Những hồi ức từ buổi họp mặt của một khóa Võ Bị lừng danh

 

Tối Chủ Nhật 24/11, trước Thanksgiving, tôi được ông anh bà chị cho tháp tùng tham dự buổi họp mặt Cựu SVSQ Khóa 16 VBQGVN của anh, kỷ niệm 54 năm ngày khai giảng Khóa Võ Bị đặc biệt vang danh này.

Có lẽ hầu hết những ai đã trưởng thành tại miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống Cộng đều biết hay nghe nói về Khóa 16 VB(Đà Lạt). Khóa đầu tiên cũng là khóa điển hình của quân trường mang danh “Võ Bị Quốc Gia Việt Nam”, hậu thân của trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (École Militaire InterArmes de Dalat (EMIAD).  Một quân trường danh tiếng nhất Vùng Đông Nam Á, đào tạo những sĩ quan hiện dịch mẫu mực nhất. Với Đại tá Trần Ngọc Huyến, vị chỉ huy trưởng nhiều tài năng và huyền thoại,  một chương trình huấn luyện bốn năm mới mẽ, đặc biệt chú trọng đến kiến thức văn hóa, với châm ngôn được dùng như kim chỉ nam: “Tự Thắng Để Chỉ Huy”, những bài giảng về nghệ thuật lãnh đạo có sức lôi cuốn, cùng với bài truy điệu và những hình thức tưởng niệm đầy tính bi hùng của chính vị chỉ huy trưởng đặt ra, đã thổi vào tim óc học trò của ông, những SVSQ Khóa 16 VB, lòng say mê binh nghiệp, niềm kiêu hãnh của một người lính sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc, để sau này trở thành những vị chỉ huy tài ba, thao lược, văn võ song toàn, làm rạng danh cho Quân Lực VNCH.

Hôm nay, những cánh “đại bàng” còn sống sót từ một thời lẫy lừng trên khắp chiến trường ngày ấy, dù trên thân xác và trong tâm hồn còn mang nhiều thương tích, và tuổi đời đã đến lúc không còn nhiều cơ hội để hẹn một lần sau, nhưng đã cố qui tụ về đây để cùng gặp gỡ những đồng môn năm xưa, khi tất cả còn là những SVSQ trai trẻ, đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời, cùng một lời nguyền :” Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng, mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”. Nhìn những mái đầu bạc, những bước chân khập khiểng, những đôi mắt mơ hồ như đang hồi tưởng về quá khứ lẫm liệt một thời, có ai không khỏi chạnh lòng?

Nếu không có ông anh “chỉ điểm” hai vị đồng môn ngồi ngay phía sau lưng, tóc vẫn còn đen, trông hiền lành như hai vị giáo sư, chắc chắn tôi không thể ngờ được, một người từng là Đại tá BĐQ (Nguyễn Văn Huy) nổi tiếng, một người là Trung Tá Nhảy Dù (Bùi Quyền), vị thủ khoa của Khóa Võ Bị vang danh này. Khi nhìn được “dung nhan mùa thu” của vị thủ khoa Khóa 16, tôi bỗng nhớ lại chuyện bốn mũi tên do vị thủ khoa Khóa 17, Vĩnh Nhi, giương cung bắn đi trong ngày lễ ra trường mà tôi được nghe một ông anh Khóa 17 kể lại vài năm trước.

Mặc dù đã được thực tập nhiều lần trước ngày hành lễ về động tác dùng cung bắn 4 mũi tên đi 4 phương trời tượng trưng cho chí tang bồng hồ thỉ của các tân sĩ quan, nhưng trong giây phút trang nghiêm nhất của buổi lễ hôm ấy, trước sự chứng kiến của vị nguyên thủ quốc gia, tân thiếu úy Vĩnh Nhi, thủ khoa Khóa 17, đã chỉ bắn bay xa được có một mũi tên duy nhất. Sau này nhiều người nghĩ mũi tên ấy chính là biểu tượng cho vị thủ khoa Khóa 16, Bùi Quyền, người hùng còn sống sót đến hôm nay. Ba mũi tên còn lại bị rơi ngay trước mặt là điềm báo trước sự hy sinh của ba thủ khoa kế tiếp:  Nguyễn Anh Vũ thủ khoa khóa 18, sĩ quan binh chủng Nhảy dù hy sinh trong trận đánh tại mật khu Bời Lời năm 1964. Thủ khoa Võ Thành Kháng khóa 19, TQLC, tử trận ngay trong trận đánh đầu đời, Bình Giả năm 1965. Và cuối cùng chính là người bắn cung hôm ấy, thủ khoa Vĩnh Nhi, SĐ7BB,  hy sinh  bên bờ sông Bảo Định, Mỹ Tho trong trận Mậu Thân 1968.

Đã có rất nhiều bài viết ca ngợi vinh danh những sĩ quan, những cấp chỉ huy tốt nghiệp Khóa 16 VB, như là những người lính kiệt liệt, những cấp chỉ huy mẫu mực ở những binh chủng lừng danh, không những đã tạo nên những chiến tích lẫy lừng mà còn mang nhiều huyền thoại. Từ vị Thủ khoa, Mũ Đỏ Bùi Quyền, đến vị Á khoa Mũ Xanh Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc, Á khoa Mũ Đỏ Trần Đăng Khôi, vị Lữ Đoàn trưởng Nhảy Dù ” bô trai” Lê Minh Ngọc, vị Lữ đoàn phó TQLC “hào hoa” Đỗ Hữu Tùng từng làm say đắm một nàng ca sĩ nổi danh thời ấy. Đại tá BĐQ Nguyễn Văn Huy, mang lon đại tá khi chỉ mới 34 tuổi và có lẽ là một trong số rất hiếm sĩ quan cấp đại tá có Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Đại tá Đặng Phương Thành, người anh cả của Trung Đoàn 12/SĐ7BB đã tạo nên chiến thắng cuối cùng lẫy lừng nhất khi đánh tan hai trung đoàn thiện chiến của Công trường 7 CSBV tại Long An, trong mưu đồ vây hãm và tiến chiếm Sàigon tháng 4/75. Ông đã nhận tấm Bảo Quốc Huân Chương Đệ Tứ Đẳng cuối cùng của VNCH do Tổng thống Trần Văn Hương đến tận nơi trao tặng. Năm 1976 Ông đã bị bon CS trả thù giết chết man rợ tại một trại tù miền Bắc. Đại tá Nguyễn Hữu Thông, vị trung đoàn trưởng can trường của SĐ22BB, luôn hết lòng yêu thương, sống chết với anh em đồng đội. Cuối tháng 3/75 theo lệnh, đã cùng đơn vị lên tàu Hải quân chờ di chuyển, nhưng thấy còn thiếu một “đứa con” đang vẫn còn chiến đấu , đã nhảy xuống tàu bơi vào bờ, để rồi không bao giờ trở lại.

Trong số những tên tuổi tiêu biểu này, có người đang còn sống đời lưu lạc tha phương, có vị đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường xưa, ở một nơi vô danh nào đó. Dù xương cốt đã tan vào cát bụi, nhưng hình ảnh kiêu hùng và tên tuổi sẽ còn linh hiển và vang vọng mãi trong lòng mọi người, đặc biệt những ai đã từng là lính.

Được vinh hạnh tham dự buổi họp mặt của những vị đàn anh ” quá khổ”, những ông thầy một thời hằng ngưỡng mộ, tôi bỗng nhớ đến những vị Khóa 16 mà tôi đã từng phục vụ dưới quyền hoặc có cơ duyên được làm việc chung trong các cuộc hành quân hổn hợp hay đã được quen, được gặp. Đa số những vị này có thể ít người biết đến, hoặc đang còn ở cái thời chưa vang tiếng, nhưng tất cả đã để lại trong lòng tôi một niềm kính phục.

Rời trường Thủ Đức, tôi được bổ nhậm về một Sư Đoàn Bộ Binh ở Vùng 2. Sau khi trình diện đại tá Lữ Lan, Tư Lệnh Sư Đoàn, trong số 12 người cùng khóa, tôi và hai thằng bạn  được về Tiểu Đoàn 3/44, bổ sung cán bộ trung đội trưởng vừa bị tử thương trong các trận Đỗ Xá, Vũng Rô.

Hậu cứ tiểu đoàn đóng tại Ban Mê Thuột, nhưng vì được chọn làm đơn vị lưu động, trừ bị cho quân đoàn, nên đơn vị đi hành quân liên miên từ các tỉnh đồng bằng vùng duyên hải đến các tỉnh cao nguyên xa tít: Quảng Đức, Lâm Đồng, Pleiku, Ông thiếu úy già chỉ huy hậu cứ cho biết, đã hơn bốn năm, tiểu đoàn chưa có lần trở về hậu cứ.

Lãnh quân trang súng ống xong, hai ngày sau chúng tôi được lệnh tháp tùng chuyến bay C47 của đại táTư Lệnh SĐ đi họp ở Nha Trang, để trình diện đơn vị. Tiều đoàn đang hành quân tảo thanh địch tại vùng Diên Khánh, nơi một mật khu của địch vừa bị khám phá sau khi khai thác những tù binh bị bắt trong trận tấn công của chúng vào khu vực Đại Điền và Thanh Minh bị thảm bại.

Chúng tôi được ông tiểu đoàn trưởng mang xe đến phi trường đón về đơn vị. May mắn, đúng vào lúc đơn vị vừa chấm dứt cuộc hành quân dài hạn, đang nằm dưỡng quân tại một vườn dương trên bờ biển, bên ngoài hàng rào của TTHL Hải Quân Nha Trang. Lần đầu tiên chúng tôi thấy tận mắt hình ảnh cực khổ của một đơn vị tác chiến thực thụ. So với hình ảnh sinh hoạt của TTHL/ HQ nằm ngay bên cạnh, thì đó là một thiên đường, một hình ảnh lính hoàn toàn khác.

Thời ấy, được một đơn vị chủ lực hùng mạnh tăng phái hành quân truy tìm và tiêu diệt địch trong lãnh thổ của mình là một điều rất vui mừng, nên ông tỉnh trưởng Khánh Hòa đã dành riêng 4 phòng tại khách sạn Phụng Hoàng, nằm trước ga xe lửa, cho tất cả sĩ quan nghỉ ngơi sinh hoạt. Chúng tôi được ông tiểu đoàn trưởng đưa về đây trình diện các ông đại đội trưởng và giới thiệu với các sĩ quan khác trong đơn vị.

Trong bốn ông đại đội trưởng có một vị oai phong cao lớn, mang hai hoa mai trước ngực. Sau khi được giới thiệu, chúng tôi biết đó là Trung úy Thái Hữu Dư, tốt nghiệp Khóa 16 VB Đà Lạt. Đại Đội trưởng Đại Đội 1.

Tôi về Đại Đội 3, không thuộc quyền của anh, nhưng hầu hết sĩ quan trong đơn vị đều gần gũi thân tình. Anh xem bọn tôi như em út, chỉ dạy, hướng dẫn đủ điều. Không những về kinh nghiệm chiến trường, mà còn nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy. Anh bảo, là sĩ quan ở một đơn vị tác chiến phải làm sao cho quân sĩ vừa yêu thương mà vừa kính nể. Hơn một năm, đơn vị tham dự khá nhiều trận chiến, anh luôn là một vị đại đội trưởng xuất sắc, gan dạ mưu lược, đã tạo nhiều chiến thắng vẻ vang cho đơn vị.

Một năm sau, anh được thuyên chuyển bổ sung đại đội trưởng nòng cốt cho một tiểu đoàn bạn. Trong một cuộc hành quân tại Lâm Đồng, đại đội anh bị địch quân phục kích khi đang di chuyển bằng xe trên quốc lộ. Anh bị thương nhưng vẫn điều động đại đội phản phục kích, chuyển bại thành thắng. Tuy nhiên chiến thắng ấy chính anh phải trả giá, vết thương ở chân bị trở nên trầm trọng. Anh được tản thương về TYV Cộng Hòa để giải phẫu. Xuất viện, anh được thuyên chuyển về một đơn vị thuộc Vùng 4.

Sau đó, sư đoàn bổ sung cho đơn vị một vị đại đội trường khác, cũng xuất thân Khóa 16VB mà chúng tôi đã từng nghe danh và gặp gỡ trong các cuộc phối họp hành quân trước đó: Trung úy Huỳnh Bá Vạn. Anh về nắm đại đội của tôi.

Anh Vạn là người đã tạo nên nhiều huyền thoại (và giai thoại) trong đơn vị, mà tất cả anh em từ quan tới lính đều hết lòng thương yêu và kính nể. Anh là một trong những SVSQ Khóa 16 VB được chọn sang ngành Hải Quân. Nhưng sau một thời gian ngắn ở TTHL/HQ Nha Trang, anh đã xin ra Bộ binh để được đi chiến đấu. Anh đúng là một “chiến binh” thực thụ, luôn một lòng sống chết với anh em, dù ở chiến trường hay khi về thành phố. Anh chiến đấu thật hào hùng và sống hào sảng như một Lương Sơn Bạc. Thương yêu sĩ quan dưới quyền như các em út trong nhà. Đàn bà và rượu dường như không đủ làm anh say và luôn xem nhẹ hơn tình đồng đội. Khi uống rượu anh cũng bình tĩnh như lúc đánh giặc, chỉ cười, không nói, vậy mà chưa có tay nào trong đơn vị uống hơn anh và đánh đấm hơn anh.

Sau khi rời tiểu đoàn, anh về làm đại đội trưởng Trinh sát Sư Đoàn rồi ra nắm tiểu đoàn ở một trung đoàn khác của sư đoàn. Vài tháng sau lên làm trung đoàn phó, thăng cấp trung tá. Bị thương, anh được thuyên chuyển về TTHL Lam Sơn (Dục Mỹ).

 

Tháng 5 năm 1966, đang hành quân trong rừng núi Phú Yên, đơn vị tôi có lệnh kéo ra Quốc lộ, lên xe di chuyển đến phi trường Tuy Hòa để không vận lên Ban Mê Thuột, tăng phái cho Trung Đoàn 45 BB, tham dự cuộc hành quân Quảng Nhiêu, tiếp viện một tiểu đoàn BĐQ và một chi đoàn TQV bị VC phục kích.

Trước giờ xuất quân, đám sĩ quan chúng tôi ngồi uống rượu đế. Ông đại đội trưởng Huỳnh Bá Vạn của chúng tôi đi tìm và kéo về một người bạn đồng môn Khóa 16: Trung úy Nguyễn Tấn Mỹ. Trông anh thật đẹp trai và hào hiệp. Được biết anh là vị đại đội trưởng nổi tiếng nhất của Trung Đoàn 45 này. Cuộc rượu chưa tàn thì có lệnh xuất quân. Một giờ sau, cánh quân bạn đụng địch. Lực lượng đich khá hùng hậu, có nhiều ổ súng cộng đồng, bố trí trong các vườn cà phê với hầm hố kiên cố. Cánh quân đi đầu của ta phản công mãnh liệt, dưới sự điều động gan dạ liều lĩnh của người đại đội trưởng, đã nhanh chóng đè bẹp đối phương. Nghe trong hệ thống vô tuyến, nhiều địch quân bị giết và bắt sống, bỏ lại một số vũ khí có cả đại liên và súng cối 60 ly. Chiến thắng hào hùng ấy đã phải trả giá bằng chính sinh mạng của vị đại đội trưởng. Chúng tôi giật mình thảng thốt, khi biết vị sĩ quan ấy chính là Trung úy Nguyễn Tấn Mỹ, vừa mới gặp để chỉ kịp cạn nửa bi-đông rượu mà đã đem lòng kính mến, chúng tôi đã vĩnh viễn mất anh.  Đó là vị sĩ quan tốt nghiệp Khóa 16 VB đầu tiên mà tôi được quen biết, đã hy sinh. Nghe nói anh ra đi, cũng đã để lại rất nhiều nước mắt cho các mỹ nhân, nữ sinh Ban Mê Thuột.

Trận chiến Quảng Nhiêu kết thúc, đơn vị tôi di chuyển đến Lâm Đồng. Trong một cuộc hành quân phối hợp với một tiểu đoàn bạn, tôi lại được gặp Trung úy Điều Ngọc Chuy, cầm trên tay khẩu Carbine M.2 bá xếp, đang chỉ huy đơn vị lục soát, vội vàng chạy đến hướng dẫn đại đội tôi đi theo lộ trình tránh mìn bẫy của địch. Thấy anh bắt tay ông đại đội trưởng của tôi, thân mật mày tao, chúng tôi biết anh cùng Khóa 16. Anh Chuy rất vui vẻ hiền lành. Sau này anh lên trung tá, làm Trưởng Phòng Nhì Sư Đoàn. Trong vài lần ghé thăm trung đoàn tôi, khi bào huynh của anh đang làm trung đoàn trưởng (Đại Tá Điều Ngọc Chánh, Khóa 8 VB). Gặp chúng tôi, lúc nào anh cũng bình dị, hòa đồng, luôn nở nụ cười và xưng hô anh em thân thiện. Từ các vị Tư Lệnh đến tất cả sĩ quan các đơn vị, ai cũng mến mộ và kính nể anh.

Trong thời gian hành quân ở Ninh Hòa (Khánh Hòa), nhờ có ông đại đội trưởng Khóa 16VB, bọn sĩ quan chúng tôi được quen biết và “ăn có” uy danh và lòng hào hiệp của một ông quận trưởng tốt nghiệp Khóa 16VB: Trung úy Nguyễn Đằng Tống.  Lúc ấy, anh Tống có lẽ là một ông quan quận trẻ nhất nước, lại làm quận trưởng của một cái quận lớn nhất tỉnh Khánh Hòa:  quận Ninh Hòa.

