BẢN LÃNH EM TÔI

Trọng em út sinh sau tôi một con giáp và cầm tinh con chuột như tôi, nhưng có lẽ thông minh hơn tôi . . . một chút.  Ngày nó lên ba, tôi thấy nó cầm cuốn sách học vần của Lâm (anh kế nó, năm tuổi) lật từng trang và đọc rạch ròi.  Tôi rất đỗi ngạc nhiên vì không biết nó học đọc lúc nào.  Hỏi ra mới biết nó xem anh học bài rồi nhớ nằm lòng và theo hình trong sách mà nói lại y chang chứ không hề biết đọc.  Tôi là người duy nhất trong nhà nhận ra tài năng khác thường của nó vì anh em tôi đứa nào cũng cố thu mình trong chiếc vỏ ốc đóng kín và sống riêng một mình để khỏi bị cha để ý tới.  Chúng tôi chỉ có một điểm chung – sợ bị cha đánh đập.

Trong đời, hai lần tôi phục Trọng sát đất vì đã làm chuyện tôi không làm nổi.  Lần đầu, năm em tôi 14 tuổi, khi cha đã về hưu trong tay không còn quyền hành hay tiền bạc, nhưng vẫn hay nổi cơn thịnh nộ bất chợt, thường ra lệnh vô lý, và đối xử với vợ con như thể là quân nhân dưới quyền.  Một buổi chiều tôi đi dạy về, mẹ đứng đón ở cửa và khóc kể Trọng bị cảnh sát bắt giam.

Hồi trưa cha ăn cơm xong, nhưng không đi ngủ trưa như thường ngày mà đi ra đi vào nôn nóng chờ người tới mời đi đánh bạc.  Sau khi chờ hơn một tiếng đồng hồ và biết sòng bạc không thành, cha bày chuyện đóng đinh treo hình trên tường để giết thì giờ.  Chỉ có mẹ và Trọng ở nhà, cha biểu nó lấy đinh và búa trong thùng đồ nghề của tôi và chỉ chỗ cho nó đóng.  Cha không biết, và Trọng không thể biết, là tường nhà đúc bằng bê-tông, muốn đóng đinh phải dùng đinh thép; đinh sắt thường chỉ làm vỡ mặt bê-tông mà không xuyên vào.

Nhà chúng tôi trong cư xá Bắc Hải, trước gọi là cư xá Sĩ quan Chí Hòa, đã được bộ Quốc phòng xây và bán trả góp cho cha.  Dù đó là căn nhà cuối cùng để sống đến hết đời, nhưng mỗi khi thua bạc cần tiền trả nợ, cha dụ ngon dụ ngọt mẹ bán đi rồi “ra ngoài thuê nhà có máy nước nóng ở cho sướng”; dĩ nhiên không đời nào mẹ chịu.  Khi Trọng đóng đinh vào tường, mặt bê-tông vỡ ra, đinh văng xuống sàn nhà, và cha tức giận chửi mắng khiến thằng bé luống cuống làm tường vỡ thêm.  Cha cáu tiết nắm tay lấy hết sức bình sinh cú mạnh vào đầu nó.  Đau thấu xương và trong một phút tức nước vỡ bờ, nó quay lại bặm miệng trợn mắt nhìn cha và giơ cây búa lên cao.  Không nói không rằng.

Mẹ nói cha miệng hùm gan sứa, đột nhiên thấy thái độ nổi loạn của Trọng liền thối lui, hối hả kêu xe ra chi cảnh sát nằm trên đường Hòa Hưng đi vào khám Chí Hòa, và yêu cầu bắt giam nó.  Cảnh sát đến nhà đưa nó về bót “câu lưu.”  Theo lệnh mẹ, tôi đến xin gặp vị đại úy trưởng chi, xuất trình chứng minh thư là giảng viên trường Đại học Kỹ thuật viện Đại học Bách khoa Thủ Đức, và xin lãnh Trọng về.  Ông ta cho biết nó chưa làm gì phạm pháp, cảnh sát chỉ tạm giữ nó để dằn mặt vì vị nể cấp bậc và chức vụ cũ của cha.  Mà dù nó phạm pháp đi nữa thì nó là trẻ vị thành niên, chính cha sẽ là người chịu trách nhiệm.

Tuy vậy, tôi làm đơn xin “bãi nại” nộp cho cảnh sát rồi về nhà giải thích với mẹ.  Mẹ năn nỉ ỉ ôi với cha, nhận lỗi con dại cái mang, và xin cha “tha tội” cho “thằng nhỏ trẻ người non dạ.”  Cha biết không có lối thoát nào khác hơn bèn làm bộ rộng lượng xiêu lòng và biểu tôi chở ra chi cảnh sát ký giấy “bãi nại.”  Trọng được “tha” về, không tỏ vẻ ngán sợ, và được tôi phục lăn.  Tôi không làm được như nó một phần vì sợ cha như sợ cọp và một phần vì những ràng buộc của văn hóa Khổng Mạnh, các bài học luân lý, và câu ca dao,

Công cha như núi Thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Tôi khám phá ra trong nhiều tháng qua, Trọng không hề đến trường.  Buổi sáng nó dậy sớm lấy xe Honda PC chở chị là Bình ra chỗ đón xe lô lên Thủ Đức học; Bình là giáo sinh ban Anh văn trường Đại học Giáo dục viện Đại học Bách khoa Thủ Đức.  Sau đó, nó tha hồ sử dụng chiếc xe gắn máy, đi đâu cả ngày không ai biết, và chiều ra đón Bình về nhà.  Ngoài ra, một hôm mẹ kéo tôi ra nói riêng nhờ đưa nó đến phòng mạch bác sĩ quen để chữa bệnh phong tình; lúc đó nó 15 tuổi.

