THƠ TÔI LÀ GIỌT LỆ NGƯỜI TRĂM NĂM

 

 

VƯỜN XƯA

Mai người về lại vườn xưa
Nhặt câu thơ cũ cũng vừa rêu xanh
Gói câu thơ lại tội tình
Chôn vào vô tận mông mênh đất trời
Câu thơ còn ấm lệ người
Hồn thơ siêu thoát chưa nguôi nỗi tình

Rồi đành quên ! Có đành quên ?
Lối xưa vườn cũ vàng hanh nắng chiều
Thơ tàn tro khói vàng thiu
Ngàn năm bay mãi vào hiu quạnh này

Ai chôn dưới cội mai gầy
Hoa vàng mấy độ vàng phai rụng vàng.

 

 

TA GỬI GÌ VÀO GIỌT RƯỢU CHIỀU NAY

 

Ta ném vội nỗi buồn vào quên lãng
Những đợi chờ, hy vọng sẽ tàn vơi
Và ta sẽ như một loài cây cỏ
Cứ nở hoa khoe sắc hiến dâng đời

Lòng ta sẽ vì thơ mà thắm lại
Yêu nhân gian, yêu cả những phụ phàng
Ta yêu cả những tình đi không trở lại
Yêu em như yêu Chúa, bỏ thiên đàng

Ta sẽ ném nỗi buồn không tưởng tiếc
Giọt rượu này trôi suốt cõi vô biên
Ta yêu cả những sinh tồn hủy diệt
Ta yêu em yêu giấc mộng không thành

Chiều nay ta uống mà không thể
Gửi đến lòng ta ly rượu cay
Đã ném đời ta vào dâu bể
Mà nghe tình em như mây bay.

 

 

THƠ TÔI LÀ GIỌT LỆ NGƯỜI TRĂM NĂM

 

Tôi đang khát cháy cả lòng
Uống nghìn chung mà nỗi buồn chưa vơi

Đi qua mấy dặm luân hồi
Thơ tôi là giọt lệ người trăm năm
Đi qua mấy cuộc thăng trầm
Thơ tôi là hạt sương tan giữa chiều
Đi, về trong cõi quạnh hiu
Thơ tôi là tiếng chim kêu cuối ngàn
Qua em là những dỡ dang
Thơ buồn đọng lại điêu tàn thu xưa

Tôi đang khát, cháy niềm đau
Rượu người chảy một dòng sầu vô biên
Xin đời giây phút bình yên
Cho tôi neo đậu bóng thuyền đời tôi

Xin cho tàn cuộc luân hồi
Thơ tôi là giọt lệ người trăm năm.

LÊ VĂN TRUNG

Nhật Ký Sáng Tháng Giêng

Sáng Thứ Hai, lễ, nghỉ (*)
thành phố lạnh và buồn
Nhà Thờ có gióng chuông
mà không nghe giòn giã…

Sắp Tết rồi, hoa, lá
nảy nở cũng chưa nhiều
những cây hoa anh đào
chao chao mình trong gió…

Chạy dọc theo con phố
là gió, gió, dịu dàng
không có xe vội vàng
và đèn đường chưa tắt…

Ngày mùa Đông có khác
đêm kéo dài lê thê
ngày lễ càng ngủ mê
và lạnh ai, cũng kệ!

Tôi nói gì vậy nhỉ?
Không lẽ tôi làm thơ
cho ai đó rất chờ
một bài thơ khô khốc?

Tôi đang nhớ mái tóc
em chải đầu trong suơng
Tôi đang nhớ tiếng chuông
của Nhà Thờ buổi sáng…

Sao tôi không lãng mạn
nói tình yêu vu vơ…
dưới cái bóng Nhà Thờ
con sông buồn vời vợi…

Cảm ơn ai đó đợi
bài thơ tôi thế này
là nhật ký của ngày
bắt đầu từ buổi sáng…

Bốn phuơng mù suơng trắng
có thể tuyết trên non…
những ngọn núi Quê Hương
mòn chưa trong mây khói?

Trần Vấn Lệ
(*) Lễ Martin Lutheran Day.

giới thiệu tác phẩm mới

“Mót Chữ Trong Kinh”- Tập thơ hai trăm bốn bốn bài thơ bốn câu của Nguyễn Hàn Chung -NXB Mở Nguồn 2020


 ĐỌC THƠ NGUYỄN HÀN CHUNG

“ Anh là thi sĩ , thơ hay, thơ đúng nghĩa của thơ…Mời đọc thơ Nguyễn Hàn Chung để xem mình sẽ tản thần như thế nào khi đọc thơ của anh”( LUÂN HOÁN)

“Mấy trăm bài thơ của Nguyễn Hàn Chung đều dựa trên cốt lõi trào phúng, giễu nhại của tinh thần Việt Nam, ngay bản thân ông cũng được tác giả đem lên trang giấy soi rọi một cách tận tình không ngần ngại…”(DU TỬ LÊ)

“Dù có giấu kỹ những suy tưởng của mình về trời đất về thế thái nhân tình thì cái chất trữ tình trong máu huyết ông, cái nỗi dằn vặt trong hồn ông vẫn còn đó một cách nguyên vẹn khó phai lợt…”(LƯƠNG THƯ TRUNG)

‘Tác giả nhà thơ ấy , thời gian gần đây “mê hoặc rất lâu” trên hầu hết diễn đàn văn chương hải ngoại, phóng khoáng trao gửi ra giữa đời một chữ tình….qua nhiều góc cạnh kèm một chút thiệt thà, một chút bông lơn, mà đa phần là rút ruột răn đe…”( HỒ ĐÌNH NGHIÊM)

“Đọc thơ Nguyễn Hàn Chung càng đọc càng thấm cái hay ho của ngôn ngữ Việt Nam. Từ cái trong sáng của Nguyễn Du đến cái u minh của NHC thấy thơ ai cũng nằm trong ánh đèn LED” (TRẦN VẤN LỆ)
      