Bọn tôi đi theo ông quận trưởng đến thăm các trường tiểu học, và trung học. Chẳng báo trước và cũng chẳng có tiền hô hậu ủng. Ông quận thì “thăm dân cho biết sự tình”, còn bọn tôi dựa hơi để tán mấy cô giáo trẻ. Ở vài trường, các cô thầy giáo không biết anh là quận trưởng, vì thấy anh còn quá trẻ, đặc biệt mặc quân phục TQLC, nên chẳng có ai biết cấp bậc của anh. Có người còn hỏi anh có phải là cảnh sát.  Anh cũng chỉ cười, không giới thiệu mình là ai.

Anh là cựu học sinh, huynh trưởng của tôi, ở trường Võ Tánh Nha Trang. Về sau chúng tôi rất hãnh diện biết anh là một tiểu đoàn trưởng, rồi lữ đoàn trưởng vang danh của TQLC. Rất đau đớn khi biết anh đã chết trong những ngày sa cơ khốn khó tại một trại tù ở Nghĩa Lộ. Khi ấy tôi cũng đang ở một trại tù khác trong vùng, nhưng không được biết tin và chào anh lấn cuối.

Trong một cuộc hành quân tại khu vực Bình Lâm (Phan Thiết), đơn vị tôi được đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn đến thị sát và ở lại với chúng tôi một đêm. Vị tư lệnh rất đặc biệt và nổi danh này là Đại tá Nhảy dù Trương Quang Ân (từng thủ khoa Khóa 7 VBĐL và nhiều khóa tham mưu khác trong và ngoài nước. Sau lên chuẩn tướng và  đã hy sinh cùng phu nhân khi chiếc trực thăng của ông bà bị bắn rơi ngay sau khi rời khỏi tiền đồn Đức Lập mà ông bà vừa ghé thăm, ủy lạo anh em binh sĩ và gia đình, vào tháng 8/68).

Ông là một vị tư lệnh rất mẫu mực, nghiêm khắc.  Khi nghe tôi trình bày về tình trạng quân số của đại đội, do tôi vừa mới tạm thời thay anh đại đội trưởng bị thương nằm bệnh viện, nên không nắm vững, Ông đã lớn tiếng khiển trách tôi về số binh sĩ bất khiển dụng và phục vụ ở hậu cứ. May mắn có một vị trung úy trẻ tháp tùng vị Tư Lệnh đã xin phép Ông, giúp tôi kiểm soát và cùng trình bày lại với vị Tư Lệnh sau khi Ông duyệt qua hệ thống phòng thủ. Vị trung úy luôn vui vẻ, tươi cười và khuyên tôi bình tĩnh, giúp tôi tính lại chính xác và giải thích các lý do bất khiển dụng của binh sĩ trong đại đội. Lần này được vị Tư Lệnh chấp nhận, hài lòng. Sau đó tôi được biết đó là Trung úy Nguyễn Xuân Thắng, tốt nghiệp Khóa 16 VB.  Sau này trở thành trưởng Phòng TQT của Sư Đoàn với cấp bậc Trung tá.

Cuối năm 1966, sau cuộc hành quân tại Di Linh, Lâm Đồng, tiểu đoàn tôi được di chuyển về giữ an ninh cho công trường Đập Đa Nhim. Riêng đại đội tôi được biệt phái cho Tiểu Khu Ninh Thuận. Đúng lúc ông trung úy đại đội trưởng đi phép đặc biệt, không có đại đội phó, tôi là sĩ quan trung đội trưởng thâm niên được chỉ định xử lý thường vụ.

Đại đội tôi có nhiệm vụ tùng thiết một chi đoàn TQV, phối hợp với Hải Quân, đổ bộ đột kích bất ngờ vào Sơn Hải,  ngôi làng hẻo lánh nằm ven biển, bị địch chiếm đóng từ ba tháng trước và đang tổ chức thành một sào huyệt kiên cố.

Đại đôi di chuyển đến Ninh Chữ, quê hương của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi bố trí quân xong, cho anh em binh sĩ luân phiên ra biển tắm rửa, nghỉ ngơi, tôi vào Duyên Đoàn 27 họp hành quân. Điều bất ngờ lý thú là anh Duyên đoàn trưởng, HQ Trung úy Hoàng Đình Thanh, lại là bạn cùng Khóa 16 VB với ông đại đội trưởng của tôi, cùng được chọn về Hải Quân khi còn ở trường Mẹ, nhưng anh đại đội trưởng của tôi đã xin ra Bộ Binh đánh giặc. Tôi bèn khoe danh tánh và thành tích ông đại đội trưởng của mình, nên “Commandant” Thanh xem bọn tôi như em út của chính anh. Lệnh cho duyên đoàn thết đãi và chăm sóc bọn tôi chu đáo. Sau khi họp hành, nhận bản đồ và đặc lệnh truyền tin xong, anh xách xe jeep chở bọn tôi lên thành phố Phan Rang chơi xả láng một đêm và cả một buổi sáng hôm sau. Ông duyên đoàn trưởng gốc Võ Bị Đà Lạt này chịu chơi còn hơn cả đám bộ binh đánh đấm nhà nghề bọn tôi. Tửu lượng của anh cũng thuộc hàng “sư phụ”. Và đây là lần đầu tiên tôi tham dự một cuộc hành quân do Hải quân chỉ huy.

Chúng tôi đã đánh một trận rất đẹp và chiến thắng vẻ vang. Từ ấy, anh Thanh xem tôi như là em và chúng tôi thỉnh thoảng vẫn liên lạc với nhau trước ngày mất nước. Năm 1974, trong thơi gian theo học một khóa tham mưu tại Long Bình, tôi gặp lại anh. Lúc ấy anh là trung tá đang làm việc tại BTL/HQ. Anh em cũng đã say một buổi. Sau này biết tin anh mất ở Hoa Kỳ.

Một vài lần, dẫn đơn vị về thụ huấn bổ túc tại TTHL/ QG Lam Sơn (tại Huấn Khu Dục Mỹ), chúng tôi được gặp một vị thiếu tá trẻ, Trưởng Khối Huấn Luyện, đẹp trai, tướng tá oai phong nhưng rất vui vẻ hiền lành, đã tận tình hướng dẫn và giúp đơn vị chúng tôi trong suốt thời gian huấn luyện. Vị sĩ quan này đã để lại trong lòng tất cả sĩ quan và binh sĩ đơn vị tôi sự kính trọng và quí mến. Đó là Thiếu tá Trần Khắc Thuyên, tốt nghiệp Khóa 16 VB. Sau này anh được thuyên chuyển về Sư Đoàn 21 BB, và sau cùng về một TTHL/ QG khác để giữ chức vụ quan trọng hơn. Khi ra hải ngoại tôi được biết anh luôn gắn bó với Trường Mẹ, với đồng môn, hết lòng gầy dựng Tổng Hội Cựu SVSQ /VB.

Năm 1970, (lúc này tôi đã được điều về BCH Trung Đoàn), một sĩ quan từ Sư Đoàn 22BB  chuyển về giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4/44: Đại úy Võ Anh Tài. Có lẽ anh là một trong số rất ít sĩ quan tốt nghiệp Khóa 16 VB có quá nhiều lận đận, trong tình trường cũng như trên chiến trường. Anh là người cùng quê Ninh Hòa với bà xã tôi, và khi ở trong cư xá sĩ quan. chúng tôi ở sát vách nhau.  Dường như chính những nỗi niểm đặc biệt trong tình yêu, hôn nhân, và chứng tâm bệnh kỳ lạ của một đứa con, đã làm cho anh trở nên khắc khổ, trầm lặng, nghiêm nghị, ít nói. Rất khó để tìm được ở anh một nụ cười, hay một lời đùa giỡn. Khá thân nên anh thường rủ tôi sang uống bia, sau các cuộc hành quân trở về. Anh uống khá nhiều, đôi mắt đỏ hoe, nhưng chỉ trầm ngâm, họa hoằn lắm anh mới thốt ra vài tiếng, rất nhỏ nhẹ thân tình. Hiểu và thương quí anh, nhưng thực tình, tôi rất ngại và không mấy hứng thú khi được anh gọi sang uống rượu. Vì tửu nhập mà ngôn không thể xuất.

Nhưng dường như ở bất cứ một vị sĩ quan tốt nghiệp từ Khóa 16 VB nào cũng có nhiều điều làm tôi nể phục. Anh làm tiểu đoàn trưởng cùng với ba anh tiểu đoàn trưởng khác đều là đàn em của anh: Đặng Trung Đức, Nguyễn Xuân Phán (khóa 19) và Hồ Đắc Tùng (khóa 20).  Đặc biệt hơn, vị trung đoàn phó (và sau này là trung đoàn trưởng) cũng là một đàn em Võ Bị của anh: Trung tá Ngô Văn Xuân (Khóa 17).

Vậy mà trong các sinh hoạt, qua các buổi hội họp, hành quân, tôi thấy anh luôn nhường nhịn, “tương kính” đàn em. Các vị đàn em, dù có người là cấp chỉ huy của anh, ai cũng kính trọng anh trong tình thần đệ huynh Võ Bị. Tôi rất khâm phục.

Mùa hè 1972, Trung Đoàn 44 BB chúng tôi tạo một chiến thắng lẫy lừng và giữ vững được Kontum trước sự tấn công của Sư Đoàn Điện Biên 320 CS. Anh Tài được thắng cấp thiếu tá tại mặt trận cùng 3 vị tiểu đoàn trưởng đàn em. Và cấp chỉ huy của anh, một đàn em khóa 17 được thăng cấp trung tá.  Tôi được uống rượu “rửa lon” cùng bốn anh tiểu đoàn trưởng trong một buổi trưa tạm im tiếng súng. Sau khi cụng ly vui vẻ với đàn em, anh tỏ ra bực dọc về việc Mỹ bỏ rơi đồng minh Việt Nam, chúng tôi phải chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn đủ mọi phương tiện. Bỗng anh nở một nụ cười (hiếm hoi) rồi thốt lên: “Mai mốt tao bị thương hay chết chẳng biết có trực thăng đưa tao ra khỏi Kontum này hay không nữa?”

Không ngờ câu nói ấy lại trở thành điềm gỡ. Chỉ hai hôm sau, khi CSBV đưa chiến xa T54 tấn công chiếm Bệnh viện 2 Dã chiến, nằm sát hàng rào phòng thủ của thành Dak Pha, đang được xử dụng làm BCH Trung Đoàn. Tiểu Đoàn 4/44 được lệnh mở đường sang tái chiếm. Hỏa lực địch quá mạnh, anh Tài phải cho cắt hàng rào kẻm gai phòng thủ, rồi đích thân dẫn đầu toán thám báo chui qua vùng địch chiếm. Một quả mìn phòng thủ của ta phát nổ làm bay mất cả hai chân của anh. Được binh sĩ khiêng ra phía sau. Trong khi chờ phi cơ tản thương, anh rất tỉnh táo, hé mở mắt nhìn anh em, từng người, với thói quen im lặng không nói một lời gì. Nhưng tôi nhìn thấy dòng nước mắt vừa ứa ra trên mí mắt anh. Một trung úy đại đội trưởng là em ruột của anh, được phép tháp tùng đưa anh về QYV Pleiku. Nhưng khi trực thăng cất cánh được khoảng 15 phút, qua hệ thống vô tuyến, người em báo cho chúng tôi biết là anh Võ Anh Tài đã trút hơi thở cuối cùng.

 

Đầu tháng 3 năm 1972, Trung Đoàn 44BB có lệnh di chuyển từ bản doanh Lý Thường Kiệt Sông Mao ( Bình Thuận) lên  An Khê để thay thế vị trí của một Lữ Đoàn thuộc SĐ 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước.  Trong các cuôc hành quân trực thăng vận vào các khu vực Đèo Mang Yang và các mật khu nằm phía bắc An Túc, tôi có vài dịp cùng bay trên C&C đổ quân với trung tá Vĩnh Quốc, Phi Đoàn trưởng Phi Đoàn Sơn Dương 235 (Pleiku). Ông xuất thân Khóa 16 VB.  Trung tá Vĩnh Quốc là vị phi đoàn trưởng rất cẩn trọng, bình tĩnh, trong tình huống nào cũng quan tâm đến sinh mạng , không những của phi hành đoàn , mà cả các binh sĩ bộ binh. Ông điều động các gunship dọn bãi đáp và cover thật kỹ, trước khi cho các trực thăng (slick) đáp xuống đổ quân. Vài trường hợp bộ binh vừa xuống đất thì chạm địch, ông luôn túc trực trên trời để hổ trợ. Sau này tôi gặp lại ông vài lần tại Kontum. Phi Đoàn Sơn Dương 235 của ông đã ròng rã sống chết với những người lính bộ binh chúng tôi trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa.

 

Sau ngày mất nước, trong lúc sa cơ tù tội, tôi được “biên chế” về một đội tù mà anh đội trưởng là một “ông thầy Khóa 16” nổi danh trên chiến trường Vùng I: Trung tá Nguyễn Phú Thọ. Anh cũng là bào đệ của Á khoa khóa 16, sau này là vị lữ đoàn trưởng lừng danh của TQLC: Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc.

Trong đội tù, anh là người có cập bậc cao nhất. Dường như đó là thủ đoạn của đám VC, nhằm tạo sự ngờ vực lẫn nhau. Dù bắt buộc phải làm, nhưng anh là người đội trưởng rất tư cách, khí khái, luôn tìm cách bảo vệ, giúp đỡ em út tận tình, chấp nhận mọi hình phạt của bọn cai tù. Ở trong tù, nhưng anh đã xem “đội tù” như là đơn vị cũ của mình, hết lòng thương mến đùm bọc, chở che em út. Ngày tôi được chuyển trại vào Nam, trong lúc chia tay, anh đưa cho tôi lá thư nhờ chuyển về một địa chỉ ở Sài gòn. Anh kể cho tôi nghe giai thoại giữa anh và người nhận thư. Sau khi ra tù, tôi có ghé lại thăm người bạn quí ấy của anh và nghe những lời ca tụng về anh với sụt sùi hai dòng nước mắt. Sau này biết anh trốn trại và vượt biên sang Canada. Tôi mừng lắm, liên lạc hỏi thăm anh. Rồi một hôm khi vừa đến Cali thăm mấy đứa con, tôi được tin anh Nguyễn Phú Thọ đã ra đi một cách chẳng ai ngờ, cũng trong một buổi họp bạn Khóa 16 ở Nam Cali. Tôi ân hận là đã đến trễ hơn hai tuần để không được gặp lại anh, tiễn đưa anh về cõi vĩnh hằng.

***

Những khuôn mặt Khóa 16 VB mà tôi đã được vinh dự làm việc dưới quyền hay quen biết ấy đã cho tôi một cái nhìn thật chính xác và toàn diện về các vị sĩ quan tốt nghiệp từ Khóa 16VB. Bất cứ ở cương vị nào, quân binh chủng nào, từ tác chiến đến tham mưu, từ những vị thành công hay thất bại trong thăng tiến, và ngay cả trong hoàn cảnh tù đày nghiệt ngã nhất, cũng đều tỏ ra rất xứng đáng để được ngợi ca, nể trọng.

Trong buổi họp mặt, một vị đàn em Khóa 18 rất nổi danh: Trung Tá Trần Ngọc Huế, người từng được báo chí Mỹ ca tụng là một anh hùng, được mời lên nói vài lời tâm tình. Với một giọng rất xúc động, ông nói:

“Tôi đã được người Mỹ gọi là một anh hùng, một “real hero”, nhưng điều đó không làm tôi hãnh diện hơn là đã được làm đàn em, được trực tiếp dạy dỗ bởi các niên trưởng Khóa 16VB. Một khóa đã đào tạo rất nhiều anh hùng cho QLVNCH. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi luôn ngưỡng mộ và hãnh diện về các Niên Trưởng của tôi”.

Điều đau lòng là miền Nam Việt Nam vô cùng bất hạnh và chúng ta đã tham dự một cuộc chiến quá bất công, để chính nghĩa không thắng được bạo tàn, chí nhân đã phải thua cường bạo. Bao đấng anh hùng Khóa 16 đã phải đành vất cung bẻ kiếm trong đớn đau uất hận. “Ôi! sự nghiệp đang công đeo đuổi thôi đành gián đoạn nửa đường. Chí tang bồng hằng mong thực hiện thôi cũng đành ôm hận ngàn thu”, nhưng tất cả thực sự đã không phụ lòng kỳ vọng của vị chỉ huy trưởng và vị nguyên thủ quốc gia, đã làm rạng danh cho ngôi trường Mẹ, Trường VBQGVN, cùng QLVNCH.

Dân tộc ngày một tan tác điêu linh, đất nước ngày một lâm nguy trong tay của bọn người chiến thắng man rợ, sẵn sàng bán nước cầu vinh. Nhất định có lúc, dân tộc Việt nam sẽ viết lại bản anh hùng ca dành cho những người chiến binh can trường bị bại trận oan khiên tức tưởi năm xưa.

Phạm Tín An Ninh

Advertisements

tâm khúc

 

 

thuở áo thu vàng

thuở áo thu vàng chưa gối mộng
phố xưa đã vắng nụ cười hiền
bến xưa đã vắng con đò nhỏ
chênh chếch đường khuya trăng vô biên

 tưởng đâu…

tưởng đâu là mộng hồn nhiên
vô tư đậu xuống một miền cỏ hoa
té ra là cõi ta bà
lung linh chỉ một sát na hiện tồn

tìm lá diêu bông

(tưởng nhớ nhà thơ HC)

lắng nghe
một tiếng gà trưa
buồn
như cái thuở
chị chưa lấy chồng
làm gì có
lá diêu bông
một đời em
đã cất công đi tìm
đồng chiều
đã nát con tim
lá ơi là lá
trôn kim gãy rồi

 mưa nắng giữa đời

 chỉ là một chút trời xanh
chỉ là câu hát dỗ dành, à ơi
chung chiêng mưa nắng giữa đời
buồn vui gửi lại ở nơi giang đầu

có một đời sông

nẻo buồn khép bóng tà dương
một đời sông cũng đã tường biển dâu
rưng rưng nước chảy qua cầu
chợt nghe sương khói ngàn sau tìm về


NP phan

Hạt Tai Ương,

 

Chào ngày mặt đất
Chào đêm miên trường
Cứu đàn khất thực
Hình nhục cố hương

Ở cuối con đường
Là một tha phương
Một chân trời mục
Một nhánh rong buồn

Chào ngày đã mất
Chào đêm vãn tuồng
Trong vòng trời đất
Một con dế con

Mơ về giữa chợ
Gáy trút hơi tàn
Dư âm tiếng thở
Rền rĩ dế than

Chào ngày tan hoang
Cõi buồn muôn thuở
Chào đóa đại ngàn
Nở chiều tắt thở

Chào ngày đến trễ
Một hạt tai ương
Gieo vườn hoang phế
Thành chiều thê lương

Một hạt nhiễu nhương
Trôi về tứ phương
Nở thành tang tóc
Một đóa vô thường..

hòa nguyễn

NỢ NGƯỜI….. NAM PHƯƠNG!

