NHỮNG LẦN “GẶP PHẬT”

Kính Mừng Phật Đản 2024, Phật lịch 2568

ROCKPORT, MASSACHUSETTS

Một lần ghé thăm Rockport, một thành phố du lịch nhỏ, cách Boston khoảng một giờ lái xe. Dọc hai bên đường phố hẹp là những quán bán quà kỷ niệm du lịch.

Tôi đi ngang một tiệm bán hàng điêu khắc. Nhiều tượng Phật được trưng bày. Tôi dừng lại. Trước khi chụp vài tấm hình, tôi đứng thẳng, nhìn các tượng Phật và chắp tay vái một vái. Du khách tấp nập và hình như có ai đó đang nhìn tôi.

Rất nhiều người nghĩ chỉ có Phật được đặt trên chánh điện nghiêm trang trầm hương nghi ngút mới là Phật, còn Phật ở các cửa tiệm, ở những phòng trưng bày nghệ thuật, viện bảo tàng thì không phải.

Thật ra, hình tượng chỉ để nhắc nhở. Phật trong tâm, trong suy nghĩ có tánh thiện, trong nhận thức, và vì thế, Phật ở mọi nơi. Khoảnh khắc ta nghĩ đến Phật là lúc Phật hiện ra trong ta. Bất cứ nơi nào, bất cứ hoàn cảnh nào.

Tuần trước đó tôi đi chùa nhân lễ Phật Đản. Thầy trụ trì rất vui và bảo “Lâu lắm con không về chùa, lát nữa con lên nói vài lời với các đạo hữu nhân ngày Phật Đản”. Tôi không chuẩn bị gì nhưng nói rất dễ dàng vì Đạo Phật có rất nhiều điều hay, nét đẹp để nói về. Tôi nói sở dĩ đức Phật chọn một nơi nhiều bất công, nghèo nàn như Ấn Độ để thị hiện chỉ vì tình thương của đức Phật dành cho con người.

CHENNAI, INDIA

Phật ở Ấn Độ cũng không khác gì Phật ở Rockport tấp nập.

Một lần ở Chennai, tôi hỏi người chủ tiệm món hàng nào được du khách ưa chuộng nhất, người chủ tiệm trả lời “tượng Phật”.

Đức Phật là biểu tượng của tình thương và Đạo Phật là đạo của tình thương. Ai lại không muốn mang về nhà một biểu tượng từ bi, bác ái và bao dung như thế dù người đó thuộc tôn giáo nào.

Trong ý nghĩa đó, Đạo Phật không chỉ là đạo riêng của những người Phật Tử mà là đạo chung của con người, bởi vì con người còn tồn tại đến hôm nay là nhờ có tình thương. Thế giới con người sẽ tận diệt nếu một ngày tình thương không thắng được hận thù.

CAPE COD, MASSACHUSETTS

Mới “gặp Phật” ở Rockport tháng trước, nay lại “gặp Phật” ở Cape Cod. Lần này tôi không lạy Phật. Phật ở Cape Cod được dùng như một loại trang sức hay chỉ để lừa bịp khách hàng.

Một tượng đức Phật được đặt trước cửa một tiệm coi bói, một tượng đức Phật được đặt trong lồng kính chung với áo quần, một tượng đức Phật được dựng trên lối đi như để chào đón khách hàng, một số tượng đức Phật bị nhốt bên trong cửa sắt của một khu vườn dường như lâu rồi không ai chăm sóc.

Buôn bán tượng Phật là một kỹ nghệ đang được thịnh hành, bắt đầu từ quê hương đức Phật. Bước xuống phi trường quốc tế New Delhi hình ảnh đầu tiên những khách phương xa bắt gặp là bàn tay đức Phật. Bước vào tiệm bán đồ kỷ niệm cho du khách ở nhiều nơi trên xứ Ấn, hình ảnh được trưng bày nhiều nhất cũng là đức Phật. Khuôn mặt bao dung, nụ cười nhân hậu của ngài rất thu hút khách thập phương.

