EM BÉ VIỆT NAM VÀ VIÊN SỎI

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu

– Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông này để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị
Viên kẹo lớn này để lại cho em
Còn viên kẹo thật to này… là phần Bé đấy

Bên bờ biển Palawan
Có một em bé gái
Tuổi mới chừng lên sáu lên năm
Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ
Và nói chuyện một mình
Như nói với xa xăm

– Em đến từ Việt Nam
Câu trả lời thường xuyên và duy nhất
Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất
Chỉ hai tiếng này thôi
Em nhớ kỹ trong lòng

Em chỉ ra ngoài Đông Hải mênh mông
Cho tất cả những câu hỏi khác

Mẹ em đâu?
– Ngủ ngoài biển cả

Em của em đâu?
– Sóng cuốn đi rồi

Chị của em đâu?
– Nghe chị thét trên mui

Ba em đâu?
Em lắc đầu không nói
– Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa

Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa
Trên ghe sót lại chỉ dăm người
Lạ lùng thay một em bé mồ côi
Đã sống sót sau sáu tuần trên biển

Họ kể lại em từ đâu không biết
Cha mẹ em đã chết đói trên tàu
Chị của em hải tặc bắt đi đâu
Sóng cuốn mất người em trai một tuổi

Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi
Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em
Ôi những giọt máu Việt Nam
Linh diệu vô cùng
Nuôi sống em
Một người con gái Việt

Mai em lớn dù phương nào cách biệt
Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam
Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm
Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại

– Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông này để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị
Viên kẹo lớn này để lại cho em
Còn viên kẹo thật to này… là phần Bé đấy

Suốt tuần nay em vẫn ngồi
Một mình lẩm bẩm
Ngơ ngác nhìn ra phía biển xa xôi
Như thuở chờ Mẹ đi chợ về
– Thật trễ làm sao
Em tiếp tục thì thầm
Những câu nói vẩn vơ
Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc
Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc
Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi
Mai này ai hỏi Bé yêu chi
Em sẽ nói là em yêu biển

Nơi cha chết không trống kèn đưa tiễn
Nơi tiếng chị rên
Nghe buốt cả thịt da
Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua
Nơi em trai ở lại
Với muôn trùng sóng vỗ

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu.

TRẦN TRUNG ĐẠO

TÔI LÀ LÍNH SINH RA ĐỂ CHẾT

Trong cuộc chiến xâm lược của Nga vào Ukraine có một bài thơ được cho là của một chiến binh Ukraine với tựa đề “ I ‘m soldier born to die “ được nhiều ngươi phỏng dịch sang tiếng Việt. Tôi có đọc nhiều bài dịch nhưng không thấy ghi tên tác giả và nếu có thì tên và nguồn không giống nhau . Do đó tôi đâm ra tò mò nên leo lên google tìm nguồn gốc nguyên tác của bài thơ

Sau khi tìm nhiều nguồn tôi thấy nguồn từ WikipediA là khả tín nhất . Theo Wiki thì tác giả bài thơ là Tim O’Brien viết trong cuốn tự truyện về chiến tranh Việt Nam được nhà xuất bản Delacorte Press xuất bản năm 1973 tại Hoa Kỳ . Như vậy đây là bài thơ xuất xứ tử thời chiến tranh VN chứ không phải trong chiến tranh Ukraine . Tuy nhiên trong cuộc chiến tranh nào cũng vậy những người lính cầm súng để bảo vệ tự do đều không màng sống chết . Súng đạn muôn đời vô tri không có mắt nên khi người lính xung trận có thể ngã xuống bất cứ lúc nào . Vì thế trước lúc lên đường đối đầu với địch thì những lời người lính gửi gắm lại xem như lời trăn trối bởi vì khi tự nguyện dấn thân vào đời lính thì được xem như chấp nhận hy sinh để cho tổ quốc được tồn sinh . Thời khắc và không gian khác nhau nhưng ý nghĩa cầm súng của người lính Ukraine và người lính Việt Nam Cộng Hoà giống nhau đó là họ bảo vệ lãnh thổ khi bị nước khác xâm lăng

Năm 1969 Tim O’Brien được đưa đến chiến trường Việt Nam đã chứng kiến nhiều đồng đội anh dũng hy sinh và cái chết của người lính nhẹ tựa lông hồng . Xúc cảm về những thiên bi hùng ca đó ông sáng tác bài thơ này và tôi đã cố gắng chuyển thể sang tiếng Việt theo thể thơ 8 chữ ở phía dưới

I’ M A SOLDIER BORN TO DIE

if I die in a war zone,
box me up and ship me home.
Put my medals on my chest,
Tell my mom i did my best.
Tell my father not to bow,
he won’t get tension from me now.
Tell my brother to study perfectly,
keys of my bike will be his permanently.
Tell my sis not to be upset,
Her bro will not rise after this sunset,
Tell my love not to Cry…
‘Because I am a soldier born to die….!

