XUÂN TỐNG BIỆT.

nguyentancu

Tống biệt em hề tống biệt ta
Qua sông con sáo đậu đuôi xuồng
Qua sông con nước về châu thổ
Hiu hắt mưa buồn ta khóc ta

Tống biệt
Khà
Ta uống cạn
Có hề chi một khúc ca hành
Mười năm sương phủ ha đời lạnh
Một mình ta tiễn một mình ta

Khoát áo ta cười vang bến khuya
Cớ sao nước mắt vẫn tuôn tràn
Khum tay nhúm lửa hơ tình lạnh
Từ người – như một nhát dao đâm

Tống biệt em – hề- tống biệt biệt câm
Tê môi cóng lưỡi – ruột gan bầm
Thảm thê tay nắm – rời tay nắm
Vĩnh biệt thôi rồi … em lá răm

Tống biệt em – hề – tống biệt năm
Lên non – hề – lót ổ ta nằm
Kỉ niêm bây giờ như … hố thẳm
Một trời thương nhớ – biệt hành xuân .

NGUYỄN TẤN CỨ

Câu đêm ở vịnh biển Botany

phamnga

au bottany park

1.
Đang mùa hè ở nước Úc, ngày dài đến 15 tiếng. Năm giờ chiều, chiếc tàu câu của Phương – nhà tổ chức, chủ xị bao biện mọi thứ cho chuyến câu đêm nay – được thà xuống nước xong xuôi ở cảng nước sâu Botany Port, mặt trời vẫn còn chói chang ở phía Tây, nắng rực ngỡ như xế trưa ở Sài Gòn.
Dù bờ biển phía bắc vịnh Botany có phi trường quốc tế Sydney luôn rộn rịp, phi cơ lên xuống liên tục, vịnh biển xanh này vẫn có vẻ gì đó vắng lặng, hoang liêu.
Tàu câu sơn hai màu đen/trắng, kiểu dáng thật đẹp, số đăng ký “AHW663N”, dài 6.5 m, máy Honda 225 phân khối. Phương nói đã mua 60,000 AUD, tức gần 1 tỷ VND. Và hôm nay đi biển 5 người là không nhẳm nhò gì cả vì tàu chứa thong thả 7 người, có khi người lớn cùng con nít lên đến 10 người cũng all right. Có điều là rất hiếm phụ nữ, bà xả Phương chẳng hạn, theo nổi thú vui đi tàu câu trên biển này vì không chịu nổi sóng gió. Lúc mới lên xe kéo tàu đi, Cường – bạn câu rất thân của chủ tàu – đã chia cho tôi và anh Thành ‘sui gia’ uống ngay 1/2 viên chóng ói.
Mở đầu buổi câu, Phương cho tàu chạy băng qua vịnh, đến một bãi rất cạn có nhiều rong để mò bắt sò lông. Chỗ nước sâu ở đây cũng chỉ đến thắt lưng. Bàn chân mình chạm gì đó cứng cứng vùi dưới cát đáy biển là ‘nó’ đó, Cường nói lớn. Vừa dứt lời, cậu ta đứng thẳng lên thì trên hai bàn tay đã có hai chú sò đen thui.Và do sò ăn rong biển nên nếu chịu khó hụp người xuống, ngồi mò vào các bộ rễ rong là bắt được, nói như Cường là cả family sò con, sò cha. Chừng nửa tiếng, vừa tiếu lâm về sò lông, lông sò, lông phía trên sò… vừa lơ đãng mò mẫm, bốn người chúng tôi đã làm đầy nhóc hai thùng nhựa xách theo, với khoảng 15-18kg sò mỗi thùng.
Trở lại tàu thì thấy Phương đã nhanh chóng ráp, cắm xong hết bốn cần câu dọc theo hai mạn tàu nhưng vẻ mặt hơi bí xị. Tàu đang mắc cạn vì hồi nãy vào quá gần bờ. Vậy là hai ông già được ngồi lại trên tàu, ba thanh niên nhảy ùm xuống nước… Một đỗi sau, tàu đã được được đẩy lùi và quay đầu, Phương nổ máy, tàu chạy tiếp ra cửa biển.

2.
Tàu câu chồm mũi tới như cắt sóng, lướt nhanh trên mặt biển. Chỉ cho tôi thấy mấy cái phao màu cam đang nhảy chập chờn trong làn sóng trắng xóa, cuồn cuộn phía sau đuôi tàu, Cường nói đang dùng mồi giả, dạng con mực nhỏ bằng ngón tay, làm bằng nhựa dẽo và ở chỗ biển sâu này hy vọng bắt được cá ngừ hay king fish, một loại tương tự cá bốp.
Phương cho tàu chậm lại rồi giao cho Cường lái. Anh cười hể hả nói, có sò làm mồi thì làm sương sương 1 -2 chai thôi, khi nào có cá, mình nhậu tiếp cá nướng. Rõ ràng anh chủ tàu trung niên vui tính này không chỉ giỏi giắn, nhanh nhẹn trong các việc điều khiển tàu hay soạn, ráp cần câu. Ở mặt bàn bếp gắn vào đuôi tàu, Phương khéo léo tách võ một mớ sò lông, mời mọi người ăn sống với vài giọt chanh hay mù tạt wasabi, tương tự như ăn hàu. Thịt sò sống không hề ngậm một chút rong hay cát nào, vị hơi mặn nhưng không mềm nhẽo như hàu mà ngon, dòn cực kỳ.
Thân tâm đều vui vẻ, mãn nguyện, tôi nhìn quanh sàn tàu và bên trong “nội thất” tàu AHW663N. Bên cạnh những thứ mà Phương gọi là hộc chứa hay thùng cất đồ nghề, như dụng cụ câu cá, gồm cần câu, dây cước, phao, lưỡi câu; hay dụng cụ sửa chữa nhỏ tại chỗ cho máy tàu, máy cần câu…gồm búa, tua-vít, mỏ-lết, máy khoan mini, cờ-lê đủ cỡ…, còn có những thùng, hộp nhựa chứa đồ chơi – chữ dùng của Phương – như: bếp than, túi than đá, chén bát ly giấy, soong, chão, dao, thớt… Riêng trong thùng trữ nước đá là rau sống, nem chua không-hàn-the và lổn ngổn những chai Victoria Bitter. Toàn thể thủy thủ đoàn – gồm cả hai ông già vô tích sự – đều thích VB, nhãn bia Úc chai lùn này. Đặc biệt, từ lúc sang Úc đến giờ đã hai tháng, tôi từng nhiều lần uống VB, nhưng bữa nay mới thấy vị bia này ngon lạ lùng khi nhậu với sò sống tái chanh.
Tàu chạy qua khỏi vịnh và chạy dọc bờ biển phía nam cảng hàng hóa Botany. Bên mạn phải tàu là khơi thẳm của đại dương Úc châu. Mặt trời xuống thấp hẳn, đường chân trời chói lòa những tia nắng cuối cùng của ngày. Tuyệt vời cảnh mặt trời lặn!
Sốt ruột vì tàu chạy lên xuống đã hai vòng mà cần VIP lưỡi lớn chỉ dính được một trự cá ngừ nhỏ, Phương quyết định cho tàu trở vào vịnh, bỏ neo ở một chỗ nước cạn cạn gần bờ. Máy định vị ở ca-bin cho thấy 2.8m sâu và lăn tăn có cá. Phương gật gù nói để anh thay lưỡi câu nhỏ hơn, gắn thêm cục chì là bắt cá cam, cá nục. Và đốt than đi, Cường ơi! Cứ nướng sò trước!