           “ Hòa bình ơi! Hòa bình ơi! Bao giờ mi mới trở lại cho thôn quê miền Nam lấy lại vẻ mặt vui tươi, niềm nở của một dân tộc hiền hòa, hiếu khách; coi tiền tài như phấn thổ, nhơn nghĩa tự thiên kim! Miền thôn quê yêu dấu, trãi qua bao cơn biến đổi tang thương vẫn gìn giữ nguyên vẹn kho tàng đạo nghĩa của một dân tộc hết sức hiền lành; nhưng có một tinh thần thượng võ, ý chí  bất khuất , bền gan chiến đấu làm kinh tâm cả Thế giới”

  Gò Công_ Xưa và nay  ( Huỳnh  Minh)/1968                                                                                           

 

Tôi về Gò Công vào những ngày đầu mùa mưa. Tháng năm mang đến những cơn mưa chiều nặng hạt và cả Sài Gòn như thể được gột rửa_ sáng láng và tươi tỉnh hơn trong việc sửa soạn cho một ngày lao lực thường nhật. Tầm khoảng 7h 30 sáng, Quốc lộ 50 cắt ngang đại lộ Nguyễn văn Linh đông nghẹt những người. Con đường hẹp, không tốt cho lắm. Sự chen chúc làm bắn lên những mảng nước bẩn đọng lại từ các ổ gà. Những biển quảng cáo, quán hàng hai bên đường náo động.  Những màu sắc hỗn mang. Tiếng càu nhàu , chửi đổng xen lẫn tiếng động cơ xe máy, xe hơi.. …Dù  đã suy hao một phần áp lực từ trận mưa đêm hôm trước, Sài Gòn vẫn với những đặc trưng của nó tham lam lấn mãi ra tận vùng ngoại vi trong một sự cưỡng chế ưu thắng . Trong tầm mắt  tôi, không gian bên thất thủ cứ lùi dần, lùi dần…. xa ngút phía sau dòng xe cộ nườm nượp chuyển động. Tự dưng con người cảm thấy ngợp và mong mỏi một khoảng khí trời. …

Theo quốc lộ 50, qua cầu Ông Thìn bắc ngang sông Cần Giuộc đi thêm một đoạn nữa bước qua địa giới  tỉnh Long An.  Nằm nép bên trái dãy nhà quản lý khu công nghiệp Tân Kim,  là di tích lịch sử Đình Chánh , Tân Kim. Nơi đây có mộ và điền thờ Tiền hiền Mai Văn Giã, thủy tổ mai tộc xã Tân kim. Ông nguyên quán ở thôn An Quới, huyện Phù Ly, Phủ Quy Nhơn ( nay là xã An Quới, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) . Cuối thế kỷ  XVII, ông theo dòng người Nam tiến từ miền Trung vào khai khẩn đất hoang tại khu vực ngã ba Rạch Cát Hạ ( nay là ấp Tân Phước, xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc). Từ đó, lưu dân quy tụ ngày một đông, ra công khai khẩn biến rừng hoang thành ruộng đồng trù phú như ngày  nay. Đình được thành lập vào năm 1860 để thờ ông  và được phục dựng vào năm 2002.

Từ Bình Định vào đây khai phá

Bao gian lao vất vả chi sờn

Tân Kim là đất dừng chơn

Đời đời con cháu ghi ơn kính thờ

 

Tôi có hỏi ông Từ giữ đền về tính nguyên trạng của di tích, thì ông bảo vẫn còn y như cũ, chỉ mới xây thêm phần phía sau điện thờ. Nhưng thoáng nhìn quanh , tôi có cảm nhận có cái gì đó không được ổn . Có thể là do sự áy náy  về một định dạng quá tân thời đang tạo áp lực cho  một khối thời gian đang cần bảo tồn một cách nguyên bản, tối thiểu hóa sự xáo trộn ….và ở đây, sự phục dựng không chuyên nghiệp đã lấy đi phần hồn của một nguyên tác  đã thách thức thời gian đến gần hai thế kỷ, sau bao biến cố.

 

 

Di tích đình chánh Tân Kim _ Tân Kim/Long an ( Ảnh tác giá)

      Huyện Cần Giuộc còn hai di tích đáng lưu ý  nữa là công viên Nguyễn Thái Bình và tượng đài Nghĩa sĩ Cần Giuộc. Công viên tượng đài liệt sĩ Nguyễn Thái Bình tọa lạc tại ngã ba giữa quốc lộ 50 và đường tránh trị trấn Trí Yên. Công viên có quy mô không lớn nhưng kiến trúc khá đẹp. Nền được lát đá hoa sạch sẽ, phía trên có tượng đài người sinh viên trẻ tay cầm sách, đứng vươn trên đám lá dừa nước, mặt hướng về phía Bắc, phía thành phố. Nguyễn Thái Bình sinh ngày 14-01-1948,  tại xã Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long an. Ông là sinh viên du học tại trường cao đẳng Fresno ( California), tham gia phong trào sinh viên phản đối cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ông bị bắn ngày 02/07/1972,  trên chiếc  Boeing 747 của hãng Pan America, tại phi trường  Tân Sơn Nhất, với  việc khống chế tổ lái_  đòi đáp máy bay xuống sân bay Hà Nội.

Nằm ngay giữa trung tâm hành chánh của thị trấn, Tượng đài nghĩa sĩ Cần Giuộc bằng đá hoa cương mô tả một nhóm người nông dân tay nắm những thứ vũ khí thô sơ như liềm, phảng….trong tư thế xốc tới mạnh mẽ. Hình ảnh gợi lại cuộc tập kích ngày 16/02/1861 của nông dân Cần Giuộc  dưới sự chỉ huy của Thống binh Bùi Quang Là và Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định vào một đồn lính Pháp. Cuộc tập kích bất thành, do quân Pháp được viên trợ kịp thời. Nghĩa quân rút lui để bảo toàn lực lượng và bị thiệt hại khoảng vài trăm người  . Sự hy sinh kể trên tạo cảm hứng cho nhà nho yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) viết nên bài văn Tế bi hùng, được xem như một trong những áng văn chương tiêu biểu cho phong trào chống Pháp nhân dân Nam bộ vào những ngày đầu tiên nước Việt ghánh chịu thảm họa xâm lăng. Trong góc nhìn hiện đại hơn , bài văn Văn Tế Nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861) đã nêu lên nguyên nhân sâu xa của một cuộc chiến được nhen nhúm, âm ỉ lắm lúc tưởng chừng đã tắt và rồi bùng lên, kéo dài trong suốt 117 năm ( 1858-1975) ở miệt Nam bộ.

Cũng là dân chú trọng lịch sử, một lần trong buổi tham quan khu bảo tàng chứng tích chiến tranh ( War Remnants Museum), tôi có làm quen với một du khách Úc ( Australia) đứng tuổi. Tôi có hỏi ông ta về nghĩ sao về nguồn gốc của cuộc chiến mà đất nước ông ta đã từng gửi quân tham gia, với tư cách là một đồng minh. Sau bốn mươi năm ngày im tiếng súng, ông ta trả lời rất ngắn gọn “_ Mọi thứ bắt đầu từ người Pháp”. Tôi nói “ Ông đúng!”…..

Trở lại với bài văn Tế của Nguyễn đình Chiểu

“   … Nhớ linh xưa

Côi cút làm ăn

Riêng lo nghèo khổ

Chưa quen cung ngựa, đưa tới trường nhung

Chỉ biết ruộng trâu ở theo làng hộ;

……

Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, ở dòng lính diễn binh;

Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

……..

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân

Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ….”

….

Tôi mất một thời gian khá lâu, đứng trước ngân hàng Vietcombank, ngóng qua tượng đài  nhưng người nông dân chân đất với lòng ngùi ngùi.

***

Quốc lộ 50 được biết như ngày xưa, chỉ là tỉnh lộ lót đá dăm và khá hẹp, nhưng là con đường huyết mạch từ Gia Định đi về Gò Công, Chợ Gạo, Mỹ Tho, Bến Tre … Thời thực dân và trước nữa, nó đã hiện diện nhưng với quy mô nhỏ và sơ sài hơn. Cái tên phổ thông là đường ngựa trạm bắt nguồn từ việc chuyển công văn, thư từ …từ những nơi trú đóng xa xôi của những đồn binh địa phương tới các thành lũy trung ương thời Chúa Nguyễn . Những trạm dừng chân, thay ngựa cho những người phu trạm  được rãi dọc theo con đường  và  địa danh Chợ Trạm còn được gọi ở hiện tại , cũng nhắc cho ta về một thời xưa cũ vang bóng.  Từ Ngã tư đến cầu chợ Trạm, Cần Đước ,Long An là quãng đường khoảng  nửa cây số nhà cửa san sát, chợ búa tấp nập. Đủ loại hải sản vùng sông nước như cá lóc, cá tra, cá rô. Trái cây cũng góp phần tô thêm sắc màu cho khu chợ quê sặc sỡ hẳn lên. Màu vàng của đu đủ, chuối, khóm. Mùi thơm của mít, sầu riêng đa dạng hóa khứu giác. Những tủ kính trưng bày những chiếc điện thoại bằng bàn tay đủ màu sắc, sáng ánh kền đủ các hãng Sam sung, Oppo, Apple, Philips…như sự mỉa mai của thời đại, quấy rối suy nghĩ của tôi về hình ảnh của những người lính trạm trú đóng nơi này cách đây đã vài thế kỷ. Với một khí cụ thông tin be bé như vậy, ngày nay người ta có thể bắt liên lạc được với cả Hà Nội, Sài gòn hoặc một thành phố nào đó trên thế giới Paris, New York, Moscow….Không gian dường như không là vấn đề. Nhưng bất khả thi là vấn đề thời gian. Khoa học bị chặn lại….. Óc tưởng tượng, kiến thức, những chùm rễ liên kết manh động được phát huy. Thực ra trong khung ảnh hiện tại, cũng khó mà hình dung khuôn hình nhòa nhạt của những người lính thú ngày xưa và cuộc sống sinh hoạt chắc cũng khá hẩm hiu của họ , dù trong một khoảng khắc ngắn ngủi.  Những câu thơ tôi thuộc nằm lòng, lúc đi học, còn văng vẳng bên tai

Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu , vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

Và…..Thời gian qua lâu lắm rồi, người lính thú ơi!

Qua cầu, tôi có gặp một ông lão tóc bạc, đang gò lưng trên chiếc xe đạp: _ Đường này về Gò Công hả Bác?

_ Ừ thẳng đường, tới một ngã Ba rẽ trái. Hỏi người ta là biết!. Ông trả lời. Không hiểu ở lứa tuổi đó, sao giọng người còn trong và êm như ca một câu vọng cổ.

***

Gò Công theo tiếng Khmer Aih Amrak ( Con công), nơi này nguyên sơ là vùng đồi núi có nhiều chim công ( Wikipedia). Phía đông giáp huyện Gò công Đông. Phía Tây giáp huyện Gò công Tây. Phía Nam giáp hai huyện này. Bắc giáp Long An.  Thị xã có diện tích vào khoảng 102.358 km2. Dân số: 107.600 người. Một thị xã nhỏ , dân số khá khiêm tốn, nhưng lại có một bề dày lịch sử đáng nể và những danh nhân Việt đứng song hành tiêu biểu cho từng thời kỳ, làm mảnh đất này chừng như không phai mờ được trong dòng lịch sử cận đại đến tận gần đây. Khởi nguồn từ những lưu dân từ vùng Thuận Hóa, Quãng Ngãi theo cuộc nam tiến của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh ( 1650-1700) vào khai khẩn đất đai, cộng với một số người Hoa tị nạn trong phong trào “Bài Thanh, Phục Minh” ( thế kỷ 17) sống một cách rãi rác. Đến năm 1862, Gò Công đã có những công trình xây cất vững chắc và sự quy hoạch đô thị sơ khởi. Là một trong những vùng đất bị người Pháp xâm chiếm đầu tiên và áp đặt quyền cai trị. Hiện tại thị xã còn lưu giữ rất nhiều công trình kiến trúc thời phong kiến và Thuộc Pháp rất độc đáo.  Bên cạnh đó Gò Công còn là tâm điểm cho những tấm gương quật khởi Võ Tánh, Trương  Định….., những văn thi nhân, nghệ sĩ tài hoa của đất nước : Hồ Biểu Chánh, , Hoàng Phương…., những người phụ nữ tài sắc, thuần hậu với một tâm hồn Việt như Thái hậu Từ Dũ, Nam Phương ….

 

Tôi đứng trước cửa ngõ vào Gò Công_ Sông Vàm Cỏ.  Sông Vàm cỏ_ tài liệu của Pháp gọi là Vaico. Vaico bắt nguồn từ tiếng Khmer ”Piăm Vaico” nghĩa là Vàm (Pi ăm) ,đánh/lùa ( Vai); bò (co). Điều này cho thấy sông Vàm cỏ Đông và Vàm cỏ Tây chính là con đường lùa bò ngày xưa của người Khmer. Sông Vàm Cỏ là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Tiền Giang và Long An. Sông chảy theo hình W, dài khoảng 35,5 cây số có đến ba tên gọi. Đoạn Vàm cỏ Đông hợp nhất với Vàm cỏ Tây cho đến khúc sông Tra, được gọi là sông Hương Xá. Đoạn chảy qua khúc phà Mỹ Lợi hay cầu Mỹ Lợi ngày nay, gọi sông Vàm Cỏ. Phía hạ lưu đổ ra sông Soài Rạp chảy ra biển, ngược lên , còn được gọi là Vàm Bao Ngược. Dân sông nước Nam Bộ thường nói _ Thứ nhất Vàm Nao , thứ nhì Bao Ngược , để nói lên tính thất thường và  nguy hiểm của đoạn sông này. Do Vàm là danh  từ dùng để chỉ nơi những nhánh sông hợp nhất lại thành một nên dòng chảy  thường xiết, nước xoáy và sâu. Ngày thường đã thế, khi thời tiết trở trời sóng to, gió cả trở thành mối đe dọa tiềm tàng cho những phương tiện đường thủy, nhất là những phương tiện thô sơ ngày trước nhe ghe bầu, xuồng , xáng….

      Cầu Mỹ Lợi Km 33+650, vừa mới hoàn thành  và đưa vào sử dụng vào năm 2015.  Cầu  có chiều dài toàn tuyến khoảng 2.691 met, phần cầu chính 1.422 met ( nguồn Wiki), nối liền Gò Công với  Cần Đước trên quốc lộ 50. Chiếc cầu rút ngắn khoảng cách từ Sài Gòn đi Gò Công ( trước kia phải đi phà), là cái gạch nối quan trọng cho thị xã không chỉ trên lĩnh vực giao thông, mà còn ở nhiều mặt khác như kinh tế, văn hóa, du lịch …với Sài Gòn và các tỉnh thành phía Bắc. Trong nhận định khách quan , có thể nói tương lai của vùng đất trước mặt phụ thuộc rất nhiều ở chiếc cầu này.

Tôi đứng trên cầu Mỹ Lợi ngó xuống Bến phà cũ ngày xưa. Con sông Vàm Cỏ mênh mang với mặt nước đùng đục màu phù sa. Những con tàu kéo và xà lan như những chấm nhỏ  ì ạch rẽ nước, để lại phía sau những hai làn sóng dài, thật lâu mới tan. Những đám lục bình gấp gáp trong con nước với sự vô định.  Hướng lên thượng lưu, ngút tầm mắt một viền xanh lờ mờ của cây cối chạy dài như sự chuyển động tiệm tiến của bầu trời trời xuống mặt đất.  Trước mặt, chếch phía Gò Công một bình nguyên  với thảm thực vật xanh ngắt mở ra, tít tắp phía xa có thể nhìn thấy dăm ngọn núi ẩn hiện  bên Vũng Tàu.. Nghe bảo ngày trước, tất cả các phương tiện giao thông đều phải phụ thuộc vào Bắc Mỹ Lợi, gây khá nhiều trở ngại , tốn thời gian và  nhiều nguy hiểm…..

Qua dốc cầu, tôi vẫn còn loang quanh với suy nghĩ . Rồi đây những thế hệ sau chắc sẽ không còn nghe câu hò thảm của những  góa phụ ven sông, trong ánh chiều nhập nhoạng.

Anh đi ghe gạo Gò Công
Về qua Bao Ngược bị dông rách buồm
Thuyền anh cao nhưng sóng cả nhận chìm
Em trông sông bao nhiêu khúc, nỗi niềm ruột đau…

`Vàm bao ngược_ Mỹ lợi/ Gò Công ( Ảnh tác giả)

 

***

Trên con đường đến cầu Sơn Quy để vào Gò Công, tôi có đi qua làng làm tủ thờ Gò Công. Hai bên đường là những gian trưng bày những chiếc tủ thờ được chạm trổ rất công phu và tinh tế.

Tủ thờ Gò Công, xa lông Sông Bé

Chắc ai ai miệt Nam bộ này cũng đều biết tiếng……Bụng định ghé vào tham quan, nhưng thấy đường còn dài, lại thôi. Hẹn một cơ hội khác.

