nguyên đán tình yêu

nụ mai sáng nay vừa nở
trên môi em ngọt thơm hồng
tôi nghe bềnh bồng trong gió
là tình tôi chớm đơm bông…

mùa xuân bên trời quá mộng
miên man giọt nắng xuân tràn
có chút gì trong nắng sớm
mà hồn xuân đậu thênh thang

ơi tôi bên trời nguyên đán
tình yêu mầu nhiệm theo về
khẽ thôi chân trần gót mỏng
nồng nàn gọi cửa đam mê

từ trong muôn trùng nỗi nhớ
thiết tha hoa cỏ gọi mời
nầy người tôi xin hỏi nhỏ
có dành xuân nào trao tôi…

nguyễn minh phúc

Advertisements

Biểu Tượng Heo Trong Huyền thoại, Điện ảnh, và Văn học

Người miền Nam gọi là con heo. Miền Bắc, gọi con lợn. Ở miền Nam có bánh da lợn và bánh tai heo. Không thấy ai nói bánh da heo và bánh tai lợn. Heo thì có heo nhà và heo rừng. Trong giống heo nhà có gồm chung một loại heo nhỏ, màu đen hoặc đốm đen, là heo mọi. Tiếng Anh có nhiều chữ để chỉ con heo, hoặc lợn. Mãi cho đến thế kỷ thứ mười chín, chữ “swine” là chữ được dùng thường xuyên nhất. “Pig” ban đầu được dùng để chỉ “a young swine” (một con heo còn bé). “Boar” là heo đực tuy nhiên thường được dùng để chỉ loài heo rừng. “Sow” là heo nái. “Barrow” heo đực bị thiến. “Hog” là con heo đực trưởng thành, to lớn hơn “pig,” được dùng chung cho cả hai “swine” hoặc “barrow.” “Farrow” trước kia dùng để chỉ heo con, sau dùng để chỉ đàn heo con mới sinh.
Đối với người Do Thái và người Hồi Giáo, heo là con vật bẩn thỉu vì vậy giáo dân không được phép ăn thịt. Người nào không tuân theo giới cấm sẽ bị Chúa hay Giáo Chủ trừng phạt. Tuy vậy, vẫn có những quốc gia, đưa loài heo vào hàng thần linh. Albina là một nữ thần trong huyền thoại của xứ Etruscan (thuộc về nước Ý thời cổ). Gốc gác Albina là một con heo nái màu trắng. Tương tự như huyền thoại Etruscan, huyền thoại Celtic (bao gồm các quốc gia Ireland, Scotland, Wales) có nữ thần Eridwen (cũng là con heo trắng). Babi Ngepet là một con heo quỉ trong huyền thoại Indonesia. Huyền thoại Wales có Hen Wen, vị thần heo nái đã sinh ra con mèo khổng lồ Cat Palug. Về sau còn mèo này đánh nhau với Vua Arthur. Hildisvíni là con heo đực của vị thần Freyja trong huyền thoại Norse. Gullinbursti là một con heo nọc có bộ da cứng như thép, lông bằng vàng mọc dọc theo xương sống. Bộ da này có thể chiếu sáng trong bóng tối. Gullinbursti được dùng làm quà tặng cho Frey, vị thần tượng trưng cho nắng và thời tiết tốt đẹp, bảo vệ sự sinh tồn và thịnh vượng cho loài người. Kamapua’a trong huyền thoại Hawaii là một cậu bé nửa người nửa heo, là thần tượng trưng cho khả năng sinh sản và bảo vệ của hòn đảo Maui. Moccus là một vị thần heo Celtic bảo vệ thợ săn và chiến sĩ. Trư Bát Giới trong huyền thoại Trung quốc, là một người, nửa phần trên mang hình dáng heo, đã theo Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh. Sau khi cuộc thỉnh kinh thành công, Trư Bát Giới trở thành Bồ Tát.
Dường như, người Tây phương thời cổ vì sợ sự tàn phá của loài heo rừng khổng lồ mà đưa chúng vào huyền thoại. Heo, được tôn thờ vì sợ hãi chứ không vì kính yêu. Lưu truyền mãi đến ngày hôm nay, heo luôn luôn là biểu tượng cho sự khinh ghét vì những đặc tính dâm dục, ngu độn, và tham ăn. Phim ảnh về tình dục tục tằn (pornography) được dịch ra là “phim con heo”. Con heo cũng là biểu tượng của sự ngu xuẩn. Người Việt mình thường chê trách một người nào đó bằng thành ngữ “ngu như heo.” Người Mỹ dùng chữ “pig out” để chỉ hành động ăn tham và ăn nhiều. Tiếng Hy-lạp cổ có một thành ngữ được dùng để chỉ người ngu mà hay làm ra vẻ khôn ngoan dạy đời; đó là “a pig contending with Athena” có nghĩa là heo là dám đối đáp với Athena, vị nữ thần bảo hộ thành phố Athen. Bên cạnh hai con heo rừng của Calydon và Heracles, tôi sẽ kể bạn nghe sau đây, Hy lạp còn có con heo rừng (nái) Crommyonian sow là mẹ của con heo rừng Calydon, bị Theseus, vị thần lập nên thành phố Athen, giết chết. Câu chuyện heo Crommyonian cũng na ná như hai huyền thoại kia lại ít chi tiết ly kỳ nên tôi bỏ qua.


Cuộc săn heo rừng ở Calydon.

Calydon là một thành phố của Aetolia, vào thời Hy Lạp cổ, nằm ở bờ phía Tây của con sông Evenus cách bờ biển chừng 11 km. (Theo Wikipedia). Calydon vào thời ấy rất thịnh vượng, được nhắc nhở nhiều lần trong tác phẩm Iliad của Homer. Oeneus, vua của Calydon thường dâng hiến lễ vật cúng tế Artemis, nữ thần chúa tể ngành săn bắn, con của Zeus và là chị/em sinh đôi của thần Apollo. Có một năm, Oeneus quên kèm tên Artemis trong các món lễ dâng cúng các vị thần. Nổi giận vì cho là Oeneus khinh thường mình, Artemis thả con heo rừng khổng lồ của bà đến tàn phá tất cả ruộng vườn nhà cửa và giết hại dân chúng của Calydon. Dân chúng rút vào kinh thành cố thủ, con heo rừng lại canh ngay trước cửa thành khiến dân không thể cày cấy hay săn bắn, dần dần lâm vào nguy cơ bị chết đói. Oeneus kêu gọi anh tài cứu giúp quốc gia. Người nào giết con heo rừng khổng lồ này sẽ được thưởng bộ da và cặp nanh của nó.
Một người thì có lẽ khó mà thắng được con heo rừng của Artemis, tuy nhiên rất nhiều anh hùng xứ Calydon đã đáp ứng lời kêu gọi của Oeneus. Trông số này có Argonauts, đoàn quân đã từng đi săn con cừu thần có cánh với bộ lông bằng vàng, và hoàng tử Meleager, con vua Oeneus. Người yêu của Meleager là Atalanta, săn bắn rất tài giỏi, cũng được mời tham dự cuộc săn.
Atalanta, nguyên là con nuôi của Artemis. Thuở nhỏ đã từng được nuôi bằng sữa của Artemis. Lớn lên nàng thường được Artemis ủy quyền quán xuyến công việc. Tài năng của nàng vượt xa người thường. Hoàng tử Meleager giết chết con quái vật, tuy nhiên, phần thưởng cao quý của người chiến thắng được chàng trao cho Atalanta vì nàng là người đầu tiên bắn trọng thương con quái vật.
Đoàn quân săn bắn không đồng ý việc giải thưởng cao quý này lại được trao cho một người đàn bà (kỳ thị phụ nữ quá!). Mấy người con của Thestios, cậu của Meleager, cướp phần thưởng này, vì thế Meleager giết đám con và cả người cậu. Ngày xưa, khi Meleager mới sinh ra, có một vị thần tiên tri, nhìn mấy cây que củi đang cháy trong lò sưởi, rồi bảo rằng: “Bao giờ cây củi ấy cháy hết, Meleager sẽ chết.” Mẹ của Meleager để bảo vệ con, vội dập tắt cây củi rồi cất vào trong áo. Meleager nhờ đó thoát chết. Đang cơn giận con trai giết chết em trai và cháu, bà rút cây củi đang giấu trong áo ném vào lửa, vì thế giết chết Meleager.
Người ta bảo rằng thần Artemis sai Atalanta đi giúp đoàn người săn con heo rừng khổng lồ để chia rẽ đoàn quân sâu xa hơn, và trả thù vua Oeneus. Trong cuộc săn, người này bắn lầm người kia, các vị anh hùng đâm ra thù oán giết chóc lẫn nhau, xã hội càng thêm hỗn loạn.
Bộ da con heo rừng được thờ trong đền Athena Alea ở Tegea, Laconia; tương truyền từng được người đời nhìn thấy hồi thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên. Bộ nanh heo rừng khổng lồ xứ Calydon, phần gốc to nhất, có chu vi gần 89 centimeters. Bài học duy nhất của cuộc săn heo lưu lại cho đời sau là sự qui tụ rất nhiều anh hùng (heroes) chung tay góp sức với nhau để cứu quốc gia đang gặp nạn.


