Một Bài Thơ Mới

Em mười bảy tuổi, anh không nghĩ. em sẽ thôi không còn học trò…Anh nhủ lòng anh: Mai Mốt Lính. Đường Anh Đi Có Bóng Nàng Thơ…

Từ lúc anh đi ra mặt trận, thật tình anh có lúc quên em: Tình Riêng Nghĩa Cũ Lòng Không Bận, Mình Sống Là Mình Vẫn Có Duyên…

Tan cuộc, tan tành cả nước non…Tình xưa nghĩa cũ nặng trong hồn. Trong rào dây kẽm, anh nhìn nắng…Chuông giáo đường ngân những tiếng chuông…

Trong rào dây kẽm…anh rồi, vậy! Than trách ai chừ? Ai tâm tình? Ai với mình chia nhau nước lả? Với mình thu vén cái mông mênh?

Sáu năm, không biết gì hơn nữa…ngoài một ngày mai rất mịt mùng! Buồn lắm, đi về, đi hỏi khắp…đường Bà Trưng, vắng, dốc Bà Trưng!

Chao ôi Đà Lạt chừ sao lạ? Em rất là quen cũng lạ rồi! Anh bắt xe qua đèo Ngoạn Mục, núi, rừng, suơng, khói, khói, sương, ơi…

Thấy khói sương mờ tan khói sương…Cố huơng, cố lý…bao la buồn…K’Rôngpha ngó dừa xanh ngọn, thấy gió bày về tha thiết hôn!

Lại nghĩ em đi chẳng trở về…Gió rừng lành lạnh buốt sơn khê…Bóng người xưa đã tan cùng nắng…thì đoạn trường thêm có nghĩa gì?

*

Con chim xanh bay về rừng xanh…Vầng trăng tháng Chạp thật mong manh…Và bờ liễu cũng mong manh nhỉ, lau lách đường xa…nỡ đoạn đành!

Vậy thôi! là có bài thơ mới…Thôi để thời gian nó vẽ bùa. Đã nói yêu em thì đã nói… dẫu tình trong mộng tận ngàn xưa…

Trần Vấn Lệ

Advertisements

QUA NGÕ SƯƠNG TAN

Năm mươi năm trước. Ờ! Lâu lắm
Từ thuở trăng khuya vắng nguyệt cầm
Từ thuở rượu buồn anh uống cạn
Em về qua ngõ bóng sương tan

Áo lụa Hà Đông hương mới lớn
Tay ngoan e ấp lá thư tình
Bài thơ mực tím- con bướm phượng
Em giữ hoài”lưu bút ngày xanh”

Năm mươi năm trước. Ờ! Lâu lắm
Em ngồi chải tóc hết một thời
Giã biệt kinh kỳ anh ra trận
Tuổi hai mươi khắp nẻo sông hồ

Tuổi hai mươi nụ hôn rất vội
Lên môi trầm – ngực ngải em thơm
Anh nhớ mùa xưa trăng đã cũ
Rượu uống mềm môi bóng nguyệt rằm

Năm mươi năm trước. Ờ! Lâu lắm
Anh tìm về qua ngõ sương tan
Sương tan khóc đời nhau lận đận
Là lúc thuyền quyên bước theo chồng

Là lúc sầu đời anh lưu lạc
Bến sông nào cũng khổ như nhau
Bến sông nào cũng chảy nước mắt
Qua ngõ sương tan bạc mái đầu.

LINH PHƯƠNG

GỌI MỪNG SẮT SON

Tặng em một đóa trăng thề
Giúp em một buổi quay về thương yêu
Gửi em độ lượng trăm điều
Và ngàn nỗi nhớ những chiều đợi trông
Tay em này cánh hoa hồng
Môi em biển rộng rượu nồng đêm nao
Khi về rửa dép bờ ao
Dặn lòng tát cạn câu chào thủy chung
Mai đây tới bước sau cùng
Bên trời ân ái gọi mừng sắt son!

TẦN HOÀI DẠ VŨ

HƯ BIỆT NGHÌN NĂM

đôi khi ngồi trốn gió
bên tường xám rêu mờ
trong tay vò cọng cỏ
cười y hệt trẻ thơ

đôi khi nằm ngó nắng
nắng đi rồi nắng về
sao em hoài mây trắng
mãi dặm ngàn suối khe

đôi khi anh lẩm cẩm
như lão già bặt câm
không bới tìm kỷ niệm
không múc trăng phơi rằm

đôi khi chân nhốn nháo
lòng râm ran bất an
đi về như kẻ chợ
nhìn trống hoác chiều tan

gió ru mùa ru mãi
hết nắng rồi sang mưa
em ru thì con gái
xa nhau từ nghìn xưa

con sông bùng bọt sóng
quải mái dầm tương tư
thương hai bờ gánh nắng
đợi nhau…bấy…đến giờ !

đôi khi ngồi trốn gió
lêu lổng bàn tay hoang
vẽ câu thơ dị tật
trên đọt lá tàn xuân
từ em mang tình nhớ
treo hư biệt nghìn năm !

