tình tôi lượm được sau nhà
nhớ nhung như giải ngân hà ướt sao
em về giữa giấc hư hao
tờ thư ngày cũ vàng bao nhiêu sầu
hẹn nhau ngày ấy qua cầu
ngờ đâu sóng vỗ chìm sâu bóng người
Lê Minh Châu
tình tôi lượm được sau nhà
nhớ nhung như giải ngân hà ướt sao
em về giữa giấc hư hao
tờ thư ngày cũ vàng bao nhiêu sầu
hẹn nhau ngày ấy qua cầu
ngờ đâu sóng vỗ chìm sâu bóng người
Lê Minh Châu
MIKE MARITO
(Chuyên Viên Quay Phim)
“Ngập cứt?”
.
Tôi là chuyên viên thu hình của chuyến bay cuối cùng ra Đà Nẵng hôm ấy. Bruce Dunning, Mai văn Đức và tôi đã xin được phép đi với Ed Daly. Khi chúng tôi hỏi để xin theo, ông ta bảo “Tất nhiên là được, càng đông càng vui.”
Khi chúng tôi sắp hạ xuống Đà Nẵng, hai hàng phi đạo dưới ấy hoàn toàn trống trải, không một bóng người. Không có gì trên đường bay hay đường vào bến cả. Hình như, cũng không có ai lai vãng ở các khoang chứa máy bay. Mọi sự có vẻ trái hẳn với các nguồn tin chúng tôi nghe nói là Đà Nẵng sắp sụp đổ.
Chúng tôi dự liệu gặp cảnh hỗn loạn và một đám động giận dữ, nhưng từ trên máy bay chúng tôi nhìn thấy Đà Nẵng và các con đường trong phố đều êm. Nên chúng tôi hạ cánh. Khi tàu bay từ phi đạo vưa quẹo vào đường bến thì đột nhiên người ta ùa ra từ các nhà chứa máy bay. Phi trường Đà Nẵng bấy giờ là một căn cứ không quân khổng lồ trong thời chiến, từ các nhà chứa máy bay của căn cứ khổng lồ ấy, chắc phải đến 20,000 con người chợt hiện ra và ùa tới máy bay chúng tôi. Họ ngồi trên xe jeep, xe gắn máy, thiết vận xa, họ dùng mọi thứ xe tư nhân – mọi phương tiện xe cộ mà loài người đang sử dụng – họ chạy đến chúng tôi. Chúng tôi dừng lại một lúc giữa hai phi đạo – Tôi cho máy thu hình chạy. Trước khi thấy đám người này, chúng tôi định ra khỏi phi cơ. Nhưng chợt tôi có cảm giác ruột gan quặn thắt – cái cảm giác của những người làm tin chiến trường. Tôi tự bảo “Đừng, đừng ra khỏi tàu bay.” Những người này đang hoảng hốt. Bất cứ người nào nhỏ con đến đâu nhưng khi hoảng hốt, họ mạnh hơn mình nhiều. Tôi đem máy quay phim ra phía cầu thang sau, đứng đấy thu hình. Trong lúc phi cơ còn di chuyển, người đã chạy ùa lên thang. Chắc có người đã leo qua bên hông cầu, bẻ cong lại, nên cầu thang không rút lên được nữa. Trong khi tôi đang quay, họ bắt đầu bắn lẫn nhau. Họ nổ súng loạn xạ từ phía sau để chen lại gần máy bay. Lúc đó, tôi ngoảnh lại bảo Bruce “Mẹ kiếp, bọn mình ngập cứt rồil”
Chúng tôi chạy rà quanh phi trường. Cuối cùng Daly quyết định ông ta nói: “’Bay mẹ nó khỏi đây đi.” Lúc ấy chúng tôi bắt đầu cất cánh từ ngay cuối đường bến. Chúng tôi đụng một cái xe khi bắt đầu bốc lên. Mấy bánh xe bên trái tông phải một cái xe jeep. Lúc đầu tôi tưởng là chiếc máy bay vẫn còn chạy rà rà vì tôi còn đứng trên thang tàu bay. Chợt nghe máy rú tôi mới nghĩ “Mẹ kiếp, mình hãy còn đứng trên thang.” Tôi không muốn bay khỏi mấy bực thang chút nào. Lúc ấy có năm người Việt Nam đứng ở những bực dưới. Khi mũi tàu chống lên, lực bay và vận tốc bắt đầu bung mấy người ra. Một người cố bám được một lát, nhưng khi tàu bay lên khoảng cao độ 600 feet, anh ta buông tay bay như lính dù. Tôi chứng kiến anh ta bắn vụt ra không trung. Không thể tin được!
