Ở NƠI NGƯỜI VẪN NHỚ NGƯỜI

chuthuynguyen

Và em cố hoang nhiên nơi trái tim rách nát
Con tàu ngóng đợi mộng cũ quá tan hoang
Ngày cháy lụn trong mặt trời đỏ ối
Đâu rồi bàn tay đếm nhặt từng ngày

Trên đồi thông chiếc bóng cổ tháp mờ dần
Buổi chiều gọi giục những bước chân lạc xứ
Ta nếm đau mùi đời qua từng chung rượu cạn
Sài Gòn tôi đâu trong cổ tích mới hôm qua ?

Ở phía sau khung cửa sổ màu rêu chưa bao giờ thấy nắng
Câu chuyện ngụ ngôn nghe giữa chốn phồn hoa
Vẫn không quên mùa nước nổi và những mảnh đời bóng chim tăm cá
Em lặng thầm ghép vào lòng từng phiến nát vong thân

Chiều nhìn núi bỗng long lanh nước mắt
Những hàng cây rũ bóng ngó hôm mai
Đã biền biệt màu chân trời cật ruột
Mùi sơn khô hoài niệm cũng tan hoang

Một ngày mới dẫu tai còn nghe chim hót
Vườn u hồn thấp thoáng những vành khăn
Người ở đó có hay người phiêu bạt
Miệng nhoẻn cười tim nát phận lưu vong.

Chu Thụy Nguyên

BÀI CA HẠNH NGỘ- KỲ NỮ

dinhhung

Nhân Sinh Nhật nhà thơ Đinh Hùng , Tương Tri gởi đến độc giả 2 bài thơ với 2 phong cách khác biệt của Ông.

Bài Ca Hạnh Ngộ

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,
Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?
Mùi phấn em thơm mùa hạ cũ,
Nửa như hoài vọng, nửa như say.

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ,
Hương ngàn gió núi động hàng mi.
Tâm tư khép mở đôi tà áo,
Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi.

Em muốn đôi ta mộng chốn nào?
Ước nguyền đã có gác trăng sao.
Truyện tâm tình: dưới hoa thiên lý,
Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào.

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ.
Nắng trong hoa, với gió bên hồ,
Dành riêng em đấy. Khi tình tự,
Ta sẽ đi về những cảnh xưa.

Rồi buổi ưu sầu em với tôi
Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời.
Vai kề một mái thơ phong nguyệt,
Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười.

Kỳ Nữ

Ta thường có từng buổi sầu ghê gớm
Ở bên Em — ôi biển sắc, rừng hương!
Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm,
Em đến đây như đến tự thiên đường.

Những buổi đó, ta nhìn em kinh ngạc,
Hồn mất dần trong cặp mắt lưu ly,
Ôi mắt xa khơi! Ôi mắt dị kỳ!
Ta trông đó thấy trời ta mơ ước.

Thấy cả bóng một vầng đông thuở trước,
Cả con đường sao mọc lúc ta đi,
Cả chiều sương mây phủ lối ta về,
Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ.

Ta run sợ, cho yêu là mệnh số,
Mặc tay em định hộ kiếp ngày sau.
Vì người em có bao phép nhiệm mầu,
Một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc.

Ta đặt em lên ngai thờ Nữ Sắc,
Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da.
Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa,
Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết.

Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết,
Gợn xuân tình lên bộ ngực thanh tân.
Ta gần em, mê từng ngón bàn chân,
Mắt nhắm lại, để lòng nguôi gió bão.

Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo,
Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm.
Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm,
Chưa tội lỗi, đã thấy tràn hối hận.

Em đài các, lòng cũng thoa son phấn,
Hai bàn chân kiêu ngạo dẫm lên thơ.
Ôi vô lương! Trong một phút không ngờ,
Ta đã muốn trở nên người vô đạo.

Tất cả em đều bắt ta khổ não,
Và oán hờn căm giận tới đau thương.
Và yêu say, mê mệt tới hung cuồng,
Và khát vọng đến vô tình, vô giác.

