Ra đi

          

Ra đi để lại bụi hồng
Để sương để gió cuối đường xa xăm. 
Ra đi bước quá âm thầm,
Bàn tay chới với không còn vẫy nhau,
Ra đi chân vội qua cầu, 
Mắt thuyền đắm đuối dòng sâu tìm về. 
Ra đi vĩnh biệt niềm đau,
Thiên thu ngơ ngác tìm đâu thấy người. 
Hương trầm thoang thoảng quanh đây,
Nụ cười năm cũ ngậm ngùi trong ta. 
Thôi thì người đã đi xa!
Nhạt nhòa như bóng chiều sa cuối ngày. 
Ra đi yên lặng thinh không, 
Nhạc rơi mấy nhịp âm thầm tiễn đưa.
Chim trời gãy cánh năm xưa, 
Giấc mơ hồ điệp bây giờ ta bay.

Tôn Nữ Thu Nga
(Tưởng niệm Huỳnh Văn Phố - người bạn đã lặng lẽ bỏ tôi đi-
 tháng 2, mồng 7, 2020).

Bài Thơ Không Chú Thích


Sáng dậy.  Ra sân.  Châm điếu thuốc.
Nhớ nhà?  Không phải nhớ nhà đâu!
Vườn, nhà…tan nát thời tao loạn
Vẫn nhớ…nhiều khi nhớ Trại Tù!

Không ai hành hạ mình đau đớn
Chỉ muốn mình ngày-tiến-bộ-hơn
Hai bữa cơm ăn dù rất ít
Bởi đời…rồi cũng khói và sương!

Mạnh Thường Quân đã không còn bạn!
Và Thạch Sùng không có bạn bè!
Nhà Nguyễn Bỉnh Khiêm là chái lá
Người khôn, mình dại…chẳng khen, chê!

Sáng dậy ra sân châm điếu thuốc
Phan Bội Châu ơi, ông nói gì?
Ông đã viết gì Trên-Biển-Máu?
Thanh Tâm Tuyền viết gì về Hungarie?

Ta chỉ viết chơi…Thơ mấy đoạn
Cầm chơi mà tưởng Khúc Tân Thanh
Lát tàn lửa rụi…Thơ thành bụi
Ta ngó trời xanh…mây rất xanh!

Trần Vấn Lệ

GẶP BẠN QUÊ XƯA NƠI ĐẤT KHÁCH

Tặng Nguyễn Sông Trẹm 


Gặp nhau đất khách quê người 
Nhớ ơi cố quận chân trời đã xa!
Bốn muơi năm mộng phôi pha
Tóc xanh phiêu bạt phong ba dập vùi 
Tháng Tư đen! Hận không nguôi 
Bước chân lịch sử chôn vùi giấc mơ! 
Bạn ơi! Kỷ niệm ngày xưa
Giòng sông quê mẹ lặng lờ trôi xuôi!
Gặp nhau, chén rượu ngậm ngùi
Cố tri ơi! Cụng! Buồn vui kiếp người!
Mai xa ngày vắng đêm khơi
Trần gian viễn mộng chân trời ta đi!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Còn Chút Nắng Chưa Phai

Bàn Tay Đen

Tháng tư lau trắng dựng cờ
Gió ơi đừng phất mịt mờ buồn xưa
Nắng vàng kéo sợi mưa thưa
Tay che mặt mốc, tay đưa em về

Tháng tư giọt nước thèm đi
Đất không bằng mặt đá ghì eo xanh
Mộng va thực quá tam bành
Ai còn phơ phất dỗ dành đời trôi

Tháng tư lau cháy ngút trời
Phù dung che lấp mặt người phù du
Thôi về xé nửa lời ru
Bàn tay đen, đố cầm tù được thơ…

Còn Chút Nắng Chưa Phai

Còn chút nắng trên nóc đời mê muội
Hồn phân lô chờ cơ hội bán nền
Tim ra vẻ điệu đàng chờ sám hối
Từng nhịp trầm tô đậm lại miền quên

Ngẩn ngơ vén khoảng trời vô tích sự
Một thời trai dăm giấc mộng ươn hèn
Thân tắc kè hết vàng đến đỏ
Chợt bàng hoàng mai mốt toàn đen

Gom cờ xí cắm lên miền hoang tưởng
Tiếng binh reo một trận ảo thiên đường
Té sấp mặt hóa bù nhìn giữ ruộng
Đất bạc màu xơ xác tròn vuông

Những cô gái nõn nà mươi năm trước
Mươi năm nay càng nặng trĩu tay bồng
Chàng trai trẻ thập thò cửa lớp
Ngày đẹp trời bạc tóc thành đàn…ông

Mà chí lớn chưa về tay đâu đó
Mà sông hồ vẫn chìm nổi lao xao
Ta chạy trốn khỏi bọn người đắc chí
Đang tưng bừng rao bán chiêm bao!

Lưu Xông Pha

thơ LÊ VĂN TRUNG

ĐÔI KHI TÔI THẤY MÌNH NHƯ MỘT DÒNG SÔNG ĐÊM

 

Đôi khi tôi thấy mình như một dòng sông đêm
Trôi lấp lánh những vì sao của nghìn phương diệu vợi
Trôi giữa đôi bờ yêu thương mà lòng cứ nôn nao,

cứ rộn ràng như đâu đây lòng em trên bến đợi

Tôi vừa trôi vừa vỗ nhẹ cơn mơ mình
Tôi vỗ vào bờ em nghe từng nỗi nhớ quên
Đêm thao thức, đêm trở mình nhè nhẹ

Những vì sao cứ rầm rì chuyện kể

Gió xôn xao làm ngàn tiếng sóng loang xa
Gió diệu hiền thầm thỉ những lời ca
Tôi vỡ sóng lăn tăn như mùa thu rối bời trên tóc
Tôi vỡ sóng lăn tăn như hạnh phúc ai ngà ngọc

Trôi vào đêm mầu nhiệm giấc mơ huyền

Tôi vỡ hồn tôi như điệu vũ Nghê thường huyền thoại thần tiên

Tôi trôi với Tôi chảy cùng Tôi tan vào Mê đắm
Tôi có phải là dòng sông chảy qua đời em vô tận
Chảy trong chiêm bao

Trong huyền mộng

Mênh mang.

 

 

ĐƯỜNG CÓ NHIỀU HOA XUYẾN CHI

Trên những con đường có nhiều hoa xuyến chi
Tôi bắt gặp mùa thu phơi sương trắng
Những sớm mai lòng tôi chưa kịp nắng
Và tình em chưa kịp trải lụa vàng

Những đóa hoa xuyến chi rạo rực nở và náo nức tỏa hương
Hương của đất nghìn năm còn ủ mật
Hương của em thiên thu còn cháy khát
Ái ân người rằm suốt một mùa trăng

Tôi bước đi trên những con đường có nhiều hoa xuyến chi
Hoa dung dị như môi tình mới nở
Hoa hồn nhiên như áo tình bay trong gió
Để lụa là chảy mượt mấy dòng thơ

Hoa nở trắng
Như người về trắng giấc sương mơ
Ôi nhẹ quá, lòng tôi như cánh bướm
Ôi nhẹ quá, đôi cánh tình rất mỏng
Tôi bay cùng hoa trắng một mùa sương.

 

NỤ ĐỜI THƠM NGÁT MỘT CÂU THƠ

Tôi trải hồn tôi lên cỏ mượt
Nằm nghe chim hót tận rừng xa
Em nở búp sen từng nhịp bước
Hương chìm trong áo ủ trong hoa

 

Cơn gió tình si cũng ướp nồng
Màu thơm của tóc chảy như sương
Màu của thiên thu hồ thủy bích
Màu của trăng phai bóng nguyệt hồng

 

Tôi trải hồn thơ lên nỗi nhớ
Mà nghe nhạc rót mật bên trời
Trăm đóa hoa mây vờn như bướm
Em về hò hẹn cuộc tình vui

 

Con dế đa tình khan cả giọng
Ru mãi lời ru nồng ái ân
Xin rước em về đêm huyễn mộng
Sương ngàn gió núi cũng dâng hương

 

Con chim cổ tích về xây tổ
Đan chiếc nôi tình trong giấc mơ
Huyền diệu lòng em hoa chợt nở
Nụ đời thơm ngát một câu thơ.

