GỞI CHIẾC RĂNG KHỂNH NGÀY XƯA

Ngậm ngang môi cọng nắng vàng
Chiếc răng khểnh giấu bóng hoàng hoa phai
Môi cười giấu nụ sớm mai
Biết đâu đã chạm cõi ngoài tịch nhiên
Bên đời một đóa đỗ quyên
Buổi mãn khai đã lụy phiền chia xa
Thôi em tình vọng giang hà
Trăm năm vẫy gọi – mãi là hư không

( …với Đỗ Ngọc Quyên )

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

CA DAO BÌNH ĐỊNH Ở KONTUM

Muốn ăn bánh ít lá gai
Câu ca như tiếng thở dài trong ta
Điều hôm trước chẳng nói ra
Để trăm năm mãi sương sa mịt mùng

Này em gái nhỏ Kontum
Có gì mà phải ngại ngùng nữa đâu
Tiếc gì cũng đã xa nhau
Ta về xuôi, em ở đầu non cao

Phải chăng em sợ những đèo
Ngại e bão lụt chẳng theo ta về
Nửa lòng muốn, nửa lòng chê
Giam ta vào giữa bốn bề gió mưa

Ta như một tấm vải thưa
Em-con mắt thánh, có lừa được đâu
Niềm mong ươc đã xanh râu
Long ta hợp phố mà châu xa lìa

Mười năm núi vẫn ngồi kia
Dakbla vẫn ngược nước chia đôi dòng
Mười năm ta chạy lòng vòng
Duyên gì nay bước ngựa hồng về đây

Xưa đừng nôm, ná-hai tay
Đời ta đâu đến nỗi này-lênh đênh!

TRẦN VIẾT DŨNG

GIỌT TÌNH HÔM QUA

Ngồi buồn
nhớ lại em
thời
Trắng da
dài tóc
ngày chưa lấy chồng
Vườn cà
anh nhón gót chân
Bưởi chưa trèo hái
tầm xuân vội tàn
Vai ngoan
chưa kịp anh hôn
Tay ngà
áo lụa vội vàng em đi
Xót xa
mấy nẻo từ ly
Nắng phai rồi
lá tình si nửa đời
Nửa đời anh
mất mùa vui
Nửa đời em sống
bên người không thương

Linh Phương

Ý nghĩa chữ MÙA THU và THIÊN THU trong KINH THÁNH và ngoài đời

Phan Văn Phước

kinhyhanh

I. Chữ THU trong KINH THÁNH

A. Trong Cựu Ước

Theo chỗ tôi được biết, trong Cựu Ước, đối với Dân Do Thái, THU không diễn nghĩa sự vàng úa của cỏ cây và cảnh xế chiều của đời người, NHƯNG là SỨC MẠNH, NÉT CƯỜNG TRÁNG của tuổi THANH XUÂN. Tuy nhiên, chỉ có một lần nói về THU, về sự LUYẾN TIẾC CHUỖI NGÀY XA XƯA như sau: ”Ông Gióp tiếp tục ngâm nga: Làm sao tôi được như những tháng năm xa xưa, được Thiên Chúa giữ gìn khi ĐÈN của Ngài chiếu sáng trên đầu tôi và khi, trong bóng đêm, tôi bước đi theo ánh sáng của Ngài, như những ngày THU (as in my autumn days), khi Thiên Chúa chở che lều trại của tôi, khi Ðấng Toàn Năng còn ở bên tôi, các con trai tôi quây quần… lời tôi nói như giọt mưa thánh thót. Họ đợi tôi như chờ cơn mưa, há miệng ra như thể đón mưa xuân.” (Gióp 29,1-23)

THU cũng là thời kỳ THU (THÂU) hoạch mùa màng do công sức mình làm ra. Cho nên, Caïn và Abel đã dâng lễ vật lên Thiên Chúa vào mùa THU hoạch nầy. Abel thì dâng chiên cừu ĐẦU LỨA và MỠ BÉO của chúng; còn Caïn thì trái trăng đồng ruộng Tiếp tục đọc