Tim O’Brien

* Dưới đây là bản dịch của Quan Dương

TÔI LÀ LÍNH SINH RA LÀ ĐỂ CHẾT

Nếu tôi chết mai này nơi chiến địa
Xác của tôi xin gói gởi về nhà
Đặt lên ngực tấm huy chương tôi có
Nói với mẹ rằng con đã đi xa
Nói với cha không còn lo lắng nữa
Từ bây giờ đầu hết cúi vì con
Nói với em hãy chăm lo học giỏi
Chiếc xe này chìa khoá giao lại em
Nói với chị hoàng hôn nay đã tắt
Tôi sẽ không thức dậy lúc chiều buông
Nói với người yêu xin em đừng khóc
Lính sinh ra là chết ở sa trường

Quan Dương

* Dịch từ bài thơ I’AM A SOLDIER BORN TO DIE của TIM O’BRIEN

Operation Babylift, sứ mạng nhân đạo và yêu thương

ĐINH YÊN THẢO

Trong những ngày cuối cuộc chiến Việt Nam, chiến dịch di tản các trẻ em mồ côi sang Hoa Kỳ với tên gọi Operation Babylift đã được thực hiện theo sự chuẩn thuận của Tổng Thống Gerald Ford. Ông tuyên bố rằng, ” Trong khi truy điệu những người đã mất, chúng ta không thể quên những người còn sống” để không chỉ có kế hoạch di tản hàng chục ngàn nhân viên người Việt, mà còn có thêm một chiến dịch dành riêng cho trẻ mồ côi được di tản bằng phi cơ quân sự, có ngân sách khoảng hai triệu đô la. Theo số liệu từ bộ phim tài liệu Precious Cargo của PBS, đã có ít nhất 2,700 trẻ em mồ côi VN được đưa sang Mỹ và khoảng 1,300 em được đưa sang Canada, Úc và Châu Âu trong sứ mạng nhân đạo này.

Rất không may là chiến dịch đã mở màn với một tai nạn thương tâm. Ngày 4 tháng 4 năm 1975, tin chiếc phi cơ C-5 bốc trẻ mồ côi Việt Nam sang Hoa Kỳ trong chiến dịch Operation Babylift gặp nạn, gây thiệt mạng 153 trẻ em, phi hành đoàn, nhân viên thiện nguyện và nhân viên văn phòng DAO tại Sài Gòn đã gây bàng hoàng và xúc động cho những người theo dõi tình hình chiến sự tại Nam Việt Nam.

Chiếc phi cơ C-5 mang số hiệu 68-0218 cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất sang căn cứ Clark Air Base tại Phi Luật Tân vào chiều thứ Sáu, là chuyến bay đầu tiên chở các trẻ em mồ côi VN được đưa sang Mỹ trong chiến dịch này. Theo kế hoạch dự tính, các em sẽ tiếp tục được chuyển sang máy bay dân sự từ Phi Luật Tân để bay tiếp đến San Diego với sự chào đón của chính Tổng Thống Ford ngay phi trường. Dù tai nạn thảm khốc xảy ra đã gây thiệt mạng gần một nửa trẻ em và các nhân viên trên phi cơ, chiến dịch vẫn được tiếp tục. Và cũng không vì điều này mà có thể cản chân hàng chục y tá trẻ người Mỹ, đang làm việc tại Hồng Kông đã quyết định tình nguyện bay sang Sài Gòn để giúp đưa các trẻ em VN về Mỹ.

Một thương gia Mỹ là ông Robert Macauley đã cầm nhà mình để lấy tiền thuê một chiếc Boeing 747 của hãng hàng không Pan Am, tiếp tục bốc dỡ những trẻ em sống sót, khi ông biết rằng các phi cơ quân đội phải mất hàng tuần để đưa các trẻ em này sang Mỹ. Câu chuyện trở thành một cổ tích tuyệt đẹp giữa những đổ nát, thương đau của buổi ly loạn trong giờ phút cuối cùng của miền Nam tự do. Không chỉ câu chuyện đầy tình người của Robert Macauley gây xúc động, mà cả chiến dịch nhân đạo Operation Babylift có lẽ sẽ mãi còn là câu chuyện đẹp trong chiến tranh Việt Nam cho những ai nhìn lại ở một góc nhỏ khác.

Những ngày đầu tháng Tư năm 1975, tình hình chiến sự tại Nam Việt Nam xem ra đã thay đổi nhanh chóng, nhất là từ sau khi Ðà Nẵng bị thất thủ. Các tổ chức quốc tế giúp đỡ và nuôi trẻ mồ côi tại Việt Nam đã có những kế hoạch riêng để di tản các trẻ em này cùng nhân viên của họ. Nhưng với kế hoạch di tản chính thức từ Tổng Thống Gerald Ford, hàng ngàn gia đình người Mỹ đã sẳn sàng đón nhận các em bé mồ côi này. Theo dự định ban đầu, khoảng 30 chuyến bay sẽ di tản hàng chục ngàn trẻ mồ côi sang Mỹ. Trên thực tế, vì tình thế thay đổi quá nhanh cũng như vì sự an toàn nên con số cuối cùng chỉ còn tổng cộng khoảng 4,000 em được di tản.

