ký ức noel

dunga
Sắp Noel. Chợt nhớ xóm nhỏ ngày xưa ở ven thị xã.

Có ba lối để đi ra khỏi xóm, một là băng qua chiếc cầu nhỏ bắc qua con mương lọt thỏm giữa một cái bàu nước rộng mênh mông là bèo xanh sang xóm Tân A, hai lối kia dẫn ra lộ lớn đều phải đi qua những xóm đạo. Bên kia con lộ là xứ đạo chính, gần như toàn tòng, nhà cửa xúm xít lô xô trong một mê hồn trận những con hẻm nhỏ quanh nhà thờ Chính Trạch với tháp chuông cao và cái sân rộng càng thênh thang hơn trong những trưa ngập nắng.
Xóm của tôi gồm những người lương, hoặc theo đạo Phật, nên dù muốn dù không cũng có một khoảng cách với những cư dân có đạo chung quanh.

Đa phần các xứ đạo ở Đà Nẵng thời đó đều là dân di cư từ vùng Quảng Bình vào, tiếng nói khác thung thổ rất khó nghe rõ, nhất là khi người ngoài đó thường nói rất nhanh, như chim hót và trộn lẫn rất nhiều phương ngữ.
Tôi lóm thóm biết nước là “nát”, ruột là “rọt”, sân là “cưi”, vườn sau là “nương”, quét nhà là “suốt nhà” v.v…

Các xứ đạo đều nổi tiếng là “hung” – từ Chính Trạch đến Tam Tòa, Thanh Bồ, Đức Lợi. Sau này, hiểu ra người ta bỏ làng mạc quê hương vào Nam, dẫu sao thì cũng mang tiếng ở nhờ, riết rồi phải tự co cụm, hung dữ để tự bảo vệ mình, khỏi bị dân tại chỗ ăn hiếp…
Những điều đó cộng thêm niềm tin tôn giáo khác nhau, làm con người xa rời, thù nghịch nhau.
Bọn con nít tôi chưa bao giờ dám đặt chân vào các xóm đạo, vì sẽ có đủ lý do để bị ăn đòn, mà thường là đòn hội chợ.
Và ngay ở trong xóm mình, khi bọn tôi đang chơi đùa, lũ trẻ con xóm đạo có thể ngang ngược phá rối, đá tung những chồng hình đang chơi tán, trấn lột mấy viên bi…, mà chúng tôi đành nhịn không dám ho he. Bởi ho he thì có đường mô mà ra khỏi xóm đi chơi đi học.
Nhưng cũng ấm ức trong lòng lắm!
Thành ra khắc sâu vào trong đầu: dân đạo không tốt.
Người ta đồn đãi nào nước thánh làm phép ngâm từ xương trẻ con, nào dưới nhà thờ có hầm bí mật của mấy ông cần-lao (ý đảng Cần lao Nhân vị của ông Nhu) để tra tấn rồi thủ tiêu mấy người Phật giáo. Thỉnh thoảng đi ngang nhà thờ, thấy thấp thoáng bóng cha xứ, mấy bà xơ áo chùng đen, nghe tiếng kinh nguyện rì rầm tưởng chừng như thấy một thế giới bí hiểm, xa vời, huyền hoặc và đáng sợ.

Cái thế giới đó lạnh lùng suốt một năm, rồi bỗng nhiên tưng bừng lên vào những ngày cuối Chạp. Khi thấy những chiếc lồng đèn ngôi sao ngũ sắc được treo lên, những tua kim tuyến lấp lánh trong gió, chúng tôi biết sắp đến Noel và tự nhiên, trong lòng cũng thấy náo nức, dù mình chả có dính dáng một tí teo nào đến ngày lễ đó cả.
Trẻ con mà!

DU NGÃ

Ngụ Ngôn Của Mỗi Ngày

dotrungquan

Ngồi cùng trang giấy nhỏ
Tôi đi học mỗi ngày

Tôi học cây xương rồng
Trời xanh cùng nắng, bão
Tôi học trong nụ hồng
Màu hoa chừng rỏ máu

Tôi học lời ngọn gió
Chẳng bao giờ vu vơ
Tôi học lời của biển
Đừng hạn hẹp bến bờ

Tôi học lời con trẻ
Về thế giới sạch trong
Tôi học lời già cả
Về cuộc sống vô cùng

Tôi học lời chim chóc
Đang nói về bình minh
Và trong bia mộ đá
Lời răn dạy đời mình…

ĐỖ TRUNG QUÂN

Sự cố đêm Noel

buichivinh

Cô bé ơi, những lời ca lạc hậu
Người ta đã sử dụng nó để làm trò giác đấu
Mua vui cho bầy-công-chức-triều-đình
Có phải đột ngột anh bất thường nổi cáu
Quay mặt về em tìm kiếm sự đồng tình

Và câu trả lời của bé rất thông minh
Một cái chớp mắt đủ làm anh mát ruột
Đủ làm anh làm đơn xin từ khước
Những-bài-thơ-quốc-doanh đã in báo trước giờ
Đủ làm anh hiểu cái đầu của Goethe:
“Mọi lý thuyết đều xám xịt buồn xo”

Mà cây đời xanh lá rất tự do
Tự do tuyệt đối như anh cầm tay bé
Xưa ông bà đã cầm tay như thế
Và mẹ cha đã nắm chặt suốt đời
Ta cũng phải làm những điều giống họ
Để lập lại một cái gì truyền thống bé ơi

Anh bất cần để ý những cái đuôi
Đi lẽo đẽo ở đằng sau lưng bé
Nội chuyện gặp nhau cũng bất ngờ quá thể
Anh đã thốt lên và mắt bé chớp rồi
Mình chần chờ gì mà không ngồi xuống ghế
Nghe bé hát bài “Biển động” buồn ơi

Nghe anh kể về Duyên Hải xa xôi
Có ngọn sóng giang hồ hăm bảy tuổi
Ngọn sóng con trai thì thương thầm con gái
Nên đêm Noel bỏ biển nhảy lên bờ
Ngọn sóng này gặp ngón sóng kia chạy lại
Như bây giờ anh gặp bé đọc bài thơ

Chào khu giải trí thanh niên hai mặt lập lờ
Anh và bé bước ra đường lương thiện
Trong các ngôi sao đêm nay ta tìm kiếm
Thiếu mất ngôi sao của Chúa Hài Đồng
Chắc Thánh Giuse bận đi mua áo lạnh
Máng cỏ còn một mình Đức Mẹ (bé lạnh không?)

Ai bảo trời sinh mắt biếc môi hồng
Cho người bên cạnh phải trở thành thi sĩ
Ai bảo trời sinh đàn ông hợp lý
Cho bé ôm đàn lãng mạn hát tình ca
Ta sẽ đóng đinh tử hình ma quỷ
Mời những thiên thần xuống nhảy “cha cha cha”

Hoa quỳnh nở về đêm mới thật là hoa
Bé đã nở thành hoa trên mười ngón
Cho anh quàng vai cho anh ăn trộm
Lồng ngực lăng xăng tim đập chỗ nào
Tên thánh của anh là gì không biết nữa
Nếu Chúa có buồn cũng thông cảm chứ sao!