LÊ HÁT SƠN

Vàng và tro than

Mặc dù đã biết trước sẽ xẩy ra – nhưng – khi sự thể xẩy ra thì toàn thể cư dân của ấp Tà Rua bàng hoàng đến độ sửng cả người. Thiên hạ xôn xao bàn về cái chết của vợ chồng Út Chuột và thằng cháu nội tên Mèo. Mèo phóng xe hết tốc độ đâm đầu vô trụ điện. Nghe tin báo Út Chuột ôm ngực lảo đảo rồi té cái oành. Chết trên đường đến bệnh viện bởi cao máu. Bà Út cũng một khuôn. Một ngày mà ba người chết thì chấn động luôn chứ bàng hoàng là chuyện nhỏ. Đúng không?
Sau bàng hoàng thiên hạ lại nói ra miệng rằng vậy là khốn đốn cho anh em nhà Minh Mây. Minh và Mây là con trai của vợ chồng Út Chuột. Dưới Minh và Mây còn có hai bà con gái. Hai bà nầy có chồng và nhà cửa ruộng nương đề huề nhưng ba cái vụ tranh dành tài sản thì tỷ phú còn ham nói chi dân lấm lem vì ruộng. Ủa… mà… đang chết chóc lại lấn vô tài sản và tranh dành là sao? Bộ Út Chuột giàu lắm hả?
Ừ… Tà Rua thì nhất hạng Út Chuột rồi – lão già có biệt danh Ba Cụt nâng chén rượu nói với ba quân – Thằng Út Chuột phải hỏi tao… rằng thì nó là việt kiều Kampuchia. Năm ’73 cha thằng Út bỏ Biển Hồ trên K về Việt Nam vì chịu không xiết sự truy sát của vô số các phe cánh trên xứ Ăng-co. Nào Lonnol nào đảng áo đen nào phe cách mạng… trên đường về cha má Út Chuột bị cướp giết sạch. Út thoát chết vì sợ quá nên bất tỉnh trước đó. Trong rủi có may. Út ta nằm đè lên cái chỗ ông cha dấu vàng. Bọn cướp lấy được cái ruột tượng của bà má nên không kiểm soát kỹ. Út một mình về lại mẫu quốc năm mười lăm tuổi. Nó tìm đến giáo xứ X là họ đạo từ K về hội tụ. Nghe ba má nó chết bà con trong họ thương lắm bèn trình bày với cha xứ và Út được cấp một lô đất cất nhà.
Út theo bà con cô bác vô rừng phá lâm làm nương rẫy. Vốn tính cần cù và sẵn có vàng nên Út Chuột thuê người khai hoang. Thuở ấy rừng sát bên lộ cái và bên trong rừng là quý vị nón cối mũ tai bèo. Út chơi với tất cả từ cảnh sát cộng hòa cho đến dép râu. Đến ngày thống nhất phe chiến thắng về chòi rẫy của Út tạm ngụ để chỉ huy. Nếu cứ thế mà tiến không chừng Út Chuột làm lớn chứ không đùa. Từ 1973 đến 1975 xe bò của Út đã đưa vào rừng cho mặt trận biết bao nhiêu là lương thực và thuốc men, thậm chí cả lựu đạn và đạn M16 mua được từ lính đào ngũ. Công quá lớn chứ chơi sao? Kẹt cái là ở cái năm mười chín tuổi Út Chuột sa vào lưới tình của một kiều nương thứ thiệt. Nàng tên Loan – Kim Loan – hai mươi tuổi và đẹp thôi thì khỏi nói. Từ Sài-gòn nàng cùng gia đình xuống xứ rừng nơi Út cư ngụ với tư cách kinh tế mới. Út Chuột lúc bấy giờ là một ông chủ với mười mẫu đất và một bầy bò cả hai chục chú trong tay. Kinh tế mới khốn khó nên nàng theo chúng bạn đi làm thuê cho chủ Út Chuột. Vừa gặp Kim Loan, Út đã bị tiếng sét ái tình đánh cho một phát vong mạng. Chao ôi gã trai mới lớn nào biết tình là gì, thậm chí mười chín mà đàn bà còn chưa biết thì chết phải quá.
Út Chuột ghé nhà nàng chơi cho biết. Gia đình tiếp Út rất chi trọng thị. Riêng Kim Loan thì ngồi chơi tiến lên với mấy đứa em. Cái thái độ phớt tình của nàng làm Út đuối. Là thằng từng hút cái chết và đã nằm trên vũng máu của cha má nên Út có một cái quyết tâm rất khác người. Để khắc phục nhược điểm khi đứng gần Loan thì cuống quýt vụng về, Út theo chúng bạn lên Sài Gòn chơi cho tỏ mặt đàn ông. Khi đã là đàn ông Út ta tậu một chiếc 67 đến nhà nàng cho tiện. Một đêm khuya khoắt kia Út ôm lấy nàng và ngỏ lời yêu. Nàng gật đầu cái rụp chả có cuống quýt vân vê tà áo chi ráo.
Kim Loan mê bài. Nàng biết chơi tứ sắc tiến lên cả xập xám. Chơi trong nhà cho vui thôi chứ chả ăn thua chi. Út Chuột ngồi bên nàng, bắt bài dùm nàng… sư cha cái cờ bạc. Không có gì nhanh biết và nhanh tinh thông bằng nó và khi biết thì ghiền chết bỏ. Út Chuột sa vô cờ bạc từ ngày quen biết em Loan và cái dòng cờ bạc khi chơi phải tiền nó mới thú. Tiền thì Út không thiếu. Nó cùng em Loan trên 67 hết sòng này qua sòng khác. Và sạch bách từ bò bê đến nương rẫy:
– Thiệt vậy ha Ba Cụt?
– Tao nói láo cho trời đánh sút huyết. Hồi mới đến xứ X tao làm thuê cho Út Chuột nên rành. Thằng Út bị con Kim Loan thuốc đến thân bại danh liệt. Con Loan là dân phố lớn từng trải đời lên hàng đại úy. Út Chuột chết vì con chồn cái quá oan uổng.
– Sao oan?
– Con hồ ly đưa thợ thầy của nó từ phố lớn xuống xứ nầy xẻ thịt con nai. Tao nói bây hiểu không?
– Nhưng bây giờ vẫn nứt đổ đổ vách thôi Ba Cụt ơi.
– À… đó là chuyện về sau… Út Chuột giàu như bây thấy là nhờ bãi vàng Tà Rua nổ lớn…
***
Sau khi tàn đàn xẻ nghé với Kim Loan. Than ôi, nàng vượt biên. Vụ nầy dân tình ở giáo xứ X bàn rằng con hồ ly vặt trụi lủi thằng si tình để có tiền qua trời âu mỹ. Thời may Út Chuột còn lại đúng một cổ xe và hai con bò kéo. Hắn tìm gặp Ba Cụt. Anh em lại tạc thù bên chén ba xi đế:
– Tao đi phát rẫy mướn trong Tà Rua.
– Tao theo với được không?
– Mày có xe bò vô cưa củi là ngon đa.