 

 

VƯỜN XƯA

Mai người về lại vườn xưa
Nhặt câu thơ cũ cũng vừa rêu xanh
Gói câu thơ lại tội tình
Chôn vào vô tận mông mênh đất trời
Câu thơ còn ấm lệ người
Hồn thơ siêu thoát chưa nguôi nỗi tình

Rồi đành quên ! Có đành quên ?
Lối xưa vườn cũ vàng hanh nắng chiều
Thơ tàn tro khói vàng thiu
Ngàn năm bay mãi vào hiu quạnh này

Ai chôn dưới cội mai gầy
Hoa vàng mấy độ vàng phai rụng vàng.

 

TA GỬI GÌ VÀO GIỌT RƯỢU CHIỀU NAY

 

Ta ném vội nỗi buồn vào quên lãng
Những đợi chờ, hy vọng sẽ tàn vơi
Và ta sẽ như một loài cây cỏ
Cứ nở hoa khoe sắc hiến dâng đời

Lòng ta sẽ vì thơ mà thắm lại
Yêu nhân gian, yêu cả những phụ phàng
Ta yêu cả những tình đi không trở lại
Yêu em như yêu Chúa, bỏ thiên đàng

Ta sẽ ném nỗi buồn không tưởng tiếc
Giọt rượu này trôi suốt cõi vô biên
Ta yêu cả những sinh tồn hủy diệt
Ta yêu em yêu giấc mộng không thành

Chiều nay ta uống mà không thể
Gửi đến lòng ta ly rượu cay
Đã ném đời ta vào dâu bể
Mà nghe tình em như mây bay.

 

THƠ TÔI LÀ GIỌT LỆ NGƯỜI TRĂM NĂM

 

Tôi đang khát cháy cả lòng
Uống nghìn chung mà nỗi buồn chưa vơi

Đi qua mấy dặm luân hồi
Thơ tôi là giọt lệ người trăm năm
Đi qua mấy cuộc thăng trầm
Thơ tôi là hạt sương tan giữa chiều
Đi, về trong cõi quạnh hiu
Thơ tôi là tiếng chim kêu cuối ngàn
Qua em là những dỡ dang
Thơ buồn đọng lại điêu tàn thu xưa

Tôi đang khát, cháy niềm đau
Rượu người chảy một dòng sầu vô biên
Xin đời giây phút bình yên
Cho tôi neo đậu bóng thuyền đời tôi

Xin cho tàn cuộc luân hồi
Thơ tôi là giọt lệ người trăm năm.

 

NỖI BUỒN BỎ QUÊN

Như những chuyến tàu mùa đông
Người bỏ quên một nỗi buồn trong tôi
Bỏ quên từ những tàn phai
Từ câu thơ úa trên tay lá vàng
Bỏ quên từ những dỡ dang
Từ hoang vắng nhuộm tím hoàng hôn tôi
Bỏ sợi mưa ướt vai người
Hai bờ tóc rối chảy hoài trong mơ
Bỏ quên câu đợi câu chờ
Lòng xưa rêu biếc vườn xưa ai về

Hình như những chuyến tàu khuya
Réo vào vô vọng tiếng còi mùa đông
Người bỏ quên một nỗi buồn
Trong tôi là những mênh mông cõi người.

 

LÊ VĂN TRUNG

 

 

NGÀY 30 THÁNG 4: NHỮNG NHÂN CÁCH LỚN CỦA QUÂN-CÁN-CHÍNH VNCH

Lý Bích Thủy

                    Nhân cách của các Tướng – Tá Quân Lực Việt nam Cộng Hòa

Một chế độ có nền giáo dục tốt sẽ sản sinh những hiền tài cho quốc gia đó. Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tuy tồn tại trên bản đồ thế giới chỉ có 20 năm, nhưng đã để lại một di sản rất lớn về nhân cách của những người phục vụ cho nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Họ là những người đã hấp thụ được một nền giáo dục tốt từ các ngôi trường đào tạo có tầm vóc nhất trong khu vực. Và nền giáo dục được định hướng Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng. Triết lý nhân bản của nền giáo dục VNCH là đặt con người vào vị trí trung tâm để định vị cho hướng đào tạo, nên đã cung cấp hàng hàng lớp lớp những con người tinh anh để phục vụ trong quân đội cũng như các cơ sở công quyền thuộc 49 tỉnh với 247 quận.

Triết lý Nhân Bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giá con người vì con người tự nó là một cứu cánh chớ không phải là một phương tiện, và Giáo Dục Nhân Bản (GDNB) không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giầu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, con người có giá trị của con người như nhau, và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục. Từ triết lý nhân bản đó, người lính VNCH đã biết đặt chữ Nhân trên nòng súng, đánh giặc là: “Đem Đại Nghĩa Thắng Hung Tàn / Lấy Trí Nhân Thay Cường Bạo” (Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi) đúng theo lời dặn của Tiền Nhân.

Đây chính là sự khác biệt của người lính miền Nam và miền Bắc. Người lính miền Nam dùng vũ khí để tự vệ, để khử bạo, khác với người lính miền Bắc lấy chủ nghĩa đặt lên nòng súng dùng bạo lực chuyên chính vô sản để trấn áp giai cấp tư sản, tiến hành xây dựng một xã hội không giai cấp (lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lenin).

VNCH một nước nhỏ chỉ từ vĩ tuyến 17 cho tới mũi Cà Mâu với diện tích 173.809 km², chỉ bằng 1/2 CHXHCNVN, với dân số 19,58 triệu người, một nước nhỏ bé không có “đỉnh cao trí tuệ” như CHXHCNVN, không nhiều tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư… Sài thành cũng không nhiều những nhân sĩ trí thức như Hà Thành… không có “bác hồ vĩ đại”, không có “đảng Cộng Sản quang vinh”….. không có những con người khát máu làm tay sai cho Nga Tàu, đem súng đạn về để phá hoại miền Nam VN và tàn sát đồng bào của mình, không có chủ thuyết Marx-Lenin để gối đầu, không bán nước cho ngoại bang như những thế hệ lãnh đạo của VNDCCH và CHXHCNVN… Nhưng trong cái nhỏ bé khiêm tốn đó của VNCH, có rất nhiều hiền tài cho miền Nam trong việc xây dựng một đất nước Tự Do – Dân Chủ với lợi tức đầu người hơn gấp 3 lần VNDCCH . Theo thống kê, vào thời điểm 1960, trong số 10 quốc gia Á Châu, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH, South Vietnam, $223) có GDP đầu người đứng sau Tân Gia Ba ($395), Mã Lai Á ($299), Phi Luật Tân ($257), nhưng nhiều hơn Nam Hàn ($155), hơn gấp đôi Thái Lan ($101), gấp 2.4 lần Trung Quốc ($92), gấp 2.7 lần Ấn Độ ($84), và gấp 3 lần Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (North Vietnam, $73).…

Trong thời gian từ 1954 đến 1975, năm 1960 là năm VNCH có nền kinh tế huy hoàng nhất (thời của Tổng Thống Ngô Đình Diệm)

Tổng sản lượng quốc gia VNCH năm 1960 là 82 tỷ đồng VN, trong số này gồm có 4.481 tỷ đồng (5.5%) là tiền viện trợ Mỹ. Sau khi chiến tranh, mặc dù nền kinh tế VNCH bị người Cộng Sản phá hoại triệt để cho tới ngày 30.4.1975, hiền tài của miền Nam khi di tản ra ngoại quốc, đi đâu cũng được thế giới tiếp nhận và tài sản sau cùng trong ngân khố quốc gia VNCH vẫn còn tồn trữ được trên 16 tấn vàng và nhiều hiện kim trị giá hàng chục triệu US đô la để đảng cướp Ba Đình vào khiêng về Bắc, cướp vàng của VNCH xong lại xuyên tạc là Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đem ra ngoại quốc, mức độ thô bỉ của đảng CSVN đến thế đó!

