông. Chúng tôi đã lênh đênh trên mặt biển hai mươi bốn ngày.

Ngày nay tôi là một người tự do.

ẢO

kimvovong

Đêm có trăng để khoe huyền diệu
Em có tóc dài với lược gương
Còn tôi thu cuối mưa rồi gió
Vàng lá phu nhân vỡ giọng cười

Có lẽ nào tôi như vé số
Đứng để chờ một cuộc rủi may
Phải em áo tím màu đông bắc
Lạnh ngược đời tôi chẳng bến bờ

Hay là chỉ một cơn bão rớt
Thoáng lung lay cây cối trong vườn
Rồi mai trở nắng chim về đậu
Nhẹ gót bình yên trên lá xanh

Vẫn một mình từ trong hố thẳm
Say ngậm ngùi trăm tuổi tình si
Ngón tay em nhỏ hồng khuê các
Xỉa xói hồn tôi thuở lạc lòng

Không xa xôi nhưng em hư ảo
Dù thật tình đâu phải chiêm bao
Và tôi phù phiếm từng nhung nhớ
Sóng vỗ bờ khôn thuở nào nguôi

Uống một mình say rất khó say
Bâng quơ nghe chó sủa qua ngày
Tay bưng một chén quên thời thế
Yêu muộn màng sương rơi long lanh

Lận đận dăm bài thơ ngớ ngẩn
Hát khan một khúc nhớ thương ca
Vươn vai ngạo ngó chiều qua hết
Tôi với đêm và em quá xa

Kim Vô Vọng

BÀI LUẬN LÀM TẠI NHÀ

nguyenxuanhoang
NXH BY NGUYEN BA KHANH

1. Nhập đề :
Tôi bước vào đời như loài thảo mộc
Tôi bỗng lớn lên như lũ thú rừng
Xương thịt mẹ cha cho từng tiếng khóc
Anh em mỗi người tặng chút yêu thương

2.Thân bài :
Năm lên bảy tuổi nghe lời mẹ dặn
Tôi làm học trò mắt sáng môi tươi
Đường làng phân trâu ngái mùi cỏ dại
Sáng sớm lên trường ngồi đó nghỉ ngơi
Bạn bè chưa thân bài cho chưa thuộc
Mùa thu chưa qua lá vàng chưa rơi
Thầy giáo bỗng buồn tay vê điếu thuốc
Khói cũng vô tình mất vẻ thảnh thơi
Cha đó : mắt buồn sâu như biển cả
Và mẹ già nua nhớ buổi thiếu thời
Tiếng súng đầu làng mỗi ngày một quá
Sông cũng hững hờ rút cạn niềm vui

3. Kết luận :
Mùa thu đi qua , mùa thu trở lại
Tôi chợt thấy mình tuổi sắp năm mươi
Sáng sáng dừng chân nhìn quanh lớp học
Nhìn lại đời mình …buồn đến thế ư !

Nguyễn Xuân Hoàng

ÔNG THẦY LUCKY LUCKE

lephuhai

Mới đây tại xóm Bàn Cờ tôi ở có mở thêm cái quán hớt tóc đề tên “Chương”. Tôi rất mừng vì khỏi phải đi xa, xe cộ phiền hà, chỉ cần cuốc bộ năm phút là tới. Trời Sài Gòn nóng nực quanh năm, mình chẳng còn trẻ trung gì nữa nên chuyện đẹp xấu không thành vấn đề, hớt tóc là để cho mát mẽ cái đầu, sẵn cạo bớt râu ria cho gọn gàng.
– Tiệm mới mở hả? bữa giờ qua lại tôi không thấy. Tôi hỏi
– Dạ mới thuê được cái mặt bằng này đó anh. Anh thợ hớt tóc tên Chương trả lời
Tôi leo lên ghế ngồi. Vừa choàng tấm vải qua người tôi anh Chương vui vẻ nói:
– Trước đây tôi cũng đã từng hớt tóc ở xóm này đó anh. Khách quen nhiều lắm. Thiệt tình tôi hớt cũng không đẹp lắm đâu nhưng khách quen vẫn thích đến để nói chuyện. Có khi phải điện thoại hẹn trước đó.
Tôi hỏi:- Vậy rồi đi đâu hay sao mà bây giờ mới quay lại?
– À, cách đây ba năm người ta lấy lại mặt bằng không cho thuê nữa nên đành phải về bên nhà ở hẽm Điện Biên Phủ. Bên đó không bằng đây. Cầm cự thời gian ế ẩm quá tới bây giờ mới thuê được chỗ này, hy vọng khách ngày xưa còn nhớ sẽ tới.
Tôi tin là anh nói thật vì nét mặt và cách nói năng của anh ẩn hiện một điều gì tử tế. Thấy anh bước đi hơi khập khiểng tôi hỏi thăm dò:
– Bộ trước có đi lính tráng gì hay sao mà chân như vậy?
Anh cười hì hì:
– Trời! Lính tráng gì đâu anh. Tôi coi vậy chứ còn trẻ mà. Hồi tết Mậu Thân mới có tám tuổi chớ mấy. Chỉ có ông già hồi xưa là lính không quân. Còn cái chân này là do sốt bại liệt hồi nhỏ.
Tôi nói để anh yên tâm:
– Ờ, ba tôi trước đây cũng là lính. Tôi thì cũng suýt đến tuổi đi lính thôi… Vậy bây giờ ông già anh làm gì?
– Ổng chết rồi, tận cái hồi Mậu Thân. Bị bắn chết.
– Ủa, lính không quân mà…?
– Chắc là do cái số. Ổng là lính không quân ở phi trường Tân Sơn Nhất, làm ở dưới đất thôi, không phải lái máy bay đâu. Hồi đó nhà tôi còn ở Chợ Lớn, tối giao thừa năm đó ông già được ở nhà. Đến hồi súng đạn tùm lum cả nhà phải trốn dưới gầm giường. Gần nhà có cái lô cốt của Biệt Động Quân, đánh nhau chỗ đó cũng dữ lắm. Gần sáng ổng nói để ra phụ mấy ông BĐQ tiếp tế súng đạn chớ lúc này mà chạy tới phi trường thì xa quá. Ai dè ra đó chẳng bao lâu ổng trúng ngay một phát đạn vô ngực…
Im lặng một chút anh nói tiếp:
– Tội nghiệp bà già. Hồi đó bả cũng còn trẻ. Trên tôi là một bà chị cũng mới mười tuổi chớ mấy. Còn hai thằng em nữa. Vậy mà từ đó cho tới sau này một tay bả lo lắng hết, ở vậy nuôi con.
– Chính phủ hồi đó không có trợ cấp gì sao?. Tôi hỏi
– Có chớ – anh trả lời – Sau khi khám xét cẩn thận người ta biết ổng chết là do viên đạn AK bắn trúng ngực, nên mới làm thủ tục công nhận tử sĩ. Cũng nhờ đó mà mấy chị em mới được ăn học tiếp tục. Tôi và bà chị học trường Quốc gia nghĩa tử ở Tân Bình. Hai thằng em học trường Quốc gia nghĩa tử ở Thủ Đức để ở nội trú luôn. Anh có biết hai trường này không?
– À, tôi có nghe nói trường Cao đẳng Kỹ thuật bây giờ trước đây là trường Quốc gia nghĩa tử, nằm gần bệnh viện Vì Dân của bà Thiệu, bây giờ là bệnh viện Thống Nhất. Còn trường ở Thủ Đức thì không biết.
– Đúng rồi đó anh. Hồi đó gần trường còn có cái nghĩa địa Tây nữa. Ngày xưa đi học ở đó cũng nhiều kỷ niệm lắm… Tiếc là mới học hết lớp tám thì “giải phóng” tuốt. Nhớ nhiều nhất là ông thầy Lucky Lucke.
– Ủa, ông thầy Lucky Lucke nào?…

Sau khi ba tôi chết trong tết Mậu Thân 68, chúng tôi được gởi học tại trường QGNT. Đây là trường được thành lập trong thời kỳ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, là nơi dành cho con em tử sĩ và thương phế binh theo học, qui chế như một trường công lập, chưa kể có những đãi ngộ đặc biệt khác.
Năm tôi học lớp bảy, giáo sư phụ trách là một thầy giáo, ốm và cao lòng nhòng, miệng hay ngậm điếu thuốc trông rất giống nhân vật Lucky Lucke trong truyện tranh hồi đó nên chúng tôi đặt tên thầy là Lucky Lucke, dĩ nhiên là chỉ nói sau lưng thôi. Thầy dạy môn Toán, giọng nói hơi khàn khàn nhưng nghe cũng dễ hiểu bài. Chúng tôi được biết thầy là lính biệt phái, trước đó thầy là trung úy thuộc sư đoàn 7 bộ binh. Thầy rất vui vẻ và có óc khôi hài. Lớp chia ra 4 đội, thầy gọi là tiểu đội và phong cho cấp bậc đàng hoàng. Trưởng lớp là chuẩn úy, đội trưởng là trung sĩ, còn lại là binh nhì, binh nhất. Mỗi lần kêu lên bảng giải toán thầy toàn kêu binh nhì, binh nhất, ví dụ như: “tiểu đội 1 binh nhì Chương, tiểu đội 2 binh nhất X, Y, Z v.v… lên bảng giải bài toán này”. Bài toán quá khó binh nhì giải không ra thầy lại tiếp tục: “Binh nhì đứng qua một bên, mấy trung sĩ lên cứu bạn đi” và mấy đội trưởng tiếp tục lên giải bài tập. Cũng có khi gặp trường hợp bài khó thầy gọi chuẩn úy – là trưởng lớp – lên giải quyết. Kiểu quân sự hóa chuyện học hành như vậy làm chúng tôi thấy vui vẻ và không khí thi đua hăng hái lắm, tuy áp lực lên mấy “trung sĩ” và “chuẩn úy trưởng lớp” hơi căng thẳng…
Nhưng nhớ nhất không thể nào quên là đợt liên hoan cuối năm. Xong phần bánh trái nước ngọt là đến phần văn nghệ. Vài đứa chúng tôi lên hát giúp vui, thầy Lucky Lucke đệm đàn ghi ta. Cuối cùng thầy nói:
– Hôm nay thầy sẽ chia tay các em luôn vì hết năm học này thầy sẽ không còn gặp các em nữa. Thầy được điều động trở về đơn vị vì tình hình chiến cuộc căng thẳng quá. Để chia tay, thầy sẽ hát tặng các em bài hát “Đồi thông hai mộ”. Đây là bài hát mà thầy rất thích vì nó in đậm một kỷ niệm khó quên trong đời lính của thầy…
Chúng tôi nhao nhao lên:
– Kể đi thầy, kể kỷ niệm Đồi thông hai mộ đi thầy…
– À, chuyện là như vầy, chiều hôm đó đại đội của thầy vừa hành quân đến một vùng quê thuộc tỉnh Kiến Tường, lặng lẽ đóng quân rãi rác kéo dài ven một con sông nhỏ. Sáng hôm sau thức dậy sớm thầy ra bờ sông súc miệng, tự nhiên nghe có tiếng hát văng vẳng “Một chiều rừng gió lộng một chiều rừng nhớ chuyện bên đồi thông. Nàng năm ấy khi tuổi vừa đôi chín tâm hồn đang trắng trong…”. Chỉ có một câu hát mà lập đi lập lại hết giọng nam lại đến giọng nữ. Thầy chui vào một lùm cây núp nhìn ra sông. Một lát nghe có tiếng mái chèo rồi chẳng mấy chốc hiện ra một chiếc xuồng nhỏ, trên có một đứa con trai và một đứa con gái còn rất trẻ, mặc đồ bà ba đen cổ quấn khăn rằn. Thì ra chàng trai đang bày cho cô gái hát. Lúc đó thầy hơi hoảng. Chết cha! VC… Không nghĩ ngợi thầy chạy vội lên bờ gọi điện đàm cho toán quân đóng ở phía dưới báo tin có hai VC đang chèo ghe xuôi dòng. Không lâu sau rộ lên mấy tràng súng nổ. Thầy vội vả mặc áo quần xách súng chạy xuống. Đến nơi chỉ còn thấy hai cái xác lổ chổ vết đạn nằm sát cạnh bờ, chiếc xuồng lật úp nằm bên cạnh. Tới gần thầy nhìn thấy cuốn vở đang mở ra, vẫn còn nguyên chỗ bài hát có đầu đề “Đồi thông hai mộ”. Thầy thấy lòng xót xa quá. Chiến tranh mà, thầy đâu thể làm gì khác hơn được! Từ đó thầy bị ám ảnh và cứ thích hát đi hát lại bài hát này. Không biết hai cái mộ của chàng trai và cô gái kia bây giờ ở đâu?
Nói xong thầy hát “Một chiều rừng gió lộng một chiều rừng nhớ chuyện bên đồi thông…” giọng khàn khàn và buồn bả…