“Nguyễn Hàn Chung thể hiện cách tân qua cung cách, qua cắt ghép số chữ 6-8 qua lên hàng và xuống hàng, nhiều bài khá thành công chứng tỏ tác giả có trăn trở kiếm tìm gần 200 bài một số khá đặc sắc, một số nên đọc lớn tiếng vào buổi bình minh, một số khác chỉ nên đọc khi ở một mình “(NGUYỄN VY KHANH)

” Nguyễn Hàn Chung là nhà thơ nổi tiếng nhiều năm nay từ trong nước ra tới nước ngoài … thơ tình nhưng không u sầu than thở mà có giọng đùa cợt nên dễ được nhiều người đồng cảm ưa thích” (NGUYỄN XUÂN THIỆP)
“Nguyễn Hàn Chung sống trong những trăn trở đó, nên thơ anh khi chạm tới nguồn mạch quê hương ta cảm thấy anh sống lại một cách mãnh liệt nhưng rất hồn nhiên, tiếng lòng của anh bật lên, ta nghe thấy trong sâu thẳm của chữ nghĩa anh dùng, có một tiếng nấc tự đáy  lòng phát tiết”(PHAN XUÂN SINH)
“Nguyễn Hàn Chung thuộc nhóm những người chủ trương canh tân đổi mới thi ca từ hình thức đến nội dung. Anh dùng chữ cẩn trọng, cân nhắc, nên trong suốt tập thơ, người đọc không thấy những sáo ngữ, những câu chữ mượt mà, bóng bảy, lê thê, sướt mướt. Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Hàn Chung song hành với đời sống ý tưởng gồ ghề mà anh thể hiện” (QUỲNH THI).


“Thơ của Nguyễn Hàn Chung nặng về tự sự, đi thẳng vào lòng người với một phong cách khó lẫn. Đọc thơ Nguyễn Hàn Chung, có cảm tưởng anh viết chỉ để riêng anh đọc, nên trong thơ anh bộc lộ tất cả, thành thật đến trong veo, nhưng… dẫu thế, thơ là sự đồng cảm, đọc lên lại hóa ra anh viết cho mọi người, nhất là những người, trước thế sự đau đớn ,nhăn nhó như thế này không thể không suy nghĩ, không thể không trăn trở.”(TRẦN KỲ TRUNG)

“Ngôn-ngữ trong thơ NHC: ngôn-ngữ tưởng không bao giờ có thể thấy trong thơ. Nhưng NHC đã dùng nó “tỉnh rụi” bình dị và đi vào lòng người lúc nào không hay. Và nó đã chiếm được cảm tình cuả tôi, tôi đón nhận nó như một người bạn lâu năm, bất ngờ gặp lại. Thơ NHC “lột trần”,”bóc vỏ” cuộc đời.Thơ cuả anh là cái gì xung quanh chúng ta, nó ngổn-ngang như sỏi đá, nó chồi lên như lau lách nơi bờ bãi, nó thanh thiên bạch nhật như những cao ốc lừng lững trong cuộc sống cuả thế kỷ hôm nay ,nó là trang FB, là cái trạm xăng nơi góc phố, là ly cà-phê buổi sớm, là điếu thuốc đầu ngaỳ, nó mang theo những hoài niệm, nỗi nhớ quê nhà, nó mộc-mạc hiền lành như ruộng luá, bờ tre” (NGHIÊN LONG- TRỌNG NGHĨA)

“Thơ Nguyễn Hàn Chung thấy vần điệu gần gũi mà ý tứ thăm thẳm, lắt léo…Đọc cách này lóe ra hiểu cách khác nhưng dù đi bằng cách nào đi nữa thì con đường đến thơ ông cũng độc đạo. Đó là con đường đầy cảm thông và yêu thương…” (DƯƠNG DIÊN HỒNG)

“Đọc thơ Nguyễn Hàn Chung đã thấy anh ở một nơi rất xa những tự sự buồn vui yêu thương tâm cảm như lời nói ra …chỉ có thơ là còn lại…” (HUỲNH LÊ NHẬT TẤN)

“Tôi khám phá trong anh khát vọng yêu thương mãnh liệt, yêu thương thân phận con người phải quay cuồng giữa cõi nhân sinh hỗn loạn, yêu đến độ đụng vào đâu cũng bục ra cả khối xót xa, trăn trở, ray rứt…” (NGÔ THỊ MỸ LỆ)

“Nhịp thơ hổn hển gấp gáp mà mộng mị đìu hiu. Thi ý vướng mắc trong hư huyễn đời người, nên dễ gì mà không đau. Điệp từ ngữ – cú pháp, cách ngắt câu xuống dòng bất thường lại là ưu điểm hay gặp trong tập thơ. Kệ đi! Miễn nhà thơ nỗ lực làm mới thi pháp, cách tân thể điệu để tránh sa vào lối mòn là đã hết lòng với nghiệp thơ, với bản sắc văn hóa Việt.” (NGUYỄN THOẠI VY)

Nguyễn Hàn Chung, một ngòi bút tài hoa đã khắc họa một cung bậc tình cảm tinh tế trong thiên hình vạn trạng yêu-nhớ-hận-quên của cõi đời này.” (TRẦN HẠ VY)

 

Trích mười bài thơ trong mót chữ trong kinh của Nguyễn Hàn Chung:

cái không của mình

chúng mình chơi tết bầu cua
nhưng chơi con giấy vẽ bừa cho xong
bầu cua tôm cá của đồng
tội chi chơi cái giả không của mình

hội lớp

 

những chàng trai suýt tám mươi
gọi vang ê nhỏ cái người bảy lăm
thẹn thùng nheo mắt xa xăm
nhướng lên hỏi gã chết bằm khỏe không?