Tháng Tư Đen lại sắp trở về, hậu duệ VNCH không quên những nhân cách lớn đáng được vinh danh để những người trẻ lớn lên sau ngày 30.4.1975 biết và có cái nhìn, những phê phán đúng đắn hơn về một chế độ mà tà quyền Cộng Sản từng bóp méo, tuyên truyền dối trá đổi trắng thay đen trong nhiều thập niên qua. Những nhân vật, mà chúng tôi hậu duệ VNCH vinh danh ra đây chỉ là một số rất nhỏ trong kho tàng “Nhân Cách Lớn” của VNCH.

Bài Thơ Tháng Tư

Xướng:

Xót cảnh lưu vong mắt lệ tuôn
Hận người gây lắm nỗi tang thương
Trùng trùng tâm sự sầu xa xứ
Lớp lớp trầm tư tưởng cố hương
Xây tổ cành Nam chim Việt nhớ
Đón hơi gió Bắc ngựa Hồ buồn
Tóc xanh giờ đã thay màu bạc
Mãi vẫn vương mang kiếp đoạn trường
 

(Chú Bảy Tử Trận)

Họa:

Tháng Tư muôn thuở hận còn tuôn
Thế cuộc ai bày nặng tiếc thương
Quốc phá nổi trôi người biệt xứ
Gia vong phiêu bạt kẻ ly hương
Dõi Mây Tần Lĩnh liêu xiêu nhớ
Nhìn Nhạn Môn Quan khắc khoải buồn
Tự buổi lưu vong giờ tóc bạc
Hồn quê canh cánh mỗi đêm trường

(Trần Thiên Lang)

Những người đầu tiên mà chúng tôi muốn nói đến là những vị Tướng đã tuẫn tiết ngay sau khi miền nam VN thất thủ:

* Thiếu Tướng Phạm Văn Phú tự tử tại nhà vào ngày 30.04.75.

* Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn VI (1927-1975). Vào lúc 11 giờ 30, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giã các binh sĩ đã tự kết liễu đời mình.

* Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn VI (19??-1975). Tướng Hưng đã được vinh danh “Anh Hùng An Lộc” trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc Bình Long. Tướng Hưng đã tự sát vào tối ngày 30.04.75 tại văn phòng riêng ở Bộ Chỉ Huy phụ của Quân Đoàn VI (đồng thời là nơi gia đình Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ Bộ Chỉ Huy. Sau đó, ông đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối.

* Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (1933-1975) Sau khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đã tự sát bằng súng lục vào lúc 11 Giờ, ngày 30.04.75 tại Tổng Hành Dinh ở Lai Khê.

* Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (1925-1975). Vào đêm ngày ngày 30.04.75, Chuẩn Tướng Hai đã tự sát tại Trung Tâm Ðồng Tâm.

* Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975). Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Ðại Tá Cẩn đã bị quân Cộng Sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ. Lời cuối của ông nói trước khi bị hành quyết: “Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt”.  Cộng Sản Việt Nam hèn hạ dùng nhục hình để xử tử hình Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ngày 14/8/1975.

* Ðại Tá Ðặng Sĩ Vinh. Vào lúc 2 giờ ngày 30.04.75, hai tiếng đồng hồ sau khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, Ðại Tá Vinh, cùng gia đình gồm vợ và bảy người con đã tự sát bằng súng lục.

* Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long. Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long tuẫn tiết sáng 30-4-75 dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến.

Cuộc chiến ngưng tiếng súng, toàn bộ QL.VNCH tan hàng, người thì tuẫn tiết để chết theo vận nước, người thì phải vượt biên lánh nạn cộng sản, còn lại những người bị kẹt không di tản được bị CS trả thù một cách hèn hạ bằng cách đưa vào trại tập trung trá hình gọi là ”Trại Cải Tạo”. Trong số những người chấp nhận ở lại chết trên quê hương có Tổng Thống Trần Văn Hương, ông đã từ chối mọi lời mời của Pháp và Mỹ để di tản ra ngoại quốc, ông đã chọn quê hương là điểm đến sau cùng của đời một lãnh đạo VNCH, một lòng vì nước vì dân VNCH. Ông Hương là nhà lãnh đạo cao cấp nhất vào những ngày sau cùng của miền Nam VN. Tuy không bị đưa vào trại cải tạo, nhưng ông lui về sống trong căn nhà 216 đường Phan Thanh Giản, tại đây ông sống với vợ chồng người em gái út cho đến lúc qua đời vào ngày 27 tháng 1, 1982 (nhằm ngày Mồng Ba Tết), hưởng thọ 80 tuổi, hài cốt được hỏa thiêu. Ông đã không chấp nhận việc Cộng Sản trả quyền công dân cho ông và ông giữ nguyên quốc tịch VNCH cho đến khi nhắm mắt. Ông nói với người Cộng Sản như sau: “Chừng nào những người tập trung ‘cải tạo’ được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi!”. Tiết tháo của cụ Trần Văn Hương đã cao ngất ngưởng là tấm gương sáng cho các hậu duệ VNCH noi theo.

Thức Tỉnh
Tháng Tư năm đó đã qua
Nỗi đau uất hận, và là mất quê
Tháng Tư đi… mãi không về
Bao người nằm xuống… ”lời thề nước non”
Kính dâng tâm nguyện nước Trời
Đón đưa hết thảy Hồn Người Lính, Dân

Yên lòng ngơi nghỉ…. Thiên thần
Phù trợ hồn Việt chinh thân vững bền….

Tháng Tư sử sách làm nền
Sẽ noi gương sáng Tiền Nhân hậu đời
Tháng Tư nay phải tiếp lời
Tiền Nhân giữ nước “hậu đời” giữ Quê
Thức tỉnh, chớ có u mê
Quê ta, ta giữ chẳng nề gian lao
Xiết chặt tay giữ chiến bào
Một lòng vì Nước lẽ nào không nên….

Tháng Tư thắp nén nhang lòng
Quân Dân Cán Chính ngủ say ngàn đời.

(T/g Nguyễn Văn Được)

Chúng tôi, những người trẻ trong mùa tưởng nhớ về vận đen của đất nước VNCH sắp đến (30.4.1975 -30/4/2018) xin thành kính dâng lên hương hồn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương và quân, cán, chính VNCH các cấp đã nằm xuống trong việc bảo vệ miền Nam trước sự phá hoại của Cộng Sản Bắc Việt. Những nén hương lòng của chúng tôi để kính nhớ và vinh danh công trạng của tất cả những người đã tuẫn quốc vì sự tự do của miền Nam trước 30/4/1975.

Lý Bích Thủy

BÀI CHO THÁNG TƯ

BÀI CHO THÁNG TƯ

Tháng tư vọng mãi mùa hoa
Cõi riêng vọng tiếng người xa vỡ hồn
Em như vời vợi ngọn nguồn
Thời gian vẽ bóng nỗi buồn tháng năm

Tháng tư em cõi xa xăm
Trong ngần mắt biếc đã rằm trăng xưa
Tình ơi đong những thiếu thừa
Đêm lòng như gõ nhịp đưa người về

Tháng tư em vịn cơn mê
Hoa bay trong nắng đề huề lòng nhau
Từ ly một bước đời đau
Yêu thương từ độ nhạt màu áo xưa.

CHƯA PHAI LÒNG HUẾ

( tặng những người bạn Huế)

O nớ lang thang Thành Nội
Gió về ăm ắp mùi hương
Nghiêng vai về qua nguồn cội
Tóc chiều bỗng chợt thương thương

Vọng ngân câu hò mái đẩy
Mười thương tóc Huế ngang vai
Thuyền trôi dòng Hương lơ lửng
Em qua bên nớ lòng phai

Ta về trong lòng như mới
Ấm tình quê khúc ca dao
Thì thầm giao duyên mở lối
Hương đêm mắt biếc dạt dào

Mưa bay phố buồn vời vợi
Xa chừng mấy dặm sơn khê
Áo xưa những ngày rất Huế
Ta về níu lại cơn mê.

