Trưng Vương, Nữ Thần Tự Do và Hòn Vọng Phu… Trong Lòng Người Di Tản Buồn

(Cảm ý từ thơ Lại Phương Hạnh, FB)

Tự do ơi em đứng giữa trời xanh
Em một mình và tôi cũng một mình
Em ngọn đuốc chơ vơ trên biển vắng
Tôi chân trần đã mỏi gót điêu linh
Tôi biết em cầm đuốc soi về đâu
Còn riêng tôi, vạn dặm cố hương sầu
Mùa hè xưa sau lưng tôi bỏ lại
Ngả nghiêng rồi, thành phố, tiễn đưa nhau
Và sau đó, bốn mươi năm lưu lạc
Buồn như buồn Chinh Phụ tiếng ai ngâm
Buồn như buồn Cung Oán bổng hay trầm
Ðêm tỉnh giấc Phương Tây nằm nhung nhớ
Không ôm con, cũ̉ng đầu ghềnh ̣lệ nh̉ỏ
Không xa chồng, cũng vạn thuở buồn tênh
Tôi là người di tản tṛót lênh đênh
Sau cuộc chiến, biết đâu là cố quốc?Người xa người bên đó khóc bên đây
Trắng mái đầu và trắng cả bàn tay
Ðêm khắc khoải chong đèn gương đối mặt
Xót xa gương đã lệch dung nhan này*

Ðèn soi đèn, than ôi, gương đối bóng
Nhớ ngày xưa Trưng Nữ khóc thương chồng
Khi gác kiếm, một mình trong chính điện
Có khác chi soi biển Nữ Thần mong

Buồn một mình dãi dầu trong mưa nắng
Mùa Thu vàng thương nhớ trót vây quanh
Tiếng gió đi theo buổi chiều hiu hắt
Như ru người khi mộng đã tàn canh
Thần Nữ ơi, em không buồn mất nước
Như tôi đây, lầm lũi kiếp du hành
Ðuốc sáng rực, trắng ngời thân xứ lạ
Vọng Phu hề, héo úa cả ngày xanhDƯƠNG NHƯ NGUYỆN

*“Xót xa một buổi soi gương cũ, đã lệch bao nhiêu mặt chữ điền.” – Nguyễn Bính

Tượng Nữ Thần Tự Do

 

Hình ảnh một ngọn đèn hải đăng, lấp lánh trong đêm tối mù sương trên đại dương sóng dữ, qua bao tháng ngày lênh đênh, luôn làm bừng lên nỗi vui mừng tột độ của người di dân hay tị nạn. Đó là ánh sáng cuối đường hầm tuyệt vọng, đó là bình minh hứa hẹn rực rỡ của một phận đời lưu vong. Di dân tin chắc sẽ đến được bến bờ an lành và qua rồi cơn mộng dữ. Nhất là ngọn hải đăng đó ở bến đỗ của một đất nước hứa hẹn đầy tự do, “miền đất của sữa và mật ong.” Đó là Tượng Nữ Thần Tự Do ở cửa biển New York. 

tuong-nu-than-tu-do2

Vị nữ thần này nay đã hơn 132 tuổi, chào đời trong một thành phố nhỏ ở Paris. Khởi đầu từ Edouard de Laboulaye, một chính khách chống chế độ nô lệ người Pháp. Sau chiến thắng của quân Union kết thúc nội chiến năm 1865, nước Mỹ trở thành biểu tượng cho tự do và dân chủ; ý tưởng xây một pho tượng tặng cho nước Mỹ kỷ niệm 100 năm giành độc lập từ Anh và tình hữu nghị với nước Pháp sẽ được thắt chặt hơn, Ðiêu khắc gia Auguste Bartholdi bắt tay làm tượng từ năm 1870, đặt tên là Nữ thần Tự do soi sáng thế giới. Một pho tượng bằng đồng khổng lồ cao 46m, nặng 204 tấn. Khuôn mặt của nữ thần tựa như mẹ của điêu khắc gia, cơ thể thì dựa theo người tình của ông. Ðầu đội mũ hình vương miện có 7 tia như tỏa ra từ mặt trời, 7 tia như 7 lục địa, 7 đại dương. Nữ thần choàng chiếc áo vải dài như các vị thần Hy Lạp cổ, tay phải nâng cao ngọn đuốc sáng, tay trái cầm tablet có khắc ngày 4 tháng 7, 1776, ngày Quốc khánh nước Mỹ. Thoạt đầu Bartholdi dự định cho nữ thần cầm sợi xích gãy đôi, tượng trưng cho sự giải thoát gông cùm nô lệ. Nhưng sau đó lại sợ biểu tượng còn gây chia rẽ sau khi nước Mỹ vừa kết thúc nội chiến. Vì thế sợi xích gãy được đặt dưới gót chân của nữ thần, phủ che bởi tấm áo dài. Ðầu bức tượng được Bartholdi bắt đầu từ Pháp năm 1877 để trưng bày trong Hội Chợ Thế Giới ở Paris 1878 nhằm quyên góp nguồn tài trợ, còn cánh tay phải cầm đuốc, trưng bày ở Hội chợ Hoàn vũ ở Philadelphia năm 1876 nhằm quyên tiền xây dựng bệ tượng. Kiến trúc sư tài ba Gustave Eiffel (người xây dựng tháp Eiffel) đã góp phần làm bộ khung sườn bên trong bức tượng.

Auguste Bartholdi

Ngày 17 tháng 6, 1885, hơn 200 ngàn người dân New York đổ xô đến dọc bến cảng Manhattan để chào đón chiếc tàu hơi nước Isére từ Pháp. Tượng được chở từ 350 miếng đồng mỏng đóng trong 214 thùng hàng. Người Pháp tặng tượng nhưng phần bệ thì do nước Mỹ đảm nhận. Và thế là một chiến dịch vận động quyên tiền xây dựng bệ tượng đài với giá 250 ngàn đô (tương đương 6 triệu đô ngày nay.) nhưng chỉ góp được 2/3. Thống đốc New York từ chối dùng ngân sách của thành phố, Quốc hội cũng không ủng hộ chi tiền. Baltimore, Boston, San Francisco và Philadelphia đồng ý chi tiền xây bệ với điều kiện phải dời tượng về địa điểm của thành phố của tiểu bang mình. Mọi chuyện chừng như đình trệ nếu không có sáng kiến và sự góp công của Joseph Pulitzer, ông đã dùng tờ báo The New York World của mình để vinh danh những người ủng hộ quyên góp tiền cho bệ tượng. Tất cả những ai dù ủng hộ vài xu đến vài trăm đều được đăng trên trang nhất của báo. Chiến dịch thành công với hơn 160 ngàn người đóng góp, trong đó bao gồm mọi thành phần, từ thương gia, đến chính khách, trẻ em và dân lao động. Trong vòng 5 tháng quyên được 101,091 đô. Ba phần tư trong số tiền đó từ những người lao động góp ít hơn 1 đô la.

Năm 1886, bệ tượng như một tòa tháp được xây xong và tượng Nữ Thần được lắp ráp dựng lên với độ chính xác và nhanh chóng đến ngạc nhiên trong mắt của cư dân. Tất cả đều do nhóm xây dựng gan dạ và cần mẫn của các di dân vừa định cư. Những lá đồng mỏng được uốn dập lắp ráp vào khung sườn thép làm cốt của Gustave Eiffel. Bức tượng được khánh thành trong đại lễ hoành tráng khắp New York. Ngày 28 tháng 10, 1886, mặc sương mù và ẩm ướt, chừng triệu người đổ xô đến New York tham dự cuộc diễn hành vĩ đại qua Manhattan và qua tòa nhà Stock Exchange, các tay buôn bán cổ phiếu hân hoan chào đón từ các khung cửa sổ trên tòa nhà, họ xé các ticket ghi cổ phiếu và tung xuống đường, trông như giấy vụn confetti bay lấp lánh khắp trời, (truyền thống tung giấy confetti được bắt đầu từ đấy!). Pháo bông, súng chào mừng và tiếng hò reo vang khắp trời vào tối ngày 1 tháng 11, 1866.