Chợ  Tân Trung là ngôi chợ nhỏ nép bên quốc lộ 50.  Cô gái khoảng hai mấy, đon đả chào: “_ Bánh Tét chuối Gò Công đi anh. Bánh mới nấu hồi sáng ngon lắm!” . Bụng đã đói, nhưng tôi giả tảng _” Có bánh giá thì mua, không ăn bánh tét đâu!” . Một chị sồn sồn  bán trái cây bên cạnh , vọng qua “_  Bánh giá tuốt trên Hòa Đồng chớ dưới này đâu có. Mà bánh tét cũng ngon lắm!” Tôi thêm _” Bánh giá có ca dao, bánh tét đâu có ca dao”  Người đàn bà ngẩn ra, rồi như chợt nhớ  “ _ Có…có chớ….tối nay nó về  nó làm….Mua cho nó mấy đòn đi anh”.  Hai người đàn bà quay người lại, cười ngất. Tôi cũng không nhịn được cười. Phải công nhận dân xứ Gò cũng khá hài hước và có duyên. Tôi mua hai đòn, treo lung lẳng ở đầu xe.

Bánh tét khá ngon, đáng đồng tiền. Nếp déo, mềm không pha gạo lợn cợn, cũng không dính nháp vào chân răng. Nhân quả chuối đỏ thẩm, tạo nên một sắc tương phản trên nền xanh lá  khá đẹp. Nhân ngọt đậm, lớp thịt bánh láng lẫy, chút vị mằn mặn thoang thoáng. Chỉ như hơi gió biển….trên đầu lưỡi….

Lăng Hoàng Gia nằm trong một con đường nhỏ cùng tên, nếu không để ý, dễ chạy luộc qua. Tôi cũng vậy. Phải lộn trở lại sau khi hỏi thăm đường. Lăng nằm sâu trong con hẻm, cách lộ khoảng 50m. Từ bên ngoài nhìn vào, cũng khó đoán được quy mô của nó nhưng bước vào trong mới nhận thấy khá rộng. Lăng được xây trên một địa thế cao ráo, được gọi là Giồng Sơn qui ( có nghĩa gò đất hình mai rùa). Một hồ cá bên trái , có lầu bát giác thưởng ngoạn. Mặt nước trơ lạnh, không thấy bông sen, bông súng gì. Cây cối không mang vẻ nguyên sơ, cổ thụ ,có lẽ tuổi đời trẻ hơn nhiều so với  cái di tích mà quần thể thực vật ở đây được tạo ra để tôn vinh.  Nhưng để bù vào những khiếm thuyết , màu xanh của đám cỏ mọc tràn lan, ướt sương sau cơn mưa và vòm tối do những tán cây tạo thành  cũng tạo được một cảm nhận nể nang cho những kẻ hậu sinh trước cái mình sắp phải đối diện.. Lần cổng thứ hai kiến trúc giống kiểu thành quách phong kiến nhưng kích thước khá khiêm tốn. Hai cánh cổng gỗ màu đen được chạm trổ khá công phu đầy họa tiết sinh động. Một con đường lát gạch dẫn vào nơi điện thờ. Bên trong điện thờ chia làm năm gian rõ rệt.

Bên trái có dòng chữ quốc ngữ_ Thành Thái quơn ( ngươn) niên / Kỷ sửu kiến tạo 1888

Chính giữa_  Đức quốc công từ.

Bên phải là dòng chữ: _ Khải Định lục niên/ Tân dậu trùng tu 1921.

Hai hàng câu đối bằng chữ Hán nơi gian chính  nơi có lối đi vào. Không gian thấp, tối, chật hẹp  với  những bài vị bằng tiếng Hán_ Nôm được đặt trên năm hương án ( Ngũ Đại) chia đều hai bên. Trên tường treo đầy những bài biểu bằng chữ quốc ngữ, nói về thanh thế và công lao của người được thờ tự. Khói nhang nghi ngút và hàng cột gỗ lim màu đen , thâm trầm làm lắng tụ những xáo động đời thường, khiến lòng người trong phút chốc bị lôi cuốn vào tâm niệm hoài cổ, nguồn cội…..

Lăng thờ Đức Quốc Công- Lễ Bộ thượng Thư_ Phạm Đăng Hưng. Ông sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy , thôn Tân Niên Đông, xã Định tường, huyện Kiến Hòa. Ông là cha ruột của Thái Hậu Từ Dũ ( vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức , nổi tiếng về lòng nhân hậu và dưỡng nhục, nhà hộ sinh tại Sài Gòn mang tên bà vẫn còn hoạt động đến ngày nay). Năm 1796 ông thi đỗ Tam Trường, được Chúa Nguyễn Phúc Ánh bổ dụng làm Lễ sinh ở phủ, sung Cống sĩ viện, rồi thăng Tham luận. Năm 1813, ông giữ chức Thượng Thư bộ lễ. Năm 1821, được sung làm phó tổng tài của Quốc Sử quán. Ông nổi tiếng là một hiền nhân và là một trung thần nhà Nguyễn.

Khu lăng mộ Hoàng gia _ Gò Công ( Ảnh tác giá)

Khuôn viên khu mộ khá rộng và bề thế. Dù đã đọc nhiều bài viết về những sai sót của việc trùng tu nhưng nó cũng tạo được một phần hồn cho cái nhìn của khách thập phương về một thời đại vàng son đã khuất bóng. Hai tấm bia đá được dựng hai bên, náu dưới mái hai kim tĩnh và những dòng chữ đã nhòa nhạt vì thời gian. Tấm bia bên trái ( hướng người viếng) có khắc hình cây thập giá  và một vài dòng chữ Pháp loáng thoáng. Nghe đồn đây là tấm bia của triều đình Huế ban tặng cho ngài, nhưng đã bị Pháp lấy, làm tấm bia cho đại úy Barbé  (Viên sĩ quan Pháp tử trận trong một cuộc phục kích của nghĩa quân Trương Định). Một sự lưu lạc kéo dài gần cả hai thế kỷ,  sau đó mới tìm lại được chủ nhân dích thực của mình. Mộ xây theo hình cánh dơi. Ba cung tròn ngoại tiếp trong một tam giác cân. Nền móng phía ngoài lát gạch tàu, phía trong không biết vật liệu gì nhưng cảm thấy khá chắc chắn. Họa tiết trang trí quá tỉ mỉ nhưng cũng quá rườm rà , nên khó lòng tìm được điểm nhấn. Giữa nấm mộ chính được xây một hình bát giác , có đỉnh là một núm tròn, trông như một cái ấn ( triện) của vua chúa ngày xưa. Tương truyền ông được chôn ngồi…. Phía trên  cây phượng cổ thụ vẻ cung khiêm như một người hầu, thả những cánh hoa màu đỏ thẩm xuống nền gạch rêu phong từng cánh…từng cánh một….làm thời gian theo suy tưởng của vãng khách dường như cũng chậm đi.

Cũng trên con đường Lăng Hoàng gia, phía sau Lăng tẩm Cụ Phạm Đăng Hưng, tôi tình cờ bắt gặp một quần thể những ngôi mộ xưa( sau này mới rõ đây là những họ hàng , thân thích họ Đặng). Một ngôi mộ được chôn phía bên tay trái con đường. Khuôn viên khá rộng rãi, chữ nhật, có tường bao bọc, nhưng lâu ngày không có bàn tay chăm sóc , nên phủ đầy xác lá. Mộ chính vun cao , hình lưng một con thú, có khắc hoa văn , đang phủ phục. Mộ còn khá nguyên vẹn. Bia đá phía trước khá to và dày . Dòng chữ Hán khắc trên bia theo thời gian đã phai lạt. Tường được xây bằng những viên gạch vồ, to hơn viên gạch bình thường, bề ngang khá lớn đến 15cm, bề dài khoảng 30cm. Trên mỗi viên gạch có một kí hiệu giống như một chữ Hán hay nôm gì đó, có thể thương hiệu của nơi sản xuất.  Những viên gạch long ra_ ẩm, đầy rêu, nhưng không thấy dấu hiệu mục nát. Thời gian đã hơn hai thế kỷ ẩn chứa trong những thứ vật liệu xây dựng thô sơ của tiền nhân, giờ lộ thiên, trơ gan dưới ánh mặt trời làm kẻ hậu sinh như tôi phải cúi đầu khâm phục….Phía bên phải con đường, chếch qua tí, cũng có một ngôi mộ lớn, nhưng đã bị hủy hoại khá nhiều. Chỉ còn lại bức tường viền hình vòng cung sụt lở. Dây leo và cây bụi phủ đầy.

Những viên gạch xưa_ Cụm khu lăng mộ Hoàng gia ( Ảnh tác giả)

Đền thờ của người anh hùng dân tộc Trương Định nằm chếch bên trái của chợ Gò Công. Quần thể này có thể mới được duy tu nên nhìn rất nổi bật và tinh khôi, thiên về suy tưởng lịch sử hơn về cơ cấu kiến trúc. Quần thể cũng được chia làm hai phần riêng biệt khu mộ phần và điện thờ. Khu mộ phần quay về hướng Bắc ( hướng thành phố) gồm một cụm những chi tiết mang tính Lễ, có trang trí hoa văn, được xây cất sắc sảo, sơn màu tiệp với với màu đá xanh . Tất cả trông sạch sẽ và rất mới. Có hai tấm bia , một trước, một sau mộ đều khắc bằng chữ hán. Một tấm có thể ghi thân thế của ông, còn tấm kia chữ khắc hai chữ, bằng màu sơn đỏ. Tôi nghĩ có thể đó là họ tên. Do sự quy tụ khá nhiều những chi tiết trên một chu vi hẹp nên thật khó nắm bắt cho trọn vẹn. Mộ ông hình mai rùa, tròn vạnh, trên có khắc hoa văn. Trước mộ có trồng hai cây sứ trắng . Một chậu sen có bông hoa trắng độc nhất, khoe mình dưới cái nắng. Bên hai cánh cổng của cửa vào có ghi hai câu đối bằng chữ quốc ngữ:

Hận nước cất cao đầu sóng bạc, chuyển rung Vàm Bao Ngược
Thương dân đành mất mạng, máu hồng tô thắm đất Gò Công.

Trước khi vào đây, tôi có gặp một chị bán vé số. Chị nói thời ông cố kể lại, sau khi ông tự sát, người Pháp  bêu xác ông giữa chợ Gò Công để thị uy. Thây  ông phơi ba ngày ba đêm , giữa trời nắng gắt mà không sình thúi cũng như không có con ruồi nào dám bâu đậu….Câu chuyện không mang tính thuyết phục điều tin hay không tin, nhưng nó nói lên, hình ảnh của con người này nằm trong sự kính trọng của những người dân địa phương bình thường ở đây, sâu sắc đến độ nào!

Đền thờ anh hùng dân tộc Trương Định _ Gò Công ( Ánh tác giả)

Ông sinh năm 1820 tại Bình Sơn, Quãng Ngãi, theo cha vào Nam, lấy vợ ở Tân An ( thời vua Tự Đức), chiêu mộ dân chúng khai hoang, khẩn hóa lập ấp trại tại Tân Hòa ( thuộc Gò Công). Ông thông binh thư, võ nghệ, thi đậu cử nhân võ, nên được phong làm quản cơ. Khi người Pháp hạ thành Gia Định (2-1859), ông đưa quân tham gia nhiều trận đánh, được phong làm Chánh quản cơ, phòng thủ đại đồn Chí Hòa ( Chợ Lớn). Sau khi đại đồn thất thủ, ông cùng số binh sĩ còn lại rút về Tân Hòa cố thủ. Trong thời gian đó, ông chỉ huy nhiều trận phục kích, làm thực dân Pháp với thiệt hại đáng kể, phải nể mặt. Với hòa ước mà triều đình Huế kí kết vào tháng 6 năm 1882, cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, ông không chấp nhận. Cho rằng  triều đình phản bội nhân dân, ông tự xưng là Bình Tây Đại Nguyên soái, tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân kháng chiến. Ông nói “_ Triều đình Huế không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ Tổ quốc của chúng ta…” Với chiến thuật du kích chiến và phòng ngự tốt, ông đã gây không ít khó khăn cho người Pháp trong cuộc bình định vùng đất mới chiếm đóng….Mãi đến tháng 8 năm 1864, người Pháp dùng Đội Tấn ( một tướng lãnh của ông phản bội) lập mưu, vây hãm tại xã Phước Lộc. Ông bị trọng thương và rút gươm tự sát ngày 20 tháng 8 năm 1864, hưởng thọ 44 tuổi. Người Pháp bêu xác ông tại chợ để răn đe trong ba ngày đêm. Sau đó người vợ bé của ông , một đại điền chủ giàu có đất Gò Công, đã xin xác ông và an táng tại đây.

Đền thờ được xây dựng tân kỳ, không gian cao, khá thoáng đãng. Hương án và dung ảnh ông đặt giữa. Hai bên có hai  hàng giá đặt những thứ binh khí cổ. Hai bàn thờ tả, hữu  với những dòng chữ Hán Một tượng đồng bán thân được thờ phía sau, cao cỡ tầm người. Và phía sau cùng, sát vách  là chân dung của một vị võ tướng đang cưỡi con ngựa trắng. Nét vẽ lại hao hao giống chân dung của vua Quang Trung tôi đã từng thấy , hơn là ông. ( Thực ra đây là chân dung của Đại đô đốc Phạm Công Trị, người giả vua Quang Trung, đi chầu nhà Thanh_ Bức ảnh nguyên thủy do họa sĩ nhà Thanh vẽ, sau đó được phổ biến lại tại Việt Nam, gây nhiều ngộ nhận). Trong trường hợp này, nếu đó là chân dung Nguyễn Huệ, tôi cũng không hiểu tại sao  người ta lại thờ cả hai con người ở hai thời đại khác nhau, ở hai đẳng cấp khác nhau, mang những tư tưởng khác nhau để quy vào một nơi. Phải chăng có một sự nhầm lẫn nào đó?….Trên cao nơi có dung ảnh vị võ tướng có treo một biển sơn đỏ và hàng chữ  bằng chữ quốc ngữ “ Anh hùng dân tộc Trương Định”…Hai bên tường có treo những bảng  nói về cuộc đời và những câu nói nổi tiếng của ông. Đặc biệt có một bảng in bằng ronéo, bản lớn, bọc kính , trên đó có ghi “ Di tượng 30 anh hùng liệt sĩ Việt Nam thời cận đại” như Phan Thanh Giản, Tống Duy Tân, Kỳ ngoại Hầu Cường Để, …. và bên dưới là đôi  dòng giới thiệu thân thế và sự nghiệp. Những dòng chữ tuy ngắn ngủi nhưng thật đầy đủ và ấn tượng. Tôi lướt mắt qua những con chữ, nét phác họa của những bức chân dung được thu nhỏ , không dấu được lòng cảm thán. Lịch sử tranh đấu của dân tộc gan góc này trong suốt một thế kỷ  như được trãi ra trong khung hình . Bi tráng và mãnh liệt. Gương những anh hùng , chí sĩ bị bức hại như những vì sao anh khôi lóe sáng trên bầu trời đen tối kéo dài một trăm năm trong ách nô dịch thực dân.

****

Chợ Gò Công được xây dựng vào năm 1916, theo như cái năm được lưu trên mặt tiền của khu chợ chính. Vào thời điểm tôi đang đứng là năm 2017, tức là tôi đang đối diện với một công trình có tuổi đời đã lên đến một thế kỷ. Ngoài ra còn có một khu chợ mới được xây dựng, cũng trên một trục đường, nằm cách khu chợ cũ khoảng vài trăm met. Thực tế, theo một tư liệu hình ảnh của Báo Ấp Bắc điện tử, có đăng hình khu chợ Gò công cổ và chú thích, ngôi chợ này được xây dựng vào năm 1898. Lấy 1916 trừ cho 1898, tức ngôi chợ tiền thân chỉ tồn tại trong 16 năm. Điều này có vẻ hơi phi lí. Với những công trình xây dựng thời Pháp thuộc, nếu không bị những biến cố bất khả kháng như chiến tranh, hỏa hoạn, thiên tai….nó có thể tồn tại đến cả thế kỷ.  Vả lại , công trình  của chợ Gò công ( cũ) hiện tại đã có khá nhiều sự thay đổi,  nhiều hình thái kiến trúc khá hiện đại như hạ thấp chiều cao. Những đường lam trang trí. Mặt tiền từ kiến trúc gothic chuyển sang block hiện đại….Theo suy nghĩ của tôi, vậy trên trục thời gian, có đến 3 ngôi chợ trên một địa điểm. 1898 một cái. 1916 một cái. Hiện tại (2017) một cái….Thật là rối rắm!

Chợ Gò Công ngày nay ( Ảnh tác giả)

Chợ chia làm ba gian. Một gian chính và hai phụ. Có thể mới được trùng tu nước nước sơn còn khá mới. Tôi không vào chợ, chỉ chạy xe vòng quanh. Dọc bên hông chợ , người ta bày bán trái cây, tôm cá, rau củ ….nhưng thứ theo mùa vụ, không mang tính nhu yếu phẩm. Tôi tấp vào một gánh chè, do hai vợ chồng vừa bày ra. Chè được đựng trong một xoong to, còn bốc khói. Những lát mít vàng ruộm thật bắt mắt, chen với những quả táo tầu đỏ thẩm . Một điều phải công nhận ẩm thực Nam Bộ có thể không quá cầu kỳ khi nấu nướng nhưng về phần trang trí và sắc màu, nó vượt trội trên cả ba miền. Từ cái bánh bò, ly chè….cho đến những thứ đồ ăn, thức uống khác. Tôi lại gần ,hỏi người đàn bà “_ Chè này gọi chè gì vậy chị?”

“_ Chè Tàu Thưng !” Người đàn bà lúi cúi xoắn cọng dây thun cho một bịch chè, ngẩng lên trả lời.

Cái tên lạ hoắc, làm tôi phải hỏi lại lần nữa cho chắc ăn.

“_ Chè Tàu Thưng, anh à!” Lần này thì anh chồng, mặc chiếc quần cộc, đang phụ vợ ,ngồi bên trả lời.

