GỌI

Gọi người từ phía hoàng hôn
nghe câu tử biệt
rợn buồn sinh ly,
Bến Vân Lâu chẳng hẹn kỳ
trùng lai nội cỏ
thầm thì hạt sương.
Gọi người từ phía tà dương
có chờ ta
cuối con đường trắng mây.
Một mai tàn cuộc
buông tay,
nghiêng vai cho gió về lay dặm buồn.
Biết còn viễn phố giăng sương.
Biết còn tan hợp mây tuôn non đoài.
Lòng ta gác xế u hoài,
Cuối trời một bóng đổ dài hoang vu…

(…Nếu xưa đừng lạc lối về
Trao yêu lơ đãng
quên thề trăm năm…)

Tôn Nữ Thu Dung

Advertisements

TÌNH QUÊ CỐ QUẬN

Tặng Bạn Trời Quê

Đi đâu rồi cũng quay về
Chân trời Cố Quận Tình Quê mặn nồng
Yêu sao đáng núi lòng sông
Mùa thơm hương lúa cánh đồng tuổi thơ
Sao quên mắt mẹ trông chờ
Tiếng cười san sẻ bạn xưa ấm nồng
Dẫu phiêu bạt cánh mây bồng
Hồn ta tựa bóng trăng lồng trời quê!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Một người Nha Trang


(Ảnh sưu tầm trên mạng)