Đầu tượng trưng bày tại Hội Chợ Thế Giới ở Paris 1878

Cần phải kể thêm câu chuyện về bài thơ ngắn rất hay được khắc vào bệ tượng. Emma Lazarus là nhà thơ nữ trẻ 34 tuổi khi cùng các nhà thơ, nhà văn của New York cùng nhau góp tác phẩm để quyên tiền xây dựng bệ tượng đài Nữ Thần Tự Do. Một bài thơ ngắn sonnet sẽ được bán đấu giá, cùng với các tác phẩm khác của Mark Twain và Walt Whitman. Bà là một nhà thơ nữ trẻ và hiếm hoi trong thời kỳ xã hội còn trọng nam khinh nữ. Bà lại là con cháu của một gia đình di cư gốc Do Thái, nên hình ảnh của tự do luôn đầy ắp trong tâm khảm. Những ký ức của cha mẹ và người Do Thái phải tị nạn do phân biệt chủng tộc và tàn sát ở Nga những năm 1880 chừng như không phai mờ. Và bà viết bài sonnet tựa là Người Khổng Lồ Mới:

Không như tên khổng lồ hống hách tiếng tăm của Hy Lạp,
bước chân chinh phục nối liền hai vùng đất;
Ðứng đây, lúc hoàng hôn, trước những cổng vào tràn sóng biển.
Một phụ nữ oai hùng cầm cây đuốc, mà ngọn lửa giam hãm sấm chớp,
và tên gọi là Mẹ Của Những Kiếp Lưu Vong.
Từ bàn tay hải đăng sáng lên lời đón chào toàn thế giới;
đôi mắt hiền từ bao quát hải cảng với chiếc cầu mây, đóng khung bởi đôi thành phố song sinh.
“Hỡi các miền đất xưa, hãy giữ lại những chuyện cũ phù hoa”,
Bà kêu lên. Bằng đôi môi lặng yên.
“Hãy trao cho ta những đám đông co ro khao khát thở khí trời tự do.
Những kẻ khốn cùng rác rưởi của vùng đất các người chen chúc.
Gởi cho ta những thứ đó, những kẻ không nhà, lao đao trong bão tố,
Có ta nâng ngọn đèn sáng đứng cạnh cánh cửa vàng!”

Bài thơ ngắn được các bạn đồng nghiệp tán thưởng và cho rằng sẽ giúp bức tượng Nữ Thần Tự Do một luồng sinh khí và nâng cao tinh thần tự do sáng ngời như ngọn hải đăng trên đại dương tù ngục mù tối. Thế nhưng bài thơ chừng như bị quên lãng cũng như số phận của bà và các phụ nữ trong thời kỳ bất bình đẳng ấy. Bức tượng được khánh thành trong đại lễ lớn lao nhưng người ta cũng không nhớ đến bài thơ. Ngay cả một năm sau khi bà mất ở tuổi 38 vì ung thư, những dòng phân ưu trên New York Times cũng không hề nhắc đến bài thơ ấy. Cho đến 1903, hai năm sau khi người bạn của bà tìm thấy bài thơ ở trong một tiệm sách và gần 20 năm sau khi bà mất, bài thơ mới được khắc ghi vào bảng đồng đặt dưới chân tượng nữ thần.

Năm 1984, Tượng Nữ thần Tự do được UNESCO công bố là di sản thế giới. Bức tượng như một “kiệt tác tinh thần của nhân loại”, cho những lý tưởng tự do, hòa bình, nhân quyền, bãi nô, dân chủ và cơ hội. Bức tượng là tuyệt phẩm của nhân loại bởi sự hài hòa giữa nghệ thuật và kỹ thuật của thế kỷ 19, của tinh thần hữu nghị giữa nước Pháp và Mỹ, với sự đóng góp của mọi thường dân và các nhân tài, với các giá trị biểu tượng cao quý và vô giá như Tuyên ngôn Ðộc lập của Mỹ cũng như sợi dây xích bị gãy dưới gót chân. Và trên hết là biểu tượng tự do cho người di dân khốn khổ khắp năm châu khi đến xứ sở này. “Những đám đông co ro khao khát thở khí trời tự do. Những kẻ khốn cùng rác rưởi của vùng đất các người chen chúc… những kẻ không nhà, lao đao trong bão tố.”

 

Một phiên bản của tượng Nữ Thần Tự Do cao 2.85m được người Pháp đưa sang triển lãm tại Hội chợ Ðấu xảo Hà Nội năm 1887. Người dân gọi là tượng Bà Ðầm Xòe. Lúc đầu tượng được đặt ở vườn hoa trung tâm gần Tòa Công Sứ (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ). Sau đó, vào năm 1891 đến 1896 tượng được đặt trên nóc Tháp Rùa. Cuối cùng “Bà Ðầm xòe” được chuyển đến vườn hoa Neyret phía tây hồ Hoàn Kiếm – tức là Vườn hoa Cửa Nam gần Thư viện Quốc gia. Sau năm 1945 tượng đồng này bị kéo đổ và bán thành đồng vụn. (Duy nhất những kiến trúc của Gustave Eiffel vẫn còn lại ngày nay là Cầu Trường Tiền trên sông Hương ở Huế và Cầu Long Biên ở Hà Nội.)

Ngày nay tượng Nữ Thần Tự Do luôn là biểu tượng của di dân, của khát vọng mưu cầu hạnh phúc trên miền đất hứa. Những biến động an ninh toàn thế giới làm ảnh hưởng đến luật lệ nhập cư khó khăn vào Mỹ. Nhưng nơi cửa biển New York vẫn mãi còn đó hình ảnh vị Nữ Thần Tự Do luôn chào đón các di dân khốn khổ. Những dòng chữ khắc chạm dưới chân bệ tượng vẫn mãi hoài thử thách những giá trị nhân bản và đẹp ngời của tình người, của nước Mỹ tự do.

Sean Bảo

KÝ ỨC THÁNG TƯ

 

Người ở lại chia cùng tôi khổ nạn
Ngày tháng tư vác thánh giá lên đồi
Nghe hoang vắng ngọn cỏ bồng phiêu dạt
Lay mơ hồ ký ức tuổi thơ tôi

Đêm rơi vỡ những vì sao mê hoặc
Hứng trên tay buốt lạnh hạt sương buồn
Người cũng thế… chia cùng tôi ngọt đắng
Bên kia bờ còn đau đáu vết thương

Lời tận tuyệt vẫn xanh màu ảo vọng
Ngày tháng tư vác thánh giá lên đồi
Lỡ đánh mất một thiên đường mộng tưởng
Đành buông tay…
gió tạt buốt hiên đời…

Tôn Nữ Thu Dung

HẠ ĐỎ

 

Một con đường nhỏ
Hàng hàng phượng bay
Tháng tư qua đó
Giọt mưa ngắn dài.

Một thời áo trắng
Mòn dấu chân ai
Hạt mưa ướt nắng
Hạt nào nghiêng vai?

Còn thơm hơi thở
Sao đành chia tay
Có mùa hạ đỏ
Hóa thành mây bay.

Mùa ve rộn rã
Vàng trên tóc người
Tóc xanh màu lá
Tìm đâu tiếng cười?

Người mang cánh phượng
Về bên kia trời
Còn trong cổ tích
Áo người sương phơi.

Ta đành tạ lỗi
Bỏ trường mà đi
Ta đành tạ lỗi
Một thời tình si.

Xin làm hạ đỏ
Một đời bên em
Xin làm cánh gió
Ru người bình yên.

NGUYỄN AN BÌNH

11/4-2018

THÁNG TƯ

Tháng tư về có chút tình trong kỉ niệm
Gửi về đâu thương, ghét tháng năm này
Gửi về đâu ta nhớ những con đường
Đã đi như chưa từng qua hết

Tháng tư ngồi nhớ chuyện chiến trường
Đâu rồi giáp trụ buổi biên cương
Ta về trên cánh tay đã gảy
Và những con đường quá đỗi tang thương

Giã từ vũ khí đời lính trận
Khóc cười như vỡ chuyện thái bình
Với những đổi thay thời tuyệt tận
Ta về rối rắm chuyện nhân sinh

Tháng tư đọc lại dòng kinh sử
Đã thấy ê chề nghĩa tự do
Mới hay trong muôn ngàn tình tự
Đã thấy vô vàn chuyện dã tâm

Tháng tư như mặt trận cuối cùng
Ta về trả nốt chuyện lâm chung
Ta thấy trong ta đời mạt lộ
Chút lòng vương vấn chuyện nghĩa trung..

Tháng tư về ngang như nghĩa trang
Thấy trong hiu hắt cỏ ven rừng
Có thể đâu đây là cát bụi
Của từng cái chết đã vô danh

Tháng tư thôi thế cũng đành…

hoa nguyên.

Có một cái “30 tháng 4” thu nhỏ

 

1.

Ủy ban phường vừa mời một số hộ trong khu phố lên họp để nghe ngành đường sắt công bố lịch cắm mốc giới tuyến đường sắt Trảng Bom – Hòa Hưng. Đúng hơn đây là buổi thông báo gián tiếp về tình hình giải tỏa nhà đất ở phường, sẽ thực hiện nhằm phục vụ dự án làm đường hành lang an toàn song song đoạn đường sắt chạy ngang đất phường mà việc cắm mốc nay mai là để xác định trước vùng cần giải tỏa.

Theo dự án, từ tâm đường sắt tùy chỗ sẽ lấy vô 15 hay 20 mét, nghĩa là hàng trăm căn nhà xưa nay nằm cạnh đường ray gần ga Xóm Thơm sẽ mất mặt tiền hay phần nhà phía trước hoặc bên hông. Riêng nhà ông Hòa cùng mấy chục nhà hàng xóm phải chịu giải tỏa trọn lọn – tức mất trắng, do lọt vào một khu vực dự định cất nhà ga, trạm khách cho tuyến metro trong tương lai, nên từ tâm đường sắt sẽ lấy vô sâu tới 50 mét. Oái ăm nhà ông Hòa nằm cách đường sắt chỉ khoảng 30 mét.

Anh đại diện ngành đường sắt cho biết lịnh giải tỏa và mức đền bù nhà đất sẽ được công bố vào khoảng năm 2020 nhưng chắc sẽ trễ hơn, do chưa có dấu hiệu gì cho thấy ngành đường sắt đã tìm được chỗ vay vốn làm dự án. Lập tức anh đại diện UB phường lên tiếng an ủi: “Còn lâu mà, vậy bà con cứ về an tâm cư trú, làm ăn. Nhà nước sẽ đền bồi thích đáng, sát với giá đất trên thị trường”.

Như thường lệ, ngay trên đường về, nhiều người cùng dự buổi họp đã thản nhiên bàn tán, như “Ối còn lâu mà!”, “Mấy ổng nói vậy chớ Tết công gô mới làm!”, hay ít thản nhiên hơn thì “Chà, hổng biết chừng nào chớ từ bây giờ, đất đã quy hoạch giải tỏa rồi thì mình không được phép sửa nhà, nới rộng, cất lầu gì được. Muốn bán nhà cũng khó có ai mua!”.

Thói thường bấy lâu nay trong bất cứ vụ giải tỏa nhà đất nào cũng đều có người vui kẻ buồn. Có người vui, phấn khởi ra mặt vì tự nhiên nhờ ông nhà nước mở đường mà cái nhà thúc thủ trong hẻm lâu nay của mình được ra mặt tiền đường cái. Hay, nhà mình chỉ bị thụt vô vài mét nhưng lại có cái con đường lớn, công trình lớn như chung cư, trung tâm thương mại, nhà ga metro… mọc lên sát bên, lập tức nhà mình có giá trị hẳn lên, giá đất cũng nóng lên ngay. Ngược lại, nhà nào bị giải tỏa toàn bộ thì chủ nó không khỏi buồn phiền, khổ đau… Như trường hợp nhà ông Hòa, ông đau khổ, tiếc đến quặn đau cõi lòng khi nhận ra rằng bản đồ quy hoạch chỉ cần khác đi một chút, mấy ổng chỉ cần vẽ đường ranh ngắn lại là chừng 20 mét, hoặc lệch sang trái hay sang phải độ 30 mét thì nhà ông đã không dính giải tỏa hay chỉ bị mất vài mét ở đuôi nhà. Và hơn thế, ông sẽ còn như trúng số cá cặp: khúc hẻm không còn nữa, căn nhà dấu mặt của ông sẽ rỡ ràng nhìn ra một khu công trình hoành tráng, nguy nga – đó là nhà ga metro tương lai.

Nhưng đó là “nếu như…”, còn hiện nay – nói theo kiểu bác sĩ chữa ung thư, tiên lượng căn nhà thương yêu sẽ mất trong vòng 2 – 3 năm nữa!

 

2.

Những ngày sau đó, vợ chồng ông Hòa buồn xo, biếng ăn biếng ngủ. Có muốn bán nhà ngay lúc này như một cách đào thoát khỏi cái tương lai 99% mất nhà kia thì cũng không kịp nữa rồi. Có ai khờ đến nổi đi mua nhà, dù rẻ mắc gì mà không tìm cách tìm hiểu, dò hỏi cho được tình trạng căn nhà mình tính mua có bị dính quy hoạch, rằng sẽ bị giải tỏa, mất một phần, mất trắng hay không? Hơn thế, dù trong tương lai, giá đền bù đất có “thích đáng, gần bằng giá đất thị trường’ như ông phường an ủi, kể cả suất tái định cư – được mua căn hộ chung cư giá rẻ ở vùng nào đó, thì dân đi mua nhà cũng vẫn thấy bấp bênh, không có gì là chắc chắn, thà bỏ tiền ra mua loại nhà có tương lai sở hữu ổn định vẫn hơn.

Không còn nhà nữa rồi! Ông Hòa thường lẩm bẩm. Đâu phải chỉ có câu “bị mất nhà” mới đau, trong cách nói “không còn nhà” có chữ “không” nghe như đất sụp dưới chân, như Hư Vô tràn đến phủ ngập cuộc đời con người.

Thấm thoát đã 30 năm trôi qua kể từ dạo vợ chồng ông nhờ làm lụng vất vả, chắt mót dành dụm mới có thể mua được căn nhà cấp 4 này, để ra riêng từ căn nhà cũ mèm của bố mẹ ông. Hiện nhà của ông đã xuống cấp, đã vài lần sửa chữa nhỏ nhưng vẫn còn nhiều chỗ tường nứt hay tróc vôi, mái tôn đã có chỗ nát, dột. Nhưng dù sao mặc lòng, căn nhà nhỏ đơn sơ này đã chất chứa, ghi khắc không biết bao nhiêu là thăng trầm, vui buồn trong cuộc sống, vốn là nơi ông bà chia sẻ nhau từ hạt muối đến hạt đường, là nơi chớm bệnh đau lưng thẩn kinh tọa với huyết áp cao, là nơi dựng vợ gã chồng cho con cái, cũng là nơi đón tin người già mất đi hay trẻ con ra đời… Đối với ông Hòa, căn nhà nhỏ sớm tối đi về này chính là cả khung trời bao dung của đất Sài Gòn quê hương thứ hai của ông, chính là nơi nuôi dưỡng nghiệp viết lách không-thể-nào-khác-đi của ông, nhất là đang ở cái tuổi 70 xế bóng cuộc đời…

Ông Hòa buồn lắm, mới hiểu tại sao y học đã ghi một trong những thủ phạm gây stress, gây chứng trầm cảm chính là biến cố mất nhà, phải dọn nhà hay thay đổi chỗ ở.

Khoảng 15 năm trước, lúc đường Phạm Văn Đồng gần nhà bắt đầu được thi công, vợ chồng ông Hòa rất vui vì chẳng bao lâu nữa con hẻm nhà mình, thay vì dẫn ra con đường Lê Lợi 6 mét chật hẹp và đã xuống cấp, sẽ dẫn ra một đại lộ mới, rộng đến 60 mét thật hiện đại, được cho là đẹp nhất thành phố. Nhưng, hình như đã có một điềm gở gì đó…

Ông Hòa nhớ rất rõ là thời ấy, ngày ngày đi ngang một dãy nhà đã bị đập phá và bỏ hoang, tình cờ ông thấy một chú chim chích chòe bay lượn một mình hay nhập vào đám chim sẻ kiếm ăn. Hỏi bà con gần đó mới biết đây là chú chim được một gia đình nọ nuôi theo kiểu thả tự do cho chim bay nhảy ngoài lồng. Rồi không rõ lý do gì, khi đập nhà rồi dọn đi, gia đình này không mang chú chim theo qua chỗ ở mới của họ. Do quen bay nhảy ở khu vực có cỏ cây vắng vẻ, chú chích chòe cứ lẩn quẩn ở đây mãi. Lúc ấy, ông Hòa bâng khuâng mãi về tình cảnh lạc loài của chú chim, tự hỏi nếu giờ không có ai đưa nó về nhà nuôi thì không biết số phận nó sẽ ra sao khi các ngôi nhà mới được xây xong, không còn khung cảnh nhiều cây xanh, bụi cỏ, vốn thích hợp cho loài chim sinh sống.

Ông Hòa còn nghĩ, khi các công trình đô thị hóa được thực hiện, tức giải tỏa đất đai, xây nhà phố mới, thường người bị mất nhà, mất đất chỉ nhận lấy một cục tiền đền bù rồi sau đó phải vất vả tự lo liệu nơi ăn chốn ở mới, nhiều khi họ không biết đi ở đâu và làm gì tiếp tục để sinh nhai… Có nghĩa là người ta còn chưa giải quyết được chu đáo cho cuộc sống của nhiều người, nhất là người nghèo khi họ phải xa lìa chỗ ở cố cựu của họ, nói gì đến số phận của những vật nuôi bị bỏ lại ở khu xóm giải tỏa trắng, ví dụ như một con chim chích chòe nhỏ bé, lạc loài kia?

Thấy thương con chim, ông Hòa viết một bài tạp bút về chuyện bắt gặp chú chim chích chòe bị chủ nuôi bỏ lại trong cảnh gạch ngói hoang tàn khi gia đình họ phải chuyển đi nơi khác bởi nhà họ bị giải tỏa trắng, nghĩa là chú chim đã bị mất chỗ ở quen thuộc bên chủ nó… Nào ngờ gần 15 năm sau, đến lượt ông Hòa cũng rơi vào tình trạng sắp mất chỗ ở, không biết đi đâu…

 

3.

Đã 43 năm về trước, đối với nhiều số phận người dân Sài Gòn cùng gia đình họ – như ông Hòa, gốc sĩ quan chế độ cũ, khách quan hay chủ quan gì cũng thế, ngày 30 tháng 4 đã là một biến cố khó có thể gọi là vui, phấn khởi được. Mất nhà, mất chỗ làm, mất tài sản, mất địa vị xã hội, mất người thân và bạn bè, bị tập trung học tập cải tạo, bị chỉ định cư trú khu kinh tế mới… Đã dù ít dù nhiều đều bị mất mát, chia lìa, thua thiệt như thế, cuộc sống xuống cấp thấy rõ, đổi đời kiểu này thì làm sao bảo họ là “vui” được? Dù sao, hơn 40 năm trôi qua, cũng giống như bao người Sài Gòn khác, sau những mất mát này khác thì ông Hòa đã cố gắng tìm cách hòa nhập với thời thế, lao động một cách lương thiện để kiếm sống cho gia đình mình cho đến tuổi về hưu.

Vừa rổi, cũng chính vào thời điểm tháng 4, thời tiết đang rất oi bức này, ông Hòa lại được thông báo nhà mình ở sẽ bị giải tỏa, nói đơn giản là sẽ mất nhà, thì đối với ông, biến cố ấy có khác gì một cái “30 tháng 4” thu nhỏ lại và trớ trêu xảy đến lần nữa trên số phận hẩm hiu của gia đình ông cùng cả trăm bà con hàng xóm.

Đêm nay, thêm một đêm ông Hòa chập chờn nửa ngủ nửa thức. Đến gần sáng, ông nghe văng vẳng từ đầu hẻm tiếng kèn đám ma, tình cờ là bản Một cõi đi về của TCS. Về ở căn nhà cấp 4 này từ thuở trung niên còn khương cường để cày kiếm sống, đã bao sớm hôm đi về con ngõ hẹp, nay đã thuộc lứa thất thập cổ lai hy mỏi mòn, ông Hòa chợt ngậm ngùi, không thể nào nhớ nổi đã bao đêm về sáng mình đã thao thức nghe tiếng kèn đám ma, đưa người quá cố vĩnh viễn rời khỏi căn nhà họ từng cư ngụ, rời xóm phố họ từng sống lúc sinh tiền…

 

PHẠM NGA

(Trong oi nồng tháng 4-2018)

Buồn Nằm Dọc Nằm Ngang

 

Nguyễn Huy Thiệp có cuốn “Tiểu Thuyết”
Tuổi 20 Yêu Dấu, Văn Mới xuất bản năm 2004 tại Mỹ (*)
Đúng là tiểu thuyết / lời nói nhỏ, gồm 30 chương
Không có chuyện yêu chuyện thương, mà toàn chuyện ghét!

Nguyễn Huy Thiệp, chắc ai ai cũng biết:
một-nhà-văn-cộng-sản Việt Nam
nổi tiếng đầu đời với cuốn Tướng Về Hưu
và nổi tiếng tiếp theo là những giải thưởng…

Nhiều người nói Nguyễn Huy Thiệp đi chệch hướng
chống Cộng Sản bằng văn chương
có nhiều người thấy xót thương:
Nguyễn Huy Thiệp tại sao là Cộng Sản?

Nguyễn Huy Thiệp vẫn ở trong “nôi-cách-mạng”
ở nhà riêng, biệt thự, Đảng xây cho
Nguyễn Huy Thiệp có đọc thơ
nhưng nói “câu chữ trong bài thơ thì không ra gì” (**).

Đọc Nguyễn Huy Thiệp thật “mệt mề”
chế độ Cộng Sản không có gì tốt đẹp
không một người nào không biết
mà ở với Cộng Sản thì như cây cột đèn!

Cây cột đèn không biết đi, lại biết bon chen
và biết nói những điều “phải đạo”!
Nguyễn Huy Thiệp nói như không hề nói láo
về một chế độ rất “lạ lùng”:

–  Đ.mẹ!  Tao yêu Hà Nội quá chừng!
–  Nói khẽ thôi!  Hà Nội nó nghe thấy đấy…(**)
Sinh viên Hà Nội chuyện trò như vậy
Nói…tung hô nhưng vẫn cứ đề phòng!

Chắc họ nói lung tung?
“Chính họ cũng chẳng hiểu họ nói cái gì.” (**)
Tôi không thêm không bớt chút chi
Về một chế độ rất “kỳ quan”, “kỳ cục”…

“Nền giáo dục trung học và đại học theo tôi
là một nền giáo dục ngục tù khủng bố.
Nó làm cho thanh niên chúng tôi trở nên kiệt sức
ấm ớ, dở hơi hoặc đểu cáng
theo cách nào đấy.
Nó là một nền giáo dục lưu manh.
Tất cả những thanh niên thành đạt của nền giáo dục đó
đều là những tên lưu manh
một trăm phần trăm, tôi xin thề như vậy!” (**)

Nguyễn Huy Thiệp nói / viết, in trên giấy
thật lòng không hay giăng bẫy để nhận giải thưởng văn chương?
Tôi không còn yêu còn thương
một Quê Hương khốn kiếp!

Nguyễn Huy Thiệp!  Nguyễn Huy…Thẹp!
anh làm tôi muốn khóc!
Mua cuốn “tiểu thuyết” (*) của anh, tôi đọc
buồn…nằm dọc nằm ngang!

Trần Vấn Lệ

(*) Tuổi 20 Yêu Dấu, Tiểu Thuyết của Nguyễn Huy Thiệp, nhà xuất bản Văn Mới, Gardena CA, 2004.

(**) nguyên văn của Nguyễn Huy Thiệp trong cuốn “tiểu thuyết” đó.

GỞI NHỚ VỀ ĐÂU

 
Tháng tư về có chút tình trong kỷ niệm
Gửi về đâu thương,ghét tháng năm này..
Gửi về đâu ta nhớ những con đường
Đã đi như chưa bao giờ qua hết..(hn)
              * * *
DỤC MỸ ,

Những cây dương bóng mát rũ hai hàng
Có nắng tháng tư mùa hè thật nóng
Tôi đến đây hàng cây chào đứng bóng
Dục Mỹ mùa khô thở hắt ngọn gió Lào
Dục Mỹ những sắc áo, chào huấn khu
Đón về những chàng trai mùa đỏ lửa
Mười ngày phép màu da nâu chưa kịp nhả
Giờ nhập môn mình trở lại núi rừng
Bạn BĐQ tôi vào trường PB
Bọn mình lại dựa lưng nhau như rừng núi
Mặt trời nơi đây vẫn nung ráng đỏ
Vẫn còn nghe âm vọng một hai..
BĐQ thích chạy bộ hơn đi xe..
Bên nầy chiếc GMC đưa đường ra bãi tập
Con đường qua ngang căn cứ Cọp..
Còn xê xang ghế bố xếp.. giác bàn…
Buôn Sim, Buôn Lác lãng đãng khói nhà sàn
Như mơ màng nghe mây tan đồi trọc
Khi say nắng những buổi trưa cùng bắn tập
Những chùm hoa mù còn đọng dưới chân mây
Nhìn đỉnh Vọng Phu như đếm tháng ngày
Để cô gái Thượng lưng gùi chờ tìm mảnh thép
Ninh Hòa vẫn sinh con gái đẹp
Chiều tan trường có ai theo về huấn khu
Dục Mỹ rừng núi thâm u
Rất lãng du con đường Viễn Thám
Cà phê chiều nao nao dòng nhạc Phạm
Chủ nhật hết tiền ngong ngóng Nha Trang…
Câu lạc bộ mơ hồ trầm giọng Duy Quang
Cũng rung động đời pháo thủ
Sáng thứ hai sân cờ nghe huấn dụ
Thắm thoát mà đã hết một tháng tư..
CHÀO BIỆT : Bùi Ngọc Hùng ( 727 _ kbc4311 )

Không tiếng kèn truy điệu
Đưa người về bên kia
Thanh âm lời ai điếu
Vì sao thành tích xưa
Chiếc lá nữa rời cành
Bay đi không báo trước
Bài quân ca buổi trước
Thiên thu đêm di hành
Chiếc lá đã rời cành
Bài ca thành hoài cổ
Phố… buồn ôm quốc lộ
Vằng vặc trăng di hành
Lá đã xa lìa cành
Bài ca về thiên cổ
Phố đâu còn , quốc lộ ..
Hồn đi về quanh quanh
Chiếc lá đã xa cành
Trời Sài Gòn mưa phủ
Trong im lìm hòm gỗ
Di ảnh ngời trối trăn
Không quyết định truy thăng
Cho người về miên viễn
Ai là người đưa tiễn
Thiết Giáp nằm im lìm
Không phủ kín Quốc Kỳ
Chiêu anh hồn tử sĩ
Một thời oanh liệt vị
Từ biệt nhau kinh kỳ
Chào biệt là phân ly
Là xếp lại tàn y
Là thiên di cõi khác
Là tắt bóng tà huy
Không chuyến về Phan Rí
Gởi nhớ lại ngã ba
Chí tang bồng hồ thỉ
Cho lỡ mùa 73…
Trao cái nhớ Hòa Đa
Dốc Lương Sơn đẫm tích
Giữa hai mùa chiến dịch
Nhật ký Bùi Ngọc Hùng
Đâu mùa hẹn ra Trung
Treo lại những lối Duồng
Chiều Thượng Văn sóng bạc
Trắng đỉnh trời Lương Sơn…

 hoa nguyên

HOÀI

 

HOÀI 1

Qua rồi những hào hùng ly loạn
Người về khoả áo mài đêm vắng
Gió rót cành sương tiếng thuốc lào
Ám mùi hơi thở hoài không lắng

Người lính ngày xưa giờ tóc trắng
Màu xuân đã đọng ở sinh phần
Bạn bè chiến hữu nhiều lưu lạc
“Thiên đàng” một cõi một chung thân

Người lính ngày xưa chừ tám chục
Ngóng trông từng cuộc gọi đường dài
Chiến hữu: bọn tôi về phương khác
Mỗi mình anh lạc phía giêng hai

Chiến hữu: Thôi cũng gần một kiếp
Nhớ thương cũng mấy chục năm rồi
Hào hoa tóc áo phai gần hết
Sao ở trong lòng mưa vẫn rơi?

HOÀI 2

Mình đến mình đi rồi quên lãng
Để đêm lóng lánh phúc âm buồn
Để mưa tháng sáu rơi chiều lạ
Để bình minh đọng những ngân sương

Mình đến giữa mùa hình nhân mới
Ngày xanh vướng vít nhánh hoa đầy
Diệp lục nã nồng hương hư ảo
Xanh rìa tháng mới với tranh vây

Mình đi chủ nhật mưa áp thấp
An nhiên còn có  giữa từ ly?
Tôi nhặt nhạnh mình đêm lá rách
Buông cánh rời cây khóc thiên di

Khúc lá khúc cây và khúc gió
Khúc nào xanh để nhận mặt người?
Lãng quên còn ấm trong ký ức
Cho nhau xin giú một khúc cười…

 

HOÀI 3

cuộc thiên di đỏ
mặt trời cuốn qua vùng tóc biếc
chảy mặn tháp ngà
nụ hôn mật non xưa xa
đã khét tanh dưới tê điếng mặt trời
không thể lưu trữ cho em được gì
giọt mưa miên miết đỏ
ngày cựa mình chừng như rất khẽ
tháng bảy cạn kiệt
lời lá khô
rơi từ vực sâu.

cuộc thiên di đỏ
mặt trời đi qua vườn đêm
cứa những xót thương
tối không gió
tôi với căn ngực rỗng
sự đợi chờ là vô vọng
mãi đời sau.
những bóng đèn nê ông cúi đầu câm lặng
cơn mưa không thể ướt át mãi buổi chiều tháng bảy
dụ dỗ về một tia sáng lóe nở
giấc chiêm bao mồ côi
hơi thở
như những đứa trẻ thành phố ngày loạn lạc
dắt díu nhau đi tìm ý nghĩa cuộc hành trình…

PHƯƠNG UY

LỜI KHÔNG DỄ NÓI

@ TBT NHÀ THƠ TÔN NỮ THU DUNG:

Thơ là tiếng nói nội tâm riêng biệt của mỗi người nhưng sự tao nhã và thanh khiết là điều không thể thiếu trong thơ, dù thế…

… Xin đừng ai khoác vào thơ (và người làm thơ) một sứ mệnh lớn lao nào cả! -Theo tôi – Thơ chỉ cần có một nhiệm vụ nhỏ bé duy nhất là làm một dòng suối mát trong veo để người lữ khách lạc loài trong sa mạc cúi xuống, vốc lên một ngụm… thế thôi!

HƯ ẢO TÔI, là tập thơ kỷ niệm TUONGTRI.COM bước vào năm thứ 6 gồm 200 bài thơ của 109 tác giả “tâm phúc ruột rà” với Tương Tri trên đoạn đường dài gập ghềnh đầy hoa cỏ và nhiều gai góc đang được các bạn cầm trên tay. Mong rằng nó sẽ đem đến cho các bạn yêu thơ một niềm tin thuần khiết về cái đẹp muôn đời.

Thay mặt Nhóm Chủ Biên TƯƠNG TRI xin gởi đến các bạn thơ của chúng tôi niềm cảm kích.

@ NHÀ PHÊ BÌNH TRẦN TRUNG TÁ:

…tập thơ Hư Ảo Tôi, phải nói rằng đây là món quà không chỉ là món quà văn nghệ mà hơn thế nữa, nó là món-quà-văn-hóa. Tôi tin khi cuốn Hư Ảo Tôi đến tay bạn đọc, bạn có một lúc hai món quà; Một là Tập Thơ…đúng là Tập Thơ, Hai là thấy cái nằm trên tay bạn là Trái Tim của một người Vì Thơ Mà Có, Bởi Thơ Mà Làm, Cho Thơ Tất Cả!…

Và là một tập thơ nặng kí cả nghĩa đen lẫn bóng…
______________________________________
@ 109 TÁC GIẢ TRONG NƯỚC & HẢI NGOẠI:

* NGUYÊN SA/2/Hư Ảo Trăng
* TRẦN TRUNG TÁ/5/Đôi Lời Thắm Thiết
* ÂU THỊ PHỤC AN/9/Phố/Tìm Suối Nguồn
* BÙI DIỆP/12/Người Hẹn Trăm Năm/Những Ngày Xưa Thật
Là Xưa
* CAO VĂN TAM/15/Chia Tay/Tiễn Đưa
* CHIÊU ANH NGUYỄN/18/Những Ngày Không Trở Lại/Giấc

* CHIM HẢI/21/Mời/Trả Lời
* CHU THỤY NGUYÊN/24/Lúc Tôi Rót Nắng Vào Ly/Đêm
Violin Xanh
* DAO LAM/27/Thả Nắng/Rờn Rợn Khóe Cười
* DU LÊ HUÊ/30/Huế Say/Ngày Thứ Tám
* DU NGÃ/34/Thơ Ngày Cũ/Tìm Nhau
* DŨNG KQD/37/Đừng Hỏi Nữa Con Ơi!/Buổi Sáng Đà Lạt
* ĐẶNG KIM CÔN/40/Lốc Đời/Những Hàng Ghế Trống
* ĐẶNG PHÚ PHONG/43/Đồi Lạc Gió/Đồi Tây Hay Đồi Đông
* ĐỖ TẤN ĐẠT/47/Trả/Nợ
* H. HIẾU/49/Căn Phần/Trưa Nắng
* HẠ QUỐC HUY/54/Lệ Trong Mắt Phượng/Xa Rồi Trăng Lay
Tóc Rối
* HẠC THÀNH HOA/59/Điệp Khúc Buồn Trong Quán Cà Phê
Màu Vàng/Ngồi Dưới Trăng Tan
* HIỀN MÂY/63/Về Cùng Em/Ngủ Đi
* HỒ CHÍ BỬU/66/Lặng Lẽ Mùa Đông…/ Người Sắp Về Chưa?
* HỒ VIỆT KHUÊ/69/Sương Khói Đa Mi/Quán Chân Núi
* HOA NGUYỄN/72/Lời Tình Vừa Lỗi/Hạt Tai Ương
* HOÀI KHANH/76/Sẽ Là Gì Trong Một Kiếp Xa Xôi
* HOÀNG CHẨM/79/Lạ Thường/Còn Một Chỗ Trống
* HUỲNH DUY LỘC/82/Không Tan Kỷ Niệm
* HƯ VÔ/84/Thu Nguyên Màu Bao Dung/Ngày Cũ
* HUY TƯỞNG/87/Chim Mùa Xuân Bay Về Lối Thu
Không/Người Yêu
* KHA LY CHÀM/91/Tháng Sáu và Kỷ Niệm/Ẩn Dụ Đêm
* KHA TIỆM LY/94/Nhỏ Bạn Ngày Xưa/Tình Nhạt
* KIM VÔ VỌNG/97/Cau Cay
* LÂM HẢO DŨNG/99/Cảm khái khi về núi/Sương Lạnh Miền
Cao Gọi Nhớ Rừng
* LÊ HÁT SƠN/103/Chiều Serenade/Riêng Em Ngày Chở Nắng
* LÊ PHÚ HẢI/107/Về Phương Nam/Điệu Buồn Tráng Sĩ
* LÊ SA/111/Chiều Phan Rang Nhớ Khói Ba Vì/Nhớ Nhớ Quên
Quên
* LÊ TRUNG TÍN/114/Sau Cơn Say/Về
* LÊ VĂN HIẾU/113/Tinh Khôi
* LÊ VĨNH TÀI/119/Không Đề Sáu Chữ/Thơ Bây Giờ Của Con
* LINH PHƯƠNG/122/Như Bóng Mây Bay Cuối Trời Thương
Nhớ/Đêm Ngủ Tôi Mơ
* LƯU XÔNG PHA/125/Đừng Treo Tim Lên Cành Cây Thương
Nhớ/Ta Ném Hết Đời Thơ Vào Ngọn Lửa
* MAI THANH VINH/128/Phía Buồn/Chiều
* MAI VIỆT/131/Vô Dinh 1 Nghe Tiếng Lăn Trầm/Gởi Lại Phan

* MỘC MIÊN THẢO/135/Vọng/Hỏi
* MƯỜNG MÁN/139/Về Bên Cổ Thành/Qua Mấy Ngõ Hoa
* NGÔ TỊNH YÊN/143/Những Ngón Tay Ký Ức/Đừng Khóc Tôi
Ơi
* NGÔ YÊN THÁI/146/Trăng Rơi Cuối Bãi/Bất Tận
* NGUYÊN VI/149/Cõi Xưa/Đà Lạt
* NGUYỄN AN BÌNH/152/Tháng Năm Hoa Tím Lại Về/Hạt
Bụi Nghìn Trùng
* NGUYỄN BÁ TRẠC/155/Thoại Châu, Tôi Biết Trời Chưa
Sáng/Quê Mẹ
* NGUYỄN BẮC SƠN/159/Một Ngày Nhàn Rổi/Nhắc Đến Ma
Lâm
* NGUYỄN ĐĂNG TRÌNH/163/Cuối Năm Chia Tay Huế/Sợ
Một Ngày Mưa
* NGUYỄN ĐÌNH BỔN/166/Biền Biệt/Vết Cắt
* NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN/169/Cùng chút Bụi Bên
Đường/Hương Cau
* NGUYỄN HẢI THẢO/172/Như Khói Sương Bay/Như Lá
Ngậm Ngùi
* NGUYỄN HÀN CHUNG/176/Biết/Gió Mồ Côi
* NGUYỄN LÃM THẮNG/179/Một Ngày/Sông Trăng
* NGUYỄN LIÊN CHÂU/183/Long Đong Y Bát/Trương Chi Dị
Khúc
* NGUYỄN MINH PHÚC/186/Bóng Tàn Phai/Bóng Tối Không
Lời
* NGUYỄN NGỌC NGHĨA/190/Thu Nào Xưa Hở Em/Mưa
Lập Đông
* NGUYỄN NHƯ MÂY/193/Không Đề/Bước Xuân
* NGUYỄN QUANG TẤN/196/Dạo Khúc 27/Dạo Khúc 50
* NGUYỄN TAM PHÙ SA/199/Hai Nửa Huế/Bài Thơ Thứ Nhất
* NGUYỄN TẤN CỨ/202/Niệm/Chia Đời Nhau Nhé
* NGUYỄN THÁI BÌNH/205/Mùa Thu/Lục Bát Rơi
* NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH/210/Đêm/Ngày
* NGUYỄN VÂN THIÊN/214/Huế Mười Năm Xa/Tương Tư
Kinh
* NHÃ MY/217/Mười Năm/Biển Đêm
* NP PHAN/217/Chưa Phai Bờ Áo Nguyệt/Biệt Khúc
* PHÙ DU/225/Buổi Phai Sương/Bên Này Bên Kia
* PHẠM HỒNG ÂN/228/Dọn Chỗ Cho Phiên Khúc Gãy/Tháng
ba, ký ức Sài Gòn
* PHẠM KHÁNH VŨ/232/Tôi Sẽ Là Tôi?/Tôi Nói Với Chiêm
Bao
* PHẠM NGỌC LƯ/235/Huế Ngày Về/Thuyền Quyên
* PHẠM NGŨ YÊN/239/Viết Cho Tháng Mười Hai Sắp Hết/Tạ
Ơn Một Tình Yêu
* PHẠM QUANG TRUNG/244/Trầm/Ghé Thăm
PHAN ANH DŨNG/248/Tiếng Xuân/Quán Không
* PHƯƠNG TẤN/251/Ở Huế Nhớ Phương/Chờ Đến Thiên Thu
Một Bóng Người
* PHƯƠNG UY/255/Phong Linh Trắng/Thất Lạc Trăng
* QUAN DƯƠNG/258/Đêm Trở Nhớ/Chiếc Xương Lá
* RÊU/261/Chọn/Chiều Nay Xuống Phố
* SƯƠNG NGUYỄN/264/U Uất/Tôi Muốn
* TẠ CHÍ THÂN/267/Giang Hồ/Đừng
* TẠ VĂN SỸ/269/Gọi
* TÂM NHIÊN/271/Nước Chảy Mây Trôi/Mây Trắng Ca
* TẦN HOÀI DẠ VŨ/274/Hẹn Về Với Huế/Đêm Giáng Sinh
* TÔN NỮ THU DUNG/277/Vọng Âm Buồn/Khúc Tặng Doanh
Doanh
* TÔN NỮ THU NGA/280/Ngọc Lan Hương/Niệm Khúc
* TÔN PHONG/283/Từ Chối/Không Có Gì
* TRÂN SA/286/Dặn Bàn Tay/Nghĩ Tới
* TRẦN ANH/289/Nát Mùa Trăng Hung Bạo/Bên Mùa Ve
Năm Cũ
* TRẦN BÁ NGHĨA/292/Tà Hoa
* TRẦN DZẠ LỮ/294/Qua Đèo Hải Vân/Cà Phê Ở Tôn Nữ Viên
* TRẦN HỒ DŨNG/297/Em Và Tôi/Ngủ Bên Chân Mẹ
* TRẦN HOÀI THƯ/300/Xa Lạ/Cuối Năm Bên Dòng Sông
Hudson
* TRẦN HUY SAO/303/Diều Giạt Gió Đưa/Dẫu Một Đời Phiêu
Bạt
* TRẦN HUYỀN THOẠI/307/Lang Thang Khói/Thắp Sáng
Cánh Rừng Thơ
* TRẦN NGỌC HƯỞNG/310/Sương Khói Lặng Thầm/Giạt
* TRẦN THIÊN THỊ/313/Ngày Thu Cuối Cùng, Chén Rượu Cuối
Cùng/Gởi Cho Thu Thảo
* TRẦN THOẠI NGUYÊN/317/Cõi Tàn Phai/Đà Lạt, Hoa
Phượng Tím
* TRẦN TRUNG ĐẠO/320/Đêm Ngồi Nghe Tiếng Chim Trên
Biển/Xuân Đất Khách
* TRẦN TUẤN/323/Nơi Tôi Ở/Nếu…
* TRẦN VĂN NGHĨA/326/Tôi Ngồi Ở Đó/Tháng Chạp, Đà Lạt
Và Em
* TRẦN VẤN LỆ/329/Nửa Đêm Về Sáng/Ngủ Đi Chàng Lính
Xưa
* TRẦN VIẾT DŨNG/332/Cỏ Xanh/Gái Bình Định
* TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG/335/Hoa Cẩm Chướng Trên
Bàn/Lục Bát
* TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN/339/Phố Núi Hoài Mây Bay/Câu Thơ
Phượng
* TƯƠNG GIANG/342/Ngược Nguồn Nhớ Quên
* VĂN CÔNG MỸ/344/Tắm Trăng/Hóa Thân vào ”Tình Nghệ
Sĩ”
* VÕ DUY CHUNG/347/Mùa Trăng Sáng/Những Đoạn Rời
* VŨ ĐÌNH HUY/350/Doanh Doanh/Đoản Khúc
* VŨ NGỌC GIAO/353/Phố Và Trăng/Đâu Đó Một Làn Hương
* VŨ TRỌNG QUANG/356/Maria Nguyễn/Cuối Đường
* YÊN HỒNG/359/Mật Ngôn/Thấu Cảm

 

Nhà Thơ Trần Thoại Nguyên

Món quà đặc biệt:
Tập thơ HƯ ẢO TÔI.

Mừng 6 năm ra đời & phát triển Website TUONGTRI.COM và những tuyển tập thơ văn TƯƠNG TRI đã phát hành, Nhóm Chủ Biên đã táo bạo đề ra in tuyển tập thơ HƯ ẢO TÔI làm món quà tặng thi văn hữu TUONGTRI.COM , như LỜI CẢM ƠN của Nhóm Chủ Biên : “HƯ ẢO TÔI,là tập thơ kỷ niệm TUONGTRI.COM bước vào năm thứ 6 gồm 200 bài thơ của 109 tác giả thơ “tâm phúc ruột rà” với TƯƠNG TRI trên đoạn đường dài gập ghềnh đầy hoa cỏ và nhiều gai góc…”
BBT đã tuyển chọn công phu ! Tôi nghĩ bài thơ đưa vào tập thơ đã phải qua 3 lượt: Lần 1- Chọn bài post lên Website. Lần 2 – Tuyển bài đăng lên các tuyển tập in giấy đã phát hành. Và lần 3 – Tuyển lựa mỗi tác giả một vài bài thơ hay tiêu biểu nhất. Nữ chủ trang Tương Tri, Nhà thơ Tôn-Nữ Thu-Dung (Thu-Dung Ton-Nu) đã bày tỏ lòng mình trong buổi Hội Ngộ Tuongtri ra mắt HƯ ẢO TÔI: “Mình muốn in một tập thơ cho bè bạn, các thi hữu đã cộng tác cùng TUONGTRI,không hề nghĩ đến tính toán kinh doanh lợi nhuận!” Tôi nghĩ Tôn-Nữ Thu-Dung đã nói thật lòng! Mấy ai bỏ tiền ra mua một tập thơ dày cộm đến 370 trang dù in đẹp trên giấy tốt . Lật qua từng trang sách, các Thi hữu phải cảm động,không những thơ mình được đăng trang trọng mỗi bài thơ một trang,bài dài hai,ba trang không cắt bỏ.Đặc biệt là mỗi tác giả đều được dành riêng một trang với chữ ký và bút danh của mình! Có lẽ cả thế gian nầy chưa có NXB nào “Chịu chơi” trân trọng sang đến như thế !?
Gần 6 năm qua,tôi vẫn thường xuyên cọng tác cùng TUONGTRI.COM và đã được chọn in trong tuyển tập thơ HƯ ẢO TÔI 2 bài (Các tác giả khác cũng thế),dù tôi chưa tâm đắc lắm,nhưng phải nói đó là 2 bài thơ hay đều đã được các Nhạc sĩ phổ nhạc thành ca khúc .
Bài CÕI TÀN PHAI đã có hai phiên bản phổ nhạc , 1 của NS Mộc Thiêng và 1 của NS Ngô Tùng Văn ( Tùng Văn Ngô) đã được ca sĩ hát trong chương trình NHẠC CHIỀU CHỦ NHẬT của Đài Truyền hình Tphcm.
Bài ĐÀ LẠT HOA PHƯỢNG TÍM đã được 3 NS phổ nhạc thành ca khúc: 1 là của NS Mộc Thiêng, 2 là của NS Phạm Minh Thuận ( Qua Nhà thơ Nguyễn An Bình, NS NMT đã chuyển email cho tôi và nói rằng NS lang thang trên mạng bắt gặp được bài thơ hay giàu cảm xúc và cảm hứng viết liền thành ca khúc. Và 3 là của NS Nguyễn Hảo đã đàn hát cho tôi và Thư Thiên Phạm cùng nghe.

Chắc tôi cũng như các Thi hữu có thơ in và có chữ ký của mình trong tập thơ HƯ ẢO TÔI rất cảm ơn Nhóm Chủ Biên TUONGTRI.COM,nhất là Tổng Bí Thơ Tôn-Nữ Thu-Dung! Xin chúc BBT và văn thi hữu “tương tri tâm phúc ruột rà” luôn vui khỏe tràn đầy cảm hứng sáng tạo! Chúc TUONGTRI.COM không ngừng phát triển ngân vang bay xa!

 

Nhà Giáo  Nguyễn Hoàng Quý

Đọc tin nhắn do anh Tạ Chí Thân (Bạch Mao Sư Vương – Than Ta) gửi 10 ngày trước, tôi thật sự xúc động: “Kính mời anh chị 19/4 tới Sông Trăng nghen . . . xin gặp một lần, biết ngày mai sẽ ra sao?!”. Và thế là (hăm hở) đến. Cứ tưởng dân ở Mỹ đúng giờ, tôi tới chỉ có anh Trần Dạ Lữ, một nhà thơ cao tuổi, có thơ đăng báo từ đầu 1960’s và Nghĩa từ Đồng Nai lên.

Đến khi bắt đầu, có khoảng gần 60 người là những nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, họa sĩ . . . cùng với vợ/chồng, những cộng tác viên đắc lực của tuongtri. Sân khấu nhỏ dựng trên bờ sông Thanh Đa của nhà hàng khá lý tưởng, không bị tiếng ồn từ những thực khách khác và không làm phiền họ dù cuộc gặp này dùng hệ thống âm thanh cho phát biểu và đàn hát, đọc thơ.
Đây là lần thứ ba tuongtri tổ chức hội ngộ ở Sài Gòn mỗi khi những người chủ trương từ Mỹ về. Cũng có lần tổ chức ở Hà Nội, Huế, Quy Nhơn, Nha Trang. Đúng như tinh thần của website và anh Thân phát biểu trong lời mở đầu: không màu mè, không trang điểm, son phấn mà chỉ thuần túy bảo đảm tinh thần Việt Nam từ những cây bút tiếng Việt, cuộc hội ngộ hôm nay mang đậm sắc thái này. Những người gặp nhau, dù đã hay chưa quen đều đối với nhau bằng “Những lời tâm phúc ruột rà”. Chỉ cần đọc “Đôi lời thắm thiết” của giáo sư Trần Trung Tá khi viết lời giới thiệu tập thơ “Hư ảo tôi” do Tương Tri xuất bản và gửi về tặng thì thấy rõ.

Dịp này tôi có duyên “kiến kỳ hình” hoặc nói chuyện với những cây bút trước đây chỉ “văn kỳ thanh”. Đó là các anh Nguyễn Viện, Ngô Quang Hiển, Nguyễn Đặng Mừng, Phạm Nga, Nguyễn Liên Châu, Nguyễn Đăng Trình, Nguyễn Đình Bổn, Nguyễn Tấn Cứ, Trần Thoại Nguyên, Phạn Thụy Ngữ, Tuệ Mỹ, Phan Văn Quang, Dũng KQĐ . . . Gặp được những tác giả có bài trên Tương Tri, thăm được Tôn Nữ Thu Dung (Tương Tri Giáo chủ), Tạ Chí Thân, Văn Công Mỹ, gặp được chị Âu Thị Phục An (An Âu), Đào Thị Thanh Tuyền (từ Nha Trang vào) cũng là niềm vui, chưa kể anh bạn già Vũ Ngọc Giao lâu nay không gặp.

Chương trình Thơ Nhạc góp vui khá phong phú. Sự có mặt của các chị Nguyễn Hồng Nga, Mai Thanh với những bản nhạc xưa cũng như những bài thơ do chính các tác giả đọc, các giọng nam ca, tấu hài đều ngẫu hứng vì không theo kịch bản nhưng mọi người đều lắng nghe đủ biết sức thu hút của tác giả và người trình bày. Gần giữa buổi, nghệ sĩ Ngọc Minh (Nguyễn Thị Minh Ngọc) xuất hiện với hai tiết mục “diễn” tuyệt vời làm mọi người đều ấn tượng.

Cám ơn chiều Sài Gòn bình yên, sông Thanh Đa lặng lờ và mát mẻ, cám ơn nhà hàng Sông Trăng với những món ăn ngon, website Tương Tri và tất cả mọi người đã cùng góp phần để làm nên một buổi tối kết nối tình thân khó quên này.
PS: Qua album này xin cám ơn anh Trần Dạ Lữ đã tặng tập “Thơ tình viết trên bao thuốc lá” và em Dũng KQĐ đã (chép tay) tặng anh QNH bài thơ “Tôi đã đánh mất nước Việt buồn” em đọc ở Hội Ngộ tối 19.4.2018.

 

Nhà Thơ Nguyễn An Bình

TƯƠNG TRI, CUỘC HỘI NGỘ VĂN CHƯƠNG ĐẦY THÚ VỊ BÊN BỜ SÔNG SÀI GÒN.

Lúc 5 giờ chiều, ngày 19/4/2018 có buổi hội ngộ cộng tác viên của trang Tương Tri.com tại nhà hàng Sông Trăng của nhà thơ Văn Công Mỹ trên đường Bình Quới-Bình Thạnh bên bờ sông Sài Gòn. Tương Tri.com là một trang web thuần túy về văn chương với người chủ biên Tôn Nữ Thu Dung(Ton-Nu Thu-Dung– đang định cư tại Mỹ) đầy nhiệt huyết với một đội ngũ cộng tác viên từ mọi miền trên thế giới. Nhân những ngày về thăm quê hương và tặng tuyển thơ HƯ ẢO TÔI cho các tác giả kỷ niệm 6 năm ngày Tương Tri hoạt động. Ở đây tôi được gặp mặt nhiều anh chị đã từng viết trên Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc và nhiều tạp chí văn học trước năm 1975. Những bản tình ca và những bài thơ được đọc đã tạo sự thân mật gắn kết anh em văn nghệ đến không ngờ. Hôm nay chị Thu Dung đã lên đường về Mỹ. Cám ơn chị Thu Dung, anh Văn Công Mỹ, anh Tạ Chí Thân đã tổ chức cuộc hội ngộ đầy tình thân và gởi cho những tấm hình kỷ niệm nầy.

Nhà Văn Phạm Nga

Cuộc vui nào cũng tàn…, nhưng không sao, ta cứ hẹn nhau sẽ cùng vui lần nữa. Chúc THU DUNG trở về nhà tiếp tục được làm ‘giáo chủ’  suông sẻ, phấn chấn, để bạn bè còn gặp lại.🌷

Nhà Thơ Nguyễn Đăng Trình

TƯƠNG TRI – khoảnh khắc tuyệt vời & đáng nhớ…
(chiều 19.4.18)

Và Nhà Thơ Dũng KQD đọc:


…Có khi nghĩ trời sinh một mình ta là đủ
Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để quàng vai ấm áp cuộc rong chơi!
( Nguyễn Bắc Sơn)

Vâng, … chỉ để quàng vai ấm áp cuộc rong chơi!

Tôn Nữ Thu Dung