Vào Tà Rua, Ba Cụt xúi Út Chuột chui sâu vào rừng nguyên sinh ăn cắp be. Be là cổ thụ to cả hai mét bề hoành dài năm bảy mét. Muốn có cây phải mua cán bộ trông coi rừng tục gọi kiểm lâm hay bảo vệ. Thời ấy cán bộ rách lắm. Họ dẫn lâm tặc vào từng gốc gây rồi ngã giá. Cẩm Lai bao nhiêu Gõ bao nhiêu… chung chi rồi tối mang cưa vào hạ. Nhưng mấy ông bảo vệ rừng ma mảnh lắm. Ông nầy bán ông kia vào bắt. Hôm đó xe bò bị bắt đưa về trạm. Chán quá Út Chuột theo Ba Cụt ra quán cóc nhậu thiếu. Có ba giọt rượu Út buồn tình buồn đời ngổi khóc hu hu. Hận con đàn bà khốn nạn đã chơi mình trí mạng, Út thề rằng nếu gặp lại Kim Loan sẽ cho nàng biết thế nào là lễ độ. Ba Cụt tuy ba trời bảy búa mở miệng ra là văng tục, uống rượu bằng lỗ mũi nhưng cũng có chút chữ bèn mắng bằng thơ rằng:
– Có vấp ngã mắt mới nhìn sáng suốt. Có đau thương lòng mới cứng rắn hơn. Có thẳng căng như một sợi dây đờn. Mới tạo được những âm thanh huyền diệu”. Bị gái đả cho là may mắn chứ có chi mà khóc lóc. Lo kiếm tiền mà chuộc xe bò kìa ông cố nội.
Út chửi thề:
– Sư cha mày chứ thơ với thẩn…
Nói rồi Út giã từ bàn nhậu lang thang đúng tư cách kẻ không nhà. Từ quán nhậu ra suối Tà Rua đi ngang một đám rẫy trồng dưa hấu. Khát nước quá Út ghé vào ăn trộm trái dưa. Than ôi lúc túng cùng ngay trái dưa mà ăn cắp thì hết thuốc rồi. Vừa ngồi xuống Út nghe nhói ở ngón chân út. Nhìn xuống thì thấy một con rắn phóng vào bụi cây. Con rắn to bằng nửa cổ tay và dài khoảng bốn mươi phân. Hốt hoảng Út ngồi xuống và nhận ra hai dấu răng đang rỉ máu. Đúng lúc đó một thằng nhóc chừng bảy tuổi có mặt:
– Chú bị sao vậy?
– Tao bị rắn cắn mày ơi.
– Yên tâm… may mà ông gặp tui bằng không ông chết.
Nói xong nó bứt cọng dây rừng buộc bắp chân Út Chuột rồi dẫn ông trộm dưa vào chòi. Nó lấy lưỡi lam rạch một đường ngay vết cắn. Máu từ ngón chân ròng ròng chảy và Út nghe cơn nhức nhối dịu bớt đi:
– Ông biết rắn gì không?
– Không.
– Hổ Quạp đó.
Má tui nói – thằng cu tiếp tục – hồi năm nẳm mấy ông lính Thái Lan ở tiểu đoàn Mãng Xà Vương nuôi loại rắn này rồi thả vô rừng để giết mấy ông dziệt cộng. Rắn này độc lắm. Tui chỉ làm nhiêu đây giúp chú thôi. Lát nữa má tui về rồi tính tới. Chỉ có má tui mới biết cách trị tuyệt nọc loại rắn nầy.
Bà chủ tức má thằng cu về. Nghe nói bị rắn cắn bà nhai một miếng trầu, hớp một ngụm rượu rồi lẩm nhẩm như bị ma làm sau đó phun phèo phèo vào vết rắn cắn. Thật là thần diệu. Hết nhức nhối ngay tức khắc. Thiệt hú hồn hú vía. Và cái bà nầy sau đó là vợ Út Chuột. Thật là trong họa có phúc. Bà Út bỏ tiền ra chuộc xe bò còn ra tay thuê người phá cụm rừng sát bên suối Tà Rua làm rẫy. Út chuột không theo Ba Cụt ăn cắp cây nữa mà dùng bò kéo củi thuê cho chiến dịch khai thác trắng.
– Tao đi làm cho vợ chồng nó nên rành. – Ba Cụt nói –
– Sao cùng một thời mà ông Út vậy còn chú không có đất cắm dùi là sao?
– Bộ mày tưởng muốn là được sao? Phải có tiền chung chi mới tra được rựa vô phá rừng làm rẫy. Phải có cái tọng vô họng cho no bụng mới làm được hiểu chưa mấy ông con? Thằng Út tuy bị gái lừa nhưng còn hơn tao cổ xe bò. Tao thì tha phương cầu thực nên trên răng dưới củ từ.
Ngay lập tức Út Chuột có thằng con trai. Nó tên Minh. Năm sau bà Út đẻ thằng Mây rồi tiếp tục hai con Trinh và Trang. Một nhà đề huề hạnh phúc ấm no với hai héc ta mía và năm sào ruộng. Đời mà vậy cho đến chết thì cũng quá xá tốt rồi. Ngờ đâu “cái giàu đem đến dửng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”. Năm ấy rừng Tà Rua bể lớn một bãi vàng.
Ba Cụt tiếp tục:
– Cha con thằng Út trúng một cục to bằng bàn tay của tao và dày khoảng bốn phân. Cục đó nặng ba ký lô. Tức là trên dưới bảy chục cây vàng.
– Sao biết chắc vậy chú Ba?
– Tao có mặt và cầm cục vàng đó trên tay. Tao đặt nó lên cái cân đồng hồ Nhơn hòa và nó đúng ba ký.
Lúc đó con vợ thằng Minh anh thằng Mây chuyển bụng đẻ.
***
Từ Tà Rua ra cái trạm xá là năm cây số đường bộ. Ngay lập tức con Thúy – vợ thằng Minh – được cáng đi bằng võng. Cũng cần nói thêm để biết rằng những năm tháng ấy người ta đùa với tử thần riết nên quen. Bằng chứng là Út Chuột bị rắn cắn mà chữa bằng bả trầu và rượu là một minh chứng. Mấy thằng bị sốt rét uống nước rể ớt hiểm sau khi sao khô hạ thổ là minh chứng thứ hai. Tại sao đùa ư? Trả lời luôn: Chạy ăn muốn sặc gạch hơi sức đâu mà lo ba cái vặt. Đàn bà con gái bầu bì chuyện đi khám thai định kỳ là một cái gì đó xa xôi, hàng quý tộc mới dám rớ chứ bần cố nông thì kệ bà nó đi. Gia đình Út Chuột nằm ở dạng liều số một.
Nhỏ Thúy sanh xong thì chuyển tốc hành lên phố lớn vì bị băng huyết. Trước khi bãi vàng Tà Rua nổ ra thì xứ sở nông nghiệp nầy ai có chiếc 81 kim vàng giọt lệ là người người đưa mắt ngưỡng mộ mà ngắm nhìn. Chả ai có lấy một chiếc bốn bánh. Bãi vàng nổ ra quý vị bán thuốc sơn đông lưu động đến ngày một. Đoàn này đi đoàn kia đến phục vụ cho quý khách lưng đau đầu gối mỏi vì nằm sương nếm mật. Út Chuột thuê ngay một bốn bánh chuyên trị cao đơn hoàn tán đưa con dâu tức khắc lên đường. Thời may tay chủ xe thuốc rất rành đường đi nước bước của Sài Gòn hoa lệ nên sản phụ đến Từ Dũ vẫn còn bình an vô sự.
