NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC(TT)

khuatdau

xiếc của làng

Con đường đất mà người bộ hành xa lạ đang đặt những bước chân bồi hồi, giống như một con trăn dài bất tận, nó lặng lẽ trườn mình qua những thôn xóm với những cau, những chuối, những rặng tre, những mái nhà… tưởng chừng là giống nhau nhưng có ở quê ra mới biết mỗi làng mỗi khác. Chẳng những khác về mức độ giàu nghèo, về phong tục tập quán, mà còn khác về cái mùi vị rất riêng của từng làng. Không phải mùi hoa bưởi hoa cau trong những đêm trăng, cũng không phải mùi trầm nhang trong những ngày tết, mà có khi là mùi bột chua chua của những lò bánh tráng, mùi hèm nồng nồng của các lò rượu, mùi đậu chín thơm béo của các lò ép dầu…
Làng, ông không còn nhớ tên, nhưng nhớ nó nằm cạnh một con sông mà hàng tre chạy theo ven bờ lúc nào cũng rì rào lá rụng. Thời gian bạc bẽo gần như đã xóa mờ đi tất cả chút ký ức mơ hồ của ông, ngoại trừ cái mùi mật đường của những lò cốm trong làng, một mùi đậm và gắt như mùi của những xóm vạn làm nước mắm, nhưng ngọt ngào và thơm tho hơn.
Khi nghe cái mùi không thể nào quên ấy, ông tin là đã về tới làng của mình.
Ông bước vào một hàng quán thấp đến nỗi phải cúi gần như sát đất mới chui vào được. Bà chủ quán, mà tuổi già và cái sự nghèo cũng giống như mái tranh mục nát, đang ngồi cời lửa bên cạnh ba ông táo bằng đất cùng đội trên đầu một cái om lọ nghẹ đen xỉn. Không cần hỏi cũng biết khách cần gì, nên bà liền đặt một chiếc bát sành trên cái chõng tre, với lấy cái gáo múc nước lạnh trong vò đổ vào chừng nửa bát, rồi dùng một cái kẹp bằng tre nhấc cái om đang sôi rót xuống long tong một thứ nước màu cánh gián. Bọt sủi lên tràn vun miệng bát, thơm mùi lá khô gọi là chè, vừa đủ chát để làm miệng bớt đắng và vừa đủ ấm để trôi qua cổ họng.
Thay vì, như những khách đường xa, bưng bát nước lên thổi bớt bọt rồi nín thở uống cạn một hơi, khà một tiếng, lại chìa bát ra cho bà rót thêm bát nữa thế mới đã khát, thì ông cứ ngồi nhìn những bọt trắng chậm rãi tan đi như bọt xà phòng. Có điều gì đó gần như niềm xúc động, vì đây là lần đầu tiên ông uống một bát nước chè, mà lại là bát nước chè mộc mạc của nơi chôn nhau cắt rốn.
“Uống đi kẻo nguội, mất ngon”, bà chủ quán giục.
“Ờ, bà cho xin thêm miếng cốm”.
“Cốm bắp hay cốm gạo?”
“Cốm gì cũng được”.
“Cốm bắp nghe, còn răng ăn cốm bắp ngon hơn”
Ông nhìn bà, hơi bất ngờ vì lời khuyên thật thà của một người mà hai hàm răng chỉ còn trơ hai cái lợi. Thực ra ông cũng chẳng còn đủ răng, nhưng nghe lời bà ông cũng cố mà nhai và cũng là lần đầu tiên ông thấy còn răng ăn cốm bắp ngon hơn, vì ngoài mùi vị ngọt thơm ông còn nghe thấy tiếng kêu rào rạo của những hạt bắp vỡ ra dưới những chiếc răng còn khỏe mạnh.
Ông ăn hết miếng cốm, uống cạn bát nước, định lân la hỏi thăm bà về người mẹ mà ông chỉ còn nhớ loáng thoáng hai hàm răng đen bóng sáng lên mỗi khi cười. Đúng lúc ấy, bà lão hỏi: “ngó bộ, chú không phải người quanh đây?” Ông định buột miệng: “tui là người của làng này mà”, nhưng cứ nghe cái giọng lúc nào cũng nẩy tưng tưng như những đồng bạc cắt rơi trên mặt đá khác hẳn với cái giọng bè bè ngang ngang của mình, ông nói:
“ờ, không phải, tui ở nơi khác tới”.
“Thăm bà con hử?”
“Ờ, thăm bà con”, ông đáp lửng lơ.
Ông định nói “tui đi tìm mẹ”, nhưng chẳng biết mẹ tên gì, cao thấp ra sao, cùng lắm là phải biết vợ của ai, làm ông gì bà gì, chứ nói khơi khơi thì đố ai mà biết được, nên ông chỉ ngồi im nhìn bà lão, tự hỏi không chừng đây là mẹ của mình chăng? Ờ, biết đâu đấy, ông nghĩ, mẹ mình chắc cùng lứa tuổi với bà và ước chi bà là mẹ của mình, ông sẽ quỳ xuống bên cạnh, nắm lấy bàn tay nhăn nheo của bà mà nói, “con đây mà mẹ!”
Cũng có thể nãy giờ bà ngờ ngợ sao đó, cố đem cái hình ảnh của đứa bé đã mờ đi quá nhiều vì năm tháng ra so với người đàn ông đang ngồi trước mặt, rồi chợt mếu máo hỏi: “có phải chú là… là con của tui phải hôn?!”. Nhưng chẳng có dấu hiệu nào báo trước một cuộc đoàn tụ đầy nước mắt, bà chỉ lặng lẽ cầm lấy bát úp lên chỗ cũ, tắt bớt lửa trong bếp, rồi lấy cái cối giã trầu ra ngồi ngoáy như thường lệ. Ông đành đứng dậy trả tiền, ra khỏi quán, tiếp tục bước đi.
Lúc này đang vào giữa ngọ, trời nắng chang chang, cái bóng của ông như một bãi hắc ín xê dịch giữa hai bước chân. Vào giờ này mà đi như thế, ông giống như một lão thợ hoạn, chỉ khác là không có tiếng rao heo thiến hôn? mà cái tiếng “thiến” lúc nào nghe cũng lạnh và sắc như con dao.
Giờ là lúc những nong bắp phơi trước mọi nhà đang nóng rực lên, chờ được đổ vào những chiếc chảo rang. Bắp nóng gặp cát nóng liền đồng loạt nổ bung, cho ra một thứ gọi theo tiếng nhà nghề là “nổ”, trắng và thơm như bông bưởi. Ông nhận ra mình đã từng nghe tiếng nổ rào rào ấy, từng hít thở cái mùi thơm của nắng, của gió, của đất và cả mùi mồ hôi của mẹ trong những năm đầu đời. Nhưng người đàn bà nào trong làng này là mẹ của tôi? Và, trong số những mái tranh nghèo này, mái tranh nào là mái nhà của mình? Những câu hỏi bật lên một cách vô vọng khiến mắt ông như mờ đi.

Cuối cùng người khách lạ cũng tìm ra được ngôi nhà của mẹ mình, phải nói là nơi đã từng là nhà của mẹ thì đúng hơn vì chỉ còn trơ lại cái nền nhà với cỏ vàng hiu hắt. Khi ông bảo mình là đứa bé năm xưa theo mẹ ra chợ rồi đi lạc thì có một người già như bà lão đổi nước, nói: “vậy hả?, hồi đó trong làng xao xác dữ, té ra chú mầy là thằng Quạ đó sao?”, ông gật đầu và mơ hồ nhớ lại cái tiếng mẹ kêu “Quạ ơi, Quạ ơi, về nhà ăn cơm” vang lên văng vẳng, mà tiếng “ơi” bao giờ cũng ngân dài tha thiết.
“Chao ơi! bà ấy chết lên chết xuống! Ai cũng nói chắc là nó bị bắt bỏ vào bình để ngâm rượu, nghe nói thế sao mà không chết ruột chết gan!”.
“Rồi sau đó mẹ tôi ra sao?”, ông hỏi thêm.
“Thì bả lặn lội đi tìm chớ sao. Ban đầu là hỏi ông Sáu chèo đò, ổng bảo là có chở nó cùng với vợ chồng thằng cha hát xiệc. Sau đó bả đi coi thầy, thầy nói đại nó chưa chết đâu, bả cũng mừng”
Dừng lại bập bập điếu thuốc vấn bằng lá chuối khô, ông già nói tiếp:
“Rồi bả bỏ cái chỗ này mà đi, chắc là đi tìm chú mầy chớ đi đâu, nhưng tận trong cái xứ Cà Mâu xa xôi, chắc gì tìm được! Còn chú mầy sao mãi bây giờ mới về? Muộn quá rồi!”.
Ừ muộn quá rồi! Từ khi đặt bước chân ở đầu làng, ông lờ mờ cảm thấy cái ngày trở về của mình đã quá muộn. Ông đứng nhìn những tàu lá chuối gió thổi te tua, nhìn lên nền trời bàng bạc, cố hình dung cái dáng hớt hơ hớt hãi của mẹ mình bương bả đi tìm con, thấy búi tóc mẹ sổ ra, thấy chiếc nón không đội trên đầu mà cầm trên tay, thấy đôi bàn chân không giày dép, hai gót chân nứt nẻ bám đầy bụi…
“Mà bả không bỏ đi lúc đó, ít năm sau cũng phải bỏ đi thôi”, ông già lại trầm ngâm tiếp tục câu chuyện của xóm làng trong đó có chuyện của chính mình, “làng bị thả bom cháy sạch trơn không còn cái nhà nào, bà vợ tui, tội nghiệp cũng bị chết thảm!”.
Có dịp nhắc lại chuyện cũ, mắt ông đỏ hoe nhưng cũng chẳng còn giọt nước mắt nào để làm cho nó dịu bớt.
Ông đứng lên, “thôi tui về, chú mầy chắc còn ở lại lâu, bữa nào ghé lại tui chơi.”.
Dạ, cụ về, cảm ơn cụ đã cho cháu biết ít nhiều về mẹ cháu.”
“ờ”, ông vẫn còn nấn ná, “bà ấy cũng tội nghiệp lắm, hết khổ vì chồng lại khổ vì con!”
Thế ra mình cũng có một người cha làm khổ mẹ như mình! Mình thì ham chơi mà đi lạc còn cha mình thì sao? Ông nghĩ rồi sẽ hỏi lần ông cụ, lâu nay ông chỉ nghĩ tới mẹ, mà quên mất mình hãy còn một người cha cũng cần phải nghĩ đến.