Tuy nhiên, đúng như Giảng sư Tây Tạng Dzongsar Jamyang Khyentse viết, Ấn Độ là quốc gia đã lãng quên người con yêu quý của mình: Đức Phật. Bởi vì di sản của đức Phật không phải là khuôn mặt bao dung, nụ cười nhân hậu hay ngay cả đền đài mà là những lời dạy của ngài. Rất hiếm tại Ấn Độ có nơi phát hành các kinh sách Phật Giáo, phần lớn chỉ bán các tượng Phật hay giữ đền thờ để thu tiền.

Nhìn những tượng Phật ở Cape Cod, tôi thầm mơ ước, ngày nào người Mỹ nói riêng và Tây Phương nói chung không còn nhìn các tượng Phật như món đồ trang trí mà cùng tìm hiểu, cùng lắng nghe những lời khuyên của đức Phật, ngày đó nhân loại sẽ hòa bình.

KYOTO, NHẬT

Tại Nhật, đạo Phật trở thành một đạo dân tộc, cùng với Thần Đạo (Shinto) đã và đang tồn tại một cách hài hòa. Đạo dân tộc không nên hiểu theo nghĩa là quốc giáo hay đạo riêng của một nước nhưng tư tưởng Phật Giáo thấm đậm vào đời sống văn hóa và con người Nhật.

Người dân Nhật không đến chùa lễ Phật, tụng kinh thường xuyên nhưng trên đường đi làm họ có thể dừng chân ở một ngôi chùa, kéo dây chuông ba lần, chắp tay cầu nguyện.

Người hướng dẫn du lịch kể lại khi người Nhật sinh con, cha mẹ thường ẳm con đến đền Thần Đạo để làm lễ cầu nguyện nhưng khi qua đời thường làm đám tang theo nghi lễ Phật Giáo.

SEOUL, NAM HÀN

Seoul thì khác. Đạo Phật một thời hưng thịnh tại Triều Tiên đang mờ dần vào quá khứ. Thống kê năm 2005, chỉ 25% dân số xác nhận là tín đồ Phật Giáo nhưng con số đó đã xuống thấp dần đến mức ngày nay Phật Giáo tại Nam Hàn không còn được xác định một cách rõ ràng như một tôn giáo mà đang hòa chung vào tập tục văn hóa.

Chùa Jogyesa, ngôi chùa lớn nhất tại Seoul, được biết như là một địa điểm du lịch nhiều hơn là Thiền Viện chính của tông phái Jogye. Cám dỗ vật chất đã thu hút các thế hệ trẻ đi theo, bỏ lại sau lưng họ những cụ già ngồi đếm từng ngày cuối của đời mình trong lời kinh tiếng kệ. Các tượng Phật dễ tìm thấy ở khu shopping Insadong hơn là tại các ngôi chùa.

Đạo Phật là đạo của con người với các giá trị tình thương và sự thật nhưng để mang tình thương và sự thật đến cho con người, Phật Giáo cũng cần thay đổi cách hoằng dương.

MONTEREY, CALIFORNIA

Trên con đường chính dọc bờ vịnh Monterey có một tiệm Ấn Độ bán đồ kỷ niệm cho du khách. Một phụ nữ Ấn ngoài 60 tuổi và một thanh niên Ấn trạc 30 tuổi đang coi tiệm. Một số hình tượng đạo Hindu như Lord Shiva, Lord Brahma v.v… được trưng bày nhưng đa số là tượng Phật.

Tôi dừng lại chụp một số hình những tượng Phật được đặt bên ngoài. Chàng thanh niên bước ra ngăn cản. Anh chỉ tấm giấy nhỏ “No photography” gắn trên một trong những tượng Phật. Tôi ngừng, nhưng không quên phản ứng “Tấm giấy quá nhỏ để thấy”, và tôi lại tiếp “Lẽ ra anh nên để cho du khách chụp hình thoải mái. Bức tượng đẹp sẽ gây cho họ ấn tượng đẹp khi nhìn lại. Biết đâu vì thế họ sẽ trở lại mua. Cho dù không mua, họ sẽ giúp anh quảng cáo miễn phí khi gởi cho bạn bè họ.”