Kể xong câu chuyện anh thợ hớt tóc chợt nói bâng quơ: “Không biết bây giờ ông thầy ra sao rồi, còn sống hay đã chết, có tù tội gì nhiều hay không nữa…” Những câu hỏi không chờ đợi được trả lời…
Câu chuyện kể của anh thợ hớt tóc tên Chương cũng làm tôi băn khoăn cả ngày hôm đó. Dĩ nhiên người thầy giáo trung úy biệt phái trong câu chuyện cũng có tên tuổi đàng hoàng, nhưng tôi muốn giữ cái tên Lucky Lucke bởi vì trong ký ức thời thơ ấu của chúng tôi nhân vật Lucky Lucke là một con người trượng nghĩa, trừ gian diệt bạo xong lại một người một ngựa lên đường đi về phương trời vô định. Biết rằng chỉ là một liên tưởng vui vui vậy thôi nhưng nó cứ bắt mình nhớ lại những chi tiết không đâu. Kiểu như nhớ lại có lần tôi nghe anh tôi nói với má tôi trong một chuyến nghỉ phép về từ sư đoàn 23 trên cao nguyên:
– Chiến tranh thật là kinh khủng má ơi! Người chết và bị thương nhiều lắm, ngày nào cũng có, bên nào cũng có. Nhiều khi nhìn xác VC chết đầy dẫy mà lòng con cũng xót xa…
Má tôi buồn bả nói:
– Hay là con ở nhà luôn đi, đừng trở lên đó nữa?
– Đâu có được, má. Đơn vị rồi bạn bè lính tráng còn đó mà sao bỏ đi cho được…
Trong một giây phút tôi chợt hiểu ra rằng những người như ông thầy Lucky Lucke hay như anh tôi cũng chính là số đông những người lính cầm súng ngày ấy. Họ được dạy Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm nhưng không được dạy lòng hận thù. Họ được học cách chiến đấu để sinh tồn chứ không phải học nghề đao phủ. Họ là những chiến binh nhân ái… Và bây giờ đội quân này đã không còn nữa. Có khi rồi mai mốt đây vết tích cũng chẳng còn.
Nhà văn Võ Phiến trong một biên khảo về văn học miền Nam sau này có trích mấy câu thơ của Nguyễn Bắc Sơn và Hà Thúc Sinh như sau:
Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân, rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem chiến cuộc như tai trời ách nước
(Chiến tranh VN và tôi – Nguyễn Bắc Sơn)

“Giao thừa đâu mà vội
Hãy khoan đã chú mày
Cứ đóng xa vài dặm
mà ăn uống cho say
Ta cũng người như chú
cũng nhỏ bé trong đời
có núi sông trong bụng
mà bất lực hôm nay…
………………………
Vì nói thật cùng chú
Trăm năm có là bao
Binh đao sao biết được
Sinh tử ở nơi nào.”
(Nghinh địch hành – Hà Thúc Sinh)

LÊ PHÚ HẢI

CHIỀU HOANG

daolam

nhớ núi ta tìm về với núi
mùa sương mờ cánh võng dốc mưa
tháng bảy ta về nghe tình gọi
trên cao Hạ Trắng mới như vừa

tiếng gió lao xao ngoài thung vắng
ngày đi qua ngọt lịm môi cười
tháng bảy ta về trời thiếu nắng
bên thềm Hạ Trắng nhớ khôn nguôi

ngày giấu trong vòng tay chín đỏ
những môi hôn cuồng nộ thác nguồn
đêm ôm chặt giấc mơ tình lỡ
nước mắt nào mặn đắng môi hôn

thắp chiêm bao thả vào ngày tháng
nhốt tình chung nuôi nỗi buồn riêng
tháng bảy ta về mơ Hạ Trắng
ngơ ngẩn niềm đau chở muộn phiền

phố của trăm năm tình luôn mới
cho dầu ngày tháng cứ trôi đi
Ha Trắng bên đời nhau vời vợi
tiễn mùa…hay dựng cuộc chia ly

XA RỒI,NGÀN DẶM THIÊN DI
CHIỀU HOANG TÍM BIẾC XUÂN THÌ RỤNG RƠI!

DaoLam

TIẾNG CỦA MẸ

teresameichuc

Tôi viết tên tôi
Bằng tiếng Việt
Chúc Mỹ Tuệ
Như trong giấy khai sinh
Mà cha mẹ đặt cho tôi lúc chào đời.

Dấu sắc như một tia chớp xé
Dấu ngã bồng bềnh như sóng lượn chân trời
Dấu mũ giống như một đỉnh núi chót vót
Và dấu nặng là giọt trăng rơi

Tôi chỉ thêm bốn cái dấu nhỏ thôi
Như bốn viên ngọc lung linh
Là tôi đã hoàn tất
Cuộc trở về
Với tiếng Việt của mẹ tôi.

( Đinh Văn Thân dịch)

CƯỠI NGỌN SẤM14

cuoingonsam
richardbotkin

Chương 9

1968: Khởi đầu của một đoạn kết

Tháng Giêng 1968 là tháng thứ 34 mà Hoa Kỳ đã tiến hành các trận địa chiến lớn tại Việt Nam. Dùng kinh nghiệm “đắc ý” của Thế Chiến Thứ Hai làm tiêu chuẩn thì chẳng thấy có dấu hiệu gì đáng kể ngoại trừ một vài lời khẳng định của Tổng thống Johnson và các giới chức cao cấp quân sự Hoa Kỳ rằng đang có những tiến bộ để tiến dần đến chiến thắng.

Đến tháng thứ 34 kể từ khi nước Mỹ tham chiến vào Thế Chiến Thứ Hai thì đã có một loạt chiến thắng và thành tựu liên tục mà dân chúng trong nước có thể theo dõi được diễn tiến trên những tấm bản đồ của National Geographic. Trên mặt trận Thái Bình Dương, các chiến công đẫm máu của Hoa Kỳ tại các địa danh như Midway, Guadalcanal, Tarawa, Guam và Philippines cho thấy đế quốc Nhật Bản đang bị thu hẹp dần.

Đến tháng thứ 34 của sự can dự của Hoa Kỳ trong Thế Chiến Thứ Hai, trên địa bàn Âu Châu, Đức Quốc Xã đã bị đánh đuổi ra khỏi Bắc Phi và Phát Xít Ý đã bị loại ra khỏi cuộc chiến. Quân đội Đồng Minh đã vượt qua các đầu cầu trên bãi biển D-Day, giải phóng được thủ đô Paris và tiến dần đến Berlin. Trong khi đó, quân Liên Sô đang tiến đều từ phía Đông. Stalin, Churchill và Roosevelt đã công khai bàn bạc về một thế giới hậu chiến rồi. Dân Mỹ lúc đó vẫn quyết tâm chịu đựng nhưng ít nhất họ cũng cảm thấy là chiến thắng đã thấp thoáng đâu đó nơi một chân trời đang mở ra.

Đến tháng thứ 34 của sự tham chiến của Hoa Kỳ vào Thế Chiến Thứ Hai thì người Mỹ đã được uốn nắn đến nơi đến chốn và họ đồng tình tham gia vào nỗ lực chiến tranh chung. Với 12 triệu người, nam và nữ tại ngũ trong một dân số 140 triệu người thì ít có gia đình nào mà không có người con, người chồng, cháu hay bà con đang phục vụ trong quân ngũ. Nhu cầu về kinh tế để yểm trợ toàn bộ chiến tranh hầu như bảo đảm là mặc dù một gia đình nào đó không có người thân hay bạn hữu mặc quân phục thì họ cũng phải dính dáng bằng cách nào đó đến chiến tranh, hay có ảnh hưởng đáng kể qua chức vụ dân sự của họ.

Về mặt văn hóa thì đến tháng thứ 34 của Thế Chiến Thứ Hai, người Mỹ đã quen dần với các tin tức hàng tuần liệt kê các thành tích của quân đội Đồng Minh gặt hái được trên địa bàn quốc tế. Họ cũng quen thuộc với lối diễn xuất của các tài tử anh hùng “lá cải,” những người trên thực tế không hề thực sự tham gia chiến tranh nhưng biết diễn tả kẻ thù xảo quyệt trong các cuốn phim như Corregidor, Fighting Seabees, Air Force, Guadalcanal Diary, Wake Island, Behind the Rising Sun, Five Graves to Cairo, Destination Tokyo, and Foreign Correspondent. Có phim coi được nhưng cũng có phim chẳng hay ho gì lắm.

Vào tháng Giêng năm 1968, âm nhạc cũng không còn giống như trước nữa, có thể nói là tiến hóa lên hay thoái hóa xuống tùy theo sự nhận thức của mỗi người. “Rum & Coca Cola” nay trở thành “Purple Haze” và “Eight Miles High.” Sự ngọt ngào và tính chân thật của những nhạc phẩm như “Don’t Sit Under the Apple Tree” và “The White Cliffs of Dover” đã biến thể thành sự phi lý và hỗn loạn trong “White Rabbit” và tiếp theo đó là những thể loại như “The Fish Cheer.” Từ những giọng hát của Andrews Sisters và Dinah Shore, bước nhảy vọt qua dục tính sống sượng của Grace Lick, còn Janis Joplin không nói lên được sự toàn vẹn, lòng quyết tâm hay niềm tin vào chiến thắng như người ta vẫn thường thấy nữa.

Ngay cả nếu dùng cuộc chiến Triều Tiên vừa qua để làm thước đo cho sự tiến bộ cũng không thấy điều gì khả quan hết. Ngoài sự kiện là cuộc chiến tại Việt Nam cho tới nay không làm thiệt mạng nhiều hơn so với chiến tranh Triều Tiên và không kéo theo sự tham dự trực tiếp của Liên Bang Sô Viết và Trung Cộng – ít nhất là trên mặt chính thức – thì cho đến tháng thứ 34 của các cuộc giao tranh lớn tại bán đảo Triều Tiên, một hòa ước đã gần được ký kết rồi.

Khởi đầu năm 1968 tại Hoa Kỳ, chính phủ vẫn chưa cần phát hành công khố phiếu, chưa cần phải tận dụng phế liệu kim loại, dân chúng chưa cần phải nhịn ăn thịt các ngày thứ Ba, cũng như chưa phải hạn chế xăng dầu và đường ăn. Người công nhân Hoa kỳ bình thường chưa phải sàn xuất bom đạn hay tàu chiến. Cũng không có hiện tượng phải “giữ mồm giữ miệng” và mẫu người “em gái hậu phương” cũng chưa cần phải xuất hiện để ủng hộ chiến tranh. So sánh với thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai mà mức chịu đựng và hy sinh chung đã khiến cho cứ 12 người dân Mỹ thì một người phải mặc quân phục và có lẽ một nửa số này phải phục vụ đâu đó ở hải ngoại, thì trong thời điểm chiến tranh Việt Nam đang xảy ra có lẽ chỉ có 1/100 phải phục vụ trong quân đội và 1/400 đồn trú tại Đông Nam Á. Vào cuối thập niên 60 nếu một gia đình nào đó không có con em, chồng hay bạn hữu trực tiếp phục vụ tại Việt Nam, và nếu người đó không thật sự tham dự vào các trận chiến trong rừng rậm thì sự liên quan của Hoa Kỳ là cả một sự bực mình cho đến phiền nhiễu, một điều gì đó làm họ khó chịu cho tới khi bản tin buổi chiều trên đài truyền hình chấm dứt và chương trình chuyển qua các phim tập như Batman, Dragnet, Laugh-In và The Monkees.

Đánh dấu mốc thời gian

Đến lúc Gerry Turley, John Ripley, Chuck Goggin và hàng trăm ngàn chiến binh Hoa Kỳ khác đã hoàn tất chu kỳ nhiệm vụ thứ nhất của họ, thường cũng là lần cuối, và nhiệm kỳ của Thiếu úy George Philip, tốt nghiệp khóa 1967 trường huấn luyện Hải Quân Hoa Kỳ khởi đầu thì Đại úy Lê Bá Bình vẫn còn đang thi hành công vụ một cách vô hạn định.

Binh lính Hoa Kỳ trên khắp bốn Vùng Chiến Thuật thường sốt ruột đếm từng ngày thời gian còn lại của họ tại Việt Nam. Khi một người nào đó chỉ còn 90 ngày hay ít hơn thì được gọi là “lùn xủn,” hoặc “chú lùn hai số.” Nếu chỉ còn ít hơn 10 ngày thì thành “lùn tè” và được mệnh danh là “chú lùn một số.” Tại Đại đội Lima, các trinh sát của Ripley có một truyền thống riêng và John Ripley phát cho mỗi người một bộ bài cào khi họ chỉ còn 52 ngày còn lại của nhiệm kỳ. Ngoại trừ con ách bích được dành cho ngày cuối cùng, mỗi ngày họ rút ra cầu âu một quân bài để đánh dấu mốc thời gian. May rủi trong ngày đến với anh ta tùy thuộc vào lá bài anh rút. Một cách nữa để biết thời gian là ngày Chủ nhật khi người thường vụ phân phát cho mọi người thuốc ngừa sốt rét để uống.