Máu được chuyền. Thuốc được tiêm. Ba-by được nuôi đặc biệt trong lồng kính. Tất cả không nghĩa địa gì vì Út Chuột bây giờ có trong tay trên dưới tám chục cây vàng. Có còn chi nữa để âu lo? Tiền lớn. Bệnh viện lớn. Bác sĩ uy tín nhất…. Chao ôi vậy mà không cứu được mới là đáng hận. Bác sĩ báo cho người thân biết rằng sản phụ vô phương cứu chữa vì bị xuất huyết:
– Lý ra – bác sĩ nói với bà Út – con của chị phải được khám thai định kỳ. Đây là một trường hợp đặc biệt. Rất đặc biệt…
Nói rồi bác sĩ mời bà Út và Minh vào phòng sản phụ. Hai tay người mẹ tội nghiệp là máu và nước biển đang chuyền. Vị bác sĩ lấy một mũi kim và châm nhẹ vào dái tai sản phụ. Ông ta đặt vào vết châm một miếng bông gòn. Chỉ một lát miếng bông đẫm ướt máu. Bà Út và Minh ngơ ngác nhìn:
– Máu không cầm. Bà hiểu không? Chuyền bao nhiêu cũng bằng không. Chúng tôi đã làm mọi cách có thể nhưng đành chịu. Ngân hàng máu thì đã cạn loại máu dành cho con bà… tôi nói mong bà hiểu.
Đến cái nước này thì kim cương còn chết nói chi vàng. Về sau khi bình tâm lại thằng Minh kể rằng mỗi khi đến kỳ vợ nó những nửa tháng mới bình thường. Đàn ông con trai mới lớn nên Minh nào có biết chi. Vợ nó cũng mới nứt mắt đã có chồng nên mù câm. Thực vậy. Thằng Minh mười bảy đã lấy vợ và con Thúy mười sáu. Tà Rua là cái xứ rừng sát bên nhà. Thúy đi làm thuê cho vợ chồng Út Chuột nên gặp Minh. Anh trai nhà có mía có ruộng có bò yêu mình. Anh lại đẹp trai ngu sao không yêu lại. Lấy anh là hết kiếp làm thuê liền – má Thúy nói vậy.
Mười chín tuổi mất vợ Minh khóc như mưa. Ông bà Út ôm cháu nội cho bú sữa ngoại. Thuở mà dân uống cà phê chủ quán phải bỏ đường vào ly có định lượng, chả quán nào dám bỏ hủ đường ra bàn vì sợ khách uống trà đường. Vậy mà thằng Mèo được bú sữa Guigoz thì quá xá là quý tộc. Không có tám chục cây vàng thì sữa ông thọ còn không có. Ông bà Út ôm cháu nội dỗ dành. Chăm trẻ không mẹ thuở lọt lòng thì chỉ ông và bà mới được chứ cô gì chú cậu thì xin thua.
Năm Mèo lên hai cha nó có vợ khác. Rồi chú rồi cô ai có gia đình riêng nấy. Ông bà Út Chuột chia đất đai đồng đều cho tất cả phòng hiểm họa về sau. Đứa nào cũng mẫu mía dăm sào ruộng cặp bò. Thằng Mèo ở với ông bà nội và được cưng đúng cái nghĩa nâng trứng hứng hoa. Ông bà có câu con hư tại mẹ cháu hư tại bà. Là do bà và mẹ cưng quá chăng? Dám vậy lắm. Đằng này thằng Mèo được cả ông và bà nội chiều thì hư hao âu cũng phải. Năm lớp tám nó đòi bỏ học nếu ông bà nội không mua cho nó cái xe máy. Có xe rồi nó bỏ học theo chúng bạn đua thâu đêm suốt sáng. Rồi ăn nhậu rồi phá quán rồi đánh nhau… ông và bà Út lo cho cháu thiếu điều sói trán. Họ lên tăng xông là điều không thể tránh. Còn cha nó đâu? Than ôi! Đàn ông thì mười thằng hết sáu đội vợ lên đầu. Con vợ nói: “ tui mới nói một tiếng cha má anh đã nạt là mày biết cái gì mà xen vô…” Thôi thì ông bà nội lo vậy.
Dân Tà Rua nhìn cảnh hai ông bà già cầm tiền đi bồi thường cơm thuốc cho người bị cháu mình gây ra mà tội nghiệp. Họ tin rằng, chắc rằng, trăm phần trăm rằng thằng Mèo mà có mệnh hệ chi là hai ông bà này đứt bóng vì lên máu. Y như rằng. Có rượu vô thằng Mèo phóng 125 phân khôi lao vô trụ điện. Hai ông bà già ra đi cùng một ngày. Thiên hạ nói:
– Ba cái vàng đào được ở Tà Rua nầy xưa kia của người Champa… nó thiêng lắm. Mười người trúng vàng thì đúng mười thân bại danh liệt… rồi đây bầy con vợ chồng Út Chuột sẽ giết nhau vì đất đai vườn tược. Thằng Minh và ba đứa em nó cùng mẹ khác cha. Khác máu tanh lòng mấy người tin tui đi…
Ba Cụt cãi rằng:
– Vàng bị ếm cái con khẹc… bọn mày đúng là mê tín ba láp ba xàm. Vàng nào chả là vàng. Tất cả đều từ đất mẹ mà ra chứ không hề trên trời rơi xuống. Nó có bổn phận giúp con người sang cả chứ không hề gây họa. Và đời sống của bọn mình ai chả mong kiếm chút ít phòng khi hữu sự. Có điều chuyện nhà Út Chuột và chuyện nhà tao y một khuôn. Nếu con cái tao không ra ôn gì trong chuyện học hành vì nghèo quá thì thằng Mèo ngược lại. Nếu vì miếng cơm manh áo không còn thời gian để kèm cặp nên con tao được khoán trắng cho nhà trường. Trường lớp thì giáo dục con em mình một ngày được mấy tiếng bây nói tao nghe coi? Tựu trưng gia đình là cốt lõi. Đã nhiều lần tao cảnh báo thằng Út Chuột cưng thằng Mèo vừa thôi. Nhưng – Ba Cụt thở dài – cái sự yêu thương con cháu đến tối mắt. Không thương sao được khi nó không cha không mẹ? Đánh không nỡ, la không đành nên con cháu ỷ thế mà hư hao…
Cũng có cái tụi mày nói đúng – Ba Cụt tiếp tục – bầy con Út Chuột đứa nào cũng không xong tiểu học. Bọn nó lớn lên trong ruộng đồng theo bản năng nhiều hơn lý trí. Anh em nó giết nhau vì tài sản Út Chuột để lại là có…
Nhân bảo như thần bảo. Ba Cụt nói linh như miểu. Ông và bà Út chuột cùng đứa cháu chưa xanh ngọn cỏ bầy con đã lục tung tủ giường bàn ghế đào cả nền nhà truy tìm vàng cất giấu. Chúng kéo nhau ra tòa đòi phân chia tài sản. Anh em thằng Mây một phe, thằng Minh một phái.
Buồn quá Ba Cụt nâng chén rượu hát rằng : “Đời phu du có nghĩa chi… những lợi danh sẽ tan thành tro…”

