CHẤU CẮN

Hình như Rilke, một nhà thơ người Tiệp, từng nói lời cực đoan: “Tôi van bạn chớ làm thơ, ngoại trừ trường hợp thiếu nó, bạn sẽ chết”. Cũng chính ông người “lạc hậu” kia viết ra câu: “Ở đâu có nguy hiểm, ở đó có cứu rỗi”.

Trước, tôi có làm dăm ba bài thơ. Nay, tôi bị đẩy lên sống ở vùng kinh tế mới. Tôi van bạn đừng dại lên đây, ngoại trừ ở thành phố người ta sắp giết bạn. Kinh tế mới là gì? Đó là cụm chữ tôi không tài nào hiểu được! Một sườn đồi tiếp giáp với Trường Sơn, bên dưới là bình nguyên lắm cây cỏ hoang dại mọc dài theo con suối thỉnh thoảng có bóng người Thượng chẳng biết từ đâu tới gánh nước, gùi con sau lưng xuống tắm hoặc giặt giũ chăn màn. Với phương tiện thô sơ, hơn hai trăm mạng người sẽ “cải tạo” cái gai góc kia, biến nó thành bình địa để bắt đầu xây nhà dựng cửa khai hoang lập ấp. Tôi là một trong sĩ số hai trăm đứa cần cù lao động, đặt dấu chân người đầu tiên ở chốn đèo heo hút gió, cách thành phố cũ 40 cây số đường chim bay. Mệt chết bỏ, thở không ra hơi. Thơ thẩn cũng bỏ tôi, đi mất biệt. Thật là chim kêu vượn hú biết nhà má đâu!

Một người có kinh nghiệm đi rừng truyền đạt “lời hay lẽ phải”: Bạn bị rắn cắn nơi nào, gần nơi đó luôn có thứ lá cây để sơ cứu chận độc. Ông ta kết luận: Trời hay ở chỗ ấy! Sinh cái này phải đẻ thêm thứ kia. Tôi nhìn ông ta, lời ông nào khác gì lời “ấm ớ” của Rilke. Và một ngày, ông trời đã không có mắt, tôi sơ ý bị rắn cắn ở dưới bắp chân, cây cỏ um tùm biết tìm đâu ra thảo dược. Buộc chặt một sợi dây vào đùi, ngăn máu chảy về tim, mặt xanh lè được hai người tốt bụng khiêng ra khỏi hiện trường, báo cáo mấy vị có thẩm quyền xin được chở xuống trạm xá nằm ngoài quốc lộ. Ở đó có hai người y tá, một bác sĩ chuyên chữa những bệnh kiết lỵ sốt rét hoặc gãy tay cụt giò. Tôi được một cô gái đích thân nặn máu độc ra, bôi thuốc khử trùng và cho uống hai viên thuốc, hy vọng không phải là Xuyên Tâm Liên. Cô dìu tôi nằm xuống cái giường tre ọp ẹp: Chừng nào thấy chóng mặt, hoa mắt hoặc nghe tim đau thì nhớ gọi tôi. Cô đắp cho trán tôi một vuông vải ướt, mát; rồi quay lưng đi mài một con dao nhỏ, xoèn xoẹt chẳng biết để làm gì. Tôi van cô chớ giải phẫu chân tôi, ngoại trừ thiếu vết dao cắt, tôi sẽ chết vì rắn.

Tôi không đau tim, may phước chẳng ấm đầu chóng mặt nhưng “bồi dưỡng” thức gì vào cũng nhợn nôn. Nhác ăn nhác chơi. Chỗ rắn cắn tím bầm, sưng tấy. Cô y tá nhìn, xem chừng muốn buồn tay động dao động kéo. Ngày mai mới có bác sĩ chuyên khoa từ bệnh viện đến thăm, không ấy tôi cho anh thử dùng phương thuốc Nam. Lần này thay vì mài dao cô ra sau nhà chổng mông ngồi thổi lửa. Một cái nồi đất bắt lên, lởm chởm những cọng lá sắc đâm tua tủa ngâm thân chờ héo úa. Hẳn là nó rất đắng, tôi đồ vậy. Thuốc đắng đả tật. Tôi thử nhẫm tính xem đã mấy hôm rồi tôi thiếu vắng cà phê. Lòng tương tư vô hạn hình ảnh cái nồi ngồi trên cái cốc. Lý lịch tôi mang thân phận tiểu tư sản, một đứa như thế vẫn thèm khát vu vơ những thứ xa rời hiện thực. Những bài thơ viết chùng vụng cũng chở đầy thứ tâm cảm được voi đòi tiên, đứng núi nầy trông núi nọ để chung cuộc là tiếng thở dài đánh sượt, dài miên man. Nếu vắng nỗi buồn, tôi van bạn chớ làm thơ!