Tôi đón lấy hai bịch chè nóng hổi, không  hỏi vặn thêm về nguồn gốc , vì thấy hai vợ chồng đang bận tay, đưa mắt tìm kiếm một chỗ khuất nằm bên kia đường. Chè Tàu Thưng, hay được gọi là chè Thưng, chè Bà Ba Nam Bộ( theo tra cứu sau này). Chè nấu bằng nếp, khoai lang, đậu phụng, đậu đỏ, có bỏ thêm trái cây là mít và táo tầu. Nước cốt dừa béo, mằn mặn như trung hòa  cái vị bùi bùi khá chìm của ngũ cốc trước khi chuyển sang vị ngọt tự nhiên, giòn giòn nổi trội của cây trái…Tôi ngạc nghiên, tự hỏi sao trong cái món ẩm thực quê mùa ( gần như vô danh) lại gợi lên những suy nghĩ mang tính học thuật khá độc đáo về bản ngã của vùng đất ruộng nước, về những sản vật mà thiên nhiên ban tặng, Chỉ đơn giản trong bịch chè, cảm tính thưởng thức của con người đã nâng đến tầm triết lý…và đặc biệt, một dư vị đậm chất quê hương. Không quên được!

Người Gò Công I Mộc mạc và chân chất. Rất gần gũi và dễ bắt chuyện. Điều này khỏi nói rồi. Ở chợ , tôi có đến trước một khay bánh bò của một chị khá đứng tuổi. Trên khay chỉ còn lại hai cái bánh cuối cùng. Thấy tôi hỏi mua bánh, chị hơi ngần ngừ , nói “ _  Bánh này từ hồi sáng rồi. Anh có lấy tôi qua bên kia lấy bánh mới cho!” .Trước chút tình người chỗ chợ búa , tôi phẩy tay: “ _ Thôi chị ơi! Phiền phức. Em lấy bánh này cũng được”. Khi trao cho tôi, chị dặn thêm “ _ Ăn đi chớ để trong bịch nilon hầm hơi. Nó thiu!”….Tại nhà Đốc Phủ hải, một căn nhà cổ của một Bá hộ giàu có, tương truyền là cháu ngoại của bà Trần Thị Sanh ( Người vợ bé nặng tình của vị thủ lĩnh nghĩa quân Trương Định). Vào tầm trưa, người bảo vệ đã  khóa cổng đi ăn cơm, nên tôi đi quanh quẩn trong khuôn viên phía trước. Ngôi nhà được xây vào cuối thế kỷ 19, trệt, lợp ngói. Mặt tiền gồm những cụm cửa hình vòm của lối kiến trúc Roman kết hợp với hai bên cánh là hai kiến trúc phụ mang hình thức Tân cổ điển_ những khối chữ nhật có tác dụng nâng chiều cao của tổng thể cấu trúc, đến một tầm mà  định nghĩa về nó hoàn toàn nằm trong phạm vi một kiến trúc sinh hoạt, vượt qua sự hà khắc tôn giáo và bên dưới tầm với một công sở. Hơn nữa, có thể chủ nhân rất tinh ý khi mang điểm nhấn là những cung tròn Á đông đặt vào trọng tâm, trong khi sự cách tân vuông vức Tây phương , dù quan trọng nhưng chỉ là tính phụ trợ. Vấn đề này giải quyết cho việc mang toàn bộ khối kiến trúc thoát khỏi sự lạc lõng với cảnh quan xung quanh, nhất là ở khung cảnh tiền đô thị An Nam vào thời kỳ đó. (Cây cau, giàn trầu, những dãy phố lụp xụp….). Những họa tiết trang trí bên ngoài hoàn toàn Âu Tây mềm mại, uyển chuyển…cầu kỳ nhưng không bị phô ( chõi). Tôi đi vòng quanh quan sát khu nhà, thì có gặp một nhóm thợ hồ đang nghỉ tay uống nước. Họ đang xây dựng căn nhà bên cạnh. Thấy tôi có vẻ là người ở xa tới, nên nhóm người cũng vui vẻ hỏi han, bắt chuyện. Câu chuyện lan man về những địa danh ở miền Trung và Nam bộ, nơi những người thợ hồ đã từng đến làm việc, chuyển sang cái nhìn về thị xã Gò Công cảnh quan, con người…. trước, sau giải phóng và tương lai…. Ngồi nghe chuyện , tôi mới nhận ra một đặc điểm khá lí thú ở những hậu duệ của văn hào họ Hồ ( Hồ Biểu Chánh) này, là khả năng nói chuyện khá lưu loát và những lời nhận xét tinh tế, đáng ghi nhận. Tỉ dụ khi nói đến ngày ba mươi tháng tư, một anh thợ hồ lớn tuổi có nói :”_ Cũng mừng là nó kết thúc để dân chúng làm ăn. Dây dưa hoài ….Sức người, sức của ….quốc gia nào chịu nổi!”. Nói thật, cũng hiếm mà tìm được một cái nhìn như anh, trong những thế hệ đi trước. Người Gò Công cũng rất có khiếu về thi ca. Với tôi đó là một khám phá thật mới mẻ và cũng thật ấn tượng ở giữa thời đại này, tại một thị xã chỉ cách Thành phố trong bán kính năm mươi cây số. Khi cơn bão của lối sống hiện đại đã tàn phá không thương tiếc đời sống tinh thần con người Việt, từ Nam chí Bắc, đến một câu nói tử tế cũng không ra hồn, thì ở đây , người ta sẵn sàng chia sẻ những bài thơ mộc mạc nói về quê hương của họ với những người lần đầu quen biết…. Trưa nắng, tôi ngồi nhấp nháp ly cà phê đắng, lắng nghe những câu lục bát từ những người phu hồ.…Thật cảm động!

Ù ơ….Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
Thương anh….cũng muốn theo anh
Ngặt cha với mẹ , không đành….thời sao?

Dinh tỉnh trưởng Gò Công_ Một phế tích đáng tham quan ( Ảnh tác giả)

Về nhân chủng học hình thể ( Physical anthropology) qua tiếp xúc, người Gò Công đều có một cái gì na ná giống nhau. Vóc người cao lớn hơn dân Việt bình thường ở những vùng miền khác. Khuôn mặt dài, sống mũi cao và thẳng. Cánh mũi nhỏ. Mắt không to, môi không quá dày. Vành tai dài, chảy. Khuôn mặt đầy, đẹp ….và không thực linh hoạt. Dù rất hiếu khách nhưng nụ cười cũng khá hạn chế. Lúc bình thường, nhìn kỹ, lại có nét hướng nội.

Gò Công có  những con đường nhỏ, hàng cây sò đo với những bông hoa đỏ thẫm, chạy dài, trông khá lạ mắt. Mật độ xe cộ thưa thớt. Đường phố sạch. Không khí trong lành. Dân không mấy ai ra đường mang khẩu trang kín mít như ở Sài Gòn. Một vài cảnh quan trong thị xã thấy khá vắng, thậm chí mơ màng như  Nhà thờ Chánh Tòa, Dinh tỉnh trưởng ….Những công trình kiến trúc kể trên đã có tuổi đời hơn cả thế kỷ. Một số còn trưng dụng. Số xuống cấp, đóng cửa. Thật không dễ kìm nén dòng cảm xúc khi phải đối diện với cấu trúc khổng lồ, suy kiệt sau bao năm tận tụy, phục vụ giờ nằm phủ phục, im lìm với những mảng tường nứt vỡ hoen màu gạch đỏ, những ban công bám đầy rêu và dây leo….

Điều đáng nói là các di tích ở Gò Công đều chưa có quy mô , trên thực tế chỉ để tưởng niệm, cúng bái, tham quan trên cơ sở vùng miền lân cận…chứ chưa mở rộng sang ranh giới của những địa điểm du lịch thật sự, với những vệ tinh và cơ sở hậu cần hưởng lợi đi kèm. Sự khai thác có lẽ trông chờ vào tương lai gần, vì tiềm năng sẵn có là điều không thể bàn cãi.

****

Vào khoảng thập niên 90 , trên sân khấu âm nhạc Việt, bỗng xuất hiện một vài sáng tác lạ được trình bày bởi nữ ca sĩ nổi danh hồi ấy, Bảo Yến, làm xôn xao dư luận, nhất là đối với giới trẻ. Những ca khúc như “ Chuyện tình hoa muống biển”, “ Ánh mắt quê hương”, “ Thương một người ở xa”…. cùng với  dòng nhạc Gò Công, đã làm nên tên tuổi một người nhạc sĩ xứ Gò ,có tên Hoàng Phương. Nhưng thật ra, ông là một nhạc sĩ đã thành danh với nhạc phẩm “ Hoa sứ nhà nàng” từ trước năm 1975. Nhạc sĩ Hoàng Phương tên thật là Nguyễn Kim Hoàng, sinh năm 1943, tại  xã Tân Thành huyện Gò Công. Năm 1968, khi 25 tuổi, ông lên Sài Gòn tham gia ban nhạc cùng Vinh Sử, Quốc Dũng , Lê Hựu Hà…Trong năm này, ông viết bản nhạc đầu tay “ Hoa sứ nhà nàng” . Nhạc phẩm này ngay lập tức đã khẳng định tên tuổi của ông. Sau 30 tháng 4 năm 1975, ông quay về Gò công mở tiệm sửa đồng hồ, sau đó  hành nghề thợ bạc. Năm 1986, trong chính sách đổi mới, ông cho ra đời dòng nhạc Gò Công, với các bài hát trữ tình ca ngợi tình yêu , ca ngợi quê hương, danh thắng Gò Công. Album  “ Băng nhạc Gò Công”  vừa ra đời đã được sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng yêu âm nhạc khắp cả nước và được xem như một hiện tượng. Ông được vinh danh như “ Ông hoàng nhạc Gò Công”. Năm 1989, ông cưới người vợ hai tên Mộng Vân. Hai người xây dựng một căn nhà nhỏ trên bãi biển Tân Thành. Vào những năm cuối đời, ông trở nên suy sụp. Ông mất vào năm 2002, vì bị bệnh ung thư gan. Ông để lại cho đời  khoảng 20 tác phẩm hoàn chỉnh và một số khác còn đang viết dở dang…..

Cũng không hiểu biển Tân Thành trong suy tưởng của người nhạc sĩ ngày đó như thế nào, hoặc khoảng thời gian hai mươi năm,  con người đã làm thay đổi hoàn toàn những cảnh quan mà trước đây nó từng có. Được quảng bá khá nhiều trên các phương tiện truyền thông về một bãi biển cát đen đặc biệt, một khu du lịch khá lý tưởng….nhưng trước mắt tôi, bãi biển Tân thành ngày nay, như một minh chứng cho sự độc ác của con người ,trong hành động triệt phá đến tận cùng các nguồn lực còn sót lại của tự nhiên, mà không có sự bù đắp và sự  vô cảm tính đến lạnh lùng trong liên kết sinh hoạt đời thường giữa con người với môi trường  xung quanh. Bãi biển rách rưới , nằm rũ chết. Những công trình ngắn hạn, gãy đổ, dập vùi trong sóng biển mà thời gian và sự thô thiển của cấu trúc không đọng nổi chút giá trị của chữ phế tích. Bãi biển tràn ngập rác. Những cây phi lao mới trồi lên từ cát nay phải khó nhọc oằn mình dưới một lớp bao ni lon xanh đỏ dày cộm, quấn riết. Những vuông đất mới bị đào xới làm những vuông tôm, đất sình như vết loét nằm cận kề  bên bãi tắm… cho một khái niệm dễ lẫn lộn giữa một nông trường nuôi tôm và một khu du lịch. Những nhà hàng được cất như những cái chòi vươn ra biển, nơi khi hưởng thụ người ta thật vô tâm với những thứ mình xả ra .Phía dưới, những bè rác thải, trôi nổi, dập dềnh trong con sóng….Thực ra bãi biển , còn là nơi thu hoạch nghêu khá lớn của người dân địa phương, nhưng vào thời điểm tôi đứng, thủy triều đang lên và những con sóng mấp mé ven đường.

Bãi biển Tân Thành, Gò Công Đông_  Cảnh  tiều tụy của tự nhiên trước việc vắt kiệt của con người ( Ảnh tác giả)

 

Thất vọng  trong cố gắng tìm đến một nơi đã  trở thành nguồn cảm tác, của một nhạc sĩ nổi tiếng ,nhưng trên đường quay ra, tôi lại tìm được nguồn vui nho nhỏ ở khu chợ Gò Công Đông. Trong một quán giải khát,  tôi tình cờ ghé vào….Cô gái Gò Công Đông xinh xắn mang ra ly nước mía xanh ngắt. Những ngón tay  tay nhỏ nhắn của cô gái  xoay xoay chiếc volume của cái amply trong góc nhà và giọng ca quen thuộc  của cô  ca sĩ ngày nào, vang lên

“ …Có phải chăng cát giận, cát hờn. Chẳng muốn nhận dấu chân em làm kỉ niệm. Để cát bay , cát tạo thành hình của sóng. Để ven bờ cát mãi đùa vui…”

Tôi bị đẩy vào trong một tâm trạng thật ngổn ngang.

Chợ Gò công Đông   ( Ảnh tác giả)

****

Khác với Gò Công Đông, Gò Công Tây là một khu vực thuần túy nông nghiệp. Quốc lộ 50 chạy về thị trấn Chợ Gạo, có lẽ là xương sống của huyện lị. Trên thực tế, khi di chuyển trên quốc lộ, ta cũng khó tìm được màu xanh của ruộng lúa hay những mảnh vườn đặc trưng trồng cây ăn trái. Những dãy nhà mọc dọc theo con đường đã che chắn một phần nào tầm mắt. Chỉ để những lối rẽ, những con hẻm nhỏ, đang mong đợi một sự tìm tòi phía sau….

Anh ơi về tới Hòa Đồng
Nhớ mua bánh giá chợ Giồng tặng em.

Ngã ba Hòa Đồng có một lối rẽ như vậy. “ _ Chợ Vĩnh Bình chớ! Bây giờ đâu ai kêu chợ Giồng nữa đâu. Đi thẳng là tới!” . Theo tay anh xe ôm chỉ, tôi phóng xe trên con đường rãi nhựa nhưng khá ọp ẹp để vào trung tâm thị trấn. Xét trên các khía cạnh , vùng này có vẻ không trù mật bằng dưới Gò Công Đông. Những ngôi nhà cũ kỹ với diện tích khá hẹp, nằm chen lẫn với những ngôi nhà cao tầng, các cơ quan công sở. Một lớp bụi đỏ mờ phủ trên các cấu trúc sinh hoạt và việc nhận diện con người cũng không mấy sáng sủa. Nhưng càng vào sâu, đường xá càng dễ đi , cảnh quan có vẻ sáng láng, nhiều kiến trúc tôn giáo hơn. Qua cầu Vĩnh Binh bắc qua một con kinh nhỏ, ngôi chợ hiện ra trong tầm mắt. Chợ Vĩnh Bình , tức chợ Vĩnh Lợi hay còn gọi là chợ Giồng Ông Huê. Chợ được xây dựng vào năm 1895, do ông Trần văn Huê, một đại điền chủ , bỏ tiền xây cất. Tương truyền, ông Huê ngày trước quê tận Quãng Ngãi, theo Chúa Nguyễn di dân vào Nam , nhờ khai phá đất đai mà trở nên giàu có. Nhưng tôi không ghé vào chợ. Tôi theo đường Nguyễn văn Côn xuôi một đoạn khá xa đến một địa danh gọi là Phước Hựu. Có thể trong mắt, tôi chưa chạm đến cái mà tôi muốn tìm…

“ _ Bánh giá bây giờ hết ngon rồi. “ Má chậm rãi nói    “_ Mấy người hồi xưa làm ngon hơn! Nhưng muốn mua cũng phải đi buổi sáng , chứ giờ này đâu còn chỗ nào bán.”

Người đàn bà lại cúi xuống làm công việc của mình, sắp xếp những tệp giấy vàng bạc, rồi bó nó lại bằng những sợi dây thun.  Chiếc khăn rằn Nam Bộ  trên đầu, đôi lúc lại buông thõng một tua xuống vai gây vướng víu, nên thỉnh thoảng, bà lại ngưng việc, lấy tay nhét nó lại vào những nếp gấp. Khuôn mặt dài, sống mũi hơi khoằm, dái tai chảy dài có đeo đôi mặt cẩm thạch nhạt màu….Cái hình ảnh gợi cho tôi vài kỷ niệm về bà ngoại tôi, ngày trước…..Những nếp nhăn đánh dày trên khuôn diện như gân một chiếc lá rụng.

_ Ruộng nhà mình đây hả Má?

_Ừa …cũng được hai sào. Mỗi năm hai vụ. Nhưng bây giờ đâu có người mần. Tụi nhỏ nó đi mần xí nghiệp hết rồi!

_ Sao ít vậy Má. Mấy chỗ khác  thấy họ làm được đến ba bốn vụ ? Thắc mắc tôi hỏi.

_  Ở đây đất phèn, chỉ mần được vậy. Nhà nước cũng khuyến khích trồng xen canh như dưa , khoai, khổ qua…Nhà không có người mần, nên cho người ta mướn.

Loáng thoáng một người đàn ông lớn tuổi, đang vun đống rơm ở sau nhà, nên tôi hỏi:

_  Ba hồi trước làm gì Má?

_  Ổng đi lính….nghĩa quân, đóng loang quanh đây.

_ Đất này ông bà để lại hả Má?

_  Đâu có…ông bà hồi trước cũng chỉ tá điền thôi. Lúc tụi tui ra riêng …cũng đi mần ruộng mướn. Sau này có chính sách gì đó….Chính sách gì đó thời ông Thiệu….

Thấy bà cứ ngắc ngứ mãi, nên tôi thêm vào:

_ Người cày có ruộng….

_ Ờ…. “ Người cày có ruộng”  nên mới được mấy sào. Sau này giải phóng vô, ruộng đất sung vô Hợp tác xã hết,  nhái cũng hoàn nhái, về lại kiếp làm mướn…

_ Ủa , hợp tác xã mà làm mướn gì má?

