KHỈ VÀ LÒNG THAM

sonnghi

Có nhiều loại tham: tham ăn tham uống, tham lam của cải, tham danh vọng… Ðặc biệt nói đến tham ăn thì nghĩ ngay đến heo. Heo là loài tạp ăn, tham ăn, thô tục. Ăn như heo là thế. Nói đến khỉ thường ta không nghĩ đến tham mà lại nghĩ đến tài bắt chước. Trong các loài động vật, khỉ là động vật này có hình dạng và trí thông minh gần con người nhất. Vì thế mà khỉ bắt chước giỏi. “Monkey see, monkey do” là thành ngữ người Mỹ chỉ những công việc chỉ cần thấy là làm rập khuôn theo dễ dàng.
Vậy mà khỉ cũng có lòng tham. Và chính lòng tham đã làm hại loài khỉ không ít. Nhưng trước khi nói đến sự tham lam của loài khỉ, thử tìm hiểu những đặc khác của chúng, nổi bật nhất là tài bắt chước.
Khỉ lập lại động tác mà chúng xem thấy một cách không suy nghĩ. Bởi vậy mới có câu: khỉ bắt chước, làm trò. Nhưng nếu làm trò khỉ thì lại khác. Cứ vào sở thú sẽ biết ngay. Có lúc chúng nổi cơn biểu diễn trò khỉ ngay trước mắt thiên hạ, miệng la hét man dại. Dĩ nhiên giữa thanh thiên bạch nhật mà người giở trò khỉ sẽ bị tóm ngay vì tội công xúc tu sỉ. Khỉ và người khác nhau ở điểm đó. Chớ dại mà giở trò phòng the ngay giữa ban ngày hoặc những nơi công cọng.
Khỉ cũng giống như sư tử, hổ, chúng sống thành từng bầy trong một diện tích có chủ quyền. Tuỳ theo bầy lớn hay ít, lãnh thổ cũng tăng theo. Mỗi bầy đều do con một đực tự phong vương cứ như Thập Nhị Sứ quân thời Ðinh Bộ Lĩnh. Nó toàn quyền trên bầy thê thiếp của nó. Bất cứ con nào lạc vào vùng cấm địa đều bị đánh đuổi, đánh đến chết nếu không chịu rời lãnh thổ của lãnh chúa.
Nhìn chúng những lúc nhàn rỗi, thường ngồi bắt rận, chải lông… sao giống người đến thế. Từ động tác vạch lông tìm chí đến cử chỉ bỏ vào mồm cắn thật giống như các cụ thời xưa thường ngồi bắt chí cho con gái. Bởi thấy khỉ gần giống với người nên mấy ông tổ cọng sản vồ lấy thuyết Tiến hoá của Darwin như kẻ buồn ngủ gặp được chiếu manh.
Họ cổ võ thuyết Tiến hoá rầm rộ, ngụ ý để giải thích chủ trương chống tôn giáo vì chẳng có Trời Phật gì cả. Con người từ khỉ mà ra chứ chẳng có Thượng đế nào tạo ra chúng sinh. Họ cho rằng tôn giáo chỉ là liều thuốc mê tín ru ngủ quần chúng để quên đi thân phận bị áp bức, tha hồ cho chủ bóc lột. Cuộc đời này là tạm bợ theo tín lý của các tôn giáo lại càng không phù hợp với chính sách đấu tranh của cọng sản. Họ tuyên truyền rằng đừng nghĩ gì đến thế giới bên kia vì lẽ dễ hiểu là làm gì có cái thế giới nào ngoài thế giới hiện chúng ta đang sống. Chết là hết chuyện, như con chó hoặc như con khỉ vậy. Thiên đàng ở ngay trên quả đất này và chúng ta phải tạo dựng nó, phải giật lấy hạnh phúc về tay mình. Chủ thuyết cọng sản giải thích dưới góc độ nào đi nữa cũng chỉ là mớ lý thuyết xúi dục quần chúng nổi dậy cướp chính quyền để rồi dâng lên cho các nhà lãnh tụ… con cháu của khỉ. Nếu đúng loài người từ khỉ mà ra chứ chẳng có Thượng đế nào rỗi công đi tạo dựng ra cái đám người gào thét quần chúng làm cách mạng thì đỡ khổ cho mấy tỉ người trên thế gian này biết bao! Sinh ra “nửa người nửa ngợm nửa đười ươi” nên cái lối suy nghĩ của người cọng sản chỉ còn nửa nhân tính, còn nửa kia thuộc về loài… khỉ mất rồi.
Lịch sử đã chứng minh lý thuyết của họ sai bét bẹt bẹt. Vậy mà đám đàn em cọng sản càng lạm dụng bóp méo thuyết Tiến hoá của Darwin theo lối duy vật biện chứng để sơn phết cho hào quang của một thế giới đại đồng. Không biết Các-Mác lúc viết cuốn Tư bản luận có phi cần sa hay hút thuốc phiện không mà lại mơ màng đến một thế giới tuyệt vời, trong dó không còn người bóc lột người, mọi người làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu. Ôi! Sao lại có người thật dễ tin đến vậy. Ðã là con người với đầy đủ thất tình với tham sân si thì làm sao có thể “đại đồng” được? Thật ra, ông Mác chỉ viết phê bình những điểm yếu của chế độ tư bản phôi thai thời đó, mãi đến sau này Lênin mới khai triển nó thành một hệ thống có lớp lang, có tranh đấu, có cướp chính quyền để tạo một thiên đàng… bịp ở trần gian này. Nếu có chăng thì chỉ là thiên đàng cho riêng những nhà lãnh tụ mà thôi.
Ðúng ra chẳng có anh cọng sản nào tin tưởng điều đó cả. Họ biết chắc Mác và Lênin bịp, bịp ngay từ ngày cách mạng thành công vào năm 1917 tại Nga nhưng họ vẫn rêu rao vì những ngón bịp này thật hấp dẫn với đám dân đen. Cuộc đời của đám dân đen quá khổ sở nên cần phải thay đổi, cho dù kết quả có ra sao đi chăng nữa. Ngày cách mạng thành công chính là ngày đám lãnh tụ lên ngôi vua, lúc đó lòng tham lam, mê danh vọng của mấy ông vua đỏ này mới lộ nguyên hình. Nếu hiểu theo thuyết Tiến hoá thì đúng mấy tay lãnh tụ đỏ rất giống khỉ ở cái điểm tham lam.
Ở Phi châu, dân chúng nghĩ ra một cách bắt khỉ tầm thường nhưng lại rất hiệu quả. Họ làm thành từng chum, từng hũ với miệng to nhỏ tuỳ theo cỡ. Số hũ chum này được buộc chặt xuống đất không thể nào di chuyển được. Trong từng chum họ bỏ chà là, một loại trái cây khỉ ưa thích. Một người đứng thò tay vào chum bốc một quả đưa lên miệng ăn, cốt để cho đám khỉ thấy bắt chước. Chỉ vài phút sau, khi thấy yên ắng không một bóng người, bầy khỉ trong rừng kéo nhau ra bốc chà là ăn. Khỉ nhỏ thì thò tay vào hũ, khỉ lớn đút tay vào chum. Khổ một nỗi, con nào cũng cố bốc thật nhiều chà là nên khi kéo tay ra bị kẹt nơi miệng chum. Thế là chúng la chí choé. Dân làng chỉ việc đến bắt từng con bỏ vào cũi. Khi thấy người, biết là sẽ bị bắt nhưng chúng nhất quyết không thả bớt chà là để kéo tay ra mà chạy. Nguyên tắc bỏ của chạy lấy người thật không đúng với loài khỉ ở Phi-châu. Thật đúng là… khỉ! Chúng có ngu không? Thưa không? Chỉ tại chúng quá tham nên không còn sáng suốt nữa.
Bài học của khỉ có thể đem áp dụng cho người. Ðôi khi chúng ta cũng nên biết bỏ bớt đi một chút để thoát ra khỏi cảnh chợ đời. Nhà Phật khuyên diệt dục để giải thoát xem ra khó quá. Bớt lòng dục đã thấy khó rồi huống gì phải dứt bỏ hoàn toàn. Nhưng bớt vẫn dễ hơn là đoạn tuyệt với lòng dục. Những bon chen cốt để thoả mãn nhu cầu vật chất không biết đến bao giờ mới đủ. Tri túc, tiện túc đãi túc hà thời túc; biết đủ là đủ, chờ cho đủ thì sẽ không bao giờ đủ. Buông tay ra mọi việc sẽ trở nên nhẹ nhàng. Thả bớt một chút tham vọng sẽ vơi nhiều phiền muộn. Giảm một chút lòng dục cũng thấy lòng thải mái hơn.
Ðức Giêsu nói: nhà giàu vào thiên đàng còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim, (Mt 19:24). Ðây là một lối nói diễn tả mạnh của người Do-thái như lối thậm xưng của ta. Vì thế không hẳn là mọi nhà giàu đều không thể vào nước thiên đàng, mà chính là ở lòng con người. Tham lam sẽ khó thoát tục. Cả một gia tài trì nặng ở dưới chân thì làm sao thoát tục được. Cái vướng mắc là ở chỗ đó. Có một linh mục cho rằng người giàu khó vào nước thiên đàng chỉ vì hành lý mang theo cồng kềnh quá, tay xách nách mang không thể lọt qua cửa thiên đàng được. Chỉ cần bỏ bớt đi, lòng sẽ thanh thản hơn ở cõi đời này và sẽ thấy cửa thiên đàng thênh thang rộng mở.

