ngọn roi tình

 

anh -một thằng thi sĩ
hồn cốt gửi đâu đâu
những niềm đau giấu kỹ…
trong tim khô nát nhau..

bao năm trời mê mải
anh đi tìm tình yêu
tưởng mình là Từ Hải
đêm mơ một dáng Kiều

hóa ra đời không vậy
anh quàng xiên ngã nhào
chỉ thấy toàn hư ảo
trong những lần chiêm bao

bao nhiêu năm lận đận
anh mới hiểu ra rằng
tình yêu không ban tặng
cho anh – người vận đen..

khi quanh anh cơm áo
khi đời anh gió giông
khi tình anh cơn bão
khi tuyệt vọng chất chồng

bài thơ như hạt cát
trôi giữa lòng đại dương
mà em là hoàng hạc
phải ở chốn thiên đường

đời không dung kẻ khó
nên vinh nhục là thường
sá chi tình dang dở
em đâm tràn vết thương..

chiều nay ngồi ngó núi
anh xé hết thơ tình
như xé đời lầm lủi
quất anh nghìn dấu đinh..

anh sẽ buồn như thể
không em – chiều lặng thinh
một anh ngồi rơi lệ
đau buốt ngọn roi tình…

nguyễn minh phúc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vậy thì em ở đâu

Trong lòng anh chật chội

Nên tháng ngày bên nhau

 

Advertisements

HOA GIẤY MÙA XƯA

một ngày tôi về qua phố lạ
chân quen thèm một giấc mơ trưa
bóng lá lao xao tràn ngõ vắng
dưới giàn hoa giấy…gió đong đưa…

tiếng chim nào hót trong vòm lá
hồn nhiên tôi nhớ dáng em xưa
hồn nhiên gió hát ru em ngủ
tóc chiều thơm ngát nắng lưa thưa.

rồi phố xa người…em vắng tôi
lạc loài câu hát cũ chơi vơi
tiếng chiều nhuộm tím giàn hoa giấy
tím cả hồn chiều hoa lá rơi.

phố lạ dường như đang ngủ mơ
để mầu hoa giấy tím bơ vơ
nắng đợi ngoài hiên…nhà khép cửa,
tiếng thời gian gọi chẳng ai thưa…

Hoàng Uyển Văn

Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 1) – QUÊ HƯƠNG TÔI, XỨ DÂN HỜI

 

 

 

Tháp Đôi (Qui Nhơn)

Quê tôi, một miền quê thuần nông, nghèo nhưng không đến nỗi đói, nằm cạnh sông Kôn, con sông lớn nhất tỉnh Bình Định chảy qua thành Đồ Bàn với rất nhiều huyền thoại.
Từ hiên nhà nhìn ra, sáng chiều và ngay cả trong những đêm tối trời, tôi vẫn thấy tháp Bánh Ít ở trước mặt, như hai búp măng non mọc lên từ lòng đất.
Xa hơn về phía tây, vượt hẳn khỏi những lũy tre ở quê ngoại, là tháp Cánh Tiên rực vàng trong nắng sớm và đỏ thắm trong những buổi chiều tà.
Bên kia sông, cái bóng đồ sộ của một ngọn tháp không rõ tên ở xã Nhơn Thành lại in xuống nước rực rỡ như một khối ngọc khổng lồ.
Và khi đi vào cửa ngõ thành phố Qui Nhơn, lúc nào tôi cũng có cảm giác tháp Đôi như hai anh em song sinh dễ thương đang đứng đón chào.
Như vậy, bốn mặt đông tây nam bắc ở quê tôi đều có tháp. Tháp thờ những ai không biết vì trong lòng tháp trống không chỉ có những mảnh gạch vỡ và những con dơi bay lượn. Nhưng trong cảnh điêu tàn hiu hắt ấy nó vẫn không mất đi cái vẻ thiêng liêng rất hùng vĩ.
Những ngọn tháp đều xây trên những ngọn đồi thấp nhỏ, thuở ấy hãy còn hoang sơ lắm. Nhìn từ xa, trông giống như bầu vú của một người mẹ đang nằm mà tháp là cái núm be bé xinh xinh cho các con bú mớm.
Sự liên tượng ấy càng làm cho những ngọn tháp trở nên thân mật, gần gũi chứ không bí hiểm xa lạ.
Có vẻ như người xưa chung sức chung lòng, xây tháp là để ngợi ca cuộc sống bất diệt, chứ không phải vì sự bất tử của các pharaon như kim tự tháp ở Ai Cập.
Họ đổ mồ hôi, nhưng không đổ máu. Họ ca hát và nhảy múa sau khi hoàn thành chứ không khóc than rên rỉ dưới đòn roi.
Những ngọn tháp vì vậy hãy còn vươn lên mạnh mẽ dưới trời xanh, dù rằng những chủ nhân thật sự đã phiêu tán tận đâu đâu.
Dù là nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng tôi chỉ thấy ngậm ngùi chứ không dám tự hào. Vì những ngọn tháp đó là của dân Hời, đâu phải của ông cha tổ tiên tôi.
Cũng như tháp Eiffel là của người Pháp, tháp Big Ben là của người Anh, tượng Nữ thần Tự Do là của người Mỹ…Những di dân bất đắc dĩ người Việt cho dù nhận những nơi ấy làm quê hương thứ hai, cũng không thể và không nên tự hào. Con cháu họ 500 năm sau chắc vẫn còn thao thức tự hỏi quê hương đích thực của mình ở đâu?
Lần theo vết xe của lịch sử, tôi kinh hoàng nhận ra kinh thành Đồ Bàn, cách đây trên 500 năm, (1471) đã bị vua Lê Thánh Tôn cho quân lính san bằng, để lại ba mươi vạn thủ cấp và bắt đem đi hai mươi vạn nô lệ.
Có thể các nhà viết sử thời ấy đã thêm thắt thổi phồng để làm vừa lòng nhà vua. Nhưng dù thế nào, cũng đến non một nửa dân Hời bị bắt và bị giết. Vị vua được coi là anh minh nhất hóa ra là một kẻ xâm lược tàn bạo.
Sau cuộc chinh phạt, về nước vua liền xá tội cho các tù nhân bị án tử, đưa họ vào đất Đồ Bàn đầy những con ma không đầu, coi như tha chết nhưng lại bị lưu đày biệt xứ. Họ rất có thể là ông cha tổ tiên xa xôi của tôi.
Hình ảnh những thân người gầy còm, cổ mang gông chân mang xiềng, kết lại thành từng chùm, lê lết qua đèo qua phá, nhiều đêm lướt qua tâm trí tôi như những oan hồn trong thập loại chúng sinh của thi hào Nguyễn Du.
Cũng có thể, ông cha tổ tiên tôi là những dân nghèo từ các ruộng đồng chiêm trũng, từ những vùng sơn cước hay từ những miền nắng gió bão bùng ở châu Hoan châu Ái, bị vua quan ép buộc phải rời bỏ quê hương để vào nam khai phá vùng đất vừa mới chiếm được.
Họ cũng giống như những cư dân ở các thành phố miền nam bị chính quyền CS đưa đến các vùng rừng thiêng nước độc với mỹ danh rất kêu là đi kinh tế mới.
Số phận của ông cha tổ tiên tôi phải nói là cực cùng bi thảm. Không kể chết đường chết sá, chết bờ chết bụi, chết sông chết biển, nếu đem được tấm thân tàn tới được Đồ Bàn còn tanh mùi máu, thì còn phải chết vì đói, vì bị dân Hời nửa đêm mò tới cắt cổ để trả thù.
Trong số hàng vạn những con người cùng khổ ấy may ra chỉ còn sống sót được vài ngàn người.
Suốt ngày, dưới cái nắng cháy da cháy thịt hay trong cái lạnh thấu xương họ phải chôn lấp những xác chết đang thối rữa, thu nhặt những xương trắng phơi đầy đồng, rồi từ đó làm ra hạt lúa củ khoai, sống còm cõi trong nỗi nhớ quê da diết.
Đồ Bàn xưa cũng như Sài Gòn nay, một khi đổi chủ là bị thay tên đổi họ. Đã không còn là Chà Bàn của Chế Bồng Nga mà là Quy Nhơn biên trấn xa xôi của dòng họ nhà Lê, rồi của chúa Trịnh*.
Nhờ Trạng Trình mách bảo, Nguyễn Hoàng đã xin vào Hoành sơn, trở thành chúa Nguyễn chia đôi bờ cõi bắc nam. Được các hậu duệ chiêu dụ, các nhân tài miền bắc lần lượt trốn vào nam, biến Quy Nhơn trở thành nơi đất lành chim đậu. Trong số đó có Đào Duy Từ người đã xây lũy Thầy và lũy Trường Dục bên bờ sông Gianh và Hồ Phi Phúc lập nghiệp ở Tây Sơn thượng đạo, sản sinh ra Tây Sơn tam kiệt.
Khi đại binh của vua Quang Trung tiến ra đất Bắc, chắc thế nào cũng có cháu con của những người tù biệt xứ . Dù đã trải qua bao đời, nhưng cái giấc mộng về thăm cố hương cũng vẫn còn, nếu không muốn nói là cháy bỏng hơn bao giờ. Có lẽ nhờ vậy mà cuộc hành quân trở nên thần tốc: chỉ mới 5 ngày mà đã vào đến Thăng Long. Được bước đi trên đất cố đô giữa lúc máu quân thù chảy thành sông, xác thù chất thành gò, trong khí xuân thơm mùi thuốc súng, là cả một thoáng huy hoàng của họ.
Tôi nói một thoáng, vì sau đó Tây sơn sụp đổ, đất Qui nhơn lại máu chảy đầu rơi còn hơn cả lúc vua Lê chiếm được Đồ Bàn.
Thành Quy Nhơn lại bị đổi tên thành Bình Định và ấp Tây Sơn của Nguyễn Huệ bị đốt phá san bằng, chỉ sót lại một cây me con nay đã trở thành cổ thụ.
Nguyễn Ánh và triều Nguyễn sau đó đã tiến hành một cuộc trả thù tàn khốc và dai dẳng. Ngoài việc truy lùng những danh tướng như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và tất cả những ai cầm giáo theo Tây Sơn, còn cấm tiệt không được ai nhắc nhở đến họ.
Mãi 200 năm sau, bà tôi vẫn phải sợ hết hồn khi đứa cháu nhỏ là tôi, lúc học bài sử đã “rống” lên thật to: vua Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh…
“Gọi là ngụy chớ sao dám gọi là vua”, bà tôi khẽ khàng dặn cháu.
Cái từ “ngụy” đầy hận thù và khinh miệt ấy sau này được bên thắng cuộc tròng lên đầu lên cổ bên thua cuộc, xuất phát là từ đó.
Khi tôi được sinh ra và lớn lên, cái nỗi đau nhớ quê của tổ tiên cũng đã phai mờ dần. Và dân Hời cũng không còn một người nào sinh sống ở đất Đồ Bàn nữa. Nhưng cái tiếng Hời vẫn không mất đi. Nào hời hời khi mẹ ru con, nào ma Hời, mả Hời, vàng Hời, giếng Hời…
Tuy chưa hề trông thấy những con ma Hời sờ soạn dắt nhau đi như Chế Lan Viên đã thấy, nhưng tuổi thơ tôi vẫn luôn ám ảnh về bóng dáng của dân Hời. Tôi như thấy họ đang đóng gạch xây tháp, xuống sông lấy nước đi thành hàng dài, và mỗi lần soi mặt xuống giếng vuông của họ, tôi đều giật mình tưởng chừng như họ đang trốn núp đâu dưới đó…
Một đôi khi, có một vài người da nâu thẫm, mặc toàn đồ trắng, quấn khăn trắng đến các phiên chợ ngồi bán thuốc làm bằng rễ cây. Họ cười nói chào mời, nhưng trong đôi mắt họ vẫn chất chứa một nỗi buồn sâu thẳm, nỗi buồn của những kẻ đã bị cướp mất quê hương.
Không ai viết lại được lịch sử, có nghĩa rằng, không ai có thể thay vua Lê trả lại thành Đồ Bàn cho họ. Nhưng sao không ai dám, như chính phủ New Zealand và Australia có một lời xin lỗi chân thành với thổ dân, vì ông cha họ đã tàn sát và xâm chiếm đất đai bạt ngàn của người bản xứ.
Chẳng những chúng ta nợ họ một lời xin lỗi, mà còn chịu ơn họ đời đời.
Chịu ơn những ngọn tháp, những tượng Chàm. Chịu ơn những những nỗi buồn và cả những nỗi nhục.
Để không bị như họ, chúng ta phải rút ra bài học mạnh mẽ hơn.
Rằng, đừng khóc cho quê hương, mà phải đứng dậy.
Lúc này, khi bọn Tàu phù đang lăm le xâm chiếm vùng trời vùng biển nước ta, ai có súng thì dùng súng, ai có dao thì dùng dao. Ai không có gì hết thì xuống đường và già như tôi, thì dùng bút.