Dẫu sao tôi nên cảm ơn con rắn vằn vện đã cho tôi “biết thế nào là lễ độ” khi vô cớ tới làm động hang ổ nó. Từ nơi hoang vu giờ đây được dưỡng thương bên quốc lộ nghe tiếng xe đò quen thuộc gầm rú lừ đừ đi ngang qua cùng khói xanh vương vấn nơi khung cửa. Nói dị đoan rằng vì tôi tuổi Tỵ nên đồng loại không nở ra tay ác độc. Tao cắn mày để cho mày có cơ hội được chây lười lao động, và nghĩ mà xem cô y tá ấy chẳng phải thuộc loại mát tay. Tha hồ cho mày câu giờ kiếm cớ gạ chuyện với cô. Bệnh nhân đa phần đều ông già bà lão, đa số đều không ngớt rên la. Tiếp xúc với họ thêm oải, đời mất vui. Mấy khi bệnh xá mới có con bệnh lạ kỳ như mày “nhập viện”. Thanh niên trai tráng đã đành, hắn còn biết pha trò nữa cơ. Có duyên tệ! Hay han hỏi, hay động viên tinh thần và thi thoảng hắn biết giả bộ nắm tay, xem chừng tình trong như đã mặt ngoài còn e. Mong bác sĩ chưa vội tới, ngày mai trời vẫn tối, chiếc giường vừa buông mùng ngăn muỗi rừng và không biết ca trực của mình có nên kéo dài vượt khỏi mức quy định. Tờ giấy hồ sơ bệnh lý của hắn ghi tên Tâm, mình cũng đã hé lộ tôi tên Đoan. Trao đổi thêm mới hay hắn từng làm thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm và một thứ nghề không chính đáng: Biết làm thơ. Eo ôi, giời ạ! Chảnh đến thế thì thôi! Tâm bảo: Thế nào cũng có lúc mang tặng Đoan một bài thơ, người đã ra tay tế độ vực tôi kinh qua cánh cổng của thần chết. Háo hức lắm cơ, nghe thế bảo sao không làm ngày chẳng đủ tranh thủ làm đêm. Ngẫm kỹ đi mà xem, tất cả những vần thơ đăng báo đều xưng tụng anh hùng, ca ngợi thủ trưởng, đề cao những bà mẹ liệt sĩ chớ nào có ai để tâm “phải lòng” tới hạng người y tá đâu nhỉ? Mà y tá vô danh ở chốn sơn cùng thuỷ tận!

Hạnh phúc thường mong manh. Không ai bị rắn độc cắn mà phải nằm viện ba ngày cả, ngoại trừ bị chằn ăn trăn quấn. Bác sĩ vừa lộ hình vừa tuyên bố. Ông rảy một ít bột trắng lên vết thương mưng mủ, viết một tờ giấy trao tay tôi, ký nhận rằng nạn nhân được phép nghỉ lao động nặng ít hôm, gói hai viên thuốc vào ô giấy báo vừa xé nhỏ: Chừng nào sốt hẳn uống. Ông xua tay như đuổi ruồi, yên tâm đi nhé, hồi nào có xe vào lấy củi thì quá giang họ cho đỡ nhọc thân. Đoan kiếm đâu ra một thân cây tre gầy guộc: Này, nắm lấy nó mà vượt suối băng ngàn. Tôi cầm tay Đoan: Để tôi vào lại chỗ cũ chọc cho rắn cắn và như thế đôi ta lại gặp nhau. Sưng tấy cả hai chân cũng cố lết ra đường lộ. Đoan la: Đồ quỉ nà, bộ hết cách chơi rồi sao? Giả bộ ngộ độc thực phẩm để ra xin thuốc không được sao?

Hút vừa xong điếu thuốc thì xe củi trờ tới. Đoan không mặn mà săn chắc như kiểu sơn nữ, hơi thô thiển hơi quê mùa nhưng trong tôi thấp thoáng ló ra một đôi câu thơ. Kinh tế mới và lung lay thứ tình cảm đầy gió chướng giữa đồng không mông quạnh. Đời này vốn thiếu hụt lắm thứ, hãy thử kiếm ra một chút vui vầy đặng kinh qua. Tôi được gã tài xế ra dấu cho lên ngồi ghế cạnh ông ta. Người ông có dáng vẻ một cây xương rồng không bao giờ được tưới nước. Gai góc, đen đúa, khô đét, nhiều góc cạnh. Trời sinh ông ra để bầu bạn với đường trường, với nắng nôi, với gió bụi, với chiếc xe mãi gầm rú ho hen. Chú em đã từng thấy qua cây quế chưa? Đi quàng xiên trong ấy thế nào cũng có khi bắt gặp trầm. Hai thứ đó chú em nhớ để dành, thu ém riêng một chỗ khuất, có bao nhiêu tôi thầu bấy nhiêu và rồi đời chú em sẽ đổi khác. Một đứa vô sản không có quyền ăn nói, nhưng khi chú em chất đầy túi…hề hề rời khỏi núi để đi mua tiên mấy hồi! Tôi thưa thật là vừa bị rắn cắn, không biết mặt ngang mặt dọc hình thù chiếc lá trị nọc rắn để đắp vào dấu răng. Một tay ngang dưới phố lên, lạc vào rừng bạt ngàn cổ thụ làm sao biết ngậm ngãi tìm trầm! Bác tài nhấn chân ga vượt qua con dốc đầy sỏi đá: Khỏi lo, tôi có sẵn cuốn bí kíp võ công đây. Ông moi túi áo ra tờ giấy gấp làm bốn có vẽ hình thù và những đặc điểm để nhận diện. Thứ bí kíp ấy như được xé rời từ một cuốn sách dạy cách tồn vong khi bạn lạc vào rừng sâu, thứ này ngon chứa nhiều chất kháng sinh, thứ kia độc ăn vào sẽ mắt trợn môi trề. Tôi đón nhận, cất trong ví đựng giấy tờ tuỳ thân và gửi tới ông nụ cười thật tươi để thế một thoả thuận ngầm. Tôi van bạn nên mạo hiểm, ngoại trừ trường hợp bạn muốn chết không chiếu bó thây.