NGUYỄN TRÍ

PHÂN ƯU

Chúng tôi vô cùng thương tiếc khi nghe tin Thân Mẫu của bạn Lê Hát Sơn đã tạ thế ngày 03/12/2018
BBT TƯƠNG TRI và thân hữu Thành Kính Phân Ưu cùng bạn
Xin chân thành chia sẻ nỗi đau buồn và mất mát lớn lao này cùng tang quyến
Kính cầu chúc hương hồn Bà sớm siêu thoát trong cõi vĩnh hằng.

PHÂN ƯU

Chúng tôi vô cùng thương tiếc nghe tin Thân mẫu của nhà văn Dương Như Nguyện là Cụ Bà NGUYỄN THỊ TỪ NGUYÊN, cựu Giáo Sư Trung Học Trần Quý Cáp Hội An và Đồng Khánh Huế đã từ trần tại Houston ngày 12-02-2018.
BBT TƯƠNG TRI và thân hữu xin chân thành chia sẻ nỗi đau buồn và mất mát lớn lao này cùng tang quyến.
Nguyện cầu hương linh Bác an lạc ở cõi vĩnh hằng.

Vài Trang Biên Sử Về Cà Phê Sài Gòn

Năm tháng trôi qua, cứ ăn-chắc-mặc-bền, cà phê bình dân thầm lặng phục vụ cho giới người nghèo, dân lao động nơi nơi, tại những quán cóc trong hóc hẽm hay các sạp, tủ bán cà phê /nước giải khát trên vỉa hè, trong bến xe, trước cửa các trường học, nhà thương, rạp hát, chỗ làm giấy tờ… Có điều là cách pha cà phê đã dần hồi đổi khác…