Một cách gần gũi, người ta gọi đó là Lầu Ông Tư, để chỉ ngôi nhà ba tầng lầu kiến trúc hình hộp giản dị nằm cuối con đường biển, gần giáp với cửa sông, bốn mặt thông thoáng lộng gió. Nhà ông ở đầu Xóm Cồn, bên kia sông là Xóm Bóng, nơi những ngư dân đầu tiên của vùng đất này ngụ cư bám biển sinh nhai. Ngôi nhà đã sừng sững nơi đây từ đầu thế kỷ 20, khi mà suốt dọc con đường biển còn hoang sơ này chưa hề có bóng lưu dân mà chỉ có rải rác những dinh thự, tu viện, tòa hành chính…
Khi tôi lớn lên thì Lầu Ông Tư vẫn còn nguyên hiện trạng, mỗi lần đi ngang tôi đều được nghe cha nhắc, ngày xưa đó là nơi ở của ông Tư Yersin, nhà bác học người Pháp gốc Thụy Sĩ. Rồi biết thêm, chính là cái ông pho tượng màu đen trong khuôn viên viện Pasteur cách đó không xa. Theo thuyền viễn xứ vị bác sĩ quân y trẻ đặt chân đến vùng biển hiền hòa này từ năm 1891 khi nó còn chưa có tên trên bản đồ, ông đã một mình sống ở đây như dân bản xứ gần hai phần ba đời người hiến thân cho khoa học, đi đâu cũng quay về lại. Sáng sớm tắm biển rồi đi làm, chiều đạp xe vô trong xóm chơi, ăn con cá sinh ra từ đại dương trước mặt, uống nước giếng từ mạch ngầm, hít thở khí trời hào sảng chung quanh. Một người khi lìa đời để lại di nguyện gởi thân xác nơi nào ắt nơi đó cũng sâu đậm không kém quê hương của mình, thậm chí còn xin được đặt úp sấp vào lòng đất, tay dang rộng. Cha kể, đám tang của ông năm 1943 dân Nha Trang đổ ra bái biệt chật đường, nhiều vành khăn tang tự nguyện, cùng nhau đưa ông về an nghỉ vĩnh viễn trên một ngọn đồi nhỏ ở Suối Dầu. Suối Dầu cách Nha Trang 20km, là nơi ông lập trang trại, phòng thí nghiệm, vừa chăn nuôi lấy huyết thanh, trồng cây thuốc.
Lầu Ông Tư trong ký ức của một đứa trẻ ngày ấy chính là huyền thoại. Đi đâu làm gì hay chỉ đơn giản là cần một cái mốc để xác định phương hướng thì người ta hay nói, chỗ Lầu Ông Tư, phía Lầu Ông Tư, sau Lầu Ông Tư … Các cặp tình nhân của thập niên 50 còn lấy Lầu Ông Tư làm nơi hò hẹn, bởi nơi đó ban đêm trống trải không người ở, lại cao ráo thoáng mát nhìn ra biển rất hữu tình. Sau năm 75 thì Lầu Ông Tư đã bị đập bỏ, thay vào đó là một kiến trúc mới tương đối bề thế hơn làm nhà nghỉ cho Bộ Nội vụ. Vừa thay vỏ vừa thay ruột, nhưng hỏi dân địa phương thì mười người hết chín chẳng biết cái nhà nghỉ nào cả, chỉ biết chỗ đó là Lầu Ông Tư mà thôi. Một trong những con đường đẹp nhất ở Nha Trang được mang tên ông từ thập niên 50 như một sự tri ân, may mắn số phận đã giữ lại được tên bậc vĩ nhân cho nó chớ không âm thầm biến mất như các tên đường Gia Long, Duy Tân, Hàm Nghi…
Một ngày của hơn mười năm trước, tôi và bạn lần đầu tìm đường về thăm mộ người. Từ quốc lộ 1 đi theo con đường đất hẹp rợp bóng cây vài trăm mét rồi ôm theo vòng đồi thấp là tới khu vực ông an nghỉ. Sau cánh cổng sắt khép kín và dãy hàng rào kẽm gai giăng ngang lổn ngổn là một lối đi lát đá phủ đầy lá khô với những bậc cấp thấp dẫn lên phần mộ. Không có ai nơi này, bất đắc dĩ phải trèo rào đạp gai góc chui vô. Ai cũng cảm thấy sửng sốt trước mộ của một vĩ nhân tầm cỡ thế giới, người được nhân loại mang ơn bởi những phát minh làm thay đổi lịch sử y học vì nó quá sức giản dị và khiêm nhường. Khá thấp, vuông vức, trên mặt là phiến đá ghi đúng dòng chữ ALEXANDRE YERSIN 1863-1943, chỉ có vậy, không danh hiệu huy chương học hàm. Một cái thủ kỳ có di ảnh và bát nhang ở cạnh đó mang đậm phong tục thờ cúng của dân địa phương. Hoa sứ trắng thơm ngát và rụng đầy chung quanh. Khung cảnh thanh bình và tịch mịch, cô liêu quạnh quẽ.
Đứng ở nơi này có thể nhìn thấy Hòn Bà mây phủ phía xa xa, có độ cao hơn 1.300m, cách hơn 30 km đường mòn khúc khuỷu và hiểm trở. Ngày xưa khi đặt đại bản doanh ở vùng đất Suối Dầu này chắc không ít lần nhà bác học có máu thám hiểm Yersin nhíu mày nhìn về phương ấy. Có lẽ ông đã nghĩ đến một Đà Lạt thứ hai sau khi đã phát hiện ra viên ngọc tuyệt đẹp này trên cao nguyên Lang biang cho Việt Nam. Và dòng máu phiêu lưu trong ông lại tiếp tục lan chảy, thôi thúc người đi về phương ấy. Chắc chắn khi đó đường chưa mở, không phương tiện xe cơ giới, có lẽ người đã rong ruổi một mình một ngựa trèo đèo vượt suối …
Có bao nhiêu chuyến độc hành gian truân như vậy để đỉnh Hòn Bà ngày nay còn lưu lại bóng dáng của Người?
Tôi đã hình dung ra điều này khi cùng bạn đi lên đỉnh Hòn Bà sau khi vào mộ viếng ông. Cái con đường mòn ấy đi qua sông suối thác ghềnh, đèo dốc thung lũng, rừng rậm nguyên sinh, và cả sự đe dọa của thú dữ, tính từ Suối Dầu lên là dài hơn 30 cây số nay đã được san ủi mở rộng thành đường tráng nhựa trơn tru, sáng sủa. Nhưng có lẽ không khác ngày xưa, khi suốt chặng đường núi hiểm trở vắng vẻ vẫn bàng bạc cái không gian thanh tịnh, lắng đọng, càng lên cao càng mở toang ra phía trước ta một chân trời mới thật sự tinh khiết trong lành.
Trên đỉnh Hòn Bà, tôi đã lặng người khi ngắm nhìn và chạm tay vào những dấu vết mà người xưa đã để lại nơi đây. Biết rằng gần trăm năm trước, nhà bác học lãng mạn Yersin đã chọn nơi này để xây dựng cơ sở làm trạm quan sát nghiên cứu thiên văn khí tượng, và làm vườn sinh học. Nghe nói ông thường xuyên dong ngựa đi về Hòn Bà – Suối Dầu một mình, có khi ở lại trên núi hàng tuần, hàng tháng. Sự hiện diện đâu đây của con người vĩ đại này có thể dễ dàng hình dung ra qua những dấu xưa còn lại, một cái nền nhà bằng đá hoa cương và những bậc tam cấp dày rêu, bể chứa nước, tầng hầm… chớ không phải chỉ ở ngôi nhà gỗ phục chế theo tư liệu. Và có rất nhiều gió ngang qua đây, u u lồng lộng, buôn buốt lạnh, mang theo hương rừng, tiếng rừng, và cả hồn rừng mênh mông huyền bí. Đến tiếng ve, tiếng mang tác, tiếng vượn hú, tiếng chim ríu rít…nghe cũng lạ, cũng gieo vào ta lắm nỗi niềm như chạm người muôn năm cũ.
Giữa trưa đứng bóng vẫn có thể nhìn thấy những sợi mây đang sà xuống, là là bay ngang rất gần. Và sơn lam trắng mờ đang tỏa ra ôm ấp theo triền núi trước mặt, thực mà như mộng ảo. Không gian của núi rừng đã thâm u lại càng thêm kỳ bí, không một bóng người ngoài tôi và người bạn đi cùng, tiếng nói của mình cứ lan ra, lườn lượn là lạ rờn rợn.
Sao nhà bác học có thể sống ở đây một mình, qua từng đêm, từng đêm như vậy?
Nhà văn Patrick Deville viết, “Yersin là một con người đơn độc. Ông biết rằng không sự kỳ vĩ nào được thực hiện ở số nhiều. Ông căm ghét bè nhóm, ở đó hàm lượng trí tuệ tỉ lệ nghịch với số lượng thành viên tạo nên đám đông ấy. Thiên tài luôn đơn độc.”
Cảm ơn nhà bác học thiên tài đã chọn Nha Trang.
Tôi và bạn cũng chẳng ở lại trên đỉnh Hòn Bà quá nửa buổi, phải cùng nhau xuống núi. Người bạn của tôi không phải dân Nha Trang, nhưng trót yêu thương một phụ nữ Nha Trang mà suốt đời cảm tạ miền đất trời quê hương đã sinh dưỡng nàng. Tôi nghĩ, chỉ cần vậy thôi bạn ấy đã là một người rất Nha Trang hơn khá nhiều người nơi này như tôi đã biết.