Ông tính mình sẽ mua tranh tre, cất một ngôi nhà nhỏ. Không gì quý hơn là có một mái nhà ngay tại nơi chốn mình đã sinh ra. Chính trên mảnh đất già cỗi này, cha mình đã cầm lấy cuốc ra góc vườn, đào lỗ đặt một cái nồi đất trong đó có đựng nhau của mình. Nó tuy không còn dính với khúc ruột, nhưng nó chưa chịu lìa xa, chưa chịu mất hẳn, nó hãy còn đâu đó và nối với mình bằng một dây rốn dài, nên chi, khi ông già nói “đây là vườn nhà của chú mầy”, thì tự dưng lòng ông nôn nao, tưởng chừng như mỗi cọng cỏ, mỗi lá cây đều có chút gì hơi hướng của ông.
Những ngày sau, khi phát cỏ dọn vườn ông bắt gặp một cái chảo gang đã bị vỡ, chảo rất to dùng để thắng mật trộn bắp, một cái nồi đất cũ để nấu cơm có con cóc làm hang ngồi trong đó, một con dao đã rỉ sét, mấy cái chén sành sứt mẻ. Ông cẩn thận lau chùi để qua một bên, hơi buồn khi nghĩ rằng đây là gia tài của mẹ. Rồi ông lại nhặt được một con dao găm, mấy hạt nút bằng đồng có hình mỏ neo, một khung ảnh lồng kiếng ố mờ, ông tin chắc là của cha mình xúc động đến muốn khóc, nhưng khi mở ra chỉ thấy lẫn lộn một thứ bột xam xám như tro chứ chẳng có hình ảnh nào cả.
Có mấy người bảo là bà con nghe ông về tới thăm, rồi giúp ông làm nhà. Một người là cậu họ, một người là em bạn dì, chẳng có ai là người bên nội. Hóa ra đây là quê ngoại, mảnh đất này là của ông bà ngoại cắt cho con gái, mẹ ông đã ở đây sau khi không sống được với chồng.
“Sao vậy?”, ông hỏi.
“Thì ghen chớ sao! Cha mầy đi lính Tây, hết giặc đem theo về một con đầm lai, ở sao nổi!”.
“Dạ cháu biết có nhiều người hai ba vợ mà vẫn ở chung”.
“Ở thì cũng được, nhưng phải hầu hạ nó như đầy tớ, chịu sao nổi!”
“Bà đầm ấy chắc đẹp?”
“Ờ, cũng đẹp và nó nghĩ rằng mình đẹp nên nó bắt ai cũng phải hầu hạ nó, kể cả chồng, cha mẹ chồng chứ không riêng gì mẹ mầy”.
“Thế, ông già của cháu giờ ở đâu?”
“Ở trong mả chớ còn ở đâu nữa. Hồi đó mà, dính tới Tây và Nhựt là bị giết!”
Người cậu họ ngần ngừ một lúc rồi thở dài, nói:
“Ông già mầy chắc cũng còn thương mẹ mầy, nên xác nằm trong bao bố rồi mà hồn vẫn cứ lẩn quẩn. Sáng hôm đó đứng giặt đồ dưới sông, mẹ mầy thấy một cái bao tấp vào chân không chịu trôi đi. Bớ làng bớ xóm kéo lên, mới tá hỏa thấy cha mầy nằm trong đó!”
Những trang sách của đời ông cứ dần dần được mở ra, cho dù qua lớp bụi thời gian, nó như vẫn còn mới nguyên, ở đó mẹ ông, cha ông đã để lại những thứ mà không ai muốn, là những tai ương, những đắng chát làm của để dành!

Ngôi nhà chừng 10 ngày đã làm xong, một cái nhà tranh vách đất. Bữa cúng mừng nhà mới còn có thêm ông cụ hôm nào. Cụ khen:
“giỏi đấy, mới về mấy bữa mà đấ cất được nhà. À, có ông Bảy Quế đây, hèn nào cất nhà chẳng mau”. Ông Bảy Quế té ra là tên của cậu họ, giờ ông mới biết.
Ông rót rượu vào chén của mọi người, trịnh trọng:
“xin mời cụ, mời cậu, mời chú em, xin cảm ơn đã thương mà hết lòng giúp đỡ”. Ông cạn chén, mắt rưng rưng. Đây là chén rượu mà ông tưởng chừng như đựng đầy nước mắt. Phải chi là chén cơm của mẹ thì ngon biết chừng nào!
Ông cụ cũng cạn chén nói:
“Qua cũng mừng cho chú mầy, bị mẹ mìn bắt cóc mà nay vẫn tìm về được quê cha đất tổ là giỏi. Chớ mầy trôi nổi những đâu, vợ con thế nào rồi, mà nay về có một mình vậy?”
“Dạ!”, ông đáp lời,
“chuyện của cháu dài lắm, thì cứ biết cháu còn sống ngồi đây với cụ, với cậu và chú em này là quý lắm rồi, chuyện gì nữa thì để nói sau”.
Ông Bảy Quế cũng nói thêm,
“chắc là chuyện không vui, tôi cũng có hỏi nhưng cháu nó không nói, thôi uống đi anh Chín”.
Ông cụ thứ chín cạn thêm chén nữa, ngồi trầm ngâm không ăn, ông nói:
“Xứ này là xứ của Hời, ông bà mình nói, Hời nó đi để của lại nhiều lắm. Bao nhiêu là vàng bạc, châu báu, vua quan lấy hết đem về bắc. Còn lại cái đất này, toàn rừng thiêng nước độc, thì dành riêng cho những kẻ tội đồ, những người bị án chém mà chưa chém. Họ bị đưa vào đây nếu không chết vì bị dân Hời giết thì cũng chết vì lao dịch. Muốn sống họ cũng phải giết người”.
Ngừng một lúc, ông cụ lại thở dài:
“Tổ tiên ông bà mình đấy, sống như thế bảo sao con cháu không buồn!”
Tan bữa rượu, ai cũng bảo ông ráng kiếm một người đàn bà, đẻ vài đứa con để nối dõi. Ông cũng ậm ừ vậy vậy.

Cái buổi trưa hôm đó đã quét ngang qua đời ông như một cơn gió lớn. Chẳng những nhổ bật hết mọi gốc rễ mà còn ném ông vào cái dòng đời xa lạ, với những thác những ghềnh, khác hẳn cái ao làng bé nhỏ và tĩnh lặng này.
Giờ đây cái chợ quê nghèo nàn đã không còn, chẳng có gì làm chứng cho cuộc chia ly ngoài cái bến đò mà ông lái đã chết từ lâu. Trên khúc sông đó, nay vắt vẻo một cây cầu, nơi bọn trẻ ngày nào cũng chạy ùa ra nhảy tòm xuống tắm.
Ông về tới làng đã gần tròn năm. Cây trái trong vườn cũng đã lên xanh. Đã ra vẻ một gia đình, nhưng chỉ có mỗi mình ông ra vào thui thủi.
Ông hãy còn một người mẹ, thật khó mà tin rằng bà vẫn còn sống đâu đó trên cái đất nước nhiều đạn bom và bất trắc này, nhưng ông vẫn cứ thấp thỏm chờ.
Một buổi chiều nắng đẹp, ông đang ngồi nhìn những đám mây trắng trên trời, bỗng có một người da đen đi vào sân. Đó là một người đàn bà chừng hơn 40 tuổi, da đen nhưng không đen lắm, dáng người vừa phải thon gọn chứ không to bè.
“Xin cho hỏi, đây có phải nhà bà Lữ không?”
“Ờ, à… phải, nhà của bà ấy” ông lúng túng
“nhưng bà ấy không có ở đây”
“Tôi biết rồi, bà ấy ở Mỹ!”
“Ở Mỹ?”, ông hỏi lại như chưa tin vào tai mình.
“Vâng, ở Mỹ. Và ông là Quạ?”
“Ờ, vâng… vâng” ông bối rối.
“nhưng mà cô là ai?”
“Tôi là con bà ấy!”
“Ơ! Và cha cô là…?” Ông nghĩ rất nhanh: sao lại như thế hở Trời, sao mẹ tôi đi lấy Mỹ mà lại là Mỹ đen!
“Vâng, cha tôi là người Mỹ, nhưng không phải là giặc Mỹ! Ông ấy là một bác sĩ tình nguyện đến chữa bệnh sốt rét ở Cà Mâu. Ổng gặp một người đàn bà đi tìm con lưu lạc xuống tận dưới đó. Hai người lấy nhau ra sao tôi không biết, chỉ biết khi sinh tôi ra dược một tuổi thì ổng bị giết. Việt cọng bảo là CIA!”
Ông thở dài, định nói “cô cũng chẳng khác gì tôi, cà hai có cha cùng bị Vixi giết” nhưng kịp dừng lại.
“Chúng tôi qua Mỹ theo diện con lai. Được 29 năm thì mẹ tôi mất.”
Ngừng một lúc, nhìn ông, nhìn căn nhà, bà nói tiếp.
“Chắc ông cũng mới về làng?”
“Ờ, mới về”. Ông áy náy về cảnh nhà cửa trống trơn.
“Mẹ nói, dễ tìm ra làng mình lắm, cứ nghe mùi cốm là tới đúng làng An Đông. Có phải là An Đông không?”
“Phải!” Ông sực nhớ ra mình cũng mới biết tên làng.
“Mẹ nhớ anh khóc miết. Gần chết thì khóc nhớ làng”.
Bà ngừng nói, đặt vào tay người anh không cùng cha một chiếc hộp nhỏ.
“Đây là tro của mẹ!”
Gần như choáng váng, ông không thể ngờ là mẹ lại trở về tìm con trong chiếc hộp này. Ông ngập ngừng muốn mở ra xem nhưng lại thôi. Ông chỉ nhẹ nhàng ghì sát vào ngực, thầm kêu lên nho nhỏ: “Mẹ ơi, con đây mẹ!”
Sau một lúc yên lặng, người em nói:
“Mẹ dặn, nếu không gặp được anh thì rải tro xuống sông”
“Rải xuống sông à?” ông vẫn chưa hết bàng hoàng.
“Vâng, nhưng gặp được anh thì…“
“Thì sao?” ông lo lắng hỏi.
“Thì vùi đâu đó trong vườn”
“Sao không đặt trong mộ?”
“Mẹ muốn như vậy”
Ông muốn đắp cho mẹ một ngôi mộ nhỏ, dựng bia, để rồi có những lúc buồn đến ngồi bên mẹ. Nhưng mẹ đã muốn không còn ai biết đến mình nữa, thì đành vậy. Ông nói:
– “Ờ, tôi, à anh sẽ làm theo ý mẹ”.
Ông lấy cái nồi đất đã nhặt được hôm dọn vườn, đặt vào lòng nó chiếc hộp tro. Ngó ra vườn, thấy không có chỗ nào sạch và đẹp như khoảng sân trước nhà, ông liền đào ở đó một cái lỗ vừa đủ đặt cái nồi vào. Lấp xong đất, mỗi người cắm ba nén nhang.
Trong khi mùi nhang hòa cùng mùi cốm thơm đến nghẹn ngào, họ chìm trong yên lặng. Hai người ngồi lại rất lâu, ngồi mãi cho đến khi nắng tắt hẳn trên sân.
Bên ngoài có một chiếc xe đang chờ sẵn. Người em đứng lên chìa tay ra, ông hiểu ý nắm lấy.
“Thôi chào anh, em đi!”
Ông cũng nói: “Đi mạnh giỏi!”
Còn lại một mình ông cố hình dung ra mẹ, nhưng chỉ thấy những hạt bụi cuốn sau xe bị gió thổi tung lên cùng với rác trên đường, cuộn tròn như đang làm xiếc.