1. Cà Phê “Vợt” Hạng Bình Dân
Trong cõi nhân sinh đầy triền phược, bất công này lại có một điều bình đẳng thật hay ho là mọi người chúng ta, bất kể giàu hay nghèo, đều có thể uống cà phê. Từ những người nghèo, thật nghèo hèn như anh xe ôm, cậu sinh viên, dân lượm ve chai cho đến những người giàu, thật giàu có như ngài tổng giám đốc ngân hàng, ông chủ hãng xe hơi, vị trưởng phòng kinh doanh công ty nước ngoài…, đến cơn ghiền hay khi chợt nghĩ mình nên đi uống cà phê, hoặc vào bất cứ lúc nào đó rảnh rang, đều có thể đi một mình hay cùng bạn bè, đồng nghiệp ghé một quán cóc thật xập xệ bên đường hay một quán cà phê giá vửa phải hoặc một quán máy lạnh thật sang trọng, để mỗi người có thể nhâm nhi, thưởng thức món cà phê theo ý mình.
Ngày xưa, cà phê giao diện bình dân, nhà nghèo – theo nghĩa giá rẻ, giá hạ, hợp với túi tiền của người nghèo, giới bình dân – từ gần 100 năm về trước ở Sài Gòn đã gắn liền với cà phê vợt, tức cách pha cà phê theo truyền thống Nam bộ. Pha vợt là dùng chiếc vợt có túm vải lược (giống chiếc vớ nên có tên gọi nữa là cà phê vớ hay cà phê bít-tất) đựng cà phê bột rồi bỏ vào cái siêu đất sét – Vâng, đúng là cái siêu xắc thuốc Bắc còn có công dụng nữa là pha cà phê.
Cũng từ xa xưa, cà phê vợt đi liền với những nơi chốn bình dân, tập trung là các quán cóc trong ngỏ hẽm. Ở Sài Gòn, hơn 80 về trước quán Cheo Leo tại vùng Bàn Cờ đã nổi tiếng tiêu biểu cho cà phê vợt và ngày nay vẫn tồn tại đến đời chủ thứ 3. Cũng truyền đến 3 đời là một quán café vợt khác trong một con hẽm đường Phan Đình Phùng của ông Đặng Ngọc Côn (nay đã gần 90 tuổi).
Bên cạnh đó, cà phê pha phin (từ tiếng Pháp “filtre”, có nghĩa là vật dụng dùng để lọc) cũng đã lai rai xuất hiện ở Sài Gòn khoảng đầu thập niên 60 thế kỷ trước, như có ngay ở quán Năm Dưỡng, gần quán Cheo Leo, cùng ở vùng Bàn Cờ.
Hình thức pha chế cà phê kiểu Tây, với cái phin nhôm – hay đẹp hơn là cái phin inox sáng loáng – tất nhiên mang vẻ tân thời hơn cái siêu đất thô kệch vốn tiêu biểu cho cà phê bình dân, giá rẻ. Nhưng có một điều đáng chú ý là ngay từ hơn 80 năm trước, ông Vĩnh Ngô, người mở quán Cheo Leo, đã chủ trương chọn cà phê ngon, hiệu Meilleur Gout, Jean Martin danh giá chứ không phải thứ cà phê dở, giá rẻ mạt nào khác đem pha vợt, có nghĩa là giá thành ly cà phê vợt ở Cheo Leo khá cao chứ không thấp. Nhưng do từ một mẻ cà phê bột đã chín bởi nước sôi là được chắt từ cái siêu pha qua cái siêu trữ để từ từ mà cho ra nhiều ly, giá cà phê vợt đã có thể hạ, tức thấp hơn giá cà phê phin là thứ phải pha riêng từng ly. Vậy, ngay buổi ban đầu, cà phê vợt của quán Cheo Leo – điển hình của cà phê vợt Việt Nam – dù chủ nhân chơi sang, chọn nguồn cà phê mắc mỏ để pha bán cho khách nhưng vẫn thuộc về giao diện cà phê bình dân.
Trên Facebook, nhà thơ Linh Phương cho biết, theo ông nhớ thì ở Sài Gòn thời 1960-1970, cà phê vợt giá 1 đồng VNCH một ly. Còn ông Đặng Sơn, nhà sưu tầm tranh, chủ studio Tự Do (ở quận 1, đã ngưng hoạt động) cho hay vào năm 1955, một ly xây chừng (cà phê đen ly nhỏ) chỉ 5 hào và thời này thì cứ xé tờ 1 đồng ra làm hai thành 2 miếng “5 hào” mà trả thoải mái.
Rồi chiến cuộc ngày càng khốc liệt đã khiến đồng tiền VNCH bị phá giá liên tục và nặng nề. “Điểm tâm một buổi sáng nào đó trong khoảng các năm 1974 – 1975, một tô mì nước $120, một dĩa cơm $80, ly càfe sữa $50, không tính 2 điếu Capstan kèm theo…”, một nhà giáo lớn tuổi đang sống ở Mỹ, đã nhớ lại.
Năm tháng trôi qua, cứ ăn chắc mặc bền, cà phê bình dân tiếp tục phục vụ cho giới người nghèo, dân lao động nơi nơi, tại những quán cóc trong hóc hẽm hay các sạp, tủ bán cà phê /nước giải khát trên vỉa hè, trong bến xe, trước cửa trường học, nhà thương, rạp hát, chỗ làm giấy tờ…, có điều là cách pha cà phê đã dần hồi đổi khác.
Ngay từ cuối thập niên 60 thế kỷ trước, nhiều quán, sạp cà phê ở Sài Gòn đã bỏ kiểu pha vợt để chỉ bán cà phê phin, hay vẫn giữ cách pha cà phê vợt nhưng thay cái siêu đất sét bằng cái bình bằng nhôm, hay bỏ vợt, dùng cái phin nhôm loại lớn, có thể một lượt ra cà phê cho nhiều khách. Tuy nhiên, nhiều người sành uống cà phê cho rằng cà phê vợt cứ nên pha bằng siêu đất và càng hay khi đun nước sôi bằng cũi (kiểu quán Cheo Leo một thời), mùi vị cà phê mới ngon, theo nghĩa người uống sẽ cảm thấy có hương vị gì đó thô mộc, dân dã – quả là thật hợp với giao diện cà phê nhà nghèo.
Có một điều không hay ho lắm là do cà phê bình dân thì giá rẻ, khách uống khó đòi hỏi chất lượng phải thật ngon; đã vậy, ở một số quán quá nghèo hay chủ quán “trùm xò”, phần xác cà phê đã pha có thể bị chế nước sôi 1 – 2 lần nữa để chủ quán bán được thêm vài ly. Tất nhiên, đây là nước dảo cà phê chứ không phải cà phê nên rất kém hương vị. Hơn thế, vào cái thời đầy khó khăn sau biến cố 30 tháng 4 và cả ngày nay cũng còn, cà phê ngoài đường phố hễ giá rẻ thỉ nhất định bị pha bắp, cau… Thôi thì, dân ghiền cà phê mà nghèo, ít tiền thì nhiều lúc phải chịu thiệt thòi, chỉ được tiêu thụ hàng kém chất lượng, hàng dỏm…
Xưa nay, có lẽ không có thành phố nào ở Việt Nam có nhiều quán cà phê đủ loại, đủ hạng, đủ phong cách bằng Sài Gòn, trong đó nhiều nhất vẫn là cà phê bình dân. Tiêu biểu cho dạng cà phê nhà nghèo này (gồm cả pha vợt lẫn pha phin) được đánh giá là “uống được” hay “uống được lắm” vào ngày xưa là các quán Cheo Leo, Năm Dưỡng, Phong, quán ông Đặng Ngọc Côn cùng ở khu Bàn Cờ/ Phan Đình Phùng, quán “lá me” ở đường Nguyễn Du và quán anh Năm trong một ngỏ hẽm đường Gia Long cùng thuộc quận 1, một quán (quên tên) nằm trên đường Nguyễn Văn Thành cũ, gần chợ Bà Chiểu…
Và ngày nay, với giá trị của đồng bạc hiện hành, giao diện cà phê bình dân được hình dung ở mức giá 10,000 – 15,000 đồng /ly, gồm cả khi bạn uống trong quán cóc hay khi mua về từ những điểm bán coffee take away ngoài đường phố. Riêng về cà phê vợt, những người Sài Gòn lớn tuổi, nặng lòng hoài cổ với cà phê vợt chỉ còn có thể nhắc đến quán Cheo Leo cố cựu (ở quận 3), quán ông Thanh ở phía sau khu chợ Thiếc (quận 11) và một quán nào đó nghe nói ở trước chợ Phú Nhuận, nay đã đóng cửa.
Cũng từ xa xưa, đặc biệt gây ấn tượng cho dân nghèo-ghiền-cà-phê là những tiệm nước, tiệm hủ tíu bình dân của người Tàu. Ở những “cơ sở kinh doanh ăn uống” (từ thường dùng của ngành thuế, quản lý thị trường sau 30-4) ấy, nhiều khi trên bàn, dưới sàn nhà nhớp nháp, dơ bẩn đến phát khiếp, ngày xưa khi khách vừa cho biết uống gì thì lập tức các chú Ba thường lớn tiếng hô cho chỗ pha chế phía sau nghe những tiếng Quảng Đông nghe rất vui, như: xây chừng dách cô (nghĩa: đen nhỏ một ly), tài chừng (ly lớn), dịt phé (cà phê đen), nại phé (cà phê sữa), sủi phé (cà phê đá). Ngày nay thì rất hiếm khi được nghe những người phục vụ trong các tiệm, quán trong Chợ Lớn hò, hét tên món uống như thế mà họ chỉ hỏi khách rồi lặng lẽ ghi nhớ trong đầu hay biên vào giấy… Cách uống ly cà phê đen hay sữa nóng bốc khói cũng rất ngộ: để làm nguội ly cà phê cho dễ uống, từng lần một người ta rót cà phê ra cái đĩa lót tách cà phê, rồi thổi, rồi húp!
Đúng ra, bao đời nay đối với giới bình dân, lao động chân tay, công/tư chức lương thấp và cả đám sinh viên – học sinh, ở đâu cũng vậy, luôn luôn có những cái quán cà phê ngoài đường, trong hẽm hay mang những tên gọi giản dị, gọn lõn, dễ nhớ, chẳng hạn như: quán Chị Ba, quán Anh Sáu, quán Bà Tám, quán Chú Cón…, thậm chí tên nghe còn bâng quơ, sơ sài hơn nữa, như quán Cây Khế, quán Cây Ổi, quán Cột Đèn, quán Đường Rầy…
Từ xưa, người lao động có thói quen thức dậy rất sớm để ra đầu ngõ uống cà phê, gồm cả người già lẫn trung niên và thanh niên. Cả ngày đến đêm, họ sẵn sàng ra những địa điểm quen thuộc ấy– và thân thương nữa khi chủ quán cho… ghi sổ – khi cần uống cà phê hay khi rủ rê, hú nhau đi uống nước, xả hơi, bởi cà phê các loại ở những quán xập xệ này như hiện nay chỉ quanh quẩn 10,000 – 15,000 đồng/ly.
Một điều nữa, được mọi người uống nhiều nhất phải nói là cà phê đá. Trong giới ghiền cà phê nói chung, không phân biệt giàu nghèo, thường xuyên uống cà phê bất kể ban ngày hay ban đêm, có thể có đến 80 – 85% thích uống cà phê đá, tức cà phê lạnh, cũng bất chấp trời nắng trời mưa, thời tiết nóng hay lạnh.
Theo nhiều người, căn nguyên làm nên xu hướng “uống đồ lạnh” quá phổ biến này cũng khá đơn giản, dễ hiểu. Một là, ở xứ nóng như Việt Nam, người dân uống cái chi lạnh, có nước đá thì cũng đã hơn uống nóng. Hai là, ngoài số nam giới khoái cà phê đá, ngày càng có thêm nhiều phụ nữ thích uống cà phê mà hầu hết quý bà, quý cô ấy đều chọn cà phê đá, nhất là từ khi dạng fast food tiện lợi, cà phê pha máy xuất hiện tại VN. Ba là, trên thị trường – nhất là ở các điểm bán cà phê – giải khát vỉa hè, dã chiến ngoài đường phố, hỏi cà phê đá là có ngay, còn hỏi cà phê nóng thì hay bị lắc đầu, bởi người bán thường chỉ chuẩn bị, trữ hàng cho món cà phê đá, vừa gọn, nhẹ vừa dễ bán bởi luôn có đông khách uống.
Cũng nên xếp vào giao diện cà phê bình dân dạng cà phê đang rất phổ biến ở Việt Nam: cà phê đem về (take away). Các quán, quầy, xe đẩy, tủ gỗ, thậm chí yên sau xe Honda nhan nhản ngoài đường phố, đều chỉ bán từ 10,000 đến 15,000 đồng một ly cà phê đen hay sữa tùy khách gọi.
Cùng thuộc giao diện cà phê bình dân là một loại cà phê không cần mặt bằng mở quán, cũng chẳng cần bàn ghế nhưng giới trẻ Sài Gòn rất ưa chuộng, đó là cà phê bệt. Đầu tiên là khoảng năm 2000, đám sinh viên trường ĐH Kiến Trúc và ĐH Kinh Tế TP thường lủ khủ ngồi bệt trên vỉa hè các con đường Nguyễn Đình Chiểu, Võ Văn Tần (quận 3) với những ly cà phê nhựa để luôn trên nền xi măng, giá chỉ 8000 – 10,000 đồng. Sau đó, lai rai ẩn hiện cho đến ngày nay, dân cà phê bệt – hầu hết là giới trẻ – chiếm cứ Công viên Thống Nhất và khu vực xung quanh Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn sát bên, đông nhất là vào các ngày chủ nhật, ngày lễ…