Bé ơi, đêm về lạnh lắm, tim đau
Hai đứa run rẩy vì không mang áo lạnh
“Đừng bỏ em một mình, trời lạnh lắm”
Bé hát hay ai? Lạnh lắm, bỏ sao đành
Sau này một mình về ngang cư xá
Khi lạnh trong lòng bé còn nhớ đến anh?

Anh như muỗng đường, bé giống miếng chanh
Mình trộn vào nhau làm thành ly nước ngọt
Cơm áo quanh năm làm môi mình mặn chát
Đổi một đêm nay: Đêm-Thánh-Vô-Cùng
Mai anh ra biển yếu lòng vì tiếng hát
Anh gọi bé hoài, bé có gọi anh không?

BÙI CHÍ VINH

10 SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ NGÀY GIÁNG SINH

anh giang sinh dep 01

Lễ Giáng sinh là dịp để mọi người quây quần, trao quà và thể hiện tình yêu thương. Mặc dù ngày càng phổ biến ở nhiều quốc gia, nhưng không phải ai cũng biết tất cả về ngày lễ đặc biệt này. Dưới đây là 10 sự thật thú vị về ngày Giáng sinh.

1. Không phải lúc nào cũng là ngày 25/12
images (3)

Mặc dù Lễ Giáng sinh là ngày kỷ niệm thời khắc Chúa Jesus ra đời, nhưng ngày 25/12 chưa từng được đề cập đến trong Kinh Thánh. Hầu hết các sử gia đều tin rằng Chúa Jesus sinh vào mùa xuân. Mãi đến thế kỷ thứ 3, ngày này mới được chọn làm ngày lễ chính thức. Nhiều nghiên cứu cho rằng nó được chọn vì trùng với lễ hội của Saturnalia – ngày lễ thần nông Saturn, với những buổi tiệc kéo dài và mọi người thường tặng quà cho nhau.
Hầu hết các sử gia đều tin rằng Chúa Jesus sinh vào mùa xuân.

2. Sự ra đời của cây Giáng sinh
images (6)

Một truyền thống khác cũng bắt nguồn từ lễ hội Saturnalia là cây Giáng sinh. Trong ngày Đông chí, những cành cây được phân phát như một lời nhắc nhở về mùa xuân, và đó chính là nguồn gốc đầu tiên của cây Giáng sinh. Người Đức là những người đầu tiên mang cây xanh vào nhà và trang trí cho chúng. Những năm 1830, chúng bắt đầu du nhập vào Hoa Kỳ, nhưng phải đến năm 1848, khi Hoàng tử nước Đức Albert tự trang trí một cây thông cho các con và vợ của ông – Nữ hoàng Anh Victoria – thì việc trang trí cây Giáng sinh mới thực sự trở thành một nghi thức truyền thống.
Hoàng tử nước Đức Albert, Nữ hoàng Anh Victoria và các con hân hoan bên cây Giáng sinh rực rỡ.

3. Ông già Noel là ai?
mallsanta_9838

Chắc không nhiều người biết rằng ông già Noel được xây dựng dựa trên hình tượng của St. Nicholas – một giám mục Thiên chúa giáo sống trong thế kỷ thứ tư. Thánh Nicholas đã sử dụng toàn bộ tài sản thừa kế của mình để giúp đỡ người nghèo. Ông cũng là người đứng ra giải cứu những người phụ nữ thoát khỏi kiếp hành nghề mại dâm. Truyền thuyết về ông ngày càng lan rộng, ông được biết đến với cái tên Sinter Klaas tại Hà Lan và dần bị biến thể thành Santa Claus. Ngày nay, ông già Noel bụng bự đã trở thành biểu tượng của người bảo vệ trẻ em, một người hiền lành, nhân hậu và luôn phân phát niềm vui (những món quà) cho những đứa trẻ ngoan.
Ông già Noel được xây dựng dựa trên hình tượng của St. Nicholas – một giám mục Thiên chúa giáo sống trong thế kỷ thứ tư.

4. Bộ đồ đỏ của ông già Noel và Coca Cola
10-su-that-thu-vi-ve-giang-sinh-3-490x301

Santa Claus từng mặc những bộ đồ có màu sắc khác nhau trong nhiều năm, bao gồm đỏ, xanh dương, trắng và xanh lá. Nhưng hình ảnh của ông già huyền thoại chỉ trở nên phổ biến khi ông mặc bộ đồ màu đỏ trong quảng cáo của Coca Cola những năm 1930

5. Câu chuyện đáng yêu của những chiếc tất
images (5)
Những chiếc tất treo bên cạnh lò sưởi là hình ảnh không thể thiếu trong ngày lễ Giáng sinh, và chúng xuất hiện đầu tiên ở Hà Lan. Trong ngày lễ thánh Nicholas (được tổ chức vào ngày 6/12), những đứa trẻ thường treo tất của mình trước khi đi ngủ và sẽ tìm thấy những món quà nhỏ từ thánh Nicholas vào sáng hôm sau. Việc treo tất này bắt nguồn từ một câu chuyện rất đáng yêu: Có một người đàn ông nghèo không thể sắm của hồi môn khi 3 cô con gái đi lấy chồng. Thánh Nicholas muốn gây bất ngờ nên đã thả một túi vàng xuống ống khói của gia đình, nhưng nó lại rơi vào một chiếc tất đang được hong khô bên lò sưởi. Và đó là một món quà tràn đầy tình yêu thương!
Những chiếc tất treo bên cạnh lò sưởi là hình ảnh không thể thiếu trong ngày lễ Giáng sinh, và đằng sau chúng là một câu chuyện về tình yêu thương.

6. Jingle Bells là bài hát của lễ Tạ ơn
10-su-that-thu-vi-ve-giang-sinh-10-490x634

Lames Lord Pierpont, một người chơi đàn organ đến từ Savannah, Georgia, lần đầu tiên trình diễn bài hát do anh sáng tác “The One Horse Open Sleigh” tại buổi hòa nhạc của lễ Tạ ơn ở nhà thờ. Bài hát được tái bản vào năm 1857 và có tên là Jingle Bells. Đây cũng là bài hát đầu tiên được phát trong không gian bởi phi hành đoàn Gemini 6 vào ngày 16/12/1965.
Bài hát Jingle Bells lần đầu tiên được biểu diễn trong một buổi hòa nhạc của lễ Tạ ơn

7. Washington Irving là người tạo ra cỗ xe ngọt ngào của Santa
santaclaus1
Washington Irving là nhà văn Mỹ đầu thế kỷ 19. Ông nổi tiếng với tác phẩm The Legend of Sleepy Hollow, và cũng là người có ý tưởng về cỗ xe trượt tuyết biết bay của ông già Noel. Trong The Sketch Book of Geoffrey Crayon tập hợp 1.819 truyện ngắn, Irving kể lại giấc mơ nhìn thấy Thánh Nicholas bay ngang bầu trời trong một toa xe. Câu chuyện của ông trở nên phổ biến ở Mỹ và Anh, đến mức ngay cả Charles Dickens cũng thừa nhận lấy cảm hứng từ Irving khi tạo nên tác phẩm kinh điển A Christmas Carol.
Nhà văn Washington Irving là người đầu tiên mô tả hình ảnh cỗ xe bay của Santa.