Chàng thanh niên dịu giọng “Vâng, anh nói cũng đúng.” Tuy nói vậy anh ta vẫn không lấy cái bảng cấm chụp hình xuống. Tôi bước vào tiệm. Chàng thanh niên hỏi tôi muốn mua tượng Phật nào không. Tôi đáp “Tôi là Phật Tử nhưng cám ơn, tôi không mua.”

Tôi muốn thử anh ta một câu rất dễ “Anh biết Đức Phật ra đời ở đâu không?” “Nepal”, chàng thanh niên đáp ngay. “Anh google chứ gì?” Anh cười “Đúng vậy.” Lý do tôi đoán anh ta google vì người có kiến thức lịch sử căn bản cũng có thể biết Đức Phật đản sanh tại một vương quốc của nước Ấn Độ, ngày nay thuộc lãnh thổ Cộng Hòa Nepal. Tôi giải thích “Đúng ra anh nên trả lời là Ấn Độ nay thuộc Nepal vì khi Đức Phật ra đời chưa có nước Nepal. Là người Ấn anh cũng nên hãnh diện là nơi Đức Phật ra đời.”

Anh không nói gì nhưng người đàn bà lớn tuổi gật đầu.

Nhiều báo chí ca ngợi sự phục hồi Phật Giáo tại Ấn Độ bởi vì đi đâu họ cũng gặp hình tượng Đức Phật. Nụ cười Đức Phật có thể nhận ra từ khi du khách bước xuống phi trường New Delhi cho đến một quán nhỏ bán đồ kỷ niệm ven đường.

Tôi không lạc quan như vậy. Cao trào phục hưng phải được đánh dấu bằng tăng đoàn, tu viện, thiền viện, trung tâm nghiên cứu, đại học, thiện trí thức, tín đồ. Đạo Phật không phải là một món đồ để trưng bày, một thị hiếu dù hấp dẫn bao nhiêu.

Nhìn những đồng bạc cắc và viên đá mỏng viết chữ “fortune” đặt dưới chân một tượng Phật, tôi định nói với anh Đức Phật không mang may mắn tài lộc gì đến cho ai cả, nhưng rồi đổi ý. Nói để làm gì, một người không biết nơi sinh của một trong số rất ít bậc thầy của nhân loại thì Đức Phật trong mắt anh đơn giản chỉ là một món hàng.

NEPAL

Buổi chiều trên đường phố Pokhara, cách vườn Lumbini nơi Thái Tử Tất Đạt Đa sinh ra 126 miles (203 km). Ở Mỹ đó là một đoạn đường ngắn có thể lái xe đến thăm và trở lại phố cùng ngày. Nhưng Nepal thì không. Đường rất xấu và đèo dốc cheo leo phải mất cả ngày mới tới nơi và không thể trở lại trước khi trời tối.

Đây không hẳn là tượng Phật mà chỉ là tấm bia bằng nhôm hay xi-măng đúc hình đức Phật. Dưới chân đức Phật không phải là hoa quả do thập phương bá tánh cúng dường, chung quanh ngài không phải là những bậc La Hán và trên nền trời không phải chư thiên vân tập về nghe pháp.

Không, chung quanh ngài là hình ảnh quảng cáo. Một lon Coke, một lon Exel, những mẫu vẽ áo quần, đồ trang sức, những bụi hoa dại héo tàn. Cách đó không xa, một hãng máy bay tuyến đường ngắn từ Pokhara đi Kathmandu được đặt một cái tên rất an toàn là Buddha Air.

Theo thống kê, hơn 80% dân Nepal theo Ấn Độ Giáo (Hinduism), khoảng 8% là Phật Giáo. Nhưng thực tế, nếu tách chư tăng và tín đồ Tây Tạng, Miến, con số thuần túy Phật Giáo Nepal từ thời vương quốc Shakya còn lại ít hơn nhiều.