Hỡi Kỳ Nữ! Em có lòng tàn ác,
Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma!
Lúc cuồng si, nguyền rủa cả đàn bà,
Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết.
Ta sẽ chết! Sẽ vì em mà chết!
Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn,

…Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn.

ĐINH HÙNG

TRANH ĐẤU GIÁ GÂY QUỸ TRÙNG TU DI TÍCH THUYỀN NHÂN CỦA HỌA SĨ ANN PHONG.

10355843_10205457093841554_1849375864176839742_n

…Trong loạt tranh về biển của Ann Phong, những người từng vượt biên bằng thuyền có cái tên chung “thuyền nhân”, có thể nhìn lại chính mình trên bọt sóng đầy ám ảnh trong tranh của bà. Thuyền nhân cũng sẽ thấy trên những con thuyền vụn gãy là kỷ niệm không thể phai nhạt của chính họ. Thuyền nhân cũng khó thể quay đi che giọt nước mắt mà sau 40 năm vẫn còn lăn dài trong nỗi đau chia cắt trên đường vượt biển. Tất cả những câu chuyện viết lại bằng màu sắc của họa sĩ được rút ra từ chính chuyện thật đời mình. Bà vẽ như một cách kể chuyện, câu chuyện của người sống, kẻ chết. Bà dạo chơi trên biển ký ức của mình và sóng gió nổi lên trên canvas…
Với hơn 80 triển lãm tại Mỹ và nhiều nước Đông Nam Á, họa sĩ Ann Phong đã và đang đem đến cho người xem khắp nơi mối suy tư của một họa sĩ về căn cước, ký ức và nhất là cảm hứng đến từ những ngày rất xa nhưng không xưa dưới từng lát cọ của mình.(Trích từ phỏng vấn của MẶC LÂM -RFA, Đài Á Châu Tự Do.)

Bức tranh vẫn đang tiếp tục được đấu giá qua email: tntd.nhatrang@gmail.com và số điện thoại 909-643-7764.
Các thân hữu , thuyền nhân , bộ nhân…vào ngày Chủ Nhật  05/07/2015 lúc 6:30 chiều xin đến :
Nhà Hàng Phú Lâm
3082 Story Rd San Jose
để tham dự Dạ Tiệc Gây Quỹ Lần Chót TRÙNG TU MỘ THUYỀN NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM Á.và trực tiếp tham dự buổi đấu giá này.

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Ra đi và quên lãng”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

NGUYỄN SƠN “Ra đi và quên lãng”

Tôi nảy ý tưởng đi Mỹ từ năm mới mười hai tuổi. Ngay từ những năm chiến tranh, tôi đã tò mò muốn đi Mỹ. Nhiều người bạn của tôi cũng thế . Nhưng lúc ấy tôi hãy còn ít tuổi quá, làm sao đạt được mục đích. Trong thời chiến, các bạn tôi và tôi cũng đã bàn nhau về chuyện sang Mỹ, mong ngay cả đến chuyện bỏ miền Bắc vào Nam. Ở miền Bắc lúc nào cũng phải lo bom đạn, lúc nào cũng phải lo giữ cho mạng sống an toàn.

Lúc ấy chúng tôi còn trẻ, chẳng có kế hoạch, chẳng có phương hướng, cũng không rõ nếu khi vào Nam thì sẽ bị đối xử ra sao. Chúng tôi không biết nếu vượt tuyến vào Nam có bị kết án hay không. Chúng tôi không muốn bị bỏ tù trong Nam, chỉ vì đã vào từ miền Bắc. Nhưng tất nhiên trong lúc chiến tranh, việc ấy chẳng thể nào thực hiện được.

Tôi bị gọi nhập ngũ đánh Trung Quốc và Campuchia. Sau bảy tháng trong bộ đội, tôi đào ngũ trở về Hà Nội. Lúc ấy mẹ tôi bảo bây giờ tốt nhất tôi nên học lái tàu. Vì thế tôi theo học một khoá điều khiển tàu chạy sông ở miền Bắc. Khi theo học lớp này, các bạn tôi hỏi có phải tôi đang tính đi trốn không? Tôi bảo phải. Sau đấy chúng tôi chung nhau tiền mua một chiếc tàu.