8. Ông già Noel có mã bưu điện riêng
565f9e5b-7ab8487a8f

Hàng năm, thư gửi cho Santa Claus chất cao như núi ở các bưu điện trên khắp thế giới. Một số nhân viên bưu điện người Canada thậm chí còn cố gắng trả lời, nhưng ngày càng có nhiều thư chuyển tới. Họ đã tạo nên một mã thư tín riêng cho ông già Noel như một phần của “Chương trình viết thư cho Santa” – một chương trình xóa mù chữ cho trẻ em. Mã thư tín của Santa là: H0H 0H0.

9. Vì sao “Xmas” là từ viết tắt của “Christmas”
images (4)

Theo cuốn sách “From Adam’s Apple to Xmas: An Essential Vocabulary Guide for the Politicaly Correct”, từ “Christianity” được phát âm như “Xianity” trong khoảng năm 1100. Chữ “X”, hay “Chi”, trong tiếng Hy Lạp là chữ cái đầu tiên của “Christ” và được xem như một biểu tượng độc lập. Trong năm 1551, ngày lễ là “Xtemmas” nhưng cuối cùng được rút ngắn thành “Xmas”.
Từ lâu, “Xmas” được xem là từ viết tắt của “Christmas”

10. Thịt xông khói được yêu thích hơn cả gà Tây
images (7)

Mặc dù gà Tây là món ăn truyền thống trong các dịp lễ cuối năm, nhưng thịt xông khói lại là lựa chọn phổ biến hơn cả. Trong năm 2013, người Mỹ mua khoảng 318 triệu pound thịt xông khói trong tháng 11 và tháng 12, bằng một nửa lượng tiêu thụ của họ trong cả năm.
Mặc dù gà Tây là món ăn truyền thống trong các dịp lễ cuối năm, nhưng thịt xông khói lại là lựa chọn phổ biến hơn cả.

Tương Tri ST

MÓN QUÀ GIÁNG SINH

hinh-nen-giang-sinh-32-351x185

Một đồng tám mươi bảy xu, đúng như vậy…
Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa ăn , ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn cố tìm kiếm. Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó.
Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa. Không hề có sự nhằm lẫn, chỉ có một đồng tám mươi bảy xu, và ngày mai sẽ là lễ Giáng Sinh.
Cô sẽ không thể làm gì hơn, chỉ còn cách ngồi xuống và khóc. Ở đó, trong một căn phòng nhỏ, tồi tàn, cô đang nức nở.
Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James Dillingham Young, ở thành phố New York.
Họ có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm. Tuy vậy đó không phải là một công việc kiếm được nhiều tiền. Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng vận may đã không mỉm cười với cô. Tuy nhiên,cô rất hạnh phúc khi ôm Jim trong tay mỗi khi anh trở về.
Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ.
Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho Jim, Jim của cô, một món quà. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa, một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh.
Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tuờng. Mắt cô sáng lên.
Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh ta. Thứ còn lại là mái tóc của Della.
Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng. Thật tuyệt đẹp, không khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô. Della cuộn tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát.
Della buớc chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại trước bảng hiệu “Madame Eloise”. Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp, bà ta chẳng có một chút vẻ “Eloise” nào cả.
Della cất tiếng hỏi:
-“Bà mua tóc tôi không?”
-“Tôi chuyên mua tóc mà”, bà ta đáp và bảo:
-“hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc của cô đi!”
Suối tóc nâu đẹp tuyệt vời buông xuống.
-“Hai mươi đồng”, bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả.
-“Hãy cắt nhanh đi! Và đưa tiền cho tôi”, Della nói.
Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho Jim trong các cửa hiệu trong niềm vui khôn tả. Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ. Đó là môt sợi dây đồng hồ bằng vàng. Jim rất quí chiếc đồng hồ của mình nhưng rất tiếc là nó không có dây. Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó.
Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu còn lại.
Đến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ thầm: “Mình có thể làm gì với nó đây?”. Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa. Tóc của cô bây giờ toàn những sợi quăn quăn khắp đầu. “Chúa ơi, mình trông như một con bé nữ sinh ấy!” Cô tự nhủ “Jim sẽ nói gì khi thấy mình như thế này?”
Bảy giờ tối, bữa ăn đuợc chuẩn bị gần xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt Jim.
Thế rồi cửa mở, Jim bước vào. Anh trông rất gầy và cần có một cái áo khoác mới. Jim nhìn chằm chằm vào Della. Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên Jim òa khóc:
-“Đừng nhìn em như thế, anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói “giáng sinh vui vẻ”, em có một món quà rất hay cho anh này!”
-“Em đã cắt mất tóc rồi à?”, Jim hỏi
-“Đúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? Em vẫn là em mà!”, Della nói.
Jim nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn:
-“Em nói là em đã bán tóc à?”
-“Đúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh! Chúng ta có thể ăn tối được chưa, Jim?”
Chợt Jim vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn. Anh nói:
-“Anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy.”
Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung suớng, liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống. Trong đó là một bộ kẹp tóc,những chiếc kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa!
Della nâng niu món quà, mắt tràn đầy hạnh phúc.
-“Tóc em sẽ chóng dài ra thôi, Jim”, nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho Jim và chạy đi lấy.
-“Đẹp không anh? Em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa nó cho em, Jim, hãy nhìn nó với sợi dây mới này.”
Nhưng Jim không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu mỉm cuời nói:
-“Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu. Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em. Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em yêu!”

O. HENRY (1862–1910)

Cô bé bán diêm

ngonnenlogo2

Đêm giáng sinh năm ấy trời thật lạnh. Đã mấy ngày liền tuyết rơi liên miên, như hối hả điểm trang cho thành phố vẻ thánh khiết để đón mừng ngày kỷ niệm Chúa Cứu Thế ra đời… Em bé tay ôm bao giấy đầy những hộp diêm, vừa đi vừa cất giọng rao mời. Lạnh thế mà bé phải lê đôi chân trần trên hè phố. Đôi dép cũ rích của bé sáng nay bị lũ nhóc ngoài phố nghịch ngợm dấu đi mất. Trời lạnh như cắt. Hai bàn chân của bé sưng tím cả lên. Bé cố lê từng bước sát dưới mái hiên cho đỡ lạnh, thỉnh thoảng đôi mắt ngây thơ ngước nhìn đám đông hờ hững qua lại, nửa van xin, nửa ngại ngùng. Không hiểu sao bé chỉ bán có một xu một hộp diêm như mọi ngày mà đêm nay không ai thèm hỏi đến.
Càng về đêm, trời càng lạnh. Tuyết vẫn cứ rơi đều trên hè phố. Bé bán diêm thấy người mệt lả. Đôi bàn chân bây giờ tê cứng, không còn chút cảm giác. Bé thèm được về nhà nằm cuộn mình trên chiếc giường tồi tàn trong góc để ngủ một giấc cho quên đói, quên lạnh. Nhưng nghĩ đến những lời đay nghiến, những lằn roi vun vút của người mẹ ghẻ, bé rùng mình hối hả bước mau. Được một lát, bé bắt đầu dán mắt vào những ngôi nhà hai bên đường. Nhà nào cũng vui vẻ, ấm cúng và trang hoàng rực rỡ. Chỗ thì đèn màu nhấp nháy, chỗ có cây giáng sinh với những quà bánh đầy mầu. Có nhà dọn lên bàn gà tây, rượu, bánh trái trông thật ngon lành. Bất giác bé nuốt nước miếng, mắt hoa lên, tay chân run bần bật, bé thấy mình lạnh và đói hơn bao giờ hết. Đưa tay lên ôm mặt, bé thất thểu bước đi trong tiếng nhạc giáng sinh văng vẳng khắp nơi và mọi người thản nhiên, vui vẻ, sung sướng mừng Chúa ra đời…