HOÀNG CHẨM


BÓNG ĐÊM

https://www.apu.edu/feature_images/dct/15657dl_header_image.jpg

Cơn đại dịch quét ngang bầu trời gây tai ương cho nhân loại, từ vật chất đến tinh thần. Để tránh lây lan, chính phủ các nước kêu gọi dân chúng tự giác tự cô lập ngay tại nhà. Hiện nay, một nửa dân số trên thế giới đã tự cách ly tại nhà. Nếu ra đường cần cách giãn. Bác sĩ, y tá, và các nhân viên y tế túc trực ngày đêm tại bệnh viện để cứu các nạn nhân. Con số nạn nhân bị nhiễm đã hơn một triệu, tỷ lệ tử vong là 5.5%. Các nhà khoa học bi quan tiên đoán rằng nếu không tự cô lập, nếu không có thuốc ngừa hoặc thuốc chữa, tỷ lệ lây nhiễm có thể lên đến 60% dân số thế giới; nghĩa là khoảng 4,5 tỷ người.

Bóng đêm đang bao trùm lấy nhân loại. Tuy thế, con người vùng vẫy nhưng luôn nuôi giữ niềm hy vọng.

Hai nghìn năm trước, một người đàn ông cũng vùng vẫy nhưng không hề tuyệt vọng.

Ngay cả lúc quỳ bên tảng đá trong vườn Giếtsimani để cầu nguyện, người đàn ông hầu như chìm trong nỗi tuyệt vọng. Sự cô đơn và nỗi lo sợ khủng khiếp bủa chụp lên người đến nỗi xảy ra hiện tượng hemahidrosis; khi mồ hôi đổ ra đượm màu hồng. Đây là sự kiện hiếm hoi được y học giải thích rằng sự sợ hãi cùng cực làm nứt các mạch máu và máu thấm vào tuyến mồ hôi, nên gây ra màu hồng. Hiện tượng thường xảy ra cho binh sĩ trước khi giao tranh, hoặc tử tội trước giờ hành quyết.

Bóng đêm của cô đơn và lo sợ đang vây bủa người đàn ông là Đức Giêsu. Người công giáo tôn vinh Đức Giêsu là Thiên Chúa, và Chủ nhật vừa qua toàn thể Giáo hội mừng lễ Lá, kỷ niệm ngày Đức Giêsu vinh quang tiến vào thành Giêrusalem trên lưng lừa giữa muôn tiếng reo hò của dân Do-thái, trên tay họ vung vẩy cành cọ, miệng la to: “Hosanna! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa.” Một nghi thức chỉ dành riêng để đón tiếp các bậc vua chúa.

Nhưng nghi thức huy hoàng chỉ kéo dài trong giây lát. Giáo dân dự lễ tay cầm cành cọ như dân Do-thái xưa, tiến vào nhà thờ (năm nay xem lễ trực tuyến nên không có cành cọ cầm tay). Vị linh mục đọc đoạn Phúc âm diễn tả khung cảnh huy hoàng khi Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem. Đoạn Phúc âm dài hơn 10 đoạn, chưa tới 200 chữ, kéo dài chừng hơn phút. Toàn bộ phần còn lại của lễ Lá dành để diễn tả cái chết đau thương và nhục nhã của Đức Giêsu.

Năm đó, Đức Giêsu khoảng chừng 33 tuổi. Một thanh niên đang ở giai đoạn sung mãn nhất của đời người. Vậy mà chỉ cần chưa đến một ngày, từ vườn Giếtsimani vào khuya đêm thứ Năm đến xế trưa ngày thứ Sáu, thân hình Đức Giêsu rách nát, tơi tả treo trần truồng trên cây thập tự với hình phạt tàn khốc nhất của đế quốc La-mã.

Đức Giêsu bị bắt vào khoảng giữa khuya đêm thứ Năm. Ngài bị dẫn đến tư dinh quan Annas, vị thượng tế già nua nhưng đầy quyền lực. Theo luật Do-thái, tòa án Sanhedrin, gồm 71 thành viên, có quyền định đoạt số phận của tội nhân. Vì thế, thầy Annas gửi lệnh truyền cấp bách đến từng nhà các thầy thượng tế, kỳ mục, và kinh sư. Tòa án Sanhedrin cần phải triệu tập gấp để quyết định số phận của Đức Giêsu.

Trong khi chờ trời sáng, bọn lính dẫn Đức Giêsu ra một góc sân. Chúng bịt mắt Đức Giêsu, và bắt đầu cười nhạo, thay phiên đấm đá thẳng tay đến mệt mới thôi. Tảng sáng, thầy cả thượng phẩm Caipha, người đứng đầu toà án Sanhedrin, chủ toạ buổi hỏi cung, và thầy nhanh chóng kết án tử hình Đức Giêsu. Vì dân Do-thái đang bị đế quốc La-mã thống trị nên mọi sự đều phải được phép quan tổng trấn Philatô, kẻ thay mặt hoàng đế Tiberius, cai quản cả ba miền Giuđêa, Samaria, và Galilê. Bà vợ quan Philatô khuyến cáo chồng không nên dính máu Đức Giêsu nên quan đẩy Ngài sang dinh quan Hêrôđê Antipas để tránh trách nhiệm. Quan Hêrôđê cười cợt và chế giễu Đức Giêsu thật chán chê rồi khoác chiếc áo choàng màu đỏ lên người Ngài, màu dành riêng cho vua chúa, với ngụ ý chế nhạo Ngài là vua dân Do-thái, và trả về dinh quan Philatô.

Tại dinh quan Philatô, Đức Giêsu bị đánh đòn, hình phạt khởi đầu trước khi đem đi xử tử.

Hai cổ tay bị treo lên đầu cột, Đức Giêsu đứng trần truồng gần như ôm lấy cột. Hai tên lính La-mã đứng chênh chếch khoảng 45 độ phía sau, làm thành một góc vuông. Tay cầm ngọn roi (flagrum) cán gỗ. Đầu cán roi gắn ba sợi dây da dài chừng 1m, bện xoắn chặt ở cuối dây, và tủa ra ba sợi ở đầu. Mỏm dây gắn nhiều viên bi sắt, bên dưới gắn thêm những mẩu xương cừu có móc. Chính móc này sẽ cấu ra một mẩu thịt khi tên lính rút roi về. Máu cứ theo đó mà chảy ra ngoài. Bi sắt có tác dụng làm chảy máu bên trong nhưng không đến nỗi làm tội nhân chết, vì phải để dành sức cho tội nhân vác thanh gỗ ngang (patibulum) đến chỗ hành hình. Với sức quật từ trên xuống, những viên bi sắt đập vỡ mạch máu chạy chằng chịt trên lưng, gây chảy máu bên trong. Thường nạn chân chỉ chịu chừng 20 roi thì ngất xỉu.

Cái cảm giác bỏng rát chạy ngang lưng từ vai đến hông khi sợi dây da vụt đi với tốc độ thật nhanh, [về sau khảo cứu cho thấy vận tốc của ngọn roi phải nhanh hơn tốc độ của âm thanh, 340m/s, nên mới tạo ra âm thanh xé gió (sonic boom)]. Những viên bi sắt đập vào lưng tạo cảm giác ê ẩm lan ra khắp cơ thể. Mẩu xương có móc cắm phập vào lưng tạo cảm giác như kim đâm nhưng khi ngọn roi được kéo về Đức Giêsu cảm thấy đau nhói. Phải mất chừng vài giây cả thân hình mới ngấm được cái đau đớn, sự bỏng rát của ngọn roi, và dịu dần đi. Nhưng sự đau đớn không có thời gian để thấm, dịu, và phai dần, vì ngọn thứ hai lại đập vào lưng ngay sau khi ngọn trước vừa thu về. Hai tên lính đứng chéo luân phiên vụt roi nên khoảng thời gian giữa hai lần roi hầu như rút ngắn lại. Nhịp nhàng và đều đặn như một màn biểu diễn của các vũ công. Thân hình Đức Giêsu vừa oằn xuống lại cong lên hứng chịu ngọn roi. Đầu, lưng, mông, và mặt sau của chân đỏ dần, hiện tượng chảy máu bên trong. Tĩnh mạch và động mạch bị dập, nứt, và vỡ. Máu ướt đẫm lưng, nhỏ từng giọt xuống sàn gạch, đỏ loang tạo thành một vũng sền sệt.