* * *

Chiều ngày 28 tháng Tư năm 1975, khi tôi đề nghị cả gia đình theo tàu Hải quân di tản ra khỏi Sài gòn, cha giận dữ bác bỏ và mắng xối xả, “Mi mần [làm] tầm bậy không chết bỏ xác ngoài biển thì cũng tù rục xương!” và cương quyết không đi.  Tôi và các em khóc sụt sùi lạy sống cha mẹ để tạ ơn sinh thành rồi từ biệt.  Chúng tôi đến đảo Guam, sang trại tỵ nạn Trại Pendleton ở nam California, và cuối cùng được bảo trợ về Bismarck, North Dakota.  Ở nhà, trong hai ngày liền, cha tức tối không ngớt chửi rủa tôi đã “đành đoạn bỏ cha bỏ mẹ ra đi.”  Sáng ngày 30, Sài gòn thất thủ, cha mới chịu nghe lời mẹ chạy ra bến tàu, lên thương thuyền Viễn Đông, và sang Hương Cảng tạm trú ở trại tỵ nạn Cửu Long.

Trong những ngày chờ đợi ở Trại Pendleton, tôi ra sức dạy Anh văn cho Lâm và Trọng để chuẩn bị cho hai em vào trường trung học Mỹ.  Hai đứa mê đi chơi hơn ngồi học; Lâm đá banh với bạn, còn Trọng làm gì không biết.  Khi bị tôi la rầy, Lâm biết lỗi im lặng, nhưng Trọng mím môi trả lời, tỏ ra là một thiếu niên có bản lãnh,

            “Anh khỏi lo cho em!  Em sẽ xin vào nhóm unaccompanied minors [trẻ vị thành niên không có người tháp tùng] là yên chuyện!”

Trọng biết tôi sẽ không bao giờ dám để nó tách riêng như thế nên thách thức để tôi xuống nước năn nỉ.  Và tôi năn nỉ nó thật!  Xuất trại ra Bismarck, tôi và Sang em kế có việc đi làm, Bình học trường đại học cộng đồng, và Lâm và Trọng học trung học – đứa lớp 11, đứa lớp 10.  Cha mẹ từ Hương Cảng sang trại tỵ nạn Đồn Chaffee ở Arkansas, và cha một mực muốn đi Texas ở với Triết, em kế Sang sang Hoa kỳ du học từ đầu năm 1972.  May cho Triết, em chưa ra trường, phải nghỉ học làm thợ tiện sinh sống, thuê apartment ở chung với bạn, và không đủ điều kiện bảo trợ cha mẹ.  Cha bấm bụng lên North Dakota nhập chung với anh em tôi, nhưng lòng vẫn oán hận tôi.

Trở lại địa vị chúa tể gia đình, cha xem tôi như kẻ hầu cận để cha sai sử và không bao giờ bỏ lỡ một cơ hội để hạ nhục.  Sáng mồng hai Tết Bính Thìn (1976), cha uống rượu say, đập phá đồ đạc trong nhà, và chửi bới “thằng con bất hiếu bất mục” đã “khinh cha chưởi tổ” và “đội con vợ lên tran mà thờ.”  Tôi và Quỳnh Châu sợ hãi, vội vàng thu dọn áo quần và vật dụng cá nhân, cho vào hai bao rác lớn và cái rổ đựng quần áo giặt, và mang chất lên xe.  Chúng tôi ra đi.

Từ đó, các em tôi kiếm cách ra khỏi nhà vào cơ hội sớm nhất.  Lần lượt, Sang dọn ra ở riêng, Bình đi Austin, Texas học cử nhân điều dưỡng, và Lâm vào nội trú trường đại học, chỉ còn Trọng ở nhà với cha mẹ.   Nó học rất giỏi và tốt nghiệp trung học sớm hơn một lục cá nguyệt.  Rồi giận cha bỏ nhà ra đi.  Tôi không biết chuyện Trọng bỏ đi cho đến khi cha cho gọi đến và biểu báo cáo với sở xã hội là gia đình (“ăn welfare”) của cha không còn có đứa trẻ vị thành niên là Trọng.  Thấy cha chỉ quan tâm về trách nhiệm người lãnh trợ cấp mà không một lời quan hoài đến nó, tôi ngao ngán “dạ dạ” cho xong chuyện mà không báo cáo.

Một năm rưỡi kế tiếp, nhiều người quen của gia đình gặp Trọng lang thang không cửa không nhà ở California, Texas, và Florida với thân tàn ma dại, đói khát, và nghiện ma túy.  Khi cuộc đời xuống tận đáy vực, Trọng tìm đến Bình ở Austin và tỏ ý muốn về North Dakota làm lại cuộc đời.  Là sinh viên nghèo xác xơ, Bình dốc túi tận dụng số tiền tối đa được phép mắc nợ trong thẻ tín dụng để mua vé máy bay cho nó.