Chính quyền Nepal đầu thế kỷ 20 cũng không khoan dung cho một tôn giáo lớn của nhân loại đã gieo hạt mầm đầu tiên trên đất Nepal của họ. Triều đình Rana trong những năm 1926 và 1944 từng có chính sách kỳ thị với tông phái Theravada và một số tăng sĩ thuộc tông phái này đã bị trục xuất sang các nước lân cận.

Người dân Nepal, nhất là các chủ tiệm bán đồ kỷ niệm, rất hãnh diện khi giới thiệu với du khách “Nepal là quê hương của đức Phật” nhưng đó chỉ là cách để gạ bán hàng chứ không biết gì về Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế hay kinh điển Phật Giáo.

Tương tự ở Chennai, miền Nam Ấn Độ, khi tôi hỏi món quà kỷ niệm nào khách ưa chuộng nhất, người chủ tiệm trả lời “tượng Phật”.

Dù trong hoàn cảnh nào và được đối xử ra sao, đức Phật vẫn mỉm cười.

BRAINTREE, MASSACHUSETTS

Nhớ lại chuyện nhiều năm trước. Không bao lâu sau khi dọn về nhà mới, ngày nọ nhìn ra đường, một tu sĩ Phật Giáo còn khá trẻ đang đứng ngắm căn nhà đang treo bảng bán. Vợ tôi nhìn tôi “Anh đến đâu là có chùa theo đó.” Lúc đầu tôi tưởng là thầy đi lạc nhưng khi bước ra hỏi mới biết vợ tôi nói đúng.

Thật vậy, vài tháng sau, căn nhà của người láng giềng trở thành ngôi thiền viện. Thiền viện Bồ Đề như tên chùa được khắc vào viên đá trước cổng ra vào. Ngoại trừ những ngày lễ lớn ghé qua thăm và chúc sức khỏe các thầy, tôi ít khi đến chùa và cũng không nhớ hết pháp hiệu các thầy. Một phần vì bận rộn với đời sống và phần khác cũng không cảm thấy cần thiết. “Trong núi không có Phật” như Tổ Trúc Lâm đã dạy thì trong chùa cũng chưa hẳn có Phật. Đến chùa để tìm gì?

Ngày còn nhỏ tôi thường niệm hồng danh Đức Phật và ngủ nhiều năm dưới chân ngài. Những đêm khuya im vắng tôi ngồi dưới hiên chùa ngắm hàng vạn vì sao mọc kín vòm trời. Tôi tâm sự với ngôi sao những chuyện thầm kín nhất, những chuyện tôi chưa từng nói với ai và cho dù tôi muốn cũng chẳng có ai gần gũi để cùng san sẻ. Qua Mỹ cũng thế. Tôi niệm Phật và nghĩ đến những lời dạy của ngài ở bất cứ nơi đâu dù khi ngồi nhìn những đám mây bay bên kia cửa sổ phi cơ, những đêm thao thức và ngay cả những chiều kẹt trên xa lộ. Tôi yêu đạo Phật vì đạo Phật là đạo của tình thương, bao dung và tha thứ.

Tôi chợt hiểu ra, đến chùa không phải để “gặp Phật” mà gặp lại chính mình.

TRẦN TRUNG ĐẠO

(Ảnh ttđ “Một chân dung Đức Phật trên đường phố Nepal”)

May be an image of text

Tháng 4 trên môi hôn lửa cháy

Anh sẽ làm cho em một bài thơ không mã vạch
Không chất lượng lưu thông không hạn định ngày dùng
Chỉ có sương mù và cơn đau đến hồi chung cuộc
Chỉ có cơn mưa đang liên hồi cào ngoài khung cửa
Chỉ có những cơn điên không bao giờ thôi dừng lại
Anh tự bóp nát trái tim mình không cho chết lịm
Phải chạy trốn ngay trong cuối tháng tư nầy

Anh chạy trốn những trận bia không bao giờ tàn cuộc
Những cú nốc out của những tay chơi trong quán nhậu cuộc đời
Chạy trốn những cơn say đang giải phóng anh khỏi những vết hằn buồn thảm
Đừng share like khi biết rằng anh không cần thiết
Những hạnh phúc mong manh những tên tuổi phập phù