Cuộc săn heo rừng của Heracles

Người Hy-lạp cổ biến heo rừng thành thần và đưa vào huyền thoại không phải chỉ một lần. Cuộc săn heo rừng trở thành một trong mười hai công việc khó nhọc mà Heracles phải thực hiện để chuộc tội.
Heracles (còn được biết bằng tên La-mã, Hercules) là con của Zeus. Vị chúa tể của các vị thần này có người vợ chính thức tên là Hera. Mẹ của Heracles là Alcmene, một trong những người vợ lẽ của ông. Hera vì ghen nên thường tìm cách hãm hại Heracles. Ngày chàng còn nằm nôi Hera cho hai con rắn thân tín của bà đến giết Heracles. Tuy nhiên, cậu bé Heracles đã bóp chết hai con rắn bởi vì từ khi mới sinh ra đời chàng đã có sức mạnh vô song. Hera không bỏ cuộc. Bà biến Heracles trở nên điên loạn. Trong cơn điên chàng đã giết chết vợ và các con.
Ân hận vì vợ con chết dưới tay mình, Heracles đến đền Delphi cầu xin với các nhà tiên tri lời sấm truyền chỉ cách cho chàng chuộc tội. Sấm truyền Heracles phải đến chầu vua Eurystheus, và thực hiện 12 công việc nhọc nhằn cực độ do vị vua này chọn lựa. Theo lệnh vua Eurystheus, Heracles giết con sư tử thần Nimean rơi từ trên mặt trăng xuống, con rắn chín đầu Hydra, và bắt sống con tuần lộc có bộ lông bằng vàng, thú cưng của thần Artemis. Công việc thứ Tư, Eurystheus sai Heracles đi giết một con heo rừng khổng lồ sống trên núi Erymanthos thường xuyên xuống núi giết người và phá hoại mùa màng.
Tương tự trường hợp Calydon, heo rừng Erymanthos cũng do Artemis thả xuống trần gian để trừng phạt người dân. Erymanthus, con của thần Apollo, nhìn trộm vị nữ thần Aphrodite đang tắm vì thế bị Aphrodite đánh mù mắt. Apollo trả thù cho con bằng cách sai con heo rừng (của Artemis) đi giết Adonis, người tình trẻ tuổi đẹp trai của Aphrodite. Robert Graves, một học giả chuyên nghiên cứu huyền thoại Hy-lạp, cho rằng đời sau ghi chép nhầm lẫn nên gán cho nữ thần Aphrodite, thật ra đó chính là Artemis.
Nếu tin theo giả thuyết của Robert Graves, câu truyện vừa kể bên trên trở thành, Erymanthus nhìn trộm Artemis tắm vì thế nữ thần đánh Erymanthus, cháu gọi bằng cô, đến mù mắt còn gửi cả con heo rừng đến phá hoại mùa màng trên vương quốc của cháu. Thật là một người cô hung tợn. Và Heracles phải giết con quái vật này để chuộc tội giết vợ con.
Trên đường đi giết con heo rừng Erymanthos, Heracles giải cứu Chiron, người bị xiềng trên đỉnh núi. Hằng ngày có con đại bàng đến rỉa gan của Chiron để ăn. Heracles giết chết chim đại bàng cứu Chiron, vì thế được ông ta chỉ cách để bắt giết con heo rừng khổng lồ Erymanthos. Vì đang giữa mùa đông, Heracles lùa con heo rừng vào cánh đồng tuyết thật dày khiến nó bị lún sâu không chạy được. Heracles bắt trói và khuân về để trước mặt Eurystheus. Hoảng sợ vì con thú khổng lồ và hung dữ, vua ra lệnh đem giam nó vào một cái chum khổng lồ “pithos” phân nửa chum được chôn dưới đất. Vẫn còn kinh sợ, vua Eurystheus van xin Heracles đem con quái thú đi thủ tiêu. Người đời sau, Roger Lancelyn Green, kể thêm rằng Heracles ném con quái vật ngoài biển khơi, nó bơi vào nước Ý, và nanh của nó được lưu giữ trong đền thờ Apollo ở Cumae.
Heo rừng thường thường rất dữ tợn và nguy hiểm. Nữ thần Venus đã lên tiếng cảnh cáo Adonis, không nên đi săn heo rừng, nanh của nó có chứa sức mạnh của sấm sét. Tuy vậy, phim ảnh Hoa Kỳ có một con heo rừng rất hiền lành, chỉ biết ăn sâu bọ, đó là Pumbaa, nhân vật trong “the Lion King.” Pumbaa theo tiếng Swahili, Đông Phi, có nghĩa là ngu ngốc, kỳ khôi, cẩu thả, bất cẩn. Pumbaa tuy vậy lúc cần cũng là một chiến sĩ can trường, và sẽ tức giận nếu kẻ nào không phải là bạn mà dám gọi Pumbaa là con heo. Châm ngôn của Pumbaa là “Hakuna Matata” có nghĩa là chẳng hề gì đâu, đừng lo nghĩ, hãy cứ vui mà sống.

Nhưng Pumbaa chỉ là con heo rừng trong phim hoạt họa. Thế còn có con heo nào được đóng phim không. Có chứ. Không chỉ một con mà cả ngàn con trong phim “The Pigs and the Battleships” (1961) hay “Bầy heo và Đoàn Chiến Hạm.”
“Bầy heo và Đoàn Chiến Hạm” là tên cuốn phim dựa vào tiểu thuyết của Kazu Otsuka do Shohei Imamura làm đạo diễn.
Hai nhân vật chính trong phim là Kinta và Haruko. Phim lấy bối cảnh là Yokosuka, một thành phố cạnh biển vào thập niên năm mươi, lúc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa chấm dứt. Nhân danh bảo vệ Nhật Bản lúc ấy đã đầu hàng và tuyệt đối giã từ vũ khí; Hoa Kỳ mở nhiều trại lính dọc theo chiều dài của quốc gia Thái Dương Thần Nữ. Phim cho thấy quan điểm của Imamura về xã hội Nhật vào thời điểm ấy, khác hẳn nếu không nói là hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Yasujiro Ozu. So sánh quan điểm của Imamura với Ozu mà không với đạo diễn nào khác là bởi vì Imamura đã từng là phụ tá đạo diễn cho Ozu trong rất nhiều phim. Nhiều người bảo rằng Imamura là học trò của Ozu. Với bộ phim rất thành công này, Imamura khẳng định tài năng, và được xem là người dẫn đầu khuynh hướng New Wave (Làn Sóng Mới) của Nhật Bản. Người xem nếu quen thuộc và yêu thích quan hệ cha con, vợ chồng, với những xung đột ngấm ngầm bên dưới bộ mặt lặng lẽ trầm ngâm của các nhân vật; quen thuộc và yêu thích quan niệm thẩm mỹ của vườn Thiền, trà đạo, cắm hoa, thơ haiku như trong phim Ozu; sẽ cảm thấy bực bội, hay choáng váng với cách miêu tả xã hội Nhật của Imamura.
Kinta lớn lên trong một gia đình nghèo, mẹ mất sớm, ông bố nghiện rượu làm nghề kéo xe thuê. Anh lêu lỏng, lười biếng, làm tay sai cho băng đảng Himori, chuyên tống tiền những chủ tiệm nhỏ trong vùng để kiếm tiền tiêu vặt. Haruko giúp việc cho một cái bar nhỏ, yêu Kinta, mơ một ngày nào làm đám cưới với Kinta và thoát ly gia đình. Chị của Haruko hành nghề gái bán bar, lấy tiền mang về giúp mẹ nuôi em. Mẹ Haruko đã hứa gả nàng cho một người Mỹ đứng tuổi để lấy ba chục ngàn. Và tiền đã được bà mẹ lấy trước. Haruko muốn Kinta cùng chạy trốn với nàng đến Kawasaki để tìm việc làm và bắt đầu cuộc sống tự lập.
Cứ mỗi lần một chiến hạm Hoa Kỳ cập bến, thành phố Yokosuka trở nên bát nháo với quang cảnh cờ bạc, say sưa, đĩ điếm. Khung ảnh của Imamura miêu tả những anh chàng lính Mỹ to lớn, đần độn, và dâm dục. Người Nhật thì tham lam, trộm cắp, lường gạt, và đánh mất phẩm giá.
Băng đảng Himori kiếm lợi bằng cách nuôi heo, cung cấp thịt cho các trại lính Hoa Kỳ. Kẻ cắp gặp bà già, băng đảng này bị lường gạt, ký hợp đồng với một tên bịp bợm. Họ nộp tiền trước để được mua thịt hộp phế thải của lính Mỹ và dùng thịt này để nuôi heo. Băng đảng Himori bị bịp hết tiền, thua lỗ. Haruko mang thai, phá thai, hẹn hò đi chơi với lính Mỹ say rượu, bị hiếp dâm, ăn cắp tiền của lính Mỹ, bị bắt, vào tù, được chuộc ra và phải lấy chồng Mỹ để trả nợ. Haruko bỏ trốn đến trại nuôi heo. Kinta tổ chức bắt trộm tất cả heo trong trại đem bán để lấy tiền và trốn đi với Haruko. Kế hoạch không thành, Kinta bị băng đảng đối lập cướp tất cả các xe heo, và bản thân anh ta bị bắt lên xe heo đưa vào thành phố. Kinta dùng súng uy hiếp tài xế của các xe vận tải chở heo phải thả heo ra, và trong cuộc xung đột Kinta bị bắn chết. Đàn heo tràn ngập thành phố chen chúc trong các ngõ hẻm dẫm đạp lên người ta khiến nhiều người bị chết. Haruko nhìn thấy cái chết của Kinta, một mình bỏ thành phố ra đi.
Người xem phim không khỏi nghĩ rằng Imamura đã dùng hình ảnh đàn heo tràn ngập thành phố đè chết người dân như biểu tượng của lính Mỹ dày xéo nước Nhật.
Nếu trong thời cổ đại của Hy-lạp con heo rừng khổng lồ là biểu tượng cho sức mạnh và sự hung tợn của thú vật khống chế loài người, thì trong thời hiện đại con heo của George Orwell là biểu tượng của sự độc tài, sử dụng quyền hành đàn áp và dối gạt người dân. Tuy chê bai loài heo tham lam và dâm dục, loài người, nhất là các nhà độc tài thật ra cũng chẳng khác gì loài heo. Ở phần cuối truyện “Animal Farm” Orwell viết:
“The creatures outside looked from pig to man, from man to pig, and from pig to man again; but already it was impossible to say which was which.”
Dịch là:
“Loài thú ở bên ngoài đưa mắt nhìn từ loài heo sang loài người, rồi từ loài người sang loài heo, rồi lại từ loài heo sang loài người; nhưng không thể nào phân biệt kẻ nào là heo, kẻ nào là người.”
Người Anh (và Mỹ) khi biểu lộ sự khinh bỉ một người đến tột độ, họ mắng là đồ heo. Somerset Maugham đã cho một nữ nhân vật, Sadie Thompson, Altogether [1934.] Rain, kêu lên. “You men! You filthy dirty pigs! You’re all the same, all of you. Pigs! Pigs!” Dịch là “Lũ đàn ông các anh! Bầy heo bẩn thỉu! Các anh toàn như nhau cả. Cả một lũ heo! Heo! Heo!”
Bên cạnh sự bẩn thỉu, ngu xuẩn, tham lam, tham ăn, và dâm dục, ít thông dụng hơn, con heo còn tượng trưng cho sự giận dữ tột độ. Trong vở kịch Lysistrata của Aristophanes, đám phụ nữ đồng lòng biểu tình, từ chối chăn gối với chồng và người yêu, để phản đối chiến tranh, có câu: “I will set loose my sow,” nghĩa đen là “tôi sẽ thả rong con heo nái,” nghĩa bóng là “tôi sẽ bày tỏ cơn giận dữ của tôi.”
Shakespeare đã tận dụng chi tiết, cờ hiệu của vua Richard III có hình con heo trắng. Ông vua này bị Shakespeare gọi là “Heo” thí dụ như: “the boar” (3.2.11), “elvish-marked, abortive, rooting hog” (con heo bị quỉ ám gây ra thất bại), hay con heo phá hoại của quỷ (1.3.227) và
The wretched, bloody, and usurping boar,
That spoiled your summer fields and fruitful vines,
Swills your warm blood like wash, and makes his trough
In your emboweled bosoms” (5.2.7-10)
Con heo khốn nạn, khát máu, xâm chiếm,
Phá hoại ruộng vườn và vườn nho mùa hè đang tốt tươi,
Máu của bạn tuôn chảy ra như là nước để rửa, và làm cái máng cho hắn
Bằng cái lồng ngực bị mổ toang của bạn.
Người Do Thái và Hồi Giáo chê thịt heo bẩn không ăn, nhưng với người Việt thịt heo là vật liệu để nấu thành những món ăn ngon không thể thiếu. Ngày thường ở các hàng quán bán thức ăn, thịt heo là nguyên liệu chính trong cơm sườn, gỏi cuốn, chả giò, bánh canh giò heo. Đặc biệt, với ngày Tết, bên cạnh dưa chua, củ kiệu, thịt heo nạc lưng kho với trứng là món không thể thiếu. Phổ thông đến độ, thịt heo xuất hiện cả trong hai câu đối nổi tiếng, lưu truyền từ bao năm cho đến bây giờ.
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ.
Cây nêu tràng pháo nổ bánh chưng xanh.
Xin chúc độc giả một năm mới ngon miệng với nồi thịt kho nước dừa thơm ngát.