Ðây là nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ cùng một số các tổ chức quốc tế như Holt, Friends of Children of Vietnam (FCVN), Friends for All Children (FFAC), Catholic Relief Service, International Social Services, International Orphans và The Pearl S. Buck Foundation thực hiện. Không chỉ với các phi cơ vận tải C-5 của quân đội, còn có hàng chục chuyến bay dân sự lớn nhỏ khác cùng tham gia việc di tản đến tận ngày 26 tháng Tư, khi phi trường Tân Sơn Nhất đã bị pháo kích.

Theo lời bà Joyce Harrington, một nữ y tá trong nhóm bác sĩ và y tá người Mỹ tình nguyện từHồng Kông bay sang Tân Sơn Nhất, có cả phu nhân Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Hồng Kông tham gia chiến dịch này. Họ đã nghe tin về chuyến bay gặp nạn cũng như tình hình chiến sự Việt Nam đang giao tranh khốc liệt, không phải không lường được bất trắc có thể xảy ra, nhưng chẳng có gì ngăn cản bước chân họ trong sứ mạng cao cả đến với những em bé mồ côi đang cần sự giúp đỡ kia. Có cả một số cha mẹ nuôi đã bay thẳng sang Việt Nam để cùng tham gia nhóm nhân viên thiện nguyện, chăm sóc các em trên đường về Mỹ.

Ðây là sứ mạng mà những người từng tham dự cho rằng những thiện nguyện viên, những vị nữ tu, những nhân viên các tổ chức cứu trợ trực tiếp tham gia là những con người có tấm lòng hy sinh cao cả, làm xúc động lòng người. Trong cuốn hồi ký “Đây đích thực là người anh em tôi” (This Must Be My Brother), bà LeAnn Thieman – một y tá trẻ thiện nguyện lúc bấy giờ kể rằng, trên chuyến bay mà bà tham gia, có một người đàn ông tóc muối tiêu lặng lẽ và vụng về thay tả cho các em bé. Nhiều người không biết ông là người có vợ bị tử nạn trên chuyến bay đầu tiên gặp nạn nói trên.

Một đường dây điện thoại khẩn cấp được thiết lập tại Washington D.C để những cha mẹ nuôi tương lai gọi đến các nhân viên các tổ chức lo vấn đề con nuôi. Bên cạnh hàng ngàn gia đình Mỹ, có cả một số tài tử, chính trị gia, triệu phú, nhận các em bé Việt Nam làm con nuôi. Melody, em bé còn sống sót trên chuyến phi cơ C-5 Galaxy gặp nạn là em bé mồ côi đã được tài tử Mỹ gốc Nga Yul Brynner chờ đón để nhận nuôi. Chính Brynner đã mượn phi cơ riêng của tỉ phú Hugh Hefner, chủ nhân tạp chí Playboy để đưa Melody cùng khoảng 40 em bé khác sang New York. Hay như Kym, một bé gái mồ côi Việt Nam đã may mắn được em gái Tổng Thống Kennedy là bà Jean Kennedy Smith nhận làm con nuôi.

Những em nhỏ từng được di tản trong sứ mạng Babylift ngày ấy nay đã là những người quá tuổi trung niên, trên dưới 50. Ðược các gia đình người Mỹ nuôi nấng từ nhỏ, theo các tự bạch trên các trang mạng, một số người thú nhận rằng họ không hề có những khái niệm hay sự liên hệ gì đến Việt Nam cùng quá khứ. Dù vậy, cũng đã có khá nhiều những trang mạng được thiết lập để những người trong cuộc tìm lại với nhau. Hay thông qua sự bảo trợ của một vài tổ chức cùng giới truyền thông, một số người cũng đã quay về Việt Nam sau vài chục năm với những cảm xúc lẫn lộn, kể từ khi họ được đưa sang Mỹ. Phần lớn là sự tò mò hơn là để tìm lại cội nguồn.