Khuất Đẩu
5/9/2019

*Thành phố Qui Nhơn hiện giờ nằm cách thành cũ Đồ Bàn khoảng hơn 20km.

Trở về như một kẻ vô danh

 

Trăng khuyết

 

Năm mươi năm, dòng sông buồn, vẫn chảy
Chiếc thuyền xưa, bến cũ, chẳng quay về
Tôi khản giọng giữa đêm đời mưa lũ
Tiếng sóng nào mỏi mệt mấy bờ khuya

Năm mươi năm tôi đếm từng chiếc lá
Nỗi vàng phai rụng xuống buổi xa người
Khi đứng giữa vòng xoay đời xa lạ
Tôi rẽ phương nào cũng chạm lá tình phai

Năm mươi năm, một đời thơ lận đận
Tôi trở về không kịp nối lời thơ
Không kịp nhìn nỗi buồn đêm nguyệt lặn
Chén rượu người, tôi uống giữa cơn mơ

Năm mươi năm tôi trở về không kịp
Áo vàng phai từ buổi nguyệt chưa rằm
Năm mươi năm còn nguyên vành trăng khuyết
Là tình người đã khuyết cả trăm năm.

 

 Trở về như một kẻ vô danh

 

Người đã quên
Phố cũng phụ tình
Hỏi con đường cũ
Đường thay tên
Hàng cây năm trước chừng thay lá?
Rụng giữa hồn ta giọt lệ vàng

Cơn gió mùa xưa chừng cũng lạ
Thổi buốt vào ta những muộn phiền
Quán trọ!
Ta chỉ là khách lữ
Một tách trà thiu
Uống một mình!

Này cô chủ quán cho ta hỏi
– Năm mươi năm trước đây là đâu?
Chẳng lẽ đất trời tàn dâu bể
Lòng người đâu dễ còn bể dâu?

Này cô chủ quán cho ta hỏi
– Thuyền xưa còn đậu bến giang đầu
Tóc xưa giờ nhuộm màu thương hải
Thơ ta bèo giạt trôi phương nào?

Người đã quên!
Đành!
Thôi lãng quên!
Hỡi ơi sao phố cũng vong tình
Có thấy hồn ta nghìn năm cũ
Trở về như một kẻ vô danh?

Lê Văn Trung

Ngày Chủ Nhật Ở Santa Ana

Ngày Chúa Nhật trời mát
mà buồn quá là buồn!
Nhà Thờ vẫn gióng chuông
tín đồ còn sợ nóng…

Đường Mc Fadden trống
…như trong giờ giới nghiêm
sân cỏ trường mông mênh
không thấy xe nào đậu!

Tin thời tiết không xấu
sao ngày Chúa Nhật buồn?
đi hỏi lá, không sương
đi hỏi đường, đèn tắt!