Nguyễn Thị Hải Hà

THEO GIÓ TẾT TÔI VỀ

Gió thổi qua sông Hậu – sông Tiền
Ngày thưa nắng lục bình ra biển
Tháng chạp đợi bầy chim chiền chiện
Thúc giục trâu cất tiếng gọi đồng

Tôi xa quê mấy chục năm ròng
Vẫn nhớ mãi hàng tre xanh biếc
Thả lá mới thơm lừng khói bếp
Nửa đời người tăm cá tìm nhau

Nửa đời người thương nhớ nôn nao
Con đường cũ- hoa bằng lăng tím
Em ngây dại miệng cười chúm chím
Bàn chân hồng năm ngón reo vui

Nửa đời người viễn xứ khôn nguôi
Tôi trôi giạt cùng trời – cuối đất
Vẫn ước ao được về làm khách
Ngày ấu thơ bên bến sông nhà

Để được nhìn lớp lớp phù sa
Trải vàng ươm trên từng hạt lúa
Để được nghe câu ca vọng cổ
Tuổi hai mươi em hát trên đồng

Tôi xa quê mấy chục năm ròng
Không quên chiều ba mươi tháng chạp
Mẹ gom lá sau vườn đem đốt
Mắt lặng nhìn mai nở vàng sân …

LINH PHƯƠNG

Sài Gòn!

Nhớ nhau ngày tháng sao dài quá
Mỗi cuộc hoa về thêm vắng xa
Anh đi giữa phố buồn như khóc
Phố rộng mà Sài Gòn rất xa.

Anh xuống bờ sông nhìn nước chảy
Từng bao nhiêu nước đã qua cầu
Từng bao nhiêu nhớ cùng non nước
Đợi phút tương phùng thế kỷ sau?

Anh ra chợ cũ nhìn thiên hạ
Vội vàng sắm tết tưởng mùa vui
Phía sau dư vị tưng bừng đó
Đọc thấy đa mang những ngậm ngùi

Chiều mỏi anh về ngang xóm đạo
Giáo đường đồng vọng tiếng thánh ca
Nắng chiều biến sắc trên thập giá
Tàn cuộc hoa rồi em vẫn xa!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

DẠO KHÚC 35

trận đánh bi thương diễn ra
dưới chân pho tượng mỉm cười
bao nhiêu máu chảy
bao nhiêu xương phơi
bao nhiêu người vĩnh biệt người

trận đánh hoàng hôn tung bay cát bụi chân đồi
bao nhiêu hoa rụng
vào chốn tàn phai
là bao vẻ đẹp qua đời

trận đánh mê say diễn ra giữa lưng chừng trời
bao nhiêu đau xót
bao nhiêu ngậm ngùi
để hồn mây trắng tả tơi

nhưng tất cả muôn nghìn trận đánh
vẫn hằng diễn ra giữa con người với con người
cũng không sao bằng trận đánh
âm thầm trong cõi lòng tôi

NGUYỄN QUANG TẤN

TẾT QUÊ NHÀ

Gởi người Xóm đình Đa Cát ( Cây số 4 Đàlạt )

Đã có từng cơn gió chướng tràn về từ hướng núi. Trời trở lạnh và khô. Hoa Quỳ hương nở rộ hai bên đường, vàng óng.
Bác Hai Mộc đã…qui cố hương . Thím Ba Hồng cũng…hồi cố quận . Anh Tư Quân cũng… xếp tàn y về nơi cố thổ. Đó là cách nói thời thượng mang nặng tính võ hiệp giang hồ của anh Kiệt, nghe riết cũng thấy hay hay lại có văn vẻ cho nên ai cũng cố tình bắt chước. Sức học anh thì chưa tính được bao nhiêu nhưng sức đọc của anh thì tính tới bao, bồ mà đựng. Anh đọc truyện tới nỗi quên ăn quên ngủ. Tòan là chuyện kiếm hiệp. Đọc đến nỗi nhập tâm. Có Bác Hai Luân bị “dị ứng” về lối nói năng nặng mùi kiếm hiệp của anh Kiệt. Bác cứ lầm bầm “ Qui cố hương, hồi cố quận hay có về nơi cố thổ thì cứ nói rẹt một tiếng về cho nó gọn. Bày đặt…”.
Mà cũng bày đặt thiệt !
Tết thì về quê ăn Tết chớ bày đặt chuyện qui, hồi cố hương cố quận cố thổ chọc giận nhau làm chi !
Hàng Mai già dọc đường dốc đất bên cạnh Chùa Linh Quang đã kết nụ rồi, sắp nở rồi. Bụi Quỳ hương ở hục Bà Sơ sau lưng chợ Chiều chỉ còn thưa thớt mấy cái bông vàng rực . Vàng rực hết sức để chờ tàn, chờ rụng . Bởi, khi hoa Quỳ hương tàn rụng là lót đường cho mùa Xuân mạnh đường đi tới. Tiếng heo kêu ở nhà thím Hiếu làm nôn nao mấy củ hành ngâm giấm đã trở màu hồng đậm trong hủ thủy tinh. Trở màu là đã “ chín muồi ” vị ngọt chua, thanh cảnh .Gắp ra dĩa, để ghém với miếng thịt heo được rồi ! Mà tiếng heo kêu giờ này nghe tràn đầy nội lực chớ không eo éo như thường ngày vẫn kêu . Như vậy là đã đúng lứa, sắp vô nồi ! Mà nồi chung chớ không phải nồi riêng của gia đình nào.
Chuyện nuôi heo ăn Tết thì hầu như ở Xóm nghèo quê tôi đã quen thành lệ. Cứ năm ba gia đình chung vốn mua heo rồi giao trọng trách cho một người mát tay nhất trong nhóm nuôi vỗ chờ Tết ngả thịt, chia đều. Tính tóan, thỏa thuận rất sòng phẳng để không ai phải bị thiệt thòi.
Thuận buồm xuôi gió thì mùa Tết có thịt để mà rộn ràng bận rộn với nồi niêu xoong chảo . Bằng như…nửa đường đứt gánh thì coi như phủi tay, coi như là chỉ ăn Tết có một nửa, mất vui.
Còn về chuyện thịt gà ! Tuy là không chung vốn mà phải tự lo liệu nhưng cũng phải chuẩn bị kỹ càng. Tháng Tư ta là lo đem gà trống còn non tơ ra chợ tìm ông thợ thiến gà. Lo đóng chuồng. Vật liệu sơ sài cũng được nhưng phải bảo đảm là mỗi chú gà một chuồng riêng vừa đủ đứng, nằm chớ không có khoảng rộng để đi tới đi lui.
Nếu …thuận buồm xuôi gió, thì khoảng tháng mười-hai-ta, lứa gà thiến thịt thà đã nặng chình chịch, lông lá đã trổ màu sắc rực rỡ. Mỗi chú trọng lượng cũng cỡ chừng bốn tới năm ký. Nhà nuôi chừng hai, ba con thì tha hồ mà ăn Tết.
Nhưng mà cũng khó lắm. Bắt đầu từ tháng-mười-chưa-cười-đã-tối cho tới đầu tháng mười-hai-rét-ngọt thì cái nạn dịch gà khó cản. Qua được cửa ải này thì nồi niêu mới có dịp khua ran để mà ăn Tết. Thường thì khó vượt qua…
Còn cái khoản thịt bò thì quá đỗi xa vời, không cách gì với tới. Chỉ có trong dịp hội Làng. Mà nhắc tới Làng Nước thì bao la quá. Nhất là miếng thịt của Làng thì cũng quá là nhiêu khê! Chi bằng trở về lại một mái nhà với miếng thịt tự cung tự cầu, mà cũng… tự nhiên hơn, để hưởng ba ngày Tết.
Chỉ có thịt heo, thịt gà là gần gụi với tầm tay. Và cũng chỉ có chú Quý là người gần gụi và thân tình với bà con hơn hết, nhất là thời gian cận kề Tết. Bởi chú là tay đồ tể, nếu nói theo cách nói của anh Kiệt, là vào bậc thượng thừa. Tôi còn nhớ như in hình ảnh của chú. To lớn dềnh dàng, dáng đi khật khưởng. Gương mặt to ngang với đôi mắt xếch và cặp lông mày rậm đen. Nhìn chú thì thấy dữ dằn nhưng chú hiền lắm, lúc nào cũng cười. Ai nói gì cũng cười, nụ cười tươi vui, đôn hậu trái hẳn với vẻ hung hãn, dữ dằn của chú.
Cũng không biết do từ đâu mà ai gặp cũng gọi chú là Tiết Nhơn Quý, một nhân vật trong truyện Tàu, riết rồi chết tên luôn.
Chắc tại vì tướng tá to lớn dềnh dàng với lại sẵn chú tên Quý. Hay cũng từ anh Kiệt…
Thường ngày, chú rất chậm chạp trong công việc nhưng khi nhập vai đồ tể, chú nhanh nhẹn vô cùng. Từ lúc lùa heo ra cửa chuồng cho tới lúc xả thịt chia chác đồng đều cho các sướng (chớ không phải khổ) chủ, mọi động tác đều chính xác, gọn gàng. Ai nấy nhận phần thảy đều vui lòng hễ hả. Với đôi tay thiện nghệ và dưới mắt nhìn ước lượng cân đo của chú, xác suất trọng lượng phần thịt chia chỉ nhỉnh hơn chút đỉnh. Ngày Tết mà! Giành nhau tiếng cười vui chớ giành nhau chi thêm mấy miếng thịt chưa đủ giắt răng. Thảo nào anh Kiệt nói chú là tay đồ tể thượng thừa kể cũng không ngoa. Dễ chi kiếm được người thứ hai.
Công cán thì chú chỉ nhận đúng nửa ký thịt đùi và một lít rượu, vậy thôi. Thêm cũng không chịu. Bớt cũng không chịu. Ngang bằng sòng phẳng. Rồi chú qua nhà khác cho kịp giờ.
Mùa Tết là mùa làm ăn sung mãn của chú. Mùa Tết cũng là mùa chạy marathon của lũ trẻ chúng tôi. Cứ nghe tiếng heo kêu dậy trời dậy đất là tụi tôi tranh nhau rượt chạy cho kịp thời coi ông Tiết Nhơn Quý sát trư. Có khi một ngày chạy hai ba lần…
Sau này, có thêm chú Thứ nhà gần Hục Bà Sơ nhưng tay nghề không so kịp bằng chú Quý.

