ANH CÓ THA LỖI CHO TÔI KHÔNG?

Thuỵvi

ANHCTHALICHOTIKHNG

thuỵvi

.

Mà khi tóc đã hoa râm
Khi mái đầu đã bạc
Khi ta đã đi qua những giông–bão–biển–bờ
Còn thấy tựa bên vai mình
Một tình yêu không thất lạc…

( ĐTQ )

Có một con hẻm thẳng băng nhưng sâu hun hút, đầu hẻm là con đường Hùng Vương, bây giờ họ đổi tên là Xô Viết Nghệ Tỉnh. Con hẻm tuy không chạm đến đáy con kinh Nhiêu Lộc như con hẻm nhà cũ của Đỗ Trung Quân, nhưng con hẻm được nối bằng cây cầu gổ băng qua một gò đất nổi nằm kế cận dòng sông băng qua cầu Sàigòn.

Con hẻm có ngôi nhà tôi ngày xưa.

Mấy mươi năm trôi qua, cây cầu ván mong manh biến mất, dòng nước như con suối vắt ngang biến mất. Những ngôi nhà lam nham còn đó, tuy có mọc cao hơn, đỏm dáng hơn, nhưng chúng nó vẫn chen chút dành nhau đứng hổn độn.

Không giống như Đỗ Trung Quân mỗi cuối năm trở về ngồi bên kia đường nhìn qua con hẻm cũ chổ mẹ ông ngồi bán hàng để ngậm ngùi nhớ mẹ.

Tôi đang ở xa lắm, năm thưở mười thì mới trở về thăm con hẽm cũ, ghé nhìn ngôi nhà cũ, giờ đã không còn người chủ cũ. Ghé về, đứng lặng trước hàng hiên, phóng mắt nhìn về hướng nơi cây cầu gỗ cũ nay đã xoá mọi dấu tích để ngậm ngùi.

Một buổi tối thật buồn – tôi trở về, đứng đấy – phó mặc những cái nhìn tò mò xoi mói của những người chung quanh.

Tôi đứng đấy – bên mái hiên, nhìn ra chỗ có cây cầu gỗ ngày xưa. Nhớ một người đàn ông.

Giờ, tôi không biết anh ở đâu? Nhưng tôi biết anh còn sống, sau lần tôi tưởng anh chết.

Lần đó, chiếc trực thăng anh rớt xuống giữa đám rừng mù mịt. Khi toán giải cứu ập đến, chỉ thấy một khối sắt khổng lồ chỏng chơ. Co-pilot nằm im với viên đạn xuyên qua ngực. Còn lại, tất cả biến mất Tiếp tục đọc

HƯƠNG TÓC RỐI

phamkhanhvu

Em đã xa nghìn trùng như cánh vạc
Cuối mùa mưa bay từng giọt mong chờ
tường vi nở hai hàng hoa tím ngắt
Gọi tôi về hương tóc cũ năm xưa

Thôi thì dám nói chi lời vĩnh biệt
Giữa đường về se sắt cọng mưa hoa
Tôi còn đứng bên này sông tưởng tiếc
Còn âm thầm chong mắt ngó xót xa.

Em biền biệt , mưa cuối mùa không dứt
Ôi một ngày tháng tám khói thu xưa
Tôi chỉ có một thời trong mơ ước
Ôi một thời chim sẻ rất ngu ngơ

Em đã xa nghìn trùng như cánh vạc
Từ một lần tôi vụng dại chia lòng
Tôi còn đứng giữa trời cao ngơ ngác
Và khóc òa chiều vỡ rất mênh mông …

Phạm Khánh Vũ

Trích lời bạt của nhà thơ Trần Dạ Từ trong tác phẩm BIỂN RỘNG HAI VAI :” Rất lạ mà cũng thật  quen. Có cái gì đó vừa lay động. Rất xa mà thật gần. Rất cũ mà thật mới. Chỉ cảm thấy là nó lấp lánh mãi…khi đọc Trần Nguyên Đán.”

