SỢI TÓC TÌNH NHÂN

Ngày mộng mị tuổi yêu vừa đến
Em tặng anh sợi tóc tình nhân
Tái sinh anh linh hồn gỗ mục
Trăng là em ong bướm lượn quanh

Ngày theo anh em còn kẹp tóc
Lụa mượt mà thơm trắng hương cau
Đã có lúc anh nhìn em khóc
Sợi tóc xưa cứa ngọt tim đau

Dây tơ hồng em đan bằng tóc
Ngàn sợi mây em tặng đời nhau
Cùng em đi trên muôn vạt sóng
Chập chùng đời, nghiêng ngã chia đau

Dịu hiền em trăng đêm vằng vặc
Thao thức em, anh giấc ngủ êm
Là lúc em dại khờ bật khóc
Tay níu tay, níu chặt mắt mềm

Những khi nắng nhạt vàng trên lá
Em luồn kim sợi tóc chẻ đôi
Vá hồn anh nửa đời nghiêng ngã
Dáng gầy run anh thoáng bồi hồi

Có đôi lúc tóc dài vướng mắt
Em đối diện em lặng lẽ đêm
Anh trở về bàn tay lạnh ngắt
Lệ trong trăng nhạt vỡ bồng bềnh

Có đôi lúc giả vờ ngơ ngác
Dìm hồn anh lặn ngụp ca dao
Và em sương muối chiều đã bạc
Chở che anh vũ điệu ngọt ngào

Như là em trong câu chuyện cổ
Lầy lội anh trong mắt xôn xao
Ngày hội mở em thơ mắt biếc
Suốt đời em, anh kẻ tội đồ

Nắng vắt đồi bên em than thở
Tuổi thơ em, anh cướp bất ngờ
Cắt nửa tim em bằng nỗi nhớ
Nhã nhạc em ai gọi giấc mơ

Ngày Thu tận anh phơi sợi tóc
Được thấy em rạng rỡ nụ tươi
Anh và tóc một đời góp nhặt
Vẽ trong trăng nụ nguyệt em cười

Tay gọt tóc sao nhầm mắt ướt
Khắc khoải đêm trăng chấm lửng rơi
Vạt áo tím ngọt ngào mơ mượt
Lững lơ người lơ lững sao trôi

Gỡ sợi tóc phơi chiều nắng nhạt
Đọc kinh cầu chuộc tội tình nhân
Nguyệt tơ xưa tàn phai nhan sắc
Anh gối quỳ vẽ lại vạt trăng

Em tặng anh một sợi tóc rối
Ngày tình nhân thuở ấy xa rồi
Và em nói tuổi thơ từ giã
Để yêu anh em cắn bật môi

Anh phơi sợi tóc vào trong mắt
Em chao nghiêng cười chẻ nụ duyên
Anh và tóc đâu tình góp nhặt
Là trăng vàng trên mái tóc tiên

Em là trăng vai gầy cánh vạc
Anh là Sao lục lạc tình tang
Nợ chi anh trăng khuya ngờ ngạc
Anh nợ em sợi tóc tình nhân

Nửa đời em vẫn đầy hay mất
Sợi tóc xưa còn có mãn viên
Nếu mai này anh về với đất
Nhớ gởi theo anh sợi tóc tiên

Đừng bao giờ em tôi bật khóc
Anh nợ em sợi tóc tình nhân

BÙI THANH XUÂN , tháng tám mười ba.

QUY NHƠN

Chẳng có đêm nào không Quy Nhơn
Hai con mắt ấy cứ xoe tròn
Nhiều đêm mất ngủ vì em đó
Cái miệng hoa cười rất muốn…hôn !

Chẳng có đêm nào không Quy Nhơn
Bàn tay năm ngón níu Thiên Đường
Em ra…biển nhớ, người ghen tị
Anh đợi,nghe lòng hon héo hon….

Chẳng có đêm nào không Quy Nhơn
Tình anh dậy sóng mãi điên cuồng…
Trái tim chỉ đợi em…làm phép
Là thánh thất đầy nắng mật ong !

Chẳng có đêm nào không Quy Nhơn
” Gọi em thao thiết biết bao lần”
Trên bao thuốc lá anh ghi dấu
Một dãy thơ buồn, em biết không ?