Rồi vào khoảng từ 1979 đến 1980, chính phủ trục xuất người Việt gốc Hoa. Nghe trên đài, chúng tôi hiểu bây giờ Liên Hiệp Quốc đã chú ý đến vấn đề tỵ nạn rồi.

Tôi đi với em trai và em gái tôi. Sau khi bị chặn xét tại Cảng Hải Phòng, tôi lái tàu đi đường sông ra biển, cũng nhiều người khác nữa đi theo. Lúc ấy trên tàu có tất cả năm mươi người.

Như thế chúng tôi đã đưa tàu đi từ Hà Nội đến Hồng Kông. Quyết định của chúng tôi là ra đi và quên lãng, chúng tôi sẽ không bao giờ quay trở về Hà Nội nữa. Bằng hành động ra đi, chúng tôi đã bày tỏ thái độ từ chối cái xã hội mà chúng tôi đã sống, để làm lại cuộc đời của chính chúng tôi, tại một nơi nào khác. Chúng tôi cũng chấp nhận luôn cái sống lẫn cái chết. Nếu sống sót được thì cũng chẳng bao giờ quay về Hà Nội, vì quay về có nghiã là tù đày hoặc chỉ sống một cuộc đời u ám. Người ta sẽ không bao giờ quên, không bao giờ tha thứ việc chúng tôi trốn chạy.

Vì nghĩ chuyện đi biển vẫn chẳng nguy hiểm bằng chuyện xảy ra nếu không thoát, nên chúng tôi đều có tư tưởng hết sức tích cực. Chúng tôi nghĩ chúng tôi sẽ sống. Và rồi sẽ có thể xây dựng được một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân chúng tôi, cho con cái chúng tôi tại một đất nước tự do.

Khi đến Hồng Kông, chúng tôi được đối xử rất tử tế. Chúng tôi được phép lựa chọn quốc gia định cư mà chúng tôi mong muốn.

Nhiều người ở miền Bắc có cùng một cảm giác như tôi, đều muốn làm những chuyện như tôi thực hiện. Trong suốt những năm chiến tranh, chúng tôi đều đã chịu chung những điều kiện của cuộc sống kéo lê. Lúc ấy đi ngược dòng chắc chắn chỉ có chết. Cho nên tôi phải đợi đến khi cuộc chiến đã xong.

Nếu tôi ở lại Hà Nội, cuộc đời tôi hẳn sẽ khác cuộc đời bây giờ ở Mỹ. Thứ nhất, có lẽ tôi đã lấy vợ đẻ con. Bây giờ tôi vẫn một thân một mình. Thứ hai, chắc tóc tôi không đến nỗi bạc như bây giờ, vì ở đất Mỹ này tôi phải lo âu nhiều quá. Ở lại Việt Nam có lẽ cuộc đời tôi ổn định hơn.

Hiện nay tôi lo lắng quá. Tôi mất việc, thất nghiệp, phải ở nhờ bạn bè và em gái tôi. Đôi khi, tôi nghĩ có lẽ tôi nên trở về Việt Nam. Nhưng không. Không. Đùa thế thôi. Thỉnh thoảng chúng tôi lại đùa. Đúng ra, đêm hôm nghĩ ngợi, tôi vẫn thường cân nhắc chuyện này. Tôi vẫn luôn luôn có cùng một câu trả lời cho câu hỏi này: Rời khỏi nước ra đi, ấy là một quyết định đúng. Tôi luôn luôn tự nhủ, ngẫm cho cùng, tôi đã hành động đúng. Tôi không có gì phải tiếc cả, thật đấy.

Ở đây đầu óc tôi mở mang, tôi luôn luôn học hỏi. Tôi cảm thấy tôi phát triển về phương diện trí thức, tôi vui thích về điều này. Tôi được gặp gỡ trao đổi với đủ hạng người với những tư tưởng khác nhau. Ở đây không ai sợ hãi ghê gớm gì. Tôi cũng lấy làm vui thích về điều này.