Sáng lắm rồi Chúa Nhật
chỉ cái chuông thức thôi
không ai gọi ai ơi
dậy, cà phê Brookshurst…

Hiên cà phê thưa thớt
vài ông lão cô đơn
bạn hôm qua vắng luôn
bạn ngày mai không có…

Bốn lăm năm ăn ở
vẫn cứ ngỡ như vừa
ra khỏi chuyện đời xưa
…mà chưa vào hiện tại!

Chắc hôm nay không phải
Ngày Chúa Nhật ước mong?
Còn chỗ tựa là lòng
lòng của người vong quốc!

Trần Vấn Lệ

SƯƠNG  XANH

Tôi xuất hiện dưới ngôi sao nầy
mắt hiền như lá cỏ
nơi con chim sâu đến từ đâu đó
vui vẻ chuyền cành với hạt sương xanh.

Như con thuyền trên một dòng sông
tôi căng buồm lên gởi nụ cười đi trước
thế giới trong mắt tôi là những cánh đồng
lớn dần theo khí trời và hơi thở.

Tôi biết có những ngày mưa
và những ngày nắng hạn
có những khu rừng thật nhiều thú dữ
nhưng con chim sâu nhảy nhót trên cành
uống hạt sương xanh
ăn từng lá nỏn
và tự nhiên chim hót để chim nghe.

Tôi xuất hiện
dưới ngôi sao nầy
mắt hiền như cánh bướm
dù mặt đất không còn mái lá
cho hài nhi
cho nước mắt sơ sinh.

Như con chim sâu mãi mãi chuyền cành
dẫu rừng kia thật nhiều thú dữ
như con chim sâu bay tìm tổ ấm
vang lời ca lóng lánh hạt sương.

VƯƠNG KIỀU

TÌNH VIỄN XỨ,

 

CHO TA NHỚ TUỔI NGỌC..

Em chọn ai bài ca tiền chiến
Của một thời tuổi trẻ xa xôi
Đồi, núi và rừng nghe xao xuyến
Giai điệu trầm tưởng đã phai phôi

Giữa những bài ca thời chinh chiến
Tình khúc nào nặng nợ tiền khiên
Dẫu gian khổ hồn đầy quyến luyến
Núi rừng xanh rực rỡ cao nguyên

Có những lời ca buồn tiền chiến
Ta nghe trong tiếng Vĩ Dương cầm
Em bài thơ tình Dương Thiệu Tước
Về tạ từ mỗi bước dư âm

Thôi cứ chọn nhau bài ca cũ
Cho ta về nhớ tuổi ngọc Lan
Chỗ em ngồi mùa thu quyến rủ
Hay chỉ là chút nắng mong manh

Ta về mang mang hồn chiến bại
Những lối xưa xưa của ân cần
Có nơi nào cho ta nhớ mãi
Rồi một lần xóa xóa hoang mang..

 

TÌNH VIỄN XỨ,

Những sắc màu khu chiến
Trong mắt chiều tha hương
Đường huấn khu bắc tiến
Thấy nhau tình viễn phương

Hỡi cô em gái nhỏ !
Aó trắng như khai trường
Đôi mắt tròn Nai Thỏ
Thấy vì nhau viễn phương

Hỏi rừng xanh và núi
Những đồi hoang chưa tới
Ngày đóa đẵm tượng như…
Đôi mắt em vời vợi

Những giọt sương trên đá
Trên vai người long lanh
Những chiều xanh buồn bã
Trên ghế bàn.. quán Dung

Mỗi chỗ ngồi còn trống
Như đêm vắng em rồi !
Trong không gian quán rộng
Tiếng nhạc vừa chơi vơi

Như hàng mưa hiên đá
Khiến ta từ trăm năm
Về im nghe chiếc lá
Vẽ trái sầu rụng quanh

Những anh lính xa nhà
Vui núi rừng Bản Thượng
Có ngọn gió Hương Bình
Mang về hương Lan Ngọc..

Hoa Nguyên

Một thoáng Lạng Sơn 

 

 

 

Hà Nội đang trong những ngày hè, nhưng do ảnh hưởng của không khí lạnh nén rãnh áp thấp nhiệt đới nên khoảng 4 giờ sáng trời bắt đầu rỉ rả mưa rồi mỗi lúc cơn mưa một nặng hạt hơn. Nằm trong khách sạn nghe mưa rơi, tôi nghĩ thầm: 

– Vậy là chương trình đi Lạng Sơn phải hủy rồi! Công việc ở Hà Nội chỉ trong buổi sáng nữa là xong, trưa có thể lên đường đi đến Lạng Sơn như dự định từ trước, nhưng mưa lớn và dai dẳng trên toàn miền Bắc thế này, lại thêm lần đầu tiên đến một nơi xa lạ, chỉ có mỗi một người quen duy nhất nên cũng hơi ngại ngần. Hơn 7h 30 sáng, cơn mưa không có dấu hiệu gì sẽ dứt, tôi gọi điện thoại cho anh bạn trên đó nói lời xin lỗi vì không thể lên như dự định và đề nghị anh cho địa chỉ chính xác để gửi qua bưu điện mẫu hộp đựng các loại sản phẩm của một doanh nghiệp Thái Lan gửi cho anh mà tôi mang theo. Nhưng anh rất nhiệt tình và thân thiết nói qua điện thoại: 

– Không! Có thể với Hà Nội anh đã đến và đi nhiều rồi, nhưng Lạng Sơn thì chưa. Anh nên đến một lần cho biết đất và người Lạng Sơn thế nào, sẵn dịp tôi có ở nhà, chứ lần khác chưa chắc gì đã có vì tôi cũng hay đi xa. Chiều mai xe sẽ đưa anh đến sân bay Nội Bài trước giờ lên máy bay, anh yên tâm đi! Tôi đã thu xếp xe đến đón anh, chốc nữa họ sẽ gọi cho anh hỏi địa chỉ để đón. Anh không được từ chối. Trước tấm lòng, sự nhiệt tình của anh cộng thêm sự tò mò muốn biết thêm một vùng nữa trong những địa danh có từ “xứ”: xứ Thanh (Thanh Hóa), xứ Nghệ (Nghệ An), xứ Huế (vùng Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế), xứ nẫu (vùng Bình Định, Phú Yên), xứ Quảng (vùng Quảng Nam, Đà Nẵng), xứ Lạng (Lạng Sơn) và bài ca dao được học thuở nhỏ chợt ngân nga trong ký ức: 

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh Ai lên xứ Lạng cùng anh Bõ công bác mẹ sinh thành ra em Tay cầm bầu rượu nắm nem Mãi vui quên hết lời em dặn dò” Câu ca như lời mời gọi thứ hai, và, tôi nhận lời. 

Từ Hà Nội muốn đi Lạng Sơn phải qua 2 tỉnh: Bắc Ninh (vùng Kinh Bắc xưa), quê hương của dân ca quan họ, tranh Đông Hồ, với những làng nghề cổ như rèn (làng Vát), đúc đồng (làng Bưởi), tre hun (tre đen) huyện Gia Bình v.v… và Bắc Giang với rượu làng Vân, hát then – đàn tính (huyện Lạng Giang), cam Bố Hạ (huyện Yên Thế) nổi tiếng ngọt, ngon tự ngàn xưa … cũng là nơi có tên những thị trấn rất ngộ nghĩnh như Chũ (huyện Lục Ngạn), Neo (huyện Yên Dũng), Vôi, Kép (huyện Lạng Giang), Nếnh (huyện Việt Yên) … Quá trưa một chút, chiếc Innova 7 chỗ đón tôi ở khách sạn, chạy vòng qua Cầu Giấy về hướng trường Đại học Sư phạm 1 Hà Nội rồi nhanh chóng hòa vào dòng xe trên quốc lộ 1A đi vào tỉnh Bắc Ninh hướng về Lạng Sơn. Hai bên đường là cánh đồng lúa đang mùa chín tới nên đượm một màu vàng tươm, xa xa là những đồi núi trập trùng chạy dài theo đường chân trời, dăm ba con trâu, bò bình thản gặm cỏ mặc cho vài chú cò trắng ngạo nghễ chao qua lượn lại trước mũi hay đậu trên lưng. 