Sơn Nghị

GỞI NGƯỜI VỀ BẾN…

nguyenvi

Người về tới bến cho ta gởi
Đôi dép mòn theo bao tháng năm
Nhiều lần quai đứt vì rong ruổi
Đường áo cơm sỏi đá thăng trầm.

Gởi túi xách đựng toàn giấy cũ
Có trang đã viết lắm trang chưa
Kèm theo lời nhắn đầu đã mụ
Chữ nghĩa ta giờ không ăn thua.

Gởi rương tình kẻ yêu người ghét
Xoa, đấm, và…vừa đấm vừa xoa
Đủ vị ngọt ngào hương khét lẹt
Ngao du đầy kín những vần thơ.

Gởi triệu người ta hằng mến mộ
Tay nào cũng có một bông hoa
Gởi tỷ người hiểm hung từ độ
Cha Lạc Long xa Mẹ Âu Cơ.

Gởi mảnh hồn ta không vẹn nguyên
Giấu nơi góc khuất tựa mạn thuyền
Mang về tới bến giùm ta nhé
Mong vài câu chữ cuối bình yên.

Nguyên Vi

XUÂN NHỚ

nguyenvanthien

Ngày ta đi vịn gốc cau em khóc
Vườn ra giêng ngơ ngác tiếng chim gù
Mười xuân xa thời gian pha sắc tóc
Gió đông đùa hồn gợn sóng sông Thu

Gạch hoang rêu thóp thoi mùa mong đợi
Mẹ già buồn tháp cổ có bằng an?
Mơ bếp chiều toả thơm hương nếp mới
Về bên hiên ta đếm nụ mai vàng

Biết ai còn ra bến xưa gội tóc
Ngóng ven cầu xe tung bụi vù qua?
Người không về lẻ mươi mùa hoa khóc
Sao người còn hoá tượng đứng ngã ba?

Bồng Lai ơi! Gọi thầm tên làng cũ
Ngoái ngày thơ hun hút bóng thiên đường
Trong chiêm bao bờ tre khuya gió hú
Lật đời buồn đếm bao tết tha hương