CẢNH CHIỀU NHÀ BẠN

phố nghiêng chiều mưa bụi
động đốm lửa bên nhà
cây ổi già khô trái
còn ráng nở vài hoa

góc đèn đường bật sáng
con chó lầm lũi đi
hiên nhà đưa chiếc võng
tiếng sóng xa vọng về

nỗi sầu chưa kịp đọng
vui tuôn lên môi rồi
bàn tay sờ râu rậm
muốn nắm thời gian trôi

bạn đưa mời ly rượu
chưa uống đã muốn say
hoàng hôn vừa đổ ập
lên trọn đáy ly này

lất phất mưa chẹn lối
võng chiều đu đưa lòng
muốn nằm cho trọn buổi
bạn giục uống cho xong

ừ, thì ta dậy uống
giữa mưa chiều mù giăng
biết chừng nghe thấy được
tiếng mây tàn dưới trăng?
PHÙ DU

CHIỀU Ở CÀ PHÊ DA VÀNG

Một chỗ ngồi quen thuộc
Góc cà phê Da Vàng
Mùa thu qua cửa sổ
Chậm bước chiều lang thang

Qua từng ngày mệt mỏi
Qua một đời gian nan
Tiếng vĩ cầm rơi nhẹ
Xin chốn về bình an

Hạnh phúc đừng như khói
Đến một lần rồi tan
Giọt cà phê ngọt đắng
Trong bóng chiều bay ngang.

SAO

Huế và KT

Nguyễn Hoàng Quý

huekt

Sau năm đầu học MPC ở Đà Lạt thất bại, tôi về Huế, đầu năm học 1969-70.

Thật khó quên buổi chiều đầu tiên ra Huế chuẩn bị ghi danh nhập học Văn Khoa khi lòng không còn muốn và cũng không thể học MPC được vì Đại học Khoa học đã bắt đầu trước đó khá lâu.
Từ Đà Nẵng, các anh gửi người quen cho tôi đi nhờ một xe quân sự ra Huế, mưa suốt từ chân đèo Hải Vân ra và ra càng gần Huế càng nặng hạt, tới chợ Đông Ba đã hơn 5g chiều, mưa vẫn mù mịt, tôi vào chợ ăn tạm dĩa cơm rồi đi cyclo về 127 Huỳnh Thúc Kháng dưới mưa lướt thướt tìm người quen đang sống ở cư xá sinh viên này để nhờ xin giúp việc trọ học.

Cư xá lúc đó đang giờ cơm, người ăn xong, kẻ sắp sửa, đông đúc, lố nhố không ra thể thống gì nhưng thật sự mình mong được là thành viên của cái đông đúc đó! Rất may, mọi chuyện ổn, tôi ghi danh học Văn khoa và được ở một phòng 3 giường sau phòng khách, khỏi phải dính dáng 4 dãy giường trên và dưới lầu, đông đúc, ồn ào quá!.

Sinh viên học năm tư ở đây khoảng 5-7 người nhưng gần gũi nhất với tôi là anh Phong, học Việt Hán và anh Châu học Luật. Các anh đối xử với tôi thẳng thắn, chân tình, thường tâm sự, sẵn sàng chỉ bảo, nhắc nhỡ cho tôi nhiều chuyện như đối với một đứa em.

Bận rộn cho năm cuối ra trường, tôi vào ở không lâu thì anh Châu không đi dạy kèm nữa, anh hỏi tôi thích thì anh giới thiệu, thích quá đi chứ, anh đưa tôi đến giới thiệu với gia đình nơi anh đã dạy trước đó mấy năm, không lâu sau tôi thay anh Tiếp tục đọc

CHIỀU …CHỢT MƯA TUỔI THƠ.

Mưa ngắn mười năm nhìn mây tan
Tình yêu bao lần qua không biết
Mòn gót giầy lang thang ngõ trăm năm…
Hoa cỏ nào bên kia thản nhiên chờ

Mưa rong rêu trôi tuột trí nhớ
Khoảnh khắc tưng bừng mưa con thuyền giấy lật nghiêng
Hát lên lời vô vọng
Cũng trôi

Ngày tháng quên chỉ mình em ngồi đếm
Sợi dài mượt mà  đan, sợi vắn cất riêng mình
Chỉ một bờ vai nghe đã mỏi
Sao tôi gánh nổi hết trần gian?