Phạm Khánh Vũ của Tuổi Ngọc , cũng là Thương Vũ Minh của Tuổi Hoa ,và bây giờ là mục sư Trần Nguyên Đán…Bạn có thể đọc những tác phẩm của ông trên các trang da màu , tiền vệ hoặc songdao v.v… nhưng với tương tri ,ông sẽ mãi mãi là Phạm Khánh Vũ , một nhà thơ đã làm rung động nhiều trái tim của thời mới lớn.

Hiện ông sống và làm việc ở Maryland , Hoa Kỳ.

HỒN ĐÁ

Sương khuya mờ đám cỏ
Lay động cõi trời mơ
Gió lùa qua kẽ lá
Tượng đá ngồi chổng chơ !

Cheo leo trên vách đá
Lạc lõng tựa lưng đèo
Nghe lá vàng rơi rụng
Xào xạc vũng trăng khô

Kìa cầu treo lỗi nhịp
Bắc ngang hòn giả sơn
Đìu hiu trông lạc điệu
Bên rặng đồi cô đơn

Ai đi dọc bờ đê ?
Dưới thềm non sương trắng
Gánh trăng về ngõ vắng
Tưới sông -hồ- suối – khe…

Người ơi ! Chớ hững hờ !
Cội nguồn cạn xác xơ
Đá ngàn năm trơ lệ
Khóc thương đời xót xa .

Nguyễn Ngọc Thơ

TRONG SUỐT NHƯ KHÍ TRỜI

Khuất Đẩu

16759232-md

Lúc ấy là buổi chiều. Những cột khói quằn quại tuôn ra từ các ngôi nhà bị pháo kích khiến cho một phần bầu trời của bờ nam tối ám như có cả triệu con mực đang xả nước đen để trốn chạy. Ánh nắng tháng tư trong vắt là thế bỗng trở nên đục ngầu, sủi bọt..

Chiếc T54 lầm lì qua cầu, nòng pháo của nó chỉa thẳng vào những công sự vừa mới xây vội bằng bao cát. Những thân người suốt mấy ngày qua thiếu ngủ thiếu ăn và hiện đang thiếu đạn bị hất tung lên. Trung đội trưởng cố hết sức gào to trong tiếng đạn nổ: “thôi anh em tan hàng, cố mà về với vợ con!” Người binh nhì chưa kịp hiểu ra cái lệnh lạ lùng ấy thì một tiếng nổ nhỏ vang lên và vị chỉ huy đã ngã gục xuống bên cạnh. Khẩu súng colt vẫn chưa rời khỏi tay. Anh cúi xuống định nâng ông ta dậy, nhưng một ngọn lưỡi lê cắm phập vào lưng, tiếp theo là một báng súng nện vào đầu. Anh chỉ kịp kêu lên hai tiếng Mẹ ơi! trước khi thấy mình mỏng manh bay lên như khói thuốc!

“Con bà sao chưa về?” Người cán bộ thôn hỏi với giọng hạch hỏi chứ không phải thăm hỏi. Người đàn bà vội dấu tấm hình ra sau lưng nói: “tôi làm sao biết được”. Tiếng nói nhỏ nhưng vẫn đủ sức làm cho không khí rung động như những gợn sóng trên mặt ao. “Vậy là chạy theo thằng Mỹ rồi. Đã ba năm mà chưa về chắc là nhập bọn với tụi Fulro. Liệu hồn đấy”. Cái cách hăm dọa của ông ta làm cho mặt đất bỗng nhiên nghiêng hẳn khiến người thì cao tít trên mái nhà, người thì thấp tận đáy giếng. Ông ta đi rồi mà bà vẫn còn hụt hơi như ngộp thở. Bà áp tấm hình lên ngực và sau làn áo đẫm mồ hôi, hai cái vú khô chợt thức dậy sau hai mươi năm, như có đôi môi bé bỏng chạm vào Tiếp tục đọc

DÃ QUỲ

Nghe em mùa chín đồi xưa
Trăng loang sông gió ngự bờ chiêm bao

Tôi về Eo Gió nao nao
Ngại vàng vai áo rụng vào tương tư

Đà mây, Lạt gió… hình như
Và hình như phố ảo từ mắt em

Dốc người run mấy chân quen
Cầm hoa em ghé hiên mềm cỏ sương

Đà Lạt xanh, Đà Lạt hương
Dã quỳ ơi chớ quên đường nhà tôi!