Đồng thời ở Bismarck, tôi và ông bảo trợ ra tòa án quận gặp ông chánh án, trình bày hoàn cảnh Trọng, và xin lệnh tòa bắt nó đi cai nghiện.  Máy bay đáp xuống, Trọng vừa bước khỏi cầu thang thì bị hai vị cảnh sát quận áp giải thẳng tới trung tâm cai nghiện.  Trong sáu tuần lễ sống cô lập trong trung tâm, hằng ngày Trọng đi học lớp cai nghiện do các vị cố vấn tâm lý chỉ dạy.  Trong thời gian này, họ đòi hỏi gia đình phải “học” cùng với resident (“người cư trú,” tức là người cai nghiện) một tuần lễ.  Tôi nghỉ làm và đưa mẹ đến dự “tuần lễ gia đình” này.

Trọng được các vị cố vấn tâm lý tin tưởng, nồng nhiệt khen ngợi, và cho đặc ân về nhà ngủ một cuối tuần.  Ngay trong cuối tuần đó, nó đàn đúm với đám bạn giang hồ cũ và chơi ma túy vũ như cẩn.  Thì ra, nó có đủ mánh khóe để qua mặt các vị cố vấn tâm lý.  “Tốt nghiệp” khóa cai nghiện, nó về nhà cha mẹ ở ít lâu rồi ngựa quen đường cũ lại bỏ nhà ra đi.  Trước khi đi, nó lén lấy chi phiếu và giả chữ ký của cha rồi ra ngân hàng rút tiền.  Khi cha khiếu nại, ngân hàng kiểm chứng đoạn phim chụp hình nó nhận tiền tại quầy và đồng ý trả lại tiền cho cha.

Ngân hàng kiện Trọng về tội ăn cắp.  Nó bị bắt giam ở county jail (nhà giam quận) đợi ngày ra tòa.  Mấy đứa bạn giang hồ bèn dàn xếp cho nó vượt ngục; nó dùng drap trải giường nối lại làm dây thừng và chui qua cửa sổ leo từ lầu ba xuống đất.  Chân nó vừa chạm đất thì cảnh sát quận đã chờ sẵn.  Cuộc vượt ngục táo bạo được tờ Bismarck Tribune tường thuật, cùng với hình ảnh, trên trang nhất.

Trọng bị tuyên án sáu tháng tù giam ở penitentiary (nhà lao tiểu bang) North Dakota.  May mắn thay, sáu tháng mất tự do đã hoàn toàn chuyển đổi cuộc đời em tôi.  Mãn hạn tù, nó đi học ở trường Đại học North Dakota (UND) ở Grand Forks, nơi Lâm đang học kỹ sư điện.  Trọng vừa đi học vừa làm đầu bếp cho nhà hàng Tàu và học một lèo lấy luôn hai bằng kỹ sư – một về cơ khí, và một về điện toán – cộng thêm bằng Cao học Cơ khí.  Trong thời gian này, cha mất vì chứng liệt tim, nó về dự đám tang và được mẹ cho món tài sản duy nhất cha để lại là chiếc xe Plymouth Volaré cũ.  Ngày nó lãnh bằng tốt nghiệp, tôi đưa mẹ lên Grand Forks dự lễ.  Mẹ lấy khăn chặm nước mắt cười rạng rỡ.  Đó là lần thứ hai tôi thấy mẹ cười rạng rỡ như thế, lần đầu là ngày mẹ dự lễ tốt nghiệp kỹ sư của tôi.

Trọng đưa mẹ sang Goshen, Indiana làm lễ cưới Kiên Tính, cô bạn học chung trường tiểu học với nó ở Tuy Hòa.  Phía nhà trai chỉ có mẹ và vợ chồng tôi và bé Mạc con đầu lòng.  Sau một lục cá nguyệt dạy lại ở UND, Trọng dời đi Fort Collins, Colorado làm kỹ sư cơ khí cho một công ty chế tạo bộ phận điều chỉnh tốc độ máy phát điện có công suất lớn.  Ngày Kiên Tính sinh con, mẹ về ở với vợ chồng nó để giúp nuôi đứa con đầu lòng, một cô bé xinh xắn.

Con gái thứ nhì của Trọng chào đời ở Orlando, Florida vì nó dời về đây làm kỹ sư điện toán cho một công ty thầu cung cấp cho bộ Quốc phòng rất lớn.  Kiên Tính học nghề uốn tóc và sau vài năm hành nghề, mở tiệm làm chủ và làm ăn phát đạt.  Trọng mua đất hoang ở Chuluota thuộc ngoại ô Orlando, thuê ũi cây cối, phân lô và đặt hệ thống điện nước, bán lại cho bạn bè thân thuộc người Việt, và giữ lại một lô một mẫu Anh để xây căn nhà hơn 5,000 square feet (khoảng 470 mét vuông) cho mình.  Khu nhà Việt nam của nó nằm trên con đường ngắn mang tên “Vina Lane.”

Khi đời sống vượt quá ngưỡng cửa mà người Mỹ gọi là American dream (“giấc mơ người Mỹ”), Trọng nghỉ việc và đi học tiến sĩ cơ khí tại Đại học Trung tâm Florida ở Orlando.  Chương trình PhD của đại học Hoa kỳ đòi hỏi sinh viên phải dành trọn thì giờ cho việc học và phải nghiên cứu tại khuôn viên đại học – cả hai điều đều quá tầm tay của tôi.  Hai năm sau, Trọng trở thành Dr. Nguyễn đầu tiên của dòng họ.  Đó là lần thứ hai tôi phục em tôi.

Lần này, tôi phục Kiên Tính nhiều hơn.  Trong hai năm dài, gánh nặng gia đình con cái trút cả lên vai nàng.