KHUẤT ĐẨU
(tháng 12, 2015)

Xuân đến, xuân đi

tuankhanh

Sáng 30, đường phố Sài Gòn vắng đi, nhưng không vắng hẳn. Điều dễ thấy của xuân năm nay là những người buôn bán nghèo khó vẫn tiếp tục cầm cự bày hàng. Vỉa hè nhiều nơi vẫn còn chen nhau kiếm thêm chút, dành dụm cho một năm mới dự báo không nhiều niềm vui.

Cứ từng năm qua, mùa xuân như cứ nhạt dần. Đường phố không còn không khí của những ngày Tết mà ai ai cũng muốn đóng cửa nghỉ ngơi, ai ai cũng muốn dừng tay lại để hít thở với chút cảm giác khó tả của trái tim mình khi bước qua thêm một lằn ranh nữa ở cõi sinh tồn thế gian. Quán café trước ngõ vẫn đông khách như một ngày rất thường. Quán bánh ướt vỉa hè trong ngỏ hẻm cũng không nghĩ sáng 30 Tết. Quán không có có bàn, những người đến ăn phải ngồi ghế đẩu, cầm đĩa ăn cho đến hết. Những người ăn vội vàng cho qua một bữa sáng, cho qua một ngày 30 mà trước đây Sài Gòn đón chờ như một điều thiêng liêng và hân hoan. Ông cụ ngồi ăn bánh quay sang bắt chuyện. “Tết đến làm gì, chán quá”. Một cụ khác cười, góp thêm “Tui thấy 5 năm Tết một lần cũng được”.

Nghĩ mà buồn cười. Tết 5 năm một lần, cứ như là nhiệm kỳ của một ông quan thiên nhiên. Xuân đến như không mang đủ ngọt ngào của cuộc đời, đến mức dân chúng chán chê muốn xua đi, chỉ mong gặp và hy vọng vào một mùa xuân của nhiệm kỳ mới. Cuộc đời cũng vậy, bạn đã có bao giờ ngao ngán và chờ một điều mới mẻ nào đó từ con người, quan quyền trên đất nước này chưa?

Tết ở Sài Gòn, đặc biệt ở quận 5, lâu rồi không còn nghe tiếng “tùng cheng”. Chắc cũng phải hơn 5 năm, những chiếc xe ba gác bán đầu lân, đầu ông địa cho trẻ con không còn dạo khắp phố phường với tiếng “tùng cheng” quen thuộc như tín hiệu rộn ràng của một mùa xuân. Ngay trong thủ phủ của người Hoa Chợ Lớn, một vài cửa hàng có treo đầu lân, đầu ông địa cũng xao xác buồn. Ngày xưa trẻ con ai cũng muốn phải có cho được một món để chơi mùa Tết, nay thì cầm món ấy đi giữa phố, chẳng khác nào kẻ lập dị. Mới năm trước, lúc trước giờ giao thừa vẫn hay có các nhóm nhỏ Lân Sư Rồng đi dạo phố phường, vào nhà xin lì xì. Nay thì cũng vắng bặt. Tiền dành dụm chưa đầy, dân chúng ai còn dám mạnh dạn mở hầu bao. Ấy vậy mà báo Nhà nước vẫn có tờ đăng tin Việt Nam là quốc gia có name có mark về hạnh phúc và dễ kiếm tiền.

Trên chuyến xe taxi đi vào trung tâm Sài Gòn di chuyển chậm vì đông người trong những ngày cận Tết, người tài xế giết thời giờ bằng cách kể chuyện đó đây, trong đó ấn tượng nhất là chuyện bạn của anh làm công nhân mà năm nay không đủ tiền về quê. “Rất nhiều người gặp khó khăn như vậy nên ở lại buôn bán thời vụ, làm thêm để kiếm chút tiền sau Tết về”, anh tài xế kể. Trong bài hát Xuân này con không về của Trịnh Lâm Ngân, ca sĩ Duy Khánh có hát rằng “Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm, mái tranh nghèo không người sửa sang…”, giờ thì về quê đâu chỉ có dùng sức mà lo được cho mái tranh của mẹ. Tháng 12/2014, các bản tin của báo Nhà nước còn đưa tin rằng nhiều tỉnh nghèo quay quắt chờ 8.000 tấn gạo cứu đói mùa Tết này. Không có tiền thì vô phương. Pháo bông giao thừa cũng chẳng để làm chi, rồi chỉ biết ngó lầu đài của các quan chức như ông tổng thanh tra chính phủ Trần Văn Truyền mà thở dài. Trong những nhịp đồng hồ cuối cùng của năm âm lịch, báo đưa tin những người bán hoa, cây kiểng ở trung tâm Sài Gòn, ở bến Bình Đông rơi nước mắt vì ế ẩm, không bán được hàng. Đọc mà lòng tự dưng buồn khôn tả.

Tết năm nay không thấy bà tổ trưởng nhắc treo cờ, anh công an khu vực đi kiểm tra. Có lẽ mệt mỏi vì nhiều năm nhắc hoài mà dân chúng vẫn lơ là, nên chính quyền địa phương ở nhiều nơi theo lệnh mà xuất tiền trồng cờ dọc theo cầu, dọc theo lề đường. Khắp nơi rực rỡ một màu đỏ như ngày đánh thắng một mùa xuân. Cờ được chất đống trên các xe tải nhỏ và được các bạn trẻ dân phòng vội vã ghé vào, cắm dựng, vuốt… rồi chạy đi chỗ khác làm cho kịp chỉ tiêu. Cờ ngay ngắn và rõ ràng như phân lô đất trong thành phố.

Ào một cái đã đến giờ cúng giao thừa. Mùa xuân vội đến và vội đi vậy sao? Mùa xuân nhạt nhòa và không còn rõ ràng trong sự chờ đón của con người. Những bài nhạc xuân viết mới ồn ào, như cố xô người nghe vào một không gian chộn rộn lố bịch đầy cố gắng. Khắp nơi ầm ầm như một chiến dịch đuổi bắt xuân. Mọi thứ đó, như chỉ để nhắc nhau về một điều gì đó gọi là mùa xuân nhưng dường như đã vàng phai biết mấy, hoặc đã không còn tìm thấy nữa.

TUẤN KHANH’s Blog

THÁNG GIÊNG NỒNG

linhphuong

Thế rồi…
gió bấc qua đồng
Chiều ơi !
Níu tháng giêng nồng về đây
Hoa nào đầy nhóc bàn tay
Rơi trên vai áo em
ngày cuối năm
Thế rồi…
nắng mới vàng ươm
Ướp môi em với nụ hôn
ngọt ngào
Lạ lùng
con mắt bồ câu
Ngẩn ngơ hồn vía
thuở đầu gặp nhau
Thế rồi…
thương nhớ gì đâu
Tình anh
em giấu
giữa bầu ngực non
Đợi chờ
xuân chớm mùa sang
Phố xưa
vắng tiếng sâm cầm
em xa
Thế rồi…
khuất bóng quê nhà
Sài Gòn xa lắc
nhạt nhòa đường mây

LINH PHƯƠNG

MÙA XUÂN.

vudinhhuy

buồn làm gì
lá răm ơi
mùa xuân
tự ở đất trời
phải đâu

em duyên
em bước qua cầu
ta thơ
ta đuối
nông sâu bể đời

thắp dùm ta
chút son môi
nắng xuân lững thững
bên đồi trần gian

em đừng trách
kẻ tiêu hoang
luân hồi ta
gã từ quan
đi tìm

mùa xuân
thả những cánh chim
thắp lên em nhé
que diêm
ta vừa…

VŨ ĐÌNH HUY

Hội ngộ Tương tri 2016 ĐÀ NẴNG

tranthitrucha

12669608_782465905191386_144912062117886295_n

Chúng tôi lại về ngồi bên nhau như hai năm trước đây.
Ngày đó 23 tháng chạp năm 2013 chúng tôi chỉ có 6 người, bập bềnh như chiếc lá trên sông Hàn ở Memory trong rét buốt đến tê tái. Nhưng khi anh Tạ Chí Thân đến, cầm trên tay tập Tương tri mùa xuân thì dường như rét buốt cũng tan đi.
Đêm nay 25 tháng chạp năm 2016 chúng tôi bao gồm vừa tác giả vừa độc giả là 32 người. Thời tiết Đà Nẵng trong những ngày cuối năm se se và êm dịu lạ thường. Chúng tôi ngồi bên nhau trong căn phòng nhỏ ở khu Đảo xanh, tiếc một không gian đẹp mà khi mọi người đến đông đủ trời đã chập choạng tối không nhìn ngắm được.