Suốt ngày em chẳng bán được gì cả và chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh. Em bé đáng thương, vừa đói vừa lạnh, vẫn lang thang trên đường. Bông tuyết bám đầy trên mái tóc dài xõa thành từng búp trên lưng em, em cũng không để ý.
Cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Chả là đêm giao thừa mà! Em tưởng nhớ lại năm xưa, khi bà nội của em còn sống, em cũng được đón giao thừa ở nhà. Nhưng thần chết đã đến cướp bà em đi mất, gia sản tiêu tán và gia đình em đã phải lìa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân leo quanh, nơi em đã sống những ngày đầm ấm, để đến chui rúc trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lời mắc nhiếc, chửi rủa.
Em ngồi nép trong một góc tường, giữa hai ngôi nhà, một cái xây lùi lại một chút.
Em thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em càng thấy rét buốt hơn.
Tuy nhiên em không thể nào về nhà nếu không bán được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đem về; nhất định là cha em sẽ đánh em. Vả lại ở nhà cũng rét thế thôi. Cha con em ở trên gác, sát mái nhà và, mặc dầu đã nhét giẻ rách vào các kẽ hở trên vách, gió vẫn thổi rít vào trong nhà. Lúc này đôi bàn tay em đã cứng đờ ra.
Chà! Giá quẹt một que diêm lên mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ? Giá em có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ? Cuối cùng em đánh liều quẹt một que diêm. Diêm bén lửa thật là nhạy. Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biếc đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt.
Em hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng. Chà! Ánh sáng kỳ diệu làm sao! Em tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng. Thật là dễ chịu!
Đôi bàn tay em hơ trên ngọn lửa; bên tay cầm diêm, cái ngón cái nóng bỏng lên. Chà! Khi tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút mà được ngồi hàng giờ như thế, trong đêm đông rét buốt, trước một lò sưởi, thì khoái biết bao!
Em vừa duỗi chân ra sưởi thì lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất. Em ngồi đó, tay cầm que diêm đã tàn hẳn. Em bần thần cả người và chợt nghĩ ra rằng cha em đã giao cho em đi bán diêm; đêm nay, về nhà thế nào cũng bị cha mắng.
Em quẹt que diêm thứ hai, diêm cháy và sáng rực lên. Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màn. Em nhìn thấu tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải trắng tinh, trên bàn bày toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay. Nhưng điều kỳ diệu nhất là ngỗng ta nhảy ra khỏi dĩa và mang cả dao, nĩa… cắm trên lưng, tiến về phía em bé.

Rồi… que diêm vụt tắt; trước mặt em chỉ còn là những bức tường dầy đặc và lạnh lẽo. Chẳng có bàn ăn thịnh soạn nào cả, mà chỉ có phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu và những người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm. Em quẹt que diêm thứ ba. Bỗng em thấy hiện ra một cây thông Noel. Cây này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây mà em đã được thấy năm ngoái qua cửa kính một nhà buôn giàu có. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong các cửa hàng hiện ra trước mắt em bé. Em với đôi tay về phía cây… nhưng diêm tắt. Tất cả những ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời.
– Chắc hẳn có ai vừa chết, em bé tự nhủ, vì bà em, người hiền hậu độc nhất đối với em, đã chết từ lâu, trước đây thường nói rằng: “Khi có một vì sao đổi ngôi là có một linh hồn bay lên trời với thượng đế”. Em quẹt một que diêm nữa vào tường, một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh và em bé nhìn thấy rõ ràng là bà em đang mỉm cười với em.
– Bà ơi ! Em bé reo lên, cho cháu đi với ! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây Noel ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi này; trước kia, khi bà chưa về với thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết bao! Dạo ấy bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn cháu sẽ được gặp lại bà; bà ơi! cháu van bà, bà xin với Thượng Đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.
Que diêm tắt phụt và ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em bé cũng biết mất.
Thế là em quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao. Em muốn níu bà em lại! Diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Chưa bao giờ em thấy bà em to lớn và đẹp lão như thế này. Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về với Thuợng đế.
Sáng hôm sau, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà.
Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường người ta thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Em đã chết vì giá rét trong đêm giáng sinh… em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết. Mọi người bảo nhau: “Chắc nó muốn sưởi cho ấm!” Nhưng chẳng ai biết những điều kỳ diệu em đã trông thấy trước khi em hóa thân thành một thiên thần bé bỏng.

Hans Christian Andersen (1805-1875)

GIÁNG SINH XƯA & NAY…

hochibuu

Em thấy gì trong lễ Giáng Sinh
Tháng mười hai với mùa đông lạnh giá
Mùa lễ hội có người quen kẻ lạ
Ngôi giáo đường yêu dấu rực đèn hoa

Có một người – hay chính là ta
Đi đâu đó nhìn cuộc vui thiên hạ
Không áo gấm và cuộc chơi vương giả
Ta một mình- một bóng- một mình thôi

Ta một mình với khúc hát chơi vơi
Bài thánh ca ngày xưa em thường hát
Lời thánh ca- mà khi đời trôi dạt
Ta hát một mình mỗi lúc nhớ về em

Chuyện xa rồi – bên hang đá Belem
Ai quỳ xuống xin hồng ân của Chúa
Ai cầu nguyện cho tình yêu đôi lứa
Suốt cuộc đời hạnh phúc ở bên nhau

Chuyện xa rồi- chỉ còn lại nỗi đau
Của một kẻ đã qua thời giông bão
Đã nuôi nấng một tình yêu mộng ảo
Tan tác rồi kỷ niệm bỏ sau lưng

Ta bỗng gặp Ngân với những nỗi vui mừng
Làm sống lại một trái tim băng giá
Chúa ban phúc và cho ta phép lạ
Tạ ơn người- Chúa đã tặng em cho ta..

HỒ CHÍ BỬU

Bên sông.

tonnuthunga

Con về đây bên bờ sông Trà Khúc
Dáng ai qua như mẹ hao gầy
Gió hiu hắt đong đưa lau sậy
Man mác buồn con gọi mẹ ơi.

Chiều hôm nay, hoàng hôn tím quá
Sông lặng lờ, cồn cát cô đơn
Chiếc ghe nhỏ xuôi dòng êm ái
Nhưng lòng con, sóng dậy cuồng điên.

Tìm về nhà, một chuyến hành hương
Như anh Lưu Nguyễn mất thiên đường
Con ngơ ngác tìm hoài dáng mẹ
Đi xa rồi mờ nhạt trong sương.