_ Thì mầm mướn cho nhà nước, lấy công điểm. Đói sặc gạch. ..Mần ra hột lúa mà chỉ nhai khoai mì, khoai lang trừ cơm.

Bà bật cười. Tuổi tác và cái miệng móm xọm, đầy trầu  đã xua đi cái vị chua chát của câu nói,  đồng hóa nó trong cái cười của nhân tâm.

_  Sau này thấy dân đói quá…kéo nhau đi hết, nên mấy ổng mới chia lại ruộng. Giờ được hai sào non đó!

Tôi ngồi bên Má, nhìn ra vuông ruộng tít tắp, xanh ngắt của lúa đang thời con gái. Những ngọn  gió thỉnh thoảng tràn qua cánh đồng  làm gợn lên những con sóng, nổi cồn, lan mãi… chạy ruổi về phía những rặng cây ăn trái nổi lờ mờ phía chân trời. Mùi hăng hăng quen thuộc của bùn đất , mùi của hoai hóa từ con  rạch nhỏ trước nhà làm không khí đang thở đậm lại. Bên trái , mấy cái mộ cổ của mấy ông Bá hộ ngày trước, kiến trúc cầu kỳ nằm khuất trong đám lau lách, cho cái nhìn ám lại về một thời đại tối tăm địa chủ, tá điền và những thời kỳ khác đã đi qua.

Trong thoáng trầm tư, ký ức hằn những nếp nhăn trên trán người Mẹ Việt!

 Chợ Vĩnh Binh ( Tên ngày xưa chợ Giồng)_ Gò Công Tây ( Ảnh tác giả)

…..

Nằm tựa lưng vào bờ kinh Vĩnh Bình, chợ Vĩnh Bình có cấu trúc của một khối chữ nhật, chạy dài. Chợ đã được xây dựng mới, cao ráo, sạch sẽ. Chênh chếch phía mặt tiền, còn giữ lại vài ngôi nhà cổ lợp ngói, với kiến trúc thấp, những cổng vòm được trang trí bằng phù điêu và hoa văn. Rêu mốc và sự cũ kỹ chừng như cô lập hẳn quần thể này trước những ngôi nhà cao tầng hiện đại mọc đầy xung quanh. Trong bối cảnh chung, chúng hiện diện như những chiếc bóng ma mị, đầy tự kỷ , tồn tại bằng những ký ức, biến cố vốn chất chứa quá nhiều trong chúng. Điều này lý giải, không phải tự dưng, ánh mắt tôi khi quét qua đó, đột nhiên chùng xuống.

Trời đã xế chiều, ngôi chợ không còn sự tấp nập, ồn ào. Lác đác, vài gian hàng đang dọn…

_ “ Bánh giá hả em? Giờ này đâu ai còn bán nữa….Chạy xuống cuối chợ coi sao?” Một chị phụ nữ mau mắn nói.

Buổi chợ đông , con cá đồng cũng chê lạt
Lúc chợ  chiều, con tép bạc cũng khen ngon

Có lẽ đây là hàng bánh cuối cùng và chủ sạp, một phụ nữ trẻ khuôn mặt ủ ê, đang gói mấy chiếc bánh bằng miếng lá chuối cho một người khách. Cạnh đó, một cái chảo đầy dầu chiên đang sôi sùng sục bắc trên một cái lò đun bằng củi. Một thau bột vẫn còn lưng lửng, bên kia là một cái thúng to đựng  lủng củng đủ thứ: giá sống, gan heo, tôm sống.….Cái quạt trên tay cô nàng làm việc liên tục, nhưng vẫn không xua nổi đám ruồi nhặng lì lợm, cứ chờ chực lao vào. Giả tảng như không biết gì, tôi hỏi: _ Đây chợ Giồng phải không em?

_ Chợ Vĩnh biệt anh à!…Câu trả lời làm tôi suýt phì cười _  Buôn bán ế quá, mai mốt không còn ai bán nữa, chắc phải kêu chợ Vĩnh biệt. Cô nói như trãi lòng mình…._Mua  giùm em vài cái bánh đi anh!

Thực ra thứ bánh giá nổi tiếng này, cũng gần giống món bánh xèo ở miền Trung. Bột gạo xay pha loãng với đậu nành, đổ lên một dụng cụ khá đặc biệt, giống cái khuôn đúc bánh xèo nhưng nhỏ hơn, trong này gọi bằng cái vá. Tiếp theo người ta cho giá sống, gan heo lên trên, rồi đổ một lớp bột mỏng phủ đều. Trên cùng cho hai con tôm và ít hạt đậu phụng cho bắt mắt. Hoàn tất , tất cả cho qua chảo dầu, chiên vàng. Sau đó vớt lên, để ráo dầu là có thể ăn được…. Bánh giá ăn không với nước mắm, nước tương kèm rau sống. Một số người lại thích ăn với bún.

Tôi định lấy hai cái ăn lấy thảo, nhưng khi nhìn khuôn mặt chân phác của cô bán hàng chẳng thấy vui lên tí nào, đành lấy thêm hai cái nữa.

Nhận mấy cái bánh, tôi có gửi lời chào và câu chúc buôn may, bán đắt….chỉ thấy nàng cười thẹn và câu trả lời, nho nhỏ…._ Cám ơn!

Rồi mai em gái theo chồng/ Ai đem bánh giá chợ Giồng mời anh ( Ảnh tác giả)

 

****

Tháng năm mùa của những cơn giông chiều ở mảnh đất miền Tây . Vừa thoáng thấy những đụn mây đen ùn lên ở chân trời, thoắt cái , nó đã bắt kịp tôi, khi bánh xe vừa chạm ngưỡng Gò Công. Mưa mù mịt. Hạt mưa to, nặng như những mảnh kính vỡ vung vãi , đâm nhói vào da thịt. Ướt như chuột lột, tôi đâm xe vào mái hiên của một nhà ven đường để tránh mưa. Mưa đổ  từng đợt ào ạt, xói cả mặt đường nhựa. Con phố trước mặt như ai đổ lên một lớp sơn bạc, nhòa nhạt, vắng ngắt…..

Trong lúc đợi mưa tạnh, tôi chợt nhớ cuốn sổ ghi chép để trong túi áo sơmi lúc sáng. Cái túi ướt nhẹp, nhưng cũng may, bên trong cuốn sổ vẫn khô ráo. Dưới ánh sáng lờ mờ còn sót lại của ban ngày, tôi đọc lại dòng chữ do chính tôi ghi lại, theo nguồn khảo cứu.

“ Tuy vậy, Nam Phương hoàng hậu được nhiều người đánh giá là người thiết tha với đất nước. Theo tài liệu của sử gia Pháp Jean Renaud do nhà xuất bản Guy Boussac ấn hành năm 1949:

Sau khi quân Pháp dựa vào thế lực của quân Anh quốc để gây hấn ở miền Nam với ý đồ tái chiếm thuộc địa Việt Nam. Lúc đó vua Bảo Đại đã thoái vị, bà Nam Phương đang ở tại An Định cung bên bờ sông An Cựu. Đau lòng trước thảm cảnh mà đồng bào miền Nam, quê hương của bà đang trực tiếp gánh chịu, cựu Hoàng hậu Nam Phương đã gửi một thông điệp cho bạn bè ở Á châu yêu cầu họ lên tiếng tố cáo hành động xâm lăng của thực dân Pháp với lời lẽ như sau:

“Kể từ tháng 3 năm 1945, nước Việt Nam đã thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp nhưng vì lòng tham của một thiểu số thực dân Pháp với sự tiếp tay của quân đội Hoàng gia Anh nên hiện nay máu của nhân dân Việt Nam lại tiếp tục chảy trên mảnh đất vốn đã có quá nhiều đau khổ. Hành động này của thực dân Pháp là trái với chủ trương của Đồng Minh mà nước Pháp lại là một thành viên. Vậy tôi tha thiết yêu cầu những ai đã từng đau khổ vì chiến tranh hãy bày tỏ thái độ và hành động để giúp chúng tôi chấm dứt chiến tranh đang ngày đêm tàn phá đất nước tôi.

Thay mặt cho hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, tôi thỉnh cầu tất cả bạn bè của tôi và bạn bè của nước Việt Nam hãy bênh vực cho tự do. Xin các chính phủ của khối tự do sớm can thiệp để kiến tạo một nền hòa bình công minh và chân chính và xin quý vị nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của tất cả đồng bào của chúng tôi”…”

……..

Biết rằng sau cơn mưa trời lại sáng, nhưng sao trên con đường về, hòa mình vào dòng người xứ Gò đang vội vã,  tôi  lại cảm thấy nặng lòng. Thời gian và bao sự thay đổi dâu bể, tất cả đâu cưỡng lại được vận trời. Cũng  xin đành nợ Người…. Nam Phương!

Sài Gòn, ngày 7 tháng 7 năm 2017

Vũ Khuê

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

_ Nguồn Wilkipedia.
_  Gò công_ Xưa và nay ( Tác giả Hoàng Minh)
Và một số tư liệu khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

hình 

 

tôi cứ nhìn em mãi
( em mãi chả nhìn tôi )
tôi tương tư chiếc bóng
bóng nghiêng vai giữa đời

tôi bỏ trong dấu ngoặc
lâu lâu lại mở ra
thấy đức tin, tuyệt vọng
cùng tẩu hoả nhập ma

tôi đi và ca hát
trong một giấc mộng du
lúc mắt chạm nhan sắc
tôi thấy tôi trong tù

tay tôi chạm ảo ảnh
như lần đầu tập đi
ấp úng từng câu nói
không nói cũng biết,  vì …

tôi cứ nhìn em mãi
em như biết vì sao
vì sao em im lặng
im lặng bởi vì sao?

Ngô Yên Thái

VỀ CHIA VẦNG TRĂNG CŨ

 

mây hoan hỉ níu mùa lên gió lộng
khép trên tay ngày tháng úa tuổi buồn
những con đường thơ dại khuất sau lưng
tay cuống quýt lần tìm hơi hướm cũ

nửa mùa thu gối đầu lên hơi thở
bàng bạc trăng lóng lánh ủ tơ vàng
tuổi thơ nào không dan díu cưu mang
nhánh kỷ niệm xanh hoài trong tâm thức

nửa mùa thu của bây chừ…thuở trước
vẫn bồn chồn thương nhớ khác chi nhau
trăng trung thu…trăng tròn vạnh trên đầu
ta chia nửa tình yêu và nỗi nhớ

muốn quay lại dựa lưng ngày tháng đó
bên tuổi thơ mười bốn với mười lăm
bên giấc mơ tròn trịa ánh trăng rằm
với rạo rực sáng bừng đôi mắt biếc

muốn quay về ngồi bên nhau tha thiết
bên tiếng cười với mâm cổ rộn vui
trăng lên cao…trăng dưới đất sóng đôi
ta khúc khích khúc đồng dao rồng rắn

nửa mùa thu tưởng đi vào xa vắng
chợt quay về đánh thức giấc mơ xưa
những buồn vui nói răng hết cho vừa
dù đã giấu vào trong thơ chạm ngõ

muốn quay về chia lại vầng trăng cũ
tuổi mười lăm mười bảy ngát hương hoa
ơi ! nửa mùa thu cũ cứ xót xa
cứ ray rứt bâng khuâng …dài nỗi nhớ

TA MUỐN QUAY VỀ…
CHIA NHAU VẦNG TRĂNG CŨ
TA MUỐN QUAY VỀ…
TÌM LẠI KHÚC CA SAO

DaoLam

CHIỀU SERENADE

 

 

anh lên phố.phố vừa tràn đông bắc
lạnh đủ vừa gây nhớ một bàn tay
nắng hoe vàng lúng liếng mắt ai?say!
anh cúi xuống tìm dấu giày đã cũ

anh lên phố.phố lặn vào khăn gió
thả tóc bơi theo lá.khởi qua chiều
thành phố đồi.thành phố dốc.lượn lờ theo
quán vắng.nhạc ru tình.serenade

mắt ngược xuôi.bần thần.khao khát
một mùa vàng ủ chật áo vàng sương
tóc nào bay trong gió lã ngợp hương
anh cuống quít dựa bóng chiều khắc khổ

anh lên phố.phố dặn dò đừng nhớ
đừng chờ trông.(và cũng nhớ:đừng quên)
dù mất.còn.vẫn mãi một linh duyên
một gặp gỡ đủ mang theo suốt cuối

anh lên phố.phố buồn vui không nói
lặng thầm theo(gánh bớt nỗi cưu mang )
thành phố đồi.thành phố dốc.lang thang
anh nhặt góp để suốt đời mắc nợ

anh lên phố.phố trong veo mắt nhỏ
con đường đêm thơm lựng tóc đuôi gà
bay trong chiều serenade tẩm hoa
anh rón rén lượm nốt trầm cất giấu

anh lên phố.buồn kịp về ở đậu
cứ giật mình thảng thốt biết bao năm
thành phố đồi.thành phố dốc.dẫu xa xăm
vẫn nóng hổi nốt trầm seranade!

Lê Hát Sơn

Dạ Khúc: Năm Câu Chuyện Về Âm Nhạc Và Đêm Buông ( chương 2)

FILE PHOTO: Author Kazuo Ishiguro photographed during an interview with Reuters in New York, U.S. April 20, 2005. REUTERS/Mike Segar/File Photo

 

Khi tôi tới gặp ông Gardner thì đường phố đã khá tối và vắng vẻ. Hồi ấy tôi vẫn còn lạc đường mỗi lần đi xa quảng trường San Marco, thế nên dù đã khởi hành sớm, dù đã biết vị trí cây cầu nơi ông Gardner hẹn, tôi vẫn đến muộn vài phút.

Ông đứng ngay dưới ngọn đèn đường, mặc bộ com lê nhăm nhúm, áo sơ mi mở ba hay bốn nút, có thể nhìn thấy cả lông trên ngực. Khi tôi tạ lỗi đến muộn, ông bảo:

“Vài phút thì có hề gì? Lindy và tôi lấy nhau đã hai mươi bảy năm. Vài phút thì có hề gì?”

Ông không bực tức, nhưng có vẻ nghiêm trọng và âu sầu – không có gì là lãng mạn. Đằng sau ông là chiếc gondola dập dềnh nhẹ nhàng trên sóng, và tôi thấy người đứng thuyền là Vittorio, một người tôi không mấy ưa. Trước mặt tôi, Vittorio lúc nào cũng xởi lởi, nhưng tôi biết – ngay từ hồi ấy – anh ta đi khắp nơi nói đủ thứ chuyện tồi tệ, toàn chuyện đặt điều, về những kẻ như tôi, những kẻ anh ta gọi là “bọn ngoại quốc từ các nước mới nứt mắt”. Thế nên hôm ấy khi anh ta chào tôi hồ hởi như anh em ruột, tôi chỉ đáp lại bằng cái gật đầu, và im lặng đợi anh ta đỡ ông Gardner vào thuyền. Rồi tôi đưa anh ta cầm cây đàn – tôi mang theo cây Tây Ban Cầm, để cây có lỗ ô van ở nhà – và cũng trèo vào theo.

Ông Gardner liên tục xoay trở ở đằng mũi, có một lần còn ngồi phịch xuống đến nỗi suýt làm lật thuyền. Nhưng có vẻ ông không để ý thấy, và khi thuyền rời bờ, ông cứ nhìn đăm đăm xuống nước.

Mất vài phút chúng tôi lướt đi lặng lẽ giữa hai dãy nhà tối đen, chốc chốc lọt qua bên dưới những cây cầu thấp. Rồi ông bứt khỏi những ý nghĩ đăm chiêu mà nói:

“Nghe này, anh bạn. Tôi biết là chúng ta đã thỏa thuận xong các tiết mục tối nay. Nhưng tôi vừa nghĩ nãy giờ. Lindy rất thích bài ‘By the time I get to Phoenix’. Tôi có ghi âm bài đó một lần lâu lắm rồi.”

“Vâng, thưa ông Gardner. Mẹ tôi lúc nào cũng nói bài đó ông hát hay hơn cả Sinatra. Hơn cả cái bản nổi tiếng do Glenn Campbell hát nữa.”

Ông Gardner gật đầu, rồi một lúc lâu tôi không nhìn rõ mặt ông. Vittorio cất tiếng hô báo hiệu vang dội các bức tường trước khi cho thuyền ngoặt qua chỗ rẽ.

“Tôi đã hát cho bà ấy nghe bài này rất nhiều lần,” ông Gardner nói. “Anh hiểu không, tôi nghĩ bà ấy sẽ thích được nghe bài ấy tối nay. Anh có thuộc nhạc chứ?”

Lúc này cây đàn đã ra khỏi bao, nên tôi chơi vài khúc.

“Lên chút nữa,” ông nói. “Lên đến mi giáng. Hồi thu đĩa tôi hát thế mà.”

Thế nên tôi chơi lại đoạn nhạc theo tông mới, và khi đã hết có lẽ cả một đời, ông Gardner cất tiếng hát, rất khẽ khàng, ghìm nhịp thở, như là không nhớ rõ lời. Nhưng giọng ông vọng lại rất rõ trong lòng kênh yên tĩnh. Quả thật là nghe rất tuyệt. Và trong một lúc hình như tôi trở lại làm đứa bé con, ở trong căn hộ, nằm ườn trên thảm trong lúc mẹ ngồi trên xô pha, mệt lử, hoặc có khi sầu não, còn đĩa Tony Gardner thì quay trong góc phòng.

Ông Gardner đột ngột ngưng hát và nói: “Được rồi. Chúng ta sẽ chơi ‘Phoenix’ cung mi giáng. Rồi có thể là ‘I fall in love too easily’, như chúng ta đã bàn. Và kết thúc bằng ‘One for my baby’. Thế là đủ. Bà ấy sẽ không nghe nhiều hơn đâu.”

Sau đó ông lại chìm vào suy tưởng, và chúng tôi cứ thế trôi qua bóng tối trong tiếng khỏa nước nhè nhẹ của Vittorio.