3.
Đã tám giờ đêm. Tôi tình nguyện quạt cái lò mini bằng một miếng bìa cứng cho than đá mau hồng. Cường bước ra mạn tàu, vừa đúng lúc để giật lên mở hàng một con cá cam khoảng 0.5 kg. Cứ thế, ba cần câu dính cá lai rai. Vẫn bọn cá cam và yellowtail fish tức cá nục gai hay cá nục đuôi vàng. Con nào rỉa mồi, giật lên thấy quá nhỏ thì thả xuống nước trở lại. Riêng về tailer fish, tức cá thợ-may, hàm răng bén như cá piranha, cắn đứt dây cước, mất mồi, mất lưỡi rồi vuột mất 2-3 bận nhưng rốt cuộc cũng dính hai trự cỡ 200 – 250gr. Vô tích sự như tôi cũng ra cầm cần câu. Rốt cuộc ngư ông dỏm cũng giật lên được một con cá cam nhỏ.
Vừa lật con cá cam dính mở hàng trên vĩ lò thì mớ sò lông cũng vừa chín tới. Lại khui một loạt năm chai VB hổ trợ cho việc tách võ sò và trét mỡ hành. Vô! Chủ tàu còn cười lớn, enjoy đi, mấy chú ơi!
Tuy nhiên, đêm nhanh chóng lạnh hơn và sóng lớn lắc tàu quá mạnh, nhậu cũng khó mà câu cũng khó. Phương lại quyết định nhổ neo, đưa tàu vào núp sâu trong vịnh cho ít sóng hơn. Tàu bỏ neo cạnh một bãi đá “ba chân”, tức các khối bê-tông ngăn sóng xâm thực bờ biển. Chủ tàu AHW663N vừa hơi ẩu vì từ lâu đã có qui định cấm tàu đậu gần bãi đá này. Nay tàu có thể bị buộc phải đi chỗ khác bởi chiếc tàu tuần của bảo vệ cảng đang chạy rề rề phía xa kia. May thay, chiếc tàu tuẩn chạy luôn về hướng khác!
Vì số cá giật lên, đem rộng trong cái hầm nhỏ chứa một ít nước biển, nằm dưới sàn tàu đã khá nhiều nên Phương dẹp bớt cần câu, chỉ chừa lại một cần thôi. Cuộc nhậu tiếp tục. Cá biển mới câu lên, đem nướng đã thơm lừng, giẻ ra chấm nước mắm ớt thì thịt loại cá nào cũng ngon, béo, thơm không tả nổi. Cuộc đời ơi, enjoy nhé!
Gió biển lồng lộng bốn bề. Anh Thành, hơi co ro trong chiếc áo lạnh mới mặc thêm, nhìn ra khơi xa, ngâm nga:
Chiều về trên biển Sydney,
Sò lông nướng với Vi Bi tuyệt vời.
Nhấp nhô sóng vỗ liên hồi,
Tha phương rồi cũng một đời phiêu linh
(*)

Cả tàu vỗ tay rần rần, hô lão thi sĩ phải đọc lại bài thơ lần nữa. Vô!

Mười một giờ đêm, gió rất lạnh, tàu nhổ neo, quay đầu về bến. Phương rất nghề trong việc lái tàu lên an vị trên trailer (cái xe mooc 4 bánh cõng chiếc tàu) gắn phía sau xe hơi và lái xe kéo tàu về nhà.
Tôi hiểu đối với Phương, anh chủ tàu chịu chơi, đêm câu này có thể xem là không thành công vì không trúng cá lớn, nhưng rõ ràng vui là chính, rõ ràng Phương đã hào sãng và đầy kinh nghiệm để tổ chức quá tốt cho mọi người, đặc biệt là hai ông chú mới quen, được enjoy một đêm vui chơi phóng dật, mãn nhãn, mãn ý với biển trời, sóng gió, cá tươi, bia ngon và cả thơ tức cảnh sinh tình đầy thú vị nữa.

PHAM NGA
Sydney, tháng 1/2016

(*) Nguyên văn bài thơ:
Chiều về trên biển Sydney,
Sò lông nướng với VB tuyệt vời
Nhấp nhô sóng vỗ liên hồi
Tha phương rồi cũng một đời phiêu linh
Cầm chai nốc cạn nghĩa tình
Trời cao,biển rộng chỉ mình với Ta
Mặt trời khuất núi mờ xa
Bấy nhiêu thôi cũng gọi là vấn vương……….