Trong bài thơ “Bản thể” (Identity) mà Jane Burns, một cô bé năm tháng tuổi ngày nào, đã viết bài thơ dài, so sánh giữa người mẹ ruột đã từ bỏ mình trong chiến tranh loạn lạc cùng người mẹ nuôi của mình rằng:

“… I awake from this nightmare and am shivering uncontrollably
Scenes of my biological mother have disappeared
And in her place stands my mother.
The woman who came to the airport to get me
When I was just five months old.
The woman who has been there to share
My laughter
My joys
My tears
And my sorrows.
My mother tells me that even though I did not grow
Under her heart,
I grew in it.
Someday, I may decide to return to my homeland,
But for now,
This is where I belong”

“… chợt rùng mình tỉnh giấc sau ác mộng
mẹ ruột tôi đã biến khỏi giấc mơ
chỗ bà đứng, chỉ còn mẹ tôi đó
người đón tôi chiều phi trường năm ấy,
đứa bé con chỉ vừa năm tháng tuổi
người đã sẻ chia qua cùng năm tháng
những tiếng cười
niềm vui
những giọt nước mắt ngậm ngùi
cùng nỗi buồn của tôi
người đã bao lần từng bảo
mẹ chẳng cưu mang con trong bụng
mà ấp ủ bằng trọn cả con tim
ngày nào đó tôi sẽ về thăm đất mẹ
còn bây giờ
tôi thuộc về chính nơi đây”

(Đinh YênThảo chuyển dịch)

Không biết bao nhiêu sách báo và phim ảnh đã nói về Operation Babylift, nhưng quả chẳng thừa để nhắc đến sứ mạng nhân đạo chứa đầy tình người trong những ngày tháng Tư này. Bởi nhìn lại nỗ lực nhân đạo tột bực này từ nước Mỹ, từ không ít bao nhiêu tấm lòng bác ái và hy sinh của những thiện nguyện viên tham gia Operation Babylift, để nhắc rằng cũng với tinh thần nhân đạo đó, nước Mỹ đã cưu mang hàng triệu người Việt vượt biển cùng những người đến Mỹ qua các chương trình nhân đạo sau này. Nên nếu có ai đó viết câu thơ như Jane Burns rằng “Tôi thuộc về chính nơi đây” thì quả cũng là điều tự nhiên.

Nguồn : Đinh Yên Thảo

THÁNG TƯ

KÝ ỨC THÁNG TƯ

Người ở lại chia cùng tôi khổ nạn
Ngày tháng tư vác thánh giá lên đồi
Nghe hoang vắng ngọn cỏ bồng phiêu dạt
Lay mơ hồ ký ức tuổi thơ tôi.

Đêm rơi vỡ những vì sao mê hoặc
Hứng trên tay buốt lạnh hạt sương buồn
Người cũng thế… chia cùng tôi ngọt đắng
Bên kia bờ còn đau đáu vết thương.

Lời tận tuyệt vẫn xanh màu ảo vọng
Ngày tháng tư vác thánh giá lên đồi
Lỡ đánh mất một thiên đường mộng tưởng
Đành buông tay…
gió tạt buốt hiên đời…

THÁNG TƯ

Kính tặng những người chinh phụ

…Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo Quyên ca… ( Chinh Phụ Ngâm)

Mở trang Quân Sử Tháng Tư
Hồn anh linh cõi mịt mù về quanh
Mở trang Quân Sử…không đành
Tìm thư các
đọc tàng kinh…
nghẹn ngào
Rừng khô biển kiệt tâm hao
Ngàn năm dâu bể biết đâu cội nguồn
Thắp trong đêm một tàn hương
Nghe quanh quất vó ngựa buồn đâu đây
Nẻo quyên ca lỗi hẹn ngày
Hồn theo ngọn gió về lay hiên người…

XIN LỖI CON

Ba không giữ được cho con
Một nguyên vẹn ,
một giang sơn rạng ngời.
Mai kia con bước xuống đời
Tủi thân
con có buông lời trách ba
Nghẹn ngào viễn phố sương sa
Nhánh Phong Du nhớ quê nhà trắng mây…
Chọn thân phận,
chọn lưu đày
Nghe trong tan nát
bóng ngày bay nghiêng
Tiếng chim rã giọng ưu phiền
Mộ ba
nằm khuất bên triền cỏ lau…

TÔN NỮ THU DUNG

THÁNG BA

Tháng ba
Ngày của Việt Nam xưa hấp hối
Tháng ba
Ngày của Ukraine giờ tan hoang
Ngày của ảo tưởng đen tối.
Ngày của tham vọng điên cuồng
Ngày của tội ác hiển hiện
Ngày máu Thánh nhỏ xuống
xót thương…

Tháng ba
Những đứa trẻ gục ngã
Những Thiên Thần cúi đầu
Dâng lời cầu nguyện
Về đâu?
thế giới lầm than.

Tháng ba
Chết cho lý tưởng
Chết cho quê hương
Chết trên chiến trường
Chết trên đường di tản
Về đâu?
nhân loại điêu tàn.

Tháng ba
Những đứa trẻ bị đưa vào trò chơi chiến tranh
hoang mang sợ hãi.
Những đứa trẻ lớn lên trong lẽ phải
Tự tin khoác súng lên đường.
Những đứa trẻ bị huyễn hoặc bởi âm mưu hoang tưởng điên khùng,
Che mặt khóc khi nhận ra sự thật.
Đã quá muộn vì những gì đã mất.
Những hoang tàn đổ nát của thiện lương.

