GIỌT CHIỀU

Những giọt chiều rơi
những giọt chiều
Nghe hồn khuya rủ cánh liêu xiêu
Có bầy dơi muộn về qua ngõ
Treo ngược tình ai trên phiến rêu.

Những nỗi niềm riêng
những nỗi niềm
Ai cầm hạt nắng thả vào đêm
Có phải nghìn xưa vầng nguyệt khuyết
Quạnh quẻ mùa trăng lạnh lưỡi liềm.

Những giấc mơ tàn
những giấc mơ
Khuất trong vô thức một dòng thơ
Có ai ngồi lại bên thềm vắng
Khua động lòng đau một bến bờ.

Những giòng sông cũ
những giòng sông
Phiêu bạt về đâu cánh nhạn hồng
Chiều đã phai tàn bên kia núi
Ai còn trôi dạt phía hư không…

Tôn Nữ Thu Dung

Thơ Lê Văn Trung

CON ĐƯỜNG VỀ CÕI VÔ BIÊN

1.
Chiều tôi gom chiếc lá vàng
Buồn tôi đốt lửa vừa tàn cơn mơ
Nghe trong sâu thẳm xa mù
Hình như có tiếng mùa thu vọng về

2.
Khói tàn theo gió lên mây
Tro tàn còn với bóng ngày đời tôi
Tôi về theo bóng chiều trôi
Chút tàn tro ấy là lời trùng lai
Không nhân ảnh, chẳng hình hài
Câu kinh vô tự đã đầy nỗi đau.

3.
Chiều tôi gom lá tình sầu
Chưa vàng ân ái đã nhàu câu thơ
Em từ vô lượng nguyên sơ
Còn nguyên một đóa quỳnh vừa ngát hương

4.
Không đành cạn chén quỳnh tương
Mà nghe máu chảy loạn cuồng chiêm bao
Bàn tay cầm lá tình sầu
Chừng nghe lửa cháy từng câu thơ buồn

5.
Xưa người là một dòng sông
Tôi bèo bọt giữa bềnh bồng ngược xuôi
Tóc người chưa rẽ đường ngôi
Mắt người chưa nhuộm một màu vàng thu
Tóc người rối cả cơn mơ
Đóa quỳnh hoa đã sững sờ! Quỳnh hoa! 

6.
Rồi một hôm, giọt lệ nhòa
Câu thơ còn đọng trên tà áo xưa
Tôi về mơ tiếp cơn mơ
Người về nở một nụ hoa diệu kỳ
Lá vàng thu vẫn còn bay
Rượu trùng lai vẫn còn say tương phùng

7.
Hỏi người còn nhớ hay không
Lòng tôi là một dòng sông giang hồ
Chảy hoài theo những cơn mơ
Chảy từ vô thủy cuối bờ vô chung
Sá gì đâu cuộc trăm năm
Sá gì đâu cõi ngàn trùng thiên thu

8.
Xin đừng hỏi: Ta về đâu?
Hư vô là dặm trắng màu phù vân
Xin đừng hỏi: Có hay không!
Vô biên là bụi sương hồng mông mênh
Xin đừng hỏi: Tuổi cùng tên!
Chìm trong nỗi nhớ niềm quên xa mù
Còn nhau vạn cõi đời sau
Tay cầm giọt lệ nguyên màu tình xanh.

9.
Con đường dẫn đến vô biên
Là con đường của chuyện tình nhân gian
Là con đường tôi- và- em
Tình tôi là những gập ghềnh đời thơ

10.
Con đường dẫn đến hư vô
Là con đường của giấc mơ nhiệm mầu
Con đường dẫn đến nghìn sau
Hồn tôi là vạn nhịp cầu em qua

11.
Ôi con- đường- cõi- người- ta
Đi là trở lại quê nhà cố hương

12.
Xòe bàn tay: những con đường
Quanh co sinh tử, vô thường tử sinh
Ôi con đường của vô biên
Dẫn về vô cực tận miền hoang vu
Mai sau tìm lại đời nhau
Thấy trăng thiên cổ vẫn màu cổ kim
Đường về đâu? Cõi- Lãng- Quên
Ngàn năm tôi mãi đi tìm ngàn năm.
Đường- Về! Ôi quá xa xăm
Chốn- Về! Ôi một chỗ nằm bụi tro
Tay cầm chiếc lá vàng phai
Đã nghe sợi khói bay ngoài vô biên

                            

CÒN GIỮA TÀN PHAI

Ngày đã tận năm đã cùng em ạ
Xót xa gì hương phấn buổi tàn đông
Và thơ ta như một dòng sông cạn
Với linh hồn đá sỏi cũng tan hoang

Em thấy chăng cõi phù vân thiên cổ
Vẫn phiêu bồng kiếp kiếp giữa bao la
Em nghe chăng gió phù sinh réo gọi
Vẫn dội vào sâu thẳm trái tim ta

Em là gió thổi qua đời phiền muộn
Em là mây tan giữa bến sông chiều
Xin ngồi lại một lần trên bãi cạn
Nghe triều ta lên xuống quá đìu hiu

Ta rụng giữa tình em từng chiếc lá
Lá chưa vàng, lá quặn úa tình xanh
Em chảy giữa hồn ta từng dòng lệ
Lệ chưa phai, lệ khóc mộng không thành

Con đường mở và con đường chợt khép
Mà sông ơi khao khát chảy vô cùng
Chuyến tàu muộn là chuyến tàu đẹp nhất
Để tình buồn ngồi đợi giữa mênh mông.

                                     Lê Văn Trung

Vĩnh Biệt Võ Chân Cửu Vĩnh Biệt Lam Phương


Không ngủ được, thức dậy. 
Mới mười hai giờ khuya. 
Nhắm mắt tự vỗ về
“Ngủ đi, trời chưa sáng!”.