đồng phục

sắm sanh áo váy đỏ hây
rủ rê đồng phục một ngày rong chơi
không đồng phục cả một đời
giam cầm khí chất riêng trời cho em

mưa khuya

mưa mai lất phất
mù sương lạnh

lại tới mưa trưa
rắc rối bời

mưa chiều rậm rịch
mà không rớt

dành giọt tàn đêm
quấy quá
tôi

khoảnh khắc

bỗng nhiên
tôi muốn làm du thủ

véo hồn nhiên
và ngắt tàn phai

tôi ngấm cố hương
màu lữ thứ

buồn no lưu lãng
đói trang đài

hoang tưởng

rượu ai người nấy lai rai
tiền ai người ấy tiêu xài thỏa tay
tình ai người ấy mê say
đừng hoang tưởng cộng riêng tây một chuồng

viễn xứ một ngày

ngày không thấy mỏ nhu xinh
ta ngứa ngáy ngón vô danh quá chừng
nỗi buồn qua khỏi thắt lưng
chỗ yêu còn lại tưng bừng, rứa thôi!

ngày không tới

gã cầm tờ lịch trên tay
trong tim khoanh đỏ cái ngày gặp em
cái ngày chưa lấm đã lem
không bao giờ tới đã thèm tôi chưa

tạ tình

ta xin thâm tạ ân tình
của em cho tới siêu sinh niết bàn
ta không kham nổi lá vàng
lá xanh chi để điêu tàn âm dương

phải lòng chi sá

bây chừ bụng gái rất thon
ngày xưa bụng gái no tròn thấy thương
phải lòng chi sá ễnh ương
có đâu diễn biến nghê thường mới yêu

NỢ PHÙ VÂN

 

Thiền sư gối cỏ mơ màng
Lung linh hoa nắng
ngập vàng trải sang

Có Sơ dừng bước, khẽ khàng
Cổi ra áo lụa
đắp chàng giấc mê

Dung nhan không vướng trăng thề
Áo thơm hương nhũ tràn trề ngực hoa

Có con
hạc nhỏ bay qua
Hỏi tôi xao xuyến
hay là bâng khuâng

Chim ơi xưa nợ phong trần
Nay thêm nợ phút phù vân ngọt ngào

HẠ QUỐC HUY

Tết Về Thay Áo Mới

Người ta nói chim Quyên chuyên ăn trái nhãn lồng.
Tôi thật có ước mong được nhìn thấy chim đó.
Nhà tôi ngay đầu ngõ, cây nhãn trồng ba năm.
Cây nhãn đã trổ bông. Và nó đã kết trái…

Thế mà tôi chờ mãi không thấy chim quyên đâu!
Nó ở tận rừng sâu? Hay nó trên núi thẳm?
Chưa thấy vẫn nhớ lắm, chim Quyên ơi chim Quyên!
Tôi nhớ như nhớ em yêu từ trong tiền kiếp…

Tuơng lai, đường đi tiếp. Ai về quá khứ xa?
Cái ngộ: Niềm Thiết Tha lại nằm trong hiện tại!
Trời sinh chi con gái cho con trai nhớ thương?
Trời sinh chi Quê Hương…đất chờn vờn mây khói…

Tôi không ai để hỏi, ba mươi năm quê người…
Trái nhãn cầm săm soi, cây nhãn mờ muôn dặm!
Một thời tôi núi thẳm, một thời tôi rừng sâu
Chim Quyên lúc đó đâu hồi tôi…chưa biết nhớ?

Buồn lật trang sách cũ, đọc ca dao bâng khuâng:
“Chim Quyên ăn trái nhãn lồng
Thia lia nhớ chậu, vợ chồng quen hơi”
Chắc tôi chưa tới nơi cái mùi xưa vời vợi…

Tết về thay áo mới
mùi Quê Hương tuơng tư…
Tôi cúi xuống bài thơ
thấy chim Quyên cái bóng!

Trần Vấn Lệ

   Tay phải làm tay trái không biết

 

Thiện trở về sau bảy năm trong trại giam XM. Đại ca quyết định quên tất cả để làm lại đời. Mà còn cái chi để không làm lại thưa giang hồ? Bốn mươi lăm tuổi đời cọng bảy năm xé lịch. Già rồi, cửa ngõ giang hồ không rãnh để tiếp nhà ngươi đâu. Và vợ con? Ngươi có chạnh lòng khi mỗi năm hai đợt không vợ thì con gái lớn phải mỏi mòn trên xe khách, nuốt tám trăm cây số đường để đến trại giam? Có chạnh lòng khi đi ba thằng con chưa thằng nào được cấp hai và thằng út một tuổi? Vì sao mà tù tội vậy Thiện? Và vì sao ở cái tuổi bốn mươi lăm lại lĩnh án?

Thiện hả? Tay nầy có cái đuôi sau tên nghe như một tay chơi hoa lá cành cây cảnh. Thiện Ngọc Điễm. Ngọc Điễm là tên đời vợ trước của Thiện. Mười tám tuổi Thiện đắm đuối đến quên luôn cha mẹ chứ đường đi lối về thì khỏi nói. Nhưng cha Thiện không đồng ý. Lý do? Ông nói chửa trước không bao giờ xứng đáng là con dâu ông. Má và ba ông anh trai của Ngọc Điễm tuyên bố rằng không sính lễ thì, con gái tao dại tao có cháu ngoại tao ẳm. Đôi bên căng như dây đàn khi nghe tâu mách từ bọn vô công rỗi nghề. Đụng ngoài đường nhưng họ không nhìn thấy nhau. Vì vậy Kim đồng và Ngọc nữ quyết định tự xây tổ uyên ương. Ba ông anh của nàng sôi sục căm hờn khi thằng mắc dịch làm nhục nhã gia đình. Con gái bỏ nhà theo trai là điếm nhục cả ba họ chứ không vừa. Và đã là đàn ông thì không thể ngậm đắng nuốt cay được.

Ba anh bèn can ke kỹ càng và cùng tấn công Thiện bằng cây ba phân vuông. Sỡ dĩ phải can ke là bởi Thiện vốn là võ sĩ. Nó chơi võ từ năm tám tuổi. Thượng đài ba lần thắng cả ba. Võ sĩ Thiện nhanh như sóc và nể là anh của vợ nên nhịn và bỏ chạy về chòi. Vợ yêu quý hỏi vì sao anh bèn kể đầu đuôi và nói:

– Anh mà không nhanh là phơi thây ngoài chiến địa như Võ Đông Sơ rồi.