Sự thật là nỗi buồn.
Sự thật là tai ương.
Sự thật là máu và nước mắt…

(Tôi vẫn ngỡ hình như trên Thánh Giá
Chúa rất buồn
đang cúi xuống
buốt đau …)

Tôn Nữ Thu Dung

MURDERER, ME?

(Nhân chuyện nước Nga hôm nay, gửi bạn một câu chuyện về Liên Bang Xô Viết năm xưa.)

Trong giờ ăn trưa, một người làm chung chỗ – tạm coi như bạn khá thân – nói thẳng vào mặt bạn rằng bạn là kẻ sát nhân. Những đồng nghiệp của bạn ngồi quanh bàn ăn, trố mắt nhìn, người yếu bóng vía khe khẽ đẩy cái ghế ra xa hơn chỗ bạn ngồi một tí. Vài người khác lặng lẽ liếc về phía góc tường, chỗ gắn cái điện thoại công cộng, mỗi lần gọi phải bỏ vào cái khe của máy đồng hai mươi lăm xu.

Tim bạn ngưng đập mất vài giây. Bạn tròn mắt nhìn anh chàng đồng nghiệp. Và cả phút đồng hồ sau bạn mới bình tĩnh trở lại, và bạn lên giọng, yếu ớt: “Murderer, Me?”

Có bao giờ bạn lâm cảnh ấy chưa?

Tôi đã từng lâm vào cái cảnh đứng tim ấy. Để thong thả, tôi kể lại cho bạn nghe từ đầu.

Trong số những người làm chung với tôi trong hãng làm cây cọ sơn – những tháng năm đầu đời của tôi ở Xứ Tuyết – có một anh chàng trông giống hệt tài tử Richard Pryor. Giống tới mức nhiều người làm chung xúi anh qua Hollywood nộp đơn – trong thời kỳ chưa nổi tiếng thì – xin đóng thế cho Richard Pryor những lúc cần. Chúng tôi dám chắc anh mà mò đến một phim trường nơi Richard Pryor đóng phim, chắc chắn người ta sẽ nghĩ anh là Richard Pryor thật. Cả hãng chúng tôi đặt cho anh cái tên Richard-Pryor-Hãng-Cọ. Anh chàng Richard của chúng tôi làm công việc chạy máy. Anh rất siêng năng. Giờ nghỉ giải lao hoặc giờ ăn trưa anh với tôi thường đem lunch-box ra sân, ngồi dưới bóng cây, vừa ăn vừa tán dóc.

Anh chàng Richard này và tôi gần gũi nhau bởi cả hai cùng là di dân. Tôi là thuyền nhân. Xuống thuyền ở Rạch Giá, được tàu dàn khoan cứu ngoài hải phận quốc tế và đem vào Pulau Bidong. Con đường của anh chàng Richard-Pryor-Hãng-Cọ vòng vo hơn nhiều. Từ quê nhà, anh vượt biên giới bằng đường bộ, băng qua sa mạc, băng qua những vùng hoang vu, dạt vào những ốc đảo, kết bạn với dân du mục, nương nhờ bóng mát dưới bụng những con lạc đà. Cứ vậy, từ nước này qua nước khác. Bị tạm giam giữ, bị trục xuất, lại “ngựa quen đường cũ”. Cứ như vậy cho đến khi anh được Canada công nhận quy chế tị nạn.

Không như tôi, chỉ một lèo từ Việt Nam qua đến Mã Lai và thẳng đường sang Xứ Tuyết, con đường tìm đến nơi chốn bình yên của anh qua nhiều giai đoạn quá nên tôi không nhớ nổi, và tôi chỉ nhớ được cái tên quê hương anh: Djibouti.

Bạn đã bao giờ nghe đến cái tên quốc gia ấy chưa? Djibouti. Quốc gia nhỏ bé ở vùng Sừng Phi Châu. Với dân số chưa đầy một triệu và sử dụng ba ngôn ngữ chính thức: Pháp, Ả Rập và Somali (Trong khi Canada của tôi dùng Anh và Pháp như hai ngôn ngữ chính thức.)

Giờ ăn trưa, chúng tôi kể cho nhau nghe chuyện cố hương của mình. Chuyện của tôi từ đời vua Hùng, đến 1975 thì ngừng lại; chuyện của anh lại bắt đầu từ 1977, năm mà xứ sở anh Djibouti được Pháp trả độc lập. Anh thích thú nhắc đi nhắc lại con số cử tri bầu chọn việc dành độc lập cho quê hương anh Djibouti: tới 98.8%.