Nguyễn Vân Thiên

CON LUỐC

nguyentri

Mãi cho đến bây giờ, dân khai thác mây tre lá của chủ thầu Sáu Yến, những người còn lại, chọn bến phà lẻ bảy làm quê hương vẫn còn nhắc đến con chó Luốc của đại uý Thuận.
Tiếng đại uý chứ Thuận chả lính tráng chi. Thời chiến tranh là tài xế. Sau chiến tranh xe cộ bị sung công, chủ xe tơi như cái mền rách thì tài xế như Thuận có mà ăn cám hấp. May thay lúc phùng thời Thuận được bà Bảy Bầu Cua chọn làm con rể. Bà Bảy là cai của chủ thầu Sáu Yến. Thuận theo mẹ vợ vào rừng khai thác mây tre lá kiếm cơm. Thuận uống ngày lít rượu nên được anh em thợ phong đại uý. Thường gọi Đại Uý Thuận. Sáng Thuận làm hai xị gọi là súc miệng rồi cùng vợ kéo câu liêm vô rừng khai thác lồ ô. Ngày hai vợ chồng kiếm trăm cây là chuyện nhỏ. Chiều về trong lúc vợ nấu cơm Thuận lôi rượu ra làm tiếp. Có lẽ mê rượu hơn mê vợ nên, không phải một mà vài người trong bãi, cũng thức dậy sớm nấu cơm thấy Xuyến – vợ Thuận – từ chòi của Dũng Nhí rón rén mò về. Đêm hôm khuya khoắt mà thiếu phụ vô chòi trai là có vấn đề. Dân rừng thậm thụt lời ra tiếng vào. Và cả ta bà vô cùng lễ độ khi một hôm kia Dũng và Xuyến biến khỏi bãi.
Đại Uý ôm con chó Luốc khóc ròng. Thiếu tá Tư Đô La mới khuyên bằng âm nhạc rằng:
– Ôi đàn bà là những niềm đau… đàn bà là ngọc ngà… chông gai làm tim rĩ máu…
Thời cũ Nguyễn Tư chỉ binh đơ cán cuốc nhưng anh em phong thiếu tá cũng do rượu mà ra. Tư uống thua Thuận xa lắc nhưng cấp bậc hơn là vì tạp uống. Trong bãi có một bụi đời tên Hùng Tàn. Dân Bình định tha phương có tí đỉnh võ vẽ. Hùng có một chai rượu thuốc dùng để xoa bóp. Anh em thợ bị trặc tay bong gân cây đập là Hùng ra tay cứu giúp. Anh em khen thuốc hay quá. Hùng nói:
– Tao pha mã tiền với mật gấu nên tốt lắm.
Rượu vậy mà một hôm kia cai thầu Bảy Bầu Cua chưa tăng bo kịp lương thực vì xe cộ trục trặc, thèm quá, trong khi anh em đi làm Tư ở nhà chôm chai rượu của Hùng Tàn làm một ly. Chỉ một ly mà Tư sùi bọt mép. May mà trong cái đám con nít vào rừng cùng cha mẹ có thằng Bảy Xoáy – con trai Hai Trụi – thằng cu nầy có cái đầu kỳ dị nhất thế giới, tóc tai sừng lên như bờm ngựa. Ông Sáu Hải chồng bà chủ Sáu Yến nhìn nó nói:
– Mẹ ơi… thằng nầy ba bữa là kinh hồn giáo chủ chứ không chơi.
Bảy Xoáy phi một hơi lên chỗ làm thông báo tình hình. Mới một phần ba đường thì Hùng Tàn cùng anh em tuôn về, dẫn đầu là con Luốc. Hùng Tàn banh cái họng kẻ tham uống ra, đặt lên đó một cái phểu rồi cho nước suối vào. Đầy bụng là đè xuống cho ọc ra. Vậy mà Tư còn bị đi kiết hết tuần. Thiên hạ phong thiếu tá liền một khi. Hùng Tàn nói:
– Không nhờ con Luốc là ông chết chắc.
Thiếu tá ôm con Luốc vỗ về:
– Cám ơn mày Luốc ơi. Tao thương mày lắm.
Con chó liếm lên mặt lên râu Tư Đô La thân tình như với chủ. Toàn thể thợ rừng của vợ chồng ông bà Hải Yến không ai không yêu Luốc.
Nó khôn ngoan cực kỳ. Hùng Tàn nói khi có chén rượu trên tay:
– Tao đó đây cũng dữ mà chưa thấy đứa loài người nào khôn hơn và nghĩa tình như nó.
Chả ai cãi Hùng hết. Vì thật như vậy.
***
Luốc rất thân với Hùng Tàn.
Từ khi Xuyến bỏ theo tình Thuận buồn rầu nên rượu suốt. Cũng chả biết nên mừng hay không cho hoàn cảnh của Thuận. Không một hậu duệ nào để an ủi nên Thuận xem Luốc như con. Bắt đầu cuộc rượu Thuận vỗ về Luốc còn hơn Hai Trụi thương thằng Bảy Xoáy. Chả là Bảy Xoáy mồ côi mẹ. Phê phê Thuận chửi con đàn bà lăng loàn sau đó quay qua trách Luốc đã không giữ vợ cho mình. Nó gian dâm với Dũng Nhí mày biết phải không Luốc? Vậy sao mày không cho tao hay? Say lên Thuận đuổi:
– Mày đi theo con lăng loàn đó đi. Đi đi…
Những lúc đó Luốc bò qua chòi Hùng Tàn, Tàn ôm con Luốc bắt ve bắt vắt cho nó. Ở rừng, ve vắt là chuyện thường lắm. Tàn nói với Luốc:
– Chủ mày say khướt. Nó mần ăn ngay mũi còn không biết. Ở đó mà kêu với ca. Đừng buồn nghe Luốc, mấy thằng say mày chấp làm chi.
Luốc ư ư ra cái vẻ tui hiểu mà.
Thiên hạ chả hiểu sao luôn la đà trong rượu, Thuận đâu có dạy biểu gì mà cái nết ăn của con Luốc thật đáng để loài người nể phục. Sáng, Thuận bày bữa ra. Cá một nồi, thịt một nồi, cơm banh nắp. Ăn xong Thuận đi làm không cất dọn gì sất. Luốc nằm yên trông chừng, nó không nhúng mõm vô bất cứ thứ gì. Trong mớ thợ của bà Bảy có thằng Dũng Heo chuyên trộm thức ăn của anh em thợ. Nửa đêm canh giấc ngủ say Dũng đột kích vào chòi bạn dùng tay hốt mớ thịt, bốc vài con cá là chuyện thường. Ai cũng đôi lần bị Dũng chôm thức ăn mà đành chịu vì không quả tang. Nhưng biết là vì Dũng rất ít tốn tiền thực phẩm. Vậy nên có tên Dũng Heo. Cỡ vậy mà Dũng đừng hòng chôm được thức ăn của Đại uý. Con Luốc xù lông gáy nhe răng là Bảy Xoáy còn ớn lạnh nói chi ai. Luốc không ăn vụng. Cũng không ăn trong chén mẻ muỗng dừa. Tô ăn của Luốc phải lành lặn và sạch sẽ. Đại uý bê tha quá nên Hùng Tàn rửa luôn tô của Luốc. Ngoan trong ăn uống của Luốc là nhỏ. Cái tự ái của Luốc là cả ba quân phải kinh ngạc.
Lúc phùng thời quân của bà Sáu Yến trên ba trăm nhân mạng. Ba trăm nầy dưới sự điều hành của sáu cai thầu. Năm mươi quân một cụm. Cụm cách cụm vài cây số đường chim bay. Cõi nào cai ấy khai thác. Thợ làm cho cai Út Bình đừng mơ qua bãi Năm Hồng chơi bời hay uống rượu. Nghe nói hai ba cây số tưởng gần nhưng vòng vèo cả buổi chưa chắc đến. Nhưng Luốc thì có mặt ở tất cả các bãi. Thiên hạ rất ngạc nhiên khi Luốc chỉ là một con chó bình thường, mang từ đồng bằng lên, cha nó ở phố, mẹ là cẩu tiểu thư thì có dính chi tới rừng. Vậy mà Luốc sành rừng như sói vậy. Hôm đó nó qua chơi bên bãi của cai Châu Đèo.
Dưới trướng Châu có một cặp. Chồng tên Trọng vợ tên Thắm. Cặp nầy người dân tộc Tày. Trọng to cao, trắng trẻo đẹp trai. Cô vợ thì, nói thiệt, nhìn sơ mấy thằng có máu băm lăm mê nước da bông bưởi của em là nhỏ, nhan sắc của em mới thiệt là hết ý. Đẹp nên ai cũng ghẹo tí chút cho vui. Châu Đèo tuy vợ con nhưng ma bùn lắm. Miệng nói tay quơ nên dễ gây hiểu lầm. Trọng là thằng cả ghen. Thấy đàn ông ghẹo vợ bằng tay điên lắm nhưng nhát nên nhịn. Hắn ngồi lầm bầm như bị mắc đường dưới. Một lúc Trọng ngước lên thì thấy Luốc đang ngồi trong chòi. Vậy là giận cá chém thớt, gã văng tục chửi thề đuổi Luốc ra khỏi chòi.