Nguyễn Ngọc Hoa

BUÔNG TAY CHO GIÓ…

1.
Phải vòng quanh địa ngục
Mới đến cửa thiên đàng
Đừng trách người ngã mạn
Hãy giận mình đa đoan…
Đường trần muôn vạn lối
Tìm nẻo về… tâm đăng?

2.
Giải oan một cuộc bể dâu.
Mưa và nước mắt ướt nhàu nhân sinh.
Giấc mơ biến hóa – hữu hình.
– Vô minh – thinh lặng đến nghìn kiếp sau.
Đường về cõi Giác lâu, mau?
Dù muôn lượng kiếp vẫn màu trắng mây.
Người là ai,
Ta là ai?
Trót mang lấy nghiệp, chông gai cũng đành!

3.
Bản chất của con người
Là nghi nghi hoặc hoặc
Nếu nghĩ họ là ma
Phải chăng mình là phật
Để rồi mỗi sát na
Tự hỏi: Đâu sự thật?

4.
ngưỡng vọng một đường bay
là thong dong tự tại
đứng dậy và bước đi
nhặt, buông đừng ngần ngại
ta tự giải thoát mình
ra khỏi vòng khổ ải
về ngủ dưới am mây
chiêm bao miền phương ngoại…

5.

Ra đi rồi lại trở về
Khác chăng là nỗi sầu chia cuối đường
Gió còn bay ngược mùi hương
Lời ly biệt cũng nhiều phương Đông, Đoài
Dù đau thốc những ai hoài
Phù du là giấc mộng dài Nam Kha.

Tôn Nữ Thu Dung

BÀI THƠ NĂM ĐOẠN

Bão không cánh mà bay suốt ba ngày rồi đó.  Mới vừa xanh thảm cỏ đã bạc đầu hết duyên!

Và những giọt mưa xuyên từng nhánh cây cành lá…Không phải mưa tầm tã mà tất cả đều buồn…

Hết bão thì tới sương mịt mờ tuần lễ tới!  Những hồi chuông quên gọi, có gọi cũng không nghe…

Một nửa lòng nhớ quê, nửa lòng cho hiện tại… Nhớ gì cũng xa ngái, nói gì chỉ tiếng mưa!

Anh gửi em bài thơ chỉ dài có năm đoạn coi như là năm tháng, thời gian, thương nhớ ơi!

Trần Vấn Lệ

KHI TÔI VỀ

khi tôi về năm tháng đã mù sương
từng giọt hoàng hôn rơi trên thành cổ
nghe mơ hồ có tiếng xe thổ mộ
dòng sông xưa đã xô lệch bãi bờ

khi tôi về thu xếp lại tuổi thơ
vết mực xanh chưa mờ trên tay áo
hoa phượng nở bên kia trời hư ảo
có bóng ai đi về cuối con đường

khi tôi về con sẻ nhỏ rưng buồn
chở lẻ loi về nơi cô quạnh
chở ký ức về một miền xa thẳm
có chiếc cầu tre lắt lẻo, bình yên…