Anh thắc mắc sao tôi không kể tiếp về đất nước mình sau 1975 trong khi anh hãnh diện nói về một đất nước non trẻ nơi người dân thẳng thắn phát biểu ý muốn của họ về một quốc gia độc lập: nước Cộng Hòa Djibouti. Anh khoe phương châm của nước anh là Thống Nhất – Bình Đẳng – Hòa Bình mà tiếng Pháp là Unité – Égalité – Paix. Tôi thích thú lắng nghe. Tôi bảo phương châm của nước anh chắc cũng có họ hàng xa gần với phương châm của nước Pháp: Liberté – Egalité – Fraternité. Anh bảo chắc vậy bởi Pháp đã từng là “mẫu quốc” của quê hương anh Djibouti, hệt như Pháp đã từng làm “mẫu quốc” của Việt Nam.

Tôi tỉ mẩn hỏi anh về đất nước Djibouti. Anh cần mẫn trả lời, rồi bỗng dưng anh hỏi tôi: phương châm nước Việt Nam là gì? Tôi lúng túng. Chẳng lẽ phun ra cái điều gian dối đại khái như: Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc; những thứ mà ở nước VN bây giờ đố ai tìm cho ra.

Rồi chúng tôi chuyện trò về bài quốc ca. Anh rì rầm hát bằng tiếng Ả Rập và dịch ra tiếng Anh bài quốc ca của nước mình đại khái như thế này:

“Hãy vươn lên cùng sức mạnh! Vì ta đã kéo cao lá cờ. Lá cờ bồi đắp bởi muôn vàn gian khổ. Với cơn khát và nỗi đau cùng cực. Quốc kỳ chúng ta, màu xanh lục vĩnh cửu của đất đai, xanh dương của bầu trời, và trắng, màu của hòa bình. Trung tâm là ngôi sao màu máu đỏ. Ơi lá cờ của chúng ta, hình ảnh hào hùng biết bao!”

Rồi anh bảo tôi hát và dịch lời bài quốc ca Việt Nam cho anh nghe thử. Tôi lảng tránh. Nhưng anh cứ đốc thúc mãi, tôi đành gian dối. Tôi hát: Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời, Việt Nam hai câu nói bên vành nôi… Anh khen bài quốc ca Việt Nam có ý nghĩa và sâu sắc. Tôi xấu hổ, lặng im. Anh cứ nói đi nói lại về chuyện quốc ca. Anh than phiền rằng quốc ca nước anh đơn giản quá, rằng nhạc quả có hùng nhưng lời thì thiếu sâu sắc. Nghe anh than thở hoài, tôi đành thú thật là bài Việt Nam, Việt Nam mà tôi vừa hát và dịch lời cho anh nghe chỉ là bài quốc ca trong lòng người Việt, còn bài chính thức của nhà nước thì khác. Anh hỏi thế bài quốc ca hiện tại như thế nào. Tôi bảo tôi không thuộc.

Chúng tôi làm chung hãng một thời gian dài. Và chúng tôi trở thành đôi bạn thân từ lúc nào không hay. Giờ ăn trưa, hai đứa đem đồ ăn mang theo ra ăn chung. Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện. Từ chuyện thuở nhỏ đi học đến những chuyện lẩm cẩm mà hai đứa đã trải qua ở cái thời làm con trai mới lớn. Chúng tôi giúp đỡ nhau, nhường nhịn nhau như hai anh em. Cho đến khi một biến cố lớn lao xảy ra, làm chúng tôi đối mặt với nhau một cách phi lý.

Chuyện như thế này. Ngày 01 tháng Chín năm 1983, phản lực cơ chiến đấu Sukhoi Su-15 của Liên Xô dùng hỏa tiễn không-đối-không bắn rơi chiếc Boeing dân sự của Korean Air Lines, chuyến bay 007 trên không phận vùng biển Nhật Bản, phía tây đảo Sakhalin, làm thiệt mạng 269 hành khách cùng phi hành đoàn. Cuộc tàn sát gây chấn động ấy bị mọi người lên án. Tin tức tiết lộ sau này cho thấy tư lệnh lực lượng phòng không khu vực Viễn Đông Của Sô Viết, tướng Valery Kamensky đã cương quyết ra lệnh tiêu diệt chiếc KAL 007 cho dù nó đang bay trên vùng hải phận quốc tế nếu như xác định được là đó không phải máy bay chở hành khách.

Thuộc cấp của ông ta, tướng Anatoly Kornukov nhất quyết cho rằng không cần nhận diện nữa bởi “kẻ xâm nhập” đã bay trên không phận bán đảo Kamchatka của Liên Xô.

Bản tin chấn động ấy lan vào hãng cọ. Công nhân viên lao xao bàn tán ngay cả trong lúc đang chải lông cọ. Và ngậm ngùi thương cho số phận những hành khách vô tội trên chuyến bay.