Nghe qua vợ yêu bèn đi một hơi về nhà gặp mẹ – ý là – má ơi tha cho con, dù gì cũng lỡ rồi, má căng quá tội nghiệp cháu ngoại má. Bà má chỉ một con gái mong uống được ly rượu quý. Ngờ đâu ra cái nước non nầy. Bà có giận nhưng biết làm sao? Có câu con dại cái mang chồng hoang vợ chịu. Phải chi ba thằng anh nghĩ như vậy thì hay quá. Khề khà chén chú chén anh nghe em gái đang trong nhà bèn tuôn về. Thằng lớn chả nói chả rằng xáng cái bốp. Tát mà nghe “bốp” là mạnh lắm, vì thế con nhỏ bụng mang dạ chửa té cái đụi. Thiện nghe vợ yêu được đưa đi cấp cứu ở đa khoa bèn ba chân bốn cẳng ù xuống viện. Bác sĩ bảo rằng đã cố gắng hết sức nhưng rất tiếc chỉ cứu được mẹ chứ con thì… Thiện vào thăm và nhận ra môi má Ngọc Điễm bị bầm. Hỏi. Bà má vợ không chính thức trả lời bị té. Nhưng con mắt võ sĩ nhìn qua là biết, nó gằn giọng:

– Một trong ba thằng bây thằng nào đánh vợ tao?

Ngọc Điễm nắm tay tình mà rằng… thôi anh ơi… em xin anh… Thương vợ quá nên Thiện cho qua. Và dân dụng sức kiếm miếng ăn khó lắm. Ngụ trong bệnh viện bọn nghèo khó sợ xanh mặt. Mới ngày thứ ba Ngọc Điễm được đưa về nhà để mẹ chăm sóc. Thiện đang một xị giải phá cơn sầu thì lại nghe tin vợ yêu có chuyện. Và rồi Ngọc Điễm ra đi trên tay Thiện bởi cô bị băng huyết. Trong cơn thất vọng đến não nùng Thiện đập cho ba thằng anh một trận rồi quay sang trách móc rằng, vì cha mà tui mất cả vợ lẫn con. Ông cha yên lặng đòng đưa trên võng. Biết nói gì bây giờ? Chả phải vì cái cố chấp mà ra tang thương đấy sao?

Buồn tình Thiện dấn thân vào chốn bụi đời. Ngó vậy chứ bụi bờ kiếm sống dễ hơn than củi, miễn gan góc và chấp nhận hiểm nguy. Ai thuê đánh thằng nọ thằng kia dằn mặt Thiện Ngọc Điễm chơi liền. Không đánh đấm thì xập xám tiến lên bài cào xì dách. Đá gà cờ tướng môn nào Thiện cũng có tên trong chốn dzô hàng. Riêng khoản cớ tướng toàn thể dân chơi trong thị trấn Thiện xô nhẹ là té. Và tất nhiên họ và tên tuổi Thiện cũng nằm trong cơ quan bài trừ tệ nạn. Nhưng thế giới của bóng tối muôn đời bí ẩn. Biết vậy nhưng bắt cho được thì khó lắm. Thế giới nầy mười thằng thông minh mưu trí tầm Chu Du hết chín và Thiện là số một.

Giang hồ còn kể rằng đại gia Minh Thước ở thị xã Q khá giỏi trong môn chiếu tướng. Ông ta giàu nên chả cần tiền. Một cuộc cờ thì chầu cà phê hay chầu nhậu là hết phép. Và thường thì Minh Thước chả bao giờ chung. Nghe danh nên Thiện Ngọc Điễm tầm đến Minh Thước thử chơi cho biết. Đại gia năm mươi tuổi nhìn oắt con hai mươi chả buồn tiếp nhưng, cái mặt câng câng kiểu, ta là một là ta là tất cả nên đại gia phải trị cho bớt thói ngông cuồng. Cờ bày ra chơi hai ván Thiện thua non đúng hai. Giang hồ đứng lên vòng tay thi lễ mà rằng:

– Đệ tử xin bái phục. Mong gặp lại sư phụ vào một ngày đẹp trời.

Hôm ấy Minh Thước đang trong bún bò Huế thì Thiện Ngọc Điễm lù lù vào:

– A… xin chào sư phụ… lâu qua không gặp. Sư phụ khỏe chứ?

– Cám ơn đã hỏi thăm. Mày sao? Cờ cuộc lên được chút nào không?

– Dạ… đánh mới biết chứ nói ai nói không được.

Nghe ôn con nói là đại gia sinh ghét. Mới một trận nho nhỏ nên nó chưa biết lễ độ là gì. Cả hai kéo ra cà phê cóc và Thiện lại tiếp tục chung vừa bún bò vừa cà phê thuốc lá. Lại thi lễ hẹn ngày tái ngộ. Đại gia nhìn theo cười ruồi nhủ thầm tao cho mày tái nạm luôn chứ làm chi có tái ngộ mà ham.

Lần thứ ba Minh Thước đang đàm đạo về thế thái nhân tình gớm chết thay cùng bè bạn trong “Trà đình Dạ thảo” – một quán – không dành cho vai u thịt bắp thì mồ hôi dầu Thiện vào, lại lâu quá không gặp lại chúc sức khỏe và lại làm ván chơi vui. Thiện lắc đầu:

– Ông chấp tui con xe thì còn dám và đánh cái gì lớn lớn chút ông già ơi – nó chuyển từ sư phụ sang ông già nghe mất dạy hết phép – ba cái nhỏ lẻ không có hứng.

– Chấp thì chấp. Mày muốn đánh sao?

Thiện móc trong túi ra cọc tiền:

– Một triệu. Ván nào chung ván đó
– Là mày muốn đó nghe.

Thiện thua liền hai ván. Nó hằn học thẩy hết cọc tiền lên bàn:
– Chơi tất tay ván cuối. Thua là tui cạch ông tới chết luôn.

Đại gia trả lại một triệu ra cái vẻ tao không ăn của chú mày. Nhưng Thiện đang thấu cáy nên nóng tiết

:- Một ván cuối. Chẳng qua nãy giờ tui thả…

– Bà cha mày… rượu mời không uống lại uống rượu phạt. Chơi thì chơi.