Nguyễn Ngọc Thành

RỒNG RẮN LÊN MÂY.

nguyenhuynh

Hồi tôi còn là đứa trẻ khóc nhè, mẹ tôi thường dọa: “ Ông bị cọ bắt bỏ bị!”. Nhưng đối với tôi không ăn thua gì. Lão ăn mày thi thoảng dừng lại trước cửa nhà tôi, khi lon gạo lúc năm hào, trông ông chẳng có gì đáng sợ cả. Nhưng nếu mẹ tôi khẽ nhìn ra doi cát: “ Xì!…Bà ma lai kia! ”, tôi im thin thít ngay.
Doi cát nằm ở cuối làng tôi, do đầm Cù Mông bọc quanh bồi đắp nên. Ở đó lồng lộng gió và cát. Ven mép nước mọc độc một loại cỏ lá cứng như gai, tua tủa từng chùm. Tháng sáu, vào những buổi sáng nước cường, sóng liếm vào chân cỏ làm chúng tơi ra trơ cả gốc, lại gặp ngọn gió nồm vừa chướng nhổ lên thổi lăn lông lốc qua doi cát, đến tận mép nước bên kia. Tại đây, đến xế chiều trời trở gió, ngọn nam Lào đẩy chúng ngược hành trình trở lại. Người ta gọi chúng là hoa cát. Bọn trẻ chúng tin chắc bà Huê thuộc loại hồn ma bóng quế vì thường thấy bà vừa chạy đuổi theo bầy hoa gió vừa cười khanh khách. Lại nghe những người đánh cá bảo rằng vào những đêm trăng sáng, họ thấy bóng một người đàn bà đứng im phăng phắc xõa tóc hứng trăng ngoài doi cát. Một thời gian dài, mỗi khi đi ị ngoài bãi sông, tôi phải kệ nệ vác theo cây cuốc.
Mãi cho tới năm 1975, khi mọi người tưng bừng chào đón hòa bình thì bà Huê bỗng diện quần là áo lượt, tóc bới cao, chân đi guốc, gặp ai cũng chào hỏi tươi cười. Bà đi tới đâu bọn trẻ chúng tôi dạt ra tới đó. Ông ngoại tôi trừng mắt bảo:” Việc gì mà sợ! Bà ấy là ma thì chúng mày là quỉ hết!”. Mẹ tôi nói: « Con dọa cháu chứ ma cỏ gì bà ấy. Ông Dền sao vẫn chưa về ?… ». Tôi không rõ ông Dền là ai, chỉ nghe phong thanh ông là chồng sắp cưới của bà Huê, đi tập kết ra Bắc từ năm 54, đến nay vẫn bặt cá tăm ngàn. Sau đó bà Huê ra chợ thưa dần, rồi ở luôn ngoài doi cát với những đêm trăng xõa tóc. Và như thể hằng đêm ánh trăng phớt bạc lên mái tóc bà. Bà già đi nhanh chóng.
Năm năm sau, ông Dền đột ngột trở về vừa lúc không còn ai nhắc tới ông nữa. Ông vận bộ đồ ka ki, đeo xắt cốt đứng tần ngần giữa chợ. Dưới chiếc mũ cối lòa xòa những lọn tóc lóm đóm bạc để dài phủ xuống tận quai hàm, ở đó bộ râu quai nón nhuộm sương tiếp tục bao quanh khuôn mặt càng tôn vinh vẻ phong sương, bi tráng của con người ông. Ông Dền hỏi thăm tìm đến nhà ông bộ Kiểm – cha của bà Huê -, một giờ sau ông trở ra, chiếc nón cối trễ một bên, xăm xăm đi thẳng ra doi cát. Người ta đồn ông làm tướng tá gì đó trong quân đội, hết đánh Mỹ lại kéo quân sang biên giới Tây Nam. Sau không rõ vì lẽ gì ông bị giáng chức rồi cho về hưu. Không ai biết quê ông ở đâu. Sau cách mạng tháng Tám, ông về dạy bổ túc văn hóa ở quê tôi. Thưở ấy, ông là một thanh niên tài hoa, hoạt bát nên chẳng bao lâu cô học trò đẹp nhất lớp, xinh nhất làng, con của ông bộ Kiểm giàu sang, cành vàng lá ngọc đã đem lòng yêu ông say đắm dù bị gia đình cấm đoán, cho ông là đồ trôi sông lạc chợ, đũa mốc mà chòi mâm son. Không ai biết sau trên hai mươi năm, gặp nhau trong một tiếng đống hồ ân ân oán oán tại nhà ông bộ Kiểm, họ đã nói những gì, chỉ thấy ông trở ra với bộ dạng của một bại tướng.
Ông Dền bắt tay sửa sang lại căn lều, tóm cổ bọn hoa gió chất đống rồi nổi lửa, đào hố trồng dừa. Bà Huê như hóa thành trẻ thơ tung tăng quanh những gốc dừa non, cười cười nói nói luôn miệng. Người ta kể lại rằng bà dở khôn dở dại sau lần một đám tử tế trầu cau dạm hỏi, ông bộ Kiểm tưởng rằng con mình đã quên người thầy giáo bặt vô âm tín mấy năm rồi , không ngờ bà Huê gào khóc : « Anh Dền ơi anh Dền ! Anh lang thang những đâu, đầu gềnh cuối thác ; anh trôi dạt nơi đâu, chết bờ chết bụi gì sao không về giữ lấy em ! ». Bà nổi đóa đá đổ cả mâm trầu hủ rượu : « Đừng có hòng ! Đừng có hòng ! Tôi là gái đã có chồng ! Chồng tôi là anh hùng hảo hán, là thằng lường gạt, là gã Sở Khanh… ». Ông bộ Kiểm cất một cái chói tranh ngoài doi cát, đuổi bà ra đó ở.
Vườn dừa ông Dền được chăm bón chu đáo nên trong ba năm đã cao bằng đầu người và bắt đầu ra những quả chiếng. Cánh lá xum xuê và rợp bóng là đất lành cho muôn chim về làm tổ. Những chú chào mào đội trên đầu túm lông đỏ trông như chiếc vương miện đăng quang cho tiếng hót lảnh lót, vút cao trên những tàu lá non chưa xòe lá trong những sớm tinh mơ. Buổi trưa, cái nóng oi bức, rã rượi, tất cả dường như lắng lại nhường đường cho ngọn nồm hây hẩy thổi từ cửa biển vào làm phe phẩy những cọng lá khép, bật kêu những hồi re re rè rè càng làm cho không gian khu vườn thêm trễ tràng, biếng nhác. Thảng hoặc đâu đấy, la đà trên tàu lá khô vắt vẻo một chú chim cu choàng mắt thức giấc thúc lên một vài tiếng gáy cầm canh. Về chiều, gió bắt đầu đổi hướng và theo đó không gian mở rộng ra theo những chiều kích khác. Bay cao hơn hết và ồn ào hơn hết là bầy sáo sậu giành chỗ ngủ trong ánh tà huy.