Đừng chia sẻ tương thích với anh những kỉ niệm hận thù
Những trói buộc những gọi mời gian trá
Đừng đưa khuôn mặt anh vào những cuộc duyệt binh tầm tã
Những mồ hôi những khẩu hiệu 
Những muộn phiền hầm hập
Đừng ngụ ngôn trong tháng tư 
Và những tháng ngày nào khác
Anh mệt lắm rồi những nhàu nhĩ văn chương

Anh không cần đâu tháng tư 
những con mèo đang mài vuốt
Dưới bóng râm hoan hô 
của một lũ chuột đồng
Không cần đâu những hội hè miên man những lim dim trầm trọng 
Không lầm lẫn nữa đâu nếu một ai đó chơi trò cách mạng
Trò chơi của đám đông trong bóng đêm của địa ngục bạo tàn

Anh sẽ làm cho em một bài thơ 
không chấm xuống hàng
Anh là một 
cho em thôi 
không dành cho ai khác
Anh sẽ chống lại 
nếu ai đó xếp anh vào hàng ngũ
Tháng tư nầy đừng 
cải tạo trái tim anh .

NGUYỄN TẤN CỨ

GIẤU THƠ DƯỚI ĐÁY CÁT LẦY…

 

1-

Mùa xuân vừa chớm nụ
người đã chôn hồn tôi
bằng sử thi phủ dụ
nguỵ trang hùng ca mù.

Con xúc sắc đã gieo
canh bạc bịp trót dự
cạn láng cho đời ai
vốn liếng nào còn giữ?

Khi linh hồn bị cướp
tôi níu giữ giấc mơ
đời, nhe nanh dương vuốt
truy đuổi theo lời thơ.

Lưới bẫy đời rình rập
con chim nhỏ kinh hoàng
chôn thơ đi lánh nạn
vào dòng máu hoang tàn.

2-

Xin vuốt ve dùm tôi
mái tóc khô bù rối
bầy rắn rít ngàn năm
gậm mòn dần sự sống.

Thở cùng tôi nhịp thở
của dòng máu cằn khô
mùa xuân vừa thoáng mở
đã trối trăng từng giờ.

Nới dùm tôi vòng dây
siết nghẹn từng ước mơ
vai người đâu, tôi dựa
hồi sinh những câu thơ?

Xin hôn lên mắt tôi
trong tình sầu đắm đuối
trước khi người bịt mắt
dụ tôi vào nẻo tối.
Xin oan hồn phục sinh
Xin cho thơ được nói
Xin cho tôi làm người.

3-

Giấu thơ xuống vực thẳm đời
nhớ trăng cõi mộng
chôn lời,
vong thân.

Ái Điểu

 đồng dao

còn nguyên một vết thương dài
trên lưng ngựa tía non đoài mây trôi
nằm nghe sông biển ngậm ngùi
sóng reo mà ngỡ quân nơi sa trường 

còn nguyên cung kiếm giữa đuờng
bẻ đôi ném lại xót thương chiều tàn
ngó về cõi mộng trời Nam 
một đàn chim Việt rời đàn bay đi

còn nguyên mắt môi xuân thì
chít tang sô trắng còn gì dấu yêu
tiếng kêu cánh vạc ngang chiều
rơi trên dòng nước tiêu điều lá trôi

còn nguyên vết chém ngang trời
cắt lìa sinh tử nhánh đời dọc ngang
mắt ai mở rộng bàng hoàng
nhớ cơn mộng cũ ngập tràn máu tươi

còn nguyên cánh buồm ra khơi
trùng dương uất hận nhuộm trời đỏ au
cắn môi cho giọt máu đào
rơi trên phần mộ chôn nhau năm nào

còn nguyên lời hát xanh xao
chiếc thân viễn xứ mưa mau chân thầm
như con chim Việt đầu cành
nhớ trời Nam cũ hồn xanh rêu buồn

còn nguyên đóm lửa soi nguồn
thắp soi trí nhớ mặt trường giang cau
hôm ra về trời mưa mau
tưởng ai ngồi hát đồng dao một mình 

đâu rồi quá vãng nhục vinh
đôi vai mỏi gánh tội tình giang san
bi thương gửi gió mây ngàn
vầng trăng bên ấy trời Nam có còn?