Lại ngủ, như ngủ nán. 
Trăng vẫn thấy trong vườn. 
Ánh trăng và ánh sương
Chập chờn cơn gió nhẹ…

Rồi phải dậy.  Thôi kệ. 
Vọc Net…chơi mà chơi. 
Bất chợt thấy hai người
Bay lên trời cái vụt!

Võ Chân Cửu, thứ nhất. 
Và Lam Phuơng, thứ nhì. 
Mười năm hẹn hò chi,
Chưa thăm mình một bữa.

Các anh làm tôi nhớ
rồi lỡ mãi thời gian!
*Cây nến nào cũng tàn.
Nén nhang nào cũng tắt.

Cái gì còn cũng mất.
Cái mất…đều Cố Nhân!
Trong khoảnh khắc bâng khuâng,
Tôi nhìn tôi rũ rượi.  
Lễ Noel đang tới. 
Năm nay Lễ buồn hiu!

Trần Vấn Lệ

Mọi Thứ Tôi Có Được Đều Đã Mất

Rời khỏi trụ sở Công ty Tiện ích Montana-Dakota (MDU), tôi ba chân bốn cẳng chạy về nhà tìm Quỳnh Châu,

            “Chồng em có việc làm rồi!  Ba ‘thằng Thìn’ hết thất nghiệp rồi!”

“Mừng chồng yêu, mừng cho gia đình mình!” nàng rơm rớm nước mắt rồi dường như chợt nhớ ra điều gì, nàng đứng lui nửa bước nghiêng đầu nhìn vào mặt tôi, “Ông kỹ sư đẹp chai của em cần có áo quần mới để đi làm.  Chồng không nên ăn mặc lùi xùi quá, mấy cô thư ký tóc vàng mắt xanh trong sở cười cho mất mặt anh hùng.’”

            “Ai cười nấy hở mười cái răng, anh đi làm chớ có phải đi dự đại hội thời trang đâu mà lo.  Mình nghèo mình mặc đồ cũ, ăn cắp ăn trộm gì của ai mà sợ,” tôi gạt ngang.

            “Anh gọi điện thoại cho ông Gardner liền đi, báo tin cho ông mừng,” nàng cười chúm chím một cách bí mật.

Ông bảo trợ Gardner chúc mừng tôi và nói,

“Tôi đã nói chuyện với Francis hàng xóm của anh và nhờ anh ấy dàn xếp đưa anh đi mua sắm áo quần mới.”  Thì ra Quỳnh Châu đã bàn tính chuyện này với ông Gardner; nàng chu đáo không thua gì mẹ.

“Nhưng cháu không có tiền và không muốn nhờ vả về tiền bạc trong lúc này.  Cháu tính đợi lãnh lương rồi mới sắm sửa,” tôi giãy nảy không chịu.

“Francis làm giám đốc cửa hàng bách hóa J. C. Penny rất lớn dưới phố.  Anh ấy sẽ có cách giúp anh, anh tin tôi đi.”

Chiều thứ Sáu, sau giờ ăn trưa ông Francis sang đón tôi.  Vào cửa hàng J. C. Penney, gặp nhân viên nào ông cũng hãnh diện giới thiệu tôi là người Việt tỵ nạn được nhà thờ Ba ngôi Lutheran bảo trợ và sắp làm kỹ sư cho MDU.  Ông đưa tôi đến phòng Tín dụng để tôi điền đơn xin thẻ tín dụng, ông chấp thuận ngay tại chỗ và giải thích,

            “Thẻ này cho phép anh mua hàng hóa và dịch vụ ở bất cứ cửa hàng J. C. Penny nào mà không phải trả tiền ngay.  Hôm nay, chúng ta dùng thẻ để anh mua sắm.”

            “Vậy là cháu có thể mua hàng mắc chịu.  Nhưng làm sao trả tiền, lỡ cháu không đủ tiền trả thì sao?” tôi nhớ mình nợ tiền vay ngân hàng lúc các em mới đi học, và không biết bao giờ mới lãnh lương.

“Tháng này anh chưa phải lo.  Bắt đầu từ tháng sau, công ty gửi hóa đơn về nhà cho anh.  Anh không phải trả hết một lần, nhưng tùy theo khả năng cần trả càng nhiều càng tốt vì số tiền nợ lại sẽ tính lời với lãi suất rất cao.”

Tôi hiểu ra và nhận xét,

“Thẻ tín dụng tiện lợi thực, nhưng nếu không cẩn thận mà mua sắm bừa bãi thì mang nợ cả đời.”

“Anh nói đúng, công ty cấp thẻ tín dụng để khuyến dụ anh mua hàng càng nhiều càng tốt chứ không phải vì tốt bụng với anh.  Ở xứ này không có gì miễn phí, và không ai cho không ai cái gì cả.  Anh nhớ điều đó,” ông Francis nói với nét mặt nghiêm trang.

“Cháu học về kinh tế và hiểu rằng trong nền kinh tế thị trường của Hoa kỳ, khi ai nấy đều tối đa hóa lợi nhuận của mình thì toàn thể xã hội sẽ đạt tới mức tối ưu.  J. C. Penny là cơ sở thương mại dĩ nhiên cần kiếm lợi tối đa.  Vấn đề là làm sao cháu dùng thẻ theo cách lợi nhất cho mình.”