Kể từ đó Luốc không xem Trọng là bạn.
Bằng chứng là sau giã từ Châu Đèo, làm với thằng nầy nghi bị mất vợ quá. Trọng qua đầu quân cho Bảy Bầu Cua. Là người mới Trọng đến chòi đại uý chào thân mật thì hết hồn khi thấy Luốc xù lông gáy nhe nanh trắng ởn sấn tới như muốn táp. Trọng hãi quá thối lui. Đại uý nói:
– Tao nghe thằng Đại nói mày chửi, đuổi nó ra khỏi chòi nên vậy đó.
Ở bãi hể gặp Trọng là Luốc gừ. Trọng sợ quá nên đem thịt heo thịt bò đến dụ nhưng Luốc không màng. Thân thiết như Hùng Tàn khuyên thôi bỏ đi Luốc ơi, Luốc vẫn không cho qua. Làm được một đợt Trọng xin Sáu Yến qua chỗ khác, ở lại không biết Luốc phập lúc nào. Ở tất cả các bãi chả thợ hoặc cai nào dám làm Luốc tự ái. Nó giúp đỡ cho nhiều người. Thiệt đó, không đùa một tí nào đâu.
Luốc khá thân với Thạch Giựt. Thằng Giựt nầy có một hoàn cảnh rất thảm thiết. Theo lời Sáu Râu – anh của Thạch – thì nó là con nuôi của cha má Râu. Chả biết ai đang tâm vứt con trước nhà, cha Sáu ôm về nuôi. Năm mười tuổi Thạch bị một cây sốt ác tính. Không chết nhưng từ đó bị giựt. Chả hiểu làm sao hể cứ giựt lên là Thạch toạc cái suy nghĩ của mình ra miệng. Mười sáu tuổi Thạch mê Thảo, con gái út cai Chín Nà. Gặp Thảo không kìm được Thạch giựt rằng yêu… yêu… yêu Thảo….muốn… muốn… muốn… hun… hun… Thảo… thảo quá… Vợ Dũng Giỏi mặc áo hở ngực cả gang, lộ cặp bưởi to sụ Thạch giựt rằng dzú… dzú… dzú… bự… bự… bự… quá… Một lần trên xe từ rừng về nhà. Bọn đi đười ươi lậu dấu cả chục bao dưới lồ ô. Lúc xe qua trạm bảo vệ rừng lên kiểm tra. Thạch giựt rằng ươi… ươi… ươi dấu… dấu… dấu ươi… vậy là sạch bách.
Vào rừng Thạch kiếm thịt bằng cách đặt bẫy cò ke. Những cheo, chồn, gà rừng Thạch có đến dư để bán cho anh em thợ. Tất cả nhờ vào Luốc. Thạch nói khi bắt đầu vót bẫy:
– Mày… mày… mày… coi chỗ… chỗ… nào thú… thú… nhiều dẫn tao đi đặt nghe Luốc… luốc… luốc…. Yên… yên… yên tâm đi, tao không lấy tiền đại… đại… đại… uý… đâu…
Con Luốc quả có một cái mũi tinh đời. Thạch cứ thế mà kiếm thêm. Chỉ một mình Thạch mà thôi, những tay khác dụ dỗ cách mấy cũng không được. Cơ hồ như Luốc biết ai là kẻ cần giúp vậy. Có một lần nó giúp Hùng Tàn bắt được một con Trút.
Đợt đó Hùng sống như vợ chồng với một nàng tên Thuỷ. Cha má nàng đúng khéo đặt tên. Nàng mềm và ẻo lả như nước vậy. Hùng giới thiệu vợ. Cô vợ nầy vào rừng để hái hoa là chính. Ở trong rừng được ba tháng, chơi không mà Thuỷ bị sốt mới chết. Công chúa Thuỷ xanh xao vàng vọt thấy tội lắm. Trời mưa tháng giá ai cũng khuyên Hùng ơi cho vợ mày về đi. Hùng nói với Luốc rằng:
– Phải chi bây giờ trời cho tao con Trút thì hay biết mấy há Luốc?
Nữa đêm hôm đó con Luốc sủa inh trời đất ngay trước chòi. Hùng bật đèn Pin thì phát giác ra một con Trút đang đeo trên gốc lồ ô. Hùng ôm chiến lợi phẩm bỏ vô bao. Nói với vợ Thuỷ:
– Mai em theo xe ra phà nhờ ai đó bán giúp. Ở đó chơi vài ngày, hết bệnh rồi vào nghe cưng.
– Dạ.
– Lúc vô em mua cho con Luốc hai lạng thịt bò nghe.
– Dạ.
Luốc ư ử rên.
Nhưng cả năm ngày sau không thấy Thuỷ vào. Hùng vác ba lô ra phà. Hôm sau vào tay xách can rượu mười lít. Trong giỏ có thịt bò cho Luốc như đã hứa. Lúc múc thịt ra tô cho Luốc, Hùng cũng bày phần của mình ra mâm. Nhưng con Luốc không màng mà ngước nhìn Hùng. Hùng uống hết một cái xây chừng;
– Ăn đi con. Thuỷ không vào nữa đâu. Cô ấy về với gia đình rồi.
Mày biết không Luốc – Hùng nói bằng một giọng buồn rầu – tao và cô ấy yêu nhau nhưng cha má cô ấy không chịu. Tao nghèo quá. Tương lai mờ mịt. Làm cái nghề nầy thì qua được ngày chứ không qua tháng. Chừng ấy thời gian sống với nhau chắc cô ấy thấy được rồi Luốc à. Tao buồn. Buồn quá Luốc. Mày ăn đi. Ăn một miếng cho tao vui. Đừng có nhìn tao như vậy. Đời tan hợp là chuyện bình thường. Giầu nghèo cũng vậy. Xưa kia tao là con quan đó Luốc. Giờ tàn vầy buồn lắm Luốc. Ăn đi. Tao làm một cốc cho quên sầu nhân thế. Rồi Hùng hát:
– Thà rót cho ta trăm nghìn chung rượu độc. Đừng một lời nào mai mĩa cho nhau. Cho ta đi, đi sâu vào cơn lốc… cho ta say đến tột đỉnh sầu…
Con Luốc không ăn mà đăm đắm nhìn Hùng. Về sau Hùng kể anh ta thấy có khói trong mắt Luốc. Thợ rừng cười kha khả mà rằng:
– Khói cái đầu mày. Mày có rượu nên thấy vậy.
***
Chuyện Luốc và cha con Hai Trụi Bảy Xoáy mới thiệt ly kỳ
Bảy Xoáy dốt đặc cán cuốc. Khi Hai Trụi náu mình dưới trướng Sáu Hải thì Bảy Xoáy mới lên sáu. Trụi đưa con trai vô rừng đóng đô dài hạn luôn. Chả là cái thời cơm đói áo rách, nghèo đến độ không có nhà như Trụi thì vô thiên lũng. Có nhà hẳn hoi mà còn vô rừng kiếm sống nữa kìa. Cả chục cặp vợ chồng chơi kiểu như Trụi. Vâỵ thì chuyện học hành xin hẹn chừng nào có rồi tính. Nếu cần xin hẹn lại kiếp sau luôn cũng chả chết thằng tây nào. Bảy Xoáy tủi thân nhất trong lũ con nít ở rừng bởi cu không có mẹ. Vụ không mẹ nầy được Trụi kể với bạn nghề nghiệp khi tưng tưng bởi rượu như vầy:
– Đàn bà lắm kẻ bạc tình bạn hiền ơi. Thằng Bảy Xoáy được một tuổi, nghèo quá nàng bỏ mình bỏ con một đi không trở lại. Quê mình đất cày lên sỏi đá, mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm nên tình nó cũng vá chằng vá đụp vậy đó.
– Tình gì mà vá víu thảm thê vậy bạn?
– Thì mình gặp cổ ở bên đường. Mình mua cô ấy bán. Cám cảnh nhau nên về với nhau. Ai ngờ… – Trụi thở dài não nuột – những kẻ quen đưa người cửa trước rước người cửa sau không chấp nhận khó nghèo nên thằng Bảy Xoáy không mẹ.
Nói xong Trụi nâng ly trút một hơi vô họng cho tan cái chán chường. Bạn bè thấy vậy liền khuyên vài câu chiếu lệ. Khuyên xong mới hỏi:
– Đàn bà khối mẹ gì sao không kiếm em khác?
– Tao chán đời quá, với lại nghèo đến đôi dép không có mà mang. Mày nghĩ có ai ngu mà bá vô để chết chùm?