Phạm Quang Trung 

BÀI HỌC CHO CÁC EM KHI DI TẢN

50 năm một bài thơ của Đặng Phú Phong. Anh sáng tác bài này vào tháng 3 năm 1975 khi còn ở Bình Định và đang trên đường di tản. Bài thơ được đăng trên tạp chí văn chương THỜI TẬP do nhà thơ Viên Linh chủ trương, số phát hành ngày 15-4-1975 tại Sài Gòn. Số báo này được xem như là số báo văn học cuối cùng của miền Nam.

Các em hãy đi chầm chậm cùng thầy
mình tình cờ gặp gỡ nhau đây
trong cơn khói lửa
tuy rằng phía sau đạn bom đang nổ
nhưng chắc gì phía trước là yên

Ô kìa! Sao có em còn mang theo sách vở
hãy quăng đi, mang theo gạo mà ăn
nếu có sức đèo thêm mền chiếu
sách vở kia đâu nuôi được kẻ đói lòng

Các em hãy đi chầm chậm cùng thầy
hãy nghe thầy nói
dù đây không phải là lớp học
dù hôm nay không có giờ học cuối tuần
và còn rất nhiều em vắng mặt

Thầy sẽ kể cho các em nghe
chuyện thầy tản cư trốn Pháp
nằm dưới gốc xoài kiến cán phồng cả thịt da
ăn cơm ghé lang mì quá nửa
đi mỏi chân đứng lại khóc òa
mẹ phải bỏ bớt hành trang
gánh thầy trong chiếc thúng
chuyện đã xa xưa
tưởng không còn nhớ nũa
nào hay giờ hiện rõ ra đây
thầy sẽ nói cho các em nghe
trong chuyến tản cư này
không giống như lần thầy trốn Pháp

Thầy sẽ giảng cho các em nghe
thế nào là yêu thương
thế nào là đùm bọc
và thế nào là vui buồn thù ghét
cho các em hiểu rõ
mà các em bấy lâu nay dùng nó không đúng chỗ, sai lầm

Các em hãy đi chầm chậm
để còn sức vì đường dài vô định
để nằm xuống ngồi dậy thật nhanh
khi đạn réo qua đầu
vì đêm bây giờ quá sâu
vì ngày bây giờ dài như một năm ánh sáng
và những cụ già run rẩy
và những em bé bò lê la
họ rất cần chúng ta tiếp sức.

Bây giờ đây chúng ta dùng trước hết
chữ yêu thương cho đúng nghĩa xem nào
chữ đùm bọc ngời sáng như vì sao
em hãy nhìn nó như nhìn sao bắc đẩu

Các em vui rồi đó
khi nghe tiếng thở phào của người mẹ
mà các em đã đỡ giúp hành trang
để đôi tay mỏi được rảnh rang bồng đứa bé
Và đây các em có buồn chưa:
khi tay các em xách
vai các em mang
và sức các em thi chỉ bao nhiêu đó
nhưng đàng sau còn vô số kẻ tật nguyền
bị rớt lại vi chẳng còn hơi sức

Và sau hết các em hãy thù ghét
hãy ném đá vào đầu chiến tranh
hãy nhổ nước bọt vào nó
rồi chặt cổ nó
và hãy hát vang ca tụng hòa bình
cho đoàn người chúng ta
yên lòng đi tìm chút bằng an cho cuộc sống.