Mùa Tết cũng là mùa hoa. Ba ngày Tết mà trong nhà không có màu sắc của hoa thì còn có ý nghĩa gì!
Nhà nào cũng có một cành Mai hồng thắm. Mà đâu phải bỏ tiền mua. Chỉ cần bỏ công nửa ngày, vào rừng. Xóm với rừng gần nhau, đi thì chỉ khoảng nửa tiếng đồng hồ, nhưng phải bỏ công nửa ngày là để chọn lựa một cành Mai ưng ý.
Mai mọc bạt rừng, bạt núi thậm chí tràn vô tới Xóm. Hầu như nhà nào cũng có trồng một cây Mai trước ngõ.
Tháng mười-hai, Mai nhà đã nụ hồng. Có nhà thì hoa đã rộ nở.
Tôi còn nhớ, con đường mà tôi thích nhất là con đường hẻm dài một hàng Mai tươi tốt, từ nhà bác Nghi qua nhà ôn mệ Lào, rồi chấm dứt ở nhà ôn Cai Tư. Một khoảng đường rất ngắn nhưng giữ mãi trong tôi êm đềm cái cảm giác râm mát bóng cây của tháng Hè và nôn nao những bông Mai hồng thắm của ngày Xuân. Tôi thường đi, về trên con đường đất gập ghềnh này trong suốt thời gian học ở trường Tiểu học Bạch Đằng, nằm cheo leo trên ngọn đồi Cao Thắng. Con đường hẻm đất đá có hàng Mai rợp bóng là một trong những kỷ niệm tôi giữ hòai về chốn quê. Nhất là những ngày Xuân, nhìn hoa Mai rộ nở, lòng cứ nôn nao hòa nhập trong những nôn nao có quần áo mới, có tiền lì xì, có pháo đốt thả giàn, có những trò vui chơi trong ngày Hội Làng…Cho đến bây giờ, vẫn cứ còn giữ mãi độ ấm nồng ngầy ngật mỗi độ Xuân về. Ấm nồng ngầy ngật bởi lẽ, duyên nợ trăm năm đã gắn bó đời tôi với tà áo tiểu thư ở một trong những ngôi nhà trên khoảng đường rất ngắn, của ngày xưa, đó…
Những ngày cuối Chạp, đứng ở Xóm mà nhìn về hướng núi là cả một thảm hoa hồng thắm chạy dài từ Cam Ly Hạ ngược lên Dốc Trời ngút ngàn vô sâu tận Rừng Dẻ. Tầm nhìn tuổi thơ chỉ chừng giới hạn nhưng trí tưởng tượng thì dặm dài xa ngất. Tôi nghĩ rừng Mai chắc vô cùng tận, không chỉ ngừng ở Rừng Dẻ vốn đã là quá xa, chắc còn sâu còn xa hơn nữa. Ở chỗ núi mờ xanh thẳm mịt mùng…
Mấy anh trai Xóm thì nghĩ ngợi gần hơn.
Đâu cần phải xanh thẳm mịt mùng làm chi cho mệt. Chỉ cần vào khu rừng Mai Cam Ly Hạ mà đem hương sắc mùa Xuân về trang hòang nhà cửa.
Buổi sớm mai dằn mấy chén cơm cho chắc bụng rồi sẵn sàng dao, rựa rủ nhau đông đảo tới rừng Mai. Khi chọn cành Mai ưng ý là đã đắn đo ước lượng khoảnh rộng hẹp của phòng khách, nơi sẽ được chưng bày cành Mai giữ hương sắc mùa Xuân, cũng chính là nơi làm rạng nét nhà. Phòng khách rộng mà cành Mai nhỏ thì bất xứng, lại bị thầm chê là hòan tòan không có khiếu về mỹ thuật. Cành Mai to đùng mà chưng ở phòng khách quá nhỏ thì có vẻ như là khoe khoang, giựt nổi. Rồi cũng phải tính tóan khít khao làm sao hoa sẽ nở rộ vào đúng những ngày Tết. Nụ nhiều quá thì không tốt mà nở sớm quá thì cũng không tốt luôn.
Đến chúc Tết nhà, việc đầu tiên là liếc thầm một cái về phía cành Mai được trang hòang trong phòng khách, để đánh giá và so sánh. Đánh giá trình độ nghệ thuật của chủ nhà và sẵn đó, so sánh cành Mai của nhà chủ với nhà mình. Chủ và khách, rất nhanh, bắt gặp ánh mắt nhau ở cái liếc thầm này trước khi bắt tay nhau. Sự ganh đua, so sánh không hề to tiếng, chỉ lén thầm nhưng đã thành ước lệ. Thầm nhận biết mình thua hay tự hào mình hơn cũng chỉ là cảm giác buồn, vui nhỏ như tiếng pháo chuột so với tiếng pháo cối, vậy thôi. Nhưng mà cũng phải liếc chớ, thiếu đâu có được!.
Vô hình trung, đã thành một tục lệ âm thầm, ở Xóm quê tôi. Cho nên nhiệm vụ của mấy anh đi chặt cành Mai chưng bày đón Tết là đi mang sứ mạng trong người, có phải chơi đâu…
Ngòai cành Mai là tiêu biểu lớn, còn có hoa Vạn Thọ, hoa Cúc và cao sang quyền quý yểu điệu thục nữ quân tử háo cầu là hoa Lan.
HoaVạn Thọ, Cúc đơn, Cúc đại đóa thì hầu như, ít nhiều, nhà nào cũng rộ. Trồng trong chậu để cầu kỳ dành riêng cho ba ngày Tết . Trồng trước sân nhà làm cây cảnh tự nhiên.
Riêng về cái khoảng hoa Lan thì khó cầu nên chi rất hiếm. Cũng muốn có một chậu Lan để khi người đến chúc Tết , cố theo dõi cái liếc thầm của khách, mà thấy sướng vui trong bụng.
Nhưng mà đâu có dễ bởi vì hoa Lan thiệt như là con cầu tự, khó nuôi khó dưỡng. Nắng thì bất ưng lạnh thì bất ổn. Phải dành một khu đất riêng có giàn rào che chắn gió, có mái chống nắng tránh mưa. Công sức và tiền của bỏ vô đó cũng bộn bề. Chưa nói tới chuyện phải tìm tòi học hỏi trao đổi về kỹ thuật qua sách vở, qua thực tế kinh nghiệm. Phải đong đo cân đếm khí hậu thời tiết thay đổi từng mùa mà liệu chừng tìm phương cách cưng chiều chăm chút thúc ép cho hoa nở đúng thời. Nở sớm quá thì mất duyên. Nở trễ quá thì…hết Tết rồi, nở làm gì nữa !
Miếng bỏ bụng đói no ngày tháng còn chưa lo tới được nói chi chuyện chăm lo cho đời sống cao sang của lòai hoa vương giả. Và, nói cho cuối cùng, cũng chỉ nhằm để thỏa mãn, đắc ý cho một cái liếc thầm của khách. Cao xa quá! Nhiêu khê quá! Làm sao mà liếc cho tới đây ! Thôi thì cứ liếc thầm một cành Mai chưng Tết, đủ rồi !
Tết cũng là dịp để vui chơi sau một năm dài cực khổ trong việc mưu sinh. Cũng là dịp để gia đình đòan tụ. Đồng tiền chắt bóp, dành dụm được trong năm đổ dồn cho ba ngày Tết. Mang công mắc nợ ai thì lo thanh tóan sòng phẳng trước khi bước qua năm mới. Cố dọn dẹp thu vén cho lòng dạ nhẹ nhàng không còn cứ đeo nặng những rủi, buồn năm cũ để chuẩn bị sẵn sàng tống-cựu-nghinh-tân. Đón năm mới với tấm lòng bao dung hương trầm, ngọt ngào dẻo thơm miếng mứt. Và, tận hưởng ba ngày Tết cho giòn dã như pháo…
Tiếng là nói vui chơi ba ngày Tết nhưng có chừng mực như vậy đâu!. Có nơi vui chơi từ mồng-một cho tới mồng-mười. Qua ngày mười-một tháng Giêng thì không nghe ai nói mà cũng không có tự điển nào ghi là mồng-mười-một. Như vậy, có nghĩa là, hết mồng, hết chơi !
Có nơi vui chơi thả giàn tới cuối tháng Giêng.
Nói chung, Tết là không có ai làm mà chỉ chơi. Cũng không có ai buồn mà chỉ vui. Nhưng mà có gì để chơi cho vui đây?.

Thì có Hội Làng Mùa Xuân đó !
Hội Làng Mùa Xuân, nói gọn nhẹ là Hội Tết, ở quê tôi Làng nào mà không có.
Tuổi thơ tôi rưng rức những kỷ niệm mang vẻ dáng mộc mạc chân quê, đầy đặn sắc thái và đặc thù tính dân tộc của Hội Làng Tết. Ngầy ngật cho tới cả bây giờ.
Tiếng chiêng trống vang lừng và tiếng pháo nổ dòn tan báo giờ khai Hội của một buổi sáng Mồng Một Tết năm nào, và cả nhiều năm sau đó trong tuổi thơ, còn đọng lại đâu đây. Bà con lũ lượt về hướng sân Đình chờ giờ mở Hội khai Xuân.
Tôi thấy cả một bức tranh quê sống động.
Thấy chú Tiết Nhơn Quý ôm chai rượu đi ngang giữa đường Làng, gặp ai chú cũng cười. Một tiếng cười là thêm một ngụm rượu. Ba ngày Tết chú cứ đi ngang, không thèm đi thẳng.
Thấy mọi người mặc quần áo mới, nói cười hễ hả. Gặp nhau và chúc tụng nhau.
Thấy Ba tôi, ôn Cai Hòanh, khăn đóng áo dài đang giục giã ba hồi trống lệnh. Bên kia, bác Ba Cận, tiếp chiêu với ba hồi chiêng vang lừng.
Thấy anh Bé, trưởng tràng nhóm Lễ sinh, hai tay trịnh trọng nâng cây đèn sáp đi từng bước theo nhịp trống. Những bước chân bài bản, nhấc cao lên rồi hạ xuống, vững chắc nhịp nhàng. Anh dừng lại trước tràng pháo dài được treo từ cây nêu cao ngất. Tiếng trống, từ nhịp khoan thai, trở điệu liên hồi gióng giả hòa với tiếng chiêng nghe rộn cả lòng. Ngọn lửa được châm vào ngòi pháo báo giờ khai Hội ngày Xuân. Anh lạng người chạy lẹ, tránh pháo. Đám trẻ tụi tôi thì tranh nhau nhào tới để giành giựt những chiếc pháo xì. Bà con xoa tay hớn hở, tìm chỗ vui Xuân.
Đầu tiên là phải tới thăm đám bầu-cua-cá-cọp hay mấy tay tráo bài ba lá. Văn nhân thì khai bút đầu năm. Thường nhân thì đâu có tài nhả ngọc phun châu, bút mực đâu mà khai! Khai bạc đầu năm để thử thời vận cũng tốt. Có người thì chừng mực. Có người thì quyết đấu!. Nếu thử thời vận thì chỉ một hai ván cho biết chừng số đỏ, số đen đầu năm rồi lo kiếm đường qua trò chơi khác. Ăn bạc thì mừng rơn vì tin là năm tới mình sẽ phát tài. Thua bạc thì buồn trong bụng vì nghĩ là năm tới số mình đen vận. Nhưng dẫu sao cũng cố vớt vát được vì sực nhớ còn có câu “đen bạc đỏ tình”. Câu nói thiệt như là lời an ủi cho vận hạn rủi may. Năm mới không có bạc nhưng có tình thì cũng coi như là, không đỏ, mà hồng. Hồng tất nhiên là phải tốt hơn đen.
Rồi nghĩ cho cùng, cũng thấy kẹt. Với mấy tay còn độc thân vui ( hay khó ) tính mà được tình thì coi như buồn ngủ gặp chiếu manh, như mèo thấy mỡ. Mấy tay vợ con đùm đề mà được tình thì chắc là lụy.
Còn tính chuyện quyết đấu thì chẳng khác gì đem đồng tiền làm lụng cả năm trời mà lì xì mừng Tết cho mấy sòng bầu-cua-cá-cọp hay mấy đám bài ba lá.
Không tin ngó anh Cu Lập, con thím Nghi, ngồi ở góc sân nhà chú Thưởng uống rượu tì tì. Ai cũng lấy làm lạ, bởi hồi nào tới giờ anh có uống rượu đâu! Uống trà đậm còn say mà! Hỏi ra mới biết tại vì anh thua tới cháy túi vì sòng bầu-cua-cá-cọp nên uống rượu tiêu sầu ! Sầu thì không (hay chưa) tiêu mà chỉ thấy khiêng anh về nhà nằm rẹp thẳng cẳng, chẳng thèm dậy ăn Tết.
Rồi còn chú Tư Lãm đi lên đi xuống ở đường Làng, mặt mày ngơ ngác dáo dác tìm quanh. Ngày Xuân mà gặp ai chú cũng không có lời chúc Tết mà như có ai chúc Tết, chú cũng cứ bỏ ngơ. Hỏi ra mới biết chú vừa bị mấy đám bài…ba láp nó …táp hết tiền rồi!
Đi lên đi xuống dáo dác nhìn quanh là đi tìm lại tiền đó mà! Chắc là thua đậm mới lậm hồn vía tới tầm cỡ đó !.
Khai bạc đầu năm chi mà quá bất nhẩn vậy trời !