Mà tình thiệt lúc mới vô rừng Trụi không có lấy đôi giày. Anh em tội nghiệp quá mới bố thí một đôi, tuy rách nhưng xài được. Trụi không thèm. Anh ta giơ hai bàn chân lên và ai nấy thất kinh. Da chân dày cộp, chai ngắt như da trâu. Đặc biệt chỗ gang bàn chân phải lõm vô sâu hoáy. Trụi nói:
– Hồi ở quê, tao đi buôn than bằng xe đạp, xuống dốc là thắng bằng cách thọc bàn chân vô bánh sau.
Không giày vậy mà Trụi không thua một anh em thợ nào mới là chì. Mùa mưa thiên hạ chẳng những giày, họ còn bó thân thể như bó giò để phòng ba con vắt. Trụi thì không. Vắt muốn bao nhiêu máu cứ hút tự nhiên. Vậy nên cuối mùa mưa Trụi bị một cây sốt tưởng đi đứt. Cám cảnh nên Sáu Hải mới cho tiền đi viện. Lúc này Bảy Xoáy mới thể hiện cái thông minh của nó. Cu lân la với tất cả các bệnh nhân và thân nhân của họ, cái đầu bảy xoáy là một, cái láu lĩnh khác người là hai. Ai nhờ vả, sai bảo cu không từ chối. Là vì sai bảo xong là người ta cho tiền. Hết sốt rét cha con trở lại thì Sáu Hải bàn với Trụi đại khái là không nên để Bảy Xoáy vào rừng nữa. Chả là một người quen thiết của chủ Sáu giàu có nhưng hiếm muộn. Trụi nên để con ở với người ta để được ăn học. Sáu nói rằng con nít không thiếu nhưng bảy cái xoáy quyến rũ bạn Sáu lắm. Học hành đến nơi đến chốn thằng nầy không này cũng kia. Nói chung người ta sẽ cho Trụi một khoản kha khá. Trụi nghe cũng có lý. Để con trong rừng tức là giỡn mặt tử thần. Vậy là Bảy Xoáy đi cùng Sáu Hải. Còn Trụi mua được cái nhà nho nhỏ để chui ra chui vô nhờ tiền tạm gọi là bán Bảy Xoáy.
Được một tuần thì bạn thiết của Sáu Hải thông báo rằng thằng bảy xoáy bị bắt cóc. Bà nội ơi. Thời buổi cơm không đủ ăn bắt cóc mà tế hay sao vậy kìa? Bạn của Sáu quen biết lớn lắm nên nhờ công quyền vào cuộc. Nhưng mà lạ chưa, bọn bắt cóc không thông báo chuộc chiếc chi ráo. Im luôn. Vậy nó bắt để làm cái gì? Chuyến nầy mới mệt với ông cha tên Trụi. Phải làm sao để cho ổng biết mà không nổi cơn khùng lên đây? Đang rối như canh hẹ thì một thợ rừng ra giải lao nói với Sáu:
– Tui thấy thằng Bảy Xoáy đang ở với cha Trụi trong rừng.
Thì ra ông con đã trốn khỏi nơi đã mua mà về với cha. Sáu Hải cùng bạn thiết vô rừng lôi cu về. Nhưng con Luốc có mặt đúng lúc. Nó xù gáy nhe nanh trông dữ như sói rừng. Vậy là kẻ mua coi như mất đứt cả tiền lẫn người. Trụi mua nhà mất rồi còn tiền đâu mà đòi. Thôi từ từ để nó làm có rồi nó trả.
Thiên hạ được một trận cười no. Và càng quý Luốc hơn.
Nhưng ở rừng cao và sâu luôn có nhiểu bí hiểm. Nó không đơn thuần heo rừng nai cheo chồn mển gà rừng. Ở gần rừng cấm thì chuyện ông ba mươi đi dạo đêm kiếm mồi là thường.
Đêm hôm đó bổng nhiên con Luốc rít lên đầy hãi sợ.
Nó rúc vô chòi Hùng Tàn.
Lúc đó con Hương vợ thằng Thành có bầu tháng thứ năm.
Nghe đồn ông bảy thích đàn bà tuổi hợi mang bầu lắm.
Má ơi. Con Hương tuổi Hợi mới là chết cha.
Phải không không biết nhưng phòng bị vẫn hơn. Toàn bộ các chòi vùng dậy cứ đủa gõ vào nắp xoong, thùng đựng nước can đựng rượu vỗ binh binh suốt cho đến sáng.
Sáng cả bọn túa ra đường be thì phát giác ra dấu chân hổ.
Rõ ràng con Luốc đánh ra được mùi ông Bảy. Đại uý ôm nó vào lòng hôn lên mũi nó khen:
– Mày mà không phát giác ra dám có đứa ở đây theo ông bảy quá.
Hùng vuốt đầu Luốc nói đùa:
– Bữa nào kiếm con nai nghe Luốc.
Vậy mà có nai mới là thần diệu.
***
Hôm ấy chừng khoảng mười giờ sáng. Hùng đang vác lồ ô tập trung thì Luốc phóng vô chân rít lên mừng cứ như đã lâu mới gặp bạn. Nó cắn ống quần Hùng lôi nhã chạy làm riết. Biết có chuyện Hùng gọi Thạch Giựt và Bảy Xoáy:
– Ê, chắc có thịt nên con Luốc kêu nè.
Không phải cả ba mà cả tốp thợ cùng chạy theo Luốc. Dân làm lồ ô vui kiểu ham vậy đó. Nghe động là xúm vô liền. Luốc dẫn đầu băng rừng, lôị suối, qua truông. Nó bốn chân nên lẹ lắm. May mà rừng nguyên sinh nên mát chứ mười giờ trưa mà chạy kiểu nầy có mà chết. Nơi đến là một trảng tranh rộng ngút ngàn. Thời chiến cụm rừng nầy bị trắng hoá bởi thuốc khai quang. Có một con nai nằm ngoài rìa đám cỏ tranh. Nó đã chết.
Cả bọn ồ lên mừng rỡ. Vậy là có thịt ăn rồi. Tất cả cùng la lên. Nhưng tiếng của thiếu tá Tư Đô La mới là chất lượng:
– Có nhung nè Hùng Tàn ơi.
Lúc nầy Bảy Bầu Cua và đại uý Thuận cũng kịp có mặt. Bà Bảy hào hển:
– Cha … cả tạ thịt à. Làm sao xẻ ra đây tụi bây? Hùng Tàn nghe nói mày trước có mổ bò hả? Biết thì ra thịt chia đều cho bà con coi.
Hùng buông con Luốc đứng lên:
– Đâu có đồ nghề mà ra hả má Bảy. Chỉ có rựa thì cứ ra đại cho mỗi người một miếng. Riêng cái đầu và bốn cái chân phải để lại cúng thần rừng.
– Còn cặp nhung bỏ hả mậy?
– Con nói vậy thôi. Công con Luốc là anh Thuận hưởng ảnh muốn làm gì thì làm.
– Rồi – Đại uý nói – để cái đầu cho tao, còn thịt bây chia sao đó mặc kệ, tao lấy một miếng đùi nhậu được rồi.
Thợ rừng Phú vung rựa lên và cái đầu lìa khỏi thân chú nai tội nghiệp. Hùng đứng yên chả biết vì sao con nai lại chết kỳ quặc thế. Nhưng câu trả lời có chỉ sau mười lăm phút.
Một tốp thợ săn người Tày xuất hiện với súng kíp trên tay. Ở vùng Lẻ Bảy nầy dân di cư tự do nhiều lắm. Người Nùng, người Hán-jìn, Thổ, Tày có đủ. Quen băng rừng sống đời săn thú nên họ xuất hiện không có chi là lạ. Một người lên tiếng:
– Con nai nầy của chúng tôi hầy. Tôi bắn trúng nó một phát súng kíp khi đang ăn tranh non ở bên kia đồi hầy… Mấy anh trả lại cho chúng tôi hầy…
Phú vung dao lên văng tục:
– Trả cho mày cái con… Nó chết ở đây, bọn tao thấy trước là của bọn tao.
– Ờ. Của bọn tao – Đám đông hùa theo.
– Mấy anh lấy thịt như còn cặp nhung trả cho chúng tôi… Chúng tôi rình con nầy cả tuần nay rồi. Chúng tôi cần cặp nhung để bồi dưỡng cho cha tôi…
Đại uý Thuận:
– Cần thì mua mà xài. Con Luốc tao dẫn đến đây, vậy cặp nhung là của tao.
Toán thợ săn biết không cự lại đám đông nên rút sau khi kết một câu:
– Người kinh mấy anh tham quá.
Có lẽ vì câu nầy nên Hùng Tàn bỏ về mà không lấy thịt chăng?