Chiều nay phố mưa dài
Ngồi co chân cợt đùa rác rưởi
Nồng nàn mùi chợ búa, ngai ngái bùn hố ga
Mây đùn khói dựng đầy ắp tuổi thơ
Mưa rơi hay tôi rơi

Mưa ngắn chẳng khiến đất bồn chồn
Chẳng níu được tôi khỏi hiên người
Chẳng dắt dìu tôi về chốn cũ
Ngày nào cất bước ra đi

Chiều mưa tuổi thơ chợt qua
Để lại một khoảng trời vợi nhớ…

TRƯƠNG QUANG KHÁNH

HẠT TỪ BI

Trăng non đầu tháng trăng cười
Em non dạ bởi em hời hợt yêu
Lần đầu hồn phách phiêu diêu
Có ngờ đâu chỉ là yêu quỷ về
Tròn trăng giữa tháng cập kê
Em mười sáu đã phu thê cùng người
Sân si nếm trải cuộc đời
Ngậm cay , nuốt đắng từng tôi luyện nhiều
Lưỡi liềm trăng cuối tháng , chiều
Em già dặn nghiệm những điều thế gian
Vô thường tròn khuyết , hợp tan
Bi hài như nghiệp lụy mang phận người
Chợt nghe tiếng hạc bên trời
Trăng vằng vặc sáng mặc đời thịnh suy
Bàn tay vỡ đất xuân thì
Gửi người xưa hạt từ bi nẩy mầm !
TRẦN BẢO ĐỊNH

ĐOẠN TRƯỜNG

NGUYỄN TRÍ

103985

Bảy Mẫu lừng danh Long Mỹ với nghiệp cờ bạc. Bảy mẫu đất, bò hơn hai mươi con. Tất cả đội nón ra đi bởi thâu đêm suốt sáng ở tùm lum sòng. Không môn chơi nào ở lãnh vực nầy Bảy không sành. Đủ sành để thua.

Ba đứa con, Bảy giao cho vợ. Bà xã chỉ có bổn phận chăm. Vậy thôi. Mọi thứ bà không cần biết tới. Đất của tui, bò của tui, tui không để bà thiếu thốn là được rồi, còn tui làm cái gì, bà chớ có thắc mắc. Ý nầy chẳng qua con ma cờ bạc nó xúi. Ghiền rồi, lậm quá rồi. Mà sao kỳ vậy kìa? Hai chục con bò không còn một con. Bảy mẫu không còn một tấc. Cái lô thổ bà Bảy không làm dữ và giấu sổ đỏ, e là ba đứa con đã ra sân đình mà ở. Thua vậy sao không dừng lại? Ma mà. Ma đề, ma túy, ma cờ bạc, ma tình yêu. Một trong bốn con nầy ám vô ai người đó chết liền… Thần cỡ công an với ba cái lao động công ích cũng bó tay chịu phép. Hối hận đó, ăn năn đó, kiểm điểm đó, hứa đó… vừa cho về đã tọt vô sòng. Phải gỡ chớ, thua là phải gỡ. Gỡ riết cái ghẻ phải chảy máu… Có câu cờ gian bạc lận. Bọn cái nhử cho ăn đã đời, nửa đêm nó lấy lại, tới sáng là đi sổ đỏ. Lâu lâu lại cho cầm về nhà ra cái vẻ ta đây ăn bạc, mời bạn bè làm vài khung, vài két vui chơi. Hôm sau sạch bách thêm một câu đe: “- Đù kịnh… Không giao sổ là ông nội mày dưới đất tao cũng lôi lên à…” Không phải mấy tay huyện đề đã tuyên bố rằng “- Chỉ có cái mã mày xây là tao cho, chớ cái gì mày đang có là tao cho mượn” Tiếp tục đọc