ĐẶNG PHÚ PHONG

(Bình Khê, những ngày di tản 11-3-1975)

MÙA HẠ

Mùa hạ cuốn anh đi cuốn em đi
Mùa hạ cuốn bùng theo mùa hạ
Cuốn chúng ta vào những bụi mù
Cuốn chúng ta những lòng thù hận

Cuốn vào chổ ngồi hoang vu trơ khấc
Ướt đặc mồ hôi tháng 4 không gió
Không có một giọt mưa nào rơi
Không một bóng cây nào che chở

Mùa hạ của những ngày chối từ
Buồm căng lên những ngày căm giận
Mùa hạ của những cuộc nhổ neo
Mùa hạ của những cuộc phiêu tàn
Mùa của chìm sâu nhạt nhòa mỏi mệt


Ôi quê hương bạo tàn thảm thiết 
Ôi quê hương trừng khốc lưng tròng
Những đứa trẻ chưa kịp buồn đã mạt
Chưa kịp cười tươi hồn nhiên nước mắt
Chưa kịp  làm người đã tắt thở rưng rưng

Mùa hạ của những sợi dây thừng
Neo sâu vào trong giấc mơ điên dại
Cuốn chặt vào cổ tay những tên đồ tể
Chúng làm thịt đêm xanh bằng bóng tối
Chúng thắt cổ tương lai bằng hư ảo tham tàn

Mùa hạ thầm thì trên môi khô 
lời kinh mặn chát
Mùa hạ của bao lâu xa 
đau đớn  vẫn không lành
Mùa hạ quất xuống 
như điên 
Năm mươi năm 
rớm máu
Nắng táp sau lưng      
lửa cháy trong lòng…

NGUYỄN TẤN CỨ

NHỮNG KHÚC HẬU CHIẾN XA VỜI

CÁI BÓNG ĐÊM QUA

Đêm qua tôi đã mời cái bóng một điếu thuốc
Cái bóng buồn thiu dừng lại chỗ tôi nằm
Cái bóng hỏi thăm đường về với mẹ
Cái bóng xa nhà đã hơn 45 năm

Cái bóng bảo không dám về đơn vị
Vì đã tiêu khi đụng trận lần đầu
Cái bóng sợ như rất nhiều bóng khác
Nát thần hồn giờ không biết xác nằm đâu

Tôi hỏi bóng ở bên nào chiến tuyến ?
Bóng lặng thinh và chỉ đứng tần ngần
Mưa ngoài ngõ cứ như ai đang khóc
Cái bóng buồn y hệt bóng nhân dân…

Tôi không thể chỉ đường cho anh về với mẹ
Thôi thì ngồi xuống đây vấn điếu thuốc rê
Về Hà Tĩnh, Thái Bình hay Đồng Tháp…
Nếu không nhớ được nhà thì đâu cũng là quê…

Sáng nay dậy thấy lòng buồn rười rượi
Ra ngã ba đốt mấy nén hương trầm
Khấn Trời Phật có linh thiêng xin tiếp dẫn
Đưa hồn các chiến sỹ về nhà với mẹ từ tâm

Trong hương khói chuyến xe đò dừng lại
Có ai đó trên xe mĩm miệng cười thầm…

(Trung Dũng Kqđ)

tháng tư, đọc NỬA HỒN XUÂN LỘC của Nguyễn Phúc Sông Hương.

 

  Hôm nay 
đọc “NỬA HỒN XUÂN LỘC”
 Nước mắt từ lâu tưởng cạn rồi
Ta khóc
Như chưa từng được khóc
Như nhìn chiến trận mới đây thôi

  Mây Xuân Lộc đỏ như màu lửa
 Đã dịu trong màn nước mắt rơi
 Người đi không nở câu chia biệt
 “Em giữ dùm ta nửa cuộc đời!”
 “Cổ lai chinh chiến!..Ừ! Ta biết…
Lính trận…thì ai cũng vậy thôi!”


Cắn răng bỏ lại hồn Xuân Lộc
 Ghìm súng
Trông theo bốn hướng trời
“Lỡ mai…ta có không về được
 Em hãy quên…từng mơ lứa đôi!”

                            *

  Hôm nay gặp lại trời Xuân Lộc
 Một nửa trăm năm
 vẫn có người
Nhớ màu áo chiến
mùi sương gió
 Ký ức vẹn nguyên của một thời
 SÀI GÒN chết điếng
nhìn Xuân Lộ
 Nghẹn ngào…
đành phải phụ em thôi!