Ván thứ ba – mẹ cha ơi – Minh Thước thua. Hơ hỏng một chút mà bị thằng con nít cho phơi áo. Đắc chí bởi vừa được bạc vừa thắng trận Thiện ha hả cười. Đại gia là người chứ đâu phải thánh mà không điên:

– Chơi ván nữa.
– Thôi… tui về. Hẹn ông bữa khác. Hôm nay tui rút lại hai từ sư phụ nghe.

Nhìn kẻ thắng cuộc đếm tiền và là lần đầu thua bạc, chẳng là bao với đại gia nhưng đau chứ đâu có đùa. Thua kẻ không đáng thua thật là đáng hận:

– Mày thắng rồi đánh bài chuồn à? Giang hồ thế đếch gì kỳ vậy?

– Được… tiếp thì tiếp… ván nầy đánh hết bạc trong tay luôn. Một ván cuối có anh em làm chứng nghe.

– Khỏi cần ai chứng chiếc lôi thôi. Hết ván nầy tao cũng phải về.

Đại gia lại thua. Lần gặp kế tiếp Minh Thước không chấp xe nữa mà đánh đồng. Sau vài lần lâm trận đại gia nhận ra mình bị gài thế. Từ chỗ ghét Minh Thước quay qua phục tuổi trẻ tài cao. Cứ thế, hết môn nầy đến môn khác Thiện ung dung sống. Nhưng bấy nhiêu chỉ vừa để giang hồ nể. Ở chốn bụi đời nể là chưa đủ. Phải làm sao cho ba quân sợ và phục mới là cao thủ.

Ở thị trấn có một tay chơi khét tiếng chém mướn đâm thuê tên Lục. Ngọai hiệu là Lục Tào Xá. Cũng chả biết tại sao hắn có cái tên nầy. Chắc thiên hạ thuận miệng nên kêu cho vui mồm. Lục hành tẩu khắp chốn, cả cái nơi cư ngụ hắn cũng không chừa. Hắn phô phang rằng quen biết ông nầy bà nọ nên chả kiêng ai. Một tối nọ Lục và Thiện chung một mâm rượu cùng hai đệ tử. Ỷ lớn tuổi nên Lục chửi từ trái sang phải. Hắn đòi đập luôn cả Thiện. Nhịn không xiết Thiện  điểm mặt du côn và nói:

– Tao sẽ chém mày trong đêm nay.

Nói xong liền đứng lên băng mình vào bóng tối. Chủ quán nhìn Lục hàm ý rằng mày ghẹo trúng thằng nói là làm thì nguy rồi. Lục cũng sợ. Giang hồ tuy lấy bóng tối làm ánh sáng nhưng lại sợ bóng tối một phép. Nó rình rập đâu đó trên đường rồi phang cho mình một cây vô đầu là tiêu. Ma không biết quỷ không hay nói chi công quyền. Mà công quyền có truy được thì mình không xanh cỏ ắt cũng tâm thần mất rồi. Sợ quá. Sợ đến nỗi không dám về. Lục đứng trong hẻm la làng thằng Thiện đòi chém tao… bà mẹ nó thằng Thiện đòi chém tao…  bà con cô bác trong hẻm, cả ngoài đường nghe la liền mở cửa ra xem… hôm sau toàn thị trấn kháo rằng Lục Tào Xá mặt xanh như đít nhái, quỳ lạy xin tha bởi bị Thiện kề dao vô cổ. Chuyện không nói cho có là thực tiễn của cuộc đời muôn mặt.

Nhưng chuyện lấy vợ lần hai của Thiện mới làm thiên hạ kinh tâm. Nàng tên Trâm. Con nhà nghèo nhưng nhan sắc tầm hoa nhường nguyệt thẹn. Hải Đầu Bò là con trai một quan chức. Cha nó bận việc công nên việc nhà lo không trọn. Má Hải bận kinh doanh nên giao con cho học thêm học bớt. Có tiền Hải học làm dân chơi. Nó cầm đầu một băng khét lẹt cơm khê ở thị xã Q. Cũng ăn nhậu phá quán, đánh lộn đánh lạo làm nhức đầu nhức óc cả công quyền. Ông cha đau lòng lắm khi ngày nào cũng có cái sự méc của bạn có thẩm quyền bên thị xã về con trai quý. Bà mẹ vung tiền ra bồi thường những cái con bà phá và đánh người gây thương tích cũng đến mệt.

Nghe con trai đòi lấy vợ ông cha và bà má mừng húm. Nó lấy vợ thì có vợ cầm chân. Xưa nay đàn ông hư hao cách mấy vẫn bị tình nó đánh cho sụm gối. Trâm mới lớn nên lòng hơi nhẹ, với lại Hải xem tiền cứ như lá mít nên cha mẹ nàng muội luôn cả hồn lẫn xác. Lấy được thằng chồng đã giàu lại con quan chức là phúc ba đời để lại. Phúc đâu chả thấy. Cưới về được bốn tháng, khi cái bụng Trâm vun lên thì Hải tính nào tật nấy. Đúng là giang sơn dễ đổi bản tính khó dời. Trâm xin về nhà mẹ ruột để đẻ. Nàng sinh đôi một trai một gái. Tiên sư cha thằng con nhà giàu, sư luôn con mẹ nó… nhà chồng Trâm rót tiền cho cha mẹ nàng chăm cháu. Họ bận quá, con còn lo không được nói chi cả cặp cháu. Thằng chồng lâu lâu ghé qua ngó con một chút rồi đi. Trâm ngộ ta mình nhầm và cô lạnh tanh khi chồng có mặt. Đàn bà là sinh vật cao cấp đầy bí ẩn. Họ nồng cháy đó mà băng giá cũng đó luôn. Thật đau lòng cho nhan sắc khi nhặt trúng một chồng hổng chồng hông.

Một hôm kia Thiện đi qua nhà Trâm và choáng váng khi trông thấy một mặt ngọc đang tay ẳm, tay ru con. Chàng và nàng đụng mặt nhau và có cùng một cảm giác, một linh cảm thần bí rằng một nửa của mình đây rồi. Rất nhanh chóng họ là bạn. Bạn. Nhưng tha nhân nhìn vào và thấy rằng khó mà là bạn với cặp đôi nầy.