NP phan

CUỐI ĐỜI

Cả hai đang sống trong khu dưỡng lão khá sang, có giàn bông giấy và hàng cây cọ quanh năm xanh tươi bao bọc. Phong cảnh vốn đã hữu tình lại càng thêm quyến rũ vì các cô giúp việc trong khu đều ăn mặc đồng phục, xinh tươi, ăn nói nhã nhặn lịch sự, di chuyển bằng xe điện loại nhỏ trong khắp khu vực. Người đàn bà, bà Nữ, quấn hờ mảnh khăn lụa màu hoa cà ngang đầu để che mớ tóc còn sót lại sau nhiều lần xạ trị. Người đàn ông, tên Nam, đứng ngoài cửa lưới nhìn vào và cất tiếng chào, “Tôi đây.”Hôm nay ông hẹn đến phòng bà sau lần gặp gỡ tình cờ tại phòng giải trí. Cả khu dưỡng lão có đến mấy trăm căn. Nhà một phòng, có sân trước vườn sau. Tuy nhỏ nhưng sạch sẽ và ngăn nắp. Ông sống trong khu dưỡng lão đã lâu, để xem, ít nhất hai năm nay. Còn bà Nữ, con cái mới đưa vào sống được hơn tháng. Ngay sau khi thấy bà, ông mon men làm quen và hẹn sẽ đến thăm. Bà Nữ đồng ý, và hôm nay, một ngày đẹp trời, ông mặc quần áo chỉnh tề đến thăm bà.“Cửa mở, mời ông vào,” bà Nữ vẫn ngồi trên chiếc ghế bành, gấp cuốn sách đang đọc dở dang, nói vọng ra. Bà nhìn ông đang khoan thai bước vào trong chiếc sơ-mi màu xanh nhạt, bỏ vào trong chiếc quần màu đen thẫm.“Sao hôm nay ông diện thế?”“Diện gì đâu. Tươm tất thì đúng hơn. Tôi mà diện bà không nhận ra tôi đâu.” Ông cười cười nhìn bà. Bà Nữ thích ông ở nụ cười. Khuôn mặt hằn nhiều vết nhăn, nhưng nụ cười của ông san bằng những vết nhăn đó, kể cả cái mũi cà chua trông khá vô duyên nằm giữa cặp lưỡng quyền cao. Ông từ tốn ngồi xuống chiếc ghế trước mặt bà. Bà Nữ thích dáng bề ngoài của ông Nam, trông thư sinh lịch lãm. Người ông toát ra một vẻ thông minh, ẩn dấu sau mái tóc bạc trắng. Nhưng bà thích nhất khi nghe ông nói chuyện. Ông nói chậm rãi. Giọng ông kể chuyện trầm và ấm, nghe như rót vào tai. Bà thích đọc sách, và khi nghe ông nói, bà cứ tưởng bà đang đọc một câu truyện tiểu thuyết trữ tình. Ông Nam bắt chuyện. “Tôi đoán đúng. Tôi gặp được người tâm đầu ý hợp để nói chuyện.” “Chuyện gì?” “Bất cứ chuyện gì, ngoài chuyện đánh gôn.” “Ông hên lắm. Tôi chẳng biết gôn giếc gì!” Bà đặt cuốn sách xuống chiếc bànnhỏ bên cạnh. Rồi bà ưỡn lưng, luồn bàn tay ra phía sau ấn ấn vào đốt xương cụt. Ngồi lâu một chút thì lưng mỏi, chân tê, đau cả bàn tọa. Bà đổi thế ngồi, hai chân đang vắt chữ ngũ đặt xuống song song. Vì lưng đau, bà duỗi người trên chiếc ghế nên trông cặp chân thuôn thuôn của bà hình như dài thêm ra. Dáng chừng bớt đau, bà ngồi thẳng dậy, ngả người vào lưng ghế, hai tay đặt hờ hững lên đùi “Ông vào đây lâu chưa?“ “Khoảng hai năm.” Bà Nữ vòng tai hay trước ngực. “Hôm nay giống như hẹn hò rồi. Ông nghĩ sao?” Ông thích cách hỏi của bà. Bà hỏi lửng lơ nhưng cả câu nói ngầm chứa một chuyện đã rồi. Khi hỏi, bà thường kèm theo ánh mắt sáng rực ở phía đuôi. Bà nhìn thẳng vào người đối diện khi nói chuyện, và lúc đặt câu hỏi, bà nhìn lướt bằng đuôi mắt khi hết câu. Và ý muốn chắc nịch của bà lộ ra từ đuôi mắt lá răm. Mảnh và sắc. Ông Nam hơi mất bình tĩnh.“Bà muốn thế thì tôi chiều theo ý bà.” Ông nhấn mạnh mấy chữ “chiều theo ý bà,” như ngầm bảo ông vẫn biết nịnh đầm. Đột nhiên, ông bối rối, đánh trống lảng.“Tuần tới có đoàn văn nghệ vào trình diễn, có cả khiêu vũ.” “Gì chứ văn nghệ văn gừng là tôi thích. Tôi hát nghe cũng được lắm.” Chẳng mấy chốc, ông Nam lấy lại dáng nhanh nhẹn, lịch thiệp cố hữu. “Tôi thích cách bà choàng tấm lụa qua đầu rồi thả hờ xuống ngực.” “Ô… kiểu này xưa rồi. Ông chưa thấy tôi đội tóc giả, mặc đầm, đi giày cao…” “Phụ nữ khó nhận ra họ đang đội tóc giả, nhưng cánh đàn ông nhìn thì biết ngay.” “Vì thế mà ông không chải tóc?” Ông Nam vuốt mớ tóc lởm chởm bên tai. “Không, tóc thật đấy chứ. Nếu xạ trị thì rụng hết chẳng còn một sợi. Nhưng tôi quyết định rồi, không mổ, cũng chẳng xạ trị. Tôi hỏi bà tuổi này còn xạ trị làm gì. Tôi hơn tám mươi, e không qua nếu nằm lên bàn mổ. Còn xạ trị thì chỉ chuốc lấy đau đớn. Nằm quằn quại vài ngày lại xạ trị. Cứ thế, thân xác đau đớn triền miên. Bác sĩ cho biết, xạ trị thành công 30%. Bà thấy không, còn 70% kia là cái chết. Trước sau gì cũng chết thì tại sao phải chịu đau đớn làm gì.” Ông thở dài. “Sống lâu phải khỏe kia, vì sống lâu càng dễ mắc bệnh lẫn, như ông Vong. Cả ngày mặc áo vét, cà-vạt đi tán tỉnh phụ nữ khắp khu nhưng lại không nhớ tên khu dưỡng lão, kể cả tên con cái.” “Ồ… ông Vong đến đây tuần trước, cũng ngồi chỗ ông đang ngồi. Mấy ngày nay lại xoắn lấy bà Lài, xem ra cũng được đôi.” Bà Nữ ngưng một chút rồi tiếp. “Tháng tới, tôi đúng tám hai.” Ông Nam nhìn bà, giọng ngạc nhiên. “Nhìn bà, ai dám nghĩ tám hai.” Ông Nam không ngờ nhìn bà Nữ trẻ nhiều hơn số tuổi. Nếp nhăn thì ai tránh được,nhưng khuôn mặt của bà thanh tú, sống mũi cao, và nhất là đôi mắt. Chính đôi mắt có sức thu hút lạ lùng, và toát ra một sức sống tiềm ẩn. Ánh mắt bà rạng rỡ, hình như lúc nào cũng có điều gì muốn thổ lộ. Ông nghĩ bà Nữ có duyên. Chính cái duyên vẫn ở lại với bà sau từng ấy tuổi tuy nhan sắc đã phai mờ. Thì đúng là ông xoắn lấy bà ngay lúc thấy bà ngồi đọc sách ở góc phòng, và ngước mắt lên thấy ông đang nhìn trộm bà. “Thật không ngờ trông bà trẻ hơn tuổi.” Bà nheo mắt. “Ông đoán chừng bao nhiêu? Bảy lăm không?”Tránh không trả lời câu hỏi, ông điềm đạm. “Để tôi nói bà nghe. Trong khu dưỡng lão này, bà là người thanh tú nhất. Tôi không nói nịnh, vì tôi ở đây đã hơn hai năm nên biết kẻ đến người đi. Mấy người giúp việc còn trẻ nhưng mấy ai dám so với bà. Còn mấy bà y tá nhìn càng chán. Họ chuyên về sức khỏe mà lại không lo xong chính cái thân của họ. Ở nhà thương mấy bà y tá cũng đến thế. Tôi nghiệm ra điều này, những người chuyên lo về y tế hầu như ai cũng mắc bệnh phì.” “Ông nằm nhà thương bao lâu?” “Cũng vào ra nhưng không lâu. Chỉ có khu dưỡng lão này là lâu nhất. Nơi này, họ nói đúng sách vở, ‘Một cuộc sống thanh thản xứng với phẩm giá của quý vị.’ Nói màu mè hoa mỹ chứ không có tiền thì đừng mơ ở một chỗ sang trọng như thế này. Tôi đã từng xây những dãy nhà sang trọng hơn đây nhiều.Tiền bạc không thiếu lúc ăn nên làm ra. Nhưng bà thấy không, khi vướng bệnh thì tiền của chẳng còn ý nghĩa gì nữa.” Ngả người ra sau, ông Nam nhìn bà. “Tôi biết bà đã có gia đình. Thế chồng bà làm gì?” “Kinh doanh bất động sản. Cũng hao hao giống nghề của ông.” Rồi không đợi ông hỏi, bà tiếp lời. “Ông nhà tôi mất nhanh lắm. Từ khi phát bệnh đến lúc đi chỉ vỏn vẹn có nửa năm. Để lại cho tôi hầu hết gia tài. Đến lượt tôi lại vướng bệnh. Trầm kha. Tôi nghĩ như ông, một khi vướng bệnh thì tất cả đều là phù du. Chỉ mong mỏi sức khỏe hồi phục, nhưng căn bệnh tàn ác phá hủy cơ thể rất nhanh, hầu như không thể gượng được nữa. Bây giờ tôi chỉ mong sức khỏe xuống chầm chậm, chứ chẳng còn mong hồi phục.” Ông nhìn quanh. Bàn ghế, tủ trà… đồ đạc trong nhà toàn thứ đắt tiền. Tiền bạc trong tay dư thừa, nhưng bà Nữ chỉ mong sống được ngày nào hay ngày đấy .“Bà cảm thấy ở đây vui không?” “Ý ông nói có thoải mái dễ chịu, phải không?” “Ý tôi muốn hỏi bà thấy cuộc sống ở đây thế nào?” Bà Nữ đảo mắt nhìn quanh. “Thì cũng được.” Ông nhìn sững bà. Hình như ông muốn hỏi điều gì đó nhưng cảm thấy không tiện nên ngần ngừ. Sau cùng, ông hỏi. “Bệnh làm bà đau đớn nhiều không?” “Tôi có thuốc giảm đau. Sáng, trưa, chiều… ba lần.” “Buổi chiều, bà cứ chiêu một ngụm vốt-ka cho thoải mái. Đừng để ý mấy lời khuyên của bác sĩ.” “Phải đợi đến chiều mới uống sao?” “Chẳng cần, tiện lúc nào uống lúc đó.” “Đúng thế. Tôi muốn uống lúc nào thì uống, miễn là phải vốt-ka của Nga.” Bà lấy thế rồi đứng dậy. Nhìn về phía tủ rượu, bà hỏi. “Ông muốn nhâm nhi một chút không?” Ông chưa kịp trả lời, bà đưa tay ngăn. “Ông cứ ngồi đấy. Chủ nhà phải tiếp khách chứ.” Nói xong, bà bước khoan thai về phía tủ rượu. Chiếc áo sơ-mi trắng kéo dài gần chấm gối, để lộ đôi chân trần thuôn thuôn. Thường phụ nữ ở tuổi này, gân xanh nổi lên cuồn cuộn như mạng nhện. Riêng đôi chân bà vẫn trắng hồng, chẳng biết bà có mang vớ chân không nữa. Ông tưởng tượng bà Nữ năm mươi năm về trước. Với cặp chân ống điếu, mái tóc nâu bóng, thân hình dong dỏng cao, dáng tự tin trong bước đi, và với cặp mắt lẳng nhìn đàn ông bằng đuôi mắt… không biết bà Nữ đã hớp hồn bao nhiêu người đàn ông đờ đẫn. Bà trở lại với hai ly pha lê, rượu vốt-ka trong suốt. Ông đỡ ly rượu từ bàn tay gầy guộc. Bà từ tốn ngồi xuống, mím môi nén cơn đau đến bất thần. Nhìn khuôn mặt nhăn nhúm, ông biết các tế bào ung thư đang dấy lên hành hạ bà. Rồi cơn đau chợt biến đi thình lình, bà nhìn ông bình thản như không hề đau đớn gì. Ông thấy trong đôi mắt sinh động, rực sức sống, một niềm tin nào đó thật mạnh mẽ.“ Ông có người đối ẩm chứ?” “Mấy ông chưa mắc bệnh lẫn, ngày ngày đánh gôn, và hễ ngồi xuống là nói chuyện gôn. Cứ làm như sống trên cõi đời này là để đánh gôn, ngoài thú đánh gôn ra chẳng còn gì khác. Những kẻ như thế thì làm sao ngồi nhâm nhi nói chuyện đời được.” Bà nhấp một ngụm. “Bác sĩ bảo ông sao? Bao lâu?” Ông Nam nhún vai. “Sáu tháng. Còn bà?” “Tôi ngắn hơn. Vài tháng. Mà không chừng vài năm.” “Bà sợ không?” “Trước thì có. Cả người run rẩy khi bác sĩ báo cho biết tin dữ. Nằm liệt giường đến mấy tuần. Bây giờ thì tôi thản nhiên nhìn căn bệnh. Đôi lúc nỗi sợ lại hiện về, như bóng ma, trong giấc ngủ. Tâm hồn tôi bình an lắm rồi. Sợ hãi không còn làm chủ hồn xác tôi được nữa.” Ông Nam tư lự. “Bà tìm cách sống với căn bệnh và nỗi sợ.” Bà nở nụ cười. “Cũng là một cách nói.”Ông tiếp lời, vẻ mặt đăm chiêu. “Cần tìm một ý nghĩa cho cuộc sống, rồi làm quen với ý nghĩa đó.” Ông trầm ngâm, giọng bình thản hơn bao giờ. “Riêng tôi không thể làm quen với cuộc sống trầm lặng, mỗi ngày lang thang đây đó, ngày lại ngày, chẳng làm gì.” Bà Nữ xoay xoay ly rượu trong tay, nét mặt trầm mặc. “Không hẳn là không làm gì. Chúng ta đang kiên nhẫn chờ đấy chứ!” Căn phòng chợt rơi vào thinh lặng. Cả hai tư lự không nói gì. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Ông Nam nhìn mông ra bãi cỏ sau nhà. Ánh nắng chan hòa trên thảm cỏ xanh. Khóm hoa Ngọc Nữ trắng nuốt ở góc vườn nở rực nhụy đỏ thắm, lung linh trong nắng. Bỗng nhiên, ông Nam cảm thấy cuộc đời này còn đáng sống lắm, cho dù căn bệnh đang ăn mòn dần cơ thể.Ông nhìn bà Nữ, giọng rắn rỏi. “Bà muốn rong chơi một chuyến không?” Bà nhíu mày, ngạc nhiên. “Ông nói sao?”“Ra khỏi chỗ này, đi đâu đó… mà đi đâu cũng được, miễn là thoát khỏi nơi này.”Bà Nữ ngồi thẳng người, đặt ly rượu xuống bàn, gật gật đầu. “Hay đấy! Phiêu du với ông một chuyến cũng thú lắm.”Nét mặt bà chợt tư lự như suy nghĩ điều gì thật lung. Cuối cùng, bà Nữ nhìn ông, giọng nhỏ nhẹ. “Hay là ông dọn sang đây sống với tôi. Ông nghĩ sao?”Cũng cách hỏi chết người đó. Đuôi mắt kéo dài theo câu hỏi. Hỏi nhưng thật ra như ngầm ra lệnh. Ông Nam cảm thấy đề nghị của bà Nữ nghe dễ thương quá đi chứ. Ông không hề nghĩ đến, hoặc giả không dám nghĩ đến thì đúng hơn.“ Ngủ chung giường chứ?” Đuôi mắt bà Nữ dài hơn bao giờ, “Đêm đầu tiên thì không!