Cầm chiếc thẻ tín dụng tạm thời (thẻ chính thức bằng plastic in nổi số thẻ và tên họ sẽ gửi về nhà sau), tôi hơi lo về chuyện nợ nần nhưng cảm thấy một thoáng tự hào, mình mua mình trả chứ không xin xỏ ai.  Hôm nay là lần đầu tiên tôi đi mua áo quần may sẵn bán ngoài tiệm.  Ngày còn bé, ngoài áo quần cũ thừa hưởng của anh Quang thải xuống, mỗi năm tôi có hai bộ áo quần mới mẹ đặt may và để sẵn, đến ngày tựu trường và mồng một Tết mới được mặc.  Khi tôi lên trung học, mẹ mua vải đưa trước cho tiệm may quen gần nhà, tôi chỉ việc đến đo ni tấc và đợi ngày tới lấy về.  Khi lên đại học và đi làm, tôi đến vài tiệm may có tiếng ở Sài gòn, chọn lựa mẫu vải và kiểu quần áo thịnh hành chưng bày trong tiệm, đặt may rồi hẹn ngày đến trả tiền lấy về.  Giày mang đi học hay đi làm cũng vậy, tôi đặt đóng ở tiệm giày quen theo cỡ chân với kiểu giày và loại da mong muốn. 

Ông Francis đưa tôi đến khu bán quần áo đàn ông, tôi hoảng kinh nhận ra áo sơ-mi cũng như quần dài, chiếc nào chiếc nấy to tổ chảng, tôi “bơi” bên trong vẫn còn rộng.  Thí dụ, quần đàn ông nhỏ nhất có vòng thắt lưng 34 inch, trong lúc vòng thắt lưng khiêm tốn của người Việt trung bình như tôi chỉ chừng 28 inch.  Đành sang khu bán đồ con trai tuổi choai choai.  Lục lọi áo quần máng trên năm, sáu cái giá dài, tôi tìm được một số quần áo mặc vừa, nhưng kiểu may, loại vải, và màu sắc khó coi.  Không có áo sơ-mi cổ cứng để mang cà-vạt, tôi mua cà-vạt đen (ở Việt nam tôi dùng mang đi đám ma) với cái móc plastic để móc nút cà-vạt vào cổ áo trông như đồ chơi.  Không có com-lê cả bộ, tôi mua áo vest chửi nhau với mấy cái quần dài.  Đứng trước gương trong phòng thử, tôi thấy mình lạ hoắc và trông . . . không giống ai.

Rời khu con trai với hai bao áo quần trẻ em tạp nham, tôi theo ông Francis đến khu bán giày.  Tôi không biết cỡ giày mình, ông ra lệnh cho cô bán hàng lấy máy đo bàn chân tôi,

            “Đây là máy Brannock do một anh chàng tên Charles F. Brannock ở Nữu Ước sáng chế năm 1925.  Anh là kỹ sư có thể tìm hiểu nguyên tắc hay tính chất của máy, còn hàng bán giày chúng tôi chỉ cần anh đặt bàn chân lên máy rồi điều chỉnh các cần đo và đọc cỡ giày anh nên mang.”

Cô bán hàng đo chân tôi rồi cho biết giày tôi cỡ tám rưỡi (8½) D.  Cỡ 8½ là chiều dài tính bằng inch từ gót chân đến đầu ngón chân xa nhất.  “D” là ký hiệu chỉ bề rộng của giày.  Cô dịu dàng nói thêm,

            “Trong cách xếp hạng cỡ giày Mỹ, ‘D’ là bề rộng tiêu chuẩn hay trung bình, ‘C’ là hẹp, và ‘E,’ ‘EE’ (hay ‘2E’), và ‘EEE’ (hay ‘3E’) là cỡ rộng hay rất rộng.  Nếu ông giúp bà nhà chọn cỡ giày, xin nhớ là bề rộng tiêu chuẩn của giày đàn bà là ‘B,’ chứ không phải ‘D’ như ông đâu nhé.”

Phần lớn những kiểu giày bày trên kệ và mấy chiếc bàn thấp đều thô kệch dềnh dàng hay màu mè phô trương, không có kiểu nào thanh nhã như các mốt (mode) Âu châu ở bên nhà.  Ông Francis cầm đưa lên một chiếc giày mũi nhọn có các lỗ thủng nhỏ chạy thành hình cánh chim rẽ ra hai bên tới gần gót giày,

            “Đây là giày wingtip (đầu cánh chim) rất thông dụng trong giới doanh nghiệp, anh thấy sao?”

Tôi nhìn xuống chân ông Francis, đó là kiểu giày ông mang.  Theo lời khuyên của ông, tôi chọn hai đôi wingtip, một đôi màu đen và một đôi màu vỏ dà để thay đổi theo màu quần.  Mất nguyên cả buổi chiều mua sắm nhưng tôi không mua được món nào vừa ý.  Nếu ngày Sài gòn tôi tự hào với tủ quần áo chọn lọc và cách ăn mặc hợp thời trang, hôm nay chỉ biết than ôithời oanh liệt nay còn đâu.

Sáng thứ Hai, tôi trình diện ở trụ sở MDU và bắt đầu cuộc đời đi “làm sở Mỹ” mà áy náy bồn chồn vì bộ vận trẻ em của mình.  Đôi giày wingtip lại quá chững chạc, tương phản ngộ nghĩnh với bộ áo quần bên trên.  Tôi biết các bạn đồng nghiệp mới thấy rõ điều này vì đến cuối ngày trước khi chia tay ra về, anh bạn Charlie khen, “Đôi giày đẹp, Ba Hoa anh khéo chọn lắm!”

* * *

Khoảng một tuần sau, trong bữa cơm tối tôi kể chuyện thẻ J. C. Penney với các em.  Mắt thằng Sang sáng rỡ,

            “Mai anh đi mua giùm tui bộ stereo (máy hát âm thanh nổi) vừa nghe ra-đi-ô vừa nghe dĩa hát.  Tới kỳ lương tui trả tiền lại cho anh.”

            “Mày có dĩa đâu mà mua máy?” tôi hỏi gặng để can nó đừng mua.

            “Mấy thằng bạn ngoài trạm xăng hứa cho một lô dĩa hát mà tui không có máy nên cứ làm bộ ta đây không thèm.  Mà tui mua máy cho cả nhà nghe chớ đâu phải một mình tui!”