Sự đau đớn về thân xác tưởng đã chấm dứt, nhưng không, đây mới chỉ là phần giáo đầu Cuộc Thương khó của Đức Giêsu. Phần cuối, cao điểm của Cuộc Thương khó, là cái chết trần truồng treo trên thập giá. Chính cái chết đó mới nói hết sự sỉ nhục, đau đớn khôn cùng mà Đức Giêsu phải gánh chịu.

Tính ra, khi bị đóng đinh và treo trên thập giá vào lúc 9 giờ sáng (Mc 15:22-25) đến lúc trút hơi thở cuối cùng vào lúc 3 giờ chiều (Lc 23:44-46), Đức Giêsu đã trải qua 6 tiếng trong tận cùng đau đớn về thân xác. Tiếng Anh gọi những giờ cuối cùng của cuộc đời Đức Giêsu là “passion,” có gốc Latinh “passionem,” có nghĩa là “chịu đau đớn.”

Nên phân tích cái chết của Đức Giêsu dưới cái nhìn của y học, để thấy sự đau đớn trong 6 tiếng đồng hồ đến thế nào, và tự hỏi làm thế nào một con người bình thường có thể chịu đựng được một hình phạt khủng khiếp đến vậy. Tiến sĩ Cahleen Shrier, giáo sư phân khoa Sinh Hoá tại ĐH Azusa Pacific, giải thích chi tiết cái chết của Đức Giêsu cho các sinh viên ngành Sinh học, một cách học hỏi môn cơ thể học. Sau đây là cái chết được mổ xẻ qua kiến thức về cơ thể học của một nữ giáo sư chuyên ngành.

Cần biết một điều quan trọng là Đức Giêsu đang ở trong tình trạng thể chất tuyệt vời. Thân cao tầm 1,7m, nặng chừng 68kg. Vì cha nuôi là thánh Giuse làm nghề thợ mộc, Đức Giêsu đã biết lao động chân tay ngay từ thuở nhỏ. Nghề mộc cần sức lực khiêng vác, nên thân hình Đức Giêsu tuy không vạm vỡ nhưng sức lực dẻo dai. Hơn nữa, trong suốt 3 năm giảng dạy, Ngài đi bộ trên khắp ba miền Giuđêa, Samaria, và Galilê… ước chừng trên 5 nghìn km, một cách rèn luyện sức khoẻ và sức chịu đựng. Người ta nghiệm ra một điều, nếu sự tra tấn phá nát thân thể một người đàn ông có thể lực tốt như vậy thì hình phạt thật vượt quá sự hiểu biết bình thường của con người, và sức chịu đựng của Ngài thật phi thường.

Matthêu 26:36-46, Marcô 14:37-42, Luca 22:39-44

Sau lễ Vượt qua, Đức Giêsu đưa các môn đệ của Ngài đến Giếtsimani để cầu nguyện. Trong lúc cầu nguyện lo lắng về những sự kiện sắp tới, Đức Giêsu đổ mồ hôi máu. Đây là hiện tượng hemahedrosis, khi các mạch máu nuôi dưỡng các tuyến mồ hôi bị vỡ. Máu thoát ra từ các mạch trộn lẫn với mồ hôi; do đó, những giọt mồ hôi trở nên màu hồng. Tình trạng này là do sự thống khổ về tinh thần hoặc sự lo lắng cao độ, một trạng thái mà Đức Giêsu thể hiện qua lời cầu nguyện, “tâm hồn Thầy buồn đến chết được,” (Matthêu 26:38). Hemahidrosis làm cho da mềm hơn, do đó, tình trạng thể chất của Đức Giêsu trở nên tồi tệ hơn một chút.

Matthêu 26:67-75, Marcô 14:61-72, Luca 22:54-71, 23:1-25, Gioan 18:16-27

Bị dẫn từ dinh quan Philatô đến dinh quan Hêrôđê và trở ngược lại, Đức Giêsu bước khoảng hơn 3km. Cả đêm bọn lính thay phiên chế giễu và đánh đập nên Ngài không thể ngủ, (Luca 22:63-65). Tính ra, đã hơn một ngày Đức Giêsu chưa chợp mắt một chút nào. Ngoài ra, làn da của Ngài vẫn còn mềm do hemahedrosis. Tình trạng thể chất của Đức Giêsu xấu dần đi.

Matthêu 27:26-32, Marcô 15:15-21, Luca 23:25-26, Gioan 19:1-28

Philatô ra lệnh đánh đòn Đức Giêsu chiếu theo luật La-mã trước khi đem đi đóng đinh. Hình phạt đánh đòn dã man ở chỗ tội nhân có muốn chết cũng không thể chết, nhưng đau đớn thấu xương tuỷ. Theo truyền thống, tội nhân đứng trần truồng, hai tay bị trói vào cột, để lộ vai, lưng, và phần sau của cặp đùi. Cán roi ngắn, vừa cầm tay. Những hòn bi sắt hoặc chì bện dọc theo 3 sợi dây da dài khoảng 1m, cuối mỗi sợi dây được gắn thêm những mẩu xương cừu. Người ta đoán Đức Giêsu chịu ít nhất 100 roi, căn cứ vào dấu vết còn để lại trên tấm vải liệm Turin, hiện được cất giữ tại Vương cung Thánh đường Turin, Piedmond, miền Bắc Ý.

Lính La-mã lực lưỡng, cao tầm 1,68m hoặc hơn, nặng cỡ 80kg; thể lực rất khoẻ, binh khí và áo giáp nặng tầm 40kg, và thao luyện mỗi ngày bước hơn 30 cây số. Vì thế, ngọn roi phóng ra với lực mạnh vũ bão. Những mẩu xương cừu cắm phập vào người Đức Giêsu do vận tốc xé gió của ngọn roi. Lúc kéo roi về, những mẩu xương kéo theo một mẩu da và chút thịt. Cứ thế, máu chảy ra từ những vết thương này. Chịu chừng 20 roi, lưng và đùi của Đức Giêsu đã hằn những vết roi đỏ tươi, nằm chằng chịt. Đến thời điểm này, Đức Giêsu đã mất một lượng máu lớn khiến huyết áp tụt thấp. Do cơ thể cố gắng cân bằng tình trạng mất máu nên Đức Giêsu khát nước, (Gioan 19:28). Gần nửa ngày, Ngài chưa uống một hớp nước nào. Nếu được uống nước trong lúc này, lượng máu của Ngài sẽ tăng lên.

Lính La-mã đặt một mão gai trên đầu và choàng áo trên lưng Đức Giêsu, (Matthêu 27:28-29). Áo choàng giúp máu đông (giống như lúc băng bó cầm máu) và Ngài không bị mất máu nhiều hơn. Khi lính đánh vào đầu Đức Giêsu (Matthêu 27:30), những chiếc gai đâm sâu vào da gây chảy máu đầm đìa. Những chiếc gai đâm trúng dây thần kinh chạy đến khuôn mặt, gây đau đớn dữ dội từ mặt xuống cổ. Khi chế nhạo Ngài, bọn lính thản nhiên khạc nhổ vào mặt Đức Giêsu, (Matthêu 27:30). Chúng xé toạc chiếc áo choàng ra khỏi lưng Đức Giêsu làm vỡ vết thương và máu lại chảy ra như trước.