                            *

 Bao năm gặp lại hồn Xuân Lộc
Nghe nhịp tim xưa lạc mấy lần
Nghe gió SÀI GÒN như tức tưởi
Thương đời kiêu bạc 
nhớ chinh nhân.
 Một nửa trăm năm 
đầu bạc trắng
 Nhắc thời binh lửa vẫn còn đau!
 Nhiều đêm
mơ thấy về Xuân Lộc.
 Pháo sáng chia đường…
 lạc mất nhau…

                            *

 Người ơi! 
có nhớ về Xuân Lộc
 Nhớ màu mây lửa đốt quê hương
Đốt tim người Lính đi ngày ấy
Gởi hẹn thề 
trong khúc đoạn trường…
Người ơi!
có nhớ về Xuân Lộc
Trận đánh đầu tiên
đến cuối cùng.
 Rút quân!
 chỉ muốn quay đầu súng
Máu nóng tuôn trào…
muốn vỡ tung…!

                           *

   Hôm nay đọc 
 “NỬA HỒN XUÂN LỘC.
Người Lính năm xưa biết có còn?
 Đã nghe Người hận 
vì buông súng
 “Lẽ ra phải chết giữa Sài Gòn!”
Người mang theo
 nửa hồn Xuân Lộc
Trên bước ly hương cuối dốc đời
 Còn ta
giữ nửa hồn Xuân Lộc
Trong trái tim
từng mơ lứa đôi…

LÝ THỤY Ý

                               

ĐI QUA MÙA XUÂN

Ta nắm tay nhau đi qua mùa xuân
bằng bước chân trần ngông nghênh nắng hạ
làm sao bước qua nỗi tương tư đầy gió?
và nỗi buồn trầm tích tự nghìn năm

ngày mênh mang trong ta mênh mang
nắng tháng tư xa nhau. em có nhớ?
em giấu ở đâu ánh mắt trăng rằm?
để Sài Gòn xốn xang mùa nắng lửa

nỗi đau vặn mình vắt ngang vai. từ đó…
anh đi qua. từng góc phố thở dài
như con sâu đo co duỗi miệt mài
đo từng đoạn đời. ánh sáng và bóng tối.

ta nắm tay nhau đi qua mùa xuân
góc phố bàng hoàng. ngẩn ngơ thềm gạch vỡ
em có nhận ra lòng đã xa xăm?
tình cũng thế lăn dài theo cuộc thế

tháng tư và. hàng me già lặng lẽ
Saigon. mùa phượng vắng tiếng ve
ta nắm tay nhau sao trùng trùng dâu bể
tình chấp chới bay
hun hút đường về.

Nguyễn Ngọc Nghĩa
(16.04.2025)

CÕI NHÂN GIAN

   Dân gian có câu” Đừng nghe cave kể chuyện, đừng tin con nghiện trình bày”.

  Ngọc là cave, lại mới cai nghiện, nó kể câu chuyện này. Thật, hư lẫn lộn.

    Cũng có thể Ngọc đã đọc ở đâu đó. Trong di chứng mộng du của ma tuý, nó hoang tưởng và hoá thân vào câu chuyện.

    ***

  Chiều tối hôm ấy có điện thoại của thằng cò gọi, nó bảo Ngọc ra trước đường, có xe đón.

    Không phải là xe ôm, mà một chiếc bốn bánh đang đợi.

    Ngọc mở cửa xe, lòng có chút nghi ngại, hỏi: dạ, mấy người? Đông thì em gọi thêm.

    Ngọc nhìn người đang lái xe. Trực giác cho thấy không phải là đám giang hồ, vũ phu.

    Người đàn ông không nhìn lại, giọng ông ta nhẹ nhàng, thân thiện: không sao đâu, đừng lo lắng nhiều.

    Ngọc lên xe từ cửa sau. Người đàn ông nói: xin lỗi, tôi cũng già rồi, cứ gọi tôi bằng chú. Cháu có thể từ chối nếu thấy bất tiện. Rồi tôi sẽ nói cho cháu nghe việc tôi cần cháu làm.

    Ngọc có cảm giác an tâm nhưng vẫn nghi ngại. Nhiều ông khách già hơn ông ngoại nó, vