TRĂNG VÀNG GÁC KIẾM

Tặng một người bạn giang hồ đào hoa thân thiết của tôi.
Phút xao lòng, gió xa bay
Em ơi! Đừng nhắc chi ngày đã xa!
Giã từ phố thị phồn hoa
Anh về vui với nếp nhà vàng xưa.
Thưa em! Trời đất bây giờ
Là quanh bếp lửa anh chờ cơm sôi!
Trăng vàng gác kiếm tường vôi
Mùa thu gục chết bên đồi lãng quên!

TRẦN THOẠI NGUYÊN  
Advertisements

BÀI CUỒNG CA BUỒN BÃ

 

(Tặng Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn,
Phạm Cao Hoàng, Phan Xuân Sinh)

 

Cái muỗi sao mày vo ve mãi
Máu ta đây còn giọt cuối cùng
Cứ giả đui mù cho khỏi thấy
Xương thịt ta thôi cũng cam lòng

Đất nẻ gió khô mùa hạ cháy
Bò trâu gặm đá trọc đồi trơ
Ta nuốt tình em cho quên đói
Dòng lệ khô bầm đôi mắt thơ

Thôi giận ta chi: mơ đại cuộc
Thánh nhân lạc buổi nhiễu nhương này
Rát mặt mài gươm cơn gió thốc
Giáo gươm còn sao cụt chân tay

Thôi giận ta chi chiều đã tận
Chờ nhau dẫu bỏ xác quê người
Sách vở bùng lên nguồn lửa hận
Tro tàn bay mù mịt đất trời

Thôi giận ta chi cơn bão sử
Vận hạn đến hồi chung cuộc đây
Nơi đâu cũng nực mùi xú uế
Hãy cướp luôn đi giọt máu này

Dẫu chẳng cam làm tên thất chí
Đêm dài đối mặt với tiền nhân
Sấm kinh đã hết hồi linh ứng
Đất trời đầy một lũ vô luân

Có kẻ ngang qua thành quách cũ
Một màu hoang phế lạnh căm căm
Chẳng có nhang trầm xin xá tội
Đốt cành khô nhận chút thành tâm

Có kẻ lạc xiêu dăm buổi chợ
Cuồng ngâm nỗi xót nhục suy tàn
Nghe trái tim còn thoi thóp đập
Như lời đòi đoạn của trăm năm

Có kẻ đêm nay làm khách trọ
Huỳnh Dương ơi hỡi đất Huỳnh Dương (1)
Ngửa mặt nhìn mông mông trời rộng
Ôi cố hương nào qui cố hương

Có kẻ đi quanh mồ tử sĩ
Đọc thấy tên mình trên mộ bia
Hỡi ơi những mất còn dâu biển
Chẳng lẽ đời ta lạc chốn này

Có kẻ giải buồn dăm chén rượu
Ta nay một giọt đã đắng lòng
Người xưa “tam bôi thông đại đạo” (2)
Mời nhau rượu đục tấm lòng trong

Có kẻ bỏ làng lên núi thẳm (3)
Khát uống nước suối đói rau rừng
Ta bỏ đời ta không chỗ trú
Không còn một dúm đất dung thân

Có kẻ nghêu ngao ngoài góc phố
Khóc cười bất chợt, hỏi vì đâu
Ta bỗng dưng thành người thất thổ
Ngó lại đồi xưa mây bạc đầu

Có kẻ đêm ngày che kín mắt
Sợ nhìn rõ mặt đứa vô lương
Ta muốn giam mình trong tịch cốc
Dối lòng chẳng bận gió muôn phương

Ma quỉ lộng hành đền miếu đổ
Thánh thần xiêu lạc bãi gò hoang
Có kẻ đêm nay buồn dưới mộ
Đau từng giọt máu từng đốt xương

Đêm nay qua bến quạnh sông mù
Lòng chạnh soi tình trăng hổ ngươi
Nhớ ai ta nhớ từng sợi tóc
Yêu người không giải nổi niềm đau

Đêm nay phơi áo bên ghềnh đá
Nằm gối lên sương lạnh buốt lòng
Có kẻ muôn đời như khách lạ
Hoàng hạc bay rồi vô cố nhân

Năm tháng đã đành năm tháng cũ
Nỗi sầu này giống nỗi sầu xưa?
Sương khói ngàn năm đau xé ruột
Đâu mái nhà xưa để nhớ nhà? (3)

Thất tán mười phương trôi lạc chợ
Sống chẳng ra ma chẳng giống người
Chẳng giống thì thôi thì đành vậy
Sao còn chua xót mãi không nguôi

Có kẻ vô tình nhen bếp lửa
Tưởng chừng thiên hạ thức đêm nay
Tưởng chừng khi cùng đường mạt vận
Còn chút lòng nhau ở chốn này

Sống cũng thêm dăm ba tuổi nữa
Chết thì dăm tuổi có hề chi
Chỉ sợ lòng ta không đủ chứa
Nỗi đau trùm xuống thế gian này

Chỉ sợ lòng ta em chẳng rõ
Chút tình cố cựu chết bên sông
Ngồi tựa chân cầu con nước vỗ
Vào mạn đời ta buổi mịt mùng

Hỡi kẻ đã từng mang gươm báu
Uống hộ chiều nay chén rượu này
Dẫu phải qua sông không trở lại
Ngửa mặt nhìn trời mây trắng bay (4).

 

Chú thích

 

(1):Túc Huỳnh Dương,thơ Bạch Cư Dị

(2):Hạ Huyệt Đôc Chước,thơ Lý Bạch

(3): Hoàng Hạc Lâu,thơ Thôi Hiệu

 

Ghi thêm:

 

Túc Huỳnh Dương, Trọ ở Huỳnh Dương

Sinh ra tại đất Huỳnh Dương

 

Tuổi xuân đã sớm cố hương chia lìa

Bốn mươi năm dài xa quê

Giờ làm khách trọ não nề Huỳnh Dương

Mới mười tuổi đã dặm trường

Đến nay xấp xỉ tuổi chừng sáu mươi

Hồn nhiên thuở nhỏ vui cười

Như còn hiển hiện trước người hôm nay

Nhà xưa chẳng biết nơi đâu

Họ hàng lân lý ai nào thấy ai

Phải chăng phố chợ đổi dời

Gò xưa hang cũ cũng thôi chẳng còn

Mà sao sông Vị sông Trăn

Trong xanh một sắc vĩnh hằng sông ơi

 

Lê Văn Trung(tạm chuyển thành văn vần)

 

Thiếu tiểu ly hương khúc

Thiều thiều tứ thập tải

Phục đáo Huỳnh Dương túc

Khứ thì thập nhất nhị

Kim niên ngũ thập lục

Truy tư nhi hí thì

Uyển nhiên do tại mục

Cựu cư thất xứ sở

Cố lý vô tong tộc

Khởi duy biến triều thi

Kiêm diện thiên lăng cốc

Độc hưu Trăn Vị thuỷ

Vô tình y cựu lục

Bạch Cư Dị

 

BIỆT

 

Ta đi có lẽ không về nữa
Về làm chi quê quán mịt mùng
Mẹ cha chắc đã tan thành đất
Đất ở đâu cũng lạnh vô cùng
Đất ở đâu cũng màu luân lạc
Và nỗi buồn trải quạnh như sương

Ta đi có lẽ không về nữa
Về làm chi bến mịt sông mù
Em giờ chắc đã thành góa phụ
Xương trắng cồn hoang đêm chó tru
Hồn ai xiêu lạc đền rêu cũ
Cũng đành nén lệ khóc thiên thu

Ta đi là biệt đời nhau nhé
Em có lên ngàn ngóng bốn phương
Đã biết trăm năm tình hóa đá
Thì mong chi giọt lệ tương phùng
Đã biết ta trăm đường muôn ngả
Không chốn nào là chốn dung thân

Thôi cứ xem như ta chẳng về
Xem như đời chỉ tạm ngang qua
Thân là hạt bụi bay trong gió
Đậu xuống trần gian như giấc mơ
Đậu xuống lòng em như điềm gỡ
Nỗi đau truyền kiếp tự bao giờ

Thôi xem như chưa hề có nhau
Hai ta là hai cõi chiêm bao
Em và ta là hai chiếc lá
Chiếc rơi triền thấp chiếc đồi cao
Giông bão thổi tung ngàn số phận
Lạc nhau từ giấc mộng ban đầu

Về làm chi thôi về làm chi
Thà cứ như người không bản quán
Không họ hàng không cả tông chi
Đời ở đâu cũng đời nhiều loạn
Ta ở đâu nào có hơn gì
Người ở đâu cũng người xa lạ
Thôi về chi rào chắn giậu che

Thôi về làm chi đừng hỏi nữa
Gươm cuồng tay mỏi chí tàn suy
Đốt đuốc mà soi lòng nhân thế
Đất trời là một khối vô tri
Qua bao vong diệt cùng dâu bể
Trái tim người là nấm mộ đây
Đôi mắt đã mù khô cả lệ
Thì rót làm sao chén rượu đầy

Về làm chi về làm chi hỡi
Ngươi phương mù áo rách tang thương
Ta nghe ngươi hát lời vinh Thánh
Mà buồn hơn khúc hát đoạn trường
Ta thấy ngươi ngồi ôm tượng Chúa
Mà như ôm cả thế gian buồn

Thôi về làm chi về làm chi
Ngươi và ta hai kẻ sau cùng
Cứ đi cho hết vòng luân chuyển
Mà ngắm nhân gian đã loạn cuồng
Trái tim người chứa toàn sâu bọ
Rắn rít trườn lên cuôn chặt hồn

Ta đi có lẽ không về nữa
Gặp ngươi nơi góc biển chân trời
Tình như phù vân không hò hẹn
Lòng như sương khói chẳng buồn vui
Ta chỉ thương ngươi còn vọng tưởng
Một trần gian quá đổi ngậm ngùi
Ta chỉ thương ta còn ngất ngưỡng
Đi- về hai nẻo vẫn chưa nguôi.

 

 

CÕI LƯU ĐÀY 1

 

Một nơi không có suối có rừng

Trời đất hoang tàn đến dửng dưng

Con chim rã cánh bay mòn mỏi

Mơ một màu xanh của đại ngàn

 

Nơi đây gió thốc từng đêm hạn

Lòng cháy trơ bầm như cỏ khô

Những con chó đói tru buồn thảm

Hồn ma oan bật khỏi hoang mồ

 

Nơi đây nắng bỏng sương như muối

Và lá cây khô chưa kịp vàng

Nơi đây lòng người như đá cuội

Nứt nẻ nằm trơ không tiếng than

 

Tay rỉ máu bầm bươi trong đất

Vớt từng bụm nước quánh bùn tanh

Và vật với người tranh nhau uống

Phổi bám vàng thâm bụi lưu huỳnh

 

Bổ từng nhát cuốc vào trong đá

Gieo hạt mầm đau lệ ứa khô

Cây chết từ khi chưa kịp mọc

Người sống như hồn ma không mồ

 

Nợ đất nợ trời không trả nổi

Quẩn quanh giữa địa ngục thiên đường

Người đi như bóng ma trên đất

Lưu đày ngay giữa rốn quê hương.