Đam mê của tôi thuở ấy là được cung phụng những chú chim sắc vừa dập bụng cứt, lún phún trổ bộ lông sặc sỡ màu ngủ sắc trong những chiếc lồng xinh xắn. Vậy là khu vườn nhà ông Dền bị xáo động bởi một thằng nhỏ trần trùng trục lăm lăm giàn thun trên tay, ngửa mặt sục sạo trên những đọt dừa ,tàu lá. Vào một buổi trưa, khi tôi đang ngồi tót trên đọt dừa ngắm nghía những chú chim non đang vươn cao cổ, chao chao những chiếc mỏ vàng nở toác nôm như những đóa cúc dại thì bất đồ nghe giọng đằng hắng phía dưới của ông Dền : « Con cáo có hang, chim trời có tổ, sao cháu nỡ phá nó đi ? ». Từ buổi trưa hôm đó, hòa bình được vãn hồi nơi vườn nhà ông Dền. Đam mê của tôi chuyển qua con đại bàng ăn khế trả vàng, con cá chép móng nước ngoài biển khơi, con ngựa xích thố của Quan Vân Trường, con trâu cưỡi mây của Tôn Tẩn…trong tiếng kể chuyện vừa như trẻ học bài, vừa như lời hát ru, vừa như tụng niệm của ông Dền. Ông ngồi trên bộ ván dừa sầy sướt, vừa kể chuyện vừa móm mém bập bập điếu thuốc vấn trễ bên mép. Thỉnh thoảng ông dừng kể, lừa điếu thuốc dính vào đầu lưỡi, há miệng nhả khói. Làn khói vừa ra khỏi miệng liền bị gió đánh bạt vào bộ râu của ông, và dường như nó nhập vào những sợi bạc lơ phơ ấy. Tôi nằm dài trên thềm, gối đầu lên ngạch cửa, thiếp dần vào những giấc mơ bay cao cùng câu chuyện kể. Khi đã chán những Bàng Thống thoát y tại thị, Tào Tháo tử lộ Hoa Dung, tôi ra thềm ngồi đánh chắc nẻ một cụp ca hai ca cụp cùng bà Huê, hoặc chơi ô ăn quan mà thường khi bà cứ « Mượn lúa » dù ô của mình vẫn còn.
Người ta kể nhau rằng hồi ông Dền về dạy hoc, đã bày những trò chơi như vậy trong những đêm trăng thanh gió mát. Cả tới cái ngày ông Dền hành trang xuống tàu tập kết, bà Huê trao gối xôi còn đang nóng hổi: « Anh đi chân cứng đá mềm », ông lại nhảy lò cò quanh bà hát câu rồng rắn lên mây : « Thiên đường địa ngục hai bên, ai khôn thì dai ai dại thì khôn, đêm nằm nhớ chúa nhớ cha… ». Một hôm tôi đang bồng bềnh thiu thỉu ngủ cùng với sóng nước Triệu Tử Long đoạt ấu chúa thì giật thót người khi nghe bà Huê kêu lên: « Cháy nhà ! ». Bà ngồi bệt xuống đất bên những ô vuông kẻ bằng than, tay đập đập mảnh sành:« Uổng công tao ! Lầu ba lầu bảy mà mày nhảy vào, cháy cả ! ». Ông Dền ngoái cổ nhìn ra cười bảo: « Lợi bất cập hại, việc gì phải nhà lầu xe hơi ? ». Bà Huê đứng dậy, hươ hươ mảnh sành lên cao: « Tôi sẽ cất lại, đụng trời mới thôi. Trời mà làm nhà tôi cháy, cháy lan cả trời cho xem. ». Ông Dền nghiêng tai bảo : « Bà giống con chim chiền chiện ngoài kia quá, bà có nghe nó hót không ? Chỉ hoài công thôi ». Tôi dõi mắt lên nền trời xanh pha lê, một cánh chim đang chấp chới nâng mình lên cao theo chiều thẳng đứng. Càng lên cao tiếng chim càng ríu rít líu lo cho tới khi chỉ còn một chầm nhỏ nhoi trong bầu trời bao la, nó bất thần im bặt, đồng thời cụp cánh lại và rơi tự do, gần tới đất nó xòe cánh liệng một vòng rồi lại chấp chới cánh lên cao cùng với tiếng hót.
Mùa hè năm 1985, tôi lên huyện học cấp ba. Hàng tuần về nhà tôi thường xuyên băng qua khoảng ruộng hẹp ra doi cát thăm hai ông bà lão. Bà Huê ngày càng trẻ lại với những trò chơi của mình. Ông Dền già đi nhanh chóng, bom đạn chiến trường bây giờ mới có thời cơ phát huy tác dụng của nó.Những câu chuyện kể của ông đã bị nhầm lẫn, như Điêu Thuyền cưỡi ngựa Xích thố…
Tốt nghiệp trung học, tôi theo trường vào thành phố vẫn không quên hai ông bà lão trước ngày lên đường. Tôi bắt gặp họ ở bãi cát, sát mép nước. Ông Dền ngồi xé tập thơ Đường ra và xếp lại thành những con thuyền giấy cho bà Huê thả xuống sông. Gió nam Lào tháng sáu đi qua những ngọn núi nóng rẫy, hừng hực đổ ra biển nhanh chóng thổi những chiếc thuyền giấy mang theo cả Thôi Hiệu, Đỗ Phủ, Lý Bạch…ra khơi. Bà Huê nhón chân, nghiêng người thả tiếp một chiếc nữa, khẽ ngâm: « Quân tại Tương giang đầu / Thiếp tại Tương giang vĩ / Tương tư bất tương kiên / Đồng ẩm Tương giang thủy. ». Ông Dền ngừng tay, thẩn thờ nhìn theo những chiếc thuyền giấy bị sóng đánh ra xa. Sau ông đưa quển sách đã rách gần nửa cho tôi, nói: « Tặng mày đấy. À, ngày trước bắt gặp mày trên đọt dừa tao chưa nói hết câu nói của chúa Giê Su : Con cáo có hang, chim trời có tổ, song con người không chỗ gối đầu. ». Tôi cầm quyển sách, tự hỏi sau này mình có thể xé ra làm những con diều lướt gió không ?. Ông Dền bước tới nắm tay bà Huê, nét mặt trở nên tươi tắn, rạng rỡ cất giọng: « Thiên đường địa ngục hai bên, ai khôn thì dại ai dại thì khôn, đêm nằm nhớ chúa nhớ cha… ». Và rồi họ dung dăng dung dẻ đi về phía cuối doi cát. Tôi không ngờ đó là hình ảnh cuối cùng của hai người bạn già trong suốt thời thơ ấu của mình.
Mãi cho tới khi hoàn tất chương trình đại học, tôi mới có dịp trở về quê thì được tin họ đã mất. Tôi ra doi cát vào một chiều chớm đông khi ngọn gió bấc bắt đầu se se lạnh. Thời gian này kế hoạch nuôi tôm sú đại trà đã phổ biến rộng rãi trên các vùng ven biển. Doi cát cũng nằm trong kế hoạch. Tôi đi giữa những bờ ngang bờ dọc tiếp nối, đan chéo nhau chạy quanh bờ mép nước, giữa tiếng cười nói ồn ào của những người nuôi tôm, tiếng xe ủi gâm rú. Những thân dừa bị đốn ngã, phát quang. Thế giới loài chim ngày xưa tan tác. Tôi đi về cuối doi cát, nơi hình ảnh cuối cùng còn lại trong tôi về hai ông bà lão nắm tay nhau dung dăng dung dẻ mà dõi mắt lên bầu trời hoàng hôn mông muội, cố tìm một bóng chim chiền chiện. Dường như ngoài kia, trên mặt đầm Cù Mông tím sẫm, có một chiếc thuyền giấy khổng lồ đang dần hiện rõ. Trên cánh buồm rách tả tơi nổi bật một dòng chữ lấp lánh như ánh lân tinh, chập chờn như ma trơi: « Vọng mỹ nhân hề, thiên nhất phương… ».