HẢI NGỮ

TÓC MÂY

Chợt nhìn bóng khói chiều nay
Lòng bâng khuâng ngỡ tóc mây vai người
Tình hồng chưa kịp buồn vui
Hồn đâu san sẻ mắt môi xuân thì
Một mình mõi đếm bước đi
Ngày trôi đã muộn có khi chưa tàn
Cây trông ngọn lá đỏ vàng
Tôi ngờ em đã về ngang bến chiều.
Cuối mùa cỏ cháy nắng thiêu
Mờ xanh bóng núi cánh diều xa xăm
Tóc sầu từ ngọn tới chân
Hồn miên man gió bão gần gủi mưa.
Nhà ai rớt hạt cúc thưa
Còn xanh vạt cỏ đẩy đưa xa người
Buồn theo nắng rụng trên đồi
Em treo hạt bụi rủ lời chia đôi.
Tóc mây ngày ấy lên trời
Tôi đan sợi nắng đưa người qua sông
Còn dăm bọt sóng se lòng
Tình tôi thơ dại đèo bồng thanh tân.

NGUYỄN AN BÌNH

ĐÁY SÓNG

Cả đời anh uống ngụm nước trường giang
nếm vị chiều hôm của biển
không được ném thân vào đáy sóng
không nghe rong rêu từ nguồn cội sinh thành

Biển bao dung cả kẻ ác với mình
chấp nhận màu đêm và vị sáng
dù rất mong manh dễ đắm
vẫn đủ lực xuyên qua trùng điệp sâu dày

Dẫu chúng ta sống đủ mấy vạn ngày
vẫn là kẻ đứng trên bờ hữu hạn
phải bị nhấn xuống ngàn xa thăm thẳm
mới hiểu loài trai tích ngọc thế nào
( chỉ sợ khi trai tích đủ ngọc rồi
vẫn sống đời tôm cá )