Con xuôi bờ tìm một bụi tre,
Con đi quanh tìm một túp lều
Nơi năm xưa mẹ ru con ngủ
Giọng buồn tênh trong những đêm hè.

Không còn gì cho con kỷ niệm
Không còn gì để mẹ nâng niu
Con xa vắng từ ngàn năm cũ
Mẹ xa con tim mẹ tiêu điều.

Con về đây bên bờ Trà Khúc
Chiều nắng vàng, lau sậy hắt hiu
Bóng ai gầy như là bóng mẹ
Con âm thầm khẽ gọi ….mẹ yêu.

Tôn Nữ Thu Nga

sau cuộc biển dâu

phamtinanninh

(câu chuyện từ một bộ quân phục)

Tôi gặp và quen anh trong một trường hợp khá bất ngờ, có thể nói là hơi kỳ cục. Vợ chồng tôi đến thăm và ở lại nhà cô con gái út hai tuần. Cháu vừa mua được căn condo trong một khu nhà mới xây ở thành phố Anaheim, cách Khu Disneyland chỉ một con đường. Đêm nào, bọn tôi cũng ra balcon ngắm pháo hoa được liên tục bắn lên từ khu giải trí nổi danh này. Căn nhà nhỏ khá xinh và ở trong một khu an toàn, cô con gái út rất thích. Nhưng chỉ sau vài hôm, cứ đến một hai giờ khuya thì cả nhà phải thức giấc, bởi tiếng lục đục ở căn nhà tầng trên. Âm thanh của một vật cứng nào đó gõ xuống nền nhà. Không đều đặn, năm ba phút một lần, dù nhẹ nhưng cũng đủ làm buốt trong đầu.

Sáng hôm sau, cô con gái nhờ tôi lên nói chuyện với chủ nhà, yêu cầu chấm dứt các tiếng gõ khó chịu vào giữa khuya ấy, để chúng tôi không bị mất ngủ, đặc biệt cô con gái phải đi làm khá sớm.

Sau hai lần bấm chuông, một người đàn ông mở hé cửa, gật đầu chào. Rất may, lại là một đồng hương. Chưa nói chuyện với chủ nhà, nhưng tôi đã thoáng hiểu được nguyên nhân gây ra tiếng động. Ông ta chống hai cây nạng gỗ. Mọi bực tức trong tôi bỗng dưng biến mất, những lời “cảnh cáo” tôi dự định sẽ nghiêm mặt nói với ông cũng tan biến theo. Tôi lễ phép chào ông, bảo là tôi ở tầng dưới, muốn đến thăm và làm quen với người đồng hương láng giềng. Ông nở nụ cười, làm rạng rỡ phần nào khuôn mặt khắc khổ, đã có nhiều vết nhăn, một phần được che phủ bới mái tóc dài bạc trắng. Ông mở rộng cửa mời tôi vào nhà. Tôi hơi khó chịu với mùi khói thuốc lá và cả mùi rượu.

– Anh ở đây một mình? Câu đầu tiên tôi hỏi.

– Vâng, thỉnh thoảng có cô con gái đến thăm. Cháu ở trên Riverside, cách đây khoảng gần một giờ lái xe.

Căn nhà nhỏ một phòng ngủ, phòng khách chưng bày đơn giản. Điều làm tôi chú ý là hai tấm ảnh treo trên vách, phía sau bàn ăn. Một tấm là chân dung của một người lính, tấm kia là ảnh gia đình. Thấy tôi chăm chú nhìn, anh cười, bảo là ảnh của anh và vợ con anh lúc xưa. Anh chống nạng đứng lên, như có ý mời tôi đến xem.

Tôi tròn mắt ngạc nhiên, tấm ảnh chân dung là một sĩ quan trẻ, mang cấp bậc thiếu tá, trông khá đẹp trai, phảng phất nét hào hùng. Trên ngực mang khá nhiều huy chương. Tấm ảnh kia anh chụp với người vợ xinh đẹp và hai đứa con kháu khỉnh. Lòng tôi bỗng chùng xuống, như vừa chạm vào một vết thương cũ. Tôi bất giác quay người lại, đứng nghiêm đưa tay chào:

– Xin chào niên trưởng!

Anh tròn mắt bất ngờ, rồi đưa tay ra bắt tay tôi. Sau này, tôi được biết tấm ảnh chân dung này anh chụp sau khi được thăng cấp thiếu tá tại măt trận Quảng Trị tháng 10 năm 1971, khi anh đang là tiểu đoàn phó, thay vị tiểu đoàn trưởng bị trọng thương, chỉ huy đơn vị phá vòng vây địch, tạo một chiến thắng lẫy lừng.

Chúng tôi trở nên đôi bạn thân thiết kể từ hôm ấy. Hình như giữa chúng tôi có điều gì đó cùng “tần số” với nhau. Trước đây anh sống rất âm thầm, khép kín, không muốn gặp gỡ tiếp xúc một ai, kể cả những người quen biết cũ. Sau này, cứ mỗi lần đến nhà cô con gái tôi đều ghé thăm anh, mang theo cho anh một ít nem chua Ninh Hòa mà anh rất thích. Anh say sưa kể cho tôi nghe một thời hào hùng trong binh nghiệp. Anh nức nở khi nhắc tới những vị đàn anh, những đồng đội hào hùng đã phải hy sinh oan khiên tức tưởi, đặc biệt trong trận chiến Hạ Lào- Lam Sơn 719. Người được anh nhắc đến nhiều nhất, ngưỡng phục và thương tiếc nhất là Cố Đại Tá Lê Huấn, một vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi nổi danh, tốt nghiệp Khóa 18 VBĐL mà có một thời anh được phục vụ dưới quyền.

Anh bảo tôi vào phòng ngủ để anh cho xem một kỷ vật. Anh bật đèn lên tôi ngạc nhiên khi thấy một bộ quân phục. Nhìn kỹ, tôi nhận ra đây là một bộ quân phục tác chiến đã cũ, có những vết sờn rách, được giặt ủi cẩn thận và treo trong một cái tủ kính nhỏ. Loại tủ để chưng bày. Anh mở cửa tủ và cẩn thận lấy bộ quân phục, ôm vào người một cách trang trọng. Đôi mắt mơ màng như đang tìm về một quá khứ xa xăm nào đó. Anh thốt ra môt giọng trầm buồn. Dường như là để nói với chính anh hơn là với tôi, người đang đứng ngay trước mặt anh:

– Đây là bộ đồ trận của anh ấy, anh Lê Huấn.