Giờ ăn trưa, trời mưa tầm tã, chúng tôi rút vào ngồi trong phòng ăn với mọi người. Anh bạn Richard-Pryor-Hãng-Cọ của tôi lầm lì nhai bánh mì. Mọi người lặng lẽ với phần ăn trưa của mình. Không ai nói gì với ai. Không khí keo đặc.

Rồi anh Richard-Pryor-Hãng-Cọ bỗng buột miệng, như không thể nén thêm được phút giây nào nữa: “Tụi Cộng Sản Liên Xô tàn bạo không tưởng tượng được. Biết là máy bay dân sự mà vẫn bắn rơi. Đúng là bọn sát nhân!”

Thấy anh yên lặng biết bao lâu, bỗng dưng lớn tiếng phát biểu, tôi tán đồng, “Đúng là bọn sát nhân!”

“Cả thế giới đều lên án,” anh tiếp.

“Đúng, làm sao mà không lên án cho được,” tôi phụ họa.

Anh tiếp, “Cả thế giới chỉ có ba đứa vỗ tay reo mừng.”

Tôi ngẩn người ra, nhìn Richard-Pryor-Hãng-Cọ, chờ anh nói thêm cho rõ.

Anh nhìn những khuôn mặt đồng nghiệp – đủ mọi sắc dân – quanh bàn ăn, rồi tia nhìn ấy dừng lại ở tôi. Anh chậm rãi nói, “Thằng Cuba, thằng Tàu và tụi Việt Nam chúng mày.”

Sựng lại mất một giây, tôi phản đối yếu ớt, “Chỉ có bọn Cộng Sản Việt Nam vỗ tay thôi, ông ạ.”

Anh bạn tôi vắn tắt một câu làm tôi chết đứng, “Thì cũng là Việt Nam!”

Và trước khi bỏ đi, anh ném cho tôi phán quyết sau cùng, “Đồng lõa với bọn giết người thì cũng chẳng khác gì chính mình đi giết người. Murderer!” Đám đồng nghiệp tròn mắt ngó anh, rồi nhìn sang tôi. Anh mỉm cười – phủi tay – sau câu nói và ôm cái hộp đựng đồ ăn trưa ra chỗ vòi nước rửa tay.

Tôi lắp bắp, “Murderer, Me?”

Bạn cũng biết ở Việt Nam nói tới chữ giết người chẳng ai thèm để ý bởi mạng người bên ấy rẻ, nhưng ở Bắc Mỹ khi nghe nói đến chữ murderer thì ai cũng tròn con mắt nhìn (và không chừng còn báo cảnh sát nữa.)

Tôi lúng túng nhìn đám đồng nghiệp, và cố mỉm cười. Cô đồng nghiệp người Bồ Đào Nha mà công việc là liên tục dán nhãn hiệu lên cây cọ – nghe không rõ nhưng cũng đẩy nhẹ cái ghế ra xa, trợn mắt hỏi: “Ai giết ai?” Anh chàng người Hungary chuyên đóng cọ vào thùng để gửi cho khách hàng vươn cao cái cổ dài: “Mày giết ai vậy?” Người đàn ông Salvador kín đáo liếc mắt về phía cái điện thoại công cộng ở góc phòng.

Khỏi nói bạn cũng biết tôi mất cả nửa tiếng giải thích cho đám đồng nghiệp hiếu kỳ về chuyện chuyến bay dân sự KAL-007 của Nam Hàn bị không quân Liên Xô bắn nổ tung thành hàng ngàn mảnh vụn rơi xuống biển Nhật Bản. Và thêm chuyện đám đàn em cộng sản vỗ tay reo mừng, trong đó có nhà nước Cộng Sản Việt Nam. Và tôi nhấn mạnh là tôi và hàng triệu người Việt Nam khác không hề vỗ tay tán thưởng hành động sát nhân của Liên Bang Xô Viết. Tôi hăng hái giải thích rằng bọn Cộng Sản Việt Nam đã từng không chùn tay trước bất kỳ hành vi ác độc nào miễn sao ý đồ của bọn cộng sản đàn anh được thực thi trên đất nước mình. Tôi bảo bọn chúng là Việt Cộng chứ không phải Việt Nam nói chung.

Một ông trung niên người Québec chuyên chạy máy cắt gật gù, “Cậu nói đúng, nhưng thằng Richard-Pryor-Hãng-Cọ nói đúng hơn. Chuyện Việt Cộng hay không Việt Cộng chỉ liên hệ đến người dân Việt Nam mấy cậu thôi, ra khỏi cái tầm quốc gia thì ý niệm ấy không còn quan trọng nữa. Cũng như vượt ra ngoài cái tầm nhân loại, từ hành tinh khác nhìn về trái đất thì bọn người ngoài hành tinh chỉ biết có loài người – humankind species và các loài thú cùng thảo mộc. Vậy thì bọn Việt Nam nhà cậu đúng là đồng lõa với bọn sát nhân Xô-Viết, chống lại nhân loại.”