Anh Tạ Chí Thân từ Qui Nhơn đến Đà Nẵng gần 5 giờ chiều, một ngày ê ẩm trên xe, vậy mà nhìn anh chị vẫn tươi . Anh nhanh nhẹn treo tấm băng rôn “Hội ngộ tuongtri.com 2016 ” và chủ trì buổi họp mặt. Nhìn thấy mọi người đến đông đủ anh cười phấn khởi: “Mừng lắm, Trúc Hạ thật mát tay”. Thật sự thì tôi có làm được gì đâu. Đó là duyên kì ngộ đấy thôi !

Nhà văn Trương văn Dân đến cùng người vợ Ý Elena, tiến sĩ ngôn ngữ và văn học nước ngoài với nụ cười dễ mến hoà đồng trò chuyện cùng mọi người bằng âm điệu Tiếng Việt lơ lớ. Bà lẩm nhẩm hát theo làn điệu dân ca cùng nhạc sĩ Đình Thậm. Chấp nhận rời xa quê mình để lặn lội về quê chồng, sát cánh bên chồng trong cả niềm vui lẫn nỗi buồn như bà, phải chăng đó là tình yêu đích thực tuyệt vời đã tạo nguồn cảm xúc để họ cùng nhau viết ” Bàn tay nhỏ dưới mưa”.

Anh Nguyễn Tấn Sỹ, một nhà thơ cộng tác với Tương tri đã đến sớm nhất cùng với những người bạn rất “đặc biệt” . Cám ơn anh Sỹ thật nhiều, anh và những người bạn tài hoa của anh đã làm cho đêm hội ngộ Tương tri thêm ấm nồng. Những bài thơ của Anh Sỹ, anh Ngân Vịnh, anh Nguyễn cảnh Thìn cùng với tiếng hát của nhạc sĩ Đình Thậm…dường như đã xoá tan đi khoảng cách xa lạ, chúng ta thật gần nhau trong tình yêu văn chương nghệ thuật, chúng ta viết về tình yêu, cuộc sống, đất nước… bằng sự trong sáng tinh khôi của tiếng mẹ đẻ để nuôi dưỡng bền vững muôn đời dòng máu Việt.

Chị Dao Lam thật đáng yêu! Chị rất nhiệt tình cùng tôi chuẩn bị cho buổi họp mặt chu đáo, chọn những chai rượi ngon đem đến và đưa xe đi đón bạn bè… Nhưng tuyệt vời hơn cả là bài thơ chị đọc cho mọi người nghe. Giong Huế ngọt lịm và dịu dàng quá đỗi !

Chị Phùng Kim Hương với bài hát ” Đôi mắt người Sơn Tây”, quê ở Sơn Tây nhưng di cư vào Huế rồi vào Đà Nẵng nhưng nói tiếng Huế nhẹ như bấc . Chị đã cầm bút từ năm 12 tuổi và bây giờ muốn cầm bút trở lại, đã có truyện ngắn đăng ở Tương tri.

Chị Liên Hương, người yêu của anh Tạ Chí Thân tiếp nối Phùng Kim Hương bài hát “Tình ca” của Phạm Duy thật ngọt ngào, tha thiết:
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
….
Những người tên Hương sao hát hay vậy ta ?!…

Anh Bùi Thanh Xuân đến thật lặng lẽ, anh đọc một bài thơ viết cho mẹ, buồn buồn như chiều cuối năm… Thôi năm cũ đang đi qua… Tất cả chúng ta xin hãy khép lại những ưu phiền, hãy cố nhìn vào những điều tốt đẹp của mỗi người để yêu thương …

Trần Thiên Thị đang phiêu lãng ở Qui Nhơn không về kịp.
Mai Thanh Vinh bị tai nạn, tay còn yếu không chạy xe được, đứng đón xe buýt cả buổi , những chuyến xe cuối năm đầy nhóc người và hàng hoá. Chỉ gọi điện báo tin tiếc nuối, thương bà chị lận đận và tiếc những bài thơ cùng giọng ngâm thơ não lòng người của chị lắm !

Và người từ Quảng Trị cũng kịp đáp chuyến xe cuối vào tới Đà Nẵng để hội ngộ, Phạm Ty Lan, chị có nụ cười thật hiền, thật duyên, chắc mấy anh võ sĩ Bình Định chết mê nụ cười này thôi. Và sáng nay thật buồn khi nghe tin chị mất túi xách, giấy tờ tiền bạc không cánh mà bay. Ôi , Đà Nẵng quê tôi, thành phố đáng sống, một mét vuông mười thằng ăn cắp. Ăn cắp được sinh ra ở thành phố này và từ tứ xứ đến… Cười ra nước mắt !… Chạy đến ôm chị và dỗ dành: ” Thôi kệ, của đi thay người chị ạ “. Chị đành e thẹn cầm mấy trăm nghìn của anh Tạ Chí Thân leo lên xe trở lại Quảng Trị với nụ cười vẫn nở trên môi.

Và rất nhiều độc giả hâm mộ những cây bút tương tri đã đến ! Chân tình xin lỗi các bạn vì không nhớ hết tên để viết về các bạn nhưng vô cùng cảm ơn các bạn đã đến hội ngộ cùng chúng tôi. Các bạn đã tạo ra sự hưng phấn cho nguồn cảm xúc bất tận. Chúng tôi viết vì còn có các bạn đọc.

Và cuối cùng Tương tri ơi hẹn gặp lại !
Dù đi đâu, ở đâu, rồi chúng ta vẫn tìm về ngồi lại với nhau
Vì chúng ta là Tương tri.

Trần thị Trúc Hạ

Kẻ Tu Hành Trong Hang Đá

ductriqueanh

Tu tập trong hang đá trên ngọn núi cao tận cánh rừng sâu đã nhiều năm mà hang đá và người tu hành vẫn chưa một lần trò chuyện. Một hôm, sau khi đã hoàn tất việc tu luyện, tu sĩ thốt lên:
– Cám ơn hang đá, người bạn đồng hành đã cùng ta vượt qua gian khổ trong chặng đường vừa xong.
Hang đá trả lời:
– Tại sao phải cám ơn ta? Chính mi tu tập và gặt hái thành công cho chính bản thân.
Kẻ tu khiêm tốn:
– Lẽ là vậy, nhưng nếu không có người thì tôi đã không có một chỗ trú thân.
Hang đá cười, vang vọng bốn phía:
– Mi lầm rồi, mi chưa từng trú trong ta.
Tu sĩ ngạc nhiên:
– Tại sao?
– Bởi ta không phải là chỗ để tạm trú.
– Tôi chưa hiểu – Người tu hành nhẹ giọng.
– Hình hài hang đá của ta đã tạo nên chỗ ở của mi. Mi vào ở là lẽ tự nhiên, và mi vào ở hay không, ta cũng không thêm bớt hay mất mát gì. Hãy nhớ kỹ, ta chưa hề ban ơn cho ai.
Kẻ tu hành tiếp tục ẩn dật trong hang đá thêm một thời gian nữa. Ít lâu sau, ông thoát khỏi kiếp phù du. Hang đá cũng theo lẽ tự nhiên mà biến mất.

ĐỨC TRÍ QUẾ ANH

PHƯƠNG ẤY.

tonnuthudung

Nắng mật ong cho tôi vàng thương nhớ
Chiều tương tư em tóc xõa trên đồi
Hồn lơ đãng cứ mơ về cố xứ
Gót chân hồng em nhẹ đến xa xôi.

Mây có tụ thành những quầng ngũ sắc
Gió vẫn bay tan tác cuối chân trời
Sương còn đọng long lanh buồn phương ấy
Đêm nghẹn ngào ai thao thức cùng tôi.

Nhớ một thuở có còn đau một thuở
Ngày hoang vu mưa bong bóng chập chờn
Em cầm ngón tay tôi vàng khói thuốc
Lặng thinh nhìn… như gởi một yêu thương.

Tôn Nữ Thu Dung

phục hiện

nguyendinhbon

có khi buồn suốt một ngày
mà không hiểu hết mình cay đắng gì
có khi hoa cỏ xanh rì
tay không dám hái cũng vì nhân gian
có khi bỏ phố về làng
rồi quay quắt nhớ một hàng sao xanh
chiều nay phục hiện ân lành
nắng xuân còn đậu trên nhành hoàng hoa…

Nguyễn Đình Bổn

Màu Cổ Tích

zulu

Trong lớp học, mỗi lần nhìn Kate Stern tôi ngờ ngợ như quen biết, như đã gặp ở đâu. Tôi đến Mỹ hơn một năm, cô gái tóc nâu, mắt xanh, làn da trắng mịn, khuôn mặt rám nắng không phải là người Việt, nhưng sao nhìn Kate tôi cảm thấy thân thiện, gần gủi. Trong dáng đi và nụ cười của nàng, có gì cứ bắt tôi tìm kiếm, nhớ về.
Lớp học chỉ có hai mươi sinh viên, tôi ngồi hàng ghế đầu. Kate thường đi học trễ, cô đứng khom người, gật đầu chào rồi dọt lẹ xuống cuối lớp. Cách chào của Kate làm tôi nhớ lúc nhỏ, thầy giáo năm lớp nhì tập cho chúng tôi chào nhau như thế. Bây giờ, mỗi lần gặp Kate, tôi gật đầu đáp trả, nàng mỉm cười nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ.
Nơi tôi ở hoạ hoằn lắm mới thấy tuyết rơi, nhưng đến trường có nhiều xe còn tuyết phủ trên mui. Tôi thích mang tuyết về nhà, lấy nước tuyết tan nấu pha trà. Tôi trọ trong garage của người bảo trợ, cái garage biệt lập được sửa lại thành nhà ở. Đó là thế giới riêng, có khoảng cách một hồ tắm và sân basketball, rất yên tỉnh. Buổi sáng dậy sớm, tôi đi bỏ báo rồi đến trường , tối về đi giao Pizza ( Pizza Delivery ).
Một buổi sáng không kịp lấy tuyết, tan học tôi xách cái xô ( Bucket ) hăm hở đến chiếc Lincoln Navigator, bỗng giật mình. Kate trong xe mở cửa bước xuống. Cô nàng vồn vã.