Tôi đã làm một quyết định đúng khi bỏ nước ra đi, những gì tôi đã phải chọn là những gì tôi đã muốn. Đến đây thì sự lựa chọn ấy cũng xứng đáng.

Ngày đi khỏi Việt Nam, tôi đã ra đi với tư tưởng dứt khoát. Tôi muốn đi càng nhanh càng tốt.

Nhưng khi tàu vừa ra hải phận quốc tế, khi những cơn sóng mạnh vỗ mạn tàu thì chúng tôi đã bắt đầu thấy lòng bứt rứt không yên. Chỉ mới đi bảy, tám tiếng đồng hồ, đã thấy thôi thúc, muốn quay tàu về. Chúng tôi nhớ đất nước, nhớ cửa, nhớ nhà. Ý thức được những gì đã làm, chúng tôi bắt đầu bật khóc. Tất cả chúng tôi đều quay nhìn lại Việt Nam mà khóc.

Tôi ra đi chỉ một bộ quần áo trên người. Tôi biết cuộc đời rồi sẽ không dễ dàng, rồi sẽ đầy khó khăn trở ngại, phải đổi máu, mồ hôi, nước mắt lấy sự sống, nhưng chúng tôi vẫn muốn hướng tới mà đi. Và khi đã ra tới hải phận an toàn, lại muốn quay về. Chúng tôi ai cũng khóc.

Giờ đây không ngày nào, đêm nào trôi qua mà tôi không nhớ nghĩ về Việt Nam. Trong trí nhớ, tôi nhìn thấy người trong gia đình, các họ hàng thân thích, hàng xóm láng giềng, cha mẹ đẻ ra tôi. Tôi khắc khoải nhớ đến mọi thứ, từ cái cây đến những góc nhà. Đất nước Việt Nam ở trọn vẹn trong tôi, trong ý nghĩ tôi. Nhưng xin ông phải hiểu cho, tôi đã sống hai mươi lăm năm trong cuộc đời ở đất nước Việt Nam. Đấy là nơi tôi lớn lên, nơi chứa đựng biết bao ngọt bùi thời thơ ấu, đấy là nơi tôi trưởng thành. Tôi đã sống ở nơi ấy một phần tư thế kỷ, đã tràn ngập biết bao ký ức. Tôi không thể ném bỏ tất cả. Những ký ức và dĩ vãng ấy lúc nào cũng ở trong tôi.

Quay về với thực tế đất Mỹ này, tôi quả muốn được học hành. Nhưng trí óc nhớ nhung và đầy hình ảnh Việt Nam, tôi không học nổi, tôi không học thêm được nữa. Những điều thầy giảng chui vào tai này lọt sang tai kia. Tôi chỉ nhớ được đôi điều thông thường người ta cần biết để sinh sống ở đây, còn ngoại giả những điều khác, chẳng có gì lưu lại được vì trí óc tôi đầy ắp Việt Nam.

Ngày đầu tiên đến định cư tại Mỹ tôi đã quyết định phải hội nhập, phải thích nghi, phải chấp nhận cuộc sống này. Nhưng rồi cũng lại lan man nghĩ ngợi về Việt Nam. Mỗi ngày tám giờ làm việc thì chỉ nghĩ đến việc làm, nhưng sau giờ làm, lại nghĩ đến gia đình, đất nước. Xong bữa cơm, bật cái truyền hình lên xem thì không hiểu hết vì tôi không giỏi sinh ngữ lắm. Thế là mỗi đêm trí óc lại trôi giạt về Việt Nam. Cuối tuần, tụ họp với bạn bè, lại nói chuyện quê hương đất nước Việt Nam. Đề tài ấy lúc nào cũng quanh quẩn bên tôi. Nếu không có người Việt mà chỉ giao thiệp với Mỹ thì có lẽ cũng bớt cảm giác Việt Nam. Nhưng ở đây, chung quanh tôi rất đông người Việt. Chúng tôi lại nhớ. Nỗi nhớ nằm trong xương tủy chúng tôi.