Cạp nong hay hổ mang gì đó quả có vị tình, vết cắn thôi sưng kiểu dị hình dị tướng, da thịt chỉ còn lưu lại một khoanh màu vàng bọc lấy hai vết đỏ cầu chứng. Điều này có nghĩa là tôi chuẩn bị đeo đồ nghề đi phạt cỏ đốn cây. Chưa gì đã có bọn người lập ra đội xây dựng kiến trúc đòi vẽ hoạ đồ. Họ đào móng đóng cọc khu A khu B khu C các thứ. Khu D nằm sát bờ suối tạm thời dùng làm nhà bếp tập thể. Vì ham nghe lời xúi giục của bác tài nên tôi chăm lao động giấn liều đi xa mà quên bài giả bộ ngộ độc để chính đáng ra bệnh xá mân mê tay Đoan nói trăng nói cuội. Trăng bên bờ suối đẹp kiểu hư ảo, giá mà có Đoan đứng tắm thì tôi sẽ làm được bài thơ vẽ cảnh đào nguyên. Thiên thai có hai ông cọp ngồi nhai thịt người lai rai. Chừa lỗ tai để ngày mai khoan thai nhử con nai. Này gái chiếc này trai đơn hãy mau khai. Chớ lạc sai. Nhớ dòm chừng ông cai.

Sau hơn tháng vật lộn bắt sỏi đá phải thành cơm, khu kinh tế mới bắt đầu khởi sắc. Mái tranh vách đất, nhà gỗ nhà sàn tuỳ tiện chen vai, đồi sắn nương khoai cứ thế mà đào bới tự túc tự cường. Chỉ thị ở trên ban xuống: Bắt trời làm mưa, biểu đất làm lúa. Xin bà con hãy vô tư. Tôi van bạn đừng hiểu, ngoại trừ bạn muốn tắt thở vì sự nhạy cảm. Cứ trơ như đá và hồn nhiên như hòn cuội nằm dưới suối mặc cho nước chảy đá mòn. Những từ ngữ mà lãnh đạo thốt ra đều chung một bài bản sáo mòn, thấp kém hơn chữ dùng của thường dân và trong cuốn từ điển dồi dào mang đầy tính sáng tạo ấy tôi yêu hai chữ: Trúng mánh. Cuộc hành quân đầu tiên đã mang tới thắng lợi vẻ vang thần thánh. Tôi “giao lưu” với bác tài xế xe củi, môi hở răng lạnh và bác ấy thanh thoả hợp đồng theo phong cách đậm đà của tình đồng chí. Ở đâu có đói khát, ở đó có lòng tham. Ở đâu có rừng vàng ở đó có lâm tặc.

Không thể kiếm cớ chạy về thành phố mua tiên, tôi tìm cơ hội để đổ thân ra quốc lộ tìm gặp Đoan. Tôi trao tay món quà thủ công “tự biên tự diễn”, chiếc kẹp tóc làm bằng loại gỗ thơm, và cũng chính tay tôi đính nó vào đầu tóc chẳng mượt mà của người y tá chây lười việc điểm trang. Đoan cảm động khi nghe tôi bảo, thay vì ngồi nhớ Đoan để dệt vần điệu thơ ca tôi ra công trong tuần lễ để hoàn tất tác phẩm này. Hèn gì lâu nay ra tựa cửa chẳng trông thấy một người bị ngộ độc thực phẩm quờ quạng bước vào. Người Đoan run lên khi tôi ôm cô vào lòng, mắt Đoan nhắm lại để hé môi chờ đợi một nụ hôn. Ngộ độc thực phẩm là chuyện nhỏ, sao sánh được ngộ độc vì nhớ thương. Phía sau bệnh xá, chỗ khuất lấp có trồng hai bụi môn. Trong bệnh xá có người nằm rên vì chứng đau bao tử vì vậy y tá bỏ mặc mọi thứ, nắm tay tôi dại khờ tìm nơi vắng vẻ. Nếu Đoan là Nguyệt Nga thì tôi hơn Vân Tiên vạn lần. Cỏ ngứa, muỗi cắn hoặc ruồi bu kiến đậu, hoặc những âm mưu thâm độc khác đều không gây trở ngại cho hai kẻ đang thích chơi trò lấn đất dành dân, ưa mở rộng địa đạo hối chú du kích vào phục sẵn chờ phút khai hoả. Những nước theo xã hội chủ nghĩa thường có đông dân số, giản dị vì họ không có thứ gì để giải trí cả. Niềm vui duy nhất là nam nữ cứ bu như sam, nhưng nói cho ngay vì Đoan là y tá nên cô có sẵn cả tủ thuốc ngừa thai. Đoan không dại nằm thắp sáng cái sướng trong phút giây để rồi ngồi nguyền rủa nỗi đau theo tháng ngày. Em nói thật đấy, cơ quan mà biết được thì họ khai trừ em, họ bêu rếu em, họ bắt em làm bản kiểm điểm, đày đoạ em, mắng nhiếc em nào là có chuyên mà không có hồng, nhân thân xấu, chẳng xứng đáng làm con người mới để thích nghi với chế độ ưu việt. Tôi nhìn giọt nước mắt ứa ra trên khuôn mặt mờ tối của Đoan. Sao Đoan khóc? Vì em đang hạnh phúc, chưa bao giờ em hưởng được thứ bồi dưỡng lạ lùng như phút giây qua. Em ghi cho anh một cái lịch nhé, những giờ giấc thuận tiện để chúng ta cùng ăn nằm bên nhau. Tâm có thương em không? Còn phải hỏi, Đoan là con rắn đáng yêu nhất mà anh gặp phải, anh tự nguyện giao mạng cho Đoan cắn, như vừa cắn vết dịu dàng. Thôi đi ông tướng, vừa làm rắn bò đi lung tung còn đổ thừa cho người ta.