Tình trạng thể chất của Đức Giêsu trở nên nguy kịch. Do mất máu quá nhiều, Ngài không còn hơi sức đâu nữa. Đức Giêsu vác thanh gỗ thật vất vả lên đồi Sọ nằm ngoài thành Giêrusalem, nhưng Ngài may mắn được ông Simon xứ Cyrene vác đỡ một đoạn đường (Matthêu 27:32).

Matthêu 27:33-56, Marcô 15:22-41, Luca 23:27-49, Gioan 19:17-37

Người Ba Tư phát minh khổ hình đóng đinh vào khoảng năm 300-400 trước CN. Có lẽ đây là hình phạt gây cái chết đau đớn nhất trong lịch sử nhân loại. Cái chết đau đớn, chậm chạp, kéo dài và thách thức sức chịu đựng của tội nhân. Như Đức Giêsu phải chịu đau đớn như thế trong suốt 6 tiếng, từ 9 giờ sáng (Marcô 15:22-25) đến 3 giờ chiều (Luca 23:44-46). Hình phạt này chỉ dành cho đám nô lệ, người ngoại quốc, bọn nổi loạn, và những tên tội phạm tàn ác nhất. Tội nhân bị đóng đinh vào thập tự; tuy nhiên, thập giá của Đức Giêsu có lẽ không phải là hình chữ thập theo kiểu Latinh, mà là chữ thập Tau (T), giống chữ t trong ký tự Hy lạp. Cây cột gỗ đứng (stipes) được chôn vĩnh viễn trên ngọn đồi. Tội nhân chỉ vác thanh gỗ ngang (patibulum) lên đồi. Thanh gỗ đặc chỉ nặng 34-57kg, nhưng cả cây thập tự theo kiểu Latinh nặng cỡ 136kg.

Tính từ lúc bị bắt đến lúc vác thanh gỗ đặc, Đức Giêsu đã thất thểu bước chừng 4km, nhưng chặng đường cuối 1km từ dinh quan Philatô đến đồi Sọ mới thật đau thương, vì Ngài đã mất máu quá nhiều; lại thêm bị đánh đòn đến bầm dập cả người, chưa kể đòn đấm đá của bọn lính La-mã khiến thân hình rã rệu, mềm như bún.

Trên đỉnh của patibulum gắn một bảng gỗ, ngụ ý tội nhân bị kết án tử hình vì vi phạm luật pháp. Trường hợp của Đức Giêsu, biển gỗ khắc hàng chữ, “Đây là Vua dân Do Thái”, (Luca 23:38). Tội nhân bị đóng đinh vào patibulum trong tư thế nằm, nên Đức Giêsu bị bọn lính thẳng tay lột hết quần áo và xô ngã xuống đất. Lớp vải thấm máu vừa đủ khô thì bị bóc trần, miệng vết thương mở toang, máu cứ thế rỉ ra ngoài. Hai tên lính kéo căng cánh tay của Đức Giêsu và đóng một cây đinh dài chừng 15cm. Chắc chắn Đức Giêsu bị đóng đinh vào cổ tay, vì nếu đóng đinh vào lòng bàn tay, sức nặng của thân hình sẽ kéo toạc lớp thịt dễ dàng. Cây đinh làm vỡ hoặc làm đứt dây thần kinh dẫn đến bàn tay. Điều này gây đau đớn liên tục lên cả hai cánh tay của Đức Giêsu.

Sau khi đóng hai cây đinh vào hai cổ tay, bọn lính kéo lê khúc gỗ patibulum đến cột gỗ đã trồng đứng. Khi nâng lên, toàn bộ trọng lượng cơ thể của Đức Giêsu bị kéo xuống và giữ thẳng nhờ hai cây đinh ở cổ tay. Điều này khiến vai và khuỷu tay bị trật khớp (Tv 22:14). Ở vị trí này, cánh tay của Ngài bị kéo dài tối thiểu 15cm so với chiều dài ban đầu.

Hai bàn chân của Đức Giêsu bị đóng đinh thẳng lên trên cây gỗ đứng như thường thấy trong hình. Ở vị trí này (đầu gối phải uốn cong khoảng 90 độ), trọng lượng của cơ thể đẩy xuống cây đinh ở bàn chân và tử tội phải dùng hai mắt cá chân để hỗ trợ trọng lượng. Đinh không xé toạc lớp thịt mềm ở bàn chân. Một lần nữa, cây đinh làm vỡ hoặc làm đứt dây thần kinh (nó cắt đứt động mạch bàn chân) và gây đau đớn khôn cùng.

Thông thường, để hít vào, hoành cách mô (cơ lớn nằm giữa khoang ngực với khoang bụng) phải ép xuống. Điều này giúp mở rộng khoang ngực và không khí tự động di chuyển vào hai buồng phổi (hít vào). Để thở ra, cơ hoành nâng lên, nén không khí trong phổi, đồng thời đẩy không khí ra ngoài (thở ra). Khi Đức Giêsu bị treo trên thập tự, sức nặng của cơ thể đè nặng lên cơ hoành và không khí di chuyển vào buồng phổi và nằm ứ ở đó. Muốn thở ra, Ngài phải dùng hai cây đinh ở bàn chân làm bàn đạp để rướn người lên và đẩy cơ hoành lên trên. Vì thế, hai bàn chân của Đức Giêsu đau đớn đến tê dại mỗi khi muốn thở ra. Và thao tác thở ra gây đau đớn như thế trong suốt 6 tiếng đồng hồ. Nếu tính trung bình Đức Giêsu nén hơi và thở ra trong 30 giây, Ngài phải chịu cơn đau 720 lần, liên tục, không ngừng nghỉ vì không thể ngưng thở, chưa kể sự đau buốt ở hai bàn tay và toàn thân thể.

Để nói, không khí phải đi qua thanh quản trong lúc thở ra. Kinh thánh cho thấy Đức Giêsu đã nói 7 lần từ trên cây thập tự. Thật không hiểu nổi trong cơn đau đớn mà Ngài vẫn cố gắng nói, nhưng xúc động nhất là khi Đức Giêsu rướn người lên để nói, “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, (Luca 23:34).

Sự khó khăn của thao tác thở ra dẫn đến một dạng nghẹt thở chầm chậm. Khí carbon dioxide (CO2) tích tụ trong máu, dẫn đến nồng độ axit carbonic (H2CO3) trong máu cao. Cơ thể phản ứng theo bản năng, kích hoạt sự ham muốn thở. Đồng thời, tim đập nhanh hơn để khí ôxy đang có sẵn được lưu thông. Lượng ôxy giảm (do khó khăn khi thở ra) gây thương tích cho các mô và mao mạch bắt đầu rò rỉ chất lỏng từ máu vào mô. Điều này dẫn đến sự tích tụ chất lỏng xung quanh tim (tràn dịch màng tim) và phổi (tràn dịch màng phổi). Phổi suy sụp, tim cũng suy, cơ thể mất nước và không có khả năng cung cấp đủ ôxy cho các mô là nguyên nhân cốt yếu làm tội nhân nghẹt thở. Lượng ôxy giảm cũng gây tác hại cho chính tim (nhồi máu cơ tim) dẫn đến tim ngừng đập. Trường hợp nghiêm trọng khi tim quá căng thẳng, tim thậm chí có thể vỡ nát; y học gọi là rách tim. Đức Giêsu rất có thể chết vì một cơn truỵ tim.

Sau khi Đức Giêsu chết, tên lính đập gãy chân của hai tên tội phạm bị đóng đinh hai bên, (Gioan 19:32). Khi hai chân tội nhân bị gãy, cả thân hình không còn gì chống đỡ, nên sức nặng của thân thể kéo trì xuống, kéo theo cơ hoành và tội nhân không thể thở ra được nữa. Điều này gây nghẹt thở. Thường tội nhân sẽ chết chỉ sau vài phút. Khi tên lính đến trước cây thập tư treo Đức Giêsu, thấy Ngài đã chết nên hắn không đập gãy chân, (Gioan 19:33). Nhưng muốn chắc chắn, tên lính cầm giáo đâm vào ngực, (Gioan 19:34). Kinh thánh thuật lại hành động này, “tức thì máu và nước chảy ra,” (Gioan 19:34), vì chất lỏng tích tụ quanh tim và phổi.