Đồng tiền được lì xì đầu năm mới thì thể nào tôi cũng mua một con gà đất của một ông nào lạ hoắc, không phải dân miền tôi ở. Tiếng nói ông lơ lớ, da màu nâu sẫm, tóc hơi xoắn. Tôi “ngửi” ông có mùi biển mặn. Chắc là ông từ miệt Tháp Chàm, Phan Rang, Phan Rí. Gà được bày hàng trên chiếc chiếu lớn. Đám con nít bu quanh tranh nhau lì xì tiền cho ông. Có qua có lại , ông cũng lì xì gà đất không hở tay. Mỗi ngày ông bán hết một vuông chiếu lớn gà rồi ngày sau gà lại nở ra thêm một vuông chiếu lớn nữa. Gà đất mà đắt như tôm tươi bởi đám nhỏ tụi tôi mê mệt con gà đất này quá sức. Nó thiệt ngộ nghĩnh về hình dáng, màu sắc mà còn biết gáy nữa. Đầu với đuôi được nối bằng lớp giấy rất dày. Hai tay cầm đầu cầm đuôi rồi đẩy tới đẩy lui, nó gáy nghe rất lạ. Nếu không muốn cầm mà đẩy thì ở cuối đuôi có khoét một lỗ nhỏ, tròn. Kê miệng vô mà thổi, lực hơi đẩy mạnh cái đầu nó nhỏm tới, nó cũng gáy nghe rất khoái. Nó được làm bằng đất nung. Chắc chắn là được đúc khuôn rời từng mảnh rồi gắn với nhau bằng lớp keo dính vì thấy đầu đuôi cũng y dạng. Toàn thân sơn màu đất đỏ rồi được phết sơ sài chiếu lệ một lớp dầu bóng. Mấy nét vẽ vội vàng chủ yếu là phân biệt đầu với đuôi. Đầu thì có hai con mắt với lại mấy nét vẽ phết xuống tượng hình là lông gà. Đuôi thì ngòai cái lỗ nhỏ khoét sẵn, thêm vài nét vẽ phết ngược lên tượng hình là cái đuôi. Lớp giấy dày nối đầu và đuôi làm thân gà thì không vẽ vời lông lá gì cả mà loang vết dầu chắc là có dụng ý giữ cho giấy có độ dai để chịu đựng lực kéo. Nhìn chung thì nó cũng chỉ phảng phất hình dáng con gà. Tiếng gáy thì cũng chỉ nghe “ót, ót” chớ đâu có trầm bổng gì đâu. Mấy nét vẽ sơ sài trên phần đầu tròn vo với phần đuôi cũng tròn vo y dạng không phân biệt được gà mái hay gà cồ. Thật ra, cũng chỉ tự lòng ham thích đồ chơi lạ và trí tưởng tượng phong phú mà nó đã là con gà đất hằn dấu trong kỷ niệm ấu thơ để mà giữ mãi trong đời. Còn chuyện gà trống hay gà mái thì có gì mà bận tâm. Gà trống cũng được. Gà mái cũng được. Miễn là có con gà đất biết gáy để chơi ba ngày Tết là cũng được quá rồi!
Lại có thêm một ông nữa, bán heo đất. Đất nung và cũng được đúc khuôn rời hai mảnh rồi gắn lại với nhau bằng lớp keo dính. Hình dáng khá rõ ràng là một chú heo mập ú. Có đôi mắt được vẽ xếch ngược lên, nhìn như đang cười. Có cả hai cái tai nhỏ xíu . Có chùm lông đuôi đen nhánh ở cuối cái đuôi được đúc nổi cộm. Có bốn cái chân ngắn củn, mập tròn. Điểm chính yếu và quan trọng nhất để nó trở thành con heo đất là một rảnh nhỏ, dài đủ để bỏ tiền lọt vô trong cái bụng to bành. Tiền giấy thì xếp làm tư, nhét xuống. Tiền cắc thì cứ thả vô tự nhiên. Heo đất giữ lâu hơn, có thể giáp năm, để giữ tiền dành dụm. Nó cũng cất giữ cho tôi nỗi buồn vui. Cất giữ luôn tiếng khóc tiếng cười. Và, cũng giữ cho tôi quá nhiều kỷ niệm…
Con heo đất được cất giữ ở một nơi kín đáo thường là dưới gậm giường ở chỗ tối nhất. Mỗi lần có tiền để bỏ vô bụng heo mặc dù không có ai nhưng cứ nhìn quanh dáo dác. Tiền cắc bỏ vô nghe cái “rẻng”, sướng rêm. Tiền giấy xếp tư nhét xuống nghe tiếng giấy cạ vào thành lỗ “rẹt,rẹt” lại càng sướng hung. Lâu lâu, lại dáo dác nhìn quanh, lấy con heo đất ra cầm trên tay ướm chừng độ nặng, nhẹ. Thể nào cũng phải lắc lắc vài cái để nghe tiền cắc đánh nhau trong đó rổn rảng, tiền giấy đẩy nhau trong đó sột soạt. Thời điểm để khui heo đất là dịp cuối năm.
Nói là khui heo đất, thật ra, thì không đúng. Phải nói là đập heo đất nghe đúng nghĩa hơn. Cầm con heo đất mà xáng xuống nền nhà nghe một tiếng ”bộp”. Cầm cái búa hay cục đá, hòn gạch đập mạnh vào con heo đất nghe một tiếng “bụp”. Dù cho “bộp” hay “bụp” thì cũng cảm thấy sướng tay. Cảm giác sau đó là “đã” con mắt khi thấy tiền lâu ngày kìm hãm được dịp túa ra. Tiền giấy ôm tiền cắc sõng sòai la liệt. Cảm giác cuối cùng sau khi đã sướng tay mãn nhãn là nỗi buồn vui lẫn lộn. Vui là vì cứ nghĩ là lâu nay mình bỏ tiền vô ít mà bây giờ sao mà ùa té ra nhiều dữ vậy! Buồn là vì cứ đinh ninh mình bỏ tiền vô nhiều mà sao giờ nhảy ra có chút đỉnh ! Buồn với vui cũng chỉ là cảm giác bất chợt rồi qua đi như tiếng “bộp” hay tiếng “bụp” thôi! Điều đáng nói lâu dài là có mớ bạc giắt lưng để rong chơi ba ngày Tết.
Khi đã có mớ tiền rủng rỉnh thì cũng tính chuyện tiêu pha nhưng phải nhớ là mua một con heo đất khác để cuối năm còn có dịp mà “bộp” hay “bụp” một cái cho buồn vui lẫn lộn.
Cũng đừng quên là có gian hàng mới lạ, mang vẻ dáng văn minh thành phố mà lâu nay làng quê chợ xóm không thể nào có được.
Đó là gian hàng nước đá nhận xi rô.
Không kể đám con nít tụi tôi mà cả nam phụ lão đều đứng đông nghẹt để chờ nắm cho được cục nước đá có màu xi rô xanh, đỏ,tím,vàng mà mút chùn chụt.
Đám con nít tụi tôi cầm cục đá nhận xi rô mà mút kiểu đó thì là chuyện bình thường, có khi còn thấy dễ thương. Tầm cỡ như bô lão, phụ lão, thanh niên, thiếu nữ mà mút, cũng chỉ là kiểu đó thôi, thì coi đã không bình thường mà thiệt là dễ nực.
Có mấy ông, chắc cũng tại vì răng cỏ lung lay chịu không siết hơi đá lạnh, nhịp mút không được sung. Nước đá quyện với nước xi rô chảy dính râu tèm nhẹp. Có mấy chị, chắc vì khóai khẩu mùi vị thơm ngọt của nước xi rô lại thêm hơi mát lạnh của cục đá nhận, cứ ngẩng đầu lên mút cố mạng. Vừa đi vừa mút đụng ai nấy chịu.
Mà cũng đúng thôi!
Thuở nào tới giờ ở Xóm quê làm gì có cục nước đá mát lạnh! Đã vậy lại còn có cả nước xi rô, tìm ở đâu cho ra mà hưởng! Nay, vừa có đá lạnh vừa có nước xi rô thì bu đông đen tìm của lạ là đúng ! Còn mút cỡ nào miễn tận hưởng cho tới bến là được rồi.
Buôn một lời năm, mười chớ đâu phải chơi đâu! Cục nước đá được bào nhuyễn rớt xuống cái ly đầy vun. Nghĩ thì đầy vun hào sảng vậy đó chớ khi nén xuống, nó chỉ còn có tới gần nửa ly thôi. Có thêm tiết mục hỏi khách hàng ưng ý xi rô màu gì?. Xanh đỏ tím vàng tùy theo ý thích, mà nếu ưng có nửa màu này nửa màu kia cho lạ mắt thì cũng được, không phiền hà gì. Cầm chai xi rô xịt vô rồi lật ngược cái ly thổ nhẹ. Cục đá tẩm màu rớt ra, cứng ngắt. Một tay đưa cho khách một tay lấy tiền bỏ hộc. Tòan tay trần năm ngón, không có ly dĩa giấy lót rườm rà. Cái thú của món đá nhận xi rô là cầm vừa mát tay mút vừa mát miệng lại mát cả lòng.
Trước sau cũng chỉ tòan là nước, vậy mà bà con cứ đứng xếp hàng đóng tiền vui vẻ, thoải mái.
Tôi rõ chuyện này lắm vì ông chủ gian hàng bán nước đá nhận xi rô có phải ai đâu xa lạ, là ông chú họ của tôi mà. Chú Thành đó.
Chú đứng tên xin Ban Hương Chức Làng một lô đất để bán nước giải khát . Làng thì không thắc mắc miễn có xin phép, có đóng tiền mua lô, có đóng thêm một vài khỏan tiền qui định là được.
Nhưng mà Thím tôi thì thắc mắc, cứ gặn hỏi chú hoài. Khi biết được cái tên nước giải khát gì mà lạ, trước giờ chưa nghe, thì thím ngồi buồn xo như chiều ba-mươi-tết. Thím làm mình làm mẩy không chịu gói bánh, không thèm làm mứt. Thím đình công luôn cái vụ mặc áo đẹp, nhồi phấn thoa son cho chú nhìn ngắm ba ngày Tết.
Lý do mà thím giận thím hờn cũng thiệt là đúng. Ai đời cái xóm đèn dầu quanh năm suốt tháng, nhà nào sang cả lắm thì cũng chỉ một cây đèn manchon, cũng được bơm và thắp sáng bằng dầu, mà tính chi tới chuyện xa vời khó tưởng. Nước suối nước sông thì có chớ nước đá, tìm đâu! Rồi còn cái nước xi rô xi ra đỏ tím xanh vàng chi đó, là cái nước chi?. Chắc là ông qua bên Tây, bên Mỹ ông kiếm đưa về. Thím trách chú là mộng tưởng xa vời, ngồi thắp cây đèn dầu mà đòi uống nước đá “giận” với “xi rồ”( chắc là ý của Thím muốn nói khéo là thím giận chú điên rồ!).