Trước khi chia tay, tôi vụng trộm ngó Đoan ngồi bên lu nước múc từng gáo tự sơ cứu làm hạ nhiệt. Tôi trao cho Đoan một xấp tiền. Cái gì đây? Bồi thường thiệt hại, hồi nãy lỡ làm hỏng cái quần lót của Đoan. Có thích em làm vệ sinh cho anh không? Không, anh vào tắm suối. Đoan hôn tôi đắm đuối, hụt hơi. Và tôi chẳng ngờ được, đó là trang cuối cùng của chuyện tình vắn số của chúng tôi. Vĩnh viễn tôi không còn nhìn thấy Đoan. Cũng như chiếc xe chở củi chở gỗ về thành phố người ta đã thay ông tài xế khác.

Tôi bị bắt vì tội phá hại tài sản của nhà nước. Cán bộ đã vào lán tôi ở, moi được bọc tiền làm tang chứng vật chứng chuyện móc ngoặc với thành phần bất hảo, bán và tiêu thụ trầm, quế. Họ cũng tìm đọc những bài thơ tôi giấu dưới chiếu, quy chụp rằng lời lẽ quá sức phản động, dựng chuyện lầm than đói khổ để nói xấu chế độ. “Đau khổ chi bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho”. Đấy, mày nàm thơ kiểu đấy thì phải chóng nhập kho thôi con ạ! Thưa các cán bộ, tài sức tôi đâu đủ để viết được lời bi thảm đó. Thơ ấy là của Hồ chủ tịch đấy ạ! Một đứa hùng hổ đến sát bên tôi. Láo lếu! Tay hắn nắm dùi cui, nháng một cái tôi chẳng còn trông thấy gì cả. Đất trời đều sập tối. Tôi van bạn đừng làm thơ vẽ cảnh hiện thực, và tránh xa việc trích dẫn những “lời hay ý đẹp” của lãnh tụ. Bạn sẽ chết chắc ngoại trừ bạn là đàn em của Phù Đổng Thiên Vương thanh thản cỡi ngựa sắt về trời vui thú điền viên.

Hồ Đình Nghiêm

Truyền thống và ý nghĩa Lễ Tạ Ơn Thanksgiving

Thanksgiving được coi là dịp để bày tỏ lòng biết ơn nhau và nhất là Tạ Ơn Chúa đã ban cho vụ mùa màng đưọc sinh hoa kết trái, lương thực đồi dào và tất cả các ơn lành khác ta nhận được trong cuộc sống. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức với gia đình và bạn bè gặp gỡ, cùng chia sẻ niềm vui, và nhất là một bữa tiệc buổi tối, gia đình sum họp ăn uống vui vẻ. Đây là một ngày quan trọng cho đời sống gia đình, nên dù ở xa, con cháu thường về với gia đình.

Tại Mỹ, ngày lễ này được tổ chức vào thứ 5, tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 hằng năm. Người ta thường được nghỉ 4 ngày cuối tuần cho ngày lễ này tại Hoa Kỳ: họ được nghỉ làm hay học vào ngày thứ Năm và thứ Sáu của tuần Lễ Tạ ơn. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức tại nhà, khác với ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ hay Giáng Sinh, những ngày lễ mà có nhiều tổ chức công cộng (như đốt pháo hoa hay đi hát dạo).

Nguồn gốc Lễ Thanksgiving đầu tiên:

Chuyện kể rằng những người di dân hầu hết là thuộc Thanh giáo, họ rời Anh quốc vào tháng 9 năm 1620 trên chuyến tàu Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn. Đầu tiên, họ đến Leyde thuộc Hòa Lan, nhưng cuộc sống ở đây làm họ thất vọng. Do đó nhóm người này quyết định đi tìm một chân trời mới tại Tân thế giới, họ muốn tạo dựng một “một thành Jérusalem mới” ở Hoa Kỳ.

Trên chuyến đi sang Tân thế giới, họ đã trải qua bao gian lao, thử thách, lo sợ và nguy khốn… Nước đá lạnh tràn vô tàu khiến mọi người sợ hãi, Sàn tầu bằng gỗ, có lần đốt lửa xẩy ra tai nạn, nên sau đó họ phải ăn thức ăn lạnh. Nhiều người ngã bệnh. Cuộc hành trình này có 1 thủy thủ và 1 hành khách chết. Trong khi còn trên biển, bà Elizabeth Hopkins sinh một con trai mà bà đặt tên là Oceanus (có nghĩa là “Đại Dương”).

Sau 65 ngày trên biển lạnh, vào ngày 21 tháng 11 năm 1620, tàu đến Cape Cod, sau cuộc hành trình dài 2750 hải lý (1 mile = 1,852 km). Cap Cod là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts). Và sau khi tàu cập bến tại hải cảng Provincetown, thì Susanna White cũng cho ra đời một bé trai, đặt tên là Pelégrine (nghĩa là “người hành hương”). Tuy biết là đã đi sai đường, nhưng họ phải xuống tàu, và ký ngay ngày hôm đó một hiệp ước sống hòa hợp với dân bản xứ (Narranganset và Wampanoag). Đó là Maryflower Compact Act, trong đó ghi những gì phải làm khi định cư.