 

 

CÕI LƯU ĐÀY 2

(Gửi Lại Nghìn Sau)

 

Lũ lũ ma trơi chạy rợp đồng

Đêm khô mà trời lạnh căm căm

Ta cũng nhập đoàn quân ma đói

Lội giữa trời khuya kiếm cái ăn

 

Tay sục vào bùn đau gốc rạ

Như ai cào xé trái tim mình

Trời đất dửng dưng như kẻ lạ

Ta hú gọi người không nhớ tên

 

Rừng lá run trong gió hạ Lào

Nung cho cháy vỡ những vì sao

Ai qua Đường Chín về Lao Bảo

Thấy xác ai nằm dưới vực sâu

 

Thất tán cõi sơn cùng thủy tận

Đốt lòng đau soi lấy đời nhau

Chỉ thấy đá ngàn năm chảy máu

Chỉ nghe rờn rợn gió oan cừu

 

Đốt đuốc soi lòng nhau mòn mỏi

Nước mắt lau bầm vạt áo thô

Ta khắc thơ vào ghềnh đá lở

Gửi lại nghìn sau giọt lệ khô.

 

 

CÕI LƯU ĐÀY 3

(Nỗi Đau)

 

Giấu mặt nhìn nhau tội nghiệp nhau

Núi xơ xác núi, đồi trơ đồi

Nước xoáy vào tim người xói lở

Nước rỉ vào tim người nỗi đau

 

Cành khô đợi mỏi cánh chim về

Trùng trùng vô tận đá vọng phu

Đá vọng phu hề chinh chiến lụy

Chinh chiến hề thay chốn ngục tù

 

Suối khô đợi mỏi cơn mưa lạ

Đá nứt bày khuôn mặt hãi hùng

Đá cũng kinh hoàng bầy thú dữ

Nhe nanh cắn xé cả linh hồn

 

Người chết quấn hờ manh chiếu rách

Chôn vội vàng dưới lớp cát nông

(Không biết ngày mai trong đáy mộ

Có còn tìm thấy nắm xương không?)

 

Mắt cũng bầm đen dòng lệ máu

Khóc nhau đành nuốt quặn niềm đau

Năm chung mảnh ván mà câm lặng

Nghi nghờ cả cái lén nhìn nhau.

Để nhớ tháng ngày ở núi rừng Trung Việt

 

LÊ VĂN TRUNG

 

 

Bài thơ gửi về từ trại cải tạo Ái Tử

 

Ở làng Cổ Lũy có nhiều người làm thơ, nhưng người viết truyện ngắn thật hiếm hoi. May mắn có Nguyễn Đặng Mừng, anh mê viết văn, làm thơ từ thời học sinh. Năm lớp 11 đã có truyện ngắn được chọn đăng trong tập san Hội mùa xuân, của trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị. Thời quân trường sĩ quan Thủ Đức, anh có nhiều bài thơ hay trên đồi Tăng Nhơn Phú. Sự nghiệp thơ văn của NĐM khá dày dặn kể cả số lượng và chất lượng. Điều đó không phải ngẫu nhiên mà có, mà do được hun đúc từ nhỏ, mê thơ văn, ca dao, tục ngữ, tiếng hò tao nôi của mẹ, đời sống dân dã của làng quê, cuộc chinh chiến dai dẳng nghiệt ngã của vùng ven giới tuyến tạo nên một diện mạo NĐM.

Rời quân trường SQ Thủ Đức, Mừng chọn Pleiku, nơi anh từng bị mê hoặc bởi ‘Má đỏ môi hồng’, ‘trời thấp thật gần’ nhưng không biết rằng thực tế thật là ác liệt, chiến trường đang ngấm ngầm sôi động chuẩn bị cho cuộc chiến lớn. Bài thơ dưới đây là tâm sự thật lòng của 1 sĩ quan Địa Phương Quân mới rời khỏi quân trường, bỏ lại những giọt mồ hôi pha chút lãng mạn nơi quân trường và cả những giấc mơ đẹp của tuổi học trò hoa bướm, tham gia vào cuộc chiến không lối thoát, báo hiệu cho một kết thúc buồn của người trong cuộc. Ví mình như con muỗi vo ve quay trong mùng là hình ảnh độc đáo và đầy tâm trạng.

Mùa mưa ở Pleiku

Mùa mưa về dài thêm những khúc quanh
Bong bóng mưa – ảo ảnh chuyện tình
Ngày – những mùa sương xanh lá núi
Đêm – những mùa trăng vỡ quanh mình

Mùa mưa về dài thêm bóng đêm
Đêm hoang mang đêm gọi em về
Đêm bịt bùng làm sao anh chạy trốn
Quay trong mùng như con muỗi vo ve

Ở tuổi 20, chưa được cầm tay con gái, đã vào quân trường rồi ra lính; nên gặp người em nào là cứ vận vào mình, tạm cho là thương nhớ mình, để mình có cớ thương nhớ lại, để có cớ làm thơ. Nhưng nhờ vậy có những câu thơ hay: Nhớ em không chừng tôi khóc/ Phố quen trống trải thế này.

Hương đã về xuôi!

Sáng nay Hương về dưới ấy
Mùa thu ở lại trên này
Lá vàng rơi theo lối cũ
Buồn nghiêng vàng phía chân mây

Hương về làm chi cho vội
Để chiều Pleiku heo may
Nhớ em không chừng tôi khóc
Phố quen trống trải thế này

Đã tới đèo Mang Giang chưa?
Mà sương mù trong cõi nhớ
Ai bảo sương tan rồi hợp
Để tôi khấp khởi mong chờ

Hay là Hương không trở lại?
Mà lòng tôi chẳng hề hay
Rằng xứ sương mù ẩn hiện
Những giấc mơ buồn lắt lay

Pleiku 1974
Viết về Pleiku rất thật như nó hiện hữu khiến một người chưa tới Pleiku như tôi tưởng như phố buồn u uất pha chút lãng mạn hiển hiện ngay trước mắt mình thời 1974, bên cạnh cái thèm thuồng thương nhớ của lứa tuổi 20. Buồn, u uất, mà sao vẫn thương, vẫn nhớ vẫn cuốn hút. Đơn giản vì cách viết tự nhiên, tả đúng hiện thực, ẩn hiện trong đó là mơ màng, ao ước hẹn hò yêu đương của tuổi trẻ, điều mà ai cũng có một thời trải qua.

Cuộc đời NĐM nhiều mơ màng, nhiều nông nổi, thơ văn NĐM có lúc cũng chạy theo mốt thời thượng, tuy nhiên những bài hay và ghi dấu ấn đều chảy ra từ giọt mồ hôi và những dòng nước mắt. Khi đời sống khấm khá, đầy đủ chúc tụng, thơ văn từ anh cũng được viết ra nhưng đi vào quên lãng; khi cuộc sống khốn khó, tưởng chừng như tuyệt vọng, thì thơ hiện ra cứu chuộc anh, bù đắp cho anh qua những ngày gian khó.
Làng Cổ Lũy có chiếc cầu bắc qua làng Đa Nghi qua con khe nhỏ, mùa hè đỏ lửa năm 1972 cầu bị đánh sập, quân đội miền Nam thay bằng chiếc cầu nhôm dã chiến. Sau 1975, cả nước đói khổ, nhờ chiếc cầu này trai làng có nơi tụ họp, đọc những bài thơ hào sảng của Quang Dũng, thơ Giang Nam và thơ Lê Văn Ngăn…, Công an xã thì ở xa, vả lại may mắn họ cũng không đến nỗi khắt khe lắm nên cũng chưa bị nhắc nhở lần nào.
Đa số những bài thơ tôi được nghe các anh đọc hồi đó là những bài thơ về tình yêu đất nước, cuộc kháng chiến chống Pháp, và những bài về tình yêu.
Trên chiếc cầu này, tôi đã được nghe anh Đẵng đọc “Những bài thơ cũ”, do NĐM gửi về từ trại cải tạo. Trong đêm tối mịt mùng đó, tôi sửng sờ khi nghe bài thơ này, khác với giọng thơ tôi đang học ở trường.
Những hình ảnh như “Tay em xưa vuốt ánh trăng mềm”, “Xưa hoang vu tóc lộng buông rèm”, “Hoàng hôn vàng chờ cúi hôn đêm” trước đó được thay bằng “Tiếng giun tiếng dế”, “đom đóm chập chờn” hay “tiếng lá vông đồng” của phiên chợ nghèo ngày xưa. Đó mới là đích thị Nguyễn Đặng Mừng.

Những bài thơ cũ

Trăm lốí mòn về với ngày xưa
Cho gió mùa thu lật trang sách nhỏ
Em thấy gì không những bài thơ cũ?
Khiến nỗi buồn ta thức dậy thì thầm

 

Ôi con tim đập lại nhịp xưa
Một ngọn gió heo may cũng đủ run nhè nhẹ
Lay hồn ta trầm tiếng giun tiếng dế
Và tiếng lá vông đồng rụng giữa đêm khuya

 

Hay con bướm con chim chập chờn dạ khúc
Hát tiễn anh qua những chặng cuối cùng
Sao em cười mắt liếc bao dung
Hãy cắn tóc mím môi đưa nhau về chặng cuối

 

Những bài thơ xưa chừ như tóc rối
Xui khiến anh ngồi gỡ lại đường tơ
Bóng dáng tình nương đi về ngại lối
Lòng lại dặn lòng hãy chối cơn mơ

 

Những bài thơ là những giấc mơ
Mà bóng tình nương là bóng sương mờ
Đêm nay ngập ngừng như con đom đóm
Bay lại vườn xưa chẳng thấy ai chờ…

Trại cải tạo Ái tử 1975

 

Nguyễn Đặng Trí Tín

LAU KHÔ NỖI BUỒN

 

(Để nhớ quê hương tôi, một quê hương luôn thống khổ)

quê hương tôi đen như cốc cà phê
bốn ngàn năm vẫn y nguyên vị đắng
bốn ngàn năm chưa một lần may mắn
pha thêm đường để trở thành cà phê ngon.

quê hương tôi từ huyền thoại cội nguồn
có bản chất phân ly từ mầm móng
năm mươi con lên núi cao, năm mươi ra biển rộng
giã từ nhau, không hứa hẹn gì nhau.

quê hương tôi một ngàn năm đô hộ bởi giặc Tàu
một trăm năm giặc Tây nô lệ
còn những ngàn năm kia cũng vô cùng tồi tệ
giành giựt cơ đồ, anh em chém giết thê lương.

quê hương tôi vô số kẻ bất lương
thà theo giặc để làm vương, làm tướng
thời nay vẫn có lắm tên hèn hơn Lê Chiêu Thống
nhục hơn Trần Ích Tắc ngày xưa.

quê hương tôi nhiều vụ án như đùa
Lệ Chi Viên là nỗi đau thảm khốc
Nguyễn Trãi và họ hàng bị tru di tam tộc
hai mươi hai năm mới được giải oan.

quê hương tôi sau nội chiến tương tàn
bên thắng cuộc trả thù độc ác
Bùi thị Xuân bị voi phanh thây xé xác
Nguyễn Ánh quật mồ, giã hài cốt Nguyễn Huệ quăng sông.

quê hương tôi hào kiệt rất đông
nhưng bọn tiểu nhân cũng hằng hà sa số
bậc anh hùng ngàn đời không khiếp sợ
dù gông cùm đang khóa chặt tay chân.

quê hương tôi vẫn vậy bốn ngàn năm
lịch sử cứ diễn hoài tuồng cũ
chế độ nào cũng hô to dân chủ
mà sau lưng thì dí súng hăm he.

quê hương tôi đen như cốc cà phê
bốn ngàn năm vẫn y nguyên vị đắng
năm mới xin chờ một lần may mắn
Đổi cốc thêm đường cho hương vị thơm ngon.