Tôi nghĩ ngay cả một ngày kia khi các lãnh tụ già ở Việt Nam đã chết, người trẻ có nắm quyền thì họ cũng đã quen đường lối thế hệ già, cũng lại rập cùng một khuôn mẫu. Tôi không thấy tương lai hạnh phúc nào cho đất nước Việt Nam, có lẽ ít nhất cũng phải đến sau năm 2000.

Ngày nay người ta vẫn không giác ngộ. Có một số du học sinh sang các nước Đông Âu, nhưng khi trở về họ cũng không làm gì được vì đất nước nghèo đói, ít người học thức, người ta không được phép thực sự chứng kiến những gì xảy ra trên thế giới. Trong chiều hướng này, người ta chẳng có thể mong đợi gì việc cải thiện mức sống cả.

Muốn đất nước tiến bộ, giới lãnh đạo phải thay đổi cách thức làm việc. Họ phải làm theo nhu cầu của dân, làm theo ước nguyện của dân. Nếu dân muốn làm việc 8 giờ một ngày, thì họ phải để cho dân làm việc 8 giờ một ngày. Nếu dân không muốn tệ nạn tham nhũng hối lộ, họ phải giải quyết tệ nạn tham nhũng hối lộ. Muốn cải thiện đất nước, lãnh đạo phải đi sát với nhân dân, tìm hiểu nhân dân. Hiện nay họ không làm như thế. Lãnh đạo ra chỉ thị bắt buộc nhân dân làm những gì họ muốn. Còn nhân dân cứ hành động những gì họ đòi. Dân thì nghèo khó, khổ sở. Con người phải làm việc vất vả, mà càng làm vất vả thì cuộc đời càng thấy khốn khổ thêm.

tháng sáu, vẽ chân dung

phamhongan

tháng sáu ngồi tản mạn
vẽ chân dung cuộc đời
chút tình ngày phóng đãng
lồng màu sắc chơi vơi.

vẽ chân dung sông núi
chảy ngược mạn thuyền đêm
bờ vai trăng trần trụi
che ngực biển hồn thiêng.

một nét trời vô tận
một nét đất bao la
một nét ta lãng mạn
một nét em mặn mà.

trộn tình chung với sắc
chấm cọ vẽ chân dung
tình, hình như muôn mặt
sắc, hình như hư không.

kéo đường kẻ quê hương
vẫn nhạt nhòa nơi chốn
ta một đời khốn đốn
mãi làm phận tha phương.

tháng sáu ngồi trông sông
sông đổ dài ra biển
tháng sáu ngồi ngóng biển
biển ùa sóng vào sông
biển và sông bất biến
ta thì mãi lưu vong…

PHẠM HỒNG ÂN
(Moonglow Park, 20/06/2015)

Đêm mưa ở Bangkok

nguyenbatrac

Trong môt đêm mùa hè
giữa thành phố Bangkok
nhìn ra trời tối đen
lờ mờ ngọn đèn ống
Bên kia là Việt Nam

Bây giờ nghĩ gì
Tại sao viết ra
Có điều chân thật
Hay vẫn chỉ là vẻ đẹp điêu ngoa?

Có gì khác giữa văn chương nghệ thuật
một bức thư?
Câu chuyện phiếm?
tiếng cười khàn?

Có lúc viết hiển nhiên là khóc
đẩy linh hồn lui xuống vực sâu

Viết như chụp ảnh
tấm ảnh không mầu
cả quê hương trong bóng tối âu sầu

Viết, thắt dây lý luận
Đem niềm tin về chuộc tàn phai?
Rút hạnh phúc ra từ quá khứ
Bình yên ngồi kết lại tương lai?

Đêm nay nghĩ gì
Tại sao viết ra
Sẽ có điều chân thật
Hay vẫn chỉ là vẻ đẹp điêu ngoa?