            “Được rồi, mai mày ra J. C. Penny với anh,” tôi chịu thua.

            “À, hôm trước anh Ba Hoa ‘bóc lột’ tiền ăn trưa của em để gửi cho cha mẹ, giờ anh phải đền lại cho ‘công chúa’ bằng cái T-shirt (áo thun ngắn tay).  Luôn tiện, anh mua cho chị Châu một cái để tỏ lòng . . . hiếu thảo với vợ,” Bình thừa dịp đòi nợ.

            “Tụi em cần quần lót,” Lâm và Trọng nhao nhao.

Chiếc thẻ tín dụng đầu tiên ấy giải quyết một số nhu cầu cấp bách của chúng tôi.  Sau khi trả xong món nợ vay ngân hàng, tôi được xem có thành tích trả nợ đàng hoàng, tức là “điểm tín dụng cao,” và mời nộp đơn xin thẻ tín dụng VISA của ngân hàng.  Khác với thẻ J. C. Penny, thẻ VISA có thể dùng ở bất cứ nơi nào chịu nhận thẻ, từ cửa hàng bách hóa đến nhà hàng ăn, hãng du lịch bán vé máy bay, công ty cho thuê xe hơi, và khách sạn.  Nhà buôn được lợi là bán hàng hóa hay dịch vụ dù khách chưa sẵn tiền mua, và nhận ngay tiền ngân hàng ứng trước.  Bù lại, ngân hàng ăn ba phần trăm huê hồng.  Chủ thẻ như tôi, nếu cuối tháng trả trọn số tiền mắc nợ thì kể như dùng thẻ VISA vay tiền miễn phí.  Miễn là trả hết; có lần tôi ký chi phiếu trả tiền vô ý ghi thiếu một xu (1¢), tháng sau thấy hóa đơn cộng thêm tiền lời 29 phần trăm tính trên tổng số nợ tháng trước.

Hệ thống “tín dụng” thương mại chi phối mọi khía cạnh của đời sống Hoa kỳ.  Hệ thống này cho phép những người ban đầu túng thiếu như tôi có được những món cần thiết bằng cách mua chịu.  Những gia đình trung lưu có thể có xe hơi, nhà cửa, và các tiện nghi khác bằng cách vay tiền ngân hàng và trả góp hàng tháng.  Xe hơi là phương tiện di chuyển không thể thiếu, và làm chủ một căn nhà là giấc mơ của mọi gia đình Mỹ.  Nhờ đó, người làm việc hưởng thụ cuộc sống đầy đủ và thoải mái, cửa hàng bán chạy hàng hóa, và ngân hàng phồn thịnh nhờ thu tiền lời.  Chỉ cần người vay nợ có lợi tức vững vàng, không vung tay quá trán ăn xài quá sức mình, và thanh toán hóa đơn hàng tháng đầy đủ và đều đặn.

Trong bốn năm cuối thập niên 1970, nền kinh tế Hoa kỳ suy thoái bốn đợt, mức thất nghiệp lên tới tám phần trăm, lạm phát 18 phần trăm một năm, và công nhân bị hãng xưởng sa thải.  Đối với nhiều người Mỹ, mất việc là khánh kiệt, là tán gia bại sản, và là mất tất cả.  Không trả tiền vay mua xe, nhà băng kéo xe.  Không trả tiền vay mua nhà, nhà băng xiết nhà.  Thiếu thốn mọi thứ về vật chất, vợ chồng sinh ra gấu ó cãi cọ ngày đêm, rốt cuộc gia đình tan rã, và chị vợ chia tay mang con ra đi.

Tôi dùng máy stereo của thằng Sang nghe dĩa nhạc và cảm thông nỗi sầu não của cảnh khánh tận thời trước qua bản nhạc đồng quê nổi tiếng “All I Got’s Gone” (Mọi thứ tôi có được đều đã mất),

Whole lot of people bought automobiles,
Didn’t know how they’s a-gonna feel,
Rode around so grand and proud,
Notes come due, couldn’t pay it out.
All they got’s gone, all they got’s gone.

I went to the bank to borrow some money,
I tell you right now, didn’t find it funny,
The banker said he had none to loan,
Get your old hat and pull out home.
For all we got’s gone, all we got’s gone.

(Có khối người đi mua xe hơi,
Không biết họ sẽ cảm thấy làm sao,
Chạy quanh sao thấy cao sang và hãnh diện,
Đến kỳ trả nợ, không tiền trả,
Mọi thứ họ có được đều đã mất, mọi thứ họ có được đều đã mất.

Tôi ra nhà băng mượn một ít tiền,
Phải nói ngay, có gì tức cười đâu,
Chủ băng nói không có gì cho vay,
Chụp chiếc mũ cũ đội và rút lẹ về nhà.
Vì mọi thứ ta có được đều đã mất, mọi thứ ta có được đều đã mất.)

Bản nhạc này được Ernest Van “Pop” Stoneman (1893 – 1968) thu dĩa năm 1934.  Ông là một nhạc sĩ thu dĩa hàng đầu trong thập niên 1930, thời gian đầu tiên nhạc đồng quê được phổ biến thương mại và cũng là thời gian cuộc đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra.

Nếu người Pháp có câu tục ngữ “Tiền bạc không tạo nên hạnh phúc” (L’argent ne fait pas le bonheur) thì ở Mỹ mất việc có thể đồng nghĩa với chịu trăm cay ngàn đắng nhìn hạnh phúc đội nón ra đi.  Trong 37 năm làm việc ở xứ này, chưa một lần tôi bị cho nghỉ việc.  Không phải người Việt tỵ nạn nào cũng may mắn như tôi.