Nguyễn Huỳnh.

KHÚC THÁNG HAI

dutule

tôi đã buồn như nỗi ngóng trông
tháng hai, trở lại những con đường
thấy tôi trên những tàng cây cũ
và những ngôi nhà đã bỏ không

tôi đã buồn như một ngọn cây
tháng hai, cành nhớ lá sương đầy
tháng hai, thôi đã không tay vẫy
và tiếng buồn rơi đều phương tây

tôi đã buồn như một nhánh sông
tháng hai, thôi vẫn chẻ đôi dòng
cánh chim nào lỡ quên soi bóng
trong nỗi sầu tôi, lên nước sơn

tôi đã buồn như một bàn tay
tay ai gió bão nổi hiên ngoài
tháng hai, nắng ở phương trời khác
mà tiếng rơi ròn khua ở đây

tôi đã buồn như một sớm mai
tháng hai, hoa cỏ, dấu chân người
có ai mưa ướt đôi vai nhỏ
và nhốt hồn tôi ở một nơi

tôi đã buồn như một giấc trưa
hồn đi trăm xứ vẫn mưa về
tháng hai, lệ chảy trong yên ắng
và dáng ai ngồi như chết khô

tôi đã buồn như một quán không
chiều lên lênh láng một dây đàn
tháng hai, bụi phủ từng vai ghế
tôi với bàn chia nỗi ngổn ngang

tôi đã buồn như chiếc bóng tôi
mai kia tôi sẽ bỏ xa đời
tuổi, tên, thôi cũng đi về… đất
riêng ở nơi này vẫn tháng hai.

Houston 2-84
Du Tử Lê

trời ơi em…

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

buồn buồn ngó hoa
ngó hoa hoa nở
cơn nhớ lạc đường
trôi đâu về nớ

ta muốn mắc cỡ
bẽn lẽn thưa em
thưa em nhật nguyệt
dan díu trong đêm

hồn ta động cỡn
nhẩy lên phù đồ
ta bước lạc chân
té vào thiên cổ

buồn buồn thấy vui
thấy em lấp ló
nghe em thoáng qua
tóc cài nơ đỏ

em im lặng thế
ta nói quá trời
chạm mây mưa rơi
(mưa nguồn chớp bể)
trời ơi! trời ơi!

Ngô Yên Thái

Thư viết cho mẹ.