Chú giải thích, phân tích mấy thím cũng không nghe. Năn nỉ quá chừng, cuối cùng, thím chịu theo chú tới gặp Ba tôi để bàn chuyện phải trái nên hư. Nghe qua lời Thím phân trần, cuối cùng, Ba tôi phán :”Thím yên tâm về gói bánh, làm thêm mứt món ăn mừng. Chuyện này để chú nó lo”. Thím liếc Ba tôi một cái, nhưng mà không dám bén, như khi liếc một cái cho chú. Bởi vì, Ba tôi là kẻ lớn trong Họ, lời nói phải nặng cỡ bao tạ. Thím là vai em, là dâu về gởi Họ, khó cãi lời. Về thôi !
Ba tôi mạnh miệng là vì ông biết quá rành về chú . Chú đã từng theo học nghề của Ba tôi mấy năm mà chậm lụt không ra gì, cuối cùng thì có ý lơ là bỏ cuộc. Bù lại, chú có đầu óc kinh doanh, nắm bắt thời cơ rất nhạy. Dám đi buôn bò ở tận miệt Gia Lai xa tít cả năm mười ngày rồi lùa bò về. Lặn lội lên tới miệt Suối Vàng vô các làng Thượng trao đổi heo, gà, đồ đồng, đồ cổ các loại. Bươn chải tới miệt Phan Rang, Phan Rí buôn vịt con, chum, vại, đồ đất, đồ đồng…Nói chung,việc gì nhắm có ra hơi tiền là chú nhào vô kiếm chác. Không có lần nào thua hết. Thiệt đúng như lời anh Kiệt nói là “độc cô cầu bại”. Nay vợ chồng cùng tìm tới vấn kế làm ăn thì phán một câu như vậy là đúng sách. Tay này thì đâu có phải vừa, trước khi tới thì đã có vạch sẵn kế hoạch làm ăn, tính tóan lỗ lời rồi. Chẳng qua tới để tìm đồng minh đó thôi !
Phần chú, được lời của Ba tôi, chú làm liền. Nước đá thì đâu có khó khăn gì. Hợp đồng( giá hợp đồng nhẹ hơn nhiều lần so với giá mua lẻ) với hãng nước đá ngòai phố. Chỉ cần nhân sự và xe đạp thồ về. Có đá là phải nghĩ tới biện pháp giữ cho lâu tan, cũng không khó. Trước tiên là đóng một cái thùng gỗ thật lớn trét dầu bên trong cho kín hơi. Sau là tìm trấu và mạt cưa để ủ đá trong thùng giữ độ lạnh. Tòan đồ phế thải vừa bán vừa cho cũng không thèm đau lòng. Trấu thì phải xuống tận vùng Đức Trọng tốn chút tiền xe chuyên chở. Mạt cưa thì xuống trại cưa Ngọc Dung gần phố, thồ về. Việc quan trọng, cuối cùng, là đặt làm một cái bàn bào nước đá. Bàn bào bằng gỗ thì đã có bác Hai Mộc vừa…qui cố hương đó, chỉ hì hục vài tiếng đồng hồ là xong. Lưỡi bào bằng thép thì tới chú Tùng thợ rèn, hì hục lắm thì cũng mau hơn hay lâu hơn bác Hai Mộc vài phút, cũng là xong.
Tính tới giai đoạn hai là nước xi rô xanh đỏ tím vàng. Đi qua Tây qua Mỹ làm chi, chỉ cần đích thân chú tôi nhảy lên xe đò Minh Tâm về gặp mấy chú ba ở Chợ Lớn. Ở đó thì xanh đỏ tím vàng đủ hạng. Hạng nhứt . Hạng nhì . Hạng ba . Muốn bao nhiêu cũng có. Mua nhiều thì tính giá sỉ, xoa bụng cười hề hề, tặng thêm một chai níu khách.
Tính ra, chịu khó bôn ba xoay trở rồi bỏ ít vốn vô đó mà lời khẳm ghe. Nói theo lời anh Kiệt, chú quả là tay hảo thủ, bất ngờ trở cú tuyệt chiêu hoàn tòan mới lạ để bà con tranh nhau đóng tiền cho chú thả được một cặp heo vô chuồng, gầy thêm hai cặp gà, mua tặng cho thím một chai nước hoa Bông Hồng, hai cái lược ngà ( một cái răng sưa để chải tóc, một cái răng sít để chải chí), một chai dầu gội đầu Bồ Kết, một đôi guốc gỗ sơn bóng có in chìm hoa Sen. Quan trọng nhứt là một gói giấy cho thím bỏ lẹ vô tủ khóa cẩn thận. Tới lúc này thì thím cười. Chú giả bộ hỏi thím còn chê đá “giận” với “ xi rồ” không?. Thím háy chú một cái rồi giả lơ làm như là không nghe. Thiệt là !. Đàn bà là chúa giả lơ. Đàn ông là vua giả bộ.
Tôi thì không giả lơ mà cũng không thèm giả bộ, cứ giả thiệt đứng xớ rớ chờ ở gian hàng của chú. Cứ đứng chình ình trước mặt chú thì chú không thể nào giả bộ không thấy được cho nên chú phải nhận cho một cục nước đá đậm màu xi rô đưa tận tay. Giả bộ cười vui và cũng giả bộ quên lấy tiền bỏ vô hộc. Bề nào cũng phải nể tình Ba tôi, người đã nói một câu nói lót đường cho chú hốt bạc. Tính ra một ngày tôi giả thiệt cũng tới bốn năm lần. Lần nào chú cũng “tiếp chiêu” gọn, đẹp. Thiệt, đúng là tay hảo thủ!
Vừa mút đá nhận, vừa coi đá gà. Hết một độ gà thì lại vội vàng chạy qua gian hàng chú mà giả thiệt đứng sớ rớ. Khi chú giả bộ cười vui đưa cục nước đá nhận là vòng ngược lại qua sân gà cho kịp độ mới.
Sôi động, hào hứng nhất Hội Làng là sân đá gà. Anh hùng tứ chiếng khắp mọi miền nườm nượp kéo về, tay ôm con gà dị tướng, lông lá trụi lủi mà da dẻ thì đỏ ngầu. Ở xa tít dưới vùng Trạm Hành, Đơn Dương, Đức Trọng cũng lặn lội tìm lên. Ở mút tận Lạc Dương, Suối Vàng cũng tìm xuống. Bà con bu đông như kiến, la ó cãi vã nhau om sòm. Mấy tay chuyên nghề cá độ thì coi như ăn ở tại chỗ, bám sân từ sáng cho cho tới giờ mản cuộc. Quần áo xốc xếch, tóc tai bờm xờm thiệt chẳng giống ai.
Ở Xóm nghèo quê tôi, nuôi gà đá truyền đời là phải kể tới ôn Tôn Lạc. Sống gần như nghề độ nhật là chú Sáu Cử, chú Phú. Sau này, lớp hậu duệ, có dượng Đát là tay nuôi gà đá bài bản, có nghiên cứu sách vở. Đã từng chiếm giải nhiều độ gà suốt mấy Hội Làng Xuân. Lớp đàn em nữa, có ông bạn Cu Lu ( là tên thường quen gọi ở Xóm chớ ra khỏi lằn ranh Xóm nhỏ là Hồ Ngọc Sơn chớ không có lu, vại gì nữa). Có chú em Tôn Thất Thuận (con của ôn Tôn Lạc, rể của võ sư Sáu Trọng). Gà của chú thì tôi chưa coi được trận nào nhưng có nhiều lần đi coi chú thượng đài tỉ võ nhiều trận ở sân vận động Thị xã.
Cũng còn mấy tay nữa nhưng mà thuộc loại nuôi gà tài tử.
Hội Làng Xuân mà không có sân đá gà thì đâu có ý nghĩa gì!. Tôi cũng góp mặt cho vui vậy thôi chớ không đành lòng nhìn cảnh bại vong của mấy con gà xoải cánh, quỵ chân, lê lếch, máu me nhầy nhụa…Thắng thua hào hứng là từ những đồng tiền cá độ của những tay chuyên nghề và cả những tay ăn theo. Tôi có đứng đó chẳng qua là vì sân gà gần kế bên gian hàng đá nhận xi rô. Chạy qua , chạy lại cho tới lúc mút đá đã thèm là tìm đường đi qua gian hàng khác…
Hội Làng chỉ đúng ba ngày rồi im ắng nhưng vẫn còn giữ mãi hình ảnh vui nhộn cho hết tháng Giêng.
Đến bây giờ, tôi cũng không nhớ vào khoảng thời gian nào, không khí sôi nổi rộn ràng của Hội Làng Xuân chìm khuất và mất dấu trong những ngày Tết.
Có lẽ là từ ngày cuộc sống làng quê đã dần thay đổi theo đà văn minh tiến bộ. Những con đường đất gập ghềnh đã được san bằng, trải nhựa. Ánh điện đã tràn tới đuổi xua những ngọn đèn dầu leo lét. Cục đá nhận xi rô đã đi vào quên lảng. Đã có nước đá cục trong những chiếc ly thủy tinh khi uống beer nhãn hiệu con Cọp hay nước ngọt hiệu Vina, Phương Tòan. Trống chiêng cũng thưa thớt dần không đủ sức kéo ùa theo không khí Tết. Chú Tiết Nhơn Quý đã đổi “gu” màu rượu trắng ra màu nâu đậm của các vị thuốc Bắc phương. Bộ quần áo bà ba đen bạc cũng mất dấu để nhường cho cho bộ quần áo mang dáng vẻ Tây phương.
Con gà đất đâu rồi trên vuông chiếu lớn!
Con heo đất cũng lần hồi biến dạng. Dáng vẻ tân kỳ, màu mè sặc sỡ hơn, trơn láng hơn, to nhỏ đủ hạng . Cuối cùng rồi cũng bỏ đi đâu, tìm không ra!
Tôi cũng đi, không về Xóm nhỏ. Hàng xóm láng giềng lớp còn ở lại, lớp bỏ ra đi. Đi về đâu không biết trong cuộc bể dâu…
Hàng năm, những ngày Tết, tôi chỉ còn lại trên vuông chiếu đời của một thời thơ ấu, những hình ảnh gìn giữ cả một trời quê quyện ngát hương trầm và mùi pháo Tết.
Tháng Giêng, Hai ở đây thì quê nhà đã là cuối Chạp, chuẩn bị sẵn sàng để tống cựu nghinh tân.
Rừng Mai hồng giữ vẻ dáng mùa Xuân níu kéo những cái liếc thầm mang ước lệ của Xóm quê xưa, nay đã không còn…
Nhưng vẫn còn trong tôi, vẫn còn, trong lòng những người cùng chung Xóm cũ hình ảnh rộn rịp đông vui khi tiếng pháo khai hội ngày Xuân nổ giòn níu kéo thân tình cho nhau suốt ba ngày Tết.