– Hey ! You’re Dien, aren’t you ?
– Yes, I am. How are you ! Kate ?
Học kỳ đầu, Kate học chung lớp Math 251, nay tôi mới có dịp nói chuyện, sau vài phút trao đổi, Kate cho biết xe không nổ máy. Nhìn khuôn mặt lo âu của nàng, tôi nói không sao, tôi có thể giúp Kate. Khi biết nguyên nhân, tôi đề nghị Kate thay distributor. Tôi chở Kate đến Auto Part, luôn tiện ghé nhà lấy dụng cụ, trở lại trường trời sụp tối, mùa Đông gió lạnh, qua ánh sáng ngọn đèn trong bãi đậu xe, tôi thay distributor.
Kate rối rít cám ơn, nàng lên xe, lồng ngực tôi muốn vỡ tung vì lo lắng, tôi nín thở chờ kết quả, những phút giây im lặng kéo dài, hồi hộp, tôi nghe tiếng lách cách của chùm chìa khóa, một tiếng cạch rồi máy xe nổ ình ình, tôi quên cả đêm lạnh, Kate hạ kiếng, cô nàng chồm qua cửa, vẫy tay chào, cám ơn rồi lao xe vào bóng đêm.
Hôm sau ra khỏi lớp tôi gặp Kate đến chào và xin lỗi tối qua phải đi gấp vì đường xa và trời tối, Kate đem theo xô tuyết, cô nàng chỉ chỗ đậu xe và dặn tôi đến lấy.

Sau những ngày nghỉ Merry Christmas và New Year, đến lớp tôi cảm thấy lạc lõng hơn. Do chỉ mình tôi là người Việt Nam, sự cách biệt giữa hai thế hệ, hoặc ngôn ngữ. Tôi tự hỏi và tự trả lời, có lẽ do cả ba. Buổi học đầu năm thầy giáo không đến, tôi ký tên vào tờ giấy trước cữa lớp rồi ra về, trời nắng nhưng rất lạnh, chưa biết đi đâu, dọc hai bên hành lang hoa Tường Vi nhiều màu sắc, đập vào mắt là những đoá hoa vàng rực rỡ, tôi bỗng nhớ tết, biết tết sắp đến. Sau một thoáng tần ngần, tôi vào Cafeteria Restaurant uống cà-phê, còn bốn giờ nữa tôi có lớp buổi chiều, đi lang thang dưới những hàng cây gầy guộc, trụi lá, tôi vào thư viện để trốn lạnh và coi lại bài vở.
Tâm trí của tôi không tập trung, những kỹ niệm choán chỗ, ký ức năm học lớp nhì ập đến, cũng những ngày cận tết, cả lớp đang thi Đệ nhất lục cá nguyệt môn tập vẽ, đề tài tự do, thầy Thi mãi mê chuyện trò với cô giáo Mơ dạy lớp ba. Cả lớp im lặng, chuẩn bị nộp bài, Loan Châu – Cô bạn ngồi bên cạnh – đang chấm mực, nắn nót viết tên lên trang giấy vẽ bình hoa. Tôi nghe có một âm thanh gì, không rõ rệt, một con chuột từ mái nhà rơi ngay vào đầu tóc mới uốn của Loan Châu, cô nàng khóc thét lên, ôm choàng, dúi đầu vào ngực tôi.
– Diên, Diên, con chuột, con chuột, bắt nó.
Con chuột không thoát được, chân vướng vào những sợi tóc quăn, cứ vùng vẫy, tôi chụp cái đuôi, con chuột quay đầu lại, tôi buông tay, nó chun vào chiếc áo len nhưng không được, con chuột treo tòn ten trước ngực nàng, sợ nó cắn, tôi chưa biết phải làm gì thì Đắc ở bàn sau, nắm đuôi chuột kéo ra, xách tòn teng làm cả lớp huyên náo. Trên mái nhà con rắn bắt hụt mồi, cứ lo le cái lưỡi trườn đi lặng lẽ như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Tai hoạ của Loan Châu không phải con chuột, trong lúc hoảng hốt, Châu làm bình mực đỗ loang lên trang giấy vẽ, giờ nộp bài sắp đến, cô nàng chỉ biết khóc, khóc vì không có bài nộp, vừa khóc vừa thì thào.
– Diên, làm sao đây, giúp Châu được không ?
– Ừ, giấy đâu tui vẽ cho.
Chưa biết vẽ gì, tôi đão mắt tìm kiếm, bình trà và tách nước trên bàn thầy giáo ập vào mắt, tôi chụp ngay đề tài, chỉ vài phút đã vẽ xong, thấy còn giờ, tôi vẽ thêm cánh cửa sổ, nó thành ra một bức tranh rất lạ. Không ngờ đó là bức tranh cao điểm nhất lớp.
Hình ảnh con chuột treo lủng lẳng trước ngực Châu cứ ám ảnh tôi, có lẽ suốt đời. Tôi cười vui với kỉ niệm mỗi khi nhớ đến, bây giờ chẳng biết Châu ra sao. Hết năm học lớp nhì, tôi trở lại Huế, thầy cô, bạn hữu và mái trường Ái Tử nhạt nhoà, tan loãng vào niềm vui tuổi thơ. Tôi thênh thang trên những nẻo đời, cho đến một hôm, trong thương xá TAX, bất ngờ có người reo lớn.
– Diên, trời ơi ! Diên.
Tôi trố mắt nhìn người gọi tên mình, đó là một cô gái ăn mặc sang trọng, đứng bên anh chàng Mỹ cao lớn. Quá đỗi ngạc nhiên, tôi chưa biết phải cư xử thế nào với người lạ. Cô gái hỏi dồn.

– Biết ai không ? Loan đây.
– Ô ! Loan Châu, nhìn chị không ra,
– Mười ba năm rồi, nghe Diên học hàng hải, sao đi lính ?
– Động viên, còn Châu ?
– Loan làm thư ký, hắn là ông chủ của Loan đó. John, this is Mr. Phan – my friend – And this is my husband – John Stern.
Chuyện xẩy ra đột ngột và quá bất ngờ, tôi ú ớ mấy câu anh văn xã giao, lấy cớ đến giờ làm việc để chào từ giã. Nào ngờ, đó là những bước nổi trôi trong chiến tranh, giữa mịt mù cuộc sống, gần như không có tương lai. Cho đến hôm nay, ngồi trong thư viện của một trường đại học Mỹ, tôi thấy đời tôi là những tình cờ đưa đẩy, và tôi biết tôi đang có một cơ hội để làm lại cuộc đời.