Tình yêu tinh khôi, hồn hậu đã khiến cái ly nhựa đựng cà phê bình dân, giá bèo kia bỗng ngon lên gấp bội, bỗng ngào ngạt hương vị không kém gì cái tách sứ kiêu kỳ chứa loại cà phê thượng hảo hạng…

2. Cà Phê Hạng Trung Trung Và Hạng Sang Trọng
Về cà phê hạng trung trung, có thể hình dung đó là những quán giá cả trung bình, vừa phải, phần trang trí cũng giản dị. Trong quán có thể có mở nhạc hay… im lìm, bởi tâm lý thành phần khách đến các quán này là để uống cà phê, còn ngồi máy lạnh cho mát, nghe nhạc, ngắm tranh, ngắm cô ngồi caisse… đều không thành vấn đề hay chỉ là chuyện phụ. Như ở Saigon trước năm Mậu Thân, 1968 thế kỷ trước, quán café chưa nhiều, đã có các quán: Thu Hương ở đường Hai Bà Trưng và Chi ở đường Nguyễn Phi Khanh cùng vùng Đa Kao – Tân Định, Hồng ở đường Pasteur (quận 1), Thăng Long ở đường Nghĩa Phát (quận Tân Bình)… Đặc biệt có vài quán khá nổi tiếng do có tổ chức những sinh hoạt văn hóa – văn nghệ thường là có theo chủ đề, như ca nhạc, đọc thơ, giới thiệu sách…, nên thành phần trí thức, nhà văn, nhà báo hay tụ tập, đó là Gió Nam ở khu Bắc Hải (gần Ngã 3 Ông Tạ), Thằng Bờm ở đường Đề Thám (quận 1); Tre của nhóm Vũ Thành An/Hoàng Ngọc Tuấn ở đường Lê Thánh Tôn – nơi Khánh Ly từ Đà Lạt xuống, cùng Trịnh Công Sơn hát lần đầu tiên ở Sài Gòn (khoảng năm 1965-66 thế kỷ trước) và (hội quán) Cây Tre của Khánh Ly mở ở đường Đinh Tiên Hoàng, cùng thuộc quận 1 Sài Gòn cũ (*).
Đến sau năm Mậu Thân 1968, các quán chuyên kinh doanh cà phê mới bắt đầu rầm rộ, nối tiếp nhau ra đời ở Sài Gòn. Đáng chú ý là phần nhạc mở trong quán, có quán chuyên chơi nhạc Mỹ – Pháp, như cà phê Văn Hoa ở Đakao, quán của Jo Marcel ở đường Nguyễn Huệ cùng ở quận 1; có quán chỉ độc nhất nhạc Trịnh Công Sơn – Khánh Ly rỉ rả cả ngày như quán Bình Minh trên đường Bàn Cờ; hay ở các quán Hân, Duyên Anh ở Đakao, quán Bố Già ở đường Nguyễn Thiện Thuật (quận 3) thì nhạc mở đa dạng, từ hòa tấu, giao hưởng, pop rock Mỹ cho đến nhạc tiền chiến, Ca khúc Da Vàng TCS (*).