Những người xưa cũ nay đâu ! Có còn giữ lại mùa Xuân như tôi đang giữ hay là như con heo đất nghe “bộp” hay “bụp” một tiếng thiệt quá đã mà không thấy đồng tiền nào túa ra…Bởi có dành dụm gì đâu ! Hay có dành dụm nhưng cứ móc dần ra tiêu pha ngày tháng mất rồi !

Cuối cùng, chỉ là trống vắng…

Hiên Trăng, những ngày Tết quê xa
TRẦN HUY SAO
(tuyển tập Thơ Văn Viết dưới Hiên Trăng, 2018)

THƠ PHƯƠNG TẤN

PHƯƠNG ƠI,
NHỮNG NGÀY TRỐN HỌC

Đôi môi mạ non nên đôi mắt ướt
Cá vỗ đầy thuyền nên ngực buồm căng.
Cây cỏ đùa vui nên tóc xanh mượt
Ai thương ai hoài riết tình lên men.
*
Biết môi mình còn cay mùi đất đỏ
Đất đỏ đường xưa lồng bóng tre xanh
Đất đỏ đường xưa hai đứa hẹn hò
Anh xin cầm tay cho má mình nóng hổi.
*
Cho hồn mình bay cho hơi mình thở vội
Anh xin bồng mình vào lòng, thương mình mênh mang
Mười ngón tay mình đan vào vai anh nhẹ nhàng
Giọng mình run, run hơn những lần lên bảng.
*
Người con gái nhỏ ơi anh yêu mình vô hạn
Tà áo ai bay, anh ngỡ áo mình bay
Vành nón ai nghiêng, anh ngỡ nón mình nghiêng
Cho nhớ nhung anh riêng vào trong mắt.
*
Mai mốt anh đi, e mình sầu đau dằng dặc
Nhỡ má phai hồng anh biết nói mình sao
Nắng quê Phương trông chừng cũng sang màu
Giấc ngủ không yên mình chong đèn nằm khóc.
*
Con đường đất đỏ chừ thương mình lên về đơn độc
Chắc mình buồn hơn chiều sâu đêm sâu
Mình hết trông lên nhìn xuống chuyến xe đò
Chở anh về chơi trong những ngày trốn học.
*
Mình thương anh thôi mình đừng khóc
Chúa sẽ rầy anh, mình chắc không vui
Con đường đất đỏ mình lên về đơn độc
Và xa kia… lủi thủi mỗi mình anh…


KHOAI LANG VỎ ĐỎ LÒNG VÀNG

Kính thưa chị cơm bữa no bữa đói
Nhà lêu bêu thuê tháng được tháng không
Xuôi với ngược cũng làm thân tôi mọi
Ngược rồi xuôi vẫn lấy cát lấp sông.
*
Tuổi thì nhỏ sao lòng nghe đà mỏi
Mắt còn trong sao dạ đã bơ phờ
Chúa thì cao em làm sao mà vói
Khổ còn qua, qua mãi ai ngờ.
*
Kính thưa chị đôi lần em chợt hỏi
Đời có cái chi vui quá là vui
Vui đến khóc dù mình chưa kịp khóc
Thêm chút vui lại một chút ngậm ngùi.
*
Uổng chi lạ mười mấy năm ăn học
Trả cho thầy hết trọi những văn chương
Đời bày vẽ toàn gì gì lạ quá
E chết đi Chúa ngại mỗi thiên đường.
*
Kính thưa chị như loài chim bạc phước
Một sớm mai chị gọi chim ơi chim
Như loài hoa tưởng ngủ hoài bên suối
Trong rừng kia được hoàng tử đưa về.
*
Chị bùi ngùi bảo sao em gầy quá
Ốm tong teo như sậy ở sau nhà
Em muốn khóc những lần nghe chị trách
Ngại con trai ai đi khóc dị ghê!
*
Kính thưa chị nay đầu đường mai xó chợ
Ít bài thơ dăm cuốn sách theo mình
Còn nghĩa gì đâu một đời lận đận
Còn nghĩa gì đâu mà nhục hay vinh.

Con nhà ruộng hỏi chi tiền với bạc
Cá đặt rò củi chị vớt ngoài mương
Cơm lại ngon em cứ ăn sạch bát
Vét hết nồi sao còn thấy đói meo.
*
Kính thưa chị, nhà có bé Lan bé Phụng
Có dì Chuyền vui líu xíu như chim
Mỗi sáng dậy em lại mừng trong bụng
Em mừng em được sống nốt một ngày.
*
Thôi chịu dại như một loài tầm gửi
Xin ở đây ăn bưởi trổ sau vườn
Ngủ trên cây xước mía lùi trong bếp
Buồn cưỡi trâu mà tìm được quê hương.

A, cưỡi trâu mà tìm được quê hương!

PHƯƠNG TẤN

(Biên Hòa)

THẮP NẾN ĐÊM TRẮNG TUYẾT

 

Thắp nến lên
đêm mùa đông
Tôi
một mình!

Tiếng thời gian
tích tắc!
tích tắc!

Điệp khúc trầm
như tiếng cầu kinh!

.

Thắp tôi lên
Đêm mùa đông
Thấy thanh xuân vỡ vụn
xuôi qua kẽ tay vèo theo áng mây bay!

.

Mây trắng vẫn bay
Màu thời gian nhuộm tóc ai!
Tích tắc
điệp khúc buồn
như khóc cho nỗi tàn phai!

.

Đem hồn ra
Sắp xếp lại phiến đời
Tôi tìm thấy tôi
Một thời mắt môi
Một thời vụng dại

.

Một thời
à ơi tiếng mái chèo khua
tiếng khàn “bìm bịp kêu
con nước lớn
buôn bán không lời chèo chống mỏi mê” [*]

.

Thắp nến lên
mong xua nỗi lạnh
ngoài song
đêm trắng
bông tuyết rực trời

.

Đêm trắng tuyết
một người ngồi thắp nến
Tìm chút ấm
trong căn phòng cóng lạnh mùa đông
Chạm tay
miền ký ức xa xăm!

.

Ai thắp nắng giùm tôi?
Đêm cô miên!
Niềm lữ thứ!

.

Nguyên Lạc

…………….

[*] Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê

(Ca dao)

Một ngày cho một năm

Là thôi, từ tạ mối tình
sẽ là mây trắng trời xanh bơ thờ
và xin về giữa cơn mơ
ngủ câm một giấc nhớ bờ vai ngoan

Là thôi từ tạ muôn vàn
chữ nhung nhớ chữ yên hàn chữ thương
là thôi trò chuyện văn chương
anh ra ngồi quán bên đường đếm xe

Mối tình không có mái che
đêm mưa gió tạt nắng hè bụi rơi
sẽ còn mãi mãi một thời
em ngồi gõ phím ước người qua sông

Sẽ còn một mối tình chung
thủy và đôi mắt buồn không hết buồn
chuyện tình ái chuyện văn chương
tàn đêm thoáng hiện trong trường tương tri