Thật nhức nhối khi mô tả một vụ giết người tàn bạo, nhưng chính chiều sâu của sự đau đớn khôn lường của Đức Kitô nhấn mạnh đến mức độ yêu thương của Thiên Chúa đối với loài người. Dựa trên sinh lý học để miêu tả từng chi tiết về cái chết của Đức Kitô như một lời nhắc nhở tha thiết về tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa đối với nhân loại đã được thể hiện cách đây hơn hai nghìn năm trên đồi Sọ. Sự hiểu biết tường tận từng chi tiết về cái chết Đức Kitô giúp tôi tham dự thánh lễ sốt sáng hơn, luôn tưởng nhớ đến sự hy sinh của Ngài, với một lòng biết ơn vô vàn. Tôi choáng ngợp cứ mỗi lần nhận thức được rằng, Đức Giêsu với con người bằng xương bằng thịt như tôi, Ngài đã hy sinh cho nhân loại từng tế bào, từng thớ thịt của thân thể qua cái chết trên cây thập giá. Có tình yêu nào dành cho bạn hữu lớn hơn thế này không, thưa quý bạn?

* * *

Bóng đêm bao phủ vườn Giếtsimani, ánh trăng thượng tuần mờ nhạt. Bóng tối tràn ngập tâm hồn Giuđa, kẻ phản bội. Khi Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, bóng tối bao trùm nhân loại, cho dù lúc đó chỉ mới 3 giờ chiều. Bóng ma cơn đại dịch đang phủ ập lên thế giới đang vũng vẫy cố ngoi lên tìm sự sống. Trong bài giảng lễ Lá vừa qua do Đức cha Robert Barron chủ tế, tổng giáo phận Los Angeles, ngài nói về bóng đêm u buồn. Ngài chia sẻ, “nhưng cái chết của Đức Kitô như ánh sáng đem đến cho nhân loại niềm hy vọng, vì chính Ngài là sự sáng. Khi đầm mình vào bóng đêm tội lỗi, Đức Kitô mang ánh sáng vô tận đến cho loài người. Vì hễ nơi nào có ánh sáng, bóng tối lập tức thoái lui. Khi Đức Kitô phục sinh, chính là lúc ánh sáng bùng phát từ ngay trong bóng đêm, xua tan màn tối của trần gian.”

Và xua tan cả bóng đêm của cơn đại dịch. Amen.

https://www.apu.edu/articles/the-science-of-the-crucifixion/

AI MANG BỤI ĐỎ ĐI RỒI?

 