Tất nhiên mọi thứ không thể qua được mắt thần Hải Đầu Bò.

Hắn đến thăm vợ và cuộc chiến tình nổ ra:

– Thằng Thiện đến đây làm gì vậy?

– Anh hỏi làm chi?

– Mày là vợ, tao phải quan tâm mày hiểu chưa?

– Anh ấy đang là bạn của tôi. Bạn thông thường, nhưng cái kiểu tám tháng quan tâm một lần thế nầy thì trước sau tôi sẽ là bạn tình của anh ấy.

– Mày có tin là tao cho mày ăn bạt tai không? Tiền bạc má tao chu cấp nuôi cả nhà mày còn muốn gì nữa?

– Chỉ cần một bạt tai tôi sẽ bỏ anh tức khắc. Đồng bạc bố thí của gia đình anh không đủ để trả công tôi làm nô lệ tình cho anh đâu. Đừng có mà khinh miệt người khác. Anh đi đi. Ngày mai đến để ký đơn ly hôn.

– Tao không ký đâu mà ham.

– Không hả? Nên nhớ tôi có quyền đơn phương xin ly hôn đấy.

Ông cha bà má chồng con ơi con hỡi đừng ly mà tội nghiệp cho cháu của má. Trâm trả lời ai tội nghiệp tôi? Bà má chồng rằng cháu tao tao bắt, luật pháp và tòa án trong tay tao, mày cứ ly thử xem ai thiệt cho biết. Nhưng tòa án rất công minh. Họ cho ly dị sau ba lần hòa giải không thành và cả hai chia nhau hai đứa nhỏ. Trâm con gái và Hải con trai. Sau bốn tháng làm vợ và một năm làm mẹ tài sản của Trâm chỉ chừng đó.

Cô về tay ôm con gái tay chống trán buồn sầu. Và Thiện Ngọc Điễm đến với tư cách bạn. Dân thị trấn dám lên thị xã vuốt râu hùm là muốn chết. Hải cho đầu bò đầu bướu đến. Tiếc thay dân chơi phố đâu bằng giang hồ thứ thiệt. Thiện thọc direct gối lên chỏ xuống làm cả bọn tháo chạy không còn manh giáp. Anh nhắn với lũ đầu bò rằng Hải muốn gì cứ đến.

Hải đến và cả hai kéo nhau ra cà phê cóc:

– Nếu mày còn yêu con Trâm – Thiện nói – thì vẫn kịp để làm lại. Còn không thì tao nhảy vào. Chọn đi. Còn ba cái trò đánh đấm thì ngữ em út của mày không lại tao đâu.

– Tôi đã ly dị thì không trở lại. Nhưng nếu anh lấy Trâm làm vợ thì làm ơn xem con gái tôi như con.

– Vụ đó mày khỏi phải lo.

Vậy là nửa thất lạc tìm thấy nhau. Họ nên một cặp. Thiện đưa Trâm và con gái của cô rời thị trấn vào thâm sơn phá nương làm rẫy, cất nhà cho mẹ con cô sống. Nhưng cuộc đời không tha cho Thiện. Địa phương đến và khó dễ chuyện phá lâm bất hợp pháp. Trâm ngoại trừ móc tiền nộp phạt còn phải chung chi cho yên. Kẹt cái, ba ông quan nhỏ nhỏ đã có lần một thì có lần hai. Đến lần thứ ba thì Thiện nổi máu du côn đập cho quan chức con con một trận. Trước khi bỏ trốn còn tuyên bố:

– Bây mà làm khó vợ con tao thì chớ có trách.

Vậy là cứ nghiệp cũ Thiện kiếm tiền nuôi vợ con. Cái cùng cốc nơi Trâm cư ngụ ngày mỗi đông. Thiện thoắt đi thoắt về như ma trơi như quỷ dịch. Trâm đẻ cho Thiện trong tám năm những bốn đứa con trai. Đồng bạc nuôi bầy trẻ lớn lên và ăn học từ đánh mướn cờ bạc đá gà và cờ tướng. Một hôm kia Thiện bị công an liên tỉnh giả nai đánh bạc cùng Thiện. Những con na chà cho Thiện ăn những trăm triệu ngoài. Đủ để ra tòa lĩnh án. Tòa kêu ba năm tù giam nhưng sỡ dĩ bẩy năm mới về đời là bởi trong trại Thiện tổ chức vượt ngục.

***

Mấy lần đào tường khoét vách đều không thành. Có lẽ trời xanh không dung nên bị phản bội. Hận ngút trời xanh. Thiện thề sẽ báo thù khi tự do. Ăn thêm bốn năm và bị đưa vô khu vực cách ly bởi bị liệt vô hàng tù nhân nguy hiểm. Khu vực nầy rất nhàn nhã. Phạm chỉ một việc duy nhất là chăm sóc các loại cây cảnh. Từ thân cho đến rễ của lõi các loại cây khô có khắp nơi trong sân. Tươi thì có những mai chiếu thủy, mai vàng, mai trắng, khế bon-sai… Khi Thiện đến, trong cách ly chỉ có một phạm đã già. Ông ta đang trầm tư bên một tượng Bồ Đề Tổ Sư sắp thành hình. Trên tay là một ngọn dao lưỡi sáng như nước, bên dưới chân nào búa nào chàng, đục…

Thiện gác tay lên trán nằm suốt một tuần. Hận thù làm thằng tù không ngủ được. Nằm riết cũng chán Thiện vòng vòng, nghiêng ngó ngắm nhìn, nhưng không thể trèo leo chi được để trốn. Cuối cùng ghé lại nơi lão già đang gọt cắt ngó chơi cho biết. Ông ta hỏi:

– Sao vô đây mậy?

– Vượt ngục. Còn ông?

– Tao cũng vậy.

– Ông ở đây lâu chưa?

– Chục năm rồi.

– Dữ vậy? Bị gì mà những chục năm?

– Bốn năm thôi nhưng tao tự nguyện ở lại.

– Tự nguyện? Ông bị điên hả?

– Tao bình thường.

– Nhưng tại sao ông bị tù rồi tại sao tự nguyện?