***
Năm ngày sau đó Luốc ở quyết bên chòi Hùng Tàn. Đại uý không quan tâm vì xưa nay vốn vậy. Thêm nữa, đại uý có tình mới. Một em cũng tha phương nghe Lẻ bảy làm ăn được nên ghé coi chơi. Con Đen vợ Dũng Heo đang bầu bì không phụ chồng được nên Dũng dẫn vào làm thuê công nhựt. Chả biết Dũng có xơ múi gì không mà Đen nổi máu hoạn thư đòi móc mắt nhỏ làm thuê. Dám có lắm. Vậy là Thuận mời em qua chòi mình võng ai nấy ngủ. Chả biết ngủ làm sao mà cả hai cùng rớt xuống sạp lồ ô mà ra một cặp. Thuận lấy cặp nhung ngâm rượu, đại uý cứ như trai tơ từ khi nốc rượu nầy. Thiếu tá Tư nói:
– Uống nhiều coi chừng bứt mạch máu Thuận ơi.
Thuận đang đắm tình. Con Luốc còn không màng nói chi lời khuyên ba láp. Luốc quẩn bên võng Hùng. Cả bốn ngày vật vờ bởi sốt Hùng chỉ còn Luốc là bạn. Một mình tội quá. Chiều, Thạch Giựt nấu cho nồi cháo, sáng hâm lại giúp cho. Ăn không được thì chết ráng chịu chứ ai mà lo được cho ai? Tha phương cầu thực bị phụ tình khổ lắm người hỡi. Đi làm Thạch nói:
– Mày… mày ở… ở ở ở… nhà ông Hùng có có có gì kêu tao nghe Luốc.
Luốc ư ư buồn thảm.
Vậy rồi sáng của ngày thứ tư Hùng trở mình ngồi dậy. Anh xoa đầu con Luốc. Nó cũng liếm tay anh ra chiều thương cảm. Anh múc cho nó miếng cháo nhưng con Luốc chỉ nhìn. Nó chạy qua đại uý vòng quanh các chòi rồi ra đường.
Cả ngày Hùng trông mãi mà không thấy Luốc. Đến chiều cũng không.
Và đó là một sự kiện đặc biệt. Xưa nay con luốc không bao giờ qua đêm bất kỳ đâu. Nó luôn ở cùng đại uý. Đêm ấy cả bọn những mười hai giờ mà không ai ngủ, ai cũng có ý chờ. Thằng Thạch cứ Luốc … luốc… luốc.. về… về…
Ngày hôm sau và hôm sau nữa Luốc vẫn bặt vô âm tín.
Mấy thằng vai u thịt bắp mồ hôi dầu không lòng dạ nào đi làm. Chia nhau qua các bãi hỏi thăm. Hùng Tàn bò qua Châu Đèo. Phú qua bãi Chín Nà, mỗi tay mỗi bãi hẹn chiều gặp lại. Nhưng Luốc không có mặt ở bãi nào hết.
Nó đi đâu?
Hôm sau Hùng khoác ba lô lên vai:
– Mày đâu đó Hùng? – Thiếu tá hỏi.
– Tôi ra phà. Nghe nói Dũng Nhí với con Xuyến về rồi, Không chừng con Luốc đi thăm con Xuyến.
– Tao đi với mày. – Đại uý nói.
– Mày đi làm gì vậy Thuận – Vợ mới của Thuận lên tiếng – Con nhân ngãi nầy lên chức bà từ khi được làm vợ. Nó hổn trời sợ – Có con chó mà này làm như mẹ mày không bằng. Tao biểu mày không đi đâu hết.
Bà con trong bãi nhìn Thuận mà tội nghiệp. Xưa nay con quỷ cái mày tao mà Thuận có dám nói chi. Thuận sợ Xuyến một, sợ vợ mới mười. Thiên hạ tưởng Thuận co vòi ai ngờ hắn nhào tới vung tay đấm một phát vô con mắt vợ mới. Trong khi nàng tối tăm mặt mũi thì đại uý phang tiếp từ bạt tai cú đấm cả đá bổng nữa mới ghê. Ngài văng cả một núi tục:
– Biến ngay khỏi bãi nầy. Mày biết con Luốc với tao như thế nào không mà láo. Con Luốc mà mất thì mày không có cửa ở trong chòi với tao đâu.
Và con Luốc biến mất.
Ngày nay ở bến phà Lẻ bảy còn được vài người biết con chó Luốc nầy. Nó mất rồi đại uý cũng chết theo. Rượu nhung nai nguyên chất mà Thuận uống như hủ chìm thì sống đặng sao? Có người nói con Luốc bị chết bởi súng kíp của mất tay thợ săn người Tày. Hùng Tàn không tin vậy. Tàn nói người thợ săn không bao giờ giết chó.
Vậy thì con Luốc đi đâu?
Rất tình cờ quen Hùng Tàn ở phố. Lôi hắn lên xe đến Đinh Bộ Lĩnh ghé cầy tơ Nam Định làm đĩa lòng tô rựa mận chai đế gò đen gọi chút tình tri âm. Tàn uống suông mà không ăn mồi. Hỏi. Tàn kể chuyện con Luốc. Nghe qua cũng chả muốn gắp. Tàn nói:
– Mày biết không? Chả ai có thể bắt được con Luốc nếu nó không tự nguyện. Dũng Nhí kể rằng Luốc về thăm đúng lúc con Xuyến hư thai bị băng huyết. Nó không có lấy một đồng đi xe đưa vợ lên bệnh viện huyện…
– Không mượn được à?
– Cái thứ đàn bà bỏ chồng đàn ông lấy vợ người khác thiên hạ bến phà không ngó, nói gì cho.
– Rồi sao?
– Con Luốc để yên cho Nhí trói đưa đi lò mổ…
– Trời ơi… thực vậy sao?
– Đời sống của chúng ta có lắm súc sinh đội lốt người. Nhưng con Luốc người lắm bạn ạ
– Bây giờ Dũng Nhí ra làm sao?
– Xuyến bán vé số dạo rồi sau đó đột ngột ra đi sau một giấc ngủ. Từ đó Dũng Nhí trở thành Độc Cô Cầu Bại xin một lần thất bại không ai cho. Sáng. Banh mắt ra là rượu, cày được xu nào cũng xào vào rượu. Uống cho đến chèm bẹp rồi bò lăn ra ngủ một mình. Tắm rữa với nó…chỉ còn là kỷ niệm! Những lời khuyên với nó chỉ là tiếng Ả rập! Trời khiến. Nó vẫn sống, ca hát nghêu ngao rồi lảm nhảm một mình! Dân bến