“Ông Gardner ạ”, rốt cuộc tôi nói, “mong ông thứ lỗi câu hỏi của tôi. Nhưng bà Gardner có biết trước cuộc trình diễn này không? Hay đây là một bất ngờ thú vị?”

Ông thở dài nặng nhọc, rồi nói: “Tôi nghĩ chắc là phải xếp vào mục bất ngờ thú vị.” Rồi nói thêm: “Có Chúa biết bà ấy sẽ phản ứng thế nào. Có thể chúng ta sẽ không tới được tận ‘One for my baby’.”

Vittorio cho thuyền ngoặt qua một khúc kênh nữa, và đột ngột nghe vang lên tiếng cười và tiếng nhạc, chúng tôi trôi qua một nhà hàng lớn, đèn đuốc sang trưng. Bàn nào hình như cũng kín khách, các anh bồi lăng xăng hối hả, thực khách đều có vẻ sung sướng, dù ở bên kênh đào vào mùa này trong năm chắc cũng không ấm mấy. Sau cảnh tĩnh mịch và bóng tối chúng tôi vừa đi qua, nhà hàng này gây cho tôi cảm giác bất an. Có vẻ như chúng tôi mới là người đứng yên, đứng trên bến tàu mà ngắm, trong lúc con tàu dạ tiệc lấp lánh ấy trôi qua. Tôi nhìn thấy vài khuôn mặt ngoảnh ra phía mình, nhưng không ai để ý nhiều đến chúng tôi. Rồi nhà hàng đã nằm lại đằng sau, và tôi nói:

“Kể cũng buồn cười. Ông có tưởng tượng được đám khách du lịch ấy sẽ làm gì nếu họ vỡ lẽ là có chiếc thuyền chở Tony Gardner huyền thoại vừa đi qua không?”

Vittorio, dù không khá tiếng Anh lắm, cũng hiểu được đại ý và cười một tiếng nho nhỏ. Nhưng một hồi lâu ông Gardner không đáp lại. Chúng tôi vừa trở lại trong bóng tối, trên một khúc kênh hẹp giữa những cửa ra vào sáng nhờ nhờ, thì ông bảo:

“Anh bạn, anh đã sống tại một nước cộng sản. Chính vì thế anh không nhận ra ở đây thế giới vận hành thế nào.”

“Ông Gardner,” tôi nói, “giờ nước tôi không còn là cộng sản nữa. Giờ chúng tôi là một dân tộc tự do.”

“Tôi xin lỗi. Tôi không có ý khinh thường tổ quốc anh. Các anh là một dân tộc anh dũng. Tôi mong cho các anh chóng được hòa bình và thịnh vượng. Nhưng tôi định nói với anh là, anh bạn, tôi có ý là vì anh sinh trưởng ở quê hương anh cho nên điều tự nhiên là có nhiều chuyện anh chưa hiểu hết. Cũng như sẽ có nhiều điều tôi không hiểu về đất nước anh.”

“Tôi nghĩ là ông nói đúng, thưa ông Gardner.”

“Những người chúng ta vừa đi qua. Nếu anh đến chỗ họ mà bảo, ‘Này, các anh có ai còn nhớ Tony Gardner không?’ thì có thể một vài người trong đó, phần lớn cũng nên, sẽ bảo có. Ai biết được? Nhưng đi thuyền qua như chúng ta vừa rồi, ngay cả nếu họ có nhận ra tôi, liệu họ có phấn khích không? Tôi nghĩ là không. Họ sẽ không buông nĩa, sẽ không ngắt quãng câu chuyện tâm tình bên ánh nến đâu. Việc gì phải thế? Chẳng qua là một gã hát tình ca của một thời xưa cũ mà thôi.”

“Cái này thì tôi không tin được, thưa ông Gardner. Ông là một giọng hát kinh điển. Ông cũng ngang với Sinatra hay Dean Martin. Những nhân vật kinh điển, họ không bao giờ lỗi mốt. Không phải như đám nhạc pop bây giờ.”

“Anh nói thế là tử tế lắm, anh bạn. Tôi biết anh có thiện ý. Nhưng một đêm như đêm nay, đây không phải là lúc để phỉnh nịnh tôi.”

Tôi đã muốn phản đối, nhưng có gì đó trong dáng vẻ ông khiến tôi không muốn tiếp tục đề tàu này. Thế nên chúng tôi đi tiếp, không nói câu nào. Thành thực mà nói, lúc này tôi bắt đầu nghĩ xem mình đã rơi vào chuyện gì, cái trò hát bên cửa sổ này là sao. Và những người này là người Mỹ nữa chứ. Làm sao tôi dám chắc rằng khi ông Gardner bắt đầu hát bà Gardner sẽ không đến bên cửa chĩa súng nã đạn vào chúng tôi.

Có lẽ Vittorio cũng đang nghĩ tương tự trong đầu, bởi khi chúng tôi lướt qua gần một cây đèn gắn trên tường, anh ta ném cho tôi một cái nhìn như muốn nói: “Chúng ta vớ được một gã gàn dở, phải không, amico?” Nhưng tôi không đáp lại. Tôi không định về phe với loại người như anh ta chống lại ông Gardner. Theo lời Vittorio, những kẻ nhập cư như tôi chỉ có đi lột tiền của khách du lịch, xả rác xuống kênh, và nói chung là hủy hoại cả thành phố. Có những ngày, nếu đang gặp cơn khó chịu, anh ta sẵn sàng kết tội chúng tôi là bọn xin đểu – dâm tặc nữa không chừng. Tôi đã có lần hỏi thẳng mặt có đúng là anh ta nói vậy về chúng tôi không, và anh ta thề thốt đấy chỉ toàn là bịa đặt. Làm sao anh ta mà lại hận thù chủng tộc được, trong khi có một bà dì người Do Thái mà anh ta tôn thờ như mẹ? Nhưng một buổi chiều nọ tôi đang tiêu khiển giữa hai suất diễn, tựa mình trên cây cầu ở Dorsoduro thì thấy một chiếc gondola trôi quabên dưới. Trên đó có ba du khách đang ngồi, và Vittorio đứng dựa cây chèo, làm một bài diễn văn cho cả thế giới cùng nghe, miệng tuôn ra đúng những lời lẽ ấy. Cho nên anh ta cứ việc tìm mắt tôi tùy thích, nhưng đừng có hòng tranh thủ tình đồng đội của tôi.

“Tôi sẽ cho anh biết một bí mật nhỏ,” ông Gardner thình lình nói. “Một bí mật nhỏ về nghề diễn. Trao đổi kinh nghiệm nhà nghề. Cũng đơn giản thôi. Anh phải biết một điều gì đó, điều gì cũng được, anh phải biết một điều gì đó về khán giả của anh. Một điều gì đó đủ cho anh có thể ngầm phân biệt được khán giả này với những người anh vừa hát cho nghe đêm hôm trước. Ta lấy ví dụ anh đang ở Milwaukee. Anh phải tự hỏi mình, có gì khác, có gì đặc biệt ở khán giả Milwaukee? Có gì khiến họ khác với khán giả Madison? Nếu không nghĩ ra được gì, anh cứ phải nghĩ tiếp đến lúc tìm được. Milwaukee, Milwaukee. Ở Milwaukee có món sườn lợn rất ngon. Chỉ thế là đủ, đấy là cái sẽ giúp anh khi bước ra sân khấu. Anh không cần phải nói ra với họ, chỉ cần giữ trong đầu khi anh hát cho họ nghe. Những người ở trước mặt anh đây, họ là những người vẫn hay ăn sườn hảo hạng. Họ có đòi hỏi rất cao đối với món sườn. Anh hiểu tôi nói gì không? Như thế khán giả trở thành một người mà anh hiểu, một người anh có thể biểu diễn cho nghe. Đấy, bí mật của tôi là thế. Trao đổi kinh nghiệm nhà nghề.”

“Vâng, cám ơn, thưa ông Gardner. Tôi chưa bao giờ nghĩ theo cách đó. Chỉ bảo của một người như ông, tôi sẽ không bao giờ quên.”

“Thế nên,” ông nói tiếp, “tối nay chúng ta đang biểu diễn cho Lindy. Lindy là khán giả. Thế nên tôi sẽ nói với anh gì đó về Lindy. Anh có muốn nghe về Lindy không?”

“Có chứ, thưa ông Gardner,” tôi nói. “Tôi hết sức muốn nghe về bà ấy.”

QUÊ HƯƠNG

 

Ôi lịch sử những dòng đời cay nghiệt,
Những tự hào hoá giải với oan khiên.(Trần Kiêm Đoàn)

 

Quê hương có gì để nhớ
Mà sao nước mắt lưng tròng?

1.

Quê hương. chiếc đò nho nhỏ
Qua sông. kham khổ từng ngày
Thân me vai gầy. gánh khổ
Thương con. chịu nổi đắng cay

 

Quê hương còn đầy thương nhớ
Ngoại nhai tóm tém trầu cay
Mẹ mày. thằng cháu mất dạy
Rong chơi lêu lổng suốt ngày

 

Quê hương làm sao không nhớ?
Cầu tre lắt lẻo sáng mai
Đường vui. trống trường réo gọi
Cây cao. chim hót từng bầy

 

Chia nhau từng viên đạn nhỏ
Bịt mắt. kiếm  tìm. Ai đây?
Chia nhau nỗi lo thầy gọi
Nhói đau. thước khẽ bàn tay
Chia nhau trái me keo  ngọt (+)
Chia nhau từng tiếng cười đầy

 

Quê hương làm sao không nhớ?
Dòng sông tuổi trẻ mênh mang
Bần de. phóng đùng. nước mát
Lặn tìm. chân bắt. la vang
Bờ sông. chị khàn tiếng gọi
Vết roi cha đánh. tím bầm!

 

2.

Quê hương đỏ màu phượng vĩ
Hè sang.   ve sầu khóc vang!
Tạ từ. lời ca ly biệt
Buồn trao lưu bút. lệ tràn!
Biết rồi mùa sau gặp lại?
Hay rồi đôi ngã ly tan!

 

Quê hương. buồn vui gác trọ
Thả hồn. giọng Khánh Ly khàn
Chia nhau. chút đầu thuốc vụn
Khói bay. theo khúc tình tan

 

3.

Bao năm đời này vẫn nhớ
Xuân nao. thay đổi phận người!
Bể dâu. biệt ly. mong đợi!
Khổ đau thay thế nụ cười!

 

Bao năm chém tre đẵn gỗ
Bạn bè. chết không nắm mồ!
Mẹ già vượt đồi núi khổ
Thăm con. lệ cạn mắt khô!

 

Con ơi. vợ con Kiều đó
Bán thân. lo giúp cho chồng!
Chữ Trinh. thôi đành phụ bạc!
Đoạn trường. con biết hay không?!

 

4.

Bao năm đời này vẫn nhớ
Đêm thâu. xuôi mái theo dòng
Người đi. không lời từ biệt
Buồn ơi. tím biếc dòng sông!

 

Quê hương ta ơi. thôi nhé!
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!
Rặng cây quê hương mờ bóng
Có còn gặp lại được không?

 

5.

Quê hương hoài mong thương nhớ
Cô thân. lưu lạc phuơng người
Chiều nay. nhớ dòng sông ấy
Lục bình hoa tím hoài trôi!

 

Quê hương ta ơi …đừng nhớ!
Muộn phiền. cay đắng mà thôi!
Cố quên. sao lòng vẫn nhớ!
Quê hương nhớ lắm… ơi người!

 

Quê hương còn gì để nhớ?
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!

Quê hương sẽ còn để nhớ?
Quê hương đáng nhớ không người?!

 

Nguyên Lạc                 

——————————————————————————————————–

Chú thích:

(+) Me nước hay còn gọi me keo, găng tây, keo tây (danh pháp khoa học: Pithecellobium dulce) là một loài thực vật có hoa trong họ Đậu (Fabaceae).

 

NGÀY THÁNG ẤY HỒN NHIÊN

 

1.

Đầu những năm 60, không rõ được cất từ thời nào mà một dãy phố trệt ở gần cuối đường Trần Quang Khải, khu Tân Định, trông rất cũ kỹ. Chiều chiều, quanh quẩn bên những gốc cây dầu, cây sao trên vỉa hè, bọn trẻ khu phố kéo nhau ra chơi đủ thứ trò. Có nhiều trò con gái con trai chơi chung như: trốn tìm, nhảy dây, lò cò, đánh đáo…, vài trò khác thì tụi con gái thường chỉ đứng xem mà rất hiếm khi tham gia, như: đá banh, bắn bi, bắn ná, u bắt mọi…

Cứ thế, hai đứa bạn hàng xóm lâu năm, chơi với nhau rất thân là hai tên nhóc ngang tuổi nhau, Hòa và Quan. Cũng hay đi chung, chơi chung với cặp bài trùng này còn có Kim, chị kề của Quan và chỉ lớn hơn 1 tuổi. Hòa cũng xem chị Kim như bạn học, do cả ba đứa đều học chung trường, chỉ khác lớp.

Hết lớp 5, cả ba đứa cùng đậu tiểu học, chị Kim đậu luôn vô lớp đệ thất trường công là trường nữ trung học Lê Văn Duyệt, gần lăng Ông Bà Chiểu. Còn bọn con trai, do đậu tiểu học xong là ham chơi suốt mấy tháng, không chịu ôn bài đàng hoàng nên đều rớt khi thi vào lớp đệ thất trường công Trần Lục, gần chợ Tân Định. Bố mẹ Hòa dễ dãi, cho con học trường tư, là trường Les Lauriers cũng gần nhà. Chỉ còn Quan, do bố mẹ cương quyết, bắt học lớp tiếp liên, dùi mài ôn tập để thi vào trường công lần nữa. Kết quả là, đành chịu chậm mất một năm, cậu mình lọt vào vào trường Trần Lục.

Thế là khi lên trung học, ba đứa bạn thân học ở ba trường khác nhau nhưng Hòa vẫn tiếp tục chơi thân với Quan và chị Kim. Sắp dậy thì, con gái trổ mã, cô chị của Quan cao hơn hai thằng con trai gần cả tấc. Lúc này ba đứa bắt đầu “ngao du” những chỗ mới, xa nhà hơn, như piscine Chi Lăng, piscine Đại Đồng, lăng Ông Bà Chiểu… Thú vị nhất là những địa điểm bên Dakao, tức vẫn gần nhà, lội bộ một lát cũng tới, như: tiệm thạch chè Hiển Khánh cạnh rạp ciné Casino Dakao, mấy chỗ bên đường Hiền Vương là đền thờ Hưng Đạo vương, đất thánh Tây cùng đất thánh Chà, rồi chùa Ngọc Hoàng… Vui nhất là vô chùa Ngọc Hoàng, bứt lá cây thả xuống cái hồ nước xanh lè cho mấy chú rùa ăn. Gần cổng chùa lại có một lớp dạy Anh ngữ buổi tối, ban ngày thường ơ thờ quên khóa cửa phòng học, cả bọn lẻn vào, ban đầu chỉ ngồi chơi, sau lén lấy về cả hộp phấn viết bảng. Cái trò “trộm vặt” chẳng đáng gì nhưng lại vui vui, dù cái giá phải trả là trên đường về Quan cứ hồi họp úm, che cái hộp dấu trong áo. Cả bọn đều lo lắng, ngó dáo dác, sợ người của lớp học biết đâu lại đột nhiên xuất hiện và bắt tại trận…

Lúc này, tính khí của mỗi đứa đã định hình khá rõ rệt. Quan lúc nào cũng suy nghĩ thực tế, nhanh nhẹn, tháo vát, nhiều sáng kiến. Chị Kim thì thông minh, tế nhị, cứng cỏi, hướng ngoại, nhiều lúc không hề ngại tỏ vẻ “đàn chị” đối với hai cậu em. Hòa thì ôn hòa nhất trong bọn, hay hướng nội, mơ mộng và hiếu cảm. Được nhất là cả ba đều học giỏi đều các môn nên thường xuyên đứng hạng thứ cao trong lớp. Đáng khen hơn nữa, cả ba đứa học giỏi đều do trí thông minh hay năng khiếu riêng – Quan giỏi trội nhất là môn toán, Hòa, chị Kim trội nhất môn Anh ngữ và Hòa trội nhất về môn văn –  cộng thêm trí nhớ tốt chứ chẳng đứa nào chịu cần cù, học gạo. Sở trường của mỗi đứa là như thế nhưng trong bụng lúc nào Hòa cũng thầm nể cái tánh cứ-như-con-trai của chị Kim. Cậu mình phục lăn chị bạn, đã lúc nào cũng nói nhanh và bước đi nhanh, mà nắm bắt, phán đoán chuyện gì cũng vừa nhanh nhạy vừa xác đáng.

 

2.

Năm Hòa và chị Kim thi tú tải hai, Quan thi tú tài nhất thì ba mẹ Hòa dọn nhà qua Bà Chiểu. Từ đó, cứ cách hai, ba ngày là Hòa lại qua Tân Định ghé chơi cả buổi, có khi ở lại ăn cơm với gia đình Quan, chị Kim. Lúc này, về ngoại hình, con gái con trai gì cũng thay đổi, nở nang hơn, đường nét mạnh mẽ hơn hoặc thướt tha hơn. Con trai nhổ giò nên đã lấy lại danh dự nam nhi, không chịu thấp hơn con gái nữa, ngược lại còn cao hơn vài phân. Còn về nội tâm, cô thiếu nữ 18 tuổi, thon thả, duyên dáng, đã có cả một vũ trụ tâm tưởng riêng tư của con gái nên đã ít đi chơi, ít sinh hoạt chung với hai cậu em.