Nguyễn Ngọc Hoa

White Christmas

“I’m dreaming of a white Christmas,
Just like the ones I used to know.
Where the tree-tops glisten
And children listen

To hear sleigh bells in the snow…”
…Đó là những đoạn mở đầu của bài White Christmas thường được hát trong mùa Giáng Sinh.
Tác giả của bài hát và cũng là tác giả của bài quốc ca Mỹ God Bless America, Irving Berlin, là một người gốc Do Thái sinh đẻ tại Nga. Tên thật của ông ta là Israel Baline. Irving Berlin theo gia đình sang Mỹ để tránh sự kỳ thị, đàn áp, khủng bố và bức hại. Đặt chân tới đất Mỹ, gia đình định cư tại thành phố New York, và chàng thanh niên Israel Baline đã trở thành một trong những người viết nhạc lẫy lừng nhất trong lịch sử âm nhạc nước Mỹ dưới cái tên mới rất Mỹ là Irving Berlin.
Ông viết ra bản nhạc White Christmas vào những năm1930, được ca sĩ Bing Crosby hát trên đài radio NBC lần đầu tiên cho công chúng vào đúng ngày Giáng Sinh 25 tháng 12 năm 1942.
Bài bát được ngay sự ủng hộ và yêu thích của tất cả mọi người, nhất là những người lính Mỹ xa gia đình đang chiếnđấu trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai và những gia đình có con đang ở ngoài nước Mỹ sống kề cận với cái chết.
Năm 1942, Decca phát hành dĩa nhựa đầu tiên với tiếng hát của Bing Crosby.
Hai năm sau, 1947, Decca lại phát hành dĩa nhựa lần thứ nhì, và từ đó trở đi White Christmas trở thành là dĩa nhựa bán chạy nhất mọi thời đại với số lượng hơn 100 triệu dĩa.
Đúng 45 năm sau kể từ ngày White Christmas ra đời, năm1975, White Christmas lại một lần nữa làm nên lịch sử! Lần này White Christmas nổi tiếng không phải vì được trình diễn trong một buổi hoà nhạc tiếng tăm nào đó, không nổi tiếng vì được hát bởi một người ca sĩ nổi tiếng nào khác, White Christmas chỉ được hát trên radio, sau cái tin ngắn về thời tiết, “Sài Gòn lúc này nhiệt độ đang ở mức 112 độ F và còn có thể giatăng hơn nữa…Sau đây mời các bạn nghe I’m Dreaming of The White Christmas…”
Một bài hát Giáng Sinh đầy tuyết rơi lạnh lẽo trong một đất nước ở vùng nhiệt đới vào giữa mùa hè nóng nực trên 112 độ F.
Bài hát lần này lại tạo nên một kỷ lục mới, kỷ lục cũng hàng triệu, nhưng thay vì dĩa nhựa lần này là dĩa người. Từ khi bài hát được phát ra trên radio vào những ngày cuối tháng 4 năm1975, ở cái xứ nơi bài hát được phát ra đó, có bao nhiêu người bỏ xác trên biển cả, trong rừng sâu, trong trại cải tạo, có bao nhiêu người bỏ xứ ra đi từ cái ngày đó cho đến cả bây giờ cũng đang tìm đủ mọi cách để ra đi. Giáng sinh là mùa của sum họp, yêu thương và hy vọng.
White Christmas lại là bài hát khởi thuỷ cho chia lìa, oán hận, phản bội, đau thương và tuyệt vọng!

Lưu Thy Nguyễn

Chạy đi cánh đồng

con đã chạy về phía cánh đồng
chân trần và đầy vết xước
bước vương hương mạ non và có bước nhỏ máu
quay đầu lại mùa mưa…

quê nghèo trùng trùng thâm quầng lên mắt mẹ
có phải không mẹ,
bên kia là bầu trời
bên kia đá cũng biết khóc…
cánh cò trắng mang củi lửa ra đồng đốt bớt chút long đong

con đã chạy qua mấy tuổi người
mới hay mình thiếu mẹ
vạt áo nâu sòng phẳng lòng con nghẹn đắng
ai gọi đò
hay là tiếng hư không


con phải chạy qua mấy đỉnh buồn nữa mới đến chiếc võng cuối trời
gió mùa này đong vào con tím bầm câu cổ tích
mẹ ơi
hay con quỵ xuống giữa đồng để biết mẹ mênh mông…

Trần Đức Tín

Món Quà Ngày Chủ Nhật

Trong những năm gần đây ở Sài gòn các vị lãnh đạo tôn giáo đua nhau xuống đường biểu tình loạn xà ngầu khiến tôi đâm ra ngao ngán coi nhẹ tôn giáo và xem thường đức tin của mình.  Tôi là Phật tử nhưng chỉ đi chùa khi phải đưa mẹ đi, giỏi lắm là một năm ba lần:  Tết nguyên đán, lễ Phật đản, và lễ Vu lan.  Tôi cũng đi nhà thờ Công giáo một năm đôi ba lần khi có bạn rủ đi.  Giáng sinh đi lễ nửa đêm là dịp đáng nhớ nhất:  Hai phe đồng ý hưu chiến, lệnh giới nghiêm tạm đình chỉ, và mọi người đổ xô ra đường hưởng đêm “Sài gòn không giới nghiêm” ngắn ngủi.  Những lần đó, các bạn gọi nhạo tôi là dân “đạo dòng” – đi lòng dzòng mua vui.

Tôi chưa bao giờ đi nhà thờ Tin lành và hầu như không biết gì về đạo này.  Ngoại trừ các bạn người Mỹ, tín đồ Tin lành duy nhất tôi quen là Thanh Phú, người yêu cũ của thằng Tú bạn tôi.  Nàng dịu dàng và hiền lành, không bao giờ than vãn điều gì hay trách cứ ai, và đặt đức tin tuyệt đối vào đấng tối cao,

“Chúa an bài mọi việc, mỗi việc Người sắp đặt đều có mục đích riêng, và làm con của Người trên thế gian phải tin tưởng vào sự sáng suốt của Người.”