Thứ Sáu, ngày tôi không có lớp, một buổi sáng đang làm sạch hồ tắm ( Brush Swimming Pool Wall ) tôi nghe có tiếng thắng xe ở sân Basketball, chuyện bất thường, tôi sửng sốt đến độ hoảng hốt, Kate đến quá bất ngờ, cô nàng chào hỏi, khi đến gần Kate nói.
– Xin lỗi, vì không biết số điện thoại Kate có làm phiền anh không ?
– Rất hân hạnh được Kate đến nhà, tôi đang làm sạch hồ tắm để mừng năm mới.
Tôi mời Kate vào nhà, nàng chỉ xô tuyết để ở xe, tôi xách vào.
– Chúng ta uống trà, Kate bận gì không?
– Được uống trà lúc này còn gì thú hơn, trà nấu bằng nước tuyết?
Kate lấy trong xách tay trao cho tôi tấm thiệp Merry Christmas có thêm hàng chữ “Chuc mung nam moi“ viết tay bằng mực xanh. Tôi cám ơn và xin lỗi vì không có thiệp chúc Tết cho nàng.
Kate nâng tách trà hai tay áp sát ngực, hơi nóng bốc lên như sương khói, nàng hít thật sâu, rất nhẹ, từ từ hớp từng ngụm trà. Ngừng lại một lát, Kate nói.
– Nhớ bữa hôm nhìn kính chiếu hậu, thấy anh xách cái xô đi lấy tuyết.
– Xe của Kate bao giờ cũng là xe có nhiều tuyết nhất.
– Nhà em ở Big Bear Lake, ba mùa có tuyết. Nhưng để yên, anh kể chuyện ở Việt nam cho em nghe đi.
Tôi chỉ biết trầm ngâm, im lặng. Chưa bao giờ tôi nghĩ có người hỏi mình như vậy, bắt đầu như thế nào. Tôi cố tìm một câu chuyện thì Kate tiếp.
– Chẳng hạn như điều gì làm cho anh hãnh diện nhất, tủi nhục nhất, hạnh phúc nhất và đau khổ nhất ?
– Trên thế giới chỉ có người Việt Nam đánh thắng quân Mông Cổ, đồng hoá hai dân tộc, Chiêm Thành và Thuỷ Chân Lạp. Tủi nhục nhất là hoạ cộng sản đang dìm dân tộc xuống tận cùng của khiếp nhược, ươn hèn và nghèo đói. Hạnh phúc nhất là khi anh đến được bến bờ tự do. Đau khổ nhất là khi anh ra khỏi tù.
– Tại sao ra tù là điều đau khổ nhất? Anh tiếp đi.
Tôi như đứa học trò trả bài, nói xong lại nghẹn những uất hận, không thể nói gì được nữa. Kate trầm ngâm như bị lây cảm xúc đột ngột của tôi. Nàng nói.
– Vậy thì để lần nào, khi thuận tiện anh kể tiếp, giờ chúng ta kiếm gì ăn, dạ dày em trống không rồi.
– Pizza, anh có sẵn, em thích loại nào ?
Tôi mở ngăn đá tủ lạnh, lấy ra một chồng Pizzas. Đó là những cái Pizzas thỉnh thoảng tôi được đem về từ những đêm có người đặt mua nhưng không đến nhận. Kate lắc đầu.
– Sao không là thức ăn Việt Nam, em thích ăn thức ăn Việt Nam hơn.
Cũng may, tôi ướp sẵn con cá rô từ sáng sớm, tủ lạnh còn bó rau muống, xà-lách và một ít cà chua. Làm gì cũng được, nhưng nấu ăn thì tôi quá vụng, trong tình huống này đành liều mạng, tôi nói.
– Chúng ta sẽ ăn cơm với cá rô chiên và canh rau muống.
– Hai món ăn tôi có thể nấu thành thạo từ khi đến Mỹ. Lục ngăn đá, tôi lấy bao tôm khô, bao tôm mang từ Việt Nam qua gần như còn nguyên, đã hơn một năm, tôi chỉ nấu canh mấy lần. Vào bếp, Kate lật cái thau nhôm thấy cá rô ướp gia vị, nàng lấy chảo đổ dầu vào chiên. Tôi ra ngoài dùng búa đập nát những con tôm khô, trở vào nghe tiếng dầu sôi nổ lách tách, Kate đang lau những vết dầu trên mặt, trên tay nàng. Tôi lấy nắp đậy chảo dầu lại.
– Làm sao đây Diên, Tóc và cả áo quần em đều dính dầu chiên cá, em tắm được không?
– Tuỳ em.
Tôi định rửa rau muống, từ phòng tắm, Kate hé cửa, thò đầu ra nói.
– Diên, giúp em giặt áo quần, càng nhanh càng tốt.
Đợi cho Kate khép cửa, tôi đem áo quần ra sân, với cái thau nhôm, tôi giặt bằng tay, vài phút đã giặt xong, tôi vắt thật khô bỏ vào máy sấy. Vào nhà vừa tháo dây bó rau, tôi nghe Kate gọi, nhìn lại cửa phòng tắm hé mở, Kate thò đầu ra ngoài, khuôn mặt và mái tóc đẫm nước.
– Diên, khăn tắm anh để đâu ?
Không trả lời, tôi chọn hai khăn tắm mới đem đến, Kate nhìn tôi, trong cái bẽn lẽn như có dấu nụ cười, nàng lấy khăn vội vàng đến nỗi quên khép cữa phòng tắm. Tôi đứng ngẩn ngơ, bó rau nằm yên trước mặt, mùi cá chiên cháy khét làm cho tôi tỉnh lại, tắt bếp điện, khuôn mặt Kate hiện rõ, tôi cũng đã từng tìm hiểu văn hoá Mỹ, nhưng tôi không ngờ người Mỹ tự nhiên đến kinh ngac. Sự kinh ngạc làm cho tôi hoang mang, lo sợ.
Từ phòng tắm đi ra bếp, Kate run run đến đứng bên tôi.
– Có lạnh không Diên ?
– Lạnh, tôi bận ba lớp áo vẫn lạnh.
– Nhìn Kate giống như cô gái Chăm đẹp nhất trần gian. Với hai khăn tắm, nàng biến thành xà rông và áo khoác. Người con gái sau khi tắm có một vẻ đẹp lạ lùng, vừa huyền bí, vừa gợi cảm, vừa hấp dẫn, thứ hấp dẫn ví như sức hút nam châm với kim loại. Tôi định lấy áo quần vào cho Kate, nhưng nghe âm thanh chiếc máy sấy vẫn quay nên lại thôi. Cuộc chiến mãnh liệt giữa lương tâm, lý trí và dục cảm nay trở thành sự dằng co của ham muốn và sợ hãi. Nỗi sợ của một người mới đến Mỹ hơn một năm.
Kate và tôi đều im lặng, nồi cơm chín bốc thơm, cá chiên cháy và bó rau muống chưa rửa. Gió lạnh lùa vào. Kate kéo cánh cửa đóng kín, hương thơm da thịt con gái mới tắm thanh khiết, mùi thơm xua hết mọi thứ đoạ đày ở chốn trần gian, xua luôn nỗi sợ hãi. Tôi nắm bàn tay Kate, mềm mại, ấm áp, chiếc khăn vô tình rơi xuống đất.

Tỉnh dậy, tôi bàng hoàng trong trạng thái của một giấc mơ, cảm giác về thời gian và nơi chốn không còn nữa, nhìn chung quanh vắng vẻ, cái vắng vẻ đặc quánh bao trùm căn phòng, tôi không biết thực hay mộng, khi nhìn ánh sáng ngọn đèn phòng khách chiếu hình tượng nữ thần Venus De Milo lên vách, tôi nhận ra đêm. Như từ cõi tiên lạc xuống trần, sáu giờ chiều, mùa Đông đêm tối như mực, tôi đi tìm Kate, không thấy nàng, có tiếng gió thổi đẩy thau nhôm cọ lên nền xi-măng, áo quần của Kate không còn trong máy sấy, sân Basketball vắng tanh, tôi nuốt nước bọt đi vào nhà, bình trà lạnh ngắt đang đặt dằn lên trang giấy :
Diên,
Kate về, thấy anh ngủ ngon nên em không đánh thức. Thứ Sáu đến là Tết Việt nam, trùng ngày nghỉ của anh, lên em chào năm mới, chắc mẹ em vui lắm, vì nhà chỉ có mẹ và em thôi. Có gì thứ Tư này cho em biết.
Kate