Vẫn tánh quyết đoán và sớm chín chắn so với lứa tuổi, trong trường chị Kim đã được bầu làm trưởng lớp liên tục hai niên khóa. Cũng từ cái tính hướng ngoại, thích tham gia hoạt động xã hội, chị Kim đã dẫn dắt hai cậu em cùng vào sinh hoạt trong một nhóm tín đồ đạo Mormon, cùng có thêm vài người bạn mới, đó là những người Mỹ làm việc cả bên dân sự lẫn bên quân đội. Hầu hết trong nhóm này thuộc giới trẻ, hiếu động và rất ham vui, ngày nghỉ cuối tuần thường tổ chức party. Hòa, Quan, chị Kim theo ngay một lớp học khiêu vũ do họ tổ chức, tất nhiên miễn phí và không buộc phải về xin phép phụ huynh. Tại lớp, rất dễ nhận ra năng khiếu đối với môn khiêu vũ cứ như sẵn có ngay từ lúc mới chào đời của chị Kim và Hòa. Học đến điệu nhảy cổ điền hay tân thời nào cả hai cũng thành thạo rất nhanh, bước đi uyển chuyển, quay người gọn, đẹp… Còn Quan – “nhà” toán học, giỏi luôn về khoa cơ khí, máy móc – lại có phần vụng về, tập bước căn bản tương đối chậm, cũng nắm bắt khá chậm các kiểu fantasy.

Trong đêm party đầu Kim, dù nhảy khá thạo, đủ tự tin nhưng ban đầu Hòa vẫn hơi bị trục trặc bởi tính nhút nhát và nhạy cảm không đúng lúc, đúng chỗ. Khi sắp ôm eo những cô gái cùng nhảy, cậu mình rất hồi hộp, tim đập dồn dập, thậm chí lòng bàn tay xuất mổ hôi ướt rượt. Kỳ cục là những xáo trộn tâm lý lẫn sinh lý ấy xảy ra luôn cả khi Hòa tiếp cận với “phe ta”, “đào nhà” là chị Kim.

Suốt cuộc đời, Hòa không bao giờ quên người con gái đầu tiên cùng khiêu vũ với mình chính là chị Kim. Còn hơn thế, cô gái này và Hòa còn là một cặp bài trùng cho những bước tập đầu tiên rồi suốt cả lớp khiêu vũ. Tuy nhiên, ở giai đoạn còn học nhảy với nhau, có vũ sư theo dõi sát bên, Hòa chỉ chú ý, tập trung cả đầu óc lẫn thân thể để bước sao cho đúng cách và đúng nhịp hoặc quay sao cho khéo, không còn tâm trí đâu mà cảm nhận xem đang ôm ai trong tay… Đến đêm party  đầu tiên, để mở hàng cho “sự nghiệp” khiêu vũ của mình, Hòa mời ngay chị Kim. Cậu mình tính toán rằng nhảy với “đào nhà” thì lỡ có va vấp cũng đỡ sượng. Hơn nữa, chị Kim cho thấy nhảy đã khá vững, nếu “kép” có trật bước, trật nhịp thì chị cũng có thể nương theo, cùng chỉnh đốn lại được.

Đầu Kim, đôi bạn ra piste thì đúng lúc bản Perfedia trổi lên cho khách nhảy tua Chachacha. Điệu nhảy khỏi-ôm-đào này dễ ăn và bình an vô sự, miễn đừng bước nhầm phương hướng, “nhập vô, dạt ra” như kéo đàn accordéon hay dẫm chân người ta. Kế đó, Hòa và chị Kim đứng yên ở piste nhảy và ôm nhau khi ca khúc The First of May trổi lên với điệu Ballade.

Mọi sự có vẻ vẫn ổn. Vòng tay Hòa ôm chị Kim đang vừa phải, không lỏng cũng không xiết, đúng phép xã giao theo bài bản.

Nhưng kìa, cậu con trai chợt cảm nhận một điều gì đó là lạ, hay hay. Không còn là chuyện hai đứa bạn – một là con trai, một là con gái – hồn nhiên ôm nhau như vật lộn trong trò chơi u bắt mọi của tụi con nít ngày nào nữa. Cái trò chơi mạnh bạo thời niên thiếu ấy đã buộc Hòa, đã chọn một phe thì ở phe phải tuôn dầm mồ hôi, vất vả ôm ghịt lấy mình mẫy đối thủ bên phe kia – bất kỳ thằng nào, con nào – cho nó bất động tại chỗ thì mình cùng phe mình mới thắng…

Giờ đây, cuộc đời như đã bí ẩn thay đổi trong vòng tay Hòa. Cũng là thân hình con gái, đứa bạn gái gầy nhom mà Hòa đã kết thân qua không biết bao nhiêu trò chơi ngây thơ hồi nhỏ – nhưng giờ đây, thân chị Kim thật mềm mại, thon thả, cứ như được ai đó tính toán thật khéo cho đúng mực mảnh mai, đang không quá béo cũng không quá gầy mà chỉ thật vừa vặn với vòng tay ôm của cậu con trai, dịu dàng cận kề một cách thật êm ái, ngọt ngào.

“Don’t ask me why, but time has passed us by/ Some one else moved in from far
away”
, lời ca khúc cũng đang rất hợp với tâm trạng ngỡ ngàng của Hòa lúc này.

Trong ánh sáng mờ ảo, huyền hoặc của phòng nhảy, nhiều lúc hai bạn nhảy lặng thinh nhìn vào mắt nhau. Chị Kim mỉm cười nhè nhẹ. Hòa xao xuyến đến lặng người, bởi chưa bao giờ thấy cô bạn cười đẹp và dễ thương đến vậy. Và xao xuyến đến đâm ra sợ hãi sức quyến rũ của nụ cười con gái, cứ chốc lát Hòa lại nhìn tránh sang chỗ khác, không dám nhìn quá lâu khuôn mặt con gái quen-mà-lạ cận kề, lại còn thoảng thoảng mùi nước hoa ma mị gì đó…

Bản nhạc dứt đã lâu, cậu con trai mới lớn cứ như vẫn còn đắm hồn trong một cơn mê kỳ lạ. Hòa mơ hồ cảm thấy, sau đêm khiêu vũ nầy, tuồng như những cảm xúc tinh khôi, mượt mà với con gái trên đời này, cụ thể là với chị Kim, bởi mới mẻ, sâu lắng quá nên chắc sẽ còn vang vọng, ray rức thật lâu nữa trong cuộc sống của mình những ngày tới…

 

3.

Năm đầu đại học, Hòa vào trường Văn Khoa và chọn ban triết, chị Kim vào trường Vạn Hạnh, học ban khoa học xã hội. Qua những lần đến nhà chơi với hai chị em Quan, tình cờ Hòa thấy hai anh chàng trắng trẻo, cùng đeo kính cận gọng vàng, một anh đi xe Vespa Italy, anh kia đi chiếc Honda 90 phân khối, hết anh này đến anh kia cứ đến tìm chị Kim hoài. Tình cờ gặp lúc chị Kim tiếp bạn, Hòa ngồi trên gác với Quan, nghe loáng thoáng cô gái Bắc đáo để trong nhà chuyện trò một mực ngọt ngào, rôm rã, với bất cứ anh chàng cây si nào khi đến lượt tiếp chuyện đối tượng. Hai cậu em, dù thuộc loại vừa hiền vừa khờ về chuyện con trai con gái yêu đương, bồ bịch nhưng nào chịu im, cứ om xòm bình luận với nhau về tình hình ở phòng khách. Đoán mò, đoán suông mãi cũng chán, bèn bắt cá, Quan cho rằng chị mình sẽ chọn tên Honda 90, Hòa ngược lại, cho là chi Kim thích tên Vespa hơn.

Rốt cuộc, trong một bữa đi ăn chè Hiển Khánh, bị “thắc mắc đời tư” mãi nên chị Kim hơi bực, tiết lộ luôn một hơi nhưng thật ngắn gọn vừa đủ nghe, rằng đó là hai tên bạn sinh viên lớp trên trong trường. Theo nhận xét đã đủ chín chắn của cô gái, cả hai bạn trai này đều thuộc loại thiếu gia con nhà giàu, đều lịch sự và cư xử đàng hoàng, chỉ tiếc rằng một anh thì có tính “thùng rỗng kêu to”, hoang tưởng về chính mình, còn anh kia chưa chi đã lộ ra tính độc tài, gia trưởng. Do đó,“Là bạn, bạn tốt thôi, không bồ bịch, iu iếc gì cả!”, chị Kim bình thản kết luận.

Một ngày nọ, Hòa ngỡ ngàng nhận được tin vui. Quan báo cho biết chị Kim vừa đột ngột nhận lời cầu hôn của một người Mỹ. Hòa cũng biết sơ về anh chàng này. Đó là một thanh niên có vẻ cũng bình thường thôi trong nhóm đạo Mormon, giờ Hòa mới được biết rõ hơn: anh là đại úy hải quân, họ hàng gần với một vị đô đốc hải quân Hoa Kỳ.

Ngày đám cưới, buổi sáng Hòa bận đi học nên không dự các nghi thức hôn lễ, chỉ dự tiệc cưới ở khách sạn/nhà hàng Majestic buổi tối. Đường Trần Quang Khải náo động như muốn kẹt xe khi cả một đoàn xe Ford quân đội, sơn màu xanh đen của quân cảnh Mỹ rộn rịp tới lui, đậu la liệt trước căn nhà trệt xoàng xỉnh của đàn gái. Chợt mưa thật lớn, mấy anh MP Mỹ cao lớn phải bung dù, che đưa từng vị khách  ra xe… Xe chạy, Hòa cảm thấy êm như ngồi trên máy bay. Nhìn qua lớp kính xe màu thật tối, cảnh tượng đường phố trong mưa cứ loang loáng lướt qua như ảo ảnh…

Đại sảnh của khách sạn choáng ngợp ánh sáng. Cô dâu, chú rể mặc áo dài cổ truyền VN thật rực rỡ, tươi cười đứng chào khách. Trang điểm tuyệt mỹ nhưng chị Kim vẫn không dấu được vẻ mệt mỏi trên gương mặt. Hòa tréo hai cánh tay mình để bắt tay một lượt cả chú rể lẫn cô dâu. Nằm gọn trong bàn tay Hòa, bàn tay đã tháo găng của chị Kim nhỏ nhắn, lạnh lẽo đến tội nghiệp. Hòa hướng về chú rể, nói chưa hết câu chúc tân hôn tiếng Anh thì chợt cảm thấy chị Kim khẽ xiết mạnh bàn tay mình, Hòa xoay qua nhìn thì nghe giọng thầm thì “Hòa mi Kim cái đi! Hòa nhé…”. Cô dâu vừa nói vừa dùng ngón tay gõ nhẹ vào gò má mình, ánh mắt long lanh…

Hòa sửng sốt, buông bàn tay chú rể, chỉ giữ bàn tay cô dâu nhưng vẫn đứng im như một chàng ngố, chỉ biết nhìn chăm chăm vào mắt anh chồng người Mỹ, như thể xem anh phản ứng ra sao trước đề nghị của vợ mình. Kìa, anh ta cười vô tư, thoải mái, nói “OK! OK!”, còn gật gật đầu.

Tim đập thình thịch, Hòa vụng về hôn thật nhẹ lên má chị Kim. Cô dâu còn bắt cậu bạn hôn cả bên má còn lại của mình xong mới chịu buông tay, thả tự do cho chàng ngố.

Hòa đã từng biết, từng thấy người phương Tây, chỉ là bạn bè nhưng nam nữ vẫn thường ôm nhau, hôn nhau trên má khi gặp gỡ, tạm biệt, chúc mừng, chia sẻ nỗi niềm… Nhưng vừa rồi, Hòa vẫn hồi hộp, lúng túng khi hôn chị Kim – coi như công dân Hoa Kỳ đến nơi, do đây là lần đầu tiên của đời trai trẻ, Hòa được một cô gái cho phép ôm hôn. Còn chàng rể, đã sinh ra và lớn lên trong xã hội Âu Mỹ, tất nhiên chẳng có vấn đề gì khi chứng kiến một người đàn ông – cũng là bạn thân của vợ mình – vừa ôm hôn nàng. Anh chàng còn vỗ tay cười như thích chí tán thưởng nữa kìa.

Tiệc cưới linh đình của chị Kim diễn ra trong cảnh trí hoành tráng, sang trọng ngoài sức tưởng tượng của Hòa, bởi do là con cái một gia đình chỉ thuộc hàng trung lưu bậc dưới, từ nhỏ đến giờ cậu mình rất hiếm khi được lui tới nơi cao sang của giới thượng lưu như khách sạn cỡ này. Bên cạnh đó, đại tiệc kiểu Âu Mỹ hết sức sang trọng, bàn ăn kiểu dài thườn thượt, thực khách của một bàn đến mấy chục người cứ ngồi đối diện nhau, tức không phải kiểu ngồi thành vòng tròn với kiểu bàn chỉ 12 ghế ở nhà hàng Tàu. Được bố tập cho từ ở nhà, Hòa sử dụng dao, nĩa cũng coi như thành thạo, nhưng cậu mình không thể hiểu hết những cái tên tiếng Anh xa lạ trên menu vì tiệc đãi rất nhiều món Tây và có vài món rất cầu kỳ.

Rốt cuộc, cậu con trai rời khỏi buổi tiệc cưới chị bạn với ngổn ngang nhiều nỗi ngỡ ngàng, bâng khuâng. Cùng một lượt, nhiều thứ hoàn toàn mới mẻ rủ nhau đâm sầm vào tâm tưởng của Hòa.

Cậu con trai mơ hồ nhận ra rằng, thật hạnh phúc, sung sướng khi lần đầu tiên trong đời được có mặt trong một khung cảnh thượng lưu, quyền quý tột cùng và được thưởng thức món ngon vật lạ thừa mứa, nhưng vượt lên trên mọi thứ vật chất cao sang ấy, cái quý giá, sâu lắng hơn hết trong đêm nay không gì khác hơn niềm cảm xúc ngọt lịm, lâng lâng đến muốn bay bổng khi lần đầu tiên trong đời mình được hôn con gái.

 

4.

Đám cưới đã xong xuôi, chiều hôm sau Hòa rảnh rỗi bèn lấy xe qua Tân Định tìm Quân chơi thì Quân vắng nhà và tình cờ có chị Kim về nhà ăn cơm tối với gia đình. Hòa chào bác trai để ra về thì chợt bác gái ở nhà dưới bước lên, bảo nhỏ:

“Cái Kim đang ốm, nằm trên gác nghe tiếng con, nó bảo con lên gác, nó nói gì đấy”.

Trong ánh sáng nhợt nhạt buổi chiều, căn gác – nơi chốn rất quen thuộc với Hòa vì từ lâu cậu đã có mặt tại đây trong rất nhiều sinh hoạt, từ học nhóm, chơi đùa, nghịch ngợm cho đến ăn vặt, uống cà phê với chủ nhà – bỗng dưng im ắng lạ thường. Hơn thế, Hòa như khựng lại khi thấy chị Kim nằm sóng soãi trên chiếc giường nhỏ, quần sọt, áo thun mong manh, trễ tràng. Khi Hòa lấy chiếc ghế nhỏ, ý tứ ngồi tuốt ở phía chân giường như thủ thế thì cô gái lại vất luôn sang bên cái gối nhỏ đang phủ trên ngực. Như bị điện giật, Hòa vội vàng nhìn tránh vào vách.

Cậu trai hiền, chưa hề biết mùi tình dục, vô cùng xốn xang khi thoáng thấy mờ mờ ảo ảo khuôn ngực lồ lộ không áo lót và cặp giò thuôn dài của cô gái – đúng hơn là của một người đàn bà trẻ, mới động phòng hôm qua.

Lúng túng quá nhưng Hòa cũng ráng lên tiếng:

“Chị ốm hả? Có uống thuốc gì chưa?”

Cô gái vẫn nằm nghiêng, chỉ chống tay đỡ một bên má và đáp khẽ:

“Kim chỉ hơi nặng đầu, dã dượi thôi”, rồi bảo Hòa ngồi sát lại hơn. “Mà… Hòa đừng gọi Kim là chị nữa, gọi Kim thôi là được rồi”

Hóa ngơ ngác:

“Là sao chị Kim? Chị là chị Quan mà. Lại lớn hơn Hòa…”

Chị Kim phật ý, ngắt lời:

“Đã bảo đừng gọi Kim là chị cơ mà! Tụi mình chơi thân với nhau bao năm rồi, nay Kim lấy chồng, sắp đi thật xa nữa, nên Kim muốn mang theo một tình cảm thật dễ thương duy nhất của thời con gái, là Hòa đấy!”

Từ lúc này, xen giữa những quãng lặng kéo dài khá lâu, chốc lát cô gái lại phải gợi chuyện, lên tiếng nói, hỏi gì đó vì cậu trai chỉ biết im lặng và thỉnh thoảng còn phải lo tránh ánh mắt rất lạ của cô gái cứ đăm đăm nhìn mình.

Chị Kim giải thích bâng quơ gì đó, bảo rằng ai mà muốn lấy chồng, chỉ là bố mẹ ở nhà – nhất làm mẹ – đã theo dài hơi thuyết phục con gái mình không cần phải suy nghĩ, đắn đo gì cả, bởi không thể dại dột bỏ qua một đám có tương lai huy hoàng đến như thế…

Trời tối nhờ nhợ, Hòa đứng dậy định mở đèn nhưng chị Kim không cho. Cô gái lại nói tiếp… Có lúc Hòa đành chịu, không hiểu ý của Kim muốn nói gì nhưng Hòa vẫn bàng hoàng lắng nghe. Cậu con trai càng bàng hoàng, rối tung trong lòng khi cảm thấy bàn tay ẩm lạnh của cô gái xiết nhè nhẹ bàn tay mình rồi nắm mãi không buông…

Sau buổi chiều ngồi với chị Kim trên căn gác, cứ mỗi lúc Hòa chợt nghĩ về cô gái là một nỗi xao xuyến lạ thường lại choáng ngợp tâm tưởng, khiến cậu con trai mới lớn cảm thấy vừa phiền muộn không đâu vừa mệt mỏi mơ hồ, đến nỗi gần như rũ liệt. Hòa nằm lì trong phòng, không thể nào ra phi trường tiễn chị Kim theo chồng về nước Mỹ xa vời vợi kia…

 

PHẠM NGA

Tháng 10/2017