Chẳng có đêm nào không Quy Nhơn
Dẫu anh đang ở đậu Sàigòn
Nhớ em răng khểnh, hồn thơ dại
Cái miệng hoa cười, anh chết…luôn

Trần Dzạ Lữ

Nắng ấm, Thiên Di sẽ bay về!

Trần Thị Trúc Hạ

images-4

Bây giờ em đã đi xa,  nơi em đến là một đất nước văn minh hiện đại với một ngôi trường được trang bị  đầy đủ về cơ sở vật chất  sẽ  là môi trường tốt để em học tập. Chân trời phía trước đã rộng mở đối với em nhưng sao cô vẫn thấy vui buồn lẫn lộn khi tiễn em  đi. Cậu học trò nhỏ đầy nghị lực của cô!

Cô còn nhớ mãi bài  tập làm văn khi viết  đề tài “ Cảm xúc về người thân”. Nước mắt cô đã rơi xuống trang văn của em: “ … Cứ mỗi lần tiếng trống bãi trường vang lên là em  vội vàng chạy ra gốc phượng ở cuối sân trường, dù biết rằng bố sẽ không còn đón em ở đó nữa, nhưng sao em vẫn hy vọng … Bởi vì trong giấc mơ em vẫn thường thấy bố đợi em ở đấy. Giấc mơ chỉ là giấc mơ, giấc mơ của em làm sao có thế trở thành hiện thực?! … ”.

Cô phải làm gì để bù đắp cho đứa học trò nhỏ những mất mát quá lớn? Đó là điều mà cô vẫn thường trăn trở  mỗi khi nhìn ánh mắt bơ vơ của em trong những giờ tan trường.

Cô nhớ về  cuộc cắm trại ngày đó, các bạn trong lớp lúc nào cũng vô tư vui đùa, còn em cứ lặng lẽ đi xách nước về cho các bạn dùng hoặc đi nhặt rác quanh đất trại. Đến giờ ăn cơm, cô lo phân phát thức ăn cho học trò, đứa nào cũng  nhận thức ăn từ cô rồi ăn ngấu nghiến vì chạy nhảy nhiều nên đói, chỉ có một mình em đến bên cô nói nhỏ Tiếp tục đọc

BẬU DÌA NHÀ KHÁC

 
 
 
– Linh Phương –
 
Mặc áo bà ba quỳ trước bàn thờ
Bậu lạy tổ tiên-ông bà- tía má
Đứng ngoài sân trái tim qua hóa đá
Buồn hắt hiu như gốc rạ trơ xương
 
Xa lắm rồi câu vọng cổ còn thương
Thời con gái trên cánh đồng bậu hát
Nhà qua nghèo nên bậu dìa nhà khác
Phía bên kia phà bến bắc Cần Thơ
 
Con cúm núm chiều gọi bạn tình ơi !
Nghe da diết khi hoàng hôn nắng tắt
Sông Hậu qua chờ-sông Tiền bậu khóc
Nước mắt hai dòng : trong- đục- phân ly
 
Bậu lấy chồng qua bỏ xứ ra đi
Đời trôi giạt theo khắp cùng năm tháng
Vẫn chưa quên góc trời quê lận đận
Qua nhớ bậu hoài nhớ mãi khôn nguôi
 
Con bươm bướm vàng đậu ngọn mù u
Đã mất biệt giữa trăm cay ngàn đắng
Chiếc khăn tay thêu đôi chim bậu tặng
Qua cất làm kỷ niệm lúc chia tay
 
Tết quê người nhìn khói đốt đồng bay
Từng sợi khói vướng mắt qua nhoi nhói
Rượu uống quắc cần câu lòng cứ hỏi
Miệt ấy giờ bậu hạnh phúc hay không ?
 
                 LINH PHƯƠNG
 

GIỮA HÔN MÊ ĐỜI

 
 
Chiều thắp nắng trên vai người sáng phúc
Có ta về lở dở cuộc chơi rong
Em hồn hậu đôi bàn tay thỏ bạch
Gõ lên sầu ta hạnh phúc bao dung
 
Ngày chờ đợi đã vàng chân cỏ muộn
Nửa đời ta thân lang bạt kỳ hồ
Sao em đến cột chân ta cuồng vọng
Gặp em rồi trời đất cũng ngẩn ngơ
 
Thượng đế cũng mềm lòng thôi, nhỏ ạ!
Dẫu chi ta khinh bạc mấy cho cam
Bởi vẫn thế, quen một đời lêu lổng
Nên trời xui ta sập bẫy em giăng
 
Chiều thắp nắng trên vai người sáng phúc
Có ta về… lở  dở cuộc chơi rong……..
 