Nguyễn Hàn Chung
Cuối năm Mậu Tuất

LỄ HÔI HOA

1. Mùa lễ hội thứ nhất kế hoạch của nhóm bị phá vỡ chỉ bởi một lý do mới nghe ra thì có lý, nhưng ngẫm lại thấy … lãng xẹt: Tuấn và Hương giận nhau! Nhóm bốn người, có hai người ngoảnh mặt làm sao vui, một con ngựa đau cả tàu chê cỏ huống chi đến hai con ngựa cùng “đau răng” (ê ẩm)! Nghĩ lại, đời có bao ngày vui mà cứ mãi giận hờn – lãng nhách! Mất công Thành năn nỉ ông anh cả tháng mới mượn được chiếc Jolie, chuẩn bị cả tuần lễ củi lửa, xăng, nhớt … Cuối cùng xôi hỏng bỏng không! Buổi tối Linh nằm nhà coi TV. Thấy cả muôn hồng ngìn tía hoa là hoa, đâm ra tức Hương tánh hay hờn, hở chút là dỗi, và bỗng dưng thấy … tội nghiệp cho Tuấn, bao năm sống chung với … õng ẹo.
2. Mùa lễ hội thứ hai, Thành tậu được chiếc Everest – cũ người mới ta. Hết sạch bao nhiêu năm đi làm công ty nước ngoài. Lần này Thành la lớn với cả hội: “Có giận nhau thì ráng làm hòa sớm. Đừng để đến giờ chót làm cụt hứng nghen!”. Cả tuần, cứ hết giờ làm việc Thành lại chui vào ga–ra hì hục với chiếc xe, mặt mũi lấm lem, gắn cái này, thêm cái kia, chỉnh thứ nọ….
Và cái giờ “hoàng đạo” cũng đến. Thứ bảy, xong bửa cơm trưa văn phòng cả nhóm ba lô lên đường. Lái xe tất nhiên là Thành, Tuấn ngồi ghế trước giữ trọng trách làm cho Thành không buồn ngủ và “canh giùm mấy thầy bắn tốc độ” – Thành nói. Phía sau là Hương và Linh, có nhiệm vụ bóc trái cây, tiếp bánh kẹo, nước khoáng … cho phía trước. Vừa đi, vừa nghỉ, vừa.. tiếu lâm lên đến thành phố hoa là lúc cao điểm của những chiếc xe hoa tiến vào khu lễ hội. Cả rừng người và hoa rùng rùng, nhảy múa. Rộn ràng, náo nức! Nhìn đâu cũng thấy hoa, hoa trên đồi, hoa trên vỉa hè, hoa trước nhà, hoa trên dốc, hoa trước mặt, hoa sau lưng….
Chiếc xe của Tuấn nhích từng chút, len giữa người và xe và hoa đến khách sạn mất cả tiếng hơn. Nhận phòng, tắm rửa qua loa, cả nhóm kéo nhau xuống phố tìm thứ gì bỏ bụng. Đường chật như nêm, quán nào cũng nghẹt người. Kiếm được một chỗ ăn thật quá nhiêu khê! Hương và Linh sợ không tìm được chỗ tốt trên khán đài nên đưa ra sáng kiến mua bánh mì vào lễ hội vừa ăn vừa xem, một công đôi việc được sự đồng thuận nhanh (khó mà tạo được tiếng nói chung như thế này!)
Phố ken dày áo len, người người vội vã như chiều ba mươi tết. Từ trên dốc nhìn xuống lộn xộn đủ màu sắc và âm thanh. Hoa mắt, rối tai! Trời lạnh nhưng ai cũng thấy nóng. Tại hàng rào chắn bảo vệ vào khu vực lễ hội hỗn loạn bởi sự chen lấn xô đẩy. Tuấn thuộc tuýp người thích tiện nghi và mau nản đưa ra ý tưởng bỏ cuộc đầu tiên :
– Vất vả quá! Về khách sạn coi TV cho rồi!
Linh nhìn bao quát không gian chật chội xung quanh. Một người chồng cõng vợ cũng ráng chen vào. Những ông bố, bà mẹ có em bé ra sức bảo vệ cho con mình được an toàn trong dòng người dạt xô ấy. Thành bàn:
– Ngồi đâu đó uống nước, ăn bánh mì rồi tính tiếp.
Chẳng tìm được một chỗ ngồi nào khả dĩ, cả bọn chồm hổm trên vệ đường nạp năng lượng vào bao tử. Khi mấy ổ bánh mì được thanh toán hết. Hương đưa ra sáng kiến vào hội chợ. Và thế là bốn người kéo nhau đi.
Sà vào hàng quần áo, Linh mua cho mẹ tấm khăn choàng. Thành mua cho em gái chiếc áo cổ lọ và mẹ một cái áo len…. Cứ thế cho đến khi hai tay xách đầy những chiếc bị. Thành và Linh lạc Hương và Tuấn lúc nào không biết.
Cuối cùng Thành và Linh cũng chen tìm được một chỗ ngồi trên khán đài. Gió lộng tứ bề. Chưa bao giờ Linh cảm nhận cái lạnh như vậy. Tai Linh ù đi vì gió. Cái lạnh làm cho cô phân tâm với những màn trình diễn rất ngoạn mục trên sân khấu. Quá nửa chương trình cô run lập cập. Thành lôi chiếc áo len mới mua choàng cho Linh nhưng cô vẫn không hết run. Thế là tất cả những gì có trong túi vừa mua ở Hội chợ được lấy hết ra sử dụng. Vớ, mũ, khăn choàng … Cả hai nhìn nhau cười như con nít không hiểu những thứ trang phục trên người bây giờ là thời trang gì nữa. Cuối cùng không chịu nổi gió lạnh Linh kéo Thành đứng lên rời khỏi khu lễ hội bỏ lại sau lưng giọng hát của cô ca sĩ và màn múa minh họa mà Linh rất thích.
Đêm đen tuyền, khô ráo và lạnh buốt. Con dốc đổ về phố hun hút hàng cây. Thành phố mờ tỏ ánh đèn, những mái nhà lô xô bên dưới con dốc, những mảng sáng tối chập chờn xao xuyến. Thành choàng tay qua vai Linh hỏi cô có lạnh không. Bất giác Linh rùng mình, cô cảm thấy dòng máu đổ về tim có cục nghẹn vô hình nào đó rồi thoáng qua nhanh. Dòng người từ dưới lên và từ trên xuống như những đàn kiến kéo đi tìm thức ăn. Bước chân hai người cứ thế mà đi, đi mãi. Linh không nhớ mình đã qua bao con đường, bao con dốc. Đến khi đôi chân mỏi nhừ, Linh níu Thành ngồi xuống vệ đường thì vừa lúc thấy Hương và Tuấn đi đến. Thành phố nhỏ vô cùng, không hẹn mà cùng gặp, cả bốn ngồi xuống bờ cỏ. Hương đêm từ một khu vườn nào đó tỏa ra không gian lạnh và khô một mùi ngai ngái, nồng nồng. Linh nhìn lên bầu trời đen, một biển hằng hà lấp lánh. Đêm tinh khiết và nồng nàn. Chẳng ai nói với ai câu nào cho đến khi Hương đề nghị đi tiếp lên trường đại học. Đã khuya lắm nhưng thành phố vẫn còn nhộn nhịp bởi lễ hội. Và như thế, bốn người lại tiếp tục cuốc bộ qua những con dốc dài. Trời lạnh chẳng ai thấy mỏi chân. Đi có mục đích mà như vô định bởi chẳng biết đích đến để làm gì. Đến khi những chỏm mái nhà cao trong khuôn viên trường đại học hiện ra trong tầm mắt cả bọn lại kéo nhau trở về. Đêm chuyển sang ngày mới. Vậy là hết một đêm khai mạc lễ hội không như háo hức, trông đợi. Sương xuống làm ẩm mái tóc và bước chân mọi người như trĩu nặng hơn. Linh cảm giác hai cánh mũi mình tê buốt. Đôi bàn tay lạnh đến nỗi cô không nắm lại được. Thành hỏi Linh có lạnh không và nắm lấy tay cô bóp nhẹ. Hơi ấm lan truyền vào cơ thể khiến Linh rùng mình lần nữa.
Cho đến khi về tới khách sạn, thả người xuống tấm nệm êm và chui vào tấm chăn dày, “Lần đầu tiên trong đời mới biết thế nào là hạnh phúc!“. Nói với Linh câu đó xong, Hương chìm ngay vào giấc ngủ. Linh còn thao thức một chút, cô nhớ đến cái choàng tay qua vai của Thành, cô thấy vạt hoa quỳ vàng rực thung lũng, có những con thú kết hoa đang nhảy múa và từng đàn bướm chập chờn. Trên mặt hồ nước rộng có cũng có những chú ong kết hoa vàng, những đóa cẩm tú cầu màu hồng lung linh, lung linh. Và có cả một thảm cỏ xanh nối đuôi nhau thành sóng đến tận chân đồi, ở đó có một vườn hồng dày đặc quả; những quả hồng đính vào cành cây khô như những vật trang trí cây thông noel. Thấp thoáng một nụ cười quen thuộc và ấm áp. Có đống củi khô vừa được đốt lên tỏa ra mùi nhựa thông thơm nồng. Đối với Linh có lẽ đó là một giấc mơ đẹp nhất trong cuộc đời. Hoa và mộng, thực và ảo đan xen nhau lung linh, huyễn mộng.
Sáng hôm sau, dù ê ẩm đôi chân nhưng cả bốn người cùng háo hức dậy sớm gọi nhau tranh thủ đi cho hết ngày chủ nhật để chiều về lại Sài Gòn. Đứng trên đồi cao nhìn xuống thung lũng tràn hoa trong khu triển lãm. Thành kêu Tuấn chụp anh và Linh vài kiểu. Chiếc áo khoác màu đỏ của Linh như rực rỡ hơn giữa muôn hồng nghìn tía. Linh nghe Thành nói thật nhỏ bên tai mình : “Ghi lại để làm kỷ niệm”. Câu nói nghe hơi “sến” và có vẻ mang chút hơi hám của sự chia tay. Linh ngước lên nhìn, cô thấy đôi mắt Thành trong veo, sáng ngời nhưng ẩn chứa một khao khát về một điều gì đó có vẻ xa vời tầm tay với, có thoáng chút buồn và da diết thế nào!
Trời đang đẹp bỗng đùng đùng đổ mưa ầm ào, bàng hoàng, thảng thốt. Linh thật sự lạc mất mọi người khi cô vội chạy vào trú trong một gian nhà hoa. Mưa ào ạt hết cơn này đến cơn khác, trắng xóa trên tầng cao mênh mông. Trong chốc lát khu nhà mấy trăm mét vuông như nêm bởi người, và ướt át bởi ai cũng mang theo vào một chút nước. Những tiếng trầm trồ và những tiếng trả giá giáng phũ phàng xuống những chậu hoa rất đẹp. Linh đi dọc theo dãy hàng hoa, đủ mọi loài hoa được tỉa tót, thúc bón kỹ lưỡng lướt qua mắt cô. Liệu những chậu hoa này sẽ tồn tại được mấy ngày khi mang về Sài Gòn? Linh dừng lại gian hàng Ikebana. Mấy chàng thanh niên người Nhật đang ra sức biểu diễn nghệ thuật cắm hoa truyền thống của xứ sở mình. Những cánh hoa bình thường dưới bàn tay phù thủy bỗng chốc ngự trị sáng rỡ trên những lọ hoa có kiểu dáng rất lạ. Linh bị cuốn hút vào đó rất lâu cho đến khi cô giật mình vì một bàn tay đặt lên vai : “Họ tự hào cũng phải nhỉ?”. Thành đứng bên cô lúc nào. Cả hai đứng lại bình phẩm một vài tác phẩm vừa mới hoàn thành, rồi kéo nhau đi. Mưa vẫn còn nặng hạt, rầm rào trên mái tôn. Gió thổi thốc từng cơn mang theo bụi nước li ti làm tăng thêm cái giá lạnh. Thành lấy di động bấm gọi Tuấn và Hương. Đường truyền tắc nghẽn, chỉ có tiếng ò í e. Mọi liên lạc đã bị phong toả bởi mưa, bởi không gian hạn hẹp của gian nhà. Mưa này có khả năng kéo dài đến quá trưa. Thành nhìn đồng hồ tay và anh quyết định chạy băng qua bên kia đường mang về hai chiếc áo mưa. Hai người rời khu vực triển lãm trong lúc mưa và gió giằng xé nhau, lạnh buốt.
Người tính không bằng trời tính. Hết một mùa lễ hội không như mong muốn.
Tuấn sau đó cũng rời công ty. Ba chiếc bàn làm việc trong phòng có ngay ba người khác điền vào chỗ trống. Chỉ mình Linh ngồi lại, thỉnh thoảng bước đến khung cửa sổ nhìn xuống đường, khối hình góc cạnh quen thuộc của ngôi nhà thờ và cái bùng binh luôn có những chiếc xe vòng quanh kéo lê trong suy nghĩ của cô một nỗi buồn. Ba năm qua vèo nhưng quá nhiều thứ để nhớ. Mọi điều đến rồi đi, ngôi nhà thờ dưới kia đã chứng kiến biết bao biến cố lịch sử và vẫn âm thầm tiếp tục trong vai trò làm nhân chứng. Kể cả những lần cô và Thành cùng đứng bên khung cửa sổ này nhìn xuống, cùng trầm trồ về khối kiến trúc quá hoàn hảo và tấm thảm xanh hiếm hoi ngự trị giữa lòng thành phố. Linh nhìn thấy hai cây thánh giá nhỏ xíu đậu trên hai khối chóp cao sao mà buồn và cô đơn quá!
Buổi chiều về nhà sớm Linh bật máy vi tính và để online. Cô hy vọng gặp ai đó để chia sẻ những cảm nhận về một lễ hội. Chẳng có ai online trong một buổi chiều gần hết năm tiết trời ráo rẻ và se lạnh như thế này. Thời tiết này không phải để ôm chiếc máy vi tính mà là dạo phố hay đi đâu đó. Dù nhớ da diết cái lạnh của Đà Lạt năm ngoái, nhưng giờ đây Linh không thể nào hình dung lại được nó đã lạnh như thế nào. Chương trình thời sự trên TV đang phát những tin tức về lễ hội sắp khai mạc. Khúc phim quay cận cảnh những đóa cẩm tú cầu, rồi cả đồi hoa quỳ vàng rực đến nôn nao. Linh bỗng cảm giác có mùi nhựa thông lẩn quất đâu đây. Cô bỗng triết lý, phải chăng những mối tình đẹp luôn có những cuộc chia tay buồn bã? Mimosa, anh đào, quỳ vàng đang nở rộ nhưng sao cô bỗng thấy buốt xót, ngậm ngùi.
Chuông điện thoại bỗng vang lên những hồi giục giã. Với tay lên đầu giường, áp ống nghe vào tai một giọng nói trầm và ấm vọng về từ rất xa:
– Anh đang ngồi ở một quán cà phê trên phố. Giờ là buổi sáng và trời đang rất lạnh dù nắng rất đẹp. Đà Lạt đang lễ hội hoa phải không em?
Linh nghe tiếng ghi-ta gần sát và thảng hoặc có tiếng xe chạy ào qua rất nhẹ. Thành nói :
– Em có nghe tiếng đàn của anh không? Anh nối máy cho em nói chuyện với Hương.
Chàng lãng tử và giấc mơ quá lãng mạn! Đối với Linh đó là quá đủ. Dù có mơ mộng đến đâu, chưa bao giờ Linh nghĩ Thành là một bến đỗ bình yên.
Tiếng đàn khoan thai, chậm rãi vào đoạn kết thúc, có những âm thanh dồn nén, ức chế của sợi dây đàn bị chận. Thành nhắc:
– Thẻ điện thoại của Thành còn 3 phút nữa.
Linh nhìn lên màn hình TV trước mặt. Những chiếc xe đạp hoa đang đi qua khán đài, những tà áo dài trắng ẩn hiện trong màn múa hoa đủ màu sắc. Lễ hội bắt đầu cùng lúc với tiếng ngắt tút tút trong điện thoại. Linh bước ra ban công nhìn xuống đường. Phố dưới kia lóng lánh trăm ngàn sắc màu, những cây thông nhấp nháy trong các cửa tiệm nôn nao đón chờ Giáng sinh – mùa của bình an và hy vọng. Cao nguyên đang vào mùa dã quỳ. Màu hoa của nỗi nhớ. Mênh mang. Ray rứt! Nơi đây chẳng bao giờ thấy hoa quỳ vàng để biết một mùa mưa đã qua, mùa đông đã đến và mùa xuân sắp về. Từ tiệm băng đĩa bên kia đường một giai điệu tha thiết, ngọt ngào hòa lẫn trong không gian sắc màu cuối năm một bài hát đã cũ đoạn điệp khúc mà Linh biết rất rõ có một nốt thăng và một nốt giáng cùng một nốt xuống trầm đột ngột: “Buồn hoài chi ta ơi, nơi ấy hoa vàng cho đẹp mùa sang. Đường mình qua lúc nào, giờ bước âm thầm, tình bỗng dâng trào…..”. Những con đường, góc phố, cao nguyên và mùa lễ hội đi qua như tất cả những gì đã đến cũng đều đã đi qua….

ĐÀO THỊ THANH TUYỀN
(°) Nói chuyện qua điện thoại trực tiếp một lần với nhiều người ở những nơi nhau.