Tự hỏi người ta làm gì những bức thư
cất mãi trong ngăn tủ mọt rỗng
Người ta làm gì những bài thơ
Sau hết, những bài thơ có thể làm được gì
Trên con đường dài huýt sáo ra đi?

NGUYỄN BÁ TRẠC
( Bangkok 3/7/1988)

LỜI TỪ BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN TRƯỜNG SƠN

11393217_791316020983546_2222836601656039961_n

Nhà Văn Nguyễn Trường Sơn, Người sáng lập Tạp Chí Tuổi Hoa và Tủ Sách Tuổi Hoa ,người đã khai sinh ra một dòng văn học vô cùng đặc biệt , góp phần đáng kể vào công cuộc giáo dục thanh thiếu niên Việt Nam trong những thập niên 1960-1970. Rất nhiều nhà văn , nhà thơ tên tuổi ở Việt Nam và Hải Ngoại đã thành danh từ sự dìu dắt của ông. Ông qua đời ngày 20/5/2015 tại Pháp .

Dưới đây là những lời của một cây bút chuyên viết cho tuổi thơ Tôn Nữ Thu Dung trong buổi Thánh Lễ Cầu Nguyện(do Đức Giám Mục Mai Thanh Lương và Linh Mục Bill Cao  cử hành) và Nghi Thức Tưởng Niệm nhà Văn Nguyễn Trường Sơn diễn ra tại Trung Tâm Công Giáo , Giáo Phận Orange.

“…Tôi là một thành viên nhỏ nhất của gia đình Tuổi Hoa thời ấy mà chú Nguyễn Trường Sơn là chủ gia đình.
Bằng sự đóng góp của chú vào sự giáo dục tinh thần , đạo đức, nhân bản cho thanh thiếu niên, cùng với những tờ báo khác như Thiếu Nhi , Thằng Bờm, Ngàn Thông, Mây Hồng…chú Nguyễn Trường Sơn đã thành lập Bán Nguyệt San Tuổi Hoa và Tủ Sách Tuổi Hoa mà tôi được vinh dự cộng tác trong một thời gian dài cho đến tháng 4/75 thì tan tác.
Từ quá khứ, chưa bao giờ dòng văn học thiếu nhi này được đánh giá cao như các dòng văn học khác. Nhưng thật sự ,tính nhân văn của nó đã hằn sâu trong tâm thức của mỗi chúng ta…Tính giáo dục nhân bản của tờ báo này thật đơn giản , giáo dục LÒNG YÊU NƯỚC, sẵn sàng hy sinh khi đất nước cần. Giáo dục lòng YÊU CON NGƯỜI, Kính trên nhường dưới, can đảm , khiêm tốn , bao dung , vị tha…YÊU CÁI ĐẸP…Những điều này đồng nghĩa với KHÔNG THỎA HIỆP với điều ÁC, cái XẤU và sự GIẢ DỐI…Chúng tôi đã lớn lên trong tinh thần đó.
Để hôm nay
, chúng tôi không hổ thẹn để nói rằng mình đã sống rất lương thiện , không đánh mất CHÂN , THIỆN , MỸ trong cả những tình huống xấu nhất , những bối cảnh xấu nhất của đời mình.
Và tôi tin rằng đó là công rất lớn của chú Nguyễn Trường Sơn.

Chúng ta , một ngày nào đó, sẽ xa rời cõi tạm này , như chú khi mà : “Quê người ngựa hồng mỏi vó/ cố hương mây trắng bay về…” cũng thật nhẹ nhàng, thanh thản.
Tôi , cũng như các bạn ở đây, không bao giờ quên được địa chỉ :
Tòa Soạn Tuổi Hoa, Dòng Chúa Cứu Thế,38 Kỳ Đồng, quận 3 , Sài Gòn.
Xin vĩnh biệt chú Nguyễn Trường Sơn , người đã giúp con học được nhiều điều trong cuộc sống
Xin Chúa đưa tay đón nhận linh hồn chú Simon Nguyễn Trường Sơn về bên nhan thánh Người…”