ÁI DUY

CHIỀU ĐƯỜNG THI

“em gầy như liễu trong thơ cổ
anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường”
…nguyên sa

anh cau có nhận ra điều tan vỡ
như cau xanh rồi xa lánh trầu không
như miếng vôi thôi dan díu môi nồng
anh khánh kiệt thật rồi…bao yêu dấu

chiều thinh khiết mùi thời gian hư ảo
anh dầm mình theo bóng nhớ em xa
câu Đường thì ngấm nỗi sắt se…và
anh đau đớn nhận ra Chiều-Có-Thật

không giấy trắng cũng chẳng cần bút mực
anh thả thơ lên khoảng lặng nghìn trùng
liệu có chữ nào rớt chỗ em không
anh hỏi vậy rồi băn khoăn:thôi kệ !

cuộc sống vốn xoay quanh nhiều trắc trở
nhiều bất ngờ không định dáng định tên
chiều Đường thi thích Lý Bạch ngông nghênh
thương đứt ruột cánh hạc vàng Thôi Hiệu

anh đang sống giữa kỷ nguyên ảo diệu
với bao điều “không thể”vẫn rõ bâng
chỉ thua một người.là em đấy.biết không
tình vốn vậy và lòng người vốn vậy

anh hơ tay lên chiếu vàng run rẩy
chiều Đường thi lay lắt thấu tâm can
buồn xốn xang trong cái nhớ hổn mang
câu thơ cũ sao nỗi tình rất mới

chiều-Đường-thi anh rùng mình khắc khoải !

LÊ HÁT SƠN

ƠI TÌNH… .