– Thằng lính của tao – lão gia cười– thấy nó không nhà tao lôi về coi như em. Ngờ đâu trong lúc tao đi làm ăn nó với vợ tao thông dâm…

– À… vậy là ông vung một dao nên bị tó đúng không?

– Không. Tao có biết mẹ gì đâu. Hai đứa nó gom một gom trốn biệt. Trước khi đi còn báo cho công an bắt khi tao đang làm việc.

– Ông làm gì? Ăn cướp hả?

– Gần gần vậy.

– Là sao?

– Tao phá đoản nhập nha.

Bị kêu sáu năm cho một lốc phi vụ. Lão gia không cam tâm nên vượt ngục báo thù. Quyết định cho gian phu dâm phụ chầu địa ngục còn mình tử hình cũng ô kê. Hai lần vượt đều không lọt nên bóc thêm bốn cuốn lịch. Sau khi ra cách ly lão gia ngộ ra một điều…

– Điều chi sư phụ?

– Thằng ngươi khi bị cắm sừng bò lên đầu là lỗi tại nó chứ không phải con đàn bà. Biến cái vô dụng của mình thành hận rồi trút lên đầu kẻ khác là ngu.

– Nói vậy nghĩa là sư phụ thừa nhận mình dỡ ẹt vụ đưa tình lên thiên thai.

– Khà khà… muốn hiểu sao cũng được.

– Nhưng ông chứ tôi dứt khoát không cam tâm. Có chết tôi cũng băm chúng ra trăm mảnh.

– Sau khi băm mày làm gì?

– Băm cho hả dạ rồi tính sau.

Buổi tối lão gia ngồi xếp bằng luyện công. Thiện cũng hùng hục gối lên chỏ  xuống sợ quên đòn. Đời võ sĩ không rèn thì có mà tự sát. Luyện xong nó hỏi:

– Ông chơi môn gì vậy?

– Hiệp khí đạo phe ta gọi là khí công.

– Vậy mà tui tưởng ông ngồi thiền.

– Mày muốn thử với tao một chút không?

– Ông thì với tui không quá ba mươi giây. Nếu quá tui xin quỳ xuống bái ông là sư.

– Mày nói đó nghe.

Cả hai vòng tay thi lễ rất chi là kiếm hiệp. Sau đó lui ra và phặp phặp phặp Thiện nhào tới tấn công. Cả năm phút trôi qua mà một trung niên bốn mươi lăm tuổi không đánh trúng được lão gìa sáu mươi một đòn nào. Rồi với một đòn chân lão đã làm Thiện ngã cái bịch.

Thiện quỳ xuống tôn lão gia làm thầy xin thọ giáo Hiếp Khí Đạo. Suốt một năm vận công điều khí để sử dụng khí lực đập tan hỉ nộ trong tâm. Lão gia dạy cho Thiện thế nào là bình tâm với mọi sự. Tất cả có đó mà không đó. Thiện ngộ ra rằng cuộc đời nầy bí ẩn như âm dương và mênh mông như biển rộng. Nó cũng rất dễ hiểu và nhỏ xíu xìu xiu. Lão gia dạy rằng Tôn Ngộ Không nhảy một bước là mười ngàn tám trăm dặm nhưng cả chục bước vẫn không ra khỏi bàn tay Như Lai. Chả phải nhỏ lắm ru?

Vậy nên Thiện quên tất cả để làm lại khi mãn án. Anh về với vợ con. Trong tay là bộ đồ nghề lão gia mến tặng. Nó gồm có dao tiện, búa, đục, chàng. Có cả kéo. Đủ để Thiện hành nghề hoa lá cành kiểng khô kiểng ướt.

Nghe Thiện về thằng em rể đến thăm.

***

– Vợ chồng mày dạo này làm gì?

– Dạ em phụ hồ còn vợ em tráng bánh.

– Tao nghe chị ba nói hồi đám cươi hai đứa mầy được anh chị em đôi bên giúp nhiều lắm nay sao khổ vậy?

– Dạ… làm ăn thất bát quá anh.

– Thất bát sao?

– Dạ… chỉ vì vợ chồng em cho vay trả góp nên bị xù đến hết vốn.

– Tao có nghe chị ba nói vụ nầy. Cho vay lãi mà dồn cho một người thì vợ chồng mày ngu quá. Mày đến đây tính nhờ tao đòi giùm hả? Về đi. Tao rửa tay gác kiếm rồi. Vợ chồng mày cũng nên bỏ đi và xem như bị đánh rơi. Anh của tụi mày đã già rồi. Hiểu không?

– Dạ… em đến thăm anh thôi chứ không dám nhờ vả chi.

Thằng em rể ra về. Thiện nghĩ đến con em út đang bên cái bếp hừng hực nóng và mồ hôi ròng ròng ngồi tráng bánh. Đâu có được. Có tu hành đà đắc đạo chăng đi nữa thì cũng phải lấy công bằng làm tôn chỉ để hưóng chúng sinh vào nẽo thiện. Làm chi có chuyện vay tiền, lãi đã không vốn cùng quên luôn? Chả phải muốn có kinh thầy trò Đường Tăng phải chung cái bình bát vàng cho A Nan và Ca Diếp đấy sao? Thiện lấy cái di động gọi đến kẻ đã vay tiền của em gái:

– A lô…

– A lô… Chín Móm đây… ai gọi vậy?

– Xin lỗi nghe bạn… mình là Thiện đây.

– Thiện nào? Đừng nói là Thiện Ngọc Điễm nghe.

– Ừ… đúng rồi… Ngọc Điễm đây. Em biết anh chớ.

– Biết. Rồi sao?

– Anh mới về… nghe em gái anh nói vợ chồng em vay của nó trăm rưởi triệu nhưng đã năm năm rồi em quên mất. Giờ em tính sao?

– Chuyện cũ rồi… lãi hơn vốn rồi. Ông còn muốn gì nữa?