Đối với Lê Bá Bình, các lính tráng của Đại đội Sói Biển, và cả binh chủng TQLC VNCH thì không có chuyện mai hậu, không có bóng chày hay tóm lại chẳng cái gì để mà mong chờ. Trên thực tế thì họ còn vợ con, cha mẹ, bạn gái hay gia đình vẫn luôn chờ đó nhưng đó là chuyện bình thường và họ cũng không ở đâu xa xôi gì cho cam. Người Việt không có viễn ảnh nào to tát để mà suy tư. Trong khi các mưu toan về chiến lược và dàn xếp của Hoa Kỳ trải dài khắp địa cầu từ Á sang Âu và cả các đại dương nằm ở giữa, trong khi nước Mỹ nắm trong tay các ưu điểm về nhân sự và kỹ nghệ để yểm trợ trách nhiệm của họ khắp mọi nơi, thì Việt Nam chỉ là một phần nhỏ trong số đó – tuy là trách nhiệm đẫm máu nhất vào lúc này – nhưng vẫn chỉ là một trong những quân cờ đô-mi-nô cần phải yểm trợ mà thôi. Đối với người Việt thì chiến tranh chống Cộng sản là một cuộc chiến toàn diện. Vậy thôi, chẳng có gì để phải cân nhắc cả.

Giới quân sự Hoa Kỳ rất sáng suốt trong quyết định là khi một chiến binh bị thương ba lần trong một kỳ công vụ mà vẫn còn sống sót thì tốt nhất là cho anh ta về nhà. Không nên để họ đánh đu với thần chết làm chi nữa và cũng chẳng nên đòi hỏi gì thêm ở một người đã cống hiến nhiều như vậy. Trong khi đó thì đến tháng Giêng 1968, Đại úy Lê Bá Bình đã bị thương năm lần từ lúc ra trường vào năm 1962. Nhưng đất nước anh không có cái xa hoa hay dư thừa nhân sự để cho anh giải ngũ được.

Cũng vào khoảng tháng Giêng năm 1968 thì số người Mỹ bắt đầu đặt câu hỏi liệu Hoa Kỳ có nên quyết tâm theo đuổi chính sách của mình hay không tăng dần lên sau khi TT Kennedy hứa là sẽ “trả bằng bất cứ mọi giá và nhận lãnh mọi trách nhiệm…” Họ cảm thấy những thành quả đạt được quá ít so với cái giá về nhân mạng và vật chất đã bỏ ra, thành thử lối suy nghĩ như vậy có vẻ không hợp lý. Đối với các thanh niên Mỹ trong lứa tuổi từ 18 đến 25 thì viễn tượng đi chiến đấu và chết cho một cuộc chiến không phải của họ ngay từ khởi đầu đã không có sức hấp dẫn gì lắm.

Dư luận Hoa Kỳ có thể tha hồ tranh cãi hoặc tỏ ý phản chiến với nhau một cách lịch sự hay bất lịch sự cũng chẳng sao cả. Hiểm họa trực tiếp của quân Bắc Việt hay Việt Cộng chẳng nghĩa lý gì đối với Hollywood, Berkeley, Madison hay Ann Arbor. Tuy nhiên đối với những người Việt Nam không muốn sống dưới ách Cộng sản thì họ không có sự chọn lựa nào khác. Hiểm họa Cộng sản đối với họ rất cụ thể và ngay sát bên hông. Tất cả các biến cố ngoài nước Việt Nam chỉ làm họ bận tâm khi nào chúng có tác động đến khả năng và sự quyết tâm của Hoa Kỳ nhằm yểm trợ và tiếp viện cho họ để bảo vệ nền Tự do.

Bối cảnh dẫn đến Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968

Cho dù có mặt tại chỗ hay không, nhưng sau một thời gian, các phóng viên tường thuật về Việt Nam đã để lại cho độc giả và khán giả truyền hình cái cảm tưởng là suốt chiều dài đất nước Việt Nam chỗ nào cũng chằng chịt đường hầm và nơi trú ẩn an toàn của kẻ thù. Cán bộ Việt Cộng thì ngụy trang khéo léo và kiểm soát hoàn toàn vùng rừng rậm để rình rập tấn công vào các xóm làng và thành thị. Cảm giác chung của mọi người là không có ai và nơi nào được an toàn cả. Điều này không đúng sự thật.

Bỏ sự tuyên truyền của cộng sản và báo chí Tây phương ­– thường là tàn nhẫn và làm mất cảm tình – sang một bên, nền dân chủ non trẻ của nước Việt Nam Cộng Hòa mới được thành lập còn đang phôi thai, vào năm 1966, đã cho thấy sự tiến bộ thực sự và có hứa hẹn. So với những nhân vật nắm quyền trước đây của thực dân sau Thế Chiến thứ II ở Âu châu và sự khó khăn vô vàn để giữ vững giềng mối qua những thay đổi trong chính phủ mà người Pháp đã trải qua, tình hình ở Việt Nam, nếu được xét theo một tiêu chuẩn tương tự, không đến nỗi nguy kịch khủng khiếp.

Tiếp theo sau chuyện loại bỏ Ngô Đình Diệm năm 1963 rồi những cuộc đảo chánh và chống đảo chánh liên tiếp nhau, sau khi Nguyễn Cao Kỳ trở thành thủ tướng, một sự ổn định ngoài mặt đã được thành lập, cho dù quốc gia đang còn trong tình trạng chiến tranh. Vào năm 1966, 85 phần trăm công dân đủ điều kiện để bỏ phiếu đã thực sự cố gắng đi bầu.

Tổng tuyển cử toàn quốc tại Việt Nam được tổ chức vào tháng Mười Một năm 1967 và sự trong sạch trong cuộc bầu cử nói chung là một phép lạ không nhỏ. Trong khi giới truyền thông Hoa Kỳ và Âu Châu vội vàng kêu lên là các ứng cử viên có khuynh hướng thiên cộng (với mục tiêu lật đổ các chính quyền không cộng sản bằng bạo lực) không được phép ra tranh cử, hàng chục phái đoàn tôn giáo và chính trị bàng quan được gởi đến với tính cách quan sát viên cũng không tìm ra một sự gian lận nào cả. Đúng là Nguyễn Văn Thiệu đã thắng như người ta dự kiến, nhưng sự kiện ông ta chỉ thắng với tỉ lệ 35% cử tri đi bầu đã vô hiệu hóa lời cáo buộc của Cộng sản là cuộc bầu cử đã có sự sắp xếp trước. Đối với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) thì chẳng bao giờ có tự do phát biểu chính kiến như vậy cả.

Tại hậu phương Hoa Kỳ, có rất nhiều người vẫn còn trông mong vào sự thắng lợi và tin vào những lời của những kẻ lạc quan và bè phái muôn thuở về chính trị. Tướng Westmoreland, sĩ quan cao cấp nhất tại Việt Nam trong một buổi nói chuyện tại Washington DC cho Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia vào ngày 21 tháng 11 năm 1967, khi đả động đến Năm Mới sắp đến, đã tiếp tục đưa ra một sự nhận định khả quan được mọi người ghi nhận. Ông phát biểu: “Đoạn kết đã bắt đầu trông thấy được rồi.” Ông cũng xác định thêm là trong vòng non hai năm nữa thì người Mỹ sẽ trao lại một phần lớn gánh nặng cho Quân lực VNCH.

Bài phát biểu của Tổng Thống Johnson trong dịp báo cáo tình hình quốc dân đầu tháng Giêng 1968 hết sức cương quyết và dứt khoát. Ngay lúc bắt đầu trình bày về Việt Nam ông nhận định:

“Kể từ lần tôi báo cáo với quý vị vào tháng Giêng năm ngoái, ba cuộc bầu cử đã được tiến hành tại Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh và dưới mối đe dọa liên tục của bạo lực. Một Tổng Thống, một Phó Tổng Thống, Thượng Viện, Hạ Viện và các viên chức làng xã đã được tuyển chọn bằng một cuộc bầu cử toàn dân trong sạch. Kẻ thù đã bị đánh bại liên tiếp từ mặt trận này qua mặt trận khác. Số lượng người dân miền Nam Việt Nam được sinh sống trong sự bảo vệ của chính phủ đã tăng lên tính đến chiều nay, là hơn một triệu kể từ tháng Giêng năm ngoái.

Đây toàn là những dấu hiệu của sự tiến bộ. Nhưng: kẻ thù vẫn tiếp tục đổ người và của vượt qua biên giới đưa vào chiến trận mặc dù họ đã chịu sự tổn thất nặng nề. Họ vẫn còn tiếp tục nuôi dưỡng hy vọng sẽ bẻ gãy được lòng quyết tâm của chúng ta. Tôi xin thưa là họ đã lầm. Hoa Kỳ sẽ luôn luôn kiên trì. Sự kiên nhẫn và cương quyết của chúng ta luôn phù hợp với sức mạnh sẵn có. Mọi cuộc xâm lăng sẽ không bao giờ thành công. Nhưng mục tiêu của chúng ta là hòa bình – và hòa bình càng sớm càng tốt…”

Tiếp theo, Tổng Thống Johnson phác họa một cách ngắn gọn mục tiêu của ông nhằm đạt một dạng hòa bình nào đó với Cộng sản tại Hà Nội. Ngoài chuyện đó ra thì phần lớn bài diễn văn của ông chú trọng vào các đường lối chính sách của chính quyền nhằm xóa bỏ nạn nghèo và kỳ thị chủng tộc trong nước.

Trong cùng thời điểm này thì các kế hoạch gia quân sự Hoa Kỳ đang tìm cơ hội để áp sát và tiêu diệt các đại đơn vị của quân Bắc Việt. Khe Sanh là một ngôi làng hẻo lánh phía Bắc Vùng I Chiến Thuật trên quốc lộ 9 sát biên giới Lào. Địa danh này có vẻ phù hợp với người Mỹ để thiết lập một vùng ngăn chận đường mòn Hồ Chí Minh và có thể làm bàn đạp tiến qua bên Lào hay cả Bắc Việt sau này nữa.

Mặc dầu có những bó buộc ngặt nghèo về tiếp vận nhưng lợi điểm đối với người Mỹ khi giao tranh xa các vùng đông dân cư là cơ hội sử dụng toàn bộ hỏa lực không quân mà không sợ giết lầm dân lành.

Trong nhiều năm liền đã xảy ra các cuộc tranh cãi giữa các tướng lãnh Lục quân và Hải quân làm cách nào tốt nhất để tiến hành cuộc chiến tại Việt Nam. Giới TQLC có vẻ chịu các giải pháp thu phục nhân hòa bằng cách kiểm soát các thành phố và làng mạc dọc theo ven biển và ngăn chận không cho Cộng sản ảnh hưởng đến dân chúng. Giải pháp này đã từng được họ sử dụng tại cuộc chiến Banana chống lại quân thổ phỉ và đã đạt được nhiều sự thành công. Trong khi đó thì tướng Westmoreland và bộ tham mưu tướng lãnh lục quân MACV chủ trương cố gắng đánh kẻ thù tại các nơi xa vùng đông dân cư để tận dụng ưu thế hỏa lực và khả năng tiếp viện nhanh chóng. Vì vậy vào cuối năm 1967, Sư đoàn 3 TQLC được phái đi đóng tại những vị trí hầu như là cố định nằm cận khu phi-quân-sự và sát cạnh Khe Sanh. Quyết định này phần lớn phát sinh từ viễn ảnh chiến lược của tướng Westmoreland.

1967 là năm mang lại sự thử thách và hy sinh lớn nhất từ trước đến nay cho các lực lượng bộ binh và không quân tại Việt Nam. Số lượng gần 10.000 người bị thiệt mạng trong 12 tháng đó nhiều hơn là tất cả các sự thiệt hại của các năm trước cộng lại. Tại phía cực Bắc của Vùng I Chiến Thuật ngay sát dưới khu phi-quân-sự, lực lượng TQLC phải chiến đấu một cách vất vả trong những điều kiện mà họ không thích chút nào.

Sở trường tiến hành các cuộc hành quân tấn công chớp nhoáng của TQLC đã bị cản trở bởi trách nhiệm phụ thuộc là thiết lập và bảo vệ nỗ lực xây dựng cái mà sau này bị nhạo báng là “tuyến McNamara,” được đặt theo tên của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Strange McNamara. Khái niệm dựng một hàng rào hữu hiệu để ngăn chận các cuộc xâm lăng từ phía Bắc xuống đã được cứu xét khá kỹ lưỡng trong nhiều năm qua và có lúc ngay cả một số sĩ quan cao cấp TQLC cũng có vẻ đồng tình.

Được biết đến với cái tên “Dyemarker” (đánh dấu mực), trọng điểm của hệ thống “hàng rào điện tử McNamara” là một dải đất dọn sạch trắng rộng từ 600 đến 1.000 thước chạy dài từ Đông sang Tây ngang qua khu phi-quân-sự. Mìn bẫy, sensor điện tử và dây kẽm gai được gài đặt để chống lại sự xâm nhập của địch quân hoặc lùa chúng vào những vị trí mà lực lượng đồng minh có thể tiêu diệt họ một cách dễ dàng hơn. Ngoài ra hệ thống “Dyemarker” còn bao gồm các lô cốt bê tông rải rác để các đơn vị TQLC và VNCH có thể quan sát và phòng thủ đường tuyến.