ơi mưa có hạt qua đâu
mà trong khóe cả mùa ngâu chực chờ
mưa nào phải đã bây giờ
mà cầu ô thước hiện mờ trong sương

**
cầu ô thước gãy uyên ương
ơi ngưu lang chức nữ tương tư hoài
để mây lặng lẽ đông đoài
hai phương trời mộng trong ngoài chiêm bao

**
hai phương trời mộng hư hao
bướm vàng bờ giậu đành ao ước tàn
ơi lan sao khép hương ngàn
chi cho điệp giấc ngủ làn mong manh

**
điệp bờ cỏ giấc thiên thanh
nghe chuông chiều gõ long lanh giọt buồn
nghe tiền kiếp gió ngọn luồn
ơi đông chưa giá buốt nguồn dường đang

**
ơi trăng khuya dải lang thang
tìm ngơ ngẩn dấu sáo sang ngang ngày
tìm ngơ ngẩn buổi lạc bầy
sóng dâng trắng khói đổ đầy biển dâu

**
sóng dâng trắng khói mắt sâu
môi từ ly
chợt thốt câu
ơi tình… .

PHẠM HIỀN MÂY

Người Đi Chưa Tới Ngày Xưa

Thưa em tình đã nhạt màu
Ta xin gói lại cất vào trong thơ
Đường chiều có gã cù bơ
Lang thang cù bất vu vơ cù lần

Tim gieo nhịp lẻ sai vần
Lạc tình xa lạc cả thân phận này
Ánh vàng lướt dọc chân mây
Cánh đồng xanh lỡ ngậm đầy hoàng hôn

Quay lưng chạm trán nỗi buồn
Xô buồn bất chợt buồn hơn bao giờ
Người đi chưa tới ngày xưa
Ngoảnh trông bóng xế còn đưa bóng tình

Dưới đèn chữ tợ hàng binh
Lòng như giấy rách còn vinh quang nào
Vun giồng ướm hạt ca dao
Đồng quê nay cũng lao xao một tuồng

Hụt chân bồi lở vịn nguồn
Gieo vui chờ gặt vãi buồn chờ khuây
Đêm đêm tình đứng trên tay
Mượn thơ vá chiếc áo ngày vàng xưa!

Lưu Xông Pha

Một lần với anh Hoài Khanh

Tưởng niệm thi sĩ Hoài Khanh, mất ngày 23/3/2016


thi sĩ Hoài Khanh

Tôi nhớ đó là vào những ngày hè cùa 10 năm trước. Bạn tôi, nhà thơ Tâm Nhiên từ Biên Hòa Đồng Nai mời anh Hoài Khanh về Rạch Giá chơi và thế là vài anh em văn nghệ có dịp hội ngộ tại nhà tôi. Rượu bày ra và say túy lúy. Nhà thơ Linh Phương (tác giả Kỷ vật cho em), nhà thơ Tâm Nhiên (du sỹ), nhà thơ Đỗ Ký (Đồng Tháp)… cùng đến chúc mừng chuyến hành phương tây của anh Hoài Khanh.
Lần đầu được diện kiến với bậc đàn anh văn nghệ nầy (Hoài Khanh là bạn thân của thi sĩ Bùi Giáng và nhà thơ Phạm Công Thiện… lúc anh còn phụ trách nhà xuất bản Lá Bối – Sài Gòn) và cũng là bạn thân của nhà thơ Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát… Chuyến về Rạch Giá, anh dự tính ra đảo Lại Sơn, nơi Tâm Nhiên đang dạy học, rong chơi vài ngày. Sức khỏe anh lúc nầy vẫn còn tốt, đôi mắt tinh anh, gương mặt tràn đầy niềm vui chứ không như thi sĩ Phạm Công Thiện diễn tả nét mặt của Thi sĩ Hoài Khanh đầy u ám và gần như là tuyệt vọng mà tôi đọc trong tập hồi ký PCT khi hai chàng gặp nhau ở Đà Lạt vào mùa xuân 1966.