Sau chiến thắng lẫy lừng tại Căn Cứ O’Relly, khi tiểu đoàn anh dưới tài chỉ huy tài ba của Trung Tá Lê Huấn đã đánh tan một lực lượng địch cấp trung đoàn của Sư Đoàn 304 BV, tháng 8/1970 tiểu đoàn lại đánh một trận khốc liệt với một đại đơn vị khác cũng của Sư Đoàn 304 BV này tại Hải Lăng, Quảng Trị. Khi ấy anh đang là đại đội trưởng thâm niên nhất của tiểu đoàn. Cả hơn một trung đoàn địch, sau nhiều đợt tiền pháo kinh hoàng đã đồng loạt xung phong nhằm tràn ngập vị trí đóng quân của tiểu đoàn 4/1. Trung Tá Lê Huấn rời khỏi hầm chỉ huy, đích thân điều động đơn vị quyết chiến trước một cuộc thư hùng sinh tử. Từng đợt địch quân bị đốn ngã ngay trước giao thông hào, nhưng bọn chúng như là những con thiêu thân lao vào lửa, lớp này ngã lớp khác lại xông tới. Nhờ sự chiến đấu kiên cường của đơn vị anh, và đặc biệt dưới sự chỉ huy tài tình và gan dạ của vị tiểu đoàn trưởng lừng danh, đã ngăn chặn, tiêu hao và cầm chân địch trước khi được những phi vụ không yểm, đánh trên đầu địch. Những trận không kích gây thiệt hại nặng nề cho địch nhưng cũng làm bị thương một số binh sĩ của đơn vị, vì khoảng cách giữa ta và địch quá gần. Anh là một trong những người bị trọng thương hôm ấy. Trời tối và mưa lớn, lưới phòng không dày đặc, không tản thương được, Anh Lê Huấn ra lệnh ban quân y mang anh vào nằm trong hầm chiến đấu của anh Huấn để được tương đối an toàn và băng bó chữa trị cấp thời. Thấy máu và bụi bặm thắm đầy bộ chiến y ướt đẫm nước mưa của anh, vị tiểu đoàn trưởng bảo người lính cận vệ lấy bộ áo quần trong ba-lô của mình mang đến thay cho anh. Khi tản thương về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, nhiều bác sĩ cứ tưởng anh là Trung Tá Lê Huấn, bởi bảng tên và cả cái lon trung tá còn nguyên trên ngực và cổ áo.

Vết thương chưa lành, nằm trong Quân Y Viện mà lòng anh rất nôn nao khi biết tin đơn vị tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719. Một kế hoạch qui mô với sự tham chiến của hầu hết các đơn vị chiến đấu thuộc Vùng I: Sư Đoàn 1BB, các đơn vị Thiết Giáp, Biệt Động Quân, cùng với các Lữ Đoàn Nhảy Dù và TQLC. Anh khao khát được có mặt cùng đơn vị trong trận chiến đặc biệt này, nhưng vết thương ở chân phải là trở ngại chính để bắt anh phải nằm lại ở đây.

Anh theo dõi từng ngày từ khi cuộc hành quân bắt đầu. Các tin tức không vui từ chiến trường, những tổn thất nặng nề của quân ta sau khi các căn cứ 31, 30 lần lượt thất thủ. Đại Tá Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù cùng nhiều cấp chỉ huy của ta bị lọt vào tay giặc. Một số phải tự sát để giữ tròn khí tiết. Từ các kế hoạch hành quân tồi tệ mà địch quân gần như biết trước để chuẩn bị trận địa đến việc thiếu thống nhất ở các cấp chỉ huy đã góp phần cho sự thảm bại. Điều đau đớn nhất đã làm tim anh thắt lại khi nghe tin Tiểu Đoàn 4/1 của anh nhận lãnh trách nhiệm nặng nề, làm lực lượng chặn hậu để cho Trung Đoàn rút lui khỏi căn cứ Lolo trong tình trạng bị bao vây nguy khốn. Anh bật khóc khi nghe tin Trung Tá Lê Huấn, vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi tài năng đã lẫm liệt hy sinh, và cả tiểu đoàn chỉ còn 32 binh sĩ sống sót trở về! Anh nghĩ từ nay sẽ vĩnh viễn không còn gặp lại người chỉ huy mà anh ngưỡng phục và hằng mong được tiếp tục phục vụ dưới quyền. Anh nhớ tới bộ quân phục mà Trung Tá Lê Huấn đã đưa cho anh thay khi anh bị trọng thương cách đây vài tháng, anh còn chưa kịp trả lại, và bây giờ thì không còn có cơ hội để trả lại cho khổ chủ. Anh quyết định giữ lấy bộ quân phục này như một kỷ vật thiêng liêng trong cuộc đời mình. Và sau đó dù phải trải qua bao nhiêu thăng trầm, khốn khổ, nhất là sau ngày nước mất nhà tan, anh vẫn luôn trân trọng bộ quân phục mà anh nghĩ có mang hồn thiêng của anh Lê Huấn và của cả những đồng đội đã hy sinh.

Sau khi xuất viện, anh được bổ sung đến một trung đoàn khác giữ chức vụ tiểu đoàn phó. Tháng 10/ 1971 anh thăng cấp Thiếu tá tại mặt trận. Cuối năm anh lên nắm tiểu đoàn thay thế vị tiểu đoàn trưởng bị thương, sau đó được theo học khóa quân chánh. Một thời gian sau, vết thương cũ ở chân phải tái phát. Sau khi chữa trị anh đi khập khiễng. Hội Đồng Giám Định Y Khoa xếp anh vào loại 2, không chiến đấu được. Được đề nghị bổ sung về Phòng 3 Quân Đoàn, nhưng anh xin đi làm chi khu phó cho anh tiểu đoàn trưởng cũ, bây giờ là quận trưởng của một quận miền núi. Quận lỵ là một tiền đồn chiến lược, nằm tại một vị trí trọng yếu khống chế cả con đường tiếp liệu của Cộng quân, nên bọn chúng tìm mọi cách để san bằng. Gần cuối năm 1974, Cộng quân mở nhiều đợt tấn công biển người nhằm chiếm quận lỵ, vị quận trưởng bị thương nặng. anh đã phối hợp với các đơn vị bạn tăng cường, trực tiếp chỉ huy điều động cuộc phản công rất oanh liệt giữ vững được phòng tuyến qua nhiều cuộc tấn công qui mô của địch. Nhưng tổn thất của ta khá nặng và đạn dược dần dà cạn kiệt, trong lúc Cộng quân luôn được tăng cường, cuối cùng anh phải mở đường máu, rút lui trước khi căn cứ bị địch quân tràn ngập. Anh bị thương nặng ở chân, điều kỳ lạ là ngay tại vết thương cũ. Nhờ kinh nghiệm chiến trường và hai người lính nghĩa quân rất trung thành và khôn ngoan giúp đỡ, thay phiên cõng anh thoát khỏi vòng vây truy lùng của địch. Anh được đề nghị thăng cấp đặc cách lên trung tá, nhưng sau đó bị cưa mất chân phải. Nỗi đau đớn vì phải mất đi một phần thân thể chưa nguôi, thì cái đau đớn tột cùng cũng vừa ập đến: Tháng 3/75, cả Vùng I bỗng chốc lọt vào tay Cộng sản, Sư Đoàn 1BB, đơn vị nổi danh mà anh luôn hãnh diện phục vụ trong gần cả một đời binh nghiệp cũng tan tành, rồi cả miền Nam mất vào tay giặc. Những đồng đội từng chiến đấu, một thời sống chết cùng anh bỗng dưng tan tác như chỉ sau một cơn ác mộng.