Tôi suy nghĩ, không biết phải cư xử thế nào, toàn chuyện bất ngờ. Những bất ngờ thành định mệnh, hay định mệnh bắt đầu bằng những tình cờ. Tôi phiêu lưu trong ý nghĩ tìm biết về một xã hội văn minh, nên mong cho mau đến ngày thứ Tư.
Kate đến sớm, trao cho tôi mảnh giấy hướng dẩn đường đi đến Big Bear Lake, bên dưới ghi chú : Anh có thể vào tiệm Pearl Flowers, sẽ có người dẩn về nhà. Như vậy cho tiện.
Chuyện đã rồi, tờ giấy dẫn đường như mệnh lệnh. Đón Tết mình phải có món quà, tôi ghé vào tiệm mua bó hoa hồng màu xanh, không biết hoa màu xanh mang ý nghĩa gì, tôi mua vì thấy lạ.
Đến Big Bear Lake, tiệm Pearl Flowers còn đóng cửa, nhìn đồng hồ mới 9:30 sáng, trời lạnh, tôi định trở lại xe ngồi đợi nhưng có người mở cửa.
– Xin lỗi, Ông là Ông Phan ?
– Vâng, tôi là Phan, bạn học của Kate.
Cô gái Mễ tây cơ nhìn tôi chăm chú, cười vui nhưng vẫn lộ ra vẻ ngỡ ngàng, cô ấy tiếp:
– Tôi tên Elena, sẵn sàng đưa Ông về nhà Kate.
Tôi ngồi bên Elena, xe vừa trở đầu đã có tiếng còi của một chiếc xe mới đến, người đàn bà ra hiệu cho Elena ngừng lại.
– Bà chủ của Elena đó, bà ấy cũng người ViệtNam.
Tôi ngồi yên trong xe, nhìn theo Elena đi về phía bà chủ đang ôm một vài vật dụng trên tay, Elena nói:
– Ông Phan mới đến, tôi đưa ông ấy về nhà.
Bà chủ trao những vật dụng cho Elena, từ từ đi về phía tôi. Bước xuống xe, tôi không thể ngờ tận Big Bear này lại có người Việt Nam. Bàng hoàng với cảm giác vui buồn lẫn lộn, tôi chăm chú nhìn bà chủ và như môt phản ứng tự nhiên.
– Chào Bà, Chúc mừng năm mới!
Bà chủ chẳng nói năng, chăm chú nhìn tôi một lúc, bằng ánh mắt kinh ngạc, bàng hoàng. Bà ấy nói như chỉ để cho bà nghe:
– Có phải anh Diên không?
– Chị Loan Châu!
Tôi reo lên vì mừng, vì ngạc nhiên gặp lại người bạn học thời thơ ấu. Loan Châu hơn tôi một tuổi, ở tuổi bốn ba mà trông như cô gái ba mươi. Tôi nói tiếp:
– Trông chị trẻ quá, lạ quá, tôi không nhận ra cho đến khi nghe chị nói.
Có thể Loan Châu là mẹ của Kate, tôi nghĩ thầm, cố tìm một câu hỏi gì về Kate để biết liên hệ giữa hai người, chưa nghĩ ra thì Loan Châu nó:.
– Năm mới chúc Anh Diên mọi sự tốt lành, gặp nhiều may mắn, an vui và hạnh phúc trên đất Mỹ. Tiện đây mời Diên ở lại, Loan đem lễ vật cúng đầu năm. Năm nay Anh Diên xông đất chắc công việc hanh thông, tốt đẹp.
Tôi nhìn Elena đặt lễ vật từng món đúng vị trí lên bàn thờ, cô gái Mễ đã bị Việt hoá đốt 4 cây nhang rồi cung kính trao cho Loan Châu. Với dáng điệu trang nghiêm, thành khẩn, Loan Châu khấn nguyện những gì tôi không nghe được.
Trên đường lái xe về nhà, Loan Châu nói.
– Loan cứ nghĩ bạn học của Kate là ông Phan nào còn nhỏ, ai ngờ Phan Diên. Cái ngày gặp Diên tại thương xá TAX ở Sài gòn, là ngày em mua sắm một ít vật dụng chuẩn bị đi Mỹ, lúc đó Kate 2 tuổi. Hai mươi năm như chiêm bao, ngày tháng ở Mỹ qua nhanh lắm, cứ lu bu công việc Tết đến không hay, năm nào mấy đứa bạn bên Việt nam gọi qua nhắc Loan mới nhớ.
– Loan Châu được mấy cháu? Tôi hỏi.
– Qua đây mấy năm, đang tính sinh thêm một cháu, thì anh John tử nạn trong một chuyến leo núi.
– Xin lỗi chị, vô tình tôi đã nhắc lại chuyện buồn.
– Còn Diên thì sao ?
– Chuyện của tôi dài lắm, không thể nói bây giờ, nhất là trong ba ngày Tết, chúng ta nói chuyện gì cho vui đi.
– Ở nhà Loan cúng trước khi ra tiệm, nay còn chiếc yacht “Little Pearl” Nhưng phải về nhà, chắc Kate đang đợi.
Căn nhà hướng ra mặt hồ mái còn vướng tuyết, Kate mở cửa nói.
– Happy New Year !
Khi nói chúc mừng năm mới, tôi sực nhớ bó hoa hồng màu xanh còn để trong xe, vậy mà hay, nếu mang theo chắc khó xử trong trường hợp này. Kate hỏi.
– Ông Phan có lạnh không ?
Tôi chưa kịp trả lời, Loan Châu liền nói:
– Ông Phan là bạn học của mẹ thời tiểu học, không ngờ nay là bạn học của con.
Vừa nói Loan Châu vừa pha trà, đem mứt gừng, hạt dưa và bánh chưng đến, tôi ngồi nhìn Kate, khuôn mặt biến sắc, trang nghiêm mất hết vẻ hồn nhiên thường ngày. Tôi nói cho tan đi sự im lặng,
– Lên đây tuyết phủ khắp nơi nhưng không lạnh như ở Redland.
– Vậy chúng ta đi trượt tuyết, anh thích không ?
– Để dịp khác, giờ Kate ra coi tiệm giúp Mẹ. Mẹ mời Ông Phan xuống cúng chiếc tàu, luôn tiện để xuất hành đầu năm. Ông Phan là dân hàng hải đó.
Nhìn qua góc phòng khách, một bàn thờ có di ảnh của John Stern, tôi đến thắp nén nhang. Loan Châu dục Kate ra coi tiệm, rồi quay qua tôi.
– Anh Diên, mời anh xuống bến cúng chiếc tàu với Loan.
Không biết phải nói gì, Kate nhìn tôi lặng lẽ ra đi. Loan Châu mang nhang đèn, bánh và trái cây đã đặt sẵn trong xách. Chiếc Catalina màu trắng được lau chùi sạch sẽ. Lên tàu mới hay đó là chiếc du thuyền nhỏ, có đủ mọi tiện nghi. Sau khi cúng xong, Loan Châu dẫn tôi vào phòng lái giới thiệu về hệ thống truyền tin, radar và một vài chi tiết khác, Loan Châu nói tất cả là do một tay John đặt mua và tự ráp lấy. Đến phòng khách tôi nhận ra ngay bức hình tôi vẽ cho Loan năm lớp nhì, bức hình được phóng lớn. Thấy tôi chăm chú nhìn bức tranh, Loan Châu giải thích.
-Thấy em trân qúi bức tranh, anh John đem lên Las Vegas phóng lớn, mỗi lần nhìn tranh, em nhớ chuyện con chuột, John cũng thích nhìn bức tranh ấy, ảnh nói không hiểu sao, nhìn nó lại nhớ bạn bè, lại gợi lên một cảm giác thiếu vắng!
– Tôi nhớ tôi đã vẽ nó trong một tình huống bức bách, xuất thần từ những hạt nước mắt. Bây giờ nhìn lại, không hiểu sao trong đầu óc tôi lúc đó có cái cửa sổ, nhờ cái cửa sổ cái bình, cái tách trà mới có tiếng nói.
– Loan chỉ cảm nhận chứ hỏi Loan tại sao trân qúi thì Loan chịu, không giải thích được.
Loan Châu tiếp tục giới thiệu cho tôi phòng khách, phòng tắm, phòng vệ sinh nhưng bỏ qua phòng ngủ. Tôi leo lên boong tàu, màu trời, màu nước, lênh đênh, nhấp nhô, tất cả đều lạ, nhưng sao tôi thấy mình rất quen, cảm giác như tôi vừa mới đi phép về.
Trở lại phòng khách, Loan Châu đang thay nước trên bàn, thấy tôi xuống, Loan Châu liền nói.
– Còn mười phút đúng Ngọ, mình xuất hành. Mấy năm trước Loan chọn hướng Đông, năm nay đổi qua Tây xem có gì khác không.
Tôi tách con tàu gần như xê dịch theo chiều ngang rồi phóng nhanh, lao đi trên mặt hồ yên tĩnh, ngồi bên tôi, Loan Châu choàng tay ngang qua vai, nhưng đột nhiên nàng rút tay lại, chỉ cho tôi một vài nơi trên tấm bản đồ:
– Thôi, tùy anh, đến đâu cũng được.
Lác đác vài con tàu di chuyển, gió nhẹ, mặt hồ chỉ gợn sóng đủ cho con tàu cho ta cái cảm giác lênh đênh. Tôi giảm tốc độ, trên bếp lò ấm nước sôi phát ra âm thanh cao vút, Loan Châu vừa pha trà vừa nói:
– Ngừng lại đi Diên, mình uống trà.
Tôi cho con tàu chạy ngược chiều gió để thả trôi tự do. Ngồi bên Loan Châu ăn mứt gừng, uống trà. Nhìn Loan Châu trầm ngâm nâng tách trà một cách trang trọng, tha thiết, tôi nhớ Kate, nàng đang nghĩ gì, bất giác tay tôi mân mê những hạt điều trong dĩa bàn trước mặt. Loan nói.
– Hay là Diên uống rượu ?
Loan Châu dẫn tôi đến quầy rượu, nhiều loại, thứ nào tôi cũng thích, Loan Châu lấy chai Hennessy Xo đưa lên hỏi tôi.
– Chai này được không Diên ?
– Nó thuộc loại đế vương. Ở Việt Nam mỗi khi có Cognac Xo, tụi tôi gọi là buổi tiệc đế vương.
Lâu ngày không uống rượu, đến ly thứ ba tôi cảm thấy nóng, bắt đầu choáng váng. Loan thì nét mặt đăm chiêu, không nói, chỉ thỉnh thoảng nâng ly cụng với tôi, cứ thế tôi uống đến ly thứ năm , Loan Châu mới lên tiếng.
– Diên mệt rồi, vô nằm ngủ đi, để Loan lái tàu về.
Tỉnh dậy, Loan Châu đang đút cho tôi những muỗng nước chanh, nghe tiếng sóng vổ mạn tàu, tôi nhớ lại chuyến đi, đồng hồ chỉ 5 giờ nhưng tôi không biết buổi sáng hay buổi chiều. Nhìn Loan tôi cảm thấy mắc cỡ, nói gượng gạo.
– Xin lỗi Loan, tôi say làm phiền Loan nhiều quá.
Nói xong, tôi gượng ngồi dậy nhưng Loan đưa tay cản lại.
– Diên cứ nằm nghỉ cho khoẻ, đừng ngại, bây giờ đã hơn 5 giờ chiều, đường có tuyết, Diên chưa lái xe về được.
Loan Châu nắm kéo vạt áo của tôi xuống cho kín bụng, lấy mền đắp phủ lên, cứ mỗi thao tác là y như vô tình, cùi chõ của nàng đánh thức tôi tỉnh hẵn, tôi phải xoay người nằm nghiêng về bên phải, co giò lại để dấu cái tật đàn ông, đã vậy, Loan Châu khi đưa ly nước chanh, cúi xuống thấp, tôi vươn người ra khỏi giường để uống, mắt tôi cách ngực nàng chỉ hơn một tấc, tay nàng vẫn vịn hờ cái ly, tôi nghe hơi thở dồn dập. Có tiếng điện thoại reo từ phòng lái, Loan Châu chạy vào nghe, tôi dọt lẹ vào phòng rửa mặt, gội luôn cả đầu tóc, nước lạnh ngắt, tôi tỉnh hẳn, đến chào Loan Châu ra về, chỉ cần chậm thêm một phút, tôi đã ngã qụi trước những tình cờ đưa đẩy. Đời sống tuy nối tiếp bởi nhiều tình cờ, nhưng tôi nhất quyết, không để cho tình cờ đưa đẩy đời sống.
Tôi lái xe đi trong đêm, ánh đèn chiếu vào tuyết trắng làm cho con đường sáng hẳn lên. Mùa Xuân đang về trên quê hương Việt Nam, nhưng ở đây mùa Đông lạnh, như chính lòng tôi đang lạnh.

Zulu

NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC (TT)

khuatdau

Người đầu tiên mà tôi cần đi tìm ngay là người mẹ của anh bạn đồng đội. Có làng, có xã rõ ràng nên tôi tìm không khó. Chỉ mất một vài giờ đi xe lửa là tới. Có lẽ không có nơi nào nghèo và buồn như ở đây. Đất không mưa bạc phếch, chỉ có cỏ dại và cây bàn chải, những con bò ốm lòi xương và những con cừu, thật là một giống cừu kỳ lạ, chúng ăn bàn chải thay cỏ.
Người đàn bà tôi gặp, nói trộm sau lưng bà, cũng ốm như những con bò và cũng buồn như những con cừu. Anh ta là con trai độc nhứt của bà, sinh ra và lớn lên ở đây, nên bộ hài cốt mà tôi mang theo cũng nhẹ tênh.
Khi thấy tôi mặc đồ bộ đội bà mừng hụt, tưởng con bà đã về. Bà hỏi:
“chú biết thằng con tôi chớ?”
“Dạ biết”
“Thế sao em nó chưa về?”.
Thật khổ tâm cho tôi khi sắp phải trao cho bà bộ hài cốt. Tôi ngần ngừ một lúc rồi đánh trống lảng.
“Nhà mình nuôi cả bò và cừu hả bác?”
“Không phải đâu, chăn cho người ta đấy”
“Bác trai đâu hả bác?”
“Ổng đạp phải mìn, cụt cả hai chân nằm trong kia!”
Đến nước này, tôi chỉ muốn chào bà, đem nắm xương của anh chôn ở đâu đó, chứ không thể trao cho bà thêm một nỗi đau nào nữa. Nhưng rồi tôi lại nghĩ, bà sẽ còn đau khổ hơn nếu cứ phải sống trong chờ đợi mỏi mòn.
Tôi nói:
“Thưa bác, biết là bác rất đau lòng, nhưng đây là một phần xương cốt của anh ấy cháu cố mang về từ Campuchia. Cháu xin trao lại cho bác!”
“Chú nói gì? Áo quần của nó hả? Mang về làm gì?”
“Dạ, không chỉ có áo quần, còn có…”
“À, biết rồi, còn có chén bát và bình toong nữa chứ gì?”
“Dạ, khó nói quá, là… của anh ấy nữa!”
“Cảm ơn chú đã đem về. Đồ đạc nó đây, còn nó đang ở đâu? chắc là nó bỏ xác bên đó rồi phải không?”
“Dạ, ảnh đây”, tôi đành phải mở ra.
Khi thấy cái hộp sọ và những chiếc xương đã vàng xỉn, bà ngơ ngác:
“Là con tui đây à? Sao mà tội nghiệp vậy hở con!”.
Bà ôm tất cả vào lòng, khóc không thành tiếng.
Ngày hôm sau chúng tôi làm lễ an táng cho anh, chính quyền có đem đến một lá cờ. Nhưng bà không chịu, cởi ngay chiếc áo đang mặc phủ lên chiếc quách. Không có kèn vĩnh biệt, chỉ có tiếng còi của một con tàu đang chạy ngang qua, vang lên thê thiết. Khi mọi người về hết, bà ôm lấy tôi, khóc.
“Giờ ta coi cháu như con. Lâu lâu nhớ ghé về thăm mẹ nghe!”
Tôi “dạ!”
Nhưng rồi tôi không giữ được lời hứa.