Tính uống vài chai rồi sau đò về nhà Linh Phương chơi tiếp nhưng rồi hứng quá, mấy anh em ngồi xuống đất, cởi trần a lô zô suốt cả buổi chiều. Tôi nhớ những câu thơ thần sầu của anh Hoài Khanh đọc : tôi lẩn trốn vì biết mình không thể… mây của trời rồi gió sẽ mang đi… hay một mai con nước xa nguồn… thì con sông ấy sẽ buồn với tôi… hay tôi đứng lại bên cầu thương dĩ vãng… nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu. Anh cứ ngâm nga suốt chiều hôm ấy.
Anh Hoài Khanh tính điềm đạm, ít nói nhưng hay cười. Anh cảm động vì có nhiều anh em còn nhớ thơ anh. Nhà thơ Linh Phương ít uống rượu nhưng không hiểu sao hôm ấy cũng túy lúy với anh. Vui quá, anh Đỗ Ký lại mang đàn ra chơi. Xóm tôi dân lao động, thấy mấy ông nhà thơ say quắc cần câu, í a í ới vui quá nên tụ lại thành đám đông, vỗ tay rần rần. Và có dịp cho thi sĩ Tâm Nhiên đứng lên múa may quay cuồng du sĩ ca… giống hệt Bùi Giáng.
Sáng hôm sau, anh rủ tôi, Linh Phương và Đỗ Ký xuống tàu ra đảo Lại Sơn (cách Rạch Giá khoảng 50 hải lý) cùng với Tâm Nhiên. Lúc bây giờ là mùa hè, ngoài đảo khan hiếm nước ngọt. Mỗi người phải mang theo một can nước ngọt 20 lít xuống tàu để uống và rửa mặt, rất khó khăn. Con gái tôi sáng hôm ấy lại trở bệnh nên tôi không đi được cùng anh. Thật tiếc. Đưa anh xuống tàu, trên đường vào bệnh viện thăm con, tôi cứ tự trách mình… Nhưng biết làm sao được.
Từ hải đảo, Tâm Nhiên điện về cho tôi, báo tin anh Hoài Khanh ra chơi vui lắm. Du sĩ đưa anh rong chơi khắp đảo, non xanh nước biếc, sơn thủy hữu tình nên anh Hoài Khanh cứ tấm tắc và ước gì được nhiều lần đến đây. Nhưng cái khoảng nước ngọt thì gay… Mấy ngày không có nước ngọt tắm gội, khó chịu quá nên chỉ 2 hôm ra đảo là Hoài Khanh không chịu nổi, phải đành khăn gói về đất liền.
Tôi đón anh ở bến tàu Phú Quốc rồi sau đó cùng rủ vài anh em văn nghệ địa phương ngồi nhậu trước nhà Linh Phương. Anh im lặng, chỉ cười nên anh em hứng lên đòi anh đọc thơ cho nghe. Anh ngồi suy tư, đôi mắt đầy tâm trạng. Cuộc chơi đến khoảng 8 giờ tối. Anh rủ tôi cùng xuống khu lấn biển gần đó, hai anh em ngồi tâm sự.
Không bao giờ tôi quên được đêm ấy. Cũng nhắc là bấy giờ, tôi đang bị Hội văn nghệ địa phương đánh tơi tả về một sự cố văn nghệ, quy chụp về chính trị mà tôi và nhà thơ Linh Phương là nạn nhân (tôi sẽ không kể ra đây nhưng chỉ biết sau đó tôi và Linh Phương bị khai trừ ra khỏi Hội văn nghệ cho đến giờ).
Anh ít nói là thế, mà khi ngồi cùng tôi, anh bỗng nói nhiều, tôi không kịp ngắt lời. Như nắm được toàn bộ câu chuyện từ khi nào, anh tâm sự với tôi về anh, về những ngày gian khổ sau cải tạo ở Biên Hòa, nơi anh tự đặt tên mình là Hành Khoai (tức Hoài Khanh) – có nghĩa giờ chỉ còn biết cuốc đất, làm vườn, xa lánh thị phi, từ bỏ các hội đoàn, nếu còn viết thì chỉ cho mình đọc, không gửi bài cho bất cứ ai mà cũng không trông chờ vào lòng thương của người khác. Không hiểu anh muốn an ủi tôi không về sự cố không may trong đời nhưng tôi biết, anh muốn chia sẻ với tôi về sự việc đáng buồn của cuộc đời tôi.
Anh kể tôi nghe nhiều về đời anh, về thơ anh. Tôi hiểu và điều nầy không biết đúng không. Anh cô đơn quá, cô đơn hơn bất cứ nhà thơ nào (giờ tôi đọc lại Phạm Công Thiện viết về anh, mới hiểu điều ấy). Cô đơn đến tận những giấc mơ, như lời anh kể cho tôi và rồi anh kết luận: làm nhà thơ là phải đối diện với cô đơn… sáng tạo của người nghệ sĩ chỉ đến từ cô đơn thôi, Phúc ạ…
Hai anh em ngồi nói chuyện cho đến 1 giờ khuya. Qua chuyện đời anh, tôi biết nỗi buồn mình chỉ như hạt cát và nguôi ngoai dần.
Biết tôi nghiện thuốc, hôm về Biên Hòa, anh mua tặng tôi cây thuốc hút. Tôi đưa anh vào nhà sách Đông Hồ gần đấy mua cuốn tuyển tập Những truyện ngắn hay của báo Tuổi trẻ có bài của tôi tặng anh. Mấy ngày sau, từ Biên Hòa, anh gửi tặng tôi cùng nhà thơ Linh Phương vài tập thơ của anh. Và từ đó, tôi không được gặp anh nữa. Tôi nhớ hoài gương mặt khắc khổ và mái tóc dài của anh lấp lánh đôi mắt thông minh từ chiếc mắt kiếng hầu như che trùm khuôn mặt.