NGUYỄN TRÍ

RƯỢU 30 TẾT

tranthienthi

sáng ba mươi tết
một chai rượu của Trần Phương Kỳ
một gói chả giò của Phùng Nguyễn bỏ trong bao nilon
một nụ cười hiền lành của Lê Nguyên Vỹ
ngồi bên ngã ba mưa
mà tiễn ngày tiễn tháng

chuyển nối từ tây sang đông
chẳng sợ mất lòng chỉ cơn gió bấc
chiếc vé số bỏ trong túi quần
40 năm dò
lần nào cũng trật
ơn trời
30 tết vẫn có người mang cho rượu

muốn viết bài thơ tặng người
đệm thay chiếu mới
muốn trả ơn người
tình ngày lặn lội
chữ giao thừa vay mùa cỏ xanh non

Ta còn mỗi thơ để gởi làm quà
ba mươi tết gói vào trong tay áo
gió thì lạnh khó gởi lòng theo gió
làm cách nào
ta gởi ta cho em

nắng thì mới
chưa đủ vàng để ấm
tay chẳng đủ dài mà níu nhau
lòng cứ giục ràng xuân
ngồi nhớ ai mà uống rượu xoay chừng

Trần Thiên Thị

MẢNH VỠ CHIẾC GƯƠNG XUÂN

nguyenlienchau
Gởi Phù Hư

Xin được ngồi cùng em
Đốt thời gian qua tay mình nghiệt ngã
Yêu thương nhau bằng những vòng ôm giả
Nhưng rất thật nỗi buồn

Xin được chạm môi vào một làn hương
Mùi thánh nữ nguyên trinh trong đáy vực
Mọi nỗi niềm nhẫn nhục
Trong cuộc đời này đều đáng kính như nhau

Xin được hôn em bằng nụ hôn của mối tình đầu
Phút trai trẻ của người luống tuổi
Những cuộc tình đã qua, bao cuộc tình sẽ tới
Nỡ lòng nào so sánh cân đo

Xin được ngồi lặng thầm giữa nhận và cho
Nước mắt em chảy xuôi, nỗi buồn tôi thấm ngược
Những giọng cười trẻ con, những lời đùa xấc xược
Được buông ra hoen ố chiếc khăn bàn

Xin được yếu lòng trân trọng những tay đan
Năm ngón thơ tôi lời yêu khô khốc
Năm ngón tình em sầu buồn bạch ngọc
Thèm khát những hờn ghen

Xin được ngồi với một thói quen
Chẳng bao giờ nói lời xin lỗi
Xuân ngoài kia đất trời đang đợi
Hãy tha thứ đời nhau bằng chính trái tim mình

Cảm ơn em gương mặt một người tình
Mảnh vỡ nhỏ của tháng ngày thơ dại
Mảnh vỡ nhỏ chiếc gương xuân còn sót lại
Cho tôi soi và tìm thấy lại mình…