PHẠM HỒNG ÂN

Giọt Lệ Trông Vời

Không Lẽ Nào Không Thế Được Không Đâu

Sóng cuồng nộ nước hờn căm sôi sục
Bát nhang trôi bùn đất ngập ơ thờ
Phận gió đùa nghiêng ngửa chiếc phao thơ
Cắm ngòi bút giữa dòng xưa ngát vọng

Bìm bịp kêu hết thời con nước lớn
Lục bình trôi vướng bóng bông bần rơi
Chèo buông lơi nắng ủ rũ ngáp dài
Lòng tím ngắt nhuộm bến chiều ngáp vắn

Ngày thối rữa ôm xác đêm nhiễm mặn
Chữ cúi đầu lẫn trốn tận chân mây
Hiện đại buồn vác cổ điển trên vai
Bước rất nhẹ sợ đau lòng kỷ niệm

Siêu hiện thực phất cờ lên tận đỉnh
Rác người bay vất vưởng dưới tượng đài
Cõng ta bà du ngoạn khắp trần ai
Kìa lố nhố tranh nhau bầy xác sống

Tân hình thức che nụ cười hoảng loạn
Vén chiêm bao vùi lấp kiếp vong hồn
Bình minh đi xuyên thấu cõi hoàng hôn
Chưa ra khỏi bầu trời mông muội

Giậu đổ bìm leo ước mơ hấp hối
Không lẽ nào không thế được không đâu…

Giọt Lệ Trông Vời

Cơn bão dữ hoành hành nơi hướng bắc
Hoàn lưu buồn vần vũ tận trời nam
Ngọn lửa tợn thiêu lưng chừng khúc ruột
Nơi cuối trời nước mắt đẫm tro than

Giữa vô cảm bơ vơ hồn đa cảm
Cúi gập người nhặt giọt lệ gieo neo
Vì chở nặng sầu thương nên hóa tím
Sóng vô tâm vò mặt nước bèo nhèo

Mớ bòng bong vô tình càng thít chặt
Đôi tay hèn không với tới tầng cao
Vói tận tầng cao níu bầu trời thấp xuống
Gom nắng vàng sưởi ấm niềm đau

Thương thấp cổ đội to đầu lủng lẳng
Bé miệng kêu lục ục chẳng nên lời
Trang đời mỏng gói buồn vui lãng đãng
Từng hạt như cát lẻn kẽ tay rơi

Sầu bủa lưới nhiều năm không lối thoát
Bước vô lương giẫm mặt đất bèo nhèo
Đã phiêu bạt những tấm lòng chân thật
Biết có còn giọt lệ nhìn theo?

Lưu Xông Pha 

Tưởng Người Xưa Áo Bay Mây Sương

 

Người về đâu người cho ta theo
Quên nói thôi chiều đã nghiêng chiều
Đường lên dốc người lên ta xuống
Ngã ba rồi ngó lại buồn hiu…

Người rẽ vào cổng nhà cửa ngõ
Hoa vàng chào coi như ta chào
Ta đi tiếp con đường xuống phố
Lũng suơng mù Đà Lạt trên cao…

Hồi đó trẻ, trẻ người non dạ
Người mảnh mai mà qua sông dài
Người sang ngang ta còn chi nữa
Súng ta bồng người nhé không ai…

Bao nhiêu năm nhớ về Đà Lạt
Nhớ một chiều ta không theo người
Rồi muôn thuở ta đành thương nhớ
Ngỡ lòng mình như mảnh bom rơi…

Chim xa rừng thương cây nhớ cội
Mà thôi chừ trách chi biển dâu
Đại Lược với Kim Long đành vậy (*)
Ngã ba đường như xưa như sau!

Ta trở lại con đường xuống phố
Xuống càng sâu tìm cây thông già
Ta thấy lòng ta nằm góc núi
Đà Lạt ơi ngàn năm trôi qua…

Con sông chở muôn dòng nước mắt
Ta bỗng thèm giấc ngủ Quê Hương
Tiếng ngựa hí trên đồi lạc lõng
Tưởng người xưa áo bay mây sương…

Trần Vấn Lệ
(*) Ca Dao: Chàng về Đại Lược, thiếp ngược Kim Long; đến đây là chỗ rẽ của lòng…

MƯA ĐỜI SAU

 

 

Những chiều đầu hè tôi thường ngồi một mình trong sân vắng. Lúc hoàng hôn xuống tiếng ễnh ương ran lên như giàn hợp xướng của ao hồ. Chu thường về muộn, buổi chiều anh đi uống với bạn. Từ lúc Nhím đi, chỉ còn tôi với những khóm tầm xuân đầy hoa tím mà ngày nào con bé đã trồng. Đã đi xa mấy năm, mỗi lần email về cho tôi, nó luôn nhắc: Mẹ ơi, nhớ tưới giùm con những cây tầm xuân.

Từ năm 40 tuổi, những lúc ngồi dựa vào gốc cây bạch mai nhìn ra hồ, tôi thường thấy những ảnh ảo hiện ra, lôi kéo tâm trí tôi. Tôi lại thấy Nhím khi còn nhỏ, đi học về dưới mưa phùn mùa xuân. Tôi mắng con: “Sao con không mặc áo mưa”. Nhím nũng nịu: “Con thích cho tóc ướt”. Và, mười lần như một, con bé ào vào, thấm khuôn mặt lấm tấm nước vào áo tôi. Hai mẹ con cười rúc rích…

Rồi trí nhớ tôi lùi xa hơn, tôi thấy lại Tuấn dưới những tàn cây muối. Tôi đi học về trong chiếc áo dài trắng, tóc và má lấm tấm mưa. Tuấn hỏi: “Em quên đem áo à? Anh đã dặn trăm lần”. Tôi vịn vai Tuấn, nhón chân vênh mặt gần mũi anh: “Anh không thấy mưa thơm sao?” Tuấn cười, anh dúi mặt tôi vào vai áo, vai anh thấm hết những giọt mưa. Cả hai đứa, bao giờ cũng thế, chẳng ai có lấy một mẩu mùi soa nhỏ…

Sau này khi Nhím lớn lên, có lần tôi kể về Tuấn. Nhím hỏi: “Về sau tại sao me lại gặp ba?” Tôi cố nhớ lại: “Có lẽ là do cái óc khoa bảng của người Huế. Cái nghiệp âm nhạc của chú Tuấn nó bấp bênh, ông ngoại con không yên lòng”. Năm đó Nhím mới mười sáu tuổi, vậy mà nó nhìn tôi như nhìn một đứa trẻ: “Sao thế, mẹ không có ý kiến riêng à?” “Ông bà đã sinh ra mẹ”. “Nhưng chính mẹ mới sống cuộc đời của mẹ chứ”.

Bây giờ thì có lẽ con gái tôi cũng định nói như thế, “Chính con sẽ sống cuộc đời con”. Cuộc điện của Nhím từ Schiltigheim làm tôi choáng váng. Rồi sẽ nói thế nào với Chu? Mới tuần trước, khi nghe con gái đã tốt nghiệp sắp về nước, anh vui sướng, mãn nguyện bàn với tôi: “Dịp này vợ chồng ta sẽ tổ chức lễ bạc”. “Lễ bạc?”, tôi ngạc nhiên. Có bao giờ Chu nhớ ngày kỷ niệm cưới đâu. Vả ngày ấy qua đã lâu, từ tháng 2 âm lịch. Chu bảo: “Cần gì đúng ngày”. “Thế thì tổ chức để làm gì?”, “Đi dự bao nhiêu lễ vàng lễ bạc của người ta, nay phải có cái gì đáp lại chứ. Mình lấy nhau hai mươi lăm năm, sống yên ổn, con cái thành đạt. Không đáng cho thiên hạ trông vào à?” Tôi ngần ngừ, thoáng mỏi mệt. Ngày xưa, hồi mới cưới, thầy bói bảo số chúng tôi khắc khẩu. Hai mươi lăm năm chung sống, chưa bao giờ Chu và tôi cãi nhau quá hai câu. Thực ra lời tiên đoán không sai, chúng tôi khắc khẩu trong lặng lẽ.

“Con nhớ hầu như ba mẹ chỉ cãi nhau một lần, lúc con sắp đi”. Năm ấy là năm cuộc sống của tôi hoàn toàn đảo lộn. Trong một đêm văn nghệ sinh viên, Nhím gặp Kim, nhân viên của một hội nghiên cứu châu Á ở Pháp. Kim bảo: “Cô là một tay piano đầy triển vọng. Cô muốn sang Pháp học nhạc không? Tôi sẽ giúp cô”. “Với điều kiện?” “Tôi đang tìm hiểu về nhạc Việt. Cô sẽ ký một hợp đồng với Archipel Adigo, theo đó cô phụ tá cho tôi. Bằng cách đó cô sẽ có tiền, có chỗ ăn ở và… “. Nhím nhăn mặt: “Sợ không đủ khả năng”. “Xưa nay tôi chưa đánh giá sai bao giờ. Vả lại… “. Kim nói một câu làm Nhím quyết định: “Vả lại, khả năng đến sau, cơ hội đến trước”.

Chỉ vì may mắn mà sóng dữ đã không đến. Giờ đây tôi đã có một cuộc hôn nhân tốt đẹp, được thời gian đóng dấu son chứng nhận. Nhưng chỉ mình tôi biết, thật ra con thuyền của tôi chưa cập bến bao giờ.
Chu bứt tóc: “Tốn bao nhiêu công sức nó mới thi đậu vào trường Y. Sao bây giờ thả mồi bắt bóng?” Anh giận điên khi thấy tôi năn nỉ cho Nhím. “Bà cứ tưởng đi Tây là sướng sao? Phiêu lưu!”. Chu nguyền rủa Kim như người ta nguyền rủa quỷ sứ. “Bao giờ dân xứ này mới bỏ được hội chứng mê Việt kiều? Mới nghe hú một tiếng, thế là bỏ tất cả chạy theo nó”. Tôi không biết làm sao giải thích cho anh hiểu, không phải vì Kim mà Nhím ra đi. Tiếng gọi mà Nhím nghe thấy không phải từ một người đàn ông, nó đã bắt nguồn từ những chiều yên tĩnh xa xưa, khi Nhím còn rất nhỏ, học bấm những gam đầu tiên trong hiên vắng, có tôi luôn ngồi bên, lắng nghe. Chu bảo: “Học chơi cho biết thôi, đừng nên đam mê. Cái gien đàn ca này, con giống ai?” Tôi biết. Nhím cao dong dỏng, đến mười chín tuổi mà thân hình còn dài ngoằng chưa nẩy nở, nhưng con bé có đôi mắt to mơ mộng và cái nhìn như lửa cháy. Thân thể, thịt da nó là của Chu, nhưng đôi mắt và tâm hồn con bé là của tôi, nó khao khát những gì tôi khao khát.