elenapucillo

(Nguyên tác : lettera alla madre)
Bản dịch của Trương Văn Dân

Mẹ thương yêu,
Con thường nghĩ về mẹ nhưng trước đây con chưa viết được gì cho mẹ. Con muốn kể cho mẹ nghe rất nhiều điều, tất cả những gì đã xảy ra với con, về cuộc đời mà con đang sống, dù đôi khi con có cảm giác là mẹ đã biết tất cả rồi. Mẹ luôn có một thứ giác quan thứ sáu, một thứ trực giác bén nhạy để linh cảm về những điều sắp sửa xảy ra. Chỉ tiếc là những linh cảm ấy không giúp mẹ tránh khỏi những khổ đau. Và trong đời, mẹ đã đau khổ biết bao!
Ngay từ lúc còn bé, một cơn sưng màng não đột phát trong vài giờ đã cướp đi người em gái, và sau đó, vì quá đau đớn bà ngoại cũng ra đi.
Kể từ ngày đó mẹ luôn luôn mang theo cái bóp đầm trong đó có hai bức hình đen trắng.
Từ nhiều năm nay trong chiếc ví của con cũng có bức hình trắng đen của mẹ: khuôn mặt mẹ thật đẹp nằm giữa những lọn tóc gợn sóng, hai mắt to màu đen và nụ cười chớm nở trên môi. Lúc đó mẹ chỉ vừa 19 tuổi, trước khi lập gia đình với người yêu và cũng là mối tình đầu và duy nhất của mình. Suốt một đời mẹ chỉ muốn tận tình chăm sóc chồng, thế mà sau ngày cưới chẳng bao lâu, người chồng đã bắt đầu làm khổ mẹ. Niềm an ủi duy nhất của mẹ chính là những đứa con : anh trai và con, đứa con gái mà mẹ muốn giữ, chống lại ước muốn của chồng. Tám năm sau lần sinh nở đầu tiên, chính mẹ đã quyết liệt chống đối để con có thể tiếp tục lớn lên trong bụng mẹ. Thật là khó khăn vì ba muốn mẹ phải phá thai để khỏi bị ràng buộc, nhưng mẹ nhất định không. Mẹ muốn giữ con, và biết chắc là sẽ sinh con gái. Mẹ đã nhiều lần kể lại cho con nghe là ba đã giận dữ như thế nào: Nếu phải có con, ba chỉ muốn tất cả đều phải là trai!
Thế nhưng, rất nhiều năm về sau, chính ba đã lớn tiếng tuyên bố là người duy nhất mà ba có thể trông cậy và tin tưởng là con, đứa con gái của ba mà trước đây ông muốn bỏ đi !
Thỉnh thoảng con cũng có nghĩ về ba, nhưng trong những giấc mơ, con chỉ mơ thấy mẹ.
Trong những giấc mơ ấy con luôn luôn mơ thấy ngôi nhà mình từng sống. Dường như có lần con từ trường đại học trở về và thấy mẹ đang ngồi cạnh cửa sổ, đôi mắt kính xệ xuống sống mũi, cuí đầu cặm cụi khâu lại ống quần hay kết lại viền khăn trải bàn bị đứt chỉ. Những lần khác con nhìn thấy mẹ đang làm nước sốt cho món mì đút lò. Bao nhiêu lần con đã phụ mẹ để nấu những món mà gia đình thích, thường là ngày chủ nhật vì những ngày khác ba đi làm còn mẹ cũng đi dạy nên có ít thời gian. Nhắc lại, con như nghe trên đầu lưỡi của mình mùi vị thơm ngon của thứ nước sốt rất đặc biệt đó.
Trong các giấc mơ khác con cũng nhìn thấy mẹ, mà là những lúc thật buồn, thật đau khổ, rồi con thức giấc như vừa tỉnh một cơn ác mộng và lòng sầu đau khôn tả. Phải cần vài giây sau con mới định thần được rồi lòng chợt thấy vui vì con được ở gần bên mẹ. Dù chỉ trong một giấc mơ.
Mẹ ơi, trong những ngày cuối, chao ôi, con thấy mẹ dịu ngọt và mỏng mảnh làm sao! Con biết không phải mẹ khóc vì mình sẽ lìa bỏ cõi đời mà khóc cho những đứa con mà mẹ phải rời xa. Đó không phải là ý muốn của mẹ, mà là do cái khối u tàn nhẫn đang lớn dần bên trong và từng ngày cướp đi sức sống.

Sau khi mẹ mất, con luôn giữ những tấm hình của mẹ, lần này là hình màu, trong ảnh mẹ tươi cười và hình như không có nhiều lo âu. Có lẽ chỉ có một chút màu đen nơi vành mắt là dấu vết của nỗi buồn vì cô độc. Mẹ quá cô độc, nhưng có lẽ tất cả mấy mẹ con mình đều cô độc. Cho đến tận bây giờ con vẫn còn nhớ cái cảm giác bị ruồng bỏ, bị bỏ rơi. Suốt buổi tối cả nhà ngồi quây quần quanh chiếc bàn cơm đã dọn sẵn, im lặng đợi chờ. Nhưng ba con đã không về trong đêm đó. Và sau đó thì không bao giờ về nữa.
Con không bao giờ muốn nghĩ về những ngày tháng ấy. Ngược lại, con muốn nghĩ rằng giờ này mẹ đang bình an, không còn đau đớn và cuối cùng thanh thản ở một cõi giới khác.
Bây giờ thì con xin báo cho mẹ biết là trong những ngày tới, mẹ sẽ có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Đến gặp mẹ là một người đàn bà mà mẹ đã từng gặp rất nhiều năm trước: mẹ của chồng con. Con tin chắc rằng hai người sẽ trở thành bạn, sẽ kể cho nhau nghe nhiều rất chuyện, về những cuộc đời ở mãi tận phía bên kia trái đất. Bà ấy hay cười và thích nói đùa. Đây là điều mà con đang tưởng tượng: hai người ngồi bên nhau như thể là hai người bạn lâu năm, vui đùa, cười nói. Mẹ chồng của con sẽ nói về Việt Nam, sẽ giải thích về lễ Vu Lan, một ngày lễ Phật Giáo rất đặc biệt dành cho các bà mẹ vì họ giữ một vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Ngày lễ đó cũng là một cơ hội để các con có thể nói lên tình yêu thương và báo đáp lòng hiếu thảo với mẹ, người đã chịu đựng biết bao đau đớn để sinh con, nuôi dưỡng và dạy dỗ chúng nên người. Bao nhiêu khó khăn thường nhật mà người mẹ phải vượt qua, kiên nhẫn, hy sinh và xem nhẹ những đớn đau hiện tại để nuôi hy vọng về một tương lai tốt đẹp.
Mẹ biết không? Sau khi mẹ mất, hằng năm vào lễ Vu Lan con thường đi đến chùa để thắp nhang và cầu nguyện. Lần nào trước cửa thiền con cũng được chào đón bởi các em học sinh, để gây quỹ giúp chùa hay để làm từ thiện, họ gắn lên áo quan khách những chiếc bông hồng làm bằng vải hay bằng giấy lụa: Bông hồng màu đỏ tượng trưng cho những ai còn mẹ và màu trắng cho những ai có mẹ đã qua đời. Nhờ màu của những hoa hồng trên áo nên mọi người dễ dàng nhận biết ai là kẻ may mắn còn mẹ để chúc mừng, ai là người không còn mẹ để chia buồn với họ.
Ngày hôm đó con có bỏ một ít tiền vào chiếc hộp giấy mà các em mang theo và yêu cầu họ gắn lên áo mình một bông hồng màu trắng và một bông hồng màu đỏ. Cô bé học trò, đã ngạc nhiên khi nhìn thấy một người ngoại quốc đi chùa, nói chút ít tiếng việt, và lại có yêu cầu khác thường nên hơi bối rối. Con vội giải thích với cô ta rằng chiếc hoa hồng màu trắng là cho mẹ ruột của cô, còn hoa hồng màu đỏ là dành cho mẹ của chồng, mà con xem là bà mẹ thứ hai. Ý nghĩ này đến với con thật tự nhiên, vì bà mẹ chồng gầy gò nhưng tính cách rất mạnh mẽ kia luôn quan tâm đến con; Còn đứa con dâu ngoại quốc, có dáng vẻ bên ngoài có lẽ rất khác với những gì bà chờ đợi, nhưng luôn dành cho bà một tình thương và lòng kính mến như chính là con gái. Kính mến và yêu thương thật sự, đến nỗi con thường tránh chữ mẹ chồng ( vì những ý nghĩa mà thông thường người ta hay đem ra chế diễu); Có khi con xem gọi thế là một sự xúc phạm. Mẹ. Là mẹ, thế thôi.
Con không thể nào quên được là sau ngày mẹ mất, người mẹ thứ hai của con đã đem hình của mẹ đặt lên bàn thờ của gia đình và in ra nhiều tấm để gởi đến rất nhiều chùa để cầu nguyện. Đối với con, đó là một cử chỉ thân thương có nhiều ý nghĩa mà không lời lẽ nào nói lên được. Mẹ biết không, cho đến hôm nay trong các chùa từ Sài Gòn đến tận miền quê xa như Tây Sơn, Bình Định, mỗi lần tụng kinh các sư thầy đều có cầu nguyện cho mẹ.