– Không… em chỉ trả có hai kỳ lãi và quên luôn. Em ỷ vô thế của đại K Hùng Còi nên xù. Bây giờ anh nói gọn cho dễ hiểu. Với anh Hùng Còi chả là cái đinh gì. Anh cho vợ chồng em ba ngày để gửi cho em gái anh năm mươi triệu. Rõ chưa? Nếu không anh xem như em trực tiếp đối đầu với anh.

– A lô… a lô… a lô….

***

– A lô… Thiện Ngọc Điễm nghe đây.

– À… Thiện hả? Tao, Hùng Còi đây.

– Có gì không?

– Tao vừa nghe thằng em nói mày buộc nó phải trả năm mươi triệu cho ai đó…

– Cho em gái tao. Có chi không?

– Mày mới về mà cha chú quá. Muốn vô ấp nằm lại không?

– Hùng à… mày đi đâu, làm gì, thậm chí ăn sáng ở quán nào tao đều biết. Tao nói gọn một câu rằng chuyện của tao mày đừng có xen vào. Tao có bốn thằng con trai, đem đi câu sấu ba thằng vẫn còn một. Mày chỉ có một. Muốn làm ông nội hay chỉ là ông ngoại tùy mày quyết định.

Ngày thứ ba con nợ gọi điện báo cho Thiện, đã đến nhà và trả năm mươi triệu cho cô em gái:

– Vậy là xong hả anh?

– Xong là sao? Đó là bước thứ nhất. Bây giờ ta bước tiếp nhé. Anh cho vợ chồng em trong vòng một tháng nữa trả tiếp năm mươi triệu. Rõ chưa?

– Trời ơi… vợ chồng em kẹt lắm anh ơi. Em phải…

– Em đã phải sao thì đó là chuyện của em anh không biết. Nhưng đã vay thì phải trả. Nếu không anh sẽ tính lãi trong năm năm mà em đã lỡ quên. Hiểu chưa?

Đến ngày thứ hai mươi tám Thiện gọi cho nợ không trả:

– Dạ… – nợ mà xù nói – em chạy hết ra rồi. Anh muốn chém giết gì thì tùy…

– Mày nghe Hùng Còi đối phó với tao hả? Tao biết nhà mày có xe, có đất làm vườn, có quán xá… được rồi…. đã nói vậy thì mày làm ơn mở cửa và nhìn ra đường.

– …….

– Thấy rồi chớ? Mày nhắm lính Hùng Còi cự lại không? Biết ai chớ hả? Băng Hải Đầu Bò ở thị xã Q đó.

Đợt thứ ba đối tác than rằng gần tết rồi anh Thiện ơi, anh cho em qua tết được không? Nhưng Thiện biết đối tác không hề thiếu thốn và, nghĩ đến cô em gái suốt năm năm tráng bánh bỏ mối kiếm cơm bên cái lò hừng hực lửa. Thiện từ chối lời thỉnh cầu. Và hai mươi tám tết vợ chồng cô em đi tết anh trai. Thiện đang bên bình trà trong vườn ngồi đọc Thủy Hử truyện. Thấy em gái vui cười Thiện hỏi:

– Dạo nầy làm ăn sao rồi em?

– Dạ… tết này nhà em vui lắm anh…

Chả biết cô em có biết anh trai đòi giúp nợ cho cô không nhỉ? Có thể có cũng có thể không. Nhưng chuyện ấy chả có gì quan trọng. Làm anh giúp cho em không được cái nầy thì cái khác. Tay phải làm việc nghĩa tay trái không được biết. Thánh nhân dạy vậy.

     Nguyễn Trí

Một chiếu cuối năm

 

Nẫu bỏ đi mất biệt
Nường cũng quên ta rồi
May mà còn bàn phím
Giúp mình vơi lẻ loi

Ai rồi cũng có thể
Nghĩ mình hư là bye
Bao nhiêu lời tâm huyết
Như gió ngàn lắt lay

Một buổi chiều đơn độc
Không nhìn cả mây trời
Không nhìn về phương viễn
Không nhìn… vân…vân . Thôi !

Buồn như viên huyết áp
Mỗi ngày ngậm một lần
Buồn như là khói thuốc
Bay lòng vòng phù vân

Chiếu cuối năm xứ Mỹ
Người sưa sớt đi về
Tới quán không còn bạn
Đắng ngắt ly cà phê

Bạn ơi có cảm thấu
Lý lẽ rất vụng về
Khi cái gì tạm đủ
Cái gì buồn tái tê !

Nguyễn Hàn Chung

VỚI CHÚT XUÂN CÒN SÓT

 

gió ru hời bốn phía
ngoài kia xuân rải sỏi ô quan
anh bật ngày xưa ngắm nghía
chút xuân còn sót lại…ngỡ ngàng !

nắng quây quần lợp mái
những chiếc lá nhảy lò cò dưới sân
anh vén tấm màn tuổi dại
chút xuân còn sót lại…bàng hoàng !

mưa khơi dòng sông nhỏ
con thuyền giấy chở ước mơ đầu đời
anh vẫn nhìn theo từ đó
chút xuân còn sót lại…riêng thôi !

trời ngập chiều mây trắng
cánh diều dài sợi chỉ bay.bay
cỏ dưới lưng ướt sũng
chút xuân còn sót lại…thở dài !

anh gánh mùa ký vãn
lưu lạc qua từng mùa vụ không tên
thảo nguyên xanh.sa mạc hạn
chút xuân còn sót lại…đáp đền !.

Lê Hát Sơn

áo xuân

 

 

người đưa tay chạm
mùa xuân
tôi hôn hạt ngọc
đoạ trần
thành hoa

con đường dài-thổ mộ già
non cao dốc núi
tà tà
khói sương

chấm pha cổ tích hoang đường
tôi hôn vết mộng ủ hương chân hồng

ngón tay mềm-hái hư không
giật mình bay động
một dòng
chim di

người run cúc mở
xuân thì
tôi hôn thế giới
hồ nghi
mối tình

giọt sương ôm một hạt kinh
bỗng nghe tiếng vọng an bình gọi tên

ru người giấc ngủ
chiều quen
cho tôi hôn miết
bao phen
muộn phiền

trần ai khai hội nhân duyên
có tôi đứng lại bên hiên bụi hồng

Pham Quang Trung