Còn nói về nhóm cà phê sang trọng thì cũng dễ hình dung. Thời trước năm 75 thế kỷ XX, ai dù không khá giả, tiền bạc ít ỏi cũng đều có thể vài dịp bước vào các quán cà phê sang trọng hay vào uống cà phê trong các nhà hàng, đại sảnh khách sạn, phòng trà tập trung ở khu vực quận 1 Sài Gòn, như: Continental, Caravelle, Brodard, La Pagode, Queenbee, Maxim’s, Cafetaria Disco …
Sau biến cố 30- 4, khoảng từ thập niên 90 thế kỷ trước cho đến ngày nay, ở Sài Gòn lần hồi đã xuất hiện nhiều quán cà phê nhà giàu đúng nghĩa. Những quán cà phê loại này luôn luôn được đầu tư nặng vốn, như mặt bằng phải là các biệt thự có khuôn viên đẹp, nội thất đẹp, gắn máy lạnh, phần trang trí kỳ mỹ – trong đó có dạng cà phê sân vườn, cà phê sinh thái, thiết kế không gian xanh mát, như kiểu hoa viên hay cảnh đồng nội thu nhỏ, hồ nước có cầu bắt qua, hòn giả sơn, suối Thiên Thai, vườn Địa Đàng.v.v… Ở Tp. HCM, những quán cà phê sang trọng kiểu trên xuất hiện khá sớm, có thể kể là: Café Runam D’or, Terrace Café, Miyama, Đen Đá, 81 Café (Quận 1), Suối Đá, Siena (quận 3), Du Miên, NetViet (Phú Nhuận), Oasis, Country House (Gò Vấp)… với giá cà phê phin chung chung 45,000 – 50,000đồng/ly, cà phê đen đá/sữa đá uống liền 35,000 – 40,000 đồng/ly.
Chừng trên dưới 10 năm gần đây, ở những “khu đất vàng” tức địa điểm rất đắt giá bởi sang trọng, sầm uất nhất thành phố này, đến lượt các chuỗi cà phê nước ngoài (các thương hiệu quốc tế nổi danh) và trong nước lần lượt xuất hiện, như: HighLand, Starbucks, Urban Station, Coffe Bean&Tea Leaf, Gloria Jean, Mop, MCCafé, Trung Nguyên, Phúc Long Coffee&Tea House, Holy, Lux Đại Phát,v.v…
Tất nhiên, từ những ngày đầu cho đến ngày nay, nhiều dân ghiền cà phê mà tiền bạc có hạn vẫn cảm thấy không an tâm cho lắm khi có dịp bước vào những cửa hàng thuộc các chuỗi thương hiệu cà phê cao cấp nói trên. Nào ghế êm, trang trí đẹp, nào không gian thoáng mát, thành phần khách hàng xung quanh thanh lịch đấy nhưng giá cả các loại cà phê pha máy, từ expresso, cappuchino cho đến late, blach double…, thì khó chấp nhận bởi cao đến gấp 4 – 5 lần so với cà phê cũng “uống được”, có khi còn ngon hơn ở quán chú Năm hay quán chị Ba thân quen trong xóm!

Sâu xa hơn, giữa các giao diện cà phê bình dân, trung trung hay sang trọng lại không có ranh giới cứng nhắc để phân biệt thật rạch ròi vì ai cũng biết chân giá trị của giàu nghèo nằm cả bên phía tinh thẩn, tâm hồn chứ không riêng phía vật chất, kinh tế.
Như một đôi tình nhân học trò, gặp một cơn mưa lớn giữa buổi hẹn hò, chỉ đủ tiền mời nhau cốc cà phê bình dân ở một quán vỉa hè là nơi hai đứa trú mưa… Nghèo quá rồi còn gì, nhưng thật ra đôi lứa này đang rất giàu có về mặt tâm hồn, bởi tình yêu tinh khôi, hồn hậu đã khiến cái ly nhựa đựng cà phê bình dân, giá bèo kia bỗng ngon lên gấp bội, bỗng ngào ngạt hương vị không kém gì cái tách sứ kiêu kỳ chứa loại cà phê thượng hảo hạng giành riêng cho giới doanh nhân, đại phú gia chiêu đãi nhau.
Còn ai kia, một cô tiểu thư hay cậu thiếu gia con nhà đại phú nào đó, lâu nay vẫn quen lui tới toàn những nhà hàng sang trọng, cỡ Continental, Brodard… nằm giữa trung tâm Sài Gòn hoa lệ, giờ thì cũng ở cái góc bàn có view nhìn ra phố ngoạn mục nhất ấy, phải ngồi một mình với tách cà phê đã nguội lạnh để gậm nhấm nỗi đau của cuộc tình vừa đổ vỡ, thì quả là cô tiểu thư, cậu thiếu gia con nhà đại phú này đang quá nghèo hạnh phúc, quá nghèo niềm vui…
(*) Có một số data từ 2 nguồn: Kênh 14 và Coffeetree.vn.

PHAM NGA
(Cuối mùa mưa 2018)

Giấu đêm vào tóc

Người đàn bà mang nỗi sầu năm tháng
Giấu vào đêm từng sợi tóc bạc dần
Nghe tiếc nuối từng chiều trôi lãng đãng
Hiu hắt sầu chạm nỗi nhớ mênh mông …

Thao thiết nhớ thuở mây tràn trên tóc
Hương tình yêu đêm hạnh phúc đợi chờ
Hằn dấu môi khung ngực trần ngà ngọc
Sợi tóc nào ngơ ngẩn giữa cơn mơ

Tình đến vội trong mưa nhòa buổi ấy
Rồi bỏ đi cùng nỗi nhớ bên trời
Nghe thầm lặng cơn mê chiều hoang hoải
Từng đêm nằm đau sợi tóc nào rơi

Giấu nỗi nhớ vào đêm tràn chân tóc
Hong khô tình mờ sương khói chơi vơi
Đêm thiếu phụ cô đơn buồn bật khóc
Một vì sao
chập choạng
tắt ngang trời…

Nguyễn Minh Phúc

BUỔI TÓC LẠNH RỪNG PHAI

“Ta có đời độc hành vào bóng tối
Buổi đi về nghe sông núi quặn đau” thơ Hạ Quốc Huy

1.
Người phiêu bạt bật hồng soi tha thiết
Xé thời gian vào lật sách cổ thư
Em, trang nào bơ vơ trong cổ tích
Tìm em. Ta ngậm ngải đứng trầm tư

2.
Trong yên ắng có tiếng cười thỏ thẻ
Trốn vào trong một chum rượu bỏ hoang
Của trăm năm ủ âm dương đại ngàn
Của tri kỷ hồng nhan chờ hảo hán?

3.
Chàng lãng tử mang gươm làm tráng sĩ.
Tim yếu mềm lãng mạn, hóa ngu ngơ
Tưởng ôm em từng phút đến thẫn thờ
Thương đứt ruột màu bồ quân hoa gió

4.
Đã mấy lần sũng ướt một hồn đau
Ở chỗ đó lá vàng nghe ta kể
Tiếng thở dài thanh âm như rớm lệ
Em u hoài sóng biển ngóng xa khơi

5.
Ta có đời độc hành vào bóng tối
Buổi đi về nghe sông núi quặn đau
Núi thương ta và lòng ta thương núi
Rừng có cây. Con dã thú nhớ rừng
Em đừng khóc. Đừng liều thương lãng tử
Để mình ta ngồi đếm giọt rưng rưng.

6.
Rượu em ủ từ kiếp xưa để lại
Hâm nóng chờ tóc lạnh buổi rừng phai.

HẠ QUỐC HUY