Bao nhiêu năm nay, mỗi lần nghe tiếng hát Thái Thanh, từ một ca khúc tiền chiến như hơi thở tuyệt vời duy nhất còn lại của một thời đã mất, đến những bài hát mới, phản ảnh sinh động cái hơi thở trăm lần đầm ấm hơn của âm nhạc bây giờ, tôi không khám phá mà chỉ thấy trở lại trong tâm hồn và thẩm âm của mình một số rung động và liên tưởng cố định.
Những rung động ấy đã có từ lâu, những liên tưởng ấy từ đầu đã có. Chúng có từ Thái Thanh với bài hát thứ nhất, và nguyên vẹn như thế cho đến bây giờ. Chẳng phải vì con người thưởng ngoạn âm nhạc trong tôi không có những thay đổi. Cũng chẳng phải vì tiếng hát Thái Thanh là một thực thể âm nhạc bất biến và bất động, không có những thay đổi.
Đã hai mươi năm Thái Thanh hát. Lịch sử âm nhạc ta đã được đánh dấu bằng cái hiện tượng khác thường, duy nhất, là Thái Thanh tiếng hát hai mươi năm. Nếu mỗi con người, mỗi vật thể đều được thực chứng như một biến thái thường hằng trước va chạm khốc liệt dữ dội với đời sống mỗi ngày là một khuôn mặt mới, một tiếng hát, dẫu vượt thời gian như tiếng hát Thái Thanh cũng vậy. Bằng chứng là Thái Thanh của những năm bảy mươi, Thái Thanh của bây giờ không thể và không còn là Thái Thanh của những năm tháng khởi đầu.
Mọi người dễ dàng nhận thấy như tôi là, chuyển lưu không ngừng qua nhiều vùng trời âm điệu khác biệt, hòa nhập không thôi vào mọi không khí, trào lưu âm nhạc và trình diễn thay đổi từng năm, từng mùa như mưa nắng, chính tâm hồn và ý thức người hát, trong mối liên hệ mật thiết một đời với nhạc, thế tất có những biến chuyển. Tiếng hát vì thế cũng đổi thay theo. Nói Thái Thanh hát bao giờ cũng vậy là sai. Lấy một bài hát bây giờ, một bài hát trong mười bốn ca khúc của băng nhạc Tơ Vàng chẳng hạn, cùng nghe với một bài hát cũ, ta thấy ngay, trên cái tiến trình và thành tựu rực rỡ của hai mươi năm đi tới không ngừng, tiếng hát Thái Thanh đang đích thực được lồng đựng trong một kích thước, một tinh thần mới. Sự thay đổi đó không ngẫu nhiên, chẳng tình cờ. Nó biểu hiện cho cái nỗ lực chính yếu của người hát tuyệt nhiên không bao giờ muốn ngủ yên trên những thành công đã có.
Hát với Thái Thanh là một tình yêu muốn cháy đỏ một đời, phải được làm mới từng ngày. Lối hát, cách hát, từ kỹ thuật trình bầy một ca khúc đến cái khó nhận thức hơn, vì ở bên trong, nhưng không phải là không thấy được, là trạng thái tâm hồn Thái Thanh gửi cho âm nhạc, cái phải có và phải thế nào cho tiếng hát của mình bây giờ, trước trưởng thành vượt bậc của âm nhạc và thưởng ngoạn hiện tại, thảy đều dẫn tới một minh chứng: Thái Thanh của những năm bảy mươi đã bỏ lại thật xa ở sau lưng và trong quá khứ, Thái Thanh của thời kỳ khởi nghiệp. Không nhận thấy nỗ lực thay đổi, làm mới này, đó chỉ là vì những người yêu nhạc đã nghe Thái Thanh đều đặn, không đứt quãng, suốt hai mươi năm. Nhìn thấy hoài một khuôn mặt quen thuộc, giản đơn là ta khó thấy những thay đổi của khuôn mặt ấy.
Điểm đặc biệt đáng nói, theo ý tôi, là nếu một mặt, tiếng hát Thái Thanh đã và đang còn vươn phóng rực rỡ tới bắt gặp những chân trời âm điệu mới, phía thưởng ngoạn và tiếp nhận ở rất nhiều người, trong đó có tôi, lại bất biến, từ đầu, không thay đổi. Hai mươi năm, chúng ta vẫn chỉ thấy có một Thái Thanh. Sự ngạc nhiên lại chính là cái hiện tượng muôn vàn quen thuộc. Tại sao như vậy? Tìm hiểu tiếng hát Thái Thanh, cái bởi đâu khiến cho tiếng hát hàng đầu này tồn tại suốt hai mươi năm, trong khi những tiếng hát khác đã tiếp nối nhau lặn chìm và tàn tạ. Cái tại sao, khiến cho sau hai mươi năm, khối lượng cảm tình của khán giả yêu nhạc cả nước dành cho Thái Thanh vẫn đầy ắp như một bát nước đầy, tìm hiểu đó phải được khởi đi từ cái hiện tượng khác thường của thưởng ngoạn tôi vừa nói tới. Nó giải thích được cho cái trường hợp thành tựu duy nhất trong âm nhạc ta.
Ở một bài giới thiệu ngắn trong một chương trình Nhạc Chủ Đề thực hiện trước đây trên làn sóng điện đài Saigon, nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã nhận định về tiếng hát Thái Thanh như một giọng ca không có tuổi. Sáng láng, hồng tươi, không quá khứ. Nhận định này chỉ nói đến một sự thực hiển nhiên. Tốt tươi và phơi phới, bay bổng và cao vút, tiếng hát Thái Thanh hai mươi năm nay là một hơi thở bình minh, ở đó không có một dấu vết nhỏ của tháng năm và quá khứ đè nặng. Đã là một giòng sông đầy, nó vẫn còn là cái thánh thót, cái trong vắt của một giòng suối, nước reo thủy tinh, sỏi lăn trắng muốt. Như một bông hoa không nở và tàn trong một buổi sáng, mà hoa đã mãn khai, vẻ hàm tiếu vẫn còn. Tiếng hát trẻ trung vĩnh viễn, không tuổi, không quá khứ là vì nó tạo mãi được cho người nghe cái cảm giác mát tươi đầu mùa như vậy. Cái não nùng, cái thê thiết rũ rượi là những cái làm già. Thái Thanh không hát cái chết bao giờ, trong cả những ca khúc nói về cái chết. Tiếng hát không bao giờ là một tiếng khóc, nó là đời sống, tiếng cười, và mặt trời. Những cái đen, những cái tối, gì là vũng lầy, gì là vực thẳm, ở ngoài tiếng hát Thái Thanh. Ở ngoài. Không đột nhập.
Nhưng nếu chỉ nói đến cái hiện tượng không có tuổi nằm trong một phía duy nhất là tiếng hát, không đủ. Không có tuổi còn ở phía đối diện, phía người nghe. Nghe Thái Thanh lúc nào cũng vậy, phút rất vui cũng như phút thật buồn. Nghe Thái Thanh ở một nơi chốn nào cũng thế, tiếng hát hàm chứa và phát hiện trong nó một hiệu lực đồng hóa, khiến cho tình yêu của hàng trăm ngàn người gửi cho tiếng hát Thái Thanh có thể thâu tóm toàn vẹn trong một người, trở thành cái có một. Trên dàn nhạc một phòng trà kín bưng mịt mùng khói thuốc, trên thảm cỏ một chương trình từ thiện ngoài trời, ngày nào dưới cái vòm cao vút của Nhà Hát Lớn Hà Nội, bây giờ dưới những đêm sao rực rỡ miền Nam, trên băng nhạc 1800 “phít” hay trên dĩa nhựa 45 vòng, tiếng hát gửi đến, gián tiếp, hay người hát đối diện trực tiếp với đám đông, bằng nhạc Văn Cao, Phạm Duy hay nhạc Hoài Bắc, Cung Tiến, hiệu năng đồng hóa và hiệu lực dẫn độ của tiếng hát Thái Thanh, vĩnh viễn phát xuất từ một khởi điểm tình cảm cố định. Nó dẫn dắt rung động người nghe hát tới những xúc cảm, những liên tưởng cố định. Không một người nào “lỡ” tiếng hát Thái Thanh. Đã gặp một lần là trùng phùng mãi mãi. Chẳng phải vì Thái Thanh đã hát hai mươi năm, còn hát, chỉ đơn giản là chúng ta đã nghe bằng cái trạng thái thuần túy, trong suốt nhất của thưởng ngoạn, nghe bằng cái không tuổi thênh thang phơi phới của mình. Tôi gọi vùng cảm xúc và liên tưởng cố định ấy là quê hương tiếng hát Thái Thanh. Như cây kim trong địa bàn chỉ xoay về hướng bắc, người nghe nào cũng gặp lại, bằng và với tiếng hát Thái Thanh, một thứ quê hương tình cảm muôn thuở trong mình. Chúng ta nói tiếng hát này gợi lại kỷ niệm, đánh thức trí nhớ, đâu phải vì tiếng hát Thái Thanh chỉ hát những bài hướng về kỷ niệm. Chúng ta nói tiếng hát Thái Thanh thân ái, tình nhân, bằng hữu, chỉ là người nghe đã thân ái, bằng hữu, tình nhân với chính mình, từ tiếng hát. Tôi nghĩ đó là nguyên nhân xâu xa đích thực nhất giải thích chu đáo cho khối lượng cảm tình đằm thắm, vững bền, không lạt phai, không lay chuyển, mà quần chúng yêu nhạc ba miền đã dành cho Thái Thanh từ hai mươi năm nay.
Đặt vào tiến trình và hình thành của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tiến trình đó nhất định phải đưa tới một đoạn tuyệt hoàn toàn với những giòng nhạc cũ, hình thành đó tất yếu sẽ nâng đẩy âm nhạc tới những biểu hiện sinh động bay múa nghìn lần hơn cõi nhạc quá khứ, tiếng hát Thái Thanh, hơn mọi tiếng hát khác ở điểm này, hội đủ điều kiện cho một thăng hoa và một hòa nhập lý tưởng. Bởi sau hai mươi năm, nó vẫn là một ra khơi, một lên đường, của những năm bảy mươi và cho những năm bảy mươi, âm nhạc đang được định nghĩa lại, từ phía sáng tác, trình diễn, đến phía thưởng ngoạn. Trước đòi hỏi của một lớp người yêu nhạc càng ngày càng vươn tới những vùng nghệ thuật đích thực, những bước tiến lớn lao ghi nhận được về nghệ thuật hoà tấu, kỹ thuật hoà âm chúng ta thấy thể hiện trong một băng nhạc bây giờ, là những dấu hiệu mở đầu cho một trưởng thành toàn diện.
Tiếng hát Thái Thanh là một đồng nghĩa toàn vẹn với hiện tượng trưởng thành này. Không phải là trong quá khứ, mà bây giờ mới vẹn toàn tiếng hát Thái Thanh. Trên tinh thần này, và trước viễn tượng sáng tươi của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tôi không nghĩ Thái Thanh đã tới, mà nói Thái Thanh mới bắt đầu. Đừng đặt câu hỏi là sau hai mươi năm, bao giờ Thái Thanh vĩnh viễn giã từ âm nhạc. Mùa nhạc này, chúng ta mới chỉ đang nghe những bài hát thứ nhất của Thái Thanh, những bài hát đánh dấu cho một khởi hành mới, những bài hát mở đầu cho một sự nghiệp thứ hai. Những người yêu mến tiếng hát Thái Thanh từ hai mươi năm nay, chắc đều nhận thấy với tôi như vậy.

Mai Thảo.
(lời tựa cho băng nhạc Tơ Vàng 4 – tiếng hát Thái Thanh)
Nguồn: https://nhacxua.vn/nha-van-mai-thao-viet-ve-thai-thanh-nam…/

Chinavirus

Không ai tin như thế:  “Thành phố này sẽ buồn!”.  Mới hôm qua, một hôm, sáng nay trời ảm đạm!
Cả bầu trời màu xám, xám xịt, không bình minh!  Những con chim vô hình mất trong trời vô tận!
Mưa bay bay như phấn.  Phấn trắng trên bảng đen, những thông báo đổ ghèn, những con mắt đổ lệ…
Không ai tin như thế!
“Thành phố này sẽ buồn!”.
Hiện tại mà, phải hôn?
Hỏi như thầm tình tự…
Chinavirus bay tứ xứ từ Vũ Hán bay đi, bay tới Italie, bay sang tận nước Mỹ…
Xe Cảnh Sát chậm rãi chạy trong phố thênh thang…
Không thấy nữa rộn ràng, không có gì rộn rịp.  Thấy tiếp tiếp tiếp tiếp, thành phố buồn mênh mông…
“Chao ôi buồn vương cây ngô đồng!”.  Đang còn Xuân Trời ạ…mà trên từng nhánh lá…mùa Thu như nhẩy dây!
Thành phố này, hôm nay, bài thơ từ cửa sổ!
 
Trần Vấn Lệ