Tôi nhớ ngày tôi lên tám, học lớp nhì (lớp 4) trường Vinh Sanh thuộc nhà thờ Chánh tòa Qui Nhơn, và trên đường đi học về, đi ngang qua một bãi đất trống và tò mò dừng lại xem cặp vợ chồng mục sư Tin lành người Mỹ giảng đạo với đám đông gồm trẻ em và người nghèo khổ rách rưới.  Sau khi phân phát các gói bột bắp lớn và một đống áo quần cũ màu sắc lòe loẹt rộng thùng thình, ông mục sư nhắm tít mắt, đưa hai tay thành chữ V lên trời, và cất cao giọng nói tiếng Việt lơ lớ,

            “Các con hãy đến đây, hãy cùng ta ca ngợi Đức Chúa Trời.  Hãy tin vào Chúa, hãy làm con của Ngài.  Để được Ngài cứu rỗi, và linh hồn được giải thoát.  Đến đây, đến đây!”

Những kẻ khốn khó co ro đứng sắp hàng “tin vào Chúa” để lãnh 20 đồng, món tiền vừa đủ mua năm cuốn vở học trò 100 trang.  Bao bột bắp tôi lãnh về nhà lần đầu bị mẹ bắt đi đổ vì “để chật nhà” và không biết dùng làm gì.  Áo quần cũ người lớn lãnh về có lẽ cũng chịu chung số phận.  Những tuần lễ kế tiếp, ông mục sư tiếp tục rao mời như trước, và hàng người xin “được cứu rỗi” vẫn là những người đã lãnh tiền tuần trước, và tuần trước nữa.  Hình như đối với ông bà mục sư, khuôn mặt An nam nghèo đói xác xơ nào cũng giống nhau.  Tôi kể lại với mẹ giữa lúc mẹ đang nói chuyện với mấy bà bạn hàng xóm.  Một bà nhổ phẹt bãi nước trầu, lấy ngón tay vét môi, và cười khì khì,

            “Mấy chị ơi, đạo giáo chi mà cho phép cha cố lấy vợ đẻ con?  Đêm lục đục với vợ mệt phờ râu và ngày lo cơm nước gạo tiền cho vợ con thì còn đâu tinh thần mà dẫn dắt con chiên?”

            “Chị nói y hịch ý tui!  Muốn có vợ thì dù là cha cố cũng phải ve vãn kén chọn cô này cô nọ, tránh sao khỏi ba cái dzụ mèo chuột ghen tương.  Tưởng tượng ông cha đứng giảng kinh trong khi mấy cô chửi bới giành ‘cha’ ầm ỹ bên dưới, tui tức cười bể bụng,” một bà khác bập bập điếu thuốc Cẩm lệ bàn góp.

Chuyện ấy, tôi nhớ mãi.  Nhưng trời không chiều lòng người, ghét của nào trời trao của ấy.  Mặc dù tôi nhất định không dính dáng tới các cơ quan thiện nguyện đại diện tôn giáo, cơ duyên dun rủi khiến tôi được Cơ quan Di trú và Tỵ nạn Lutheran của đạo Tin lành tìm kiếm để bảo trợ.  Lúc ở bên nhà, tôi nghe nói mục sư Tin lành “Baptist” truyền giáo cho người Thượng trên vùng cao nguyên, nhưng chưa hề nghe tên “Lutheran.”  Trong trại Trại Pendleton, tôi học được Lutheran là giáo phái Tin lành lớn gắn bó chặt chẽ với giáo huấn của nhà thần học người Đức Martin Luther (1483 – 1546).  Ông là người đầu tiên hô hào phong trào cải cách đạo Thiên chúa, bác bỏ uy quyền của Giáo hội Công giáo La Mã và giáo hoàng, và khởi nguyên đạo Tin lành.

Lutheran và Baptist, cùng với sáu giáo phái khác như Adventist, Anglican, và Methodist là tám giáo phái Tin lành chính ở Hoa kỳ.  Ngoài ra, còn có trên một chục giáo phái Tin lành nhỏ hơn như Quaker và Irvingian, và vô số tòng phái.  Các tòng phái rất đa dạng, thường bắt buộc hay khuyến khích giáo đồ theo một nếp sống khác biệt nào đó, và hành đạo dưới nhiều danh xưng khác nhau như “nhà thờ,” “quy ước,” “hội đồng,” “nhà,” “liên minh,” và “hội tín hữu.”  Những giáo phái và tòng phái Tin lành hoạt động riêng rẽ, độc lập với nhau, và có quy luật, tín điều, và cách thờ phượng riêng, tuy tất cả đều tin Chúa Giê-su là đấng cứu thế.

Hôm nay là Chủ Nhật, ngày thứ ba tôi ở Bismarck.  Buổi sáng, ông Gardner đến đón gia đình tôi đi nhà thờ và cho biết tôi sẽ có một tiết mục trong buổi lễ.  Nhà thờ Ba ngôi Lutheran nằm cùng một khu phố với nhà tôi ở, qua khỏi sân sau là tới bãi đậu xe của nhà thờ.  Gia đình tôi ngồi ở hàng ghế dài đầu tiên trong nhà thờ với ông bà Gardner, ông là Chủ tịch ban Trị sự của nhà thờ Ba ngôi Lutheran.  Trong bộ áo lễ màu trắng viền đen trang trọng, Mục sư Nielsen đứng chủ lễ.  Lễ Tin lành ít theo nghi thức hơn lễ Công giáo tôi có dịp dự, và tín đồ hát thánh ca nhiều hơn.  Trong tiếng đàn đại phong cầm, lời thánh ca thanh thoát nhẹ nhàng mà tôn nghiêm.  Bài giảng của mục sư chú trọng quanh nghĩa vụ của tín hữu Thiên chúa giáo giúp đỡ những kẻ khốn khó mà không mong đợi được đền đáp.  Đặc biệt, ông nói, những người cần giúp đỡ hiện tại là gia đình tỵ nạn Việt nam mới tới; đó là chúng tôi.