Họ tới Plymouth Rock, Massachusetts, ngày 11 tháng 12 năm 1620. Có nhiều cuộc chạm trán nho nhỏ, nhưng không quan trọng lắm. Họ phải đi tìm chỗ ở khá hơn bởi vì lúc đó là mùa đông đầu tiên của họ, một mùa đông đầu tiên vô cùng khác nghiệt và quá lạnh lẽo.

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắc khe và thiếu thốn, Ngay từ cuối thu, vì bệnh dịch và lạnh lẽo, họ đã mất đi 46 người trong số 102 người khởi hành trên tầu Mayflower, Trong số người chết có 14 người vợ (trong số 18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người). Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do người dân da đỏ cung cấp.

Nhưng mùa gặt của năm 1621 lại là một mùa tốt đẹp. Những người còn sống sót quyết định làm tiệc ăn mừng có sự tham gia của 91 thổ dân da đỏ – những người đã giúp họ sống sót trong năm đầu vì đã cung cấp lương thực và dạy họ trồng bắp và săn thú rừng.. Đoàn di dân tin rằng họ không thể tồn tại được nếu không có người da đỏ giúp đỡ. Buổi tiệc được tiến hành theo phong tục cổ truyền mừng mùa màng của Anh chứ không đơn thuần chỉ là “tạ ơn” và kéo dài suốt 3 ngày.

Lúc đó, người đứng đầu cai quản vùng đất này – Thống đốc William Bradford đã cử 4 người vào rừng để săn chim, gà và ngỗng cho buổi tiệc. Không biết rõ gà rừng có phải là một phần chính cho bữa tiệc hay không nhưng chắc chắn là họ dùng thịt của một loài lông vũ. Danh từ “turkey” từ đó được những người di dân dùng cho những giống chim rừng.

Sang năm tiếp theo, 1662, Lễ Tạ ơn không được tổ chức. Nhưng vào năm 1623 sau nhiều lần hạn hán những người di dân của các thuộc địa cùng nhau tụ tập lại cầu nguyện cho mưa xuống. Sau khi mưa liên tiếp trút xuống mấy ngày, Thống Đốc Bradford tuyên bố một ngày Tạ ơn nữa, và họ lại mời những người bạn da đỏ.

Những Lễ Thanksgiving tiếp theo sau…

Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh giành độc lập của Mỹ, Hội đồng các thuộc địa đã định ra thêm một vài ngày Tạ ơn trong năm (trừ năm 1777).

George Washington với tư cách là chỉ huy lực lượng giải phóng đã tuyên bố ngày Tạ ơn trong tháng 12/1777 là ngày lễ mừng chiến thắng lính Anh tại Saratoga. Hội đồng thuộc địa công bố ngày lễ Tạ ơn vào tháng 12 từ năm 1777 đến 1783 (trừ năm 1782).

Sau khi trở thành Tổng thống, George Washington đã tuyên bố ngày lễ Tạ ơn quốc gia năm 1789 và 1795 dù gặp phải vài sự phản đối. Tổng thống John Adams tuyên bố ngày Tạ ơn vào năm 1798 và 1799. Tổng thống Madison cũng dành ra một ngày gọi là để Tạ ơn vào cuối cuộc chiến năm 1812.

Sau đó, nhờ Sarah Josepha Hale, chủ bút của một tờ báo cố gắng thuyết phục mọi người công nhận lễ Tạ ơn bằng những bài viết của bà trên tờ Boston Ladies’ Magazine và Godey’s Lady’s Book kèm theo thư từ cho các thống đốc và các tổng thống, cuối cùng vào năm 1863, Tổng thống Lincoln tuyên bố ngày Thứ Năm cuối cùng của tháng 11 là ngày lễ Tạ ơn và là ngày nghỉ hàng năm. Các đời Tổng thống kế tiếp cũng làm theo tiền lệ này.

Năm 1939, Tổng thống Franklin Delano Roosevelt tuyên bố lễ Tạ ơn sẽ diễn ra vào ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 3 trong tháng 11, tạo điều kiện giúp giới kinh doanh thuận lợi trong việc bán hàng trước lễ Giáng sinh. Song tuyên bố của ông Roosevelt không có hiệu lực vì bị nhiều bang phản đối.

Đến năm 1941, Quốc hội Mỹ đã đạt được sự đồng thuận và định ra ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 sẽ là ngày Tạ ơn trên toàn quốc. Ngày 26/11/1941, Tổng thống Roosevelt chính thức ký thông qua đạo luật này.

Bữa tối mừng lễ Tạ ơn

Món chủ đạo trong bữa Tạ ơn tại Mỹ và Canada là thịt gà tây nướng. Vì gà tây là món ăn phổ biến nhất trong bữa tối mừng Lễ Tạ ơn, nên đôi khi ngày Tạ ơn còn được gọi là Ngày Gà Tây. Tổ chức USDA từng thống kê năm 2006 có trên 300 triệu con gà tây được nuôi và khoảng 1/6 trong số này dành phục vụ lễ Tạ ơn.