Ở đáy sóng con người rất lạ
không cần ẩn dụ, hàm ngôn
thấy cõi mẹ cha, thấy nẻo mất còn
mà suốt cuộc người lội suối trèo non
vẫn mờ mờ tỏ tỏ

Cả đời anh, cùng lắm
chỉ nghe tiếng trường giang nổi gió
xua cánh buồm mặt nước lênh đênh
chẳng thế nào hiểu thấu lẽ vô biên
nếu không được ném thân vào đáy sóng

NGUYỄN HÀN CHUNG

CÁI BẾP CỦA BÀ

Nhà bà sửa sang lại hết, chỗ nhà bếp ngày xưa của bà cũng xây lại mới. Chú mua bếp ga về nấu thay cho cái bếp củi của bà. Bà làm nhà bếp lùi ra phía sau vườn. Vẫn mái tôn, vách ván, nền đất, cánh cửa sổ được mở ra bằng cách dở lên trên và chống một cái cây. Bà đâu biết nấu bếp ga. Củi cà phê đầy trong vườn, mỗi sáng sáng, chiều chiều bà ra vườn quét dọn và lượm củi khô vô để dành nấu. Gian bếp của bà có hai cái bếp kiềng ba chân. Bà đóng hai cây gỗ xuống nền đất để chặn đống củi cà phê cao nghệu. Ngo bà chẻ sẵn để trong lon sữa bò dành nhúm lửa. Bà có những cái soong màu đen, nhưng bà cũng có những cái soong rất trắng do khi nấu bà đặt miếng kê soong cho khỏi đen. Những cái soong màu đen của bà đều có vòng dây thép phía trên để xách không bị nhọ nồi dính tay. Bà làm một giàn bếp, trên đó bà để soong nồi hay các thứ linh tinh. Cá, thịt dành cho chó, mèo … bà treo trên giàn bếp này. Bà nói: “Muội khói ám vào, không bị hư”. Gian bếp của bà nhìn cái gì cũng thấy là lạ, hay hay.Những đứa cháu của bà từ thành phố về ăn tết cứ thích tùm tụm trong gian bếp của bà, vừa tán chuyện, vừa khêu bếp cho hồng ngọn lửa. Ngo sẵn trong lon sữa bò, củi cà phê dễ cháy, cứ thế đứa vụng về nhất cũng nhóm được bếp lửa.Buổi sáng dậy sớm, trời cao nguyên thật lạnh, co ro ra vườn nhìn ngắm những cây cà phê còn đọng sương đêm trên những tán lá. Mùi của đất, mùi lá mục, mùi của sương ban mai, không gian yên tĩnh nghe rõ từng tiếng giọt sương nhỏ trên lá, nhìn vào bếp bà đang lui cui nấu nước, thế là cả bọn kéo nhau vào bếp của bà, hơ đôi tay cho ấm. Tiếng lửa nổ lách tách, tiếng ấm nước reo reo, bà bắc ấm đổ vào bình thủy rồi bà nấu thêm ấm nữa. Bọn trẻ con giành nhau cho củi vào bếp, lấy cái ống thổi lửa chúm miệng thổi phù phù vào bếp làm bà phải mắng: “”Coi chừng tro bay đầy đầu”.Cá bà kho bằng nồi đất, ngon ơi là ngon. Miếng cá thấm gia vị vừa cứng, vừa thơm. Cơm bà nấu lúc nào cũng có cháy, miếng cơm cháy hơi sém, màu vàng nhạt, thơm mùi gạo mới, giòn giòn đứa nào cũng tranh nhau ăn cơm cháy chấm với nước cá kho.Bà lui cui dưới bếp suốt ngày, ai muốn nói chuyện gì với bà chỉ cần xuống bếp. Bà để sẵn mấy cái đòn bằng gỗ có mặt ngồi láng trơn để ngồi cho khỏi mỏi chân. Buổi sáng bà nấu nước, ba vào bếp nói chuyện với bà, tiếng bà trầm trầm, bỗng bỗng, cho dù ba đã lớn nhưng vẫn phải nghe lời khuyên nhủ của bà. Trong gian bếp ấm cúng này, mọi người nói chuyện không nhìn mặt nhau mà cùng nhìn vào cái bếp đang hồng ngọn lửa. Vừa nói chuyện, vừa cho củi vào bếp, lửa bùng lên thấy rõ gương mặt bà hiền từ, có những nếp nhăn thời gian, sao mà thật thân thương.Chiều nay bà bắt con gà mái tơ trong vườn để làm thịt thết đãi bọn trẻ con thành phố. Khói trong gian bếp của bà bay lên quyện vào ánh nắng vàng mong manh. Hoàng hôn buông xuống mang theo cái lạnh gai gai. Bọn trẻ con ùa vào gian bếp, tranh nhau thổi phù phù cho hồng ngọn lửa. Không nơi nào ấm bằng gian bếp của bà.

Đào thị Thanh Tuyền

CHIA TAY MÙA THU

Chiều
rưng rức hạt từ ly
nghe từ thiên cổ
bốn bề
mưa giăng
người đi
lỡ cuộc trăm năm
cõi xưa
rớt lại chút trăng
nhạt nhòa
Chiều gần mơ bóng thu xa
lòng ơi đã xế
bóng tà huy xưa
Vàng bay
vàng bay lưa thưa
ngậm ngùi lá
đợi bên bờ vô vi
ngực thầm thảng thốt
đôi khi
mùa thu
nhẹ lắm
người đi khẽ khàng…

NGUYỄN NGỌC NGHĨA