           NGUYỄN NGỌC NGHĨA (1972)
 

Lỗi của Hoa hồng

Dương Hằng 

MotherAndSonAbstracted

Mẹ đẹp. Mái tóc dài buông xõa qua vai, ôm lấy gương mặt trái xoan đầy đặn. Mẹ ngồi trong căn buồng chật và tối, ánh sáng nhờ nhờ của chiếc bóng đèn đã gần cạn sức soi, cộng thêm chút nắng nhẹ hắt vào qua khung cửa sổ. Tiếng máy may xình xịch vang lên theo nhịp mẹ giẫm vào bàn đạp phía dưới. Khuyên mẹ mấy lần thay bóng đèn khác cho sáng, mẹ bảo “Mẹ quen với từng đường kim mũi chỉ rồi, nên đạp máy, căng sợi, cũng làm bằng cảm nhận. Có những nghề gắn với mình, tới một lúc nào đó ta sẽ  không cần làm bằng mắt nữa, con gái ạ”.

Mẹ đẹp. Ở cái xóm nghèo bần, đàn bà quanh năm chỉ cằm cũi lưng trần với mẫu ruộng, chân tay vàng khè máu bùn máu rạ thì mẹ tôi đẹp nhất nhì cũng là lẽ tự nhiên. Mẹ sống bên Pháp sáu năm ròng, ngày ngày hít hà mùi hương của hoa hồng, mẹ cũng quyến rũ tựa loài hoa ấy. Tôi thích ngắm mẹ qua khung cửa sổ, từ góc bếp, nhìn xuyên qua là thấy mẹ đang cần mẫn với mảnh vải mịn trên tay. Mẹ trong thứ ánh sáng tờ mờ , thi thoảng nhìn ra ô cửa bé tẹo, nở nụ cười thật tươi với tôi, ngỡ đâu mẹ là nàng tiên.

Bà nội ngồi ở cuối góc sân gạch cũ màu rêu, thảng hoặc móc trong túi áo lá trầu, miếng cau, rồi gọi tôi mang lọ vôi làm từ chiếc vỏ hộp sữa ông thọ đã khoét miệng. Cả ngày, hiếm khi bà rời khỏi góc sân nhà mình. Phía trước nhà tôi là vườn hoa hồng, nội bảo ngày xưa nó là thửa ruộng, từ khi mẹ về, sức bà cũng yếu, mẹ san bằng nó bằng hai xe đất, thành khu vườn rộng như bây giờ, mà chỉ trồng duy nhất hoa hồng, cũng có lý do riêng của nó. Ba mẹ tôi cưới, rồi dìu dắt nhau qua Pháp theo một người họ hàng xa làm ăn. Ba thuê một cửa hàng nhỏ, tìm mối mua hoa hồng về cho mẹ bán. Sinh ra tôi được một năm, bà ngoại mất, mẹ đưa tôi về mai táng ngoại, ba vẫn bám trụ lại với miền xa xứ… Nội ngồi đó, để trông coi vườn hoa hồng khỏi những con mèo đòi tán tỉnh yêu hoa. Tiếng ho khụ khụ của nội cũng đủ ngăn hai chú gà làm tình vụng trộm giữa mùa hoa đang thì con gái, nhưng đã chớm bung nở làn hương. Nội mắc bệnh hen suyễn, chạy chữa thuốc men bao nhiêu cũng không khỏi. Gần một năm nay, nội không chịu đi khám nữa, mặc cho tôi và mẹ thúc giục, rồi van vỉ. Nội bảo: “Chị mà chữa khỏi cho tôi, tôi không ho nữa. Rồi ai chăm vườn hoa?”. Mẹ nhìn ra những thảm hoa hồng vàng, xanh, đỏ… đôi mắt buồn hoang hoải mông lung Tiếp tục đọc