Thời kỳ đầu, lễ Tạ ơn kéo dài ba ngày. Tuy nhiên họ không thực sự chỉ ăn gà tây (turkey, dindon) bởi vì chữ “turkey” lúc bấy giờ dùng để chỉ gà tây, gà, chim cút, chim trĩ… Cho dù những người di dân đầu tiên có ăn gà tây hay không vào dịp lễ Thanksgiving đầu tiên, thịt gà tây luôn luôn được gắn liền với lễ này.

Cùng với gà tây là món Bí đỏ(pumpkin) truyền thống, đây là loại thức ăn đã cứu sống những người hành hương trong mùa lạnh kinh khủng đầu tiên ấy, đã trở thành món ăn quan trọng gần như thịt gà tây. Món ăn bí đỏ luộc, và làm bánh chiên bằng bột ngô. Một số thực phẩm khác cũng xuất hiện trên bàn tiệc như: nước sốt chanh, nước sốt thịt, khoai tây nghiền, khoai lang ướp đường, đậu xanh. Lúc đó trên bàn cũng không có sữa, nước táo, khoai tây hay bơ như sau này, vì họ chưa nuôi được bò để có sữa. Nhưng bữa tiệc cũng thêm phần thịnh soạn vì có thêm cá, trái dâu, rau cải soong, tôm hùm, thịt chim rừng, trái cây khô và trái mận tươi.

Các món tráng miệng cũng được bổ sung trên bàn ăn, bao gồm một số loại bánh nướng nhất là bánh bí ngô, bánh nướng nhân dâu tây, bánh nhân hồ đào.

Ngày nay, trong dịp lễ này gia đình đoàn tụ, khách có thể mang theo món ăn, nhưng không mang theo quà cáp.

Những hoạt động trong ngày Tạ ơn tại Hoa Kỳ:

Một hoạt động không thể thiếu vào dịp Tạ ơn là mua sắm. Ngày thứ Sáu sau ngày Lễ Tạ ơn là ngày mua sắm đông nhất trong năm tại Hoa Kỳ. Bắt đầu từ những năm 1930, mùa mua sắm nhân dịp Giáng sinh bắt đầu khi lễ Tạ ơn kết thúc.

Tại thành phố New York, cuộc diễn hành nhân ngày Tạ ơn của Tập đoàn Macy’s được tổ chức hàng năm tại khu trung tâm Manhattan. Cuộc tuần hành được tổ chức theo các chủ đề đặc biệt nào đó, hoặc mô phỏng các cảnh trong những vở kịch trên sân khấu Broadway kèm theo những chùm bóng lớn vẽ nhiều nhân vật hoạt hình hoặc diễn viên truyền hình nổi tiếng. Diễu hành nhân dịp Tạ ơn cũng diễn ra ở một số thành phố khác như Plymouth, Los Angeles, Houston, Philadelphia và Detroit…

Một hoạt động chính khác trong dịp lễ Tạ ơn tại Mỹ là đá bóng (American football). Nó được coi là một phần quan trọng trong ngày Lễ Tạ ơn. Theo truyền thống, hai đội chuyên nghiệp sẽ giao đấu vào ngày Tạ ơn, song đến gần đây, các trận bóng được tổ chức vào ngày trong tuần, không phải vào Chúa Nhật. Các đội chuyên nghiệp thường đấu nhau trong ngày này để khán giả có thể xem trên truyền hình. Thêm vào đó, nhiều đội banh trung học hay đại học cũng đấu nhau vào cuối tuần đó, thường với các đối thủ lâu năm.

Riêng tại Canada, lễ Tạ ơn diễn ra trong 3 ngày cuối tuần và không được coi trọng như ở Mỹ. Vào dịp này, các gia đình Canada khó có thể tụ họp với nhau, thay vì thế họ coi ngày Noel là dịp để thành viên trong gia đình đoàn tụ. Thêm vào đó, lễ Tạ ơn tại Canada lại rơi vào ngày thứ 2, tuần lễ thứ 2 trong tháng 10, nên người Canada có thể ăn bữa tối Tạ ơn vào bất kỳ ngày nào trong số 3 ngày cuối tuần trước đó. Điều này có nghĩa, họ sẽ ăn tối cùng một nhóm họ hàng trong 1 ngày và một bữa khác với nhóm khác vào ngày hôm sau.

VietCatholic

nghiễm nhiên

nghiễm nhiên em giữa đời tôi
như chiều căng gió như trời đầy mây
như hoa trái ngọt bao ngày
như cây cỏ níu bàn tay dịu dàng

nghiễm nhiên em giọt nắng vàng
rơi vào tôi thắp khẽ khàng xuân tươi
nên e ấp nụ môi cười
nghiễm nhiên em rót vào tôi nụ hồng

hiên trời ngọt gió thu đông
em mang vạt nắng tình nồng lứa đôi
thơm làn môi ấm trên môi
nghiễm nhiên em đã trao tôi địa đàng

em nầy môi có còn ngoan
tình yêu ướp mật tơ vàng ong bay
tôi về lãng đãng cơn say
đợi em trong giấc mơ nầy …
nghiễm nhiên…

nguyễn minh phúc

Chez Spoon

Sáng mùa Đông. Mặt trời hồng. Đẹp quá. Ly cà phê óng ả mặt trời. Tôi nhìn sâu, tôi nhìn xa, tôi nhớ mặt người. Tôi nhớ cả nụ cười ai đó…

Đà Lạt tôi ơi, hoa quỳ trước ngõ. Áo vàng em, màu gió cũng vàng. Nắng bình minh mù suơng đang tan. Gió bình minh mơn man nhành liễu…

Ai giàu có chắc gì không thấy thiếu / một ngày sau, một tương lai bình yên…cho nên người ta xây dựng những ngôi đền, xây dựng những ngôi Chùa, những Thánh Đường tráng lệ…

Ai chẳng nghĩ có một ngày dâu bể? Nghĩ rồi sao? Buồn quá? Thở dài? Những tờ Kinh là cánh cửa tương lai…Những lời nguyện, nỗi u hoài chia sớt?

Bác Sĩ Yersin để trọn đời cho nước Việt, tôi – người Việt mà…sao tôi tha hương? Đại lộ Yersin, nhà thờ Con Gà, tiếng chuông…ai Đà Lạt không buồn khi xa Đà Lạt?

“Trải vách quế gió vàng hiu hắt, mảnh nhung y lạnh ngắt như tờ!”. Ôn Như Hầu tả vậy trong thơ, thương nhớ những khối tình để nơi biên ải…

Những người Cung Nữ là những nàng con gái / ở thâm cung chờ đợi Vua nhìn. Biết bao người không thấy một bình minh…như em vậy – từ tôi xa Tổ Quốc!

*
Biết bao nhiêu người con trai không cam chịu cúi đầu nhẫn nhục, lấy núi non làm tường vách thời gian…Đà Lạt của tôi ơi, áo lụa em vàng, thôi, vách quế đành phơi kỷ niệm!

Nếu hoa quỳ tự dưng màu tím…
Nếu áo vàng tự dưng khói sương…
Thì bài thơ sáng nay tôi không thấy chập chờn / qua khói cà phê, một Quê Hương diệu vợi…

Đường nào đi, cuối cùng cũng tới? Tôi cầm chiếc muỗng lên khuấy tan mặt trời. Tôi đang ngồi đây, hiên quán quê người, tên bảng hiệu Spoon thấy như duyên như nợ!

Còn chiếc muỗng cũng là còn chút nhớ…Có chút nhớ nào nhỏ hơn đại dương?

Trần Vấn Lệ

VIẾT LÚC 0 GIỜ…

Lăn qua – lăn lại – không tròn giấc
Cứ nghĩ vẩn vơ đến một người
Hình như họ ở nơi xa lắm
Mà cũng rất gần – trong tim thôi

Lời thơ viết mãi không thành ý
Chữ nghĩa đâu về khi nhớ nhau
Với ta – người ấy là tri kỷ
Đã cứa vào lòng một vết dao…

HỒ CHÍ BỬU

ĐÊM NGHE RỪNG YÊN TĨNH!

Tàn tích ngỡ giọng người
Dấu nhiều năm sót lại
Ta còn thấy ngôi xanh
Ngày chiến chinh xa ngái..

Cô gái Việt lai Miên
Chút ba tàu trong máu
Mái tóc vừa Tịnh Biên
Ta mới về tiền tuyến

Những đầu xanh với núi
Treilli trong màu rừng
Phong sương mùi mưa bụi
Trong mắt em rưng rưng

Chiến tranh nào ngại chết
Sợ mất dấu núi rừng
Ta gọi em gái Chệt
Trong mắt đen tội mừng

Chỉ nhìn thôi không nói
Nỗi sợ rất tội tình
Những đàn chim cánh mỏi
Ghé về thăm bình minh

Đôi mắt tròn ly biệt
Chưa nói đã ngại ngùng
Đời chiến binh khắc nghiệt
Về đâu buổi trùng phùng

Những chiều đi vời vợi
Non nước còn điêu linh
Hàng poncho đồng đội
Quấn quanh đời chiến chinh

giữa mình thật mong manh
Mối tình xanh xao lính
Đêm nghe rừng yên tĩnh
Địch chắc toan tính gì!

Chiều biên giới ta đi…

HOA NGUYEN

LẠI VỀ BẢY NÚI

1- THIÊN CẨM SƠN
Lòng ôm đầy mây trắng
Vồ cao đá chập chùng
Phật cười rung ánh nắng
Chứa một trời bao dung.

2-NGŨ ĐÀI SƠN
Đi không hết Nhà Bàng
Giếng khơi trong lòng núi
Có phải bàn chân tiên
Đã hóa thành cổ tích.

3- PHỤNG HOÀNG SƠN

Tiếng phượng hoàng vỗ cánh
Soài So lấp lánh trăng
Cánh chim trên vồ Hội
Xao xác cả suối Vàng.

4- NGỌA LONG SƠN
Thế rồng nằm uốn khúc
Vắt ngang chốn biên thùy
Đá xanh màu ngọc bích
Khói lam chiều bay đi.

5- LIÊN HOA SƠN

Tre vàng tạo rừng thiền
Đài sen ai chợt ngộ
Náu thân chốn lâm tuyền
Người thành chim trong núi.

6- ANH VŨ SƠN
Sừng sững giữa đất trời
Có chăng loài anh vũ
Sân tiên không bóng người
Ngàn năm ai ngóng đợi?

7- THỦY ĐÀI SƠN
Chìm trong lũ mênh mông
Đá trơ gan cùng sóng
Lạc giữa chốn bụi hồng
Tìm đâu hình với bóng.

8- THẤT SƠN

Ta đứng trên Bồ Hong
Bạn đi che bóng núi
Chén rượu chưa kịp mừng
Giữa Thất Sơn huyền thoại.

NGUYỄN AN BÌNH
Châu Đốc 18/10/2018

KÝ ỨC TUỔI THƠ

Ngày tháng đói, dài nhằng như thế kỷ
Ước nắm cơm, mơ tấm áo che thân
Tóc đầy chí, chốc mọc dày, tanh nghí
Gió mùa đông bấu nát tấm lưng trần

Sáng đến lớp, chiều ra đồng, lên rẫy
Hốt cứt trâu, đi mót lúa, giữ bò
Mồ hôi đỏ, nước mắt vàng tuôn chảy
Túi mặt túi mày, bụng chẳng thèm no

Em mấy đứa, vứt bò lê bò lết
Ruồi muỗi bu quanh giấc ngủ tanh bành
Khi khát sữa, chị đưa tay, em mút
Tiếng ho buồn làm méo mái nhà tranh

Bài học mới ngủ vùi trong bàn thọa
Nét chữ cô phê như máu rỉ, đỏ lòm
Bữa trốn học, rủ bạn bè tát cá
Đổi mấy đồng, mua cây viết, cục gôm

Nghèo, xẹp lép như lúa lừng trong mủng
Như khoai sùng, sắn sượng, cám hôi ê
Tương lai đó, như đít nồi đã lủng
Bước theo trâu, từng bước nặng ê chề

Tuổi thơ nhớp, gối đầu mê nón rách
Nghe ca dao cào rát lỗ tai buồn
Hột lúa trộn máu trào sân hợp tác
Sản lượng đè đôi gánh nấc từng cơn

Nắng chan chát làm mờ đôi mắt mẹ
Mưa mịt mù thương gót chị bong gân
Tuổi thơ mỏng đã nát nhàu lá hẹ
Ngó lên trời, dòm xuống đất, thương thân!

Sông vẫn chảy, núi vẫn triền đá dựng
Đời dối lừa nhau bằng những chiếc loa
Từng cơn đói xây tượng đài thế hệ
Tuổi thơ buồn hiu hắt bãi tha ma…

Nguyễn Lãm Thắng

Người Nữ Tu Trong Cô Nhi Viện Pleiku

Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10 1972, đơn vị tôi nhận lệnh kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên trong chốc lát đã là một điều không dễ, nên bọn tôi thèm những cơn say. Rất may, tôi có một anh bạn – phải nói ông anh mới đúng – là Liên Đoàn Trưởng của một liên đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu. Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượu trong một cái quán nằm trong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Henessey. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếng trong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn. Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”. Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhà trong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh. Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi. Hằng tháng. anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quí anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.

Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi. Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượng trong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp túi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:

– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như đại úy suýt chết trong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:

– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà.

Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hải hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác.

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết…

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng. Trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi. Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghi anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:

– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ QuanThủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo này là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhất trong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lại trong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh. Cả bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Một cô gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ và có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt cô có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.

Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có bóng dáng cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng. Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhau trong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ. Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của cô trong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhất trong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nẩy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm màu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận, Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quân trong các làng mạc ở khu ngoại ô tương đối an toàn, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu. Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.

Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số. Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân kiên cố trong các vườn cà phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch.

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mình trong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.

Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù. Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi. Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm. Ban đêm, chúng tôi nằm trong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng Carbine M2 chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng. Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạm trong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh. Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt. Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứ trong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên Úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên Úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.

Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡ trong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằm trong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:

– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước. Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thầy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

-Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo – Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.

Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.

– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện môt lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô Trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của Cộng sản phương Bắc, ồ ạt đưa đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

Ngày 11.3.75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặt.

Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc. Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc. Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển, trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng. Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi chợt nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sững sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15.3.1975. Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên Tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng, trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai. Khi rời khỏi nơi này, trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:

– Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.

Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng”nào. Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng gió mưa lầy lội, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượu trong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lại trong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em. Tôi da diết nhớ đơn vị cũ, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.

Phạm Tín An Ninh

NHA TRANG

Ráng chiều thấp thoáng phía đường xa
Đứng giữa quê hương bỗng nhớ nhà
Ai lạ ai quen ai tri kỷ?
Mịt mù quê quán nhớ gì ta?
Lửa khói binh đao thời trẻ nhỏ
Oan hồn ngựa hí có bọc da?
Thôi thì như lính qua sông lạnh
Lạnh khói chiều lên lạnh mái nhà

Nhọc nhằn năm tháng cũ phôi phai
Đụn rơm nắng xế bóng rơi dài
Ta cũng đã qua ngày cặm cụi
Bây giờ con dế gáy bi ai
Ngồi nhớ xa xưa mà chẳng nhớ
Áo màu quá vãng áo vị lai
Hình nhân nhảy múa trong trí tưởng
Xin được thấy em tóc ngắn dài

Xin về tuổi của những ngày xanh
Chiều đạp xe đi nắng cổng Thành
Có ai đứng lại trên cầu Dứa
Chầm chậm thôi mà nhanh ơi nhanh
Nhanh chậm gì đâu giờ cũng hết
Xế chiều con nước chạy loanh quanh
Sông Cái đưa người về Trại Thủy
Qua Gò Dê nhớ Yersin

Bây giờ ta đứng gọi tên Vân
Mấy lứa con trai đã ngại ngần
Mây trắng thuở nào trôi mất biệt
Thương ngày xoã tóc cõi trần gian
Có lão già đi qua Ngã Sáu
Mắt mờ thánh giá thành chấm than
Áo dài ngày đó là quá khứ
Bây giờ chỉ biết gọi Nha Trang

LÊ PHÚ HẢI