Mất một cái chân, nhưng anh vẫn bị tù đày nghiệt ngã trên bảy năm trong nhiều trại tù của bọn Cộng sản man rợ. Ra khỏi tù anh lại mất cả gia đình. Người vợ xinh đẹp ngày nào đã gởi đứa con gái lớn, năm tuổi, cho bà nội già, bồng theo đứa con trai ba tuổi, lẳng lặng sang sông về một nơi nào đó. Gia tài một đời binh nghiệp của anh giờ chỉ còn mỗi một bộ đồ trận, chiến y của người chỉ huy mà anh từng kính yêu đã hy sinh. Trước khi vào tù, anh căn dặn mẹ anh phải giữ kỹ bộ quân phục này cho anh với bất cứ giá nào, bởi đó là một kỷ vật quý giá nhất còn lại của đời anh. Theo đề nghị của mẹ, anh đồng ý cho bà tháo ra và đốt đi cái bảng tên và cấp bậc may trên áo.

Có lẽ từ lâu lắm mới có người chăm chú ngồi nghe, nên anh say sưa kể cuộc đời mình. Đôi lúc sụt sùi, nước mắt tưởng đã khô cằn, bỗng ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ già nua, và từng giọt rơi xuống bộ quân phục anh đang ôm ấp trong lòng mình.

– Sau này anh có dịp nào gặp lại chị nhà và đứa con trai? Tôi hỏi.

– Bà đã có chồng khác từ lâu rồi, đang sống ở Âu Châu. Tôi buồn nhưng không trách. Ngại đụng chạm tới hạnh phúc riêng của bà, và cả vết đau trong lòng mình nên không muốn liên lạc. Còn đứa con trai có sang thăm tôi hai lần, nhưng cháu vẫn nhìn tôi xa lạ lắm. Cũng phải thôi, vì khi tôi vào tù thì cháu chỉ mới lên ba, trong ký ức của cháu có lưu lại một chút hình ảnh gì của tôi đâu. Riêng con gái tôi có sang thăm mẹ và em cháu vài lần.

Nói dứt câu, anh cúi xuống như muốn giấu riêng nỗi xúc động.

– Anh có thường cảm thấy cô đơn và tiếc nuối những ngày xưa?

– Cũng có chứ, nhưng lâu rồi thành quen và gần như không còn muốn nhớ tới nhiều chuyện cũ.

Tôi đưa tay nắm chặt bàn tay anh thay cho một lời an ủi khó nói thành lời. Bỗng anh ngước lên, mở to đôi mắt:

-Điều buồn của tôi bây giờ là thấy một số trong đám anh em mình mất đi khá nhiều sĩ khí, có thằng còn khốn kiếp đã vì chút lợi lộc nhỏ nhen mà chạy hùa theo giặc, nịnh bợ thô bỉ, quên mình từng hãnh diện là sĩ quan của những binh chủng hào hùng. Nhìn bọn chúng múa may khóc lóc làm trò trước mặt bọn cộng sản mà tôi muốn buồn nôn!

Tôi cười:

-A nh bận tâm tới những kẻ ấy làm gì. Trong tập thể nào lại không có những con sâu, tồi tệ, bán rẻ linh hồn. Cũng có thể là những thằng khùng. Nhưng đó cũng chỉ là vài trường hợp cá biệt. Cũng như nước Mỹ vừa có tên phản quốc Edward Snowden, đang trốn ở Nga-Sô. Theo tôi, đại đa số anh em mình vẫn còn giữ được tấm lòng, tình huynh đệ và trách nhiệm với quê hương đất nước chứ!

Bỗng đôi mắt anh sáng lên:

– Điều vui và an ủi tôi nhiều nhất là các tổ chức gây quỹ giúp anh em thương phế binh sống khốn khổ ở quê nhà. Đặc biệt là các buổi Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh thành công tốt đẹp. Thấy anh em nhà binh mình cùng bà con tham gia hưởng ứng nhiệt tình, tôi mừng và cảm động lắm. Ở bên nhà các cha thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn cũng đã can đảm, hết lòng an ủi và làm sống dậy niềm tự hào của những anh em thương binh bất hạnh, tôi cảm phục vô cùng. Có bao nhiêu tiền dành dụm tôi đều nhờ cô con gái gởi về phụ với các cha.

Tôi cười, biểu lộ sự đồng tình. Định nói thêm đôi điều để khoe về những đóng góp phần mình, bỗng nghe anh hỏi:

-Bạn ở Âu Châu, sang Mỹ một thời gian, chắc đã thấy trong đám anh em mình bây giờ cũng nhiều người bon chen danh lợi. Mà tội nghiệp thay toàn chỉ là danh hão! Nhiều ông tướng ông tá có danh thời trước, sang đây lại đầu quân làm tướng phường tuồng cho mấy cái chính phủ tự xưng tự diễn như đám hát chèo. Có ông giành hội này, bám tổ chức kia. Thấy mà phát ngượng! Trong đó có cả những ông ngày xưa từng là cấp chỉ huy của mình. Ngán ngẫm thật. Giấy rách mà cũng chẳng còn cái lề nào để mà giữ nữa!

Tôi cười. Chưa kịp nói một lời an ủi, bỗng thấy anh sa sầm nét mặt:

– Điều buồn nhất là thiên hạ lạm dụng bộ quân phục một cách đến lố bịch. Đám cưới, sinh nhật, tiệc tùng nhảy nhót mà cũng có người mặc quân phục. Có lần tôi thấy một ông mặc quân phục, mang cả lon lá và đầy huy chương lên truyền hình để quảng cáo thuốc cho một ông thầy thuốc Nam tự nhận mình là bác sĩ! Tôi xấu hổ và giận đến tím cả mặt. Tối hôm ấy, tôi ôm bộ quân phục này của anh Lê Huấn mà thấy lòng xót xa vô hạn.

Nhớ lại một câu chuyện liên quan tới bộ quân phục đã xảy ra tại đất nước Na-Uy, nơi gia đình tôi đang định cư, tôi kể cho anh nghe:

– Tháng 11 năm 2004, bà Kristin Krohn Devold, Bộ Trưởng Quốc Phòng Na-Uy, đến viếng thăm binh sĩ thuộc các đơn vị quân đội Na-Uy tham chiến tại Afghanistan trong lực lượng NATO. Bà được ca ngợi là một nữ bộ trưởng can đảm đã đến thăm binh sĩ khi chiến trường đang ác liệt nhất. Nhưng sau khi tin tức và hình ảnh về chuyến viếng thăm này được chiếu trên đài truyền hình quốc gia Na- Uy (NRK), bà bị nhiều sĩ quan và binh sĩ Na-Uy phàn nàn, phản đối khi thấy bà mặc quân phục từ một chiếc trực thăng bước xuống thăm một đơn vị tác chiến Na- Uy, và cả khi được Thủ Tướng Afghanistan, Hamid Kazai tiếp đón tại thủ phủ Kabul. Báo chí cũng góp phần tranh luận và tỏ ra bất bình về sự kiện này. Hầu hết cho rằng bà chưa hề ở trong quân đội, nên không được phép sử dụng quân phục, dù trong bất cứ chức vụ hay hoàn cảnh nào. Những quân nhân cho rằng bộ quân phục còn có tính thiêng liêng, bởi nhiều chiến binh đã hy sinh trong bộ quân phục này. Mặc dù bà và một số cơ quan chính phủ lên tiếng biện minh, viện lý do vì sự an toàn cho bà trong một hoàn cảnh đặc biệt, nhưng vẫn không được chấp nhận. Cuối cùng bà phải bắt buộc lên tiếng chính thức xin lỗi quân đội và cả dân chúng Na-Uy về điều này.