Bạn thân mến. Câu chuyện ấy in đặm trong trí tôi từ dạo đó. Rời hãng cọ, tôi mất liên lạc với tất cả những người cùng làm. Tôi cũng mất liên lạc với anh chàng Richard-Pryor-Hãng-Cọ. Chắc hẳn anh đã đi học lại, thành công và lập thân ở một khung cảnh khác không còn vướng víu cái cổ xanh thuở ban đầu. Ông trung niên chạy máy giờ này chắc đã về hưu, và hẳn vẫn khư khư cái ý niệm “Bọn Việt Nam đồng lõa với bọn sát nhân Xô-Viết chống lại nhân loại.”

Từ đó mỗi khi có ai hỏi, “Bạn từ đâu tới?” hay “Phải bạn là người Việt Nam không?” Tôi lại ngập ngừng không biết người hỏi có phải đang có trong đầu hình ảnh những mảnh vụn trôi bập bềnh trên biển ít ngày sau khi chiếc máy bay của Hàng Không Đại Hàn bị Không Quân Liên Bang Xô Viết bắn hạ.

Và tôi thủ sẵn câu trả lời năm xưa, để thốt ra cái giọng cay cú, “Murderer, me?”

Hoàng Chính

DẶN DÒ…

hãy là xuân. hãy là hoa
hãy là nắng mịn. hãy là mưa nhung
hãy là một chiếc ô chung
hãy là bánh mật ngậy vàng khoé môi

đừng khuyết tên một chỗ ngồi
đừng gieo tuyệt vọng trên đồi nguyệt ca
đừng đến gần. đừng đi xa
“hãy ngồi yên đấy nghe ta ru tình”*

hãy là khăn tím hiền lành
choàng hờ hững giữa ngực thanh tân này
để anh kịp chặn gió bay
nhốt hương thiếu nữ cho đầy ngày vui

đừng ươm thương nhớ bời bời
đừng khoả tay hất tình rơi mất tình
đừng căng sợi chỉ hồng xinh
hãy cuộn tròn buộc tim mình với nhau

hãy yêu thương. hãy ngọt ngào
hãy mãi mãi. mãi lần đầu nghe em
hãy lành lặn một chữ duyên
hãy là tiền kiếp nối nguyền mai sau.

Lê Hát Sơn

LIÊU XIÊU BÓNG ĐỔ

Xin chiều đừng vội vàng đi
Để tôi nghe tiếng thầm thì của mưa
Để tôi ngồi đợi giao mùa
Có mênh mông tiếng gió lùa qua cây

Xin chiều nán lại ở đây
Chia buồn với những đám mây lạc đường
Bóng chim xao xác gọi buồn
Có tôi và góc sân vườn lạnh tanh

Đường về sương lối dốc quanh
Ai đem chút lửa để dành hơ đây?
Xin chiều đừng vội chia tay
Hơi kia ấm cả đời này vắng nhau

Xa rồi phố thị chiêm bao
Xin chiều nhỏ chút lệ sầu vào thơ…

TRẦN VĂN NGHĨA

Lòng Chợt Mưa Xuân


Một cánh mai sớm nở
Nụ trên cành đắn đo
Em theo Xuân về vội
Chút xao xuyến bất ngờ

Mùa lên cùng hoa lá
Lộc đâm chồi tinh khôi
Hỏi chăng lòng có nhớ
Tình xưa, tình đơn côi

Tình xưa nhen nhúm nở
Tay ngại tìm tay nhau
Môi hôn thèm tắt thở
Nắng hững hờ sân sau

Ngây thơ tình gió vội
Len lén rét xuân vừa
Em theo đoàn lữ thứ
Xa dặm ngàn quê xưa

Em về theo nỗi nhớ
Chuông tiền kiếp vọng ngân
Hoàng lan hoa bỗng nở
Ngát hương chiều mưa xuân

                         Lê Thụy Vi

ĐỂ GẶP NHAU CUỐI ĐƯỜNG

Tôi đã không thể chết,
Vì Người còn đợi tôi.
Người đã không thể chết,
Bởi tôi còn chờ Người.

Hai biên cực trái đất,
Đôi cánh tay chơi vơi.
Trong tim đau thảm thiết
Vọng tiếng kêu, Tình ơi!

Theo chân mặt trời mọc,
Người bước lả trên đường.
Tôi lạc trong hoang mạc,
Ngã chúi vào đêm sương.

Không, Người đừng bỏ cuộc,
Tôi đã đứng dậy rồi!
Đời tôi chưa thể hết,
Người còn đang tìm tôi…

Hai cõi hồn kỳ tuyệt,
Một định mệnh lạ lùng,
Phải băng qua cõi chết,
Để gặp nhau cuối đường…

TRÂN SA