Xe vào đến địa phận tỉnh Bắc Giang, những ngọn núi thấp, thân phủ màu xanh lá nối lên nhau làm cho ánh nắng chiều cũng trở nên dịu nhẹ, người chủ – lái xe đưa tay chỉ về phía trái giới thiệu với tôi như một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp rất rành về địa lý: 

– Đó là dãy núi Bắc Sơn, dân gian gọi là cánh cung Bắc Sơn, nó là dãy núi đá vôi chạy theo hướng đông bắc – tây nam, dọc hữu ngạn sông Thương từ huyện Bắc Sơn, Văn Quan ở phía bắc, qua Hữu Lũng, Chi Lăng, rồi lại chạy qua Yên Thế, xuống phía bắc thị trấn Kép; nó nối từ Bắc Ninh đến Lạng Sơn, dài gần 60 cây số, cao khoảng 400 – 500 mét, rộng độ chừng bốn mấy, năm mươi ki-lô-mét. Những năm học phổ thông, chúng tôi được thầy giáo dạy môn Sử – Địa cho thuyết trình về các triều đại, địa dư các tỉnh, lại thêm thói quen hay tìm hiểu các địa danh trong nước; lục lọi trong trí nhớ, tôi góp vào câu chuyện mà không biết cái trí nhớ của người gần 60 có “phản bội” mình không: 

– Đây là cung Bắc Sơn. Còn một cánh cung khác nằm trên địa phận Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Phòng theo hướng đông bắc – tây nam ranh giới của Quảng Ninh – Lạng Sơn, sau đó vòng sang hướng nam Quảng Ninh thì chếch qua Hải Dương và Bắc Giang, lưng quay đông nam, mặt nhìn ra biển Đông nên gọi là cung Đông Triều, phải không? Từ trên xuống dưới ở mỗi ngọn núi, người dân chỉ trồng một loại cây duy nhất: mãng cầu (na), lái xe cho biết na (mãng cầu) ở đây đã thành thương hiệu nổi tiếng, nó giống như mãng cầu dai trong Nam nhưng ngọt hơn, to hơn, hạt nhỏ, dày cùi và thơm ngát, có lẽ do được trồng trên đá vôi, và mỗi năm chỉ cho trái một mùa. Vào mùa thu hoạch người dân lên đỉnh núi hái quả bỏ vào sọt rồi cột sọt trái vào dây cáp cho chạy xuống đất. 

Ải Chi Lăng đây rồi! Chiếc xe dừng trước tường đá có khắc ba từ “Ải Chi Lăng”, trong tôi chợt nhớ đến bài thơ chữ Hán của vị tể tướng nhà Trần vào thế kỷ 14 là Phạm Sư Mạnh đã cảm tác khi dừng chân trước ải trên đường tuần thú xứ Lạng có tên là “Chi Lăng động” được người xưa diễn nôm và dịch thơ như sau: 

Thiên lý tuần biên ẩn cổ bề Phiên thành man trái nhất ê kê Giản nam giản bắc hồng kỳ chuyển Quân hậu quân tiền thanh hủy đề Lâu lại cốc thâm ư tỉnh để Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề Lâu phong bạt mã cao hồi thủ Cấn khuyết thiều nghiêu vân khí tê. Dịch thơ: Nổi trống tuần biên bước dặm ngàn, Xem tày trùng nhỏ khóm Phiên, Man. Quạt cờ đồng đội chê đầu núi, Gầm thét ba quân kéo một đoàn. Lâu Lại hang sâu đò khó tới, Chi Lăng cửa hiểm vượt khôn toan. Ngựa dong trước gió nghiêng đầu ngắm, Cung khuyết mây đài lúc rợp tan. 

 

Dãy núi đá vôi trong cung Bắc Sơn 

Trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, Chi Lăng cũng được ông đề cập đến một cách kiêu hùng: “…Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế. Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu …” (Ngô Tất Tố dịch), rồi đến đại thi hào đất Việt – Nguyễn Du – trên đường đi sứ sang nhà Thanh, khi qua Chi Lăng đã có bài “Quỷ Môn đạo trung”, bài thơ vịnh về Quỷ Môn Quan, tuy chỉ là vịnh cảnh trên đường nhưng cũng nhắc lại “hiểm địa” Chi Lăng đối với quân Tàu “… Chính khách nam quy dục đoạn hồn…” (Lữ khách về Nam sợ mất hồn – Thảo Nguyên dịch) và từ những năm 1940, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã sáng tác những bài sử ca hào hùng như: Non song gấm vóc, Bạch Đằng giang, Hội nghị Diên Hồng, Ải Chi Lăng … mà trong những lần “hội diễn văn nghệ” của học sinh quê tôi thường biểu diễn, tôi chỉ còn nhớ lõm bõm vài đoạn: “Chi Lăng, Chi Lăng Tiếng ai hò reo vang trời Chi Lăng, Chi Lăng Bóng ai tranh hùng muôn đời. … Vì nước tuốt gươm đột xông Làm cho rõ giống Tiên Rồng Hồi nhớ tới vó câu khập khễnh lướt qua làn khói giáp chiến. Hồi nhớ tới bóng cờ xí phất tung hùng vĩ quyết tiến! Vì nước tuốt gươm xông pha. Lòng trung, cứu dân lầm than Đồng hát khúc anh hùng ca Bền gan kết tâm cường tráng Khuất Nam, bình Bắc, oai hùng luôn tiến Trống chiêng vang rền …” Ải Chi Lăng là một ải hình bầu dục, được hình thành từ một thung lũng hẹp ép giữa hai dãy núi có địa thế hiểm trở, phía đông là núi đất Bảo Đài, Thái Hòa cùng những vạt đầm lầy, những ngọn núi nhỏ tựa vào nhau thành hào, thành lũy và phía tây là núi Cai Kinh dựng đứng, dài độ chừng 20 cây số chạy từ Quán Thanh huyện Chi Lăng đến huyện Hữu Lũng; con sông Thương chạy ngoằn ngoèo dọc theo thung lũng này tạo nên một con suối có tên rất thơ mộng “suối Hoa Đào”. Nơi hai vòng cung núi phía đông và phía tây kép lại xem như đóng khóa hai đầu của thung lũng là Ngõ Thề phía nam và Ải Quỷ phía bắc. Gọi là Ngõ Thề vì theo truyền thuyết nơi đây diễn ra lễ tuyên thệ thề giết giặc bảo vệ non song, cuối Ngõ Thề là núi giống cái yên ngựa, gọi là núi Mã Yên; còn Ải Qủy là do nơi đây ngày xưa bọn giặc phương Bắc tràn sang nước ta thường qua cửa này, và cửa này cũng đã gây nên bao nỗi kinh hoàng cho bọn giặc xâm lược, trong sách của Lê Quí Đôn có ghi: thời nhà Tấn (265 – 420) quân xâm lăng qua ải này bị giết nhiều đến nỗi đã để lại câu thơ đầy hãi hùng “Quỷ Môn quan, Quỷ Môn quan, thập nhân khứ, nhất nhân hoàn” (Quỷ Môn quan, Quỷ Môn quan, mười người đi, chỉ một người trở về) Tại Ải Chi Lăng có thành Chi Lăng do quân Minh đắp trong thời gian xâm lược Việt Nam, hiện tại chỉ là phế tích với cái nền và ở phía nam thành còn phiến đá khắc mấy từ Hoàng tráng nhị thập đội (nơi đồn trú của đội quân Hoàng tráng thứ 20) mà thôi! 