Phan Rang, 15.11.2005
BÙI DIỆP

THƠ ĐỀ TRÊN CHIẾC LÁ

Mỏng manh làm chiếc lá me
Chở bao sương khói đi về với em
Bờ vai nghiêng nắng mai lên
Để ngày mưa tới vờ quên tuổi mình

Thời gian là cõi vô tình
Đi qua mái tóc lặng thinh– bạc màu
Vui buồn ai thắt lòng nhau
Bóng hình thưa thớt qua cầu nước trôi

Thương em bỏ lại chỗ ngồi
Ngỡ mùa lá rụng quanh tôi còn nồng
Đêm nằm chờ mảnh trăng cong
Mới hay cơn gió ngoài song se buồn

Hàng cây im bóng bên đường
Loài chim khản tiếng qua vườn gọi thu
Nhẹ không một lớp sương mù
Em xa cuối dốc bay vù lũng xanh

Người đàn nhặt sợi tóc mình
Hỏi ai vương vấn cuộc tình đã xa
Đứt dây còn lại mình ta
Ngoài kia chiếc lá me già vừa rơi.

Từ Kế Tường

TÍM MỘT MÀU IRIS.

Tôn Nữ Thu Dung

il_570xN.289174882

Trong giấc mơ, Thùy Mị choàng chiếc khăn lụa màu tím sẫm, gió lồng lộng muôn phía như cuốn Mị và chiếc khăn bay cuồng loạn về phía chân trời, tóc Mị trôi dài vương mắc như dãi lụa đen mềm trong chiều dần tối.Đôi mắt Mị chới với gởi đi một cái nhìn hoảng loạn. Tôi gọi Mị ơi, Mị ơi thảng thốt và thức giấc với những giọt mồ hôi đẫm áo.

Khung cửa sổ mở ra một khoảng trời cao xanh trong và dập dờn những đóa Iris như sóng lượn. Có lẽ giấc mơ của tôi đã nhuộm tím sẫm màu Iris tự bao giờ…

Đôi mắt Mị luôn rủ xuống như một bóng tối thầm với hàng mi chấp chới. Đôi mắt của một con sóc buồn lẻ bạn… Khi nhìn thấy tôi, Mị ra dấu cho tôi ngồi cạnh… Quyển Kinh Thánh bằng cổ ngữ với chiếc bìa da thú lạ mắt của một Mục Sư tặng Mị ở đảo Pattaya nằm ngay ngắn trên bàn viết đang mở ra ở một trang bất chợt… Như một ngày nào trước đó ở quê nhà… chiếc bàn viết rộng chưng đầy thú bông và sách vở luôn có một quyển đang mở nửa chừng để lúc nào gặp tôi, đôi mắt Mị cũng rực sáng hồn nhiên.

– Mị đang đọc Anh Chi Yêu Dấu… dễ thương ghê vậy đó Tiếp tục đọc

Đi Tìm Thương Nhớ…!

Ghế đá giờ lặng im
Hành lang giờ lặng im
Gió ngập ngừng không thổi
Hương thừa em còn nguyên?

Còn mình anh mình anh
Lối xưa chầm chậm bước
Nghe cây lá thì thầm
Những lời xưa hẹn ước

Giờ mình anh mình anh
Vạt nắng dài lối nhỏ
Đi về trong nhung nhớ
Tiếng cười em còn đây…

Giờ mình anh mình anh
Mơ hoài bao kỉ niệm
Thương một làn tóc rối
Bao năm mải miết tìm…

Giờ còn đâu còn đâu
Đôi mắt huyền diệu vợi
Giờ về đâu về đâu
Một người đang ngóng đợi!