Nhà văn Trần Yên Hòa bên giường bệnh thi sĩ Hoài Khanh

Những ngày anh sắp mất, đọc trên các số báo, biết tin nhà văn Trần Yên Hòa ở hải ngoại có về thăm anh. Nhìn hình chụp anh bệnh nằm trên giường mà tôi không cầm được nước mắt và càng trân quý tình cảm, tấm lòng của anh em bạn bè văn nghệ khắp nơi vẫn còn nghĩ về anh.
Giờ thì anh đã đi xa. Viết cho anh những dòng nầy như một tưởng niệm đẹp về người nghệ sĩ tài hoa nhưng đầy lận đận. Như một nén nhang thắp trên bàn thờ anh nhân 3 năm anh rời cõi tạm.
Thương anh, nhớ anh, anh Hoài Khanh ơi…

Nguyễn Minh Phúc

VÀI KỶ NIỆM VỀ NHẠC VŨ THÀNH AN.

1. Tôi biết đến nhạc Vũ Thành An từ năm 1969 khi đang học dự bị MPC Đại học Khoa học Đà Lạt. Hè năm ấy, SV Đại học Đà Lạt được gửi xuống Quân trường Lam Sơn gần Dục Mỹ, cách Nha Trang 45km để học quân sự trong chương trình Quân sự Học đường, chuẩn bị kiến thức cho SV khi phải cầm súng.

Từ Đà Lạt, vào phi trường Cam Ly đi máy bay C123 xuống phi trường Nha Trang rồi xe quân sự chở ngay ra Lam Sơn. Chương trình kéo dài 5 tuần lễ, học các kiến thức quân sự căn bản để trở thành một người lính như sử dụng vũ khí, bắn súng, chiến thuật, cách đọc và dùng bản đồ địa hình . . . Nam SV các khoa sắp xếp thành một tiểu đoàn, mỗi khoa là một đại đội, học hành, ăn ở như một tân binh quân trường.

Hôm ấy chúng tôi học chiến thuật vào ban đêm. Sau bữa cơm chiều, trước giờ học, tiểu đoàn đốt lửa trại sinh hoạt, anh tiểu đoàn trưởng là SV năm tư Chính trị Kinh doanh lên hát góp vui bài “Tình khúc thứ nhất” của Vũ Thành An. Giữa núi rừng đêm, bên ánh lửa bập bùng, tiếng đàn guitare thùng và giọng hát trầm ấm của anh lôi cuốn tôi – một người yêu âm nhạc, biết và thuộc khá nhiều nhạc tiền chiến, dân ca và cả giòng nhạc Bolero 1960-65 – một cách khá đặc biệt, nhất là khi luôn trong tâm trạng nhớ nhà, nhớ thành phố, không người tâm sự ngoài bạn học cùng lớp nay trở thành đồng đội. “Tình vui, theo gió mây trôi, ý sầu rơi xuống đời. Lệ rơi, lấp mấy tuổi tôi mấy tuổi xa người. .”, “Tình vui, trong phút giây thôi, ý sầu nuôi suốt đời, “Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai. . .” những câu hát cứ làm tôi bâng khuâng, xao xuyến mà không hiểu vì sao?.