Khi Nhím ra sân bay, Chu không đi tiễn. Một giờ trước khi lên đường, con bé bỗng ngã lòng: “Mẹ ơi, con không đi nữa”. Một giờ đồng hồ sau Nhím đã nín khóc: “Con nhớ lại rồi, không có ai dễ thuyết phục như ba. Mẹ nhớ giúp con, bảo rằng con rất yêu ba, con sẽ về”. Con bé bắt đầu tươi lên: “Bao giờ cũng thế, con sợ ba nhưng ba thì sợ mẹ”. Tôi lườm con và tiếp lời: “Còn mẹ thì lại sợ con”.

Khi tôi từ sân bay về, Chu đang khóc. Anh cảm thấy bất lực, hụt hẫng, anh nuôi nấng một con sơn ca mà chưa bao giờ kịp nghĩ đến ngày nó sẽ vuột bay đi. Tôi dỗ dành anh: “Nhím rất yêu anh, nó sẽ về”. Chu lắc đầu: “Nếu nó yêu tôi thì đã nghe lời tôi”.

Nhím đi rồi, khoảng trống giữa tôi và Chu bỗng như vô tận. Anh luôn nói: “Mình đã mất đứa con”. Tôi không cảm thấy mất con, mà thấy mình đã mất mình…

Nhím lên Paris, nạp đơn thi vào nhạc viện. Con bé viết thư về: “Con mới đàn thử cho thầy nghe lần đầu, thầy lắng nghe rất kỹ rồi khen “Joli”. Mẹ đừng ngạc nhiên, đó là thầy khen tiếng đàn, chứ không phải khen con”. Tôi khấp khởi mừng, trong khi Chu vẫn hy vọng con sẽ bỏ cuộc. Anh bảo: “Từ nhỏ nó đã bao giờ có đến một ngày chịu cực đâu”. Nhưng rồi Nhím thi đậu, được học bổng của nhạc viện. Chu tuyệt vọng. Con gái sẽ không về.

Người quen đến thăm, ai nghe Nhím bỏ trường Y cũng chắt lưỡi tiếc rẻ. Chu càng đau hơn. Nhưng rồi những lời tiếc rẻ cũng thưa dần đi, nhất là khi phong trào du học rần rần nổi lên. Cuối cùng Chu cũng đã bị thuyết phục. Giờ đây đi đâu anh cũng khoe con gái anh tháo vát, can đảm. Anh thay đổi cả cách nhìn về Kim. “Nhím có nói gì với em về thằng Kim? Sao không thấy nó xin cưới?”. Tôi bật cười: “Anh đào đâu ra cái ý nghĩ ấy? Giữa chúng nó chỉ có công việc”. “Hừ, anh không tin”. Lần này, Chu có lý. Cuối năm Nhím thư cho tôi: “Anh Kim ngỏ lời với con. Con bảo con không yêu, anh ấy trả lời y chang hồi nào: “Tình yêu đến sau, cơ hội đến trước”. Con dị ứng, bảo: “Không giống như chuyện công việc. Bốn năm qua, tình yêu đã không đến thì mãi mãi sẽ không đến”.

Tôi mỉm cười. Sao tôi lại đặt tên con là Nhím nhỉ? Nó luôn luôn xù lông. Ai có thể vuốt ve con Nhím ấy mà không bị thương? Ngày xưa, người chấm tử vi đã báo trước: cô bé này cao số. Tôi lo sợ e nó không lấy được chồng.

Nhưng bây giờ, Nhím đã gọi điện cho tôi để xin kết hôn. Chú rể không phải là Kim, mà là một người đàn ông bốn mươi bảy tuổi…

Giờ đây con người ấy đang ngồi trước mắt tôi. Theo lời Nhím, ông ta lớn hơn tôi hai tuổi.

Tại sao Nhím lại không có mặt ở nhà khi ông ta đến? Con bé không muốn nhìn thấy sự lúng túng của cả tôi và cả ông ta? Cả Chu cũng không có mặt. “Anh mệt mỏi lắm rồi, vả lại chiều nay, anh có cuộc họp quan trọng”. Anh thắt cà vạt và đi. “Nói con bé chọn đi, hoặc là cha mẹ hoặc là con người đó”.

Tôi biết tính Nhím. Nó không phải là người không dám chọn lựa. Nhưng nó sẽ không chọn lựa, bởi với Nhím, thật điên rồ khi bi kịch hóa mọi chuyện. “Con yêu ba mẹ và con cũng yêu ông Lãm, hai điều đó không loại trừ nhau”. Tôi giận dỗi hỏi con: “Trên đời hết đàn ông rồi sao?” Nhím mở to mắt như muốn soi thấu cả tim can tôi: “Mẹ đã biết, nhân loại rất đông nhưng chẳng có ai thay thế được ai”.

Bây giờ, dưới gốc cây bạch mai hoa trắng, tôi ngồi đối diện với người khách lạ. Lặng yên một lúc, cuối cùng tôi đành thú nhận sự lúng túng: “Không biết gọi anh bằng gì”. Người đàn ông không bối rối như tôi, anh ta mỉm cười chững chạc: “Chị đừng băn khoăn. Tiếng xưng hô chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài quan hệ”. Anh ta tiếp lời: “Qua Thể Tú, tôi biết chị là người nhạy cảm. Thật đáng tiếc vì tôi đã làm chị buồn lo, nhưng không thể khác”.

Thực kỳ lạ, ông ta lại là người an ủi tôi. Lớn hơn tôi hai tuổi nhưng trông ông trẻ hơn, vẻ đi đứng nói năng cũng nhanh nhẹn hơn. Tuy vậy cũng chỉ là một người đàn ông rất bình thường. Một người như thế mà con tôi phải đi hàng ngàn dặm mới gặp được sao? Tôi thấy xót.

“Tôi là thầy dạy của Thể Tú. Tôi sống ổn định nhưng không giàu có. Con người tôi, ngoài âm nhạc, chẳng có gì đáng nói. Cả đời tôi chưa hề quan tâm đến hôn nhân, rồi khi gặp Thể Tú, tất cả đều khác đi”.

“Nhưng nó còn nhỏ quá”. Tôi chỉ thốt ra được có thế và không cầm được nước mắt.

“Tôi đã nói với Thể Tú rồi, rằng tôi sẽ chết trước cô ấy rất lâu, không thể sống trăm năm cùng già như mong muốn của người Việt Nam mình… Nhưng chị là người sinh ra Thể Tú, chị cũng biết tính cô ấy”.

“Tôi biết. Con tôi rất khác tôi. Nó sẽ lập lại mãi cái điều nó đã nói: Nếu phải chọn giữa một hạnh phúc mong manh và một bất hạnh vững bền, nên chọn cái gì hơn?

Trời âm u, chuyển mưa. Vài hạt nước rơi từ cao, làm rụng xuống giữa chúng tôi những cánh bạch mai trắng nõn. Vài giọt rơi xuống khu vườn, rồi cơn mưa sa xuống trên cây cỏ. Tôi đứng dậy đi vào hiên, ông Lãm đi sau tôi. Cả hai chúng tôi ngồi yên lặng.

“Mẹ ơi!”. Nhím đã về, con bé đi vào, gọi tôi. Tóc và áo Nhím lấm tấm ướt, chắc trên đường về nó đã chạy đua với cơn mưa bóng mây.

Tôi vội lau nước mắt, sợ con nhìn thấy. Bất giác tôi đưa mắt nhìn ông Lãm như cầu cứu, ông ta hiểu ngay, tiến đến trước Nhím, vóc dáng vững chãi của ông che khuất tôi. Ôâng ta lau tóc và áo cho con tôi, như tôi vẫn làm cho nó ngày xưa. “Em không bao giờ biết phòng xa” – giọng người đàn ông trầm và âu yếm. Nhím cười hồn nhiên: “Mưa mùa này rất hiền. Anh không thấy mưa thơm mùi cỏ cây sao?”. Ngược với ảnh ảo về một Nhím trẻ thơ trong tôi, Nhím bên cạnh người đàn ông trông cao lớn, mảnh mai với gương mặt ửng hồng rạng rỡ. Con gái tôi đang sống trong mùa đẹp nhất của một đời, lúc mọi cảm xúc được khơi dậy với những khả năng kỳ lạ, khiến cơn mưa chợt có mùi thơm và màu trời buổi chiều cũng có độ sâu như tiếng nhạc.

Trời vẫn mưa, rất nhẹ. Tôi rùng mình. Cơn mưa vẫn muôn đời bao dung. Cơn mưa uyên ương một đời tôi đã quên, mong manh mà vĩnh cửu.

Đêm xuống, khi chỉ còn mình Nhím với tôi, tôi lưỡng lự bảo con: “Nhím này, mẹ nghĩ rằng có lẽ… khi nói với ba, con nên nói giảm tuổi của ông Lãm xuống chừng mười tuổi. Ông ấy trẻ hơn tuổi nhiều mà”. Nhím ôm lấy cổ tôi, reo lên: “Nghĩa là mẹ đã bằng lòng? Mẹ ơi, mẹ có tin con sẽ hạnh phúc không?”. Tôi ngập ngừng không nói. “Thế tại sao mẹ chấp nhận?”

Tôi không biết. Có một lực hút mãnh liệt cứ kéo tôi về phía Nhím.

Đêm ấy, khi tôi vào phòng, Chu nằm khoanh trên giường với đôi mắt đỏ. Tôi bỗng thương anh. Anh luôn hụt hẫng trong mọi chuyện. “Thằng cha ấy bằng tuổi anh. Lố bịch quá, anh không thể nào chịu nổi”. Tôi lạnh người. Nhím đã không nghe tôi, nó đã không nói dối. Vậy là gánh nặng trên vai tôi không hề giảm nhẹ. Nhím đã tin, cũng như mọi lần, tôi sẽ thuyết phục được Chu.

Chu quay quắt trông tội nghiệp. Tôi nhẹ nhàng xoa trán và lưng anh để anh dịu lại. Tôi đang phải thuyết phục anh, vì Nhím. Bỗng nhiên tôi thấy một cảm giác chán nản vu vơ. Cảm giác ấy, gần hai mươi lăm năm nay vẫn hiện ra trong tôi, mỗi khi chiều xuống, nhất là khi trời chuyển mưa, cơn mưa thơm nồng mùi cỏ cây.

Giờ đây, cũng với cảm giác ấy trong tim, tôi dự tính những gì mình sẽ nói. Tôi biết mình sẽ phải gợi cho Chu tiếp tục nghĩ đến dự định tổ chức lễ bạc, rồi việc thừa nhận Lãm trong ngày đó với tư cách chồng chưa cưới của Nhím. Một việc lố bịch mà Chu sợ hãi. Nhưng tôi phải vì Nhím. Phải vì Nhím mà vội vàng. Lãm bảo tôi: “Nếu Nhím ở lại Việt Nam sáu tháng nghĩa là tôi cũng sẽ thu xếp để về Việt Nam sáu tháng. Tôi biết có thể chúng tôi sẽ không ở bên nhau lâu dài, nên bao lâu còn có nhau chúng tôi sẽ không rời nhau”.

Tôi đứng dậy vào góc phòng, lấy chiếc giá đèn bằng bạc. Chiếc giá đèn này là của Tuấn để lại cho tôi trước khi ra đi.