Lúc ấy ý nghĩ chạy qua đầu tôi là: “Phải sống sót trong vụ này, phải thu tất cả hình ảnh vào phim. Đây là giây phút khởi đầu của sự sụp đổ một quốc gia. Quốc gia này đã cáo chung. Đây là lịch sử, ngay đây, bây giờ. Phải ghi lấy lịch sử này bất kể cá nhân tôi đang cảm thấy như thế nào.” Tôi rời cầu thang, thu hình qua cửa sổ máy bay. Suốt lúc bay về, tôi mang nỗi hoài nghi – một nỗi hoài nghi hết sức mạnh mẽ, tôi muốn nói: Không cách gì chúng tôi có thể hạ cánh được. Phi công của chúng tôi, Ken Healy không điều động được mấy cái bánh xe để hạ, họ bảo có một cái xác người vướng trên ổ bánh xe. Cánh máy bay và mấy cái vành xếp đã hỏng, xăng của chúng tôi tiếp tục cạn.
Tôi ngồi trong khu dọn ăn phía sau. Tôi không có ghế ngồi. Lính tráng trên phi cơ đều có súng M16, và súng lục 45. Tôi tính: dẫu máy bay không bị rơi, vẫn có thể xảy ra chuyện những người lính này cướp máy bay đòi sang nước khác. Chúng tôi thực lo ngại chuyện ấy suốt buổi. Nên sau, chúng tôi tìm cách nói với họ: “Này quý bạn, mấy thứ này có thể bất ngờ gây tai nạn – Quý bạn có thể giao cho chúng tôi chăng?” Đức và tôi đi quạnh nhặt nhạnh các vũ khí và những quả lựu đạn. Chúng tôi dùng băng keo quấn lựu đạn để giữ chặt kíp Iại, rồi bỏ ra phía sau phi cơ.
Chúng tôi hạ cánh xuống Sàigòn an toàn. Mỗi khi có trục trặc, cảnh sát luôn luôn tìm tụi quay phim – Nên chúng tôi một lần nữa, dự liệu trước việc này. Chúng tôi trao hết phim cho Bruce Dunning để ạnh ta giấu dưới áo khi chúng tôi ra khỏi phi cơ. Họ không biết là có một thông tín viên mạng phim thoát ra. Tụi tôi làm kiểu này hoài. Chúng tôi sẽ gây chú ý cho cảnh sát bằng những dàn máy móc quay phim để họ bu đến, rồi người thông tín viên chuồn đi. Quả nhiên cảnh sát Sàigòn giữ Đức và tôi một lúc – Nhưng Bruce đã lặng lẽ bước, như không biết gì đến chúng tôi. Anh ta mạng được mấy cuốn phim đi thoát.
Chúng tôi được hai giải thưởng với bộ phim ấy. Câu lạc bộ báo chí nước ngoài một giải, Hiệp hội nhiếp ảnh viên báo chí quốc gia một giải nữa. Đến bây giờ – Tôi vẫn không thực sự tưởng tượng nổi những chuyện ấy là một cơn ác mộng – nhưng cho đến bây giờ, mỗi khi nhìn thấy bất cứ cái gì nhắc nhở tới Việt Nam, lập tức tôi thấy hiện ra các hình ảnh trong hồi tưởng như một làn chớp. Bất cứ lúc nào thấy cái gì dính dáng đến Việt Nam tôi lại thấy làn chớp ấy. Nó trong suốt như pha lê trong trí tôi. Suốt đời, tôi sẽ không bao giờ có thể quên.
NMTCM/P1NM/C1/MM
Linh Phương & Tôn Nữ Thu Dung.
1.
Bảy mươi lăm , miền Nam Việt Nam bại trận khơi khơi
Trọng Thủy xuống tàu , lại lên tàu tìm con bồ Mỵ Châu giữa bốn bề khói lửa
Lông ngỗng cháy rụi rồi , tro tàn bay ngút trời khóc kinh thành thất thủ
Mất dấu đường bôn đào , Trọng Thủy vào trại giam làm ngụy tặc nợ máu với nhân dân
Truyền thuyết tam sao thất bản bảo rằng :
Mỵ Châu chết dưới đường gươm An Dương Vương
Máu chảy ra biển đông hóa thành hạt ngọc
…Nhưng lịch sử cũng viết sai sự thật
Để ngàn sau Trọng Thủy mang tiếng kẻ bạc tình
An Dương vương không hề giết con mình
Bởi thần Kim Qui chỉ là con rùa nói dóc
Mấy mươi năm lưu vong Mỵ Châu sống đời hạnh phúc
Bên nhung lụa gấm hoa quên Trọng Thủy vất vả ở quê nhà
Truyền thuyết xa xưa giờ đã phai nhòa
Mối tình quá khứ mờ mờ trong ngăn ký ức
Thiên hạ ơi ! Ai biết hơi thở Trọng Thủy sẽ còn hay mất
Và trái tim đau ngưng nhịp đập sớm mai nào !
2.
Ngày Mỵ Châu về tìm chẳng thấy âm hao
Có phải Trọng Thủy xưa đã tan vào thiên cổ
Ai nói : Máu chảy ra biển Đông sẽ hóa thành ngọc đỏ
Chỉ thấy nước mắt là mưa rơi xuống tự thiên đàng
Từ bao giờ truyền thuyết vẫn đa đoan
Trọng Thủy , Mỵ Châu vướng lời nguyền cũ rích
Tình yêu đẹp họa hoằn chỉ còn trong cổ tích
Nửa vòng quay trái đất rất vô tình
Và lòng người muôn thuở vẫn chông chênh
Dựa vào đâu cũng thấy mình hụt hẫng
Nếu trở lại quãng thời gian đã mất
Mỵ Châu thề …dzớt Trọng Thủy cùng đi…
Tôi mang theo nỗi nhớ
Của dòng sông hẹn hò
Của quê hương gầy guộc
Với một lời thề xưa
Tôi mang theo ký ức
Tôi mang theo nỗi buồn
Hành trang tôi chất ngất
Một khung trời yêu thương
Tôi chìm trong dĩ vãng
Tôi trôi theo dòng đời
Bao nhiêu năm đất khách
Bấy nhiêu ngày lưu vong.
Tôi, và tôi thuở ấy
Tôi, và tôi bây giờ
Ai từ ngàn năm trước
Thả xuống dùm giấc mơ…
Tạ Chí Thân
JOE HREZO
(Trưởng Trạm Hàng không)
“Chỉ sung sướng vì còn sống sót.”
…
Tôi là quản lý trạm World Airways ở căn cứ không quân Clark, Phi Luật Tân vào năm 1975. Tôi thi hành bất cứ công tác đặc biệt nào mà xếp Ed Daly muốn. Vì vậy khi một chiếc 727 của chúng tôi ở Việt Nam bị đạn, tôi nhận cú điện thoại bảo phải liên lạc với chủ tịch Philippines Airlines, cố thuê chiếc phản lực cơ Sydney Hawker 125. Tôi đoán hẳn Ed Daly có quen biết lớn với ông chủ tịch. Daly muốn thuê cái phản lực nhỏ này để chở một bộ phận thay thế cho phi cơ 727 ở Sàigòn. Tôi điện thoại nói chuyện với mấy người bên sở điều hành.
Họ đồng ý chuyến bay. Tôi gặp người trong căn cứ Clark, lấy được phép cho chiếc phản lực 125 hạ cánh. Chiếc máy bay đến Clark lúc 11 giờ đêm. Rồi tôi và cái bộ phận nặng 25 cân Anh kia bay đi Sàigòn trên chiếc máy bay này, đến Sàigòn khoảng 2 giờ sáng.
Khi đến nơi, tôi đoán có lẽ họ đã bắt đầu xài mấy chiếc phi cơ 727 để tải người từ Đà Nẵng vào rồi. Vụ này cũng ổn thôi. Vì vậy có hôm tôi đã leo lên làm một chuyến. Không lộn xộn gì. Ngày kế, tôi lại đi, có cả hộ tống bên toà Đại sứ đi cùng. Lúc hạ xuống Đà Nẵng vừa đến trạm Air America thì đám người ngợm khốn khổ tràn đến. Chúng tôi cho tàu bay vòng Iại, thả cầu, hai gã hộ tống bự con bước xuống, bắt đầu cho người lên. Người ta xô đẩy chen lấn, khi tàu đã đầy ứ họ còn cứ cố chui vào. Lính hộ tống có lựu đạn cay, đem ra xài. Chỉ báo hại bọn tôi hơn là cho đám dân: gió thổi ngược. Nhưng rồi cũng xong, bốc được người là chúng tôi về.
Nhưng hôm ấy khi toà đại sứ nghe Daly nói ông ta sẽ đi nữa thì họ bắt đầu nạo ông ta Tiếp tục đọc
Mười năm ở chợ không tri kỷ
Ta đứng thu thân một nỗi buồn
Sáng bảnh mắt ra ngồi độc ẩm
Chiều về tra vấn lấy lương tâm
Mười năm ở chợ, ơi trần trụi
Em ạ, em xa ở kiếp nào?
Có thấy ngày xanh ta chuốc mộng
Không thành nên đắp chiếu thương đau
Ở chợ đông, sao hồn cứ lạnh
Đốt thuốc hoài không ấm nửa chiều
Thiên hạ đùn nhau đi kiếm sống
Nhân ái? Tang – thương – ngẫu – lục nhiều
Ta bán rau xanh ngày mệt lử
Đêm còn ngồi đọc sách thánh hiền
Cố quên cơm áo – Vòng danh lợi
Sao đời nỡ hối thúc bên lưng?
Mười năm ở chợ không thay đổi
Tâm tánh ta xưa vốn thật thà
Đâu ước công hầu mơ khanh tướng
Bạc tuổi thanh xuân mong có nhà!
Hồn ta ở chợ thương quê cũ
Nhớ áo nâu xưa, nhớ mẹ già
Nhớ bông bưởi rụng đêm mười sáu
Thơm ngát môi em trước hiên nhà
Mười năm ở chợ không tri kỷ
Gác chuyện văn chương thấy chẳng đành
Nên ta độc thoại – Ta đây nhỉ?
Thương nhớ xa xăm một bóng hình.
Trần Dzạ Lữ
Tôi viết bài thơ tuổi học trò
Thuở hồn chớm mộng mắt vương mơ
Thuở đời quên bỏ từng tuổi lớn
Thuở biết tình yêu buồn vu vơ.
Thuở ấy thời gian đẹp tháng ngày
Và tâm hồn nữa cũng đổi thay
Mang hồn sách vở đi vào lớp
Gởi mộng và thơ ở lại ngoài
Em-chim sẻ nhỏ giữa sân trường
Đời em còn rộn những hồi chuông
Hồn em còn đẹp như màu áo
Đâu biết tình tôi đã nhớ thương
Tôi vẫn thầm riêng một góc chờ
Đường em đi hoa lá thành thơ
Tôi ngơ ngẩn đợi em về muộn
Áo trắng nguyên màu em có mơ ?
Rồi bỗng dưng trăm cánh phượng hồng
Nở vào mùa hạ nở bâng khuâng
Tôi ép tặng em màu hoa ấy
Để những mùa sau mỏi mắt trông.
Thuở ấy mùa thu hay mùa xuân
Thuở ấy đi qua chỉ một lần
Bây giờ mùa hạ bao nhiêu phượng
Nở hết vào tôi một nỗi buồn…
Tạ văn Sỹ
Quà tặng tháng tư của Tương Tri dành cho TẠ THI SĨ.
.

RC Gorman, Mother and Child
Đi khắp thế gian
Không ai tốt bằng mẹ
Gánh nặng cuộc đời
Không ai khổ bằng cha
Nước biển mênh mông
Không đong đầy tình mẹ
Mây trời lồng lộng
Không phủ kín công cha
Tần tảo sớm hôm
Mẹ nuôi con khôn lớn
Mang cả tấm thân gầy
Mẹ che chở đời con
Ai còn mẹ!
Xin đừng làm mẹ khóc
Đừng để buồn
Lên mắt mẹ – nghe không!
Đã đến mùa báo hiếu, tôi ngậm ngùi, tôi đã không còn mẹ để dâng một bông hồng cho mẹ. Nhìn bông hồng trắng mà các con cài vào túi áo của tôi, tôi nhỏ lệ thầm thì: Mẹ! Con nhớ mẹ, con thương mẹ!
Mẹ tôi, suốt một đời gian khổ lo toan. Làm việc quần quật từ sáng đến tối để mưu sinh, không một ngày hạnh phúc trong đời sống vợ chồng. Từ buổi sáng tinh mơ, mẹ đã ra vườn cuốc đất trồng cây, vồng từng luống đất, gieo giống, rải hạt, nhổ cỏ, cố gắng tạo cho ngôi vườn nhỏ của mình giống như vườn rau của mẹ ở Việt Nam.
Từ mùa xuân đến mùa hạ, từng giọt mồ hôi đổ xuống, vườn rau của mẹ đã xanh ngắt, lủng lẳng những trái bầu, trái bí, mướp hương ở trên giàn. Dưa gan, dưa hấu, bí đỏ bò lổn ngổn trên thảm cỏ. Mẹ tôi không bỏ sót một tất đất để gieo hạt, ươn cây.
Trong vòng mười năm, chúng tôi đã có một vườn cây ăn trái. Buổi chiều đi học về, bạn bè thường năn nỉ tôi cho chúng vào vườn để hái trái cây: ổi, quít, cam, hồng, bưởi, đổi lại là những bao thịt bò khô, kẹo gum hay chai nước ngọt.
Đã bao mùa xuân qua, chúng tôi đã sống trong tình thương của mẹ, chạy nhảy trong ngôi vườn tràn ngập ánh nắng và màu sắc: màu đỏ của hoa, màu xanh của lá và trái cây, màu vàng của ong bướm, màu cam của những con chim tung tăng trên cành quít, màu hồng của những trái thanh long leo lên tường nhà. Mẹ là mùa xuân, mẹ là trái ngọt, mẹ là suối nguồn hạnh phúc. Mẹ đã đem lại cho chúng tôi nhiều màu sắc của cuộc đời Tiếp tục đọc
Em hãy về Ninh Thuận với Anh
Để ngắm biển xanh – biển xanh Ninh Chử;
Để tắm nắng vàng, gió vàng Phan Rang;
Để được nhìn những cánh đồng muối trắng, thênh thang
Của Cà Ná, Đầm Vua, Phương Cựu;
Để được cầm trong tay những chùm nho xanh, tím, đỏ
Của quê hương Ninh Thuận yêu thương;
Để được trông tháp Pô Klong sừng sững, rêu phong,
Màu không gian, màu thời gian hội tụ;
Để được đi dưới phượng hồng quyến rũ
Của con đường Tháp Chàm – Phan Rang;
Để được nhìn đôi bàn tay rất đỗi khéo léo, dịu dàng
Của mẹ, ở làng gốm cổ xưa Bàu Trúc;
Để được ngắm những cô gái, cô tiên làng Mĩ Nghiệp,
Dệt bướm thêu hoa trên thổ cẩm quê hương;
Để được nghe tiếng trống pi-găng,
Tiếng trống pa-ra-nưng
Và tiếng kèn sa-ra-nai rộn ràng, vang vọng.
Ninh Thuận quê mình vòng tay mở rộng,
Ninh Thuận quê mình nhịp đời sôi động –
Nhịp tình yêu, nhịp sống… khôn nguôi…
Em phải về Ninh Thuận với anh thôi!
Ninh Thuận, 05-5-2005
Phan Thành Khương
Vô tình cầm lên con ốc rỗng
Nghe từ xa vắng những âm xưa
Đời cho tôi có em ngày ấy
Của một thời mộng lẫn vào thơ
Bốn mùa em giữ trên màu tóc
Trãi xuống vơi đầy cõi trăm năm
Đừng gom sương khói mùa thu lại
Sợ nắng vàng phai chỗ em nằm
Cầm tay em qua đường ngả trái
Nghe bước hồng khuya , bóng trăng tàn
Đi bên nhau đời còn rộng quá
Để bước xa rời nẻo nhân gian
Và vẫn thấy quanh chiều mộng mị
Hồn nhiên em áo trắng trinh nguyên
Hôn lên sợ màu tinh khiết ấy
Tan dưới bờ môi dấu nguyệt chìm
Mai sau rồi và mai sau nữa
Mùi hương kia chỉ có môt thời
Tôi về tìm lại màu hoa cũ
Để lúc xa người có chút vui…
Mai Việt