Năm sau về Huế học, tôi có nhiều dịp nghe nhạc của người nhạc sĩ tài hoa này và thuộc được khá nhiều “bài không tên” bên cạnh bài “Tình khúc thứ nhất”. Khi biết rằng có hai bản nhạc Vũ Thành An phổ thơ Nguyễn Đình Toàn (“Tình khúc thứ nhất” và “Anh đến thăm em đêm ba mươi”sáng tác khi đang ở Dưỡng Trí Viện Biên Hòa) tôi càng thích thú hơn vì tinh thần triết Đông với tư tưởng “Âm trung hữu dương căn/ Dương trung hữu âm căn” thấm đẫm trong từng ý nhạc.

2. Năm 1973, tại đêm sinh hoạt Đại Hội Liên Đoàn SV Công Giáo Huế, tôi mới được gặp Vũ Thành An. Anh cao lớn, đẹp trai, râu quai nón, với giọng Bắc trầm ấm, anh hát hai bài tặng những người có mặt “và riêng tặng các chị cư xá Mai Khôi”(Cư xá Jeane D’Arc ngày ấy). Đó là “Anh đến thăm em đêm ba mươi” và một sáng tác mới “Một lần nào cho tôi gặp lại em”. Được gặp một nhạc sĩ mình mến mộ, được nghe anh hát, với tôi là một hân hạnh. Có lẽ đây cũng là tâm trạng chung của những người sinh viên yêu âm nhạc ngày ấy. Hãy tưởng tượng, bạn đến thăm nàng “đêm ba mươi”, tận cùng năm, tận cùng tháng, tận cùng ngày, không gặp nàng nên phải “nói với người phu quét đường, xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em”. Lãng mạn và đa tình quá phải không?

3. Từ một “Phó tế” ở Mỹ, Vũ Thành An về Việt Nam theo đuổi một số công việc từ thiện. Dịp này, Vũ Mạnh Hà phỏng vấn ông và gửi cho BBC Vietnamese (*) mà tôi có duyên được đọc. Từ đây, điều ngày xưa nhóm bạn chúng tôi thường nhận định về ông được xác nhận: ông là người “khổ vì tình”. Điều này thể hiện qua nhiều tình khúc của ông, nhất là qua chuỗi những “Bài không tên”. Những trích dẫn dưới đây trong ca từ của một số bài nói lên điều này: (số đứng đầu mỗi đoạn trích là số của các “bài không tên”).

3. Đêm sâu mái tóc em dài
Buông xuôi, xuôi theo dòng đời
Mà đời dài như tiếng kinh cầu
Còn sầu mang đến cho nhau

4. Triệu người quen có mấy người thân
Khi lìa trần có mấy người đưa?

5, Hãy cố yêu người mà sống
Lâu rồi đời mình cũng qua

6. Chờ nhau, xót xa chờ nhau, hắt hiu chờ nhau,
Năm vàng ngày héọ

7. Bao nhiêu mộng mơ đó
đã tan theo một cơn gió
bơ vơ dòng tóc vỡ
trôi dạt về bến nghìn đời.

Khi được hỏi có phải ông khổ vì tình, Vũ Thành An nói: “Cuộc đời của tôi khổ vì tình chứ. Mình thất tình. Tất cả là tôi thất tình không à. Là khi yêu mình không lượng sức. Mình đặt niềm tin vô quá cái sức của mình, nên là mình thất bại thôi”

Bốn câu trích trong 4&5 là những câu bây giờ người ta hay dùng để nói với nhau khi trong câu chuyện có nội dung phù hợp cho thấy sức cuốn hút trong âm nhạc của ông cũng như việc nó đi vào lòng người yêu nhạc là điều không thể chối cải, chỉ là tính quảng đại của nó hẹp hơn nhạc Trịnh Công Sơn.

4. Qua bài phỏng vấn tôi được biết thêm là trong bài không tên cuối cùng ông viết năm 1965 và đến 1991 viết lời 2 “Bài không tên cuối cùng tiếp nối” có sửa chữa nội dung vì sợ hại cho người ngày xưa ông yêu. Mời các bạn đọc đoạn trả lời dưới đây thay cho lời kết của bài viết này:

“Cái ý chính là thế này, Bài không tên cuối cùng tôi viết: “Con đường em đi đó đúng hay sao em/ Mưa bên chồng có làm em khóc/ Có làm em nhớ những khi mình mặn nồng…” Thì cũng hay nhưng nó lại hại cho người đó. Tự nhiên người ta cứ đi chỗ này chỗ kia hát như vậy thì đương nhiên sẽ ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình của cô đó. Ông chồng đó cứ nghe cái đó là nổi nóng lên.