Bây giờ thì mẹ và mẹ của chồng con đang ở bên nhau và ý nghĩ là cả hai đều bình yên đã cho con rất nhiều an ủi. Con sẽ luôn nghĩ đến hai người mẹ và mùa Vu Lan này, giữa các nghi thức cúng kiến, con muốn được đốt một chiếc điện thoại di động bằng giấy theo truyền thống của người Việt Nam để có thể nghe được giọng nói thân thương của mẹ.
Và bắt đầu từ nay, các em bé sẽ gắn lên trên ngực áo của con hai bông hồng trắng.
Con ôm hôn mẹ, thật mạnh.
Con gái của mẹ

Elena Pucillo Truong
Trương Văn Dân

Đời như một hạnh ngộ

nhatchieu
ELENA TRUONG

(Đọc Một Phút Tự Do- Tập truyện ngắn – Tùy bút của Elena Pucillo Truong)
Nhà Xuất Bản Văn Hóa Văn Nghệ – 10-2014

Elena Pucillo Truong là một trường hợp văn chương thú vị, một từ trường cuốn vào mình một vài chất nào đó của Ý và mội vài chất của Việt.
Chị là người Ý, sống ở Việt Nam, sống trong giao cảm với đất, nắng gió và người ở góc trời xa lạ mà thân thiết này, đơn sơ mà rắc rối này, bi cảm mà hay cười này…
Đầy cảm hứng, chị cầm lấy bút. Truyện ngắn và tản văn. Ở đâu cũng man mác một niềm giao cảm với Đời-như-một-hạnh-ngộ. Và Đông Tây hòa vào một giai điệu tình yêu.

Truyện ngắn của Elena có cái đặc sắc mà truyện ngắn Ý thường có. Đó là nhẹ, nhanh và linh hoạt.
Nhẹ như hơi thở nhẹ. Không có gì trầm trọng. Dẫu có ngộ nhận nhưng rồi sẽ có biến chuyển. Một cái gì đó bình thường thôi nhưng “nó sẽ làm thay đổi cuộc đời chúng ta…” như ta thấy trong truyện “Phút mặc khải”.
Nhanh như một bài ca. Một bi kịch có thể kể trong vài trang, như truyện “ Phòng số 3” nói về một cuộc tự tử đôi. Lối kết rất cô đọng : “ Nhiều năm đã trôi qua nhưng không hiểu sao tôi không thích giao chìa khóa phòng số 3 cho ai cả.” Chỉ trong câu văn rất nhanh ấy, ta thấy cả nhân tính lẫn nhân tình.

Hình ảnh Việt nam xuất hiện thường xuyên trong tản văn Elena. Không phải hiện ra như một bưu thiếp. Không như những bức ảnh thường thấy khi người ta chụp về một trú xứ mà mình không tùy thuộc. Trong những tản văn này, ta hiểu được sự hòa điệu tâm hồn, sự thấu cảm có thể thực hiện từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác.
Elena có thể thấm hồn mình vào không gian trà việt với một cảm thức tinh tế lạ thường: Sau khi diễn tả động tác chiết trà tuyệt vời của nghệ nhân Viên Trân, Elena viết : “Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: chăng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số…Không. Chỉ còn lại khoảnh khắc vô tận này, khi tôi ấp tách trà nóng ngào ngạt hương sen giữa hai lòng bàn tay…đó chính là niềm vui khi nhận một món quà không mong đợi, một thứ hơi ấm của tình người…”
Thế đấy, từ những truyện ngắn và tản văn của Elena, ta nhận được món quà không mong đợi mà đầy niềm vui, một thứ hơi ấm tình người vốn rất cần trong đời sống hôm nay mà vô cảm hóa đang là một nguy cơ.

NHẬT CHIÊU

Những khoảnh khắc vô tận

 

(Đọc Một Phút Tự Do- Tập truyện ngắn – Tùy bút của Elena Pucillo Truong)
Nhà Xuất Bản Văn Hóa Văn Nghệ – 10-2014

Hầu hết những truyện ngắn của Elena Pucillo Trương trong tập này đều thể hiện một đặc điểm quen thuộc của thể loại: nắm bắt cái khoảnh khắc của đời sống để làm hiện lên chân dung tinh thần và yếu tính tự do của con người.

Đó là phút mặc khải khi người mẹ chồng bấy lâu nuôi định kiến với người con dâu, bỗng một ngày nhận ra sợi dây mật thiết gắn bó hai người qua một mầm sống mới tượng hình, nhờ đó trút bỏ vẻ lãnh đạm và ích kỷ thường ngày để tìm lại sự dịu dàng và bao dung vốn có của mình.