Bạn biết rồi đấy, tìm một người không rõ mặt mũi, không nhớ họ tên, không biết quê quán thì biết tìm đâu cho ra. Trầm còn dễ tìm vì nhờ có ngải, Mục Kiền Liên nhờ có Đức Phật, còn tôi chỉ có mỗi cái chữ hiếu cùng với nỗi ân hận đã dại dột đi theo cái gánh xiếc bậy bạ thuở nào. Nhưng tôi tin rồi sẽ có ngày gặp mẹ, tôi tin không chỉ có mỗi tôi đi tìm mà còn có bà, cũng đang trôi dạt đâu đó để tìm con. Khi hai người đau đáu đi tìm nhau thì thế nào cũng sẽ gặp được nhau, không sớm thì muộn.
Có thể một buổi sáng, một buổi trưa hay một buổi chiều, ở một nơi nào đó, có một người đàn bà cứ đi theo riết tôi, rồi đến gần xin cởi áo cho xem cái này chút, những cái nốt ruồi nhiều như đậu đen ở trên ngực của tôi ấy mà, rồi ôm choàng lấy tôi mà khóc sau khi đã đếm đủ 19 cái.
Còn nhiều thứ khác nữa mà một người mẹ có thể nhận ra đứa con của mình. Từ một cái xoáy trâu ở trước trán, từ con mắt hơi bị lé, từ cái chân vòng kiềng… và cũng từ một tiếng gọi thầm nào đó chỉ có người mẹ mới nghe ra được. Như thế, nhiều khi còn hiệu nghiệm hơn cả ngải, linh ứng hơn cả Phật, nên mẹ tìm con dễ dàng hơn con tìm mẹ.
Tìm mẹ, nhưng không thể nhịn đói mà đi tìm, tôi phải kiếm việc làm để sống. Là một cựu chiến binh, may mắn không bị thương tật, nên tôi tìm việc không khó. Cạo mủ thì thôi không cạo nữa, cái chết tàn khốc của Mộc Hương khiến tôi không thể nào làm cái việc mà mỗi nhát dao như cứa vào lòng tôi. Việc mà người ta cần và thích hợp với một anh lính vừa giải ngũ là bảo vệ. Tôi đóng bộ coi cũng ra dáng lắm và được cho đứng gác trước một ngân hàng.
Có đứng đây tôi mới biết trên đời không chỉ có những người nghèo như mẹ của bạn tôi, mà còn có rất nhiều kẻ giàu, quá nhiều kẻ chở cả bao tiền đến gửi hay rút ra từng bó bạc lớn cần phải có nhiều người hộ tống. Họ là những chủ cửa hàng, những công ty này, những nhà xuất khẩu nọ, những kẻ mới phất lên sau thời kỳ đổi mới, có nghĩa những tư sản cũ bị đánh gục thì lại có những lớp tư sản mới mọc lên. Thời nào cũng có người giàu của thời đó. Trước kia giàu vì chiến tranh, vì buôn đồ Mỹ, giờ giàu vì nhờ chức nhờ quyền, nhờ chạy mánh, nhờ trúng đất, trúng thầu.
Tôi thực ra không bảo vệ được ai, chẳng qua đứng đó để tăng thêm cái vẻ bề thế, uy lực của tòa nhà có treo biển ngân hàng vậy thôi. Dĩ nhiên không cách gì tìm được mẹ trong số những con người ấy. Mà cũng chẳng có ai trong số họ để mắt tới tôi, ngờ rằng có thể là con của họ đang đứng kia. Dòng đời cứ trôi đi, đây là khúc quanh mà của cải cứ tới lui lượn lờ như những bọt nước.
Rồi tôi cũng phải làm lại cuộc đời. Tôi yêu hay tưởng rằng yêu một người con gái khác. Nàng kém tôi hai tuổi, không đẹp nhưng khá xinh, lại là nhân viên của ngân hàng. Xét về thứ bậc trong xã hội, nàng hơn tôi nhiều bậc, nên có nhiều tiếng xì xào chê không xứng đôi. Nhưng nàng nửa đùa nửa thật, bảo: “sau chiến tranh mà kiếm được một người chồng nguyên lành là khó lắm!”.
Thế ra cái giá của tôi là còn có đủ tay chân trong khi đầy ra đấy những kẻ què cụt, hậu quả của hai cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước. Bề ngoài thì tôi không thương tật gì, nhưng bên trong tức là cái tâm hồn tôi đấy, lại có một vết thương không bao giờ lành. Nàng không biết đã đành mà chính tôi cũng không ngờ.
Đêm động phòng tôi chỉ ngồi hút thuốc và uống rượu khan. Vợ tôi trong bộ đồ ngủ thơm tho ngọt ngào là thế, nhưng khi gần nhau, tôi lạnh mình thấy nàng chỉ là một cái xác không đầu!
Xác của Sơn Mộc Hương!
Đêm sau, rồi đêm sau nữa, cố gắng lắm tôi cũng chỉ dám ve vuốt, hôn hít nàng chút đỉnh rồi thôi. Nàng thở dài: “có phải anh bị thương ở…?”. Tôi đành ậm ừ: “có lẽ!”.
Chúng tôi chia tay nhau sau nửa năm. Ngần ấy cũng đủ cho vị đắng thấm sâu vào cuộc đời của cả hai. Nàng mang tiếng là đã qua một đời chồng mà hãy còn trinh, còn tôi nặng trĩu một nỗi đau thầm kín. Tôi không còn dám gần ai, yêu ai được nữa. Tôi sống phất phơ cho qua ngày, làm đủ nghề mà chẳng ra nghề gì. Đã có lúc quá buồn, tôi muốn đi tu.

Tôi mon men đến chùa, muốn được gần các nhà sư để học cách thoát khỏi khổ đau. Nhưng dường như các vị tìm đến chuông mõ không phải để giải thoát mà để ràng buộc thêm. Chùa, chỉ mong chùa to và đẹp. Bổn đạo chỉ cần đông và giàu. Các vị cũng ngấm ngầm tranh nhau chức nọ chức kia không khác gì các quan ở ngoài đời. Đêm cứ ngủ kỹ, có băng cát xét thay các vị tụng kinh gõ mõ. Trong mơ các vị không thấy Niết Bàn mà chỉ thấy hòm công đức mở ra đầy ắp tiền.
Nhưng mẹ tôi, một người tuyệt vọng vì không tìm thấy con, có thể tìm đến Đức Phật để được an ủi. Nghĩ thế nên tôi tìm đến các tịnh xá của ni sư. Biết đâu trong số các bà vãi mặc áo già lam kia có mẹ của tôi. Chùa của sư nữ thanh tịnh và nghèo hơn chùa của các sư ông. Có vẻ họ đã tìm được, hay gần như tìm được sự giải thoát cho riêng mình, nên họ vui vẻ bận rộn với những bữa ăn từ thiện cho những người nghèo đói không nơi nương tựa.
Có một người đàn bà tôi tưởng không bao giờ gặp nữa mà lại gặp. Đó là người mà trong gần 10 năm tôi phải gọi bằng “má”, người tưởng tượng cái bụng bầu của mình là một cái bình đựng đứa bé đã biết đi biết chạy. Thực tình mà nói thì bà không hề ác với tôi. Bà có la mắng đấy, đôi lúc đánh đập nữa đấy, nhưng bà không như ông chồng tàn bạo của bà. Tuy nhiên, cái cảnh bà nhào vô xé hết áo quần của chị Mị Lan, vẫn khiến cho tôi kinh hãi mỗi khi nhớ tới.
“Ê, Nhi! ai cho mày vào đây?”
“Dạ thưa, con vào thăm má!
“Bậy! má con gì nữa! Tìm mẹ phải không?”
“Dạ!”
“Không có đâu. Chỉ có những người tội lỗi như tao chứ mẹ mày tội gì mà vào đây!”
“Dạ, thử tìm đại, may ra!”
“Lớn dữ a! vợ con gì chưa?”
“Dạ chưa”
“Có gặp bả, cho tao xin lỗi, ngay cả mày nữa. Thôi đi đi!”
“Dạ, bà ở lại mạnh giỏi”
Thế đấy, cuộc đời mà tôi biết lại có những chuyện ngược đời như vậy. Tôi tin là đã bay đi những cơn ghen cuồng nộ trong lòng bà.
Tôi cũng có xuống Cà Mâu, ra tận chỗ giống như cái lưỡi cày trên bản đồ của tổ quốc. Chỉ thấy ba mặt là biển lao xao sóng vỗ.
Đây là nơi cuối cùng của đất, còn ngoài kia, là nơi cuối trời! Như thế, dẫu có đi ra biển và đi hết biển cũng không tìm được mẹ, thì thôi quay về tìm lại nơi bà đã sinh ra tôi.
Nhớ có lần chị Mị Lan bảo “tao nhớ cái chỗ mày ở có nhiều tháp lắm, lại có cốm nữa, mày đã cho tao một miếng cốm rất ngon”. Thế là tôi đi ra miền trung, nơi có những ngọn tháp không biết chờ ai mà cứ đứng mãi trong nắng mưa đến cả ngàn năm.(còn tiếp)

Khuất Đẩu