Các cấp chỉ huy của TQLC rất bực mình khi bị giao trách nhiệm xây dựng tuyến phòng thủ vì họ cảm thấy sự vô ích của nỗ lực này. Nó giống như một sự lặp lại của tuyến phòng thủ Maginot của Pháp đã từng thất bại thời Thế Chiến Thứ Hai. Nhu cầu để có đủ phương tiện tại chỗ nhằm dọn bãi, gài mìn và sensor điện tử, thiết lập các lô cốt bê tông… mà lại còn phải bảo vệ trong lúc đang xây dựng cái công trình khổng lồ này đã làm suy giảm thêm nguồn lực của các đơn vị được giao chuyện này.

Ngay từ tháng 7/1967, Trung tướng Victor Krulak, nguyên tư lệnh TQLC tại chiến trường Thái Bình Dương, cổ súy chiến lược không để kẻ thù nắm lòng dân mà phải thu phục nhân tâm họ và tránh phải tiến hành một cuộc chiến phòng vệ tại những nơi xa dân cư. Ông trình bày phương cách tiến hành giao tranh tại khu phi-quân-sự và nhận định các mục tiêu của quân Bắc Việt nhằm: “… kéo chúng ta càng gần càng tốt đến hỏa lực và các lực lượng của chúng, dìm chúng ta trong những trận trọng pháo tầm gần, đẩy chúng ta vào những màn cận chiến với những cuộc giao tranh đẫm máu, cố ý đánh đổi tổn thất thật cao với một số ít binh sĩ của chúng ta và rút lui về các mật khu tại miền Bắc để tái trang bị lại.”

Các TQLC và binh sĩ chiến đấu trực tiếp với địch quân cho đến nay rất khó chịu bởi những qui định về giao chiến hết sức kỳ cục và nghịch lý. Không những họ không được phép rượt đuổi các đơn vị địch quân đang tháo lui qua các mật khu Cam-bốt, Lào và Bắc Việt mà phong cách không đàng hoàng lương thiện trong khái niệm tôn trọng về các vụ ngưng bắn nhằm những ngày lễ cũng khôi hài không kém. Trong thời gian ngưng bắn trong mùa Giáng Sinh 1967 và Năm Mới vào tuần lễ sau đó, bọn Cộng sản đã liên tục vi phạm ngưng bắn. Thiếu tá Gary Todd, một sĩ quan tình báo của Sư đoàn 3 TQLC diễn tả một điều mà ai cũng biết rằng: “phát súng cuối cùng trước khi ngưng bắn giống như phát súng lệnh báo hiệu cuộc đua cho bọn Bắc Việt rùn người xuống và phóng thục mạng” xuống miền Nam để tiếp viện cho các lực lượng của họ.

Tướng Giáp và bộ sậu Bắc Việt được kể lại là họ trông chờ trận đánh sắp diễn ra và dường như không thể tránh khỏi tại Khe Sanh là một cơ hội để lập lại chiến thắng các lực lượng Pháp tại Điên Biên Phủ năm 1954. Họ quan niệm là nếu kéo được một số lượng đáng kể lực lượng Hoa Kỳ về đó, tìm cách cô lập và tiêu diệt đi thì dư luận Mỹ cuối cùng sẽ chán nản về một cuộc chiến mà Cộng sản đã tỏ ra không bao giờ chịu đầu hàng dù phải trả bằng bất cứ giá nào.

Quân Bắc Việt đã huy động một số lượng đáng kể về nhân vật lực trong và chung quanh vùng Khe Sanh. Vào những tháng cuối năm 1967, những cuộc đụng độ lẻ tẻ nhưng mãnh liệt trên các ngọn đồi chung quanh căn cứ Mỹ, mà chẳng bao lâu sau lan rộng ra hơn đã xác nhận các nguồn tin của tình báo Hoa Kỳ là có ít nhất ba sư đoàn với đầy đủ quân số của Bắc Việt đã có mặt và nóng lòng gây chiến với TQLC Hoa Kỳ.

Từ tòa Bạch Ốc, Tổng Thống Johnson đặc biệt chú ý đến trận đánh sắp diễn ra và số phận của trung đoàn TQLC đóng tại đó như một cái mồi để bẫy địch quân. Giới báo chí bắt đầu so sánh Khe Sanh với Điện Biên Phủ. Tổng Thống Johnson muốn chắc chắn là sẽ không mắc phải sai lầm đáng hổ thẹn của các tướng lãnh Pháp khi họ không đếm xỉa gì đến khả năng xoay sở thần tình của địch quân và không màng đến các nguyên tắc căn bản nhất khi tiến hành chiến tranh. Điều đó đã làm thiệt mạng biết bao nhiêu là binh sĩ can trường.

Tại Điện Biên Phủ quân Pháp đóng trong những vị trí trong lòng chảo và nhường các cao điểm lại cho Việt Minh, nghĩ rằng chúng không tài nào có thể đặt nổi trọng pháo tầm xa trên các ngọn núi lân cận. Về mặt tiếp vận, Điện Biên Phủ là một cơn ác mộng vì quá xa các căn cứ bạn. Các chiến đấu cơ không có đủ thời gian để hoạt động một khi đã đến vị trí. Việt Minh đã khôn khéo đặt súng phòng không rất hiệu quả làm các phóng pháo cơ không thể hạ cao độ để thả bom một cách chính xác hơn được. Những chiếc máy bay vận tải C-119 nặng nề dùng để thả đồ tiếp tế bị buộc phải thả từ độ cao và khi điều kiện gió bất lợi, các đạn dược, thực phẩm và thuốc men thường rơi vào khu vực kiểm soát của kẻ thù càng lúc càng lan rộng dần.

Các lực lượng Hoa Kỳ có nhiều lợi thế mà người Pháp không có. Khe Sanh nằm trên một vùng đất cao và TQLC kiểm soát hữu hiệu một số ngọn đồi chính yếu kề bên. Mặc dù bộ đội Bắc Việt vẫn có thể bố trí một loạt trọng pháo tầm xa tại các ngọn núi Ai-Lao ở phía Tây và có khả năng bắn phá gần như liên tục, và dù đã cắt đứt được quốc lộ 9 giữa Khe Sanh và Đông Hà, nhưng họ vẫn không thể ngăn chận được các đoàn công-voa tiếp tế và hỏa lực không quân Hoa Kỳ với một số lượng lớn trực thăng và máy bay cánh thẳng. Điều này đã khiến TQLC Hoa Kỳ có thể duy trì chiến đấu một cách vô thời hạn. Những khẩu đại pháo 175 ly tại căn cứ Carroll có đủ tầm xa và sức mạnh cần thiết để bảo vệ căn cứ Khe Sanh đối với các cuộc tấn công của quân Bắc Việt. Trong khi đó thì các cuộc hành quân tại Vùng I Chiến Thuật và những nơi còn lại tại Việt Nam vẫn tiếp diễn không ngừng nghỉ.

Cầm Bành

Vào cuối năm 1967 Cầm Bành là một nhân viên 21 tuổi làm việc tại khu mua hàng của trung tâm trao đổi Hải Quân Hoa Kỳ, còn gọi là PX tại thành phố Sài Gòn gần Chợ Lớn. Đến thời điểm này, cuộc đời nàng và gia đình phản ảnh các hỗn loạn và thay đổi của đất nước từ lúc Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt.

Sinh ra tại Hà Nội vào năm 1946, Cầm Bành là người con thứ hai, có một chị gái và đã theo mẹ, người chị và hai đứa em trai vào Sài Gòn trong năm 1952. Theo phong tục Việt Nam thì không có gì lạ khi một người đàn ông lấy vợ hai và lập thêm mái ấm với người đàn bà đó. Điều này làm cho mẹ của Cầm Bành và những đứa con bị đẩy vào hoàn cảnh khó khăn. Mẹ của Cầm Bành cũng không có sự chọn lựa nào khác khi chồng quyết định như vậy. Bà lập tức mang theo bốn đứa con thơ xuôi vào Nam, hai năm trước cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã kéo thêm một triệu người Bắc đi tìm tự do trốn sự đàn áp của Cộng sản. Mẹ của Cầm Bành đã may mắn tìm được một công việc thư ký trong bộ phận tương đương với tòa Đô chánh Sài Gòn.

Khi người chị lập gia đình và dọn đi nơi khác, Cầm Bành bỏ học vào năm 1962 để phụ mẹ kiếm tiền nuôi hai đứa em trai. Trước khi làm việc tại trung tâm trao đổi PX của Hải quân Hoa Kỳ, cô đã từng làm việc tại nhiều nơi khác rồi.

Sức tác động vào nền kinh tế Việt Nam do sự tiêu xài của các quân nhân Mỹ tại địa phương hết sức đáng kể. Quyền lợi của những người được làm việc cho người Mỹ do đó tăng nhanh một cách bất cân xứng so với công việc của họ. Sự kiện người Mỹ sẵn sàng trả tiền cao hơn trước cho tất cả các dịch vụ được hưởng đã có những hậu quả lâu dài tác hại đến vật giá và sự phân bổ các nguồn tài nguyên vốn đã hiếm hoi trong thời chiến.

Đối với Cầm Bành và gia đình, công việc tại trung tâm PX đã khiến nàng trở thành người kiếm tiền trụ cột và đời sống cả nhà khá hẳn lên so với thời kỳ nàng chưa làm việc cho người Mỹ. Thu nhập từ công việc của Cầm Bành cộng với lương của mẹ nàng tại tòa đô chánh đã bảo đảm cho hai đứa em trai được tiếp tục ăn học mà không bị trở ngại nào cả.

Cuộc sống của cô gái trẻ đẹp Cầm Bành vào cuối năm 1967 tương đối khả quan theo tiêu chuẩn của người Việt Nam và cũng không khác mấy so với các phụ nữ đồng trang lứa.

Mỗi buổi sáng trong những ngày làm việc, Cầm Bành gia nhập vào cái khối người đông đảo đang chuyển động mà đối với một người đứng ngoài thì có vẻ như một đám đông biểu tình nhưng đối với các cư dân của thành phố Sài Gòn tự do và sinh động thì đó chỉ là một ngày đi làm như thường lệ. Di chuyển bằng xe xích-lô từ nhà ở Phú Nhuận đến sở làm PX, nàng có dịp thưởng thức phong cảnh, hương vị và âm thanh của cái thành phố đã dung dưỡng nàng. Trên đoạn đường 10 cây số Cầm Bành có dịp chiêm ngưỡng sinh hoạt bình thường của dân chúng, nhìn các trẻ em mặc đồng phục đi đến trường học, đi qua các hàng quán và gánh hàng rong ngoài lề đường sẵn sàng bán hàng hóa cho tất cả khách qua đường bất kỳ lúc nào, và xem các cảnh sát viên điều hành lưu thông. Thỉnh thoảng có các quân nhân Mỹ và Việt Nam lái xe jeep ngoái cổ lại bàng hoàng ngắm Cầm Bành và các cô gái trẻ đẹp khác trong những chiếc áo dài thướt tha.

Sự ưu việt của nền văn hóa Việt Nam đã được khẳng định một cách tuyệt đối với sự phát minh của chiếc áo dài. Bộ trang phục này đã tạo cho người phụ nữ tất cả những gì mà các ngôn ngữ hay văn hóa khác không thể làm được.

Áo dài được thiết kế rất đơn giản nhưng hết sức gợi cảm và làm nổi bật tất cả các ưu điểm và nữ tính của người đàn bà. Khác hoàn toàn với khuynh hướng Tây phương thô kệch, hở hang và không để lại cảm xúc gì trong tâm trí, chiếc áo dài không phô trương điều gì nhưng làm cho người đàn ông nào thích thưởng lãm các đường nét hài hòa về hình học sẽ phải thắc mắc và tưởng tượng về những gì ẩn núp bên dưới lớp vải. Thật là một điều lạ lùng là với quá nhiều các nét đẹp trên đường phố như vậy thì các quân nhân và TQLC còn tìm nổi ở đâu sức lực hầu tập trung vào việc đánh nhau với kẻ thù?

Lưu thông tại Sài Gòn phần lớn gồm xe đạp và một số nhỏ xe gắn máy và xe hơi đang tăng nhanh dần lên. Thành phố Sài Gòn luôn luôn chuyển động. Dân chúng cần đủ loại hàng hóa để sinh sống và ăn uống. Các sản phẩm không sản xuất được trong phạm vi nội thành được chở đến hầu hết từng lượng nhỏ, thật nhỏ vừa sức chở của những chiếc xe đạp thồ, cho dù đó là gà lợn, chuối hay mít, các bao gạo hay các bó rau xanh. Chẳng có phương tiện ướp lạnh nào cả. Những gì bán trong ngày thứ Hai được sử dụng ngay trong ngày thứ Hai. Đến thứ Ba thì quá trình bắt đầu lại từ đầu. Chu trình này diễn ra bất tận.