Cho nên tôi hối hận là đã viết câu đó. Nhất là trong thời gian tôi cải tạo từ 1975 cho đến 1985. Nhưng đến khi tôi được ra, được tự do nói lại, thì tôi nói thêm một cái lời như lời xin lỗi cùng người bạn đó: “Này em hỡi con đường em đi đó/ Con đường em theo đó đúng đấy em ơi/ Nếu chúng mình có thành đôi lứa/ Chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đau…”.

PS: Khi tôi tìm thêm một số thông tin cho bài viết này thì được biết thêm rằng, ca sĩ Lệ Quyên mà tôi từng ca ngợi trong vài bài viết về cô và giòng nhạc Bolero cũng là người “mê” và thành công với các nhạc phẩm của Vũ Thành An. Tôi thật sự vui vì điều này.

NGUYỄN HOÀNG QUÝ

Sài Gòn tháng 3/2019

(*)https://www.bbc.com/vietnamese/world-47550216

Buổi sáng

Dậy muộn trời đã rạng
Thảnh thơi thật ấm lòng
Cưỡi ngựa què ra quán
Nắng vàng như mật ong

Này chú bé hành khất
Túi còn dăm ba đồng
Này cụ già vé số
Mua vài… tỷ hoài mong

Này cô em tiếp thị
Khoe má đỏ môi hồng
Phận nghèo lên phố lớn
Bán chân dài đít cong

Này bác thương binh cũ
Hát chi mà não lòng
Mắt mù hai tay cụt
Lê lết đời long đong

Xong ly cà phê đắng
Ta về hai tay không
Sài gòn nắng như lửa
Mơ một ngày bão giông!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

MẮT HUẾ

Xuôi quân ra Huế mùa khói lửa
Cố đô giặc phá nát nội thành
Mậu Thân ghé thăm chưa kịp hỏi
Tôn nữ khăn sô quấn tóc xanh

Thần kinh phủ kín màu tang trắng
Vỹ Dạ nhịp chèo khua đêm nay
Đêm nay thủy thần (*) qua sông vắng
Da diết thèm nghe khúc Nam Ai

Trường Tiền gẫy nhịp năm sáu-tám
Chợ Đông Ba máu nhuộm đỏ đường
Mạ (**) chết rồi trong cơn biến loạn
Khóc chiều ni tím bóng mây giăng

Trở lại Huế – sầu chi rứa Huế
Phú Vân Lâu – O đợi – O chờ
Hương Giang xơ xác ngày dâu bể
Hồn ta đau điếng với câu thơ

Lính tráng đánh trận hề mệt nghỉ
Súng – giày saut – nón sắt – ba lô
Vai gánh nặng hồn thiêng sông núi
Trả nợ núi sông hết một đời

Ta nhớ quê cha mưa rất Huế
Xối xả mù trời đất Thừa Thiên
Ta nhớ tháng mười mưa rất khẽ
Cứ se se lạnh ngực O mềm

Xuôi quân ra Huế mùa bom đạn
Thương hoài – thương mãi mắt O buồn
Nhói lòng ta giã từ mai sáng
Lệnh Chiến đoàn (***) tiếp tục lên đường

Linh Phương

(*) :Thủy Quân Lục Chiến còn gọi là Thủy thần mũ xanh..
(**) : Mẹ.
(***) : Trước Thủy Quân Lục Chiến thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân, có 2 Chiến đoàn là : Chiến đoàn A tức Chiến đoàn An Dương Vương và Chiến đoàn B tức Chiến đoàn Bắc Bình Vương. Sau TQLC tách khỏi Hải Quân thành lập Sư đoàn trực thuộc Lực lượng tổng trừ bị của Bộ Tổng Tham mưu QL.VNCH. Lúc này TQLC có 3 Lữ đoàn ( tên cũ là Chiến đoàn ) là : Lữ đoàn 147 – 258 & 369.