Tuấn là người không bao giờ đổi ý. Sau khi tôi nói lời tạm biệt, anh không hề quay lại. Bao nhiêu năm nay, tôi không rõ anh ở đâu, chỉ biết rằng anh đã để tôi sống bình yên với sự lựa chọn của mình. Hàng năm, chiếc giá nến này vẫn nằm trong góc, chỉ được cắm nến và thắp một lần vào đêm đầu năm dương lịch.

Đây là lần ngoại lệ đầu tiên. Giữa đêm mưa, tôi cắm hai ngọn nến. Một ngọn để cầu cho niềm tin của Nhím và một ngọn cho sự bình yên cuối đời của tôi. Hình như những ngọn nến cũng có số phận, ngọn lửa của Nhím cháy bùng lên rực rỡ mà sao ngọn của tôi cứ leo lét bập bùng. Hơn hai mươi năm qua, tôi luôn mơ hồ nỗi sợ của người vượt trùng khơi trên chiếc tàu rệu rã, luôn nơm nớp lo một đợt sóng lớn ập tới, đập vỡ con tàu thành từng mảnh nát tan.

Chỉ vì may mắn mà sóng dữ đã không đến. Giờ đây tôi đã có một cuộc hôn nhân tốt đẹp, được thời gian đóng dấu son chứng nhận. Nhưng chỉ mình tôi biết, thật ra con thuyền của tôi chưa cập bến bao giờ.

Tôi nằm xuống bên Chu, cố hình dung ra bữa tiệc vui tươi của ngày lễ bạc.

Trần Thùy Mai

THÁNG TÁM VÀ TÔI

 

tháng tám, biển không có gì khác
vỗ giữa ngàn xanh sóng bạc đầu
Ta nhớ một người, ta bạc tóc
nối những sợi dài suốt bể dâu

tháng tám, mơ hồ ta định hướng
về đâu về đâu những ngả đường
nhìn đâu con mắt cay mùi khói
quay người đối diện thú đau thương

tháng tám một ngày ta nhớ lại
mênh mông chiều thu, thu mênh mông
có con châu chấu nằm trong lá
ăn những chồi non mới nhú lên

Tháng tám lơ ngơ tìm con phố
cà phê và lá rụng trên bàn
một chút gì đau hoài niệm ấy
một chút gì ta nghe nát tan

tháng tám có khi là cơn bão
ngụ giữa lòng ta bao nhiêu năm
bao nhiêu năm ấy còn mơ được
sao phút này đây lại khóc thầm

tháng tám với em không gì cả
em vẫn hồ như không nhớ ta
không nhớ một ngày nằm đợi chết
mưa đổ nghìn trùng trong cách xa…

Phạm Khánh Vũ

LỤC BÁT TÌNH

 

giữ ngày thương nhớ chia phôi
em theo hoa nắng về trời mất tăm
hốt mưa anh nhốt lệ dầm
vén vun chăm bón cho xanh tháng ngày

con chim yên ả đường bay
tìm cây lót ổ dựng gầy đời riêng
dẫu gì cũng phận thuyền quyên
chiếc nôi hạnh phúc ru bền bỉ em

“chia đôi ngọn gió tháng giêng
nửa chung em giữ nửa riêng anh cầm”**
em là hoa nắng đương xuân
là câu ru mượt theo nghìn dặm xa

em là hương bưởi hương cà
là hơi đất Mẹ với Cha gieo mầm
để cho anh ngóng anh trông
đi qua đời chậm đợi vòng tái sinh

dọn lòng đon đả tân nghinh
nụ hồng em thướt tha xinh bước về
tình mà…như một lằn mê
xiên qua đau đớn đọng thề thốt trôi

leo lên quán dốc gió ngời
nhả từng ngụm khói nhớ người dưới xa
suốt đời làm kẻ bôn ba
đôi lần trở lại buồn tha thẫn buồn

em về phố vẫn mù sương
còn hàng cây đổ bóng nương nắng chiều
còn đôi mắt nhớ ngó theo
bay qua miền khói lạc đèo xa non

em về nuôi mỏng mắt đêm
trơ hàng bóng ngã dãy đèn lặng thinh
nồng tay xếp gọn tóc lành
đêm bên phố cũ thương nhành lá buông

vén sầu chảy mượt nguồn ơn
lắng nghe ngoài núi sấm vờn bãi hoang
hai tay che gió ngực trần
mùi trần gian phảng phất đang lấn về

suốt đời tình luống bụi mê
suốt đời em vẫn đi về trong anh
mưa nguồn chớp bể vây quanh
rớt dòng lục bát để dành mốt mai

Lê Hát Sơn

Mặt Trời Phía Sau

 

 

“Luôn bắt đầu bằng một hình ảnh. Điểm xuất phát phải là một hình ảnh trong đầu mà tôi muốn người đọc nhìn thấy. Hình ảnh ấy mang một xúc động, một cảm giác mà tôi cố gắng tường thuật trên giấy. Tôi chưa rõ nội dung khi bắt đầu viết, tôi không biết liệu sẽ tạo ra một câu chuyện hai trang hay một trăm năm mươi trang, hay cuối cùng sẽ không thành gì hết – chỉ một đoản thiên rồi không đi đến đâu, không khai mở điều gì…”

Eduardo Halfon, cách đây nhiều năm kể về cách hình thành văn bản của chính mình. Halfon chuyên truy lùng căn cước di dân qua trôi giạt rồi tìm về cội nguồn bị áp bức. Có gì giống giữa Trương Vũ với Halfon, một nhà văn Do Thái sinh tại Guatemala?

Giống ở sự trôi giạt. Sự ly tán gia đình. Nhìn cách này, Trương Vũ gần với Halfon: Nhiều thứ đã đi vào quá khứ nhưng vẫn để lại những dấu vết sâu đậm trong tim mình. Tôi muốn nói về một câu chuyện thật, được kể lại để làm nền cho tác phẩm The Bridge on the Drina (Chiếc Cầu trên sông Drina) của nhà văn Nam Tư (Yugoslavia) Ivo Andric’, người đoạt giải thưởng văn chương Nobel 1961. Tác phẩm lấy bối cảnh của thành phố Visegrad của Bosnia từ thế kỷ 16 trở về sau. Đây là nơi thường xuyên chứng kiến những tranh chấp tàn bạo giữa hai đế chế Thổ và Áo-Hung, và cũng là tranh chấp giữa Hồi Giáo với Thiên Chúa Giáo (gồm Công Giáo và Chính Thống Giáo) liên tục suốt 400 năm. Để ngăn chận sự phát triển của Thiên Chúa Giáo, người Thổ tổ chức bắt cóc những đứa con nít thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, thường là những gia đình nghèo, đưa sang vùng cai trị của Thổ, bên kia sông Drina. Những đứa bé này được cải sang đạo Hồi và lớn lên như người Thổ. Rất nhiều bà mẹ đưa con đi chợ với mình, quay nhìn lại không thấy con đâu, rượt theo kẻ cướp cho đến bờ sông Drina, dừng lại, ngơ ngác nhìn theo chiếc phà chở con qua sông. Lúc đó, phà là phương tiện duy nhất để qua sông. Bên kia là vùng cai trị của đế quốc Thổ.

Thời gian đầu ở Mỹ, cả gia đình tôi còn lại Việt Nam. Hình ảnh những bà mẹ đứng ngơ ngác bên này sông Drina luôn ám ảnh. Có nhiều đêm, tôi nằm mơ thấy dẫn các con đi chơi, đang ngồi ăn uống vui vẻ, chợt nhìn lại không thấy con mình đâu.” [Trương Vũ/ Mưa Ướt Vị Thành]

 

Halfon không khác, trong sự phát tán: “Bốn ông bà tôi sinh ra: một ở Liban, một ở Ba Lan, một ở Ai Cập và một ở Syrie. Tình cờ tất cả đều đến Guatemala vào giữa thế kỷ 20, bằng lang thang du mục không có gì khác ngoài Do Thái giáo. Nhưng tôn giáo không đủ lấp mất mát và ngơ ngác. Họ đánh mất người thân trên các lục địa khác. Đánh mất vì nhiều lý do mà tôi chưa biết hết. Khổ đau và cô độc thì tôi đã nhìn thấy trong mắt họ.”

 

Eduardo Halfon và Trương Vũ còn chung cách hình thành văn bản từ một hình ảnh.

 

Ở Halfon, là trận nắng: “Khi viết Tu Viện, hình ảnh mà tôi có trong đầu là cảm giác khó chịu của một ngày về đến Israël, không muốn về, nhưng bị thúc đẩy bởi một thứ bổn phận đầy phiền toái bắt buộc tham dự đám cưới của chị mình. Bên trong tấm ảnh ký ức còn tất cả sức nóng ngột ngạt của sân bay Tel Aviv. Là hình ảnh đầu tiên khi tôi đặt bút viết.” [Eduardo Halfon/ La Fiction m’aide à passer de l’Individuel à l’Universel].

 

Ở Trương Vũ, là trận mưa: “Tôi nhớ những cơn mưa ở Việt Nam, Nha Trang hay Sàigòn. Mưa Sàigòn thường đến ào một cái rồi ngưng. Mưa Nha Trang kéo dài lâu hơn, nhiều khi dầm dề, và cái cảm giác ướt át lành lạnh nó để lại thường dai dẳng. Tôi nhớ những buổi tối, ở xa về, tôi lang thang trên bãi biển dưới mưa, nhiều đêm mưa tầm tã vẫn không muốn về. Tôi nhớ những ngày còn ở trung học, ngồi trên thềm nhà đọc sách, nước mưa rơi xuống từ mái hiên, thỉnh thoảng những giọt mưa tạt nhẹ vào người. Tôi nhớ những đêm mưa tôi dạy học trong một lớp luyện thi. Học trò từ nhiều trường khác nhau, Lê Quý Ðôn, Võ Tánh, Nữ Trung Học… Lớp học mượn của đình Phương Câu, trống một bên. Khi gió lớn, cả thầy lẫn trò đều ướt. Bốn mươi lăm năm đã qua rồi, tôi vẫn còn nhớ rất rõ nét mặt một số học trò trong lóp đó. Tôi còn cảm nhận được cái lành lạnh của nước và mường tượng âm vang tiếng cười giòn của các em khi cố lách mình tránh mưa.” [Trương Vũ/ Những Cơn Mưa Ngày Cũ].

 

Đến đây chấm dứt sự giống nhau, vì Halfon truy tìm nguồn gốc của thảm kịch, còn Trương Vũ tìm sự lạc quan sau bi kịch. Trận nắng của Halfon là trận nắng của thực tại bực bõ khi về quê. Cơn mưa của Trương Vũ không phải mưa bi lụy mà mưa qua lớp học, với học trò. Halfon xây cất tiểu thuyết trên sân phi đạo Tel Aviv của một Do Thái kiều hồi hương, Trương Vũ xây cất tiểu luận trên nền gạch ướt mưa của sân trường cũ. Hai tâm thức. Hai hướng đến.

 

oOo

 

Tháng 5-1979 tôi đạp xe vào ngôi hẻm trên đường Hiền Vương. Ngôi hẻm có hiệu phở đầu ngõ trông sang cây xăng dẫn vào đường Duy Tân. Tôi đến chào thầy Lâm Ngọc Oánh. Tôi nói với thầy: “Em đến chào thầy.” Hai chữ vượt biên không thốt ra. Thầy Lâm Ngọc Oánh nhìn tôi đăm đăm, thầy không một lần hỏi vì sao, không một lần phát âm hai chữ vượt biên. Tháng 5-1979 là cao trào của vượt biên bán chánh thức, các học trò của thầy thay nhau biến mất. Thầy hiểu nên không cần hỏi và ban lời duy nhất: “Em đừng làm gì để bản thân, gia đình và dân tộc bị khinh.” Tôi không gặp lại thầy nữa.

Tháng 5-2019 tôi nhận sách tặng của một người thầy khác: thầy Trương Hồng Sơn, bút danh Trương Vũ. Tôi không học với thầy Sơn nhưng thầy Oánh và thầy Sơn đối với tôi không khác lắm, cả hai là sản phẩm của miền Nam, những giáo chức tận tụy và nhận lại ở học sinh lòng kính trọng cùng thương mến. Khác biệt là thầy Oánh ở lại và thầy Sơn ra đi. Chính nhờ ra đi mà thầy Trương Hồng Sơn trở thành khoa học gia rồi nhà văn, họa sĩ Trương Vũ. Nhưng thầy Sơn trở về và cho xuất bản Đuổi Bóng Hoàng Hôn.

 

Vì sao tựa này?

 

Đuổi theo chiếc bóng tuổi trẻ của chính mình khi bóng xế chiều tà hay xô đuổi ánh chạng vạng để thấy mặt trời phía sau bóng tối? Đọc hết tập sách, tôi có câu trả lời: cả hai. Chính ý nghĩa của cả hai: Mặt trời đã sau lưng vì tuổi già ập đến nhưng vẫn còn phía trước, phía sau hoàng hôn cho một tuổi trẻ khác. Ý nghĩa này là tựa sách. Một mặt trời của quá khứ và tương lai, từ một điểm nhìn là sân trường Việt.

Vị trí ấy giải thích vì sao Đuổi Bóng Hoàng Hôn là một tập tiểu luận pha tùy bút. Vì sao Trương Vũ chọn lối văn tâm tình ngay cả trong những chương thuần tiểu luận. Không hành văn hàn lâm, không phương pháp luận giải đại học mặc dù tác giả rất am tường. Vì là lời khuyên và tâm tư của một thầy giáo. Nếu, vẫn còn chút ít chất sư phạm mà Trương Vũ thừa nhận: “nghề dạy học, với thêm chút tự phụ, dần biến tôi thành một người mô phạm trong cái nghĩa nghiêm túc và nghiêm khắc.” thì ưu điểm nằm trong cách trao đổi thẳng thắn với các học sinh mà Trương Vũ xem đã trưởng thành, ngang hàng. Đuổi Bóng Hoàng Hôn phải nhìn ở góc độ này: 2/3 được viết cho học trò cũ và tuổi trẻ ngày mai, 1/3 còn lại cho các bạn cũ. Trong tổng thể, vẫn là cho tuổi trẻ.

 

Thể tiểu luận khá hiếm trong ngành xuất bản tiếng Việt. Vì ít bán chạy. Vì khô khan. Đuổi Bóng Hoàng Hôn không vậy. Nhờ vào tính chất trữ tình của giọng văn. Nhờ vào điều Trương Vũ tự nhận xét: Sau này lên dạy đại học, tôi càng trở nên nghiêm khắc hơn với học trò mình, với nhiều người xung quanh nhưng lại ít nghiêm khắc với chính mình hơn.” Chính sự thiếu nghiêm khắc đó cho chúng ta những chương Mưa Ướt Vị Thành, Nói Với Chàng Siêu, Lá Mùa Thu, Nắng vàng Trong Rừng Khô, Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, Về Lại Sorrento.

 

Đuổi Bóng Hoàng Hôn còn bật lên hình ảnh những ngôi trường. Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Đề Căn Bản là chương quan trọng. Trương Vũ là nhà văn tỵ nạn đầu tiên đặt vấn đề cải cách giáo dục quê nhà, ở vào thời điểm chưa ai bàn đến và chưa nhiều sự kiện tha hóa. Khi biết những kiến nghị, đề nghị, hay đề xuất ngay cả của những nhân sĩ thậm chí của các công thần khai quốc “phục viên” vẫn không được Đảng đương quyền liếc mắt, càng thấy sự tha thiết của một giáo chức miền Nam, là thầy Trương Hồng Sơn. Vĩ tuyến 17 còn hay mất? Thắng trận hay bại trận? Không trầm trọng. Trầm trọng là tương lai. Chức năng của một giáo sư là đào tạo và chuẩn bị cho học sinh bước vào tương lai. Trương Vũ, tức thầy Trương Hồng Sơn không quên điều này. Chương 7 của tập sách là tâm huyết của thầy.

Bỏ ra nhiều công sức thâu thập tổ chức học đường của các quốc gia Á châu, cập nhật với giáo dục Hoa Kỳ và phóng chiếu ngược vào học đường miền Nam, Trương Vũ so sánh từng quốc gia, chỉ ra bất cập căn bản của hệ thống XHCN và đề xuất cải cách. Ba suy nghĩ chính của Trương Vũ là Đại học tự trị, Đãi ngộ giáo chức và Sự Tự do bình đẳng giữa sinh viên với giáo sư trên lĩnh vực tư duy và phát kiến. Không mới với phương Tây, nhưng là hy vọng của một thầy giáo vẫn nghĩ còn trách nhiệm với tuổi trẻ quê cũ.

 

“Ðiều cần ghi nhận trong giáo dục toàn diện, không riêng gì cho Singapore, là phần đức dục phải bao hàm tính trung thực, trong sáng, hồn nhiên; phần trí dục phải bao hàm khả năng suy tư độc lập và tôn trọng sự khác biệt; phần mỹ dục phải bao hàm khả năng sáng tạo và khả năng làm đẹp cuộc đời; và phần giáo dục tính xã hội phải bao hàm khả năng biết tôn trọng tính đa dạng của cộng đồng và xã hội. […] Một nền giáo dục thực sự phát triển con người toàn diện không thể là một nền giáo dục nhằm phục vụ một chế độ, một quan điểm chính trị, một tập thể lãnh đạo, một giai cấp, một tôn giáo,v.v. Lỗi lầm quan trọng nhất trong giáo dục Việt Nam lại nằm ở điểm này. Ở miền Bắc trước khi chiến tranh chấm dứt, và ở cả nước trong khoảng gần 20 năm tiếp theo đó, nó là một nền giáo dục của xã hội chủ nghĩa, nó không chấp nhận những mô hình xã hội khác, những tư duy khác. Bên cạnh đó nó là một nền giáo dục mang tính giai cấp, dành đặc quyền giáo dục cho một thành phần của xã hội. Ngày nay, tính giai cấp quả thật đã giảm đi nhiều. Riêng về các môn học như Triết học Mác-Lê-nin, Chủ nghĩa khoa học xã hội, Lịch sử Ðảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v. dù thực tế cho thấy sự thất bại không thể chối cãi của mô hình xã hội chủ nghĩa, chúng vẫn còn là những môn học bắt buộc và chiếm một thời lượng không nhỏ trong chương trình học và cả trong thi cử. Dù rằng, không phải đến bây giờ mà đã hơn mười năm trước đây, các môn học này đã được xem là những môn mà “thầy không muốn dạy, trò không muốn học”. Sự bắt buộc này kéo theo một vấn nạn khác của giáo dục: buộc học trò chấp nhận và sống với sự giả dối và bất công. Nhất là bất công với những triết thuyết khác, những đóng góp trí tuệ khác trong suốt quá trình phát triển của nhân loại. Theo Quốc Việt, “Việc đưa lịch sử đảng cộng sản, chứ không phải lịch sử quốc gia và dân tộc thành một môn học bắt buộc là một việc không những đi ngược lại với yêu cầu của xã hội mà còn phản lịch sử, phản dân tộc, và phản tiến bộ.” […]

Giáo dục Việt Nam cần giảm bớt mô thức giảng dạy áp đặt và tăng cường mô thức gợi ý.

Cần giảm thiểu sự mệt mỏi của học sinh, nhất là học sinh cấp tiểu học. Ðặc biệt, nên giảm bớt lượng kiến thức hay thông tin trong chương trình học. Nhắm đến một hành trình lâu dài hơn của con người. Không nên để họ gục ngã sớm về đầu óc.

Ðặt nặng vào việc đào tạo giáo chức và dành những đãi ngộ đặc biệt cho họ. Trong trường hợp các nước đang phát triển như Việt Nam, giáo chức phải được tuyển chọn từ thành phần ưu tú nhất của đất nước. Trong thực tế, một thanh niên ở tuổi 18 mới bước chân vào đại học chưa có ý niệm gì về những vấn đề như yêu trẻ, như hết lòng đào tạo tốt những thế hệ tương lai của đất nước. Chỉ có lòng tự hào, sự đãi ngộ và vị trí xã hội mới lôi kéo được các sinh viên ưu tú nhất vào các trường sư phạm, gần giống như cái cách mà nước Pháp đã dành cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm của họ, hay chính sách của Ðại Hàn như đã trình bày trên đây. Ðiều này đòi hỏi một chính sách ưu đãi từ phía chính quyền và một thái độ yểm trợ tinh thần từ xã hội.

Ðối với các trường đại học, ngoài việc áp dụng chương trình giảng dạy theo mô hình của các quốc gia tiên tiến tây phương, quyền tự trị đại học cần được ban hành cho đại học Việt Nam. Thiếu sự tự trị, đại học Việt Nam khó thể hoàn tất vai trò đào tạo trí thức của nó. Ðây có thể là một liều thuốc đắng nếu chính trị xem đại học như một lực lượng đối kháng nguy hiểm. Nhưng, đây lại là một điểm chuyển hướng quan trọng để những thành phần tốt nghiệp đại học trong tương lai không mang mặc cảm nào với những đồng nghiệp ở các nước tiên tiến, đặc biệt ở các nước Á châu vốn trước đây có cùng điều kiện văn hóa, giáo dục, kinh tế với Việt Nam, như Ðại Hàn và Ðài Loan. Từ điểm chuyển hướng đó, họ mới có thể đóng góp cho đất nước bằng tất cả sức mạnh tinh thần, lòng hăng say, và niềm kiêu hãnh của họ. Ðừng nên quên một thực tế này, một sinh viên Việt Nam nếu bằng cách nào đó ra khỏi nước, vào học các trường đại học của tây phương, khi trở về (ngay cả khi  quyết định ở lại ngoài nước) thường được coi trọng hơn là nếu anh ta chọn ở lại với trường đại học trên quê hương. Sự kính trọng đó phát sinh từ những điều kiện về giáo dục mà sinh viên đó được hưởng ở nước ngoài, bao gồm những điều kiện mà anh ta hoàn toàn bị từ chối nếu chọn ở lại trên quê hương. Ðây là một bất công rất khó giải thích.

Ðề nghị sau cùng, và có lẽ là đề nghị quan trọng nhất, là nhà nước Việt Nam nên xem phát triển giáo dục toàn diện là ưu tiên hàng đầu của quốc gia, xem nguồn nhân lực được đào tạo qua giáo dục là tài nguyên quí giá nhất của đất nước. Và, khi làm chính sách giáo dục đặt trọng tâm vào những mục tiêu lớn như đào tạo con người trung thực, có sáng tạo, có tư duy độc lập, biết tôn trọng sự khác biệt, v.v. bên trên sự chuyển giao tri thức.  Và, quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa. [Trương Vũ/ Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Đề Căn Bản]

 

Những điều trên, thầy Trương Hồng Sơn viết đã hai thập niên, còn nguyên giá trị.

 

oOo

 

Đuổi Bóng Hoàng Hôn bao gộp 8 tiểu luận với 2 điểm sách và 10 tùy bút. Đặt sang bên những ghi của tác giả dành cho những người bạn, rồi tùy bút kỷ niệm, còn lại là những luận đề và kiến giải mang những chủ đề vô cùng khác biệt, tách bạch và riêng rẽ. Thông điệp nào chung giữa chúng?

Chương 12: Trương Vũ khảo sát bối cảnh lịch sử hình thành của tạp chí Sáng Tạo (như Lukács luôn yêu sách) với khả năng đổi mới sáng tác của từng thành viên, từ Duy Thanh, Ngọc Dũng đến Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền xuyên qua đánh giá công lao của Mai Thảo. Điểm gây chú ý là tác giả trình bày chi tiết những va chạm với Nhất Linh khi Nhất Linh rời Đà Lạt cho ra mắt Văn Hóa Ngày Nay.

Trương Vũ trích tấn công của Duy Lam: “Không biết rõ trong thực yế phản ứng của nhóm Sáng Tạo như thế nào đối với VHNN, nhưng sự cọ xát phải lên đến một mức độ trầm trọng. Ðến nỗi Nhất Linh đã cho đăng những bài công kích hay chế giễu Sáng Tạo. Một cách không công khai như bài viết của Thu Vân trên VHNN số 3, hay tương đối công khai như bài viết của Duy Lam trên số VHNN Giai Phẩm Xuân 1959: “…đến gần mới biết đó là một họa sĩ của nhóm Sáng Tạo (…) Họa sĩ vẽ tài thật, tác phẩm của họa sĩ thật thể hiện được hết tinh thần và tinh túy nội ngoại của đống rác (…) Bước chân vào tòa báo Sáng Tạo tôi lấy làm lạ vì thấy mỗi người đứng một góc phòng trước một bàn thờ nhỏ treo một bức ảnh bán thân. Họ làm đèn khấn vái rất thành kính và lễ luôn tay. (…) Tôi đến sau lưng văn sĩ M.T. người chủ trương nhóm S.T. anh cũng không hay biết. Lắng tai tôi nghe thấy anh khấn: ‘Trời ơi! Người là một người siêu phàm! Người là tất cả. Người ngự trị trên thế giới này! Ta kính phục người, trọng người vô vàn!…’

Tò mò tôi nhìn lên bàn thờ thì chợt giật mình kinh hoảng vì lạ thay anh M.T. đang lễ ảnh anh M.T.! Qua thăm những bàn thờ khác thì đại loại đều thế cả (…)”

 

Rồi đúc kết: “Thực tế, mặc dầu được sự đón nhận vô cùng nồng nhiệt từ lúc đầu, trong sự cọ xát đó, người đọc hờ hững với Văn hóa Ngày nay (VHNN). Tạp chí VHNN kéo dài không được hai năm thì đình bản. VHNN quy tụ được rất nhiều cây viết có thực tài. Thế nhưng, nếu nhìn VHNN như một vận động văn học thì ảnhh ưởng của nó trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của miền Nam lại rất khiêm nhường.

Ghi lại những cọ xát đó cùng với cách kết thúc đó chỉ để nói lên một điều: miền Nam đã thay đổi nhiều lắm. Mặc dầu rất kính trọng Nhất Linh, người đọc sách ở miền Nam không còn muốn thu mình trong cái thế giới văn chương của ông nữa. Họ gần với Sáng Tạo hơn. Không có gì sai trong chủ trương “văn phải dựa vào thời gian và dựa không gian để vượt không gian”. Rất đúng là đằng khác. Tuy nhiên cái thế giới văn chương của Nhất Linh ở VHNN vẫn còn quẩn quanh trong văn chương của trường ốc. Ngoài văn chương cổ điển Việt Nam và Trung Quốc, nó thu hẹp trong ảnh hưởng văn chương Pháp của thế kỷ 19 cộng với Leo Tolstoi và Dostoievski của Nga. Trong suốt các số VHNN, người đọc không thấy sự hiện hữu của thế kỷ 20, cũng như không thấy có dòng văn học nào khác ở thời đại này.

Vào thời điểm đó, sự khao khát sống vượt ra ngoài cái thế giới nhỏ bé của miền Nam đã rất lớn. Những ý thức về độc lập và bình đẳng cũng đã bắt đầu ăn sâu. Có lẽ vì vậy mà tính cách của xã hội miền Nam và của văn học miền Nam gần với Sáng Tạo hơn là với VHNN.” [Trương Vũ/ Vị Trí Của Sáng Tạo Trong Sự Phát Triển Văn Học Miền Nam Sau 1954]

Trong đúc kết này, người đọc bắt gặp lại câu kết của Chương 7 Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Đề Căn Bản: “Và, quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa.” tức là trong văn chương, phải hướng đến các giá trị phổ quát mới của thời đại, phải nhìn ra thế giới. Phải tìm đến một mặt trời khác, đang trước mặt.

 

Chương 5: “Vấn đề đáng nói ở đây là sự thức tỉnh của dân tộc Tiệp Khắc. Để nói về sự thức tỉnh này, không có gì hơn là ghi lại một câu viết trên bức tường một hầm xe điện ngầm ở Prague: Chúng ta đã tập bay như chim và tập lặn như cá. Có phải đây là lúc chúng ta bắt đầu sống như những con người?” [Trương Vũ/ Mùa Đông Prague]

 

Vẫn cùng một thông điệp: “quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa.”

 

oOo

 

Trong 10 tùy bút, nếu Mưa Ướt Vị Thành thành công nhất ở lối văn tâm tình thì Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm gây tò mò. Xuống đến thế hệ thiếu niên của miền Nam vào năm 75, rất ít ai còn biết đến thầy Cung Giũ Nguyên, ngay cả mối tình với Nguyễn Thị Hoàng.

Trương Vũ viết về thầy mình với tất cả kính trọng. Một vị thầy thông thạo Anh-Pháp-Việt, một tiểu thuyết gia phá cách, có nhân sinh quan và sáng tạo. Một con người đã thăng trầm từ Xứ ủy Trung kỳ sang đến Nền Cộng hòa để cuối cùng thu mình vào “xó góc của Trần Đức Thảo”, như Louis Althusser đặt tên cho đất Việt Cộng sản. Là học trò của thầy Cung Giũ Nguyên, Trương Hồng Sơn cũng không thoát khỏi tao loạn: sinh ra giữa chiến tranh Việt-Pháp, lớn lên trong nội chiến để rồi phải thành công dân Hoa Kỳ và làm nhà văn tỵ nạn. Hai thế hệ nối nhau. Sự tan vỡ cũng liền nhau, tan vỡ này viết về tan vỡ kia. Nhưng vẫn cố gắng giữ Chân-Thiện-Mỹ. Cố gắng gieo vào lòng hậu sinh hy vọng. Điểm này thầy Cung Giũ Nguyên đã thành công khi trao cho môn sinh Trương Hồng Sơn.

 

Đọc Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm, người đọc cảm giác đang nhìn một miểng chai thủy tinh đã bể nhưng còn sáng và đang phản chiếu mảnh vỡ của một miểng chai khác, bể đã lâu, còn nằm đó. Cả hai, dưới nắng Nha Trang, lấp lánh trên mặt cát. Cát chứa trong mình thủy tinh vì cát làm ra thủy tinh.

 

Chương 14 đặc biệt mang bi kịch của hai thế hệ: đã trang bị rất nhiều tri thức, chung khát khao vun bồi để cuối cùng bị cuốn phăng theo bão táp. Sự tan biến ấy, hay khoảng trống không sau cuồng phong, được Trương Vũ nhắc lại nhiều lần, bằng chính văn của Cung Giũ Nguyên: “… một vật lơ lửng trên vực thẳm, được những sợi tơ mành của hy vọng giữ lại. Hy vọng nơi ai? Hy vọng nơi gì? Và có lý do nào để hy vọng? Nhờ biệt lệ nào được nâng đỡ như thế này, trong thời gian có giới hạn nhất định. Hay ta lại muốn cho thời gian còn kéo dài mãi, hay ít ra còn lâu nữa mới chấm dứt. Bởi tánh cách đột ngột của sự việc quá rõ ràng, nhưng một mối đầu luôn luôn phải có đối ứng tất yếu là đầu mối kia. Tuy sự quên lãng những quy luật thường đi đôi với ảo tưởng. Dưới kia là một vực thẳm âm u cuồn cuộn…”

 

Thầy Cung Giũ Nguyên hẳn am tường những câu Pháp văn: « Toutes nos espérances sont mortes, nous en venons à espérer en un plus grand désespoir./ Tất cả những hy vọng của chúng ta đã chết, chỉ còn trông chờ sự tuyệt vọng lớn hơn.» Vậy thầy hy vọng gì? Boujoum!

Qua giới thiệu của Trương Vũ, Boujoum là tác phẩm quan trọng nhất của Cung Giũ Nguyên. Nhưng trông chờ Boujoum là trông chờ gì? Không ai biết! Và Boujoum là gì? Không ai hiểu! Chính vì tương lai là điều không thể đoán ở vào thời điểm 1976-1980 khi Cung Giũ Nguyên viết Boujoum giữa một Nha Trang Walking Dead.

 

Nhiều thập niên sau có thể phân tích: Boujoum đây là Boojum. Tiếng Pháp nhại âm tiếng Anh, có thể là nhại âm bản địa Baja California; có thể là đâu đó trong trí tưởng của di dân Tô Cách Lan. Boojum là snark. Là con vật vô nghĩa trong trường thi Hunting of the Snark/ Chuyến Săn Snark của Lewis Carroll. Thơ của Carroll chơi với giữa sự có nghĩa và vô nghĩa của thanh âm và hình tượng trong ngôn ngữ. Qua trích dẫn của Trương Vũ, người đọc hồ như thấy được cái mỏng manh rung động giữa thời này và thời khác, giữa có nghĩa và vô nghĩa, giữa vật chất và tưởng tượng, giữa hy vọng và tuyệt vọng. Nhưng Trương Vũ không viết nhiều về nội dung của Boujoum, vì: “nếu bạn cố gắng đi tìm cốt truyện thì không khéo bạn lạc vào một khu rừng rậm không lối ra, cho dù sau khi bạn tin rằng bạn đã tìm được nó.” Rồi Trương Vũ viết: “Amdo và Domicella được tái tạo từ Vườn Địa Đàng, cùng với cái đối đãi giữa âm và dương, cái quan niệm trong dương có âm, trong âm có dương, hoặc ý niệm đâu là chỗ bắt đầu, đâu là chỗ kết thúc, ý niệm về chiều thời gian, lúc nào tới lúc nào lui, v.v.. Tính cách này cũng được biểu lộ rõ rệt khi tác giả chọn hai chữ Thái Huyền cho bản dịch tiếng Việt.”

Vậy tiểu thuyết Boujoum nội dung là gì? Đầy bí ẩn! Như khi người ta hỏi ý nghĩa trường thi Chuyến Săn Snark của Carroll, thì Lewis Carroll trả lời là chính ông không biết… Thế hệ sau khó mường tượng ra Boujoum, nhưng ngờ ngợ bản thể của boojum và snark.

Nhưng nỗi khổ của Boujoum là đây: một cuốn tiểu thuyết muốn ra đời trong dạng vật chất của giấy mực in để đến tay đọc giả qua ngôn ngữ mẹ đẻ của những đọc giả ấy, nhưng dù được khen bởi một giáo sư Tây nào đó trên một tạp chí Pháp văn nào đó, và lẽ ra được nhà Fayard xuất bản năm nào đó, đã phải lặng lẽ biến mất vì lý do tài chánh của Fayard. Rồi Boujoum biến thành Thái Huyền được nhà Đại Nam xuất bản tập 1 mà vĩnh viễn không có tập 2. Cũng vì lý do tài chánh… Cuối cùng các môn sinh của thầy Cung Giũ Nguyên, nặng tình thầy trò, đã quyên góp xuất bản năm 2003. Nhưng Văn học Pháp không biết đến Cung Giũ Nguyên. Đọc giả Pháp càng không. Riêng lý do tài chánh, thì chỉ cần nhìn vào thư mục sách đồ sộ của nhà Fayard phồn thịnh từ 1857 là hiểu lý do ấy thuần lịch sự. Boujoum, là một thất bại nhập vào dòng chính của văn chương Pháp.

Qua gian truân của Boujoum, người đọc mường tượng ra những rối rắm đan chéo trong cảnh huống của người Việt: Nhà văn Cung Giũ Nguyên dùng Pháp văn trên nền Pháp văn ngoài lãnh thổ Pháp, rồi dịch sang tiếng Việt trên nền Việt văn ngoài lãnh thổ Việt Nam, với cách nhìn của một môn sinh lưu vong, trong nỗ lực xuất bản của những học trò còn tôn sư trọng đạo, hoài niệm quê quán…  Chỉ riêng Chương 14 này thôi, đầy ắp những nghịch lý của một sự tan nát.

Trương Vũ kể: “Cách đây hơn 30 năm, các cựu học sinh của trường trung học Võ Tánh Nha Trang tổ chức một buổi họp mặt tại trường cũ, để thăm lại trường xưa và đồng thời cũng để tỏ lòng nhớ ơn thầy cô giáo cũ của minh. Nhiều cựu học sinh lên phát biểu cảm tưởng. Có người cho rằng cái thời còn đi học ở mái trường thật là tuyệt vời và ước sao mình vẫn còn cặp sách đến trường như thuở nào. Có người tiếc rằng hồi đó mình còn trẻ thơ nên không hiểu được lòng thương yêu vô bờ của thầy cô đối với mình, nếu bắt đầu trở lại, chắc chắn sẽ khác đi, v.v… Nghĩ thật mà nói cũng có, nói cho đúng “sách vở” cũng có, và nói cho phải đạo cũng có. Khi đến lượt thầy Nguyên lên phát biểu, thầy kể câu chuyện về Orpheus trong thần thoại Hy Lạp. Orpheus là vị thần của âm nhạc. Những bài thơ và tiếng hát của ông có khả năng cứu sống cả một đoàn thủy thủ bị ma quỷ hóa hình mỹ nhân ngư để dụ dỗ và ám hại. Ông có một người vợ rất đẹp mà ông rất yêu quí là Eurydice. Trong một cuộc săn đuổi vì chính sắc đẹp của mình, Eurydice bị rắn độc cắn chết. Vô cùng thương xót, Orpheus tìm mọi cách để cứu vợ. Nhờ tiếng đàn tuyệt vời khiến những vị thần giữ cửa địa ngục sao nhãng, ông lẻn vào được âm cung. Cảm động trước tấm lòng và tiếng hát của Orpheus, các tử thần đồng ý cho Eurydice đi theo ông trở lại thế gian, chỉ với điều kiện là trên đường đi Orpheus không được ngoái nhìn lại Eurydice. Nhưng Orpheus đã ngoái lại, Eurydice liền tan biến và mất vĩnh viễn. Orpheus trở nên điên loạn, cuối cùng kết thúc cuộc đời mình một cách thảm khốc.

Câu chuyện thần thoại đó hầu như ai cũng biết, nhưng những lời phát biểu của ông vào lúc đó gây cho chúng tôi một ấn tượng mạnh về cái ngụ ý ông muốn gởi đến chúng tôi. Có điều, không phải bất cứ bài học nào của thầy cũng được học trò mang theo ra khỏi cổng trường. Nhưng với ông, về điều ông muốn nhắn nhủ chúng tôi, tôi tin ông sống rất thật với nó. Tôi tin chắc thầy Nguyên có rất nhiều mất mát trong đời ông, và dĩ nhiên là ông ý thức rất rõ về những mất mát đó, nhưng ông không bao giờ chịu để những mất mát đó đánh gục ông. Tinh thần này bàng bạc trong những sáng tác của Cung Giũ Nguyên. Đồng thời, trong Le Boujoum, cũng có rất nhiều bài thơ và tiếng hát biểu lộ phong cách đó.” [Trương Vũ/ Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm]

 

Trương Vũ không kể rõ thầy Cung Giũ Nguyên muốn khuyến cáo môn sinh điều gì? Phải chăng câu chuyện Orpheus chính là thông điệp của Boujoum? Đừng đánh mất lòng tin vào ý nghĩa của ngôn từ vô nghĩa nhất, sau đợt tàn phá của bạo lực Cộng sản đánh vào văn chương? Ngay cả những khi không hiểu gì hết, vẫn phải tin vào chữ? Hay Cung Giũ Nguyên muốn nhắc những học trò đã ra đi đừng nhìn lại, vì nhìn lại là định hình (người) và định vị (quá khứ) trong chiều thời gian vẫn chảy tới? Đời sống là một đường thẳng tiệm tiến không có điểm dừng, phải đi tới?

Khi không xác định nội dung của Boujoum, có phải vì Trương Vũ hiểu rằng nếu quay nhìn lại tác phẩm sẽ định vị Cung Giũ Nguyên trong ngữ nghĩa và định vị văn bản kỳ lạ ấy? Phải chăng Trương Vũ cũng đã đi tìm Cung Giũ Nguyên như Carroll săn Snark:

In the midst of the word he was trying to say,

In the midst of his laughter and glee,

He had softly and suddenly vanished away —

For the Snark was a Boojum, you see.

(Lewis Carroll, The Hunting of the Snark)

 

Suốt tập sách, Chương Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm là chương lạ lùng nhất. Nhưng cũng chính Chương 14, áp đáy tuyệt vọng này, bật lên tinh thần của Trương Vũ đã cố hiểu thầy mình và đi tìm giải đáp trong chiều hướng tích cực nhất. Trong Người Đọc Sách Với Cái Thật, Cái Giả Trong Văn, khi Trương Vũ viết: “Sức mạnh của chúng ta là ở cái đầu và con tim. Chính những ý thức về văn minh, về tiến bộ, về tự do, về dân chủ, cùng với khát vọng được sống một đời có phẩm cách của một con người ở thời đại này đã đánh gục chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Âu, chứ không phải là súng đạn”, là thành quả của Boujoum.

oOo

 

Tháng 7-1994, mười lăm năm sau vượt biên tôi đạp xe vào ngôi hẻm trên đường Hiền Vương. Ngôi hẻm có hiệu phở đầu ngõ trông sang cây xăng dẫn vào đường Duy Tân. Tôi đến tìm thầy Lâm Ngọc Oánh. Tôi muốn nói với thầy: “Em đã không giữ được lời hứa với thầy. Em đã đi xin ăn ở đảo Liminangcong và bị dân Phi khinh. Nhưng em đỗ tú tài và cao đẳng nhờ học tích phân, giải tích, ma trận với thầy. Em đến để cám ơn thầy.” Tôi muốn nói với thầy Oánh thật nhiều, là không có thầy, tôi đã bỏ học vì nhà bị đánh tư sản ở trường về nhìn thấy phường đội đóng chốt kiểm kê từng đôi đũa và khuân đi hết những gì quý giá… Thầy Oánh đã khuyến khích, ân cần khuyên nhũ và mở lớp dạy phụ đạo thêm mỗi chiều cho tôi có chỗ đến và tập trung học toán không phải suy nghĩ… Tôi muốn tâm sự với thầy, vì thời điểm 78-79 quá khắc nghiệt khiến thầy trò không dám thố lộ nhiều và tôi có biết bao chuyện muốn kể cho thầy nghe… Nhưng thầy Lâm Ngọc Oánh không còn ở đó, cánh cửa sắt sơn xanh im lìm.

Tháng 5-2019 đọc Đuổi Bóng Hoàng Hôn, tôi không ngừng nghĩ đến thầy Lâm Ngọc Oánh vì toàn tập sách là những câu chuyện tâm tình giữa thầy trò, giữa thầy Trương Hồng Sơn với sinh viên, giữa thầy Cung Giũ Nguyên với học sinh Trương Hồng Sơn. Những câu chuyện hướng thượng, những ý cao tình đẹp, những ý niệm cao vời về tình người, về con người với con người. Tôi thuộc thế hệ xem văn bản là chỗ để đập nát hết các giá trị nên với tôi, Đuổi Bóng Hoàng Hôn là một vật lạ. Sự hiếm quý đã biến mất.

 

Đứng trước câu hỏi: Hình ảnh ban đầu luôn là tự truyện?”, Eduardo Halfon đã trả lời: “Vâng, luôn luôn. Tôi viết về cuộc sống của tôi, thời thơ ấu của tôi, mối quan hệ tôi có với cha tôi, ký ức về người tôi yêu… Mỗi nhà văn, bằng cách này hay cách khác, luôn bắt đầu bằng tự truyện của mình. “Bà Bovary, là tôi”, phải không? Tự truyện có thể được ngụy trang, đeo khăn che mặt hoặc đeo mặt nạ, nhưng người ta luôn viết bằng một phần của chính mình, về đời sống của một con người. Trong trường hợp của tôi, không có mạng che mặt hoặc mặt nạ. Tấm khăn che mở toang, là tôi… Tự truyện là cuộc đời của một người nhưng trong chiều sâu, tất cả mọi người đều giống nhau. Tất cả mọi người là một người. Tôi không biết cảm giác của người khác, nhưng sử dụng cảm xúc, lo lắng, mong manh, sợ hãi của tôi, nếu tôi làm đúng công việc của mình, những người đọc tôi sẽ nhận ra những lo lắng, cảm xúc, sự mong manh của họ.”

 

Trương Vũ cũng có thể trả lời như vậy, từ hình ảnh đầu tiên Những Cơn Mưa Ngày Cũ và về tự truyện của mình qua thể tùy bút và tiểu luận. Đuổi Bóng Hoàng Hôn là mặt trời đã sau lưng nhưng vẫn còn phía trước, cho một tuổi trẻ khác.

 

Trần Vũ, 25 tháng 6-2019