TÌNH TANG CÕI NÀY

Vẽ hoài con chữ mù tăm
Có khi níu được sợi tằm đang tơ

Vẽ đi vẽ lại bến, bờ
Tuột trôi nắm mãi cái gờ nhân gian

Vẽ hoài con chữ chia tan
Níu nhau một chút ngỡ ngàng, cỏ may

Vẽ trăm đường mộng, ô hay
Loanh quanh vẫn một cõi này tình tang

Vẽ đi vẽ lại thời gian
Vẽ đi vẽ lại một ngàn niềm vui
Có khi sểnh chút ngậm ngùi…

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

LỐI NHỚ

Lối em về
chẳng có anh
Gió mồ côi
nhớ
chiều xanh lá tình
Nghiêng theo bóng
dưới chân mình
Nỗi đau
thui thủi
choàng vin áo đời
Lối em về
chẳng thấy tôi
Nắng lom lom
tiếc
chỗ ngồi bỏ không
Chắt chiu
nhặt nhạnh tơ lòng
Dây dưa
khổ lắm
má hồng , mắt đen
Lối em về
chỉ còn em
Mũi dao
đem cắm
vào tim kẻ nào ?
Liêu điêu
hụt bước ngã nhào
Lạnh tay
mới biết
phụ nhau , thật rồi

TRẦN VĂN NGHĨA

Em cứ hẹn, nhưng em đừng đến nhé!

Phạm Hoài Nhân

ms8SH5AryqIcp18c-lnGIWA

Thời buổi này, nhiều áng thơ tình tuyệt tác ngày xưa bỗng nhiên trở nên vô nghĩa. Thí dụ như đoạn thơ sau đây của Nguyên Sa:

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Anh thay mực cho vừa màu áo tím

Cái khoản áo vàng, áo xanh, yêu hoa, mến lá thì giờ này vẫn còn tạm hiểu và chấp nhận được đi. Thế nhưng cái vụ thay mực tím để viết thư tình thì đúng là hổng hiểu! Giờ này ai còn viết thư nữa? Người ta chỉ gởi email thôi! Mà giả dụ như là có viết thư đi nữa cũng có ai xài viết mực đâu mà thay mực? Người ta xài viết bi!

Ngay cả chuyện gởi email giữa đôi trai gái cũng dần trở nên hiếm. Chưa tiếp xúc nhau ngoài đời, chưa thân thiết thì nói chuyện với nhau qua mạng xã hội, qua blog, hoặc chat. Quen nhau rồi thì a lô hoặc nhắn tin qua điện thoại là xong ngay. Tất cả những chuyện này đâu cần phải ngồi trong khuê phòng, bên án thư mới làm được, mà chỉ cần một cái xì-mát-phôn là có thể thực hiện ngay mọi nơi, mọi lúc. Xì-mát-phôn thì bây giờ ai mà chả có chứ Tiếp tục đọc

Nước Mắt Trước Cơn Mưa (68-82)

img25

WOLF LEHMANN
(Phó Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam)
“Đây điện văn cuối cùng của toà Đại Sứ Mỹ ở Sàigòn”

Cuối năm 1974 sau vụ thất thủ Phước Long, toà Đại sứ Mỹ mỗi lúc một thêm lo ngại: Có những dấu hiệu và tin tình báo cho thấy Bắc Việt sẽ mở cuộc tấn công lớn vào đầu năm 1975. Quả nhiên chuyện đó xảy ra.

Một trong những dấu hiệu báo trước là việc phái bộ quân sự Liên Sô viếng thăm Hà Nội. Phái bộ đông đảo này cầm đầu bởi tướng Victor Kulikov, phụ tá Tổng trưởng quốc phòng (sau là Tư lệnh lực lượng Sô Viết ở Âu Châu thuộc khối thoả ước phòng thủ Warsaw). Họ đến Hà Nội khoảng mười ngày trước Lễ Giáng Sinh 1974, ở lại một tuần lễ, lý do bề ngoài là để tham dự ngày Quân Đội Việt Nam. Dù các tin tình báo không đồng nhất, người ta vẫn có thể thấy rõ mục đích chính của phái bộ này đến để hoàn tất những sắp đặt giữa Hà Nội và Mạc Tư Khoa về việc tăng cường súng, đạn và chiến xa. Lúc ấy Trung Hoa đã co lại, nhưng chưa đến mức trầm trọng như sau này Tiếp tục đọc