Cuối bài giảng, ông Nielsen cầm một số báo Newsweek và đưa lên cao.  Cùng với tờ Time, Newsweek là một trong hai tuần san nổi tiếng phát hành tại Hoa kỳ và lưu hành khắp thế giới.  Số Newsweek đăng bài viết của Shana Alexander (1925 – 2005) về người tỵ nạn Việt nam, cô ký giả lo ngại họ chưa biết sử dụng máy giặt và máy sấy quần áo và không biết Michelangelo là ai thì làm sao sống nổi ở đất Mỹ.  Ông mục sư lên giọng,

Bài báo này tượng trưng cho sự hợm hĩnh và lòng ích kỷ mà Chúa dạy phải lánh xa.  Hôm qua, Bà Nielsen và tôi thù tiếp gia đình tỵ nạn của chúng ta và được hưởng một buổi tối thú vị.  Họ là những người thông minh nhất mà tôi gặp, và hai cô gái nấu ăn tuyệt vời.  Ba Hoa, chúng tôi may mắn được có gia đình anh ở đây.

Trên bục giảng kinh, ông Nielsen quay mặt xuống nhìn tôi; “Bà Nielsen” là bà Lorene vợ ông.  Tôi suy nghĩ về bài báo và nhủ thầm, học cách sử dụng máy giặt máy sấy không thể mất hơn dăm ba phút đồng hồ, sao làm như ghê gớm lắm?  Michelangelo là điêu khắc gia, họa sĩ, kiến trúc sư, và thi sĩ người Ý Michelangelo di Lodovico Buonarroti Simoni (1475 – 1564) sống vào thời Phục hưng ở Âu châu, công trình của ông gây ảnh hưởng vô song vào sự phát triển nghệ thuật tây phương.  Nhưng có phải người Mỹ nào cũng biết đến nhà nghệ sĩ đại tài này đâu, phần nào thôi chứ!

Tiếp theo, ông Gardner lên trình bày vắn tắt cuộc hành trình tìm tự do của gia đình tôi, ca ngợi chúng tôi là “những kẻ can đảm nhất,” gọi tôi là “người anh hùng” đã dẫn dắt gia đình đến nơi chốn an toàn, và cho biết cha mẹ đang ở trong trại Đồn Chaffee ở tiểu bang Arkansas và,

Nhà thờ Ba ngôi sẽ tiến hành việc bảo trợ ông bà ra đoàn tụ với các con, một khi Ba Hoa kiếm được việc làm bảo đảm sự ổn định kinh tế cho gia đình.

Nghĩa là muốn sớm gặp lại mẹ, tôi sẽ phải có việc làm càng sớm càng tốt.  Đến lượt tôi, tôi giới thiệu Quỳnh Châu và các em, cám ơn họ đạo đã bảo trợ và giúp đỡ chúng tôi trong bước đầu sống nơi xứ lạ, và ước vọng,

Hôm nay chúng tôi là người tỵ nạn, nhưng chắc chắn ngày mai chúng tôi sẽ là những công dân xứng đáng, góp sức xây dựng Hiệp chúng quốc Hoa kỳ ngày càng tốt đẹp hơn.

Sau lễ, chúng tôi theo ông Gardner xuống tầng hầm nhà thờ, vào một phòng hội lớn, dùng bánh ngọt và rượu táo hâm nóng và cà-phê, và gặp gỡ các người trong họ đạo.  Vừa vào phòng, các em tôi được mấy nhóm thanh niên trẻ cùng trang lứa chào đón và đưa về bàn mình trò chuyện.  Riêng Bình, không hổ là giáo sinh ban Anh văn của một đại học uy tín ở Việt nam, em duyên dáng và lưu loát kể chuyện di tản, và những người bạn mới kính phục nhìn em như muốn uống từng lời nói.  Ước chi tôi chụp được tấm hình cảnh nói chuyện đó để gửi cho tờ Newsweek.

Tôi và Quỳnh Châu tiếp những người lớn tuổi hơn.  Họ bắt tay chúng tôi và chào mừng, chúc mừng, và chúc may mắn trong những ngày sắp tới.  Sau cùng, một anh khoảng ba mươi tuổi, người cao lớn dềnh dàng, và giọng nói oang oang đến tự giới thiệu là Mike (tên tắt của Michael).  Anh làm giáo sư trường trung học Bismarck và tuần tới sẽ lo việc ghi tên cho hai em Lâm và Trọng đi học; anh hỏi tôi,

            “Tôi đọc tập sách về người tỵ nạn Đông dương do bộ Ngoại giao phân phối thì thấy nói phần lớn người Việt ở trong những túp lều tranh ở ngoài đồng.  Điều này có đúng không?”

            “Đúng, nhưng vào khoảng . . . ba hay bốn trăm năm trước, ngày Hoa kỳ chưa ra đời.  Lúc ở trong trại tỵ nạn, tôi cũng đọc tập sách đó và vô cùng ngạc nhiên khi thấy một tài liệu do chính phủ Hoa kỳ ấn hành mà lại chứa nhiều dữ kiện quá ư lỗi thời đến thế.  Tôi xem phần tài liệu tham khảo thì thấy tác giả dùng toàn sách cổ do người Pháp viết từ thế kỷ thứ 17 hay 18,” tôi cười nửa miệng lắc đầu.

            “Tôi cũng thấy nói khi gặp các em bé thì không được xoa đầu vì đó là điều tối kỵ.  Tại sao?” Mike hỏi thêm.