Trong suốt quá trình xâm lược của kẻ thù phương Bắc từ Tống, Nguyên đến Minh, Lạng Sơn nói chung, Ải Chi Lăng nói riêng luôn là vị trí chiến lược và là hướng tấn công chính, bởi nếu chiếm được có nghĩa là chiếm được cửa ngõ vào châu thổ sông Hồng khi theo đường cái quan (quốc lộ 1) chỉ cách kinh đô Đại Việt (Thăng Long – Hà Nội) 150 km. Nhưng Ải Chi Lăng với chiến lũy hình thang cùng các đầm lầy, sông suối, núi non hiểm trở luôn là tường thành kiên cố của kinh đô xưa ngăn chặn bước viễn chinh xâm lược của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Như năm 981 Lê Hoàn đã giết chết bọn tướng cầm đầu quân Tống sang xâm lược nước ta, năm 1077 Lý Thường Kiệt cùng phò mã Thân Cảnh Phúc với chiến tuyến Quyết Lý và Giáp Khẩu dựng tại Chi Lăng đánh tan quân Tống xâm lược lần thứ hai. Năm 1285 quân Nguyên Mông bị quân nhà Trần dưới sự chỉ huy tài ba của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã đánh cho tan tác, tướng giặc là 

Nghệ Nhuận bị giết tại chỗ. Năm 1427, Liễu Thăng chỉ huy gần 10 vạn quân kéo sang dẹp khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, bị phục kích tại núi Mã Yên, Liễu Thăng bị chém chết, đoàn quân bị vây đánh, tiêu diệt và bắt sống gần như toàn bộ ở Xương Giang. Người lái xe say sưa giới thiệu Ải Chi Lăng với tôi cùng những chiến tích chống xâm lược lẫy lừng của Chi Lăng, Lạng Sơn chẳng khác một sử gia. Anh nói thêm, nếu muốn đi dọc theo Ải Chi Lăng phải theo quốc lộ 1 cũ đến đèo Sài Hồ ranh giới giữa hai huyện Chi Lăng và Cao Lộc, khá hiểm trở; còn tường đá “Ải Chi Lăng” này chỉ nhằm giới thiệu một quần thể của Ải Chi Lăng! Quá tường đá “Ải Chi Lăng” hướng về thành phố Lạng Sơn một chút (cũng thuộc xã Quán Thanh) là “Núi mặt quỷ” (hình chụp bên dưới), trên vách núi có các hốc đá nhìn từ xa giống một đầu lâu, có tóc (những dây leo màu xanh phủ trên), hai hốc mắt, mũi, miệng. Khu vực núi hình mặt quỷ không một cây, cỏ nào mọc tạo nên nét màu đỏ. Người dân ở đây cho biết núi này đã có từ lâu đời và không hiểu sao vùng mặt không cây, cỏ nào mọc chứ chẳng phải do con người cắt tỉa vì không ai dám leo lên chỗ “mặt quỷ”, làm như thế là không tôn trọng “đấng tạo hóa”, sẽ bị trừng phạt; chếch núi “mặt quỷ” là ngọn “núi quỷ” (hình dưới) độc lập có hình dáng 3 người, người sau tựa tay vào vai người trước. Mỗi khi gió thổi qua hai ngọn núi này tạo nên âm thanh như tiếng ma kêu quỷ khóc, dân sống quanh đây đã quen nên không sợ hãi gì mà họ bảo “mặt quỷ” tuy tượng trưng cho cái ác, nhưng “mặt quỷ” và “núi quỷ” thật hiền hòa với dân làng. 

Núi quỹ 

Núi mặt quỹ 

Những sự kiện oai hùng của thời xưa thật xưa qua lời kể của người lái xe cùng những hình ảnh núi đồi thực tại như từng trang sử sống động, hào hùng của đất nước, của tiền nhân hiện ra trước mắt tôi. Trải dài trên quê hương Việt Nam không chỉ có biển, núi, sông xinh đẹp, hùng vĩ mà mỗi một địa danh cũng gắn liền với những trận thư hùng oanh liệt, từng tất đất đã thấm đẫm biết bao máu, thịt của nhiều thế hệ con dân Việt Nam từ ngày lập quốc đến nay! Hệ thống lại lịch sử Việt Nam từ buổi ban sơ, Việt Nam và Trung Quốc chưa hề có mối bang giao hữu nghị thực sự mà chỉ có những cuộc xâm lược mở rộng cương thổ của một nước lớn và sự chống trả, chiến đấu bảo vệ quê hương của người bị xâm lăng. Năm 1977, khi được cử đi học lớp nghiệp vụ biên tập báo, đài từ tỉnh Bình Trị Thiên đến tỉnh Minh Hải do Tổng cục Thông tin tổ chức, một cán bộ lãnh đạo được TCTT cử theo dõi, quản lý lớp và giảng dạy về kỹ năng biên tập, trong một buổi nói chuyện thời sự với lớp đã kể, tôi chỉ nhớ đại ý: “Những năm gần cuối thập kỷ 60, trong lúc miền Bắc đang nỗ lực tập trung sức người, của cải để chiến đấu chống địch ở miền Nam, thì Trung Quốc lại đòi Chính phủ ta phải trả nợ mà họ đã viện trợ trước đó nhằm mục đích cản trở bước tiến của ta; trong thế buộc, Đảng, Nhà nước ta phải chắt bóp của cải để trả cho Trung Quốc, nhưng Bác Hồ và Chính phủ đã cho làm những tấm pano lớn ở vùng biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn viết chữ thật to trên đó và treo trên các xe tải chở hàng hóa sang trả nợ: “Tiền tuyến lớn trả cho hậu phương lớn”. Mời báo chí, phóng viên các nước đến chụp hình, quay phim. Lúc ấy Trung Quốc mới thôi đòi nợ”. Những cái gọi là 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng đến tương lai” và tinh thần 4 tốt: “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, theo tôi, đó chỉ là ngôn từ ngoại giao mà thôi! 

– Chúng ta đến thành phố Lạng Sơn rồi! Giọng của người lái xe vang lên, đưa tôi trở về thực tại, thoát ra niềm ưu tư bất chợt của mình. Cổng chào vào thành phố Lạng Sơn mở ra trước mắt tôi. 

Vạt nắng chiều đang tắt dần sau dãy núi đá vôi của cung Bắc Sơn. Chỉ mới hơn 5 giờ chiều, sau khi nhận phòng ở khách sạn người bạn đặt sẵn, tắm rửa xong, trong lúc chờ anh bạn đến, tôi thả bộ ra chợ Kỳ Lừa chỉ cách khách sạn mình ở độ vài chục bước chân. Và đây, chợ Kỳ Lừa ngày trước, nay là “Chợ đêm Kỳ Lừa”, chợ thuộc phường Hoàng Văn Thụ, mặt trước là đường Trần Đăng Ninh, ngó qua hồ Phai Loạn. 