Trần Huy

CHÙM THƠ NHỎ CHO NHA TRANG

CÂY PHONG BA TRONG PHỐ

Kiên gan với nắng đối mặt với gió
Tán lá xoè ô che đất khô cằn
Quên sóng biển dịu êm và cuồng nộ
Xếp hàng chờ người cũ lại về thăm.

ĐAN VIỆN CARMEL

Người nữ tu lặng yên dường Đức Mẹ
Hiến lòng thành trong suốt tựa pha lê
Ta vô thần lạ nhìn như đứa trẻ
Đến lượt ta yên lặng đếm chân về.

RỪNG XƯA

Bãi Tiên đón người ngang lưng núi
Phố biển xa mờ trong nắng thu
Triều lên gọi sóng về thăm hỏi
Em hay rừng xưa thôi hoang vu.

Nguyên Vi

Ngũ Vị Hương

Lưu Thy

536299_421233611265351_858790252_n

Nhất dương chỉ
Nhị thiên đường
Tam tông miếu
Tứ đổ tường
Ngũ vị hương!

TỰA

“Anh thấy đó! Cái quán không có gì là bề thế. Cũng thường thường vậy thôi, xấu nữa là khác. Vậy mà đông khỏi biết! Anh có thấy xe đậu đầy ắp bên ngoài không? Tiệm chả quảng cáo quảng kiết gì hết! Cái bảng hiệu cũng do cha chủ vẽ, số 5 với chữ Hương sơn đỏ chói mới nhìn tưởng tháu, nhưng nhìn kỹ thì uốn éo lên xuống như bài quyền. Cha chủ tiệm là con nhà võ thứ thiệt! Chịu khó làm ăn, không tứ đổ tường! Anh nhìn ổng kìa, cầm dao cầm đũa làm món ăn mà cứ như múa quyền. Bà vợ thì hiền khô, ít nói, nhưng chế biến mấy món ăn mới thì khỏi nói, số một trên đời không ai bằng! Còn năm cô con gái thì …thì… biết nói sao đây…ơ…ơ… mỗi cô mỗi vẻ, không cô nào giống cô nào, như từng tờ lịch Tam Tông Miếu. Hễ đã tới quán này thì đi ngang qua không đói cũng phải dừng. Không phải mình tui, hình như ai cũng vậy! Không hiểu tại sao?”

Lời của anh tài xế cứ đều đều rót vào tai nhưng mắt tôi không ngừng theo dõi từng động tác, từng cử chỉ, từng điệu bộ của năm cô con gái ông bà chủ quán. Có cái gì đó gần gũi mà xa xăm lôi cuốn không thể nào tả được. Năm cô như năm tảng màu, năm nốt nhạc, hay đúng hơn năm mùi vị trong những đĩa thức ăn, trộn lẫn hòa quyện vào nhau mà thành một cái gì đó mới lạ mà lôi cuốn đến thèm thuồng.

Có phải đây là lý do tại sao?

NHẤT HƯƠNG

Ông chủ quán gốc gác người địa phương, dòng dõi con nhà võ, quê An Vinh An Thái. Được cha truyền gần hết món nghề, ông cha ỷ y có người nối nghiệp, ai ngờ thằng con có máu nghệ sĩ giang hồ, năm 16 tuổi đã xin cha mẹ thoát ly theo gánh Mãi Võ Sơn Đông. Hai ông bà can không được thằng con giang hồ lãng tử, bà mẹ chỉ biết khóc ròng, còn ông cha, sau một đêm hai cha con tâm sự, mới đem ngón Nhất Dương Chỉ và những đòn phép gia truyền còn lại mà dạy hết cho con Tiếp tục đọc