            “Tôi không biết, có lẽ là tục kỵ vào một thời xa xưa nào đó.  Dầu sao cũng không nên xoa đầu một cậu bé và làm rối bù mái tóc của cậu ta,” tôi nói đùa.

“Tôi không lấy làm lạ đâu Ba Hoa.  Ở xứ Mỹ này, ai cũng nói công chức quan liêu của chính phủ liên bang chẳng mấy khi làm được việc gì cho đàng hoàng,” Mike kết luận.

Chiều Chủ Nhật, khách tới nhà tôi nườm nượp.  Người trong họ đạo mang tặng chúng tôi đủ thứ áo quần và đồ dùng trong nhà.  Áo quần được giặt sạch và gấp xếp thẳng thớm hay nằm ngay ngắn trên móc áo, phần lớn đã dùng một vài lần, nhưng có một số còn mới toanh và còn nguyên nhãn – với giá tiền đã được cẩn thận lấy ra.  Trong số các đồ dùng, những dụng cụ nhỏ như máy đánh trứng làm bánh, máy xay trái cây, bàn ủi, v.v. được đóng gói trong hộp nguyên thủy và còn tờ chỉ dẫn cách sử dụng.  Quà tặng đi kèm theo với những lời chúc lành thiết tha, những câu an ủy chí tình, và lời lẽ khiêm tốn khiến chúng tôi cảm động vô cùng.  Có người cám ơn chúng tôi đã đến và cho người Mỹ thấy tự do không phải tự nhiên mà có.  Một ông trạc dưới bốn mươi (sau này tôi mới biết làm bác sĩ) đưa cho tôi chiếc phong bì đựng tờ bạc một trăm đô la kẹp trong tấm thiệp ghi “A gift of love” (Món quà yêu thương).  Ông mong tôi nhận tiền mà đừng phiền lòng, vì đáng lẽ ông phải đưa tôi đi mua đôi giày mới.  (Có lẽ ông thấy đôi giày há mõm lúc tôi lên phát biểu ở nhà thờ.)

Lần đầu tiên tôi hiểu thấm thía câu ngạn ngữ Pháp “Cách cho còn hơn của đem cho” (La façon de donner vaut mieux que ce qu’on donne), câu nói của nhà soạn kịch người Pháp Pierre Corneille (1606 – 1684).  Cùng với Molière và Racine, Corneille là một trong ba nhà soạn kịch vĩ đại nhất của Pháp vào thế kỷ thứ 17.  Từ cách cho của họ đạo, món quà quý giá nhất tôi nhận được hôm nay là tấm lòng nhân ái giữa người và người, không phải giữa người bảo trợ và người tỵ nạn.  Món quà ấy tôi dùng mãi dùng hoài trong đời, không bao giờ vơi cạn.

Riêng về “món quà” phủ đầu của Shana Alexander, tôi cũng luôn luôn mang theo trong mình.  Nhờ cô mà trong suốt 37 năm làm việc và đi học ở North Dakota, tôi nguyện với lòng lúc nào cũng phải giỏi hơn người Mỹ trong hoàn cảnh tương tự – và tôi đã thành công.  Nhưng tôi không biết ơn cô hay tờ Newsweek.

Nguyễn Ngọc Hoa                       

CHỢ LẠC SÔNG MƠ

Ngồi Giữa Chiều Cô Tịch

Chiều nay ngồi giữa chiều xa xứ
Chén rượu buồn tênh chạnh nhớ người
Cổ nhân cuồng sĩ thiên bôi thiểu
Sao bỏ mình ta giữa đất trời

Đâu phải vì thơ, đâu phải bạn
Rượu đời chảy mãi chẳng vì đâu
Ta cũng chỉ là tên mạt vận
Uống hoài mà không nhẹ niềm đau

Đâu phải vì ngươi đâu phải ta
Rượu thiên thu chảy suốt thiên hà
Ta đứng bên trời vai áo bạc
Nhớ màu khói nhạt cuối quê xa

Đâu phải vì em đâu phải người
Rượu giang hồ chén cạn chén vơi
Chén cuối trời Nam mơ biển Bắc
Ai rót đầy ta chén ngậm ngùi

Đâu phải màu hoa xưa đã phai
Áo chiều xưa đã nhạt đã nhàu
Mà ta lận đận phương trời lạ
Đời vẫn còn nhoi nhói vết đau

Chiều nay ngồi giữa chiều cô tịch
Chẳng uống mà say đến chạnh lòng
Dẫu bỏ trăm năm về với đất
Ta còn xanh mãi những chờ mong.

Lê Văn Trung

XIN TÌNH LÀ QUÁN TRỌ CỦA TRĂM NĂM

Lòng cứ ngỡ đời vui là quán trọ
Ta ghé vào xin cạn chén cùng ai
Em, chủ quán, có chờ mong mòn mỏi
Ngồi cùng ta, em nhé, một đêm dài

Em là quán? Hay lòng em là quán
Ta giang hồ, khách lạ, bốn phương xa
Thôi hãy uống sá gì quen với lạ
Hãy quên ta, một viễn khách không nhà

Ta trăm năm hoài phí một đời thơ
Câu ái, câu ân, nghe buồn đứt ruột
Câu duyên nợ đã đành cam vụt mất
Ta giang hồ tay trắng cả tình xưa

Em là quán? Xin tình em là quán
Cho ta ngồi tạm lại một đêm vui
Cho ta thắp lòng nhau trăm ngọn nến
Sáng lung linh cho ấm cuộc tình người

Em là quán? Xin hồn em là quán
Cho ta tìm trong ký ức mù sương
Của đôi mắt thuở vàng thu đăm đắm
Thuở tình xưa vời vợi mộng hoang đường

Em là quán? Xin đời em là quán
Rót giùm ta ly rượu chảy trăm năm
Ta bỏ lại bên kia bờ quên lãng
Xin tình xưa còn mãi mộng nguyên rằm.

Lê Văn Trung