Theo lời người bạn, chợ đã có từ hơn trăm năm trước, là nơi mua bán các loại sản vật, hàng hóa phong phú, đa dạng như các loại thổ cẩm, trang phục, các món ăn của dân trong vùng và các địa phương khác đưa đến. Chợ được xếp vào một trong “trấn doanh bát cảnh” của Lạng Sơn. Ngày trước chợ họp sáu phiên mỗi tháng vào các ngày mùng 2, 12, 22, mùng 7, 17 và 27 âm lịch; mỗi năm Hội chợ Kỳ Lừa kéo dài từ 22 đến 27 tháng giêng. Trong mỗi phiên chợ diễn ra những hoạt động văn hóa dân gian của các dân tộc rất sống động như hát sli, hát lượn; người đến chợ không chỉ để mua bán mà còn giao lưu, hát giao duyên, kết bạn … Nay thì không còn những phiên chợ, sinh hoạt văn hóa đó nữa mà trở thành chợ đêm, và hoạt động mua bán thường xuyên từ 6 giờ sáng đến 11 giờ đêm để phục vụ khách du lịch, chủ yếu là các loại hàng hóa của Trung Quốc. Trước đây việc mua bán rất sầm uất, nhưng kể từ khi Trung Quốc có những hoạt động quấy phá trên biển Đông, đặc biệt là những thông tin về hàng Trung Quốc có chứa nhiều độc tố thì việc mua bán giảm sút hẳn, tôi tận mắt nhìn thấy khá nhiều gian hàng che bạt phủ kín. Người bạn giải thích cho tôi nghe tại sao gọi là Kỳ Lừa: ngày xưa, khu vực này có một con lừa rất kỳ lạ. Hàng ngày, khi được chủ thả đi ăn, nó tự bơi qua sông Kỳ Cùng và sang núi Kỳ Cấp ăn cỏ non, đến tối lại tự bơi qua sông tìm về chuồng, người ta kháo nhau đó là con lừa của Mạc Đĩnh Chi, rủ nhau đến xem con lừa rất đông và cái tên Kỳ Lừa (con lừa kỳ lạ) ra đời từ đó. Còn ý kiến khác thì cho rằng xưa kia nơi này có những đồi cỏ thấp dùng làm bãi chăn thả lừa, ngựa nên gọi là Khưu Lư và người ta đã đọc chệch thành Kỳ Lừa. Cho đến nay vẫn chưa ngã ngũ về sự hai luồng ý kiến này. Tuy là người sinh ra và lớn lên ở Xứ Lạng nhưng cũng không rõ lắm, tùy anh tin ở ý tương truyền nào cũng được. 

Lạng Sơn là một trong những tỉnh Đông Bắc của Việt Nam được vua Minh Mạng thành lập năm 1831 cùng 12 tỉnh khác của Bắc Kỳ, thành phố Lạng Sơn nằm giữa một lòng chảo lớn, cư dân thành phố gồm có: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, H’Mông; trong đó người Nùng chiếm tỷ lệ cao nhất, rồi đến người Tày, thứ ba là người Kinh. Từ xưa, Lạng Sơn là trung tâm của vùng đất biên giới, nằm trên trục giao thông có từ rất lâu, nối liền từ giữa kinh thành Thăng Long (Hà Nội) và biên ải, cũng là đường giao lưu giữa các triều đại phong kiến của hai nước Việt Nam – Trung Hoa. Theo nhiều sử liệu, thời nhà Hán, Đường (Trung Quốc) đô hộ nước ta, Lạng Sơn thuộc quận Giao Chỉ, là một trong 9 quận của Việt Nam lúc bấy giờ. Đến triều đại nhà Lý (thế kỷ 11), Lạng Sơn được gọi là châu Lạng, do phò mã Thân Thừa Quý cai trị. Đời nhà Trần (thế kỷ 13), Lạng Sơn được gọi là Lạng Châu lộ, năm Quang Thái thứ 10 đổi thành trấn Lạng Sơn và đặt lỵ sở ở Mai Pha. Thời nhà Lê (thế kỷ 15), Lạng Sơn được bố trí nhiều cơ quan gọi là vệ, cục, ty, củng cố quân sự để chống lại sự xâm lược của nhà Minh. Đến triều Nguyễn, triều đình cử Ngô Thì Sỹ trấn thủ và tu bổ lại Đoàn Thành Lạng Sơn được xây dựng từ thời nhà Trần. Năm 1925 của thế kỷ 20, thị xã Lạng Sơn được thành lập và là tỉnh lỵ của tỉnh Lạng Sơn, chia làm hai khu vực tự nhiên, lấy sống Kỳ Cùng làm ranh, phía bờ nam gọi là “bên tỉnh” tập trung các cơ quan hành chính của bộ máy, phía bờ bắc gọi là “bên Kỳ Lừa” là nơi phố chợ với các hoạt động sản xuất, buôn bán của người dân. Trong chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1979, quân Trung Quốc tràn xuống đến bên Kỳ Lừa gây ra nhiều thiệt hại. (*) 

Sông Góc nhỏ thành phố Lạng Sơn với hồ Phai Loạn trong buổi chiều tà 

Kỳ Cùng và cầu Kỳ Lừa 

Sông Kỳ Cùng chảy qua trung tâm thành phố, sông thuộc lưu vực Tây Giang (Trung Quốc), sông này dài hơn 240 km, bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa (cao hơn 1.100m) thuộc huyện Đình Lập chảy theo hướng đông nam – tây bắc về Quảng Tây – Trung Quốc. Cách thành phố Lạng Sơn khoảng hơn 20 km, dòng chảy đổi chiều theo hướng nam – bắc tới thị trấn Văn Lang rồi lại đổi hướng dòng chảy thành đông nam – tây bắc trước khi rẻ sang hướng đông ở gần thị trấn Thất Khê, để rồi cũng tại thị trấn Thất Khê dòng chảy theo đường vòng cung, đoạn đầu là hướng tây tây bắc – đông đông nam đến Bi Nhi; từ đây vượt biên giới sang Trung Quốc và đổi hướng dần thành tây tây nam – đông đông bắc nên người ta gọi là sông chảy ngược (**). Trên sông Kỳ Cùng có cầu Kỳ Lừa. 

Những đám mây màu trắng đục là là thật thấp hòa cùng màn sương mù mỏng làm cho cảnh vật ở thành phố Lạng Sơn còn đang chìm trong giấc ngủ trở nên huyền ảo, lung linh hơn, – có thể nào trong cái lung linh, huyền ảo này, ta sẽ gặp những nàng sơn nữ của nhạc sĩ Trần Hoàn! – tôi thầm nghĩ. Đường phố im vắng, yên tĩnh đến diệu kỳ. Ngày mới đã bắt đầu, nhưng hình như tất cả vẫn còn đang ngủ nướng, lang thang trên những con phố nhỏ của thành phố, thoảng qua những làn gió nhẹ làm cho mình tưởng như mùa thu đang tới, tôi ngửi thấy mùi hương hoa hồi đằm thắm, mùi hoa ngọc lan tinh khiết, mùi hoa sữa hăng nồng, hương núi rừng sâu thẳm đẩm ướt sương đêm. Tất cả, tất cả, mùi núi rừng, mùi sương đêm, mùi hoa tạo nên nét đặc trưng riêng biệt khác với mùi dẽo đặt bazan của Gia Lai, mùi nhựa thông của Lâm Đồng – Đà Lạt, mùi dã quỳ của Đắk 

Lăk, mùi hoa ban của núi rừng Tây Bắc … và gợi nhớ trong tôi những tháng ngày sống và làm việc ở một huyện nghèo của tỉnh Gia Lai – Kon Tum sau 1975; cũng những mùi hương không phố thị nào có được ấy, cũng những con người sơn dã nơi ấy đã khiến tôi thấy gần gũi với thiên nhiên, với đất trời và cả với những con người thịt da khét nắng. Cảm giác thanh bình tràn ngập trong tôi. Khí hậu của vùng biên cương cận nhiệt đới ẩm buổi sáng tinh mơ sao mà tuyệt diệu quá! Ở những con phố tôi đã đi qua như: Trần Đăng Ninh, Kỳ Lừa, Bắc Sơn, Bà Triệu, v.v… chỉ độ dăm ba quán ăn nhỏ mở cửa chuẩn bị bán hàng làm xáo động một không gian nhỏ nhoi; còn lại thật bình yên, không ồn ào, náo nhiệt, không kẹt xe, tắc đường, không khói bụi mịt mù, không tiếng còi xe inh ỏi như Sài Gòn, Hà Nội hay những thành phố khác mà tôi đã đi qua. Sau khi ăn sáng xong, người bạn đưa tôi đến động Tam Thanh. Nàng Tô Thị của Lạng Sơn là một nhân vật trong truyện cổ tích Việt Nam có tên là Hòn vọng phu, nằm trong quần thể di tích động Tam Thanh (chùa Tam Thanh, tường thành nhà Mạc, hòn vọng phu) thuộc phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, trên đỉnh núi (gọi là núi Nhị Thanh) có một khối đá tự nhiên hình một người phụ nữ cõng con hướng nhìn về phương xa. Năm 1991, tượng bị hiện tượng phong hóa đặc trưng ở những miền núi đá vôi do nước chảy xói mòn làm rơi xuống (khoa học địa lý gọi là hiện tượng “karst” (tiếng Đức) và giải thích rằng sự xói mòn này không phải do lực cơ học mà do dioxide carbon (CO2) trong không khí hòa tan vào nước cùng với các ion dương của hydro (H+) tạo thành acid carbonic), người dân đã lấy đem nung vôi (lúc ban đầu người ta nghi là bị phá hoại và đã bắt giữ 2 người dân). Sau này, địa phương đã làm lại tượng bằng ciment đặt vào vị trí cũ. 