NGUYỄN LIÊN CHÂU

XUÂN ĐÃ VỀ RỘN RÀNG TRÊN…

ledachoanghuu

Thân tặng Phạm Thị Thu An

Có hai thằng, một là chúa ở dơ đến nỗi thấy… chí trên đầu nên kêu là Chí. Một còn lại thì đỡ hơn chút đỉnh, phủ một lớp bên ngoài che chắn phần bốc mùi ở bên trong, gọi là Cốt. Hai thằng Chí Cốt cả hai nghĩa đen và bóng từ thuở còn để tóc chổm cho tới nay đã là “sanh ziên”, dù rằng Cốt chánh gốc Sài Gòn, Chí miệt quê xa lắc.
Cuối năm Cốt “oánh dây thép” reng reng…:
“Ê, mai Tất niên, ba đứa như mọi năm nhưng đổi chỗ, ở quán số 7, đường… nghen mậy, tao gọi nó rồi”.
Chí đáp:
“Ừa, được á, sớm sớm chút đặng dìa quê phụ tết với ba má, mơi (mai) gặp hén”.
Nó, con bé xinh xinh, bầu bĩnh dễ thương cùng xóm với Chí, nhập thành bộ ba không lâu sau với hai thằng. Chí Cốt có rồi, coi như có bên ngoài và sâu thẳm tận cùng bên trong, nên đành cho nó lưng lửng, kêu nó là xương, cho vô giữa, Chí Xương Cốt. Tới ngày tóc nó xõa ngang vai óng mượt, đi đứng dịu dàng ý tứ, thấy cũng kỳ kỳ thành thử hai thằng đổi chữ X ra S. Đọc thì Xương nào cũng là… Sương. Với bà con cô bác, bạn bè… thì nó là giọt sương long lanh long lanh, với ba đứa thì long lanh vẫn là xương. Tóc Sương óc mượt cũng có góp công kha khá của hai thằng. Cốt len lén gởi hoài hoài chai dầu gội mà bên ngoài nhãn ghi óng mượt như tơ thì Chí cũng dễ chi chịu thua, dấu dấu nhưng liên tục hái chùm bồ kết đưa tới. Bồ kết mà nấu nước gội đầu thì còn nói gì nữa…
Đúng hẹn tới quán. Long lanh giọt Sương tròn xoe đôi mắt ngạc nhiên một thì Chí ngạc nhiên mười:
“Ngộ dữ mậy, có nhỏ Sương tao thấy bao giờ mày cũng rủ vô quán ốc, sò, cua ghẹ… các loại khoái khẩu của các nàng, bữa nay cắc cớ gì lại quán bê thui?”.
Dấu hỏi bự tổ bố cũng ở trên mặt Sương. Cốt cười hehe:
“Thấy nắng vàng vàng hông?”.
Chí bạnh cầm, Sương thì gật đầu nhè nhẹ:
“Cũng có thấy… xíu xíu… hoe hoe đó anh”. Nói xong nó nhe răng cười khì.
Cốt hất đầu:
“Thì Sài Gòn mà, vậy là ngon lắm rồi. Nhiêu đó cũng đủ gợi nhớ “Ngày Tháng Nào”* đã qua (*Tựa truyện của Tôn Nữ Thu Dung). À, nói chớ cũng nhờ “Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh”* rần rần hổm rày (* Tựa truyện cũng là tựa phim chuyển thể từ truyện của Nguyễn Nhật Ánh).
Chí nhíu mày:
“Vàng vàng thì có liên quan vụ gì tới bê thui, tao chẳng nhớ mậy?”.
“Em có biết hôn?”. Sương dõng tai chờ đợi bởi Cốt thủng thẳng trộn bột thính, nặng chanh, gắp thịt bê, chuối chát, khế chua, dưa leo và ngắt từng cọng ngò, húng quế, húng lủi, tía tô… cho hai đứa. Rồi Cốt nói:
“Mần* miếng đi (*làm)”. Cốt cũng gắp một miếng, cắn thêm trái ớt hiểm, có hít hà nhưng nhai thấy ngon lành: “Chà chà, cay cay chát chát chua chua nhưng quá đã! Vô trăm phần trăm… trà đá cái coi rồi nói cho nghe”.
Ba đứa cụng ly lốp cốp. Cốt khà một tiếng sảng khoái y như mấy ông già uống rượu:
“Biết… hôn thì đỡ quá, hai thằng này đâu có… ế – hehehe – Nói chớ em là nhân vật chánh chớ còn ai vô đây mà hông biết. Mần nhà thơ mà hổng nhớ sao?”.
Chí càng nhíu mày, nó gõ gõ trán:
“Bán con chó… bó trán. Tao thua, hổng nhớ nổi”.
Sương càng long lanh bởi đồng tử nó giãn hết cỡ thợ mộc:
“Em mần nhà thơ hồi n…à….ooo?”.
“Hồi ở ngoài cánh đồng chớ đâu. Lúc ba đứa đang dựa gốc cây mơ màng nghe bài hát Xuân Đã Về vang vang tới. Mà rất ư là hợp, Xuân đã về có đủ hết ráo trọi, có chim hót trên cánh đồng, có bao tà áo khoe cùng bông tím vàng, có bác nông dân cày ruộng vui xuân sang, có ngàn cô gái quê tươi cười đón gió mới… Rồi trong ngàn cô đó có cô dựa gốc cây với hai thằng tui trở thành…”.
Chí chồm người đập tay cái bốp, cắt ngang lời Cốt tưởng như la:
“Nhớ rồi, thành thi sĩ… – hihi… hi hi… Mới đầu Chí hihi…hihi… rồi không nín được nó bật hì hì liên tục, hì hì liên tục chừng như không dừng được, cũng khá lâu sau nó mới nói tiếng được tiếng mất, chen lẫn trong tiếng hị hị: Câu thơ… hị hị… của… của thi… hị hị… thi sĩ đọc độc đáo lắm, xuân đã về… hị hị… xuân đã về rộn ràng trên… trên lưng con bò nhỏ… hị hị…”.
Đúng ý, Cốt vung mạnh tay trong không khí búng cái bóc:
“Ngay chóc, câu đó đó, có điệu trầm bổng thì hổng là thơ chớ là gì. Xuân đã về… xuân đã về rộn ràng trên lưng con bò nhỏ”.
Cô bé phụ bán quán nãy giờ nép mình phía sau lén nghe, dù đã bụm miệng nhưng vẫn không giữ được, bung ra cười hặc hặc, kéo theo hặc hặc ào ào từ ba đứa nó. Bây giờ thì có tới tám giọt sương long lanh long lanh bởi tuyến lệ phải hoạt động hết công suất. May có cô bé nên bà con cô bác xung quanh mới nghĩ chắc có chuyện gì vui lắm đây, chớ không sẽ nghĩ ngay ba đứa vô duyên khùng điên cán cuốc.
Thấm ướt đẫm cái khăn, Sương nói còn có phần mắc cỡ:
“Anh Cốt này nhớ dai ghê”.
Cốt đáp:
“Hay vậy sao hổng nhớ”.
Chí thắc mắc rồi tự trả lời, xong lại thắc mắc:
“Ở quê rành sáu câu vọng cổ, con trâu con kêu là nghé ọ, sao hổng là xuân về trên lưng con bê, con nghé? À, mất chỉ một từ mà nghe nó cụt ngủn hen. Với lại phải có nho nhỏ nhè nhẹ, cơn gió nhỏ, dòng sông nhỏ, con đường nhỏ… mới nên thơ hén. Nhưng sao lại là con bò, ngộ vậy ta?”.
“Thì lúc đó em nhìn thấy có mỗi con bê, bê con nhảy lưng tưng là rộn ràng, lưng nó mịn màng dải lông vàng như… bông vàng, nắng vàng chớ sao nữa”.
Cốt gục gật:
“Cái tuổi đó mà. Ngộ là mày đó. Lúc đó mày thấy lạ chớ có cãi đâu. Mày đồng tình hết mình hết mẩy luôn”.
Chí nhún vai, nghiêng đầu xòe ngửa hai bàn tay:
“Mày cũng có khác chi”.
Ừ, thì cả hai có khác gì. Ở cái tuổi như nụ chớm nở hoa, đã có cảm nhận những rung động đầu đời dù chẳng hiểu là mấy. Đã biết là… mếch (thích) nó thì ra sức mà “che chờ” chớ không như lúc còn con nít, chòng ghẹo cho tới phát khóc mà thôi. Và cả hai cũng có những cay cú lẫn nhau, nhưng cũng biết bỏ qua những sân si sì sượng mà giữ đủ bộ ba. Giữ cho tới tận bây giờ mà cái sự… mếch nó vẫn còn đầy đặn nếu không muốn nói là đã tràn ra và cái sự cay cú vẫn còn ngập đó. Một bộ ba như xuân với màu vàng phương Nam. Một bộ ba vượt lên cả tình bạn bè. Tình gia đình, tình anh em và cả tình yêu đã len lỏi trong da thịt. Đôi khi trong ý nghĩ ba đứa đó là một mối tình thiêng liêng, thần thánh lắm, không thể phá vỡ. Song, cái ý nghĩ này sẽ mau chóng bị phất phẩy cho qua. Suy nghĩ chi cao siêu cho mệt đầu mệt óc. Chỉ là những đứa bình thường, có thể gặp nhau, bắt đầu bằng một câu chuyện, một câu nói tào lao mía lao, rồi gợi nhớ những “Ngày Tháng Nào” đầy ắp kỷ niệm. Những chui rúc ụ rơm, ùm ùm nhảy sông, lặt lá mai vàng, canh mà ngủ gục bên bếp lửa nấu bánh nồi bánh tét…
“Chia tay hén”. Cốt nói.
Sương gật đầu:
“Hẹn gặp lợi hai anh ở Tân niên”
Chí cười behehe:
“Năm mới, ánh dương về trên lưng… con dê nhỏ – behehe – Gặp một anh thôi”.
“Oánh tù xì mày”.
Hai thằng một hai ba, oánh tù xì ra cái gì cả hai ra cái kéo, bốn năm sáu cùng ra cái búa, bảy tám chín… hai cái bao cùng ra. Thôi thì bao cả ba lại, Chí Sương Cốt, bao luôn cả xuân phương Nam, xuân giản dị lắm, thế thôi hén!.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

LẠI VỀ

phudu

tôi lại về đây, lại về
giữa phố đời thấy hồn quê dạt dào
dẫu cho thị tứ xôn xao
thâu đêm cũng có trăng sao trên trời
tôi về đây, lại về thôi
bao trang sử cũng lướt trôi mây ngàn
biển dâu mấy đoạn sang trang
cũng còn chỗ ghé để mang hồn về
tôi về đây, lại về quê
sông xanh vẫn biếc, bờ tre vẫn dày
tôi về qua quãng đường dài
đồng xanh phố đỏ vẫn đầy hiện sinh
tôi về nhưng cứ lặng thinh
bên sông nhìn ngắm lục bình lướt trôi
tôi về đây, lại về thôi
dẫu cho con tạo có thôi hỏi chào.

Phù Du Vĩnh Hiền

vết thương

tonphong

Em vuốt vết thương
trên người anh
cho anh gọi mây về với tóc

Em xoa nỗi đau
trong lòng anh
cho anh gọi màu xanh về với mắt

Mười ngón tay em
luồn từng chân tóc
ngắn dài cũng bấy yêu thương

Sao nỗi oan khiên đời anh
cứ tấy lên dưới bàn tay em chăm chắt
vết sẹo dài đo bằng tháng năm
rạch nát con người
Anh đi giữa đời
mang vết thương không bao giờ kín miệng.

TÔN PHONG