Nghe tôi kể xong, anh đưa bộ quân phục đang cầm trong tay lên như để khẳng định một điều gì.

– Đúng như thế, bộ quân phục đối với tôi luôn là một kỷ niệm thiêng liêng. Có biết bao đồng đội của tôi hy sinh đã được liệm với bộ quân phục thấm đẫm máu đào của họ. Xin đừng lạm dụng và làm đau lòng họ.

Sau lần gặp gỡ đầu tiên này, tôi còn đến thăm anh một vài lần nữa, và bảo cô con gái: “bác ấy là người tốt, một sĩ quan đáng kính, con nên thường thăm nom và giúp đỡ bác những điều cần thiết”. Hôm đến chào từ giã anh để trở về lại Na Uy, tôi mang biếu anh hai chai rượu đỏ loại tốt. Tôi khuyên anh, khi nào buồn thì uống vài cốc cho nguôi ngoai, không nên uống nhiều rượu mạnh và hút thuốc lá, có hại cho sức khỏe. Anh nở nụ cười, nhưng bỗng trở nên buồn bã:

– Anh đi rồi, tôi lại cô đơn, chẳng còn ai tâm sự.

Hôm đó, tôi ở lại với anh tới hơn một giờ khuya. Chống gậy tiễn tôi ra cửa, anh bắt tay từ giã nhưng giữ khá lâu, không muốn tôi đi. Tôi cười, bảo nhỏ:

-Anh cố dỗ giấc ngủ, đừng thức dậy nửa đêm, uống rượu chống nạn đi quanh nhà. Bọn tôi ở tầng dưới cũng mất ngủ với anh luôn.

Anh gật đầu, cười thông cảm.

Sáu tháng sau, khi trở lại Mỹ, tôi liền đến thăm anh. Bấm chuông mấy lần không ai mở. Tôi không còn nghe tiếng động của đôi nạng gỗ gõ xuống nền nhà như mọi khi. Buổi chiều, cô con gái đi làm về, cho tôi biết là anh ấy bị ung thư gan ở thời kỳ cuối. Con gái của anh đã đưa anh vào bệnh viện Fountain Valley từ tuần trước. Tôi lái xe xuống ngay bệnh viện. Anh nằm bất động. Khi tay tôi chạm vào anh, anh mở hé mắt nhìn tôi và miệng cố nở nụ cười, méo mó. Thấy anh cười mà tôi muốn khóc. Trông anh tiều tụy và hốc hác quá. Nhưng anh rất bình tĩnh, như ngày xưa khi đối diện trước quân thù. Anh muốn ngồi dậy, nhưng không còn đủ sức. Tôi ngồi bên cạnh, đưa tay xoa trên ngực anh, bảo anh cứ nằm nghỉ.

– Bác sĩ bảo tôi không còn nhiều thời gian nữa, ngày mai phải xuất viện về nhà để gia đình lo hậu sự – Anh nói bằng một giọng thì thào, yếu ớt.

Khi nhắc đến hai chữ gia đình, anh lại cười, chua chát:

– Lại gia đình…!

Hiều ý anh, tôi nói đùa cho anh vui:

– Phải nói là đại gia đình, vì ngoài cô con gái ra, anh còn có chúng tôi nữa. Cứ yên tâm mà đi. Nhớ dọn sẵn một bãi đáp cho ngon lành, chờ tôi đáp xuống sau anh nghe.

Chiều hôm sau anh được xe bệnh viên đưa về nhà. Cô con gái túc trực bên anh. Tôi cũng luôn có mặt. Anh ngỏ ý muốn uống với tôi một ly rượu đỏ. Cô con gái ngần ngừ, nhưng thấy tôi ra dấu gật đầu, cô rót hai ly rượu, một ly mời tôi và một ly cô cầm đưa vào miệng cha cô. Cuối cùng chúng tôi cũng cạn ly. Không ngờ đó là ly rượu từ biệt. Tôi bỗng nhớ tới lời của một bài ca cũ : “bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã… đã đi xa rồi…”

Khuya hôm đó anh trút hơi thở cuối cùng. Cô con gái cho biết anh ra đi rất yên ả. Không trăng trối một lời gì. Chỉ để lại một mảnh giấy nhỏ với vài chữ ngoằn nghèo: “Nhớ liệm ba bằng bộ quân phục trong tủ kính, nghe con”.

Đám tang thật đơn giản theo ý muốn của anh. Mấy lần anh dặn dò cô con gái không được đăng cáo phó hay báo tin cho ai biết. Tại nhà quàn, ngoài cô con gái của anh và cậu bạn trai người Mỹ, chỉ có vợ chồng tôi cùng cô con gái út. Một nhà sư già tụng một thời kinh trước khi đậy nắp quan tài. Tôi đứng nghiêm đưa tay lên chào anh. Anh nằm uy nghiêm trong bộ quân phục, khuôn mặt ánh lên nét hào hùng. Tôi có cảm giác như anh vừa chết tại chiến trường. Không có bất cứ một nghi lễ nào, nhưng tai tôi như đang văng vẳng tiếng kèn truy điệu và khúc nhạc Chiêu Hồn Tử Sĩ.

Đứng nghiêm chào anh một lần nữa, khi quan tài đưa vào lò thiêu. Mọi thứ đều trở về với cát bụi. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui bất chợt, khi nghĩ anh sắp được gặp lại anh Lê Huấn và những đồng đội cũ, những chiến sĩ đích thực đã rất xứng đáng với bộ quân phục oai phong của QLVNCH. Họ đã tạo cho bộ chiến y một điều gì đó rất thiêng liêng.

Phạm Tín An Ninh

Áo Dài Trắng Hoa Quỳ Vàng

trantrungta

Em mặc áo dài trắng
Điểm trang hoa quỳ vàng
Anh gọi em là Nàng
“Giai Nhân Nan Tái Đắc”

Bởi vì em đẹp nhất
Mà thơ anh miên man
Bởi vì em dễ thương
Thơ anh có chỗ tựa!

Em ơi kìa tiếng ngựa
Hí trên rừng Cheo Reo
Thuở đất nước khổ nghèo
Em trong veo lý tưởng…

Chắc có ngày vui sướng
Cho Quê Hương mình thôi!
Trăm hoa một nụ cười
Em, bình minh muôn thuở!

Em ơi anh mắc nợ
Nếu…đừng có biển dâu
Anh không đứng cúi đầu
Trước em và hổ thẹn!

Lòng trai buồn ứ nghẹn
Yêu em cứ âm thầm
Áo dài em phù vân
Hoa đừng phù dung nhé!

Anh gửi em hạt lệ
Tiếng ngựa hí trên đèo
Anh gửi em bao nhiều
Lòng anh đây thương nhớ…

Hoa quỳ vàng đã nở
Trên ngực áo của em
Anh thấy đó, Trái Tim
Của Em, Lòng Độ Lượng!

Trần Trung Tá