Việt Nam có rất nhiều Hòn vọng phu được trải dài từ Bắc đến Trung. Ở Lạng Sơn có nàng Tô Thị; Thanh Hóa có núi vọng phu ở núi Nhồi xã Đông Hưng, huyện Đông Sơn; ở Nghệ An có hòn vọng phu ở Quế Phong bên bờ Khe Giai cạnh giòng Nậm Giai; Quảng Trị có đá vọng phu ở huyện Vũ Xương; Quảng Nam có đá Bà Rầu, Bình Định có núi vọng phu trên dãy núi Bà ở Chánh Oai, xã Cát Hải, huyện Phù Cát; ở Phú Yên có núi Đá Bia (trên dãy núi đèo Cả); Khánh Hòa có núi Mẫu Tử ở xã Ninh Tòng, huyện Ninh Hòa; ở Tây Ninh có núi Bà Đen; còn ở Đăk Lăk có núi Mẹ bồng con trên đỉnh núi M’Drăk huyện M’Drăk. Nhìn chung, có thể nói sự tích các nàng Tô Thị, Hòn vọng phu ở Việt Nam đều có cốt truyện na ná nhau, đó là: người phụ nữ ôm (bồng hay cõng) con khắc khoải chờ chồng đi chinh chiến, hoặc buôn bán ở phương xa hay đánh bắt tôm, cá ngoài biển khơi nhiều năm dài đến độ hóa thành đá; mà người chồng đó là anh trai của mình, ngày còn bé anh em chơi đùa cùng nhau, người anh lỡ tay làm em gái mình bị thương tích trên đầu, sợ hãi bỏ đi, anh em lưu lạc và rồi tình cờ gặp nhau, thương yêu nhau, thành vợ thành chồng. Trong một lần giúp vợ gội đầu hay bắt chí phát hiện ra vết sẹo ngày xưa, hỏi ngọn ngành và biết đó là em gái mình, nhận biết sự loạn hôn của mình và em gái, người chồng (anh) ân hận, đã lặng lẽ ra đi biền biệt để vợ (em) phải chờ mong trong nhiều năm tháng, hàng ngày bồng bế con lên núi dõi mắt nhìn xa đợi chồng rồi hóa thành đá. Và một đặc điểm chung nữa là các hòn vọng phu của Việt Nam là nhìn về hướng biển Đông hay nhìn về phương Bắc xa xăm; theo tôi, đó là nơi người chồng (anh) ra đi tìm sự sống cho gia đình (mua bán hay đánh bắt cá, tôm) hoặc tòng chinh chống quân xâm lược, bảo vệ biên cương của Tổ quốc. Và, tuy sự tích của những “hòn vọng phu” ấy gần giống nhau, nhưng là những hình tượng đẹp, ca ngợi sự thủy chung, nhân hậu và cũng rất nhân văn của người phụ nữ Việt Nam; những “vọng phu” này đã đi vào thơ ca, âm nhạc bằng những tuyệt tác vượt thời gian, không gian như: ba nhạc phẩm Hòn vọng phu 1, 2, 3 của Lê Thương; những bài thơ “Vọng phu thạch” trong tập “Thanh Hiên thi tập” của Nguyễn Du (nói về nàng Tô Thị, Lạng Sơn), “Vọng phu thạch” của Phan Chu Trinh viết năm 1905 về hòn vọng phu ở Bình Định, hay “Núi vọng phu” của Hồ Dzếnh: Nghe nói ngày xưa biển ở đây Biển đi để lại núi non này Mưa nguồn chớp bể chia hai ngả Hòn vọng phu thương vọng hải đài ……………………………………….. Mối tình vời vợi giữa không gian Bốn nghìn năm ấy bao sương gió Mà vẫn đinh ninh thiếp đợi chàng Nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã khắc tạc người phụ nữ thủy chung đợi chờ: Đầu nước đá ôm con, cuối nước đá đợi chồng Đâu chẳng song Thương đâu chẳng Kỳ Cùng Là tượng đá của những thời binh lửa Nàng Vọng phu đầu sông hơn gì nàng Tô Thị cuối sông ……………………………………………………….. Không hóa thạch kẻ ra đi, hóa thạch kẻ đợi chờ Xói mòn những non cao, không xói mòn lòng chung thủy Đá đứng đấy giữa mưa nguồn và chớp bể Đợi một bóng hình trở lại giữa đơn cô. (Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002) Hay những câu thơ mượt mà, đầy hoài niệm của Du Tử Lê trong bài “Em về thăm thẳm núi non”. Hoặc là “giọt lệ còn rưng rưng …” huyền ảo, hư vô chứ không chỉ đơn thuần là hình ảnh người thiếu phụ hóa đá, thành hình tượng vô giác, vô tri trong “Sự tích hoa đá” của Lâm Thị Mỹ Dạ. v.v… và v.v… Và, gần đây nhất có trường thi “Hòn vọng phu” của Vũ Thanh (Võ Thanh Quang), bạn cùng trường, cùng khóa với 2466 câu thơ lục bát đã nhân hóa truyền thuyết hòn vọng phu của Bình Định: … Đêm nay trời đổ cơn mưa …..Xác thân hóa thạch muôn niên đứng chờ … 

Thành nhà Mạc là một phần trong quần thể di tích ở phường Tam Thanh, gần với tượng nàng Tô Thị, dấu tích còn lại là hai đoạn trường thành bằng đá trong hẻm núi, khoảng hơn trăm bậc cấp, khá rộng cho người đi, đứng trên đỉnh trường thành có thể nhìn bao quát cả vùng Lạng Sơn, núi non trùng điệp, mây bay lãng đãng trên nền trời xanh. Đẹp, bình yên và tâm hồn trở nên thư thái hơn. Đây là dãy trường thành quân sự nối từ Ải bắc xuống phía nam do Mạc Kính Cung xây dựng vào thế kỷ XVI làm căn cứ chống lại Lê – Trịnh và cũng là nơi để quan sát, phòng ngự và chống lại quân xâm lược Trung Hoa. 