Sự hiện diện gần như thường trực của những người bán hủ tíu rong ngoài lề đường – một dạng cung cấp hàng ăn liền độc đáo và nguyên thủy – với những “quán ăn” tí hon lưu động có thể được thiết lập một cách chớp nhoáng để phục vụ cho bất cứ ai và bất kỳ chỗ nào. Họ gánh từ chỗ này đến chỗ kia hai cái vạc lớn đong đưa trên quang gánh hay khá hơn một chút là đẩy trên cái xe nhỏ để phục vụ cho dân thành thị đang tỉnh giấc. Sinh hoạt bề ngoài đối với người Mỹ có vẻ ồn ào và vô tổ chức nhưng sự đều đặn và kiên trì này là chuyện buôn bán thường lệ và là dấu hiệu cho thấy công dân của đất nước Việt Nam Cộng Hòa còn non trẻ đang mơ ước một tương lai sáng sủa và ổn định hơn.

Mặc dù mẹ của Cầm Bành còn quan niệm phong kiến và nghiêm ngặt giống như xã hội Việt Nam thời đó đối với chuyện trai gái hẹn hò tán tỉnh nhưng hoàn cảnh nói chung khá an bình thành thử Cầm Bành vẫn được phép đi chơi khuya những lúc không có chuyện nhà phải làm. Nàng được phép đến các câu lạc bộ và phòng trà cùng với bạn gái để vui đùa với cuộc sống Sài Gòn về đêm, được nhảy đầm và nghe nhạc.

Phim ảnh quốc nội không được sản xuất nhiều trong nước nhưng các phim ảnh ngoại quốc được lồng hay phụ đề tiếng Việt không hề thiếu. Cầm Bành rất thích các tài tử Sophia Loren và Gina Lollobrigida lúc nào cũng rực rỡ và tuyệt đẹp cho dù họ nói bằng ngôn ngữ gì đi nữa. Tuy nhiên thần tượng tuyệt đối của Cầm Bành vẫn là “thiên thần” của nàng, cái tên Cầm Bành đặt cho tài tử Elizabeth Taylor.

Sinh viên sĩ quan Nguyễn Lương

Nguyễn Lương bắt đầu lớp học để trở thành sĩ quan chuyên nghiệp khi anh gia nhập khóa 24 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt vào mùa thu năm 1967. Được biết qua số thứ tự của khóa học, toán hơn 300 thanh niên đầy lòng yêu nước của anh sẽ ra trường với cấp bậc Thiếu úy vào tháng 12 năm 1971 nếu mọi chuyện diễn tiến đúng như theo kế hoạch.

Khởi thủy, trường VBQGĐL được thành lập bởi người Pháp vào năm 1948 với cái tên là trường Võ Bị Liên Quân tại Huế. Rập theo khuôn mẫu trường St. Cyr tại Pháp, và tương đương với trường West Point của Hoa Kỳ, trường VBQGĐL có nhiệm vụ đào tạo huấn luyện một tầng lớp cán bộ sĩ quan chuyên nghiệp đáng tin cậy. Trong những người nổi tiếng đã từng tốt nghiệp có Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thuộc khóa 1 đầu tiên.

Nằm trong thị trấn nghỉ mát Đà Lạt với khí hậu mát dịu vào khoảng 140 dặm về hướng Đông Bắc của Sài Gòn, trường VBQGĐL trong suốt quá trình tồn tại có chương trình phần lớn là hai năm. Với sự trợ giúp của người Pháp và người Mỹ, chương trình đã được mở rộng thành ba và sau đó là bốn năm vào cuối thập niên 1950. Tuy nhiên đến thập niên 1960 do khó khăn của thời cuộc, cộng thêm nhu cầu gia tăng để chiến đấu chống hiểm họa Cộng sản và đòi hỏi của chiến trường cần liên tục các sĩ quan trẻ, chương trình đã trở lại thành hai năm.

Cùng với sự dính líu của Hoa Kỳ ngày càng nhiều, trường VBQGĐL được khuyến khích áp dụng mô hình bốn năm của trường võ bị West Point vào giữa thập niên 1960. Khóa 22 thực tế được chia ra làm hai lớp khác nhau: khóa 22A với chương trình hai năm và khóa 22B bốn năm. Cả hai khóa 23 và 24 đều có chương trình bốn năm. Từ đó kế hoạch sẽ theo phương cách đó vô hạn định.

Điều kiện gia nhập trường VBQGĐL, giống như West Point của Hoa Kỳ, rất khó khăn và có tính cách tranh đua cao. Từ một số lượng vài ngàn ứng viên đủ điều kiện đầy nhiệt tình chiến đấu cho Tổ Quốc, khóa 24 được gạn lọc còn khoảng 300 người với số điểm học vấn và thể lực cao nhất. Vì đất nước chưa được phát triển và đủ tài chánh để có thể thành lập học viện cho từng ngành như Không quân, Hải quân và TQLC, các sĩ quan trẻ mới tốt nghiệp được phân bổ với tỉ lệ nhiều hơn cho các binh chủng nào có nhu cầu cao.

Điều thông lệ là các sĩ quan tốt nghiệp với số điểm cao nhất đều thể hiện tinh thần dấn thân, vị quốc vong thân của trường trong mọi thời đại và tình nguyện vào các binh chủng Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến.

Nguyễn Lương sinh năm 1947 tại Biên Hòa, một thành phố cách Sài Gòn 25 dặm về hướng Đông Bắc. Anh là con trai trưởng trong năm anh em trai và một gái. Cha anh đã từng làm sĩ quan hiến binh thời Pháp trước khi đất nước bị chia cắt vào năm 1954. Khi Việt Nam Cộng Hòa được thành lập, cha của Lương được chuyển qua sở bưu điện và làm việc trong một bộ phận có tính cách đặc biệt và bí mật, chuyên kiểm duyệt các thư từ bằng mật mã giữa Cộng sản ở miền Bắc và cán bộ nằm vùng của họ trong Nam. Thường thì các loại thư từ như vậy được gởi thông qua ngã Âu châu hay gởi cho các địa chỉ có vẻ vô hại nhằm tránh các cặp mắt săm soi của những nhân viên như cha của Lương.

Lớn lên, Lương thích chơi tây-ban-cầm, nhất là nhạc cổ điển tây phương. Giống như mọi thiếu niên khác, ảo tưởng và sự hấp dẫn của phim ảnh đã thu hút óc tưởng tượng của anh. Các loại phim hành động, phim cao bồi, phim giả tưởng đều làm anh thích thú. Những cuốn phim như “Hai vạn dặm dưới đáy biển” của Jules Verne là loại phim mà anh luôn luôn nhớ lại với niềm thân thương.

Là đoàn viên của một toán hướng đạo sinh tại địa phương, anh và các bạn thường cắm trại tại các vùng vắng vẻ chung quanh Nha Trang, Thủ Đức và Bình Dương. Cũng có lúc anh cắm trại ngay trong chùa Giác Lâm ở Sài Gòn. Rất nhiều lần các hướng đạo sinh trẻ được giao thực tế một số nhiệm vụ cứu trợ hay từ thiện, tùy theo nhu cầu của một đất nước còn nhiều khó khăn. Họ thường xuyên tổ chức cứu trợ nạn nhân bị hỏa hoạn, tham gia những dự án xây cất mới, phụ giúp sửa chữa đường xá, cầu cống bị chiến tranh tàn phá hay làm bất cứ chuyện gì để góp một bàn tay lúc cần thiết.

Mức học vấn của Lương trước khi gia nhập trường VBQGĐL bao gồm hai năm cao đẳng kỹ thuật, nếu tính chương trình học tương đương bên Mỹ. Tại Việt Nam chương trình tại các trường cao đẳng kỹ thuật đòi hỏi trình độ cao về toán và khoa học. Điều này rất quan trọng vì đã giúp cho Lương làm quen với chuơng trình VBQGĐL rập khuôn theo trường West Point Hoa Kỳ cũng chú trọng về các môn học kỹ thuật.

Vào năm 1967 tại Mỹ, việc gia nhập quân đội – hay có vẻ như đang trong quân ngũ – không làm cho các chàng trai trẻ tăng thêm bao nhiêu cơ hội làm quen với các phụ nữ trong tuổi cập kê. Tại Việt Nam, một quốc gia đang chiến đấu cho sự sống còn, thì các sĩ quan tương lai được giới khác phái chú ý một cách thuận lợi hơn nhiều vì họ được quan niệm là các anh hùng bảo vệ đất nước. Do đó các sinh viên sĩ quan trường VBQGĐL thường được coi là khá “đắt giá.”

Những lúc không bận học hành hay thực hành ngoài bãi tập thì Lương giữ một mối liên lạc với một thiếu nữ trẻ cùng quê ở Biên Hòa. Ngay từ đầu mối tình của hai người rất sâu đậm và nàng vẫn hạnh phúc và chung thủy chờ đợi chàng thi hành nghĩa vụ công dân trở về.

Thiếu úy George Philip III, TQLC Hoa Kỳ

Thiếu úy George Philip III, khóa 1967 trường Hải Quân Hoa Kỳ lo lắng sẽ để lỡ cơ hội được nhìn thẳng vào tận “mắt con voi” trước khi anh có thể đến Việt Nam để tham dự vinh quang của chiến thắng. Do đó anh tự ý cắt ngắn thời gian và chỉ sử dụng một nửa số ngày nghỉ phép sau khi tốt nghiệp để trình diện tại Quantico nhằm tham dự khóa Huấn Luyện Căn Bản (The Basic School TBS) được mở ra sớm hơn. Anh ngạc nhiên và thích thú khi thấy có tám hay chín bạn bè đồng khóa cũng trình diện sớm và nôn nóng để bắt đầu quá trình thực tập.

George trình diện TBS và Đại đội Alpha 1-68 (lớp đầu tiên sẽ tốt nghiệp trong năm 1968 vào khoảng trung tuần hay hạ tuần tháng 10) vào cuối tháng 6 năm 1967 với ý định sẽ tốt nghiệp khóa Sĩ quan bộ binh 0302-MOS. TQLC thực chất thuộc về bộ binh. Nếu bạn trong bộ binh mà không phải là TQLC thì bạn phải phục vụ cho những người là TQLC. Đơn giản là như vậy, ít nhất là trong quan niệm của anh chàng Thiếu úy mới ra trường.

Con đường dẫn đến Annapolis, Quantico và Việt Nam đối với Thiếu úy George Philip khởi đầu hơi khác với đa số các bạn bè sĩ quan đồng khóa mới quen. Đối với hầu hết mọi người, con đường sĩ quan chuyên nghiệp và sự dấn thân vào cuộc đời lính chiến bắt đầu từ ngày họ bước vào trường học viện Hải Quân hay OCS. Hẳn nhiên là họ đã bị ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp bởi xã hội và lịch sử Mỹ, bởi các bậc phụ huynh, anh em, chú bác và bạn bè, những người đã từng phục vụ trong quân ngũ và có các chuyện thần kỳ kể lại cho họ nghe. Tính ưu việt của binh chủng TQLC, niềm tự hào và sự thỏa mãn của những con người đó qua các kinh nghiệm trong quân ngũ của họ đã toát ra một vẻ khôn ngoan và sâu sắc một cách đặc biệt. Điều này đã thu hút những đứa trẻ nôn nóng muốn được trải qua các bài học đó. Sự hấp dẫn của các câu chuyện đã đánh động tính hiếu động và lãng mạn của giới trẻ lúc nào cũng muốn tham dự vào một công việc nào đó thật sự có ý nghĩa. Không có tiếng gọi nào có thể mang lại cho một thanh niên cơ hội đối diện với các thử thách lớn, sự hiểm nguy và khả năng thỏa mãn về trí tuệ và bản thân cao hơn là đi lính TQLC.

Quá trình cuộc đời binh nghiệp của George Philip đã bắt đầu từ trước khi anh có ý tưởng đó. Dòng họ Taussig về phía mẫu thân từ thời Nội Chiến đã có một loạt các nhân vật hy sinh theo chiến hạm và đã từng phục vụ xuất sắc trong quân đội. Ngoài việc mất người chồng thứ nhất là cha của George – và điều này đã làm cho George trở thành người thừa kế nam duy nhất của cha anh – mẹ của George còn có một người em trai tốt nghiệp khóa 1941 trường Hải Quân Hoa Kỳ đã từng được tặng thưởng huân chương Navy Cross và bị cụt một chân lúc phục vụ trên chiến hạm USS Nevada với cấp bậc Hải quân Thiếu úy trong trận Pearl Harbor ngày 7 tháng 12 năm 1941.

Bất kỳ họ dọn di đâu theo công vụ của người chồng kế là sĩ quan TQLC, mẹ của George đều trưng trên bức tường lớn nhất trong nhà hình chân dung của dòng họ Taussig, những khuôn mặt rắn rỏi, nghiêm nghị mà tên tuổi nhiều người được liệt kê trong các sách quân sử Hải quân, những chiến sĩ mà lòng quả cảm và sự nghiệp trung thành đã giúp biến đổi Hải quân Hoa Kỳ từ một đơn vị tuần duyên yếu ớt trở thành một sức mạnh tuyệt đối trên toàn cầu.

Về phía phụ hệ, tinh thần phục vụ và lòng hy sinh cho tổ quốc cũng không kém phần quan trọng. Bà nội của George, Alice Waldron Philip, mang trong người một phần tư dòng máu bộ lạc da đỏ Sioux. Em trai của bà, John Waldron tốt nghiệp học viện Hải Quân Hoa Kỳ khóa 1924 là người đầu tiên trong dòng họ bên nội theo đuổi sự nghiệp hải quân. Ông là phi công không đoàn trưởng không đoàn Torpedo Eight (VT-8) trên chiến hạm USS Hornet (CV-8). Vào đầu tháng 6, 1942 trong chiến dịch mở màn cho trận đánh Midway, Hải quânThiếu tá Waldron dẫn đầu 15 chiếc máy bay cũ kỹ TBD-1 Douglas Devastators bay vào một trận đánh cảm tử vô vọng nhằm tấn công các hàng không mẫu hạm của Hải quân Hoàng gia Nhật. Hành động của đơn vị đầu tiên đã phát hiện và xung trận này vào ngày 4 tháng 6, 1942 đó đã đưa đến kết quả là toàn bộ không đoàn bị xóa sổ, tất cả các phi công đều hy sinh trừ một người là Hải quân Thiếu úy George Gay. Nhưng họ đã đạt mục tiêu là kéo được phần lớn các chiến đấu cơ Nhật xuống cao độ thấp và không còn khả năng bảo vệ hạm đội Nhật nữa. Nhờ vậy, một chốc sau các lực lượng không quân Hoa Kỳ đã đẩy lui thành công bước tiến của hải quân Nhật mà không gặp sức kháng cự nào, đó là nhờ những gì không đoàn Torpedo Eight đã làm trước đó. Chỉ một trận đánh đó, và các biến cố tiếp theo sau trong vòng từ bốn đến tám phút đồng hồ đã khiến cục diện của chiến trường Thái Bình Dương nghiêng hẳn về phía Hoa Kỳ. Qua chiến công chỉ huy quên mình và anh dũng ngày hôm đó, John Waldron đã được truy tặng huân chương Navy Cross.

Ba năm sau, trong trận đánh Okinawa, ông cậu của George là Hải quân Trung tá George Philip, Jr., tốt nghiệp khóa 1935 học viện Hải Quân Hoa Kỳ, sau khi tham dự một loạt chiến dịch khốc liệt trong vùng đảo Solomons, Philippines và Iwo Jima, lúc ông đang chỉ huy chiến hạm USS Twiggs (DD-521) làm nhiệm vụ tuần tra thì chiến hạm của ông bị các phi công Kamikaze Nhật tấn công. Nhiều người trên chiến hạm sống sót nhưng cũng có một số lớn bị thiệt mạng, trong đó Trung tá Philip là một trong 174 thủy thủ đoàn đã đền nợ nước. Giống như cậu là John Waldron, Trung tá Philip cũng được truy tặng huân chương Navy Cross.

Thế Chiến Thứ Hai đã gây ra hậu quả là có biết bao nhiêu là quả phụ và cô nhi bị mất cha. Margaret Taussig Philip mới chỉ 26 tuổi khi chồng chết. George Philip III, sau này tốt nghiệp khóa 1967 học viện Hải Quân Hoa Kỳ lúc đó mới chín tháng tuổi và chị của anh tên là Snow mới ba tuổi khi cha mất.

Lúc chiến hạm USS Riggs bị nạn thì Wilbur Helmer, Thiếu tá pháo binh TQLC trẻ tuổi vừa trải qua các địa ngục Bougainville, Guam, Iwo Jima và đang chiến đấu chống quân Nhật trên đảo Okinawa. Mẹ của George và Thiếu tá Helmer gặp nhau sau chiến tranh và hai người thành hôn vào năm 1947. Vào những năm sau đó, họ có thêm được ba đứa con nữa.

Mặc dù mẹ đã tái giá với ông Helmer, sau này lên Đại tá, hai chị em George và Snow vẫn thường được nghỉ hè tại nhà bà nội ở South Dakota để làm quen với truyền thống của bên họ nội. Bà nội Philip cũng thường nhắc nhở họ về di sản dân tộc da đỏ Sioux của gia đình. Bà vẫn dắt hai chị em đi chơi những vùng như Wounded Knee ngay từ lúc trước khi chuyện này trở thành thời thượng. Họ được giáo dục rõ ràng họ là hậu duệ của những người Mỹ đầu tiên trên đất nước Hoa Kỳ.

Sự kết hợp giữa hai dòng họ Philip và Taussig đã mở đường cho George vào một gia đình hỗn hợp quân sự – quý tộc tuy không thường gặp nhưng không phải là duy nhất trên đời. Họ thuộc dòng dõi quý tộc không phải ở cái ý nghĩa thật giàu có về của cải mà vì qua hàng bao nhiêu thế hệ, dòng họ đó đã sản sinh ra các nhân tài để phụng sự và có khả năng đặc biệt lúc nào cũng vươn lên mức cao nhất trong binh nghiệp. Họ không cần thiết phải cầm đầu các công ty kỹ nghệ nhưng chắc chắn một điều là họ đã chỉ huy những chiến hạm và đưa các chiến sĩ vào sinh ra tử. Đó là truyền thống gia đình mà George Philip đã được sinh ra từ đó.

Quyết định của George để trở thành một TQLC mà không phải là một thủy thủ cũng không gặp trở ngại gì mấy. Tuy dưới ảnh hưởng trực tiếp của cha là thuyền trưởng khu trục hạm nhưng không hề có một áp lực nào khiến anh phải gia nhập Hải quân. Cha kế của anh là TQLC cũng không hề đẩy anh đi theo con đường của ông. George Philip được sinh ra để trở thành TQLC, chỉ đơn giản có thế mà thôi.

Từ Trường Huấn Luyện Căn Bản đến trại Ft. Sill

Vào giữa năm 1967, chương trình của trường Huấn Luyện Căn Bản TBS không hề sơ sài hay thừa thãi nhưng đã được gạn lọc xuống chỉ còn những khái niệm cần thiết nhất. Nhu cầu phải cung cấp các trung đội trưởng bộ binh cho chiến trường Việt Nam ngày càng tăng đã buộc các kế hoạch gia của Quantico cắt bỏ đi những phần trong chương trình mà họ nghĩ là không trực tiếp có lợi cho khả năng chỉ huy của các sĩ quan chiến đấu. Thời gian thụ huấn tại TBS được giảm xuống chỉ còn năm tháng. Hai khóa cuối cùng của năm 1967, Đại đội N và O đã được nhập chung lại thành một và gần 80% sĩ quan tốt nghiệp được phái đi Việt Nam với tư cách sĩ quan bộ binh. Phần còn lại được điều động cho các ngành như pháo binh, thiết giáp, tiếp liệu, thông tin v.v…

Công việc huấn luyện các sĩ quan Thiếu úy được binh đoàn TQLC đặc biệt chú trọng và nhấn mạnh. Các phương tiện nhằm trang bị kiến thức cho các sĩ quan trẻ sẽ tốt nghiệp Quantico để đi chiến đấu ngoài chiến trường rất đáng chú ý. Hầu hết sĩ quan huấn luyện viên đều là Đại úy, những người vừa trở về từ Việt Nam với kinh nghiệm trực tiếp đã từng thi hành tất cả những điều mà các sĩ quan học viên sẽ phải làm sau này. Bộ Tư Lệnh TQLC đặc biệt để ý đến khả năng của các sĩ quan mà họ bổ nhiệm làm huấn luyện viên vì họ sẽ tác động mạnh đến phẩm chất của các sĩ quan sắp tốt nghiệp.

Các sĩ quan khoá sinh được huấn luyện năm ngày rưỡi mỗi tuần và không cần phải nhắc nhở họ về sự quan trọng của khóa học và nơi mà họ sắp đến sau này. Các bài giảng trong lớp học được tiếp nối sau đó với các buổi thực tập nặng ngoài bãi tập và ứng dụng thực tế trong mọi đề tài, từ hỏa lực bộ binh và chiến thuật tiểu đội cho đến các cấp trung đội và đại đội. Trong phạm vi khuôn khổ đó, các sĩ quan phải trải qua một lượng lớn thời gian để tập di hành, đi tuần tra, tập các chiến thuật xung kích, phòng thủ, phục kích, cách sử dụng một cách hiệu quả các hỏa lực yểm trợ, v.v… và v.v… Không có chuyện gì là không quan trọng cả. Nếu điều gì có vẻ hời hợt hay kỳ cục thì sĩ quan đại úy huấn luyện viên sẽ có ngay một kinh nghiệm chiến đấu thật để giải thích tại sao đề tài đó là tối quan trọng. Những câu mào đầu như “Nghe đây các bạn, đây có thể là bài giảng quan trọng nhất mà các bạn sẽ được học,” hay lời cảnh cáo “Chú ý đây, quý vị, điều này có thể sẽ cứu mạng sống của bạn và đồng đội bạn…” được nghe đi nghe lại hằng ngày.

Thiếu úy George Philip đã đến trường Huấn Luyện Căn Bản với ý định sẽ đi Việt Nam với tư cách là một sĩ quan bộ binh TQLC. Điều này có thể do người cha kế của anh là sĩ quan pháo binh TQLC đã tác động vào tiềm thức mà anh không biết. Mặc dù TQLC là một binh chủng bộ binh nhưng lại phải lệ thuộc vào các phương tiện khổng lồ để yểm trợ cho khả năng bộ binh của chính nó. TQLC cần phải có các sĩ quan khác trong các ngành chuyên biệt để hỗ trợ cho mình. Các ngành này bao gồm pháo binh, thiết giáp, không quân, thông tin liên lạc và hằng hà sa số các nhu cầu trung gian khác. Các học viên sĩ quan tại Quantico đến giữa khóa học thì sẽ được phân bổ – giống như hai khóa trước khóa Đại đội Alpha 1-68 – ra chiến trường với tư cách sĩ quan bộ binh hay lại sẽ tranh nhau để nộp đơn chọn các chỗ trống trong các ngành chuyên môn.

Trong các quán ba, quán rượu hay các lớp học, cho dù say mèm hay tỉnh táo, không ai có thể phủ nhận rằng TQLC Hoa Kỳ, thứ nhất và quan trọng hơn hết, là một tổ chức chú trọng vào nguồn gốc bộ binh của mình. Trong lúc trà dư tửu hậu, bạn bè được quyền cãi nhau ai là người có ảnh hưởng nhiều nhất, ai khôn khéo nhất hay ai “đẹp trai” nhất v.v… Các phi công thường trêu chọc bạn bè bộ binh rằng sở dĩ bộ áo bay của họ có nhiều túi là để chứa tiền phụ cấp bay được hưởng thêm. Còn TQLC bộ binh thì đáp lại là phi công chỉ là lính cậu vì có khi nào ngủ bờ ngủ bụi hay ăn khẩu phần C-rations như các “chiến binh TQLC thứ thiệt” đâu? Giữa bộ binh và pháo binh cũng có các cuộc tranh cãi đã có từ lâu rồi nhưng vẫn được các thế hệ sĩ quan trẻ duy trì là binh chủng nào có tác động đáng kể nhất về kết quả của một trận đánh? Sĩ quan pháo binh thì mạnh dạn và trắng trợn cho rằng ngành chuyên môn của họ là “vua của chiến trường.” Các sĩ quan bộ binh đã “rành sáu câu” thì đáp lại câu nhận xét đó với câu “bạn có thể là vua chiến trường nhưng hoàng hậu (bộ binh) có quyền ra lệnh bạn thả ‘tạc đạn’ tại đâu.” Và cuộc tranh cãi cứ thế mà tiếp diễn.

Có lẽ Thiếu úy George Philip quyết định nộp đơn vào ngành chuyên môn không phải sau khi đã suy nghĩ chín chắn. Chuyện là, dù biết rằng anh cũng sẽ phải phục vụ hoặc trong bộ binh, pháo binh hay thiết giáp, nhưng số phận anh đã được định đoạt sau một buổi thực tập ngoài bãi tại Quantico. Hôm đó toàn Đại đội khóa sinh 1-68 tụ tập một cách ngơ ngác để chứng kiến một cuộc biểu diễn hỏa lực pháo binh. Viên Đại úy chịu trách nhiệm buổi thực tập đặc biệt đó là một sĩ quan pháo binh mới từ chiến trường Việt Nam về. Anh kêu mọi người chú ý đến một cụm đất đàng trước mặt cách đó khoảng vài trăm thước. Tay cầm một cái microphone, anh dùng điện đàm gọi pháo binh một cách hết sức chính xác và chuyên nghiệp, y như những điều các khóa sinh đã học được trong lớp giảng. Các khóa sinh chăm chú nhìn về hướng mục tiêu và căng tai ra chờ. Lệnh bắn được đưa ra và điện đàm trả lời “fire, over” tiếp theo là “fire, out” có nghĩa là sự hủy diệt sẽ xảy ra tức khắc.

Đối với hầu hết các khóa sinh, có lẽ đây là lần đầu tiên họ được quan sát một cuộc bắn pháo binh thực sự ngoài đời ở ngay sát một bên. Chấn động của những quả đạn như xé nát mặt đất ra. Tuy mọi người đứng ở tầm xa đủ cho sự an toàn nhưng cũng còn khá gần để cảm nhận được sức nổ. Hình ảnh diễn ra chậm chạp như của một khúc phim chiếu chậm với đất cát bị nổ tung bắn lên trời và chung quanh, rồi tiếp theo là tiếng gầm đì đùng mà trên thực tế là một loạt nhanh các tiếng đùng, đùng, đùng vì các trái đạn trọng pháo được bắn đi cách nhau vài phần ngàn giây một. Trong khi đó thì mặt rung lên. Sự chấn động mạnh làm không khí bị chuyển động là cảm giác sau cùng đập vào mặt các sĩ quan khóa sinh. Điều hiển nhiên đối với mọi người là trong trường hợp pháo kích như thế này thì chẳng thà là kẻ “cho” tốt hơn là làm kẻ “nhận.” George tự nhủ một cách hùng hồn, “Cái này đúng là của mình rồi.”

TQLC Hoa Kỳ còn phải phụ thuộc khá nhiều vào các đơn vị bạn để thực hiện công tác huấn luyện cho các sĩ quan trẻ đã chọn ngành chuyên môn. Các ngành như y khoa, nha khoa và công tác mục vụ đều phải lệ thuộc hoàn toàn vào sự trợ giúp của bộ Hải Quân. Ngoài ra tất cả các phi công TQLC đều học chung với các phi công Hải Quân và tốt nghiệp cùng với họ tại Pensacola, Florida.

Mặc dù bộ tư lệnh TQLC đã quyết định đúng khi phụ trách hoàn toàn các mặt huấn luyện về bộ binh nhằm bảo đảm truyền thống và danh tiếng TQLC được thấm nhuyễn vào các sĩ quan khóa sinh, nhưng họ không có đủ nguồn lực và hạ tầng cơ sở để phát triển hoàn toàn về mặt sĩ quan thiết giáp và pháo binh. Do đó các sĩ quan khóa sinh chọn ngành thiết giáp sẽ được gửi đi học tại Ft. Knox ở Kentucky còn pháo binh thì đi học tại Ft. Sill ở Oklahoma.

Dù với tư cách là “khách” nhưng trong tất cả các quân trường bạn, các sĩ quan khóa sinh TQLC luôn được nhắc nhở là trong mọi tình huống họ phải tuân thủ tinh thần kỷ luật cao, phải luôn luôn nhớ họ là ai và dứt khoát không được làm bất cứ điều gì có thể thương tổn đến danh tiếng của TQLC Hoa Kỳ, một danh tiếng không phải là tự nhiên mà có được.

Trong khi đó… tại mặt trận

Sau những kỳ ngưng bắn giả dối trong các ngày lễ và việc hành quân trở lại như thường lệ vào đầu tháng Giêng 1968 thì đối với lính bộ binh và TQLC, cũng như đối với các phi hành đoàn bay yểm trợ, cuộc chiến “vũ như cẩn,” chỉ là khác ngày mà thôi. Đối với những người trong nước có điều kiện tập trung vào các vấn đề khác hơn là chiến tranh thì đội Green Bay Packers dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Vince Lombardi đã thắng giải vô địch NFL lần thứ ba và cúp Super Bowl lần thứ hai. Trong khi đó thì Cộng sản lén lút điều động quân và trang thiết bị để sửa soạn hai cuộc âm mưu tấn công Khe Sanh và tổng tấn công quy mô lớn hơn vào dịp Tết Mậu Thân trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Các nhà phân tích tình báo của đồng minh đoán chắc có chuyện gì đó sắp xảy ra. Dù bắt được các dữ kiện trao đổi của kẻ thù và dù giải thích bằng cách nào đi chăng nữa nhưng có vẻ phe đồng minh không có kế hoạch đối phó hiệu quả với tầm mức của các nỗ lực bí mật của Hà Nội.

Bằng chứng về những dự đoán của tình báo về âm mưu của kẻ địch tại Khe Sanh đã thành hình nhanh chóng. Vào ngày 20 tháng Giêng 1968 những trận đánh khốc liệt giữa TQLC Hoa Kỳ và các đơn vị chính quy Bắc Việt cho thấy là trận chiến chờ đợi từ lâu đang bắt đầu diễn ra. Sự leo thang gần như là tức khắc với hai bên cùng đổ ra những phương tiện lớn để tiến hành một trận đánh quan trọng có mang thêm một sắc thái chính trị không kém trong đó. Trong những ngày tiếp theo thì Khe Sanh được giới thông tin báo chí đặc biệt chú trọng đến.

Cuộc tranh đấu giành nhân tâm trong dư luận Mỹ qua truyền hình trong phòng khách tại quốc nội không được khả quan lắm. Khi báo cáo về các trận giao tranh tại Khe Sanh, một số lớn phóng viên bay vào căn cứ quân sự chỉ đủ thời gian để quay cảnh các TQLC đang bị pháo kích và tìm chỗ ẩn núp rồi vội vã bay trở ra vùng an toàn để uống bia và viết tường thuật.

Các đoạn phim kinh hãi chiếu đi chiếu lại cho thấy pháo binh Bắc Việt bắn nổ kho đạn chính tại Khe Sanh đã tạo cho dư luận trong nước một hình ảnh về TQLC khác biệt với những gì họ thường biết. Nhìn cảnh các chiến binh TQLC oai hùng hứng chịu mưa pháo đêm này qua đêm nọ đã để lại cho người dân trong nước một cảm giác sai lạc về trận chiến đang diễn ra như thế nào. Sự nhận thức sai lầm này lại còn bị làm trầm trọng thêm qua các cuộc tấn công ban đầu của cộng quân và các báo cáo về sự thành công của họ trong trận Tết Mậu Thân.

Ngày 23 tháng Giêng 1968, người Mỹ lại còn bị thức tỉnh là các lợi ích chiến lược của họ còn bị đụng chạm xa hơn phạm vi hạn hẹp của Đông Nam Châu Á nữa. Dù không khiêu khích ai, chiếc tầu tình báo USS Pueblo của Hoa Kỳ đã bị lực lượng Bắc Hàn bắt giữ. Sự kiện này rõ ràng là một hành động gây chiến đối với Hoa Kỳ. Toàn thế giới sửa soạn cho một cuộc trả đũa của Hoa Kỳ, có thể là một cuộc không kích hay xâm lăng toàn bộ nước Bắc Hàn*.
____________________________________________________________________

*Việc bắt giữ chiếc Pueblo đã mang lại cho Liên Bang Sô Viết một thành công rất lớn về mặt tình báo. John Walker, một tên phản bội tổ quốc trước đó đã trao lại cho kẻ thù các mật mã của Hoa Kỳ. Nay họ lại có thêm các trang thiết bị để đọc chúng nữa. Vào thời điểm đó thì người Mỹ chưa biết được điều này.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

tháng bẩy của ai

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

sao tìm hoài chả thấy
trái tim em nơi mô
chiều anh ra bờ cỏ
nằm trên sóng nhấp nhô

tháng bẩy rừng bay lá
anh nghe mùi thu phương
bới trong tiếng xào xạc
tìm ra chút nắng vương

nụ cười xanh em nở
trên mộng mỵ của anh
để trong từng hơi thở
tiếng suối treo đầu ghành

sao tìm hoài bất tận
sờ mó chốn vô cùng
để chạm trong tiếng nói
một chút gì mông lung

bài hát từ kiếp trước
hát lại
em nghe không
thực hư cũng là mộng
bay đi
chiều mênh mông

Ngô Yên Thái

Chung dòng suối mơ

tranngochuong

Ngàn yêu dấu một tình nhân,
Gọi tên em biết bao lần chưa thôi.
Nghe tâm thức chợt vọng lời,
Cho ai ngơ ngẩn tình ơi đong đầy

Ôm vai nhỏ, ấp bàn tay
Hương lùa tóc rối môi say ngực nồng
Chạm vào một mảnh lưng ong,
Nhấp nhô nét thẳng đường cong núi đồi.

Vành ly còn đọng men vui,
Môi nào tìm cuộn lấy môi giao tình
Ngập ngừng bóng ngã chiều lên,
Mà đôi lứa vẫn bồng bềnh mãi đâu

Mùa soi bóng nước qua cầu
Rời tay mấy độ gối đầu chiêm bao.
Môi em hương nhụy ngọt ngào,
Ru ta chuốc chén ca dao rượu mời.

Cõi nào một thoáng rong chơi,
Chỉ còn mỗi nốt ruồi thôi phiêu bồng.
Tựa nhau tìm phút ấm lòng,
Về đây mà tắm chung dòng suối mơ.

Trần Ngọc Hưởng

Cơn thèm!