Đó là những giờ phút hai anh em ruột thịt gặp lại nhau sau mười năm xa cách, trong căn nhà thời thơ ấu, nơi diễn ra đám tang của người cha thô bạo đã để vết hằn trên hai trái tim thơ dại. Trong cái khoảnh khắc từ giã, khi người anh tặng lại em chiếc đầu máy xe lửa chạy bằng pin mà người cha mua tặng một mùa giáng sinh xa lắc, dòng nước mắt bỗng rửa trôi tất cả những uất ức, căm hận.

Đó là một phút tự do khi người đàn bà quyền lực khô khốc, khó tính và cáu bẳn vì ngập đầu trong công việc, bỗng một buổi sáng kia muốn vượt thoát ra khỏi cái guồng máy quay đều làm ngạt thở để tìm lại bản tính thật của mình.

Đó là thời khắc của ngày cuối năm, sau bao ngày chờ đợi, người ni sư già gặp lại người đệ tử đã bỏ chùa ra đi không tăm tích, nay trở về với đứa con bé bỏng trong tay.

Đó là thoáng chốc hai người trẻ tuổi chưa quen biết trao cho nhau ánh mắt dịu dàng và nụ cười thân mật trên chuyến tàu về quê ăn Tết.

Đó là thời điểm định mệnh, ngẫu nhiên hay có chọn lựa, mà cặp vợ chồng già hay đôi tình nhân trẻ cùng nhau đi đến cái chết để giữ trọn một tình yêu đẹp…

Trừ truyện ngắn Trước khi màn hạ, ngòi bút nhân hậu của Elena Pucillo Trương như chỉ viết về tình liên đới, lòng trắc ẩn, sự bao dung và tha thứ của con người. Trên tất cả, đó cũng chính là những khoảnh khắc của yêu thương, như tác giả viết qua ý nghĩ của một nhân vật: “Tình yêu đã bùng nổ trong một lát nhưng đã theo tôi đến suốt đời người”.

Elena không chỉ nắm bắt mà còn biết cách miêu tả những khoảnh khắc, làm cho nó kéo dài ra, thu hút sự chú ý của người đọc, chẳng hạn khi chị tái hiện hình ảnh bà Viên Trân chiết trà ướp sen mời khách: “Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: chẳng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số”. Và tác giả gọi đó là “khoảnh khắc vô tận”: ngắn ngủi về thời gian vật lý, nhưng vô tận về hiệu ứng tâm linh.

Với chủ đề Carpe diem/ Nắm bắt khoảnh khắc, Elena đã từ một nouvelliste trở thành một essayiste khi chị bình luận về những vần thơ của Tôn Nữ Hỷ Khương: “Và trong hầu hết các bài thơ của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đều có phản chiếu tư tưởng này, bà trải lòng với người đọc rằng cuộc đời này là duy nhất, nhắc chúng ta biết đó là một quà tặng duy nhất và tuyệt vời của tạo hóa mà chúng ta đang có và vì thế cần phải biết trân trọng và hãy sống với niềm vui. Thế giới bao quanh chúng ta thật tuyệt vời và sự sống chính là điều quan trọng. Bất cứ một biến cố nhỏ hay lớn nào trong cuộc đời chúng ta, từ nụ cười của em bé đến sự leo lên đỉnh một ngọn núi cao cũng đều phải cho chúng ta ý thức về tính siêu phàm của cuộc sống”.

Thế giới này vô thủy vô chung, nhưng được tạo dựng từ những khoảnh khắc được chiếu sáng từ trái tim nhân ái của con người.

Đó là những đốm sáng lóe lên trên đường đời dằng dặc, giúp mình gắng đi cho trọn dù chỉ một chặng ngắn ngủi của thời gian.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

BÓNG NGUYỆT THIÊN THU

truongdinhtuan

ta trót nghe theo lời nắng mật
từ ê a buổi tập đánh vần
thấp cao cánh chuồn chuồn châu chấu
mót lúa ngoài đồng một hạt cũng thọ ân

con dế lỡ hát lời sầu cổ
phiêu du đâu nghìn sớm vạn chiều
mái đình cong nguyệt hoài thơ dại
khói lam này nguyên cuống rạ đăm chiêu

vạn cổ hề cũng chỉ bấy nhiêu
về nơi đâu thêm hoang vu màu cỏ
sông chảy mãi bài tứ tình thứ nhất
ngược vào ta câu rực rỡ u phiền

em trót nghe theo ngọt mềm lục bát
đừng thương lây thân ngựa lù khù
lúc cao hứng bỗng phi nước đại
biết bao giờ ơi bóng nguyệt thiên thu

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Người Về

trantrungdao

Người về bóng ngả trên đường phố
Phố đổi màu theo mỗi bước chân
Mười năm ở lại cùng muông thú
Mây đã thành mưa rụng mấy lần

Chén rượu quan hà chưa uống cạn
Hương nồng ngây ngất vẫn còn đây
Người ơi! trăng vẫn tròn trong mộng
Sao chẳng chờ nhau một kiếp nầy

Người về một tấm thân hoang phế
Ngơ ngác bên đường lạc dấu vui
Chiếc áo phong trần xin gửi lại
Mười năm đi quên mất tiếng cười

Vẫn tạ ơn đời khi sống sót
Mười năm máu chảy đọng thành thơ
Lòng ai muôn dặm còn thao thức
Có biết rằng đây vẫn đợi chờ

Người về thương bóng mây qua núi
Núi đứng muôn đời nhớ tiếc mây
Cứ tưởng một lần quay trở lại
Cùng nhau vui hết cuộc sum vầy

Cụm khói lam chiều thôn Việt Bắc
Như màu khói thuốc thuở quen nhau
Bài thơ xưa viết mừng em lớn
Vẫn giữ làm tin chẳng nhạt màu

Người về ngồi lại thềm soan cũ
Cỏ mọc điêu tàn trên lối xưa
Xin khóc một lần cho thảm thiết
Cho sóng triều dâng mở hội mùa

Ngôi mộ ven đường ai chết đó
Đi tìm tung tích của cha anh
Đâu những oan hồn xưa lạc bước
Về đây nghe lại khúc quân hành

Người về cúi nhặt bài thơ cũ
Nhặt trái tim mình trong khói tro
Mười năm đá cũng mềm như lệ
Chẳng trách ai quên một chuyến đò.

Trần Trung Đạo