Chùa Tam Thanh nằm trong động núi đá nên cón có tên gọi khác là Động Tam Thanh, được xây dựng từ thời nhà Lê, chùa được xây trên một khu đất ở phía bên kia đường gần phía trước của động. Người dân ở đây cho biết; thời Pháp thuộc, gần sát chân núi phía đông có một hồ bơi lớn do người Pháp xây bằng gạch men đem từ “mẫu quốc” qua, dành cho các quan chức Pháp và những người Việt có thế lực làm nơi giải trí. Nước của hồ là nguồn nước từ sườn núi chảy thằng vào nên hồ bơi lúc nào nước cũng trong xanh, mát rượi. Trái núi ở phía Nam là Tam Thanh, có một hang rất rộng và sâu, cửa hang mở rộng ngay tại chân núi, trông như miệng con cá voi khổng lồ đang há ra. Hang này mới chính là Động Tam Thanh, vì đứng trước cửa hang hô một tiếng to và dài, ta sẽ nghe được tiếng đó vọng lại 3 lần tiếp theo nhau. Động Tam Thanh nằm trong dãy núi có hình đàn voi phủ phục trên mặt cỏ. Đi sâu vào trong hang, ta có thể xem các thạch nhũ từ nóc hang thòng xuống, có nhiều cột dài đến mặt nền hang, trông như cột chống đỡ, phản chiếu ánh ngũ sắc long lanh như kim cương rất đẹp. Trong lòng núi này có con suối ngầm chảy ra cửa hang và đổ vào sông Kỳ Cùng. Người ta có thể đốt đuốc men dọc theo dòng suối trong lòng núi, suốt từ cửa hang bên này sang tận sườn núi bên kia để qua núi Nhị Thanh (nơi có nàng Tô Thị). Có đoạn đi lài lài sâu xuống lòng đất, gọi là lối xuống Âm phủ. Đoạn sau cùng dẫn ngược lên cao ra triền núi, gọi là thang lên Trời. Khoảng khu trung tâm của động, có hồ Âm Ty nước không bao giờ cạn. Hồ chỉ rộng độ mấy năm ba chục mét vuông nhưng cảnh quan tuyệt đẹp, có nguồn nước chảy suốt ngày đêm và ngày nay nhờ kỹ thuật chiếu sáng hiện đại làm cho màu sắc của hang động thêm lung linh, huyền ảo.*** Trong chùa Tam Thanh có một tượng phật A Di Đà được tạc nổi vào vách đá từ thế kỷ 15, tư thế tượng đứng trong hình chiếc lá bồ đề mặc áo cà sa buông xuống tận gót, hai tay chỉ xuống đất. Hàng năm chùa tổ chức lễ hội vào ngày rằm tháng giêng, thời điểm tôi đến đây không phải là mùa lễ hội và chỉ mới hơn 8 giờ sáng nên cảnh chùa còn vắng vẻ. Ngoài phong cảnh tuyệt vời, chùa Tam Thanh còn lưu giữ được những văn bia của các văn nhân đất Việt thuộc loại quí hiếm như: bia Ma Nhai là tấm bia cổ nhất (tạc vào năm 1677, triều nhà Lê) ghi lại một cách chi tiết quá trình xây dựng, tôn tạo chùa; bia khắc bài thơ vịnh cảnh sơn thủy hữu tình của động Tam Thanh của Ngô Thì Sĩ (khắc vào năm 1777); bia tạc bài thơ “Vọng phu thạch” được Nguyễn Du cảm tác vào năm 1803 khi ông được cử đi đón sứ nhà Thanh sang sắc phong cho vua Gia Long, bài thơ được Nguyễn Thạch Giang dịch thành: 

ĐÁ VỌNG PHU Là người? Là đá? Hỏi là ai? Đầu núi bao năm đứng giữa trời. Bặt mộng mây mưa trong một kiếp, Giữ lòng trinh bạch trọn muôn đời. Lớp rêu đoạn sách còn ghi mãi, Dòng lệ mưa thu cứ chảy hoài. Bốn phía mênh mông nhìn dãy núi, Luân thường riêng để má hồng soi! Thật đúng là một “đệ nhất bát cảnh xứ Lạng” như nó đã từng được mệnh danh. 

Còn đây, phải chăng là “trụ đồng” của Mã Viện trong huyền thoại “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (trụ đồng ngã, đất Giao Chỉ không còn) khi Mã Viện là một viên tướng được nhà Đông Hán cử sang cai trị nước ta? Không phải, đây chỉ là một trong hai trụ đèn dựng bên quốc lộ 1A thuộc địa phận cuối Lạng Sơn, đầu Bắc Giang, thấy ngồ ngộ nên tôi cho thêm vào bộ sưu tập ảnh “Xứ Lạng” cho thỏa cái thú xê dịch.

Hai mươi tám tiếng đồng hồ để đến và đi khỏi Lạng Sơn, quỹ thời gian quá ngắn ngủi để có thể tìm đến những chùa Tiên, giếng Tiên, ải Nam Quan, hang Gió, Mẫu Sơn v.v… nên chỉ ghi lại những cảm nhận của mình về những nơi mình đã đến, chiêm ngưỡng và tình cảm mộc mạc, chân tình của cư dân xứ Lạng và tự hẹn sẽ đến với chùa Tiên, giếng Tiên, Nam Quan … vào dịp khác. Vậy là tôi đã từ giã Lạng Sơn khi bóng mặt trời đang dần khuất trên nền trời Bắc Ninh. 

Tháng 8 năm 2013

Lâm Khánh – Võ Xuân Đào 

Chú thích: 

* : tóm lược theo “Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn (www.langson.gov.vn) ** : tóm lược theo “Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn (www.langson.gov.vn) ***: theo lời kể của người bản xứ và tham khảo các tài liệu khác trên mạng internet.

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: GIANG HỒ ĐỂU CÁNG (Lưu Thy )

 

 

…sau cuộc tầm sư học đạo, Tiểu Yêu xuống núi, cô không có gươm đao cung kiếm như những chàng hiệp khách, cô chỉ mang chiếc bàn phím với con chuột trên lưng… và cây bút chì thay chiếc trâm cài tóc!
cây- bút- chì? vâng, mềm mại, uyển chuyển, thong dong như nước. Không hề và không bao giờ là cây bút sắt để cào cấu người tiếp xúc bằng những vết thương!
có sao đâu, bởi cô không quan niệm Giang Hồ Hiểm Ác như nhân gian thường phẫn nộ, với cô, Giang Hồ (chỉ hơi) Đểu Cáng chút thôi! vậy thì cần gì kiếm cung giáo mác để cuộc đời thêm phần đắng cay thù hận?
chỉ với cây bút chì, chiếc bàn phím và con chuột, cô ung dung tự tại bước xuống cuộc đời!
( tôi không phải là một nhà phê bình xuất sắc được đào tạo căn bản biết cách nhặt lấy những điểm son – thật, giả-  để ca ngợi lên tận trời xanh cũng như không biết cách tìm những nhược điểm để khuyên can này nọ… tôi là một người đọc bình thường chỉ biết nhặt đúng những hồn vía của chữ nghĩa mà tác giả quăng một nắm ra giữa đời và cảm nhận được cái đẹp rưng rưng đâu đó!)
Tôn Nữ Thu Dung

Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả một tác phẩm giá trị xứng đáng có mặt trong tủ sách của chúng ta.

Tình Yêu Không Cũ

 

 

Đã cuối tuần rồi. Lại hết tuần
Chuông Nhà Thờ đổ đón hoàng hôn
Có người con gái đi xưng tội
Trước Chúa, nàng thưa: Con Nhớ Thương…

Trước Chúa, trước nàng: Pho Tượng Đá
mà sao như có trái tim hồng?
Trái Tim Của Chúa, nàng yêu quý
cũng Trái Tim Nàng…một đóa Trăng!

Tất cả, chỉ là tôi tưởng tượng
một người con gái cúi đầu thưa
một pho tượng đứng nhìn chăm bẳm
Một Thế Gian Đầy Một Ước Mơ!

Nhiều người làm thơ để có bài
Tôi làm thơ chỉ nhắc về ai…
Một người không quản gì mưa nắng
Nhưng có tấm lòng Nhất Độ Mai!

Tôi biết người ta tới tuổi hồng
…thì người ta phải bước theo chồng
Gái khi khôn lớn đều như thế
Từ đó tôi nhìn mãi bến sông…

Đã cuối tuần rồi, cuối tuần nào
Rất là xưa nhé giấc chiêm bao:
Núi sông tôi đã bao lần vượt
…mà gặp lại người…chắc kiếp sau?

Có những bài thơ làm-cho-mình
Làm rồi xếp cất, mở ra nhìn…
Bao nhiêu năm tháng không cần tính
Chỉ biết Tình Yêu Mãi Mới Tinh!

Trần Vấn Lệ