trachantranhuuhoi

Lảo Ngô kéo cao cái cùm, len trong đám trúc ngổn ngang, đến chỗ Trần, lấm lét nhìn quanh rồi thì thầm vào tai:
-Chú Trần bị kỷ luật, vào lại biệt giam!
Nói xong, lão ngồi xuống, vừa gom mớ dăm bào trúc, vừa nhéo vào ngón chân út của Trần, Trần cúi xuống nhìn thì thấy lão nhét vào đống Trúc chưa bào của Trần một gói nhỏ, xong, lão ôm một ôm trúc đã bào, khó khăn len qua các tù nhân đang ngồi cắm cúi bào trúc, đến cho vào đống đã bào xong ở cuối sân. Vừa đi, vừa kéo lê chiếc cùm kêu lẻng kẻng.
Trần cúi xuống chân, nắn cái gói nhỏ rồi cho vào túi. Đường tán, chừng mười tán đường. Chắc là lão biết bị kỷ luật đồng nghĩa với cắt thăm nuôi nên giúp Trần. Lão không có thăm nuôi, kiếm đâu ra đường mà cho, Trần thấy thương lão!
Từ hôm chuyển từ trại huyện xuống, Trần bị đưa ngay vào biệt giam, nằm trong đó đúng một năm hai tháng, trận đau bụng đi kiết tháng trước giúp anh được ra ngoài, vào nhà A. Ăn cháo mấy ngày, anh phục hồi dần, rồi được cùng bạn tù cạo trúc. Trại nhận cạo và cưa trúc cho các HTX mành trúc xuất khẩu. Công việc so ra khá nhẹ nhàng. Ngồi trên chiếc ghế thấp, duỗi thẳng chân, kẹp đầu cây trúc vào ngón cái và ngón trỏ chân, một tay nắm phần gốc, một tay cạo. Dao được làm bằng thép, lấy nơi ba lô của lính, phải mài thật bén, càng bén càng tốt. Trần không biết lấy ở đâu ra mà nhiều thép ba lô thế, người nào cũng có hai ba cái dao! Ngày đầu được cùng anh em cạo trúc, một bạn tù cho anh hai cái, hắn ta là một tay anh chị ở ga Tháp Chàm, lãnh án hai mươi năm vì tội cướp phòng tài chính! Thời hắn bị bắt chưa có ngân hàng và kho bạc, mọi tiền nong đều do phòng tài chính nắm giữ.
Tin vào lại biệt giam làm Trần lo lắng băn khoăn, lão Ngô không cho biết kỷ luật vì sao!
Lão Ngô bị án chung thân. Trước khi vào tù, lão là trưởng trạm vật tư. Can tội giết vợ, tham ô và hủ hóa.
Từ ngày có án, một chân lão bị đeo thường xuyên chiếc cùm nhỏ, nặng chừng một ký. Là cán bộ từ miền Bắc vào, tuổi cao và ở trại cũng đã lâu nên được cán bộ trại cho làm tạp vụ, tự do đi lại nơi này nơi kia, có khi được làm các công việc giấy tờ dùm cán bộ, gần gũi cán bộ trại nên tin mà lão cho Trần biết chắc chắn là chính xác.
oOo
Lão Ngô từng ở biệt giam với Trần trước khi ra tòa lãnh án chung thân.
Ngày lão chuyển vào phòng ở cùng Trần, các bạn tù trong biệt giam gõ tường bảo với Trần là “cẩn thận, ăng ten”. Trần ngại ngần nên chỉ trò chuyện cầm chừng. Đến bữa cơm, lão như thủ thân thủ phận không có thăm nuôi, bảo Trần:
-Chú chia cơm đi.
Nhìn lão, Trần ước chừng mình chỉ bằng con lão nên lung túng không biết xưng hô thế nào cho phải, anh bèn gọi bằng chú:
-Chú Ngô chia đi, tôi sao cũng được.
Lão lấy muỗng ém ém lên ơ cơm rồi vạch một đường chia ra làm hai rất thành thạo, xúc cẩn thận một bên vào chiếc tô nhựa rồi lấy chén nước muối ngồi ăn. Trần cũng lấy tô của mình xúc đúng bốn muỗng như mọi khi rồi đẩy ơ cơm về phía lão:
-Chú Ngô ăn thêm cơm đi, tôi chỉ ăn chừng này, với lại ăn chung thức ăn cùng nhau cho vui, còn thì ăn mà hết thì cùng ăn nước muối.
Nói xong, Trần đẩy chén thịt ngâm nước mắm về phía lão. Lão tròn mắt ngạc nhiên:
-Chú ăn ít thế!
Trần chỉ ăn bốn muỗng một bữa, xúc ngang cả độn, Trần tập cho bao tử quen dần bởi anh nghỉ là tội “phản cách mạng” của mình chí ít cũng mười năm trở lên, lại nữa trại ít tù chính tri, phần nhiều là hình sự. Nếu cỡ đó thì phải chuyển đi trại Bộ.
Trại Bộ là các trại tù do Bộ Nội Vụ quản lý. Trần biết nếu chuyển đi xa thì anh không hy vọng gì mẹ anh đi thăm nuôi được, tập thiếu thốn cho quen!
Buổi sáng, khi tù phục vụ đưa nước sôi đến, Ngô lấy nước vào, Trần lấy hai cái bánh tráng mì bẻ vụn vào chiếc thau nhựa, cho nước sôi vào, lấy cái quạt đậy lại cho bánh nỡ ra rồi mời lão Ngô cùng ăn sáng. Lão lại lần nữa ngạc nhiên:
-Chú Trần ăn đi, tôi không có thăm nuôi nên không ăn sáng quen rồi!
-Mẹ tôi thường thăm một trăm cái bánh tráng mì, ăn hai người cũng đủ tháng mà chú Ngô. Tôi ở trong này với ai cũng vậy, toàn dân “mồ côi” và cùng ăn chung.
Trần múc một chén rồi đẩy cái thau về phía Lão, lão với lấy cái tô nhựa nhưng Trần bảo:
-Tôi thế này là vừa, chú Ngô ăn luôn trong thau cho khỏi rửa thêm cái tô.
-Chú Trần này, không biết chú bao nhiêu tuổi, nhưng cứ gọi tôi bằng anh cho thân mật. Tôi không có con trai, con gái tôi cũng ba mươi rồi, nó có chồng có con ngoài Bắc!
-Tôi còn thua cô ấy hai tuổi mà chú!
-Chậc, chú cứ gọi tôi bằng anh cho tình cảm, tôi thích thế. Từ ngày vào tù, chưa ai cho tôi ăn chung, chưa ai tốt với tôi như chú. Chú có nghe tên thằng Túc chung vụ vượt biên với thằng Bá không?
Vụ vượt biên này rúng động cả tỉnh Thuận Hải. (*) Hai ghe gần một trăm hai chục người, bị bắt ngoài Vạn Giã, Tuy Hòa. Bá là chủ mấy chiếc xe đò, giàu có tiếng ở Vân Sơn, móc nồi với Túc là xã đội trưởng du kích, móc nối thêm hai chủ ghe. Vừa đúng lúc tập kết đủ người, lên ghe xong thì công an biên phòng xuất hiện. Trên ghe có mấy du kích mang theo súng, bắn trả công an biên phòng rồi cho nổ máy chạy bừa ra khơi, không kịp lấy dầu chôn từ trước. Hôm sau thì hết dầu, lênh đênh rồi tấp vào Vạn Giã.
Hôm công an Tuy Hòa di lý vào ban đêm, biệt giam bị náo động, một phòng nhốt thêm hai người, có phòng ba người…Năm người trong căn phòng bốn mét vuông. Chỉ có cách ngồi bó gối mà ngủ!
-Có nghe tên nhưng chưa ở chung với nó, mà sao anh Ngô?
-Nó thăm nuôi cả núi đồ ăn, mỗi lần đồ vào là chật phòng, nhưng nó bần ghê gớm! Dạo đó tôi bị ghẻ đầy người. ở ngoài đang đầy đủ, vào trong này thiếu thốn mọi thứ, tôi thèm, cái gì cũng thèm, nhất là đường. Có hôm nó vừa nhận thăm nuôi, nó ăn như gấu những thức ăn mà gia đình gởi ăn liền: Xôi, thịt gà, bánh mì thịt…Tôi thèm quá, xin nó miếng bánh mì nhưng nó im lặng, ngồi ăn như không nghe thấy gì. Đến lúc soạn đồ để đưa ra ngoài phòng, thấy nó cầm bị đường cát chừng hai ký lô. Tôi chịu hết nổi, nói với nó:
-Tôi thèm đường quá, chú Túc cho tôi xin một muỗng! Nó nhìn tôi rồi mở bị đường, lấy cái muỗng, tôi mừng lắm, nhưng chú biết sao không? Nó trở cái cán muỗng, múc cho tôi một cái, tôi thèm quá nên dơ cả hai tay, hứng lấy rồi cho tất vào mồm. Trời, ngọt ơi là ngọt!
oOo
Ăn cơm trưa xong, một cán bộ trại đến nói gì đó với nhà trưởng, nhà trưởng đến nói với Trần “chuẩn bị đồ đạc”. cả phòng xì xào mặc dù đã quá quen với những lần chuyển phòng, chuyển trại như vây. Đã cuồi tháng nên đồ thăm nuôi chẳng còn gì, mười tán đường lão Ngô cho sáng nay là “tài sản” quý nhất. Anh đang xếp mùng mền, mấy cái chén, cái ca…vào giỏ lác thì Kiệt đi ngang lén thả vào giỏ một gói nhỏ, Trần nhìn qua đoán là thuốc tây, loại vitamin tổng hợp. Kiệt là kỷ sư nông nghiệp trước 1975, được lưu dụng ở trung tâm bông vải, bị tội tham ô cùng nhiều người khác. Kiệt lớn hơn Trần, ít nói chuyện với ai, nhưng lại mến và thường chuyện trò với anh.
Người dẫn anh trở vào biệt giam không phải là cán bộ mà là Hòa, tù phục vụ biệt giam. Trần đã ở biệt giam khá lâu nên thành người quen. Khi đi ngang cột cờ, khuất tầm mắt cán bộ, vừa đi hắn vừa cằn nhằn trong họng:
-Nói tiếng nước ngoài chi vậy?!
-Có nói đâu?!
-Có người báo!
Nội quy trại, điều thứ hai là: Không được nói tiếng Dân Tộc hoặc tiếng Nước Ngoài trong trại. Trần cố nhớ nhưng chưa nhớ ra được. Trước đây ở ngoài đời cũng như khi vào tù, anh không nói tiếng nước ngoài bao giờ bởi ngoại ngữ anh không khá, thế thì…thôi đúng rồi, Kiệt, hôm trước Kiệt vừa ngồi cạo trúc vừa kể cho anh nghe chuyện gia đình mình, khi nói đến ba mẹ anh chia tay nhau, Kiệt đã dùng từ “break up”. Chỉ có thế mà cũng có người nghe, báo cáo!
Cửa phòng đóng lại sau lưng cùng tiếng khóa lách cách.
Chung phòng với Trần là một người trạc tuổi anh, tên Toàn, đội trưởng xây dựng của Trung Tâm Bông Vải, cùng vụ với Kiệt. Tiếng gõ tường liên tục “thăm hỏi”, nhưng hắn ngồi yên không trả lời, thấy hắn dè chừng anh cũng tảng lờ không chú ý.
Khác với Trần, hắn thích nằm trên bệ, anh lau qua rồi trải chiếu ở phần dưới. Anh hỏi Toàn:
-Ai vừa ở với anh Toàn vậy?
-Thằng chó con.
“Chó con” là Cao Gia Kiên, chừng mười ba tuổi, hắn cùng anh ruột mình là Cao Gia Phú mười sáu tuổi. Cả hai chờ lúc mẹ đi vắng, trói ông bà nội vào giường rồi phá khóa tủ“cướp” tiền. Ông nội “chó con” là người Quảng Đông. Chàng thanh niên gốc Hoa này đến Phan Rang làm phu bốc vác, rồi sau thầu vệ sinh chợ. Khi lập gia đình thì đã là triệu phú. Năm 1975, hai đứa con gái di tản theo chồng, con trai út, cha của Kiên và Phú đi cải tạo vì ghiền ma túy ở Sông Lũy, ông mất sạch vì bị đánh tư sản. Cơn đột quy cùng nỗi buồn làm ông suy sụp, đã vây, hai thằng cháu nội còn hành hạ ông. May còn có con dâu thảo sớm hôm…
“Vụ cướp” xảy ra buổi sáng thì chiều lại hai “tên cướp” bị bắt khi đang ăn bánh căng ở bến xe. Hơn một năm rưởi rồi mà chưa ra tòa lãnh án vì cả hai còn quá nhỏ. Thằng anh được đi lao động tự giác, theo các tù nhân khác đi trồng rau muống, rau dền…”Chó con” trước đây cũng đươc ở ngoài, đi lại thoải mái. Mấy tháng trước, hắn lẻn vào nhà y tá trại, ăn cắp hai ký thịt heo và túi thuốc Đông y, toàn là Xuyên tâm liên, Tăng lực…cho ai cũng không dám lấy, hắn bèn luộc hai kg thịt định rủ anh cùng ăn một trận cho đã thèm, nhưng đang luộc thì bị phát hiện, vào lại biệt giam.
oOo
Ở trong tù, ngoài hình phạt tháng, năm, tòa gọi gắn với tội mà tù nhân đã phạm, còn có những hình phạt khác của trại giam như: Cắt thăm nuôi, ăn cháo lỏng, còng hai tay ra sau lưng, cùm một chân và cùm hai chân với loại cùm 4 kg…
Trần đã từng bị ăn cháo lỏng kèm theo cắt thăm nuôi trong thời gian hỏi cung, cháo là nước gạo lấy từ khi cơm mới sôi, hai ngày ăn cháo lỏng là kiệt sức, chỉ nằm mà tơ tưởng tới chén cơm độn!
Hình phạt còng hai tay ra sau lưng thì nhẹ nhàng nhưng khó chịu, bình thường ngứa đâu gãi đó theo phản xạ, ít khi ta để ý, nhưng khi hai tay bị còng, chỗ nào trên cơ thể cũng ngứa, bạn tù gãi cho vài lần, còn thì cứ uốn éo như con sâu, đêm đến không tài ngủ được!
Trần nằm nghe tiếng gõ cạch cạch từ phòng bên trong lúc Toàn đứng dậy móc mùng. Hắn chỉ móc hai mối dây phía bên ngoài, hai mối trong không móc mà buông xuống thành một bức màn che giữa Trần và hắn. Trần thấy lạ nhưng hắn ít nói nên anh không hỏi, anh phe phẩy chiếc quạt, cố đoán ai đã báo cáo mình…
Nửa đêm Trần nghe tiếng Toàn trở mình rồi rón rén ngồi dậy, hắn ngồi thật lâu, Trần nghe tiếng gì như tiếng bóc bị giấy bóng, lát sau nghe tiếng nhai nhóp nhép thật khẽ, anh cố ngủ lại nhưng không tài nào ngủ được, trong đầu anh hiên rõ hình ảnh chiếc miệng Toàn đang nhai, anh đoán là chuối ép ngào đường, miếng chuối vàng lườm, mềm, cùng tiếng nhai rõ hơn, anh cảm thấy được cả vị ngọt của chuối!
Cơn thèm làm nước miếng trong miệng Trần ứa ra. Anh còn nguyên mười tán đường lão Ngô cho lúc sáng, lại còn vitamin tổng hợp chưa dùng, anh định để dành đến khi nào quá kiệt quệ sẽ dùng. Trần nghỉ vẫn vơ để quên đi tiếng nhóp nhép của Toàn nhưng anh bất lực, tiếng nhóp nhép càng nghe rõ hơn!
Anh không nghỉ đến chuyện xin Toàn, chưa bao giờ anh xin một cái gì, của bất cứ ai từ ngày vào tù. Thấy nhiều bạn tù thèm ăn và cái ăn trở thành nỗi nhục nhả, hèn hạ, với cả những tay anh chị lẫy lừng ngoài đời làm anh tự hứa là sẽ không bao giờ xin ai. Cái thèm thuồng và quyết tâm không mở miệng xin Toàn một miếng chuối thì anh khống chế được, nhưng nước miếng trong miệng thì cứ ứa ra, lý trí anh không tài nào ngăn được, nó làm anh phải nuốt liên hồi!
Tự nhiên Trần nghỉ đến lão Ngô và các bạn tù mà thương họ, cảm thương cái thèm bản năng, rất người, ai cũng trải qua khi rơi vào hoàn cảnh này.

Sài gòn. Tháng 7. 2015.
Trạch An-Trần Hữu Hội

(*) Thuận Hải: Gồm ba tỉnh ghép lại: Ninh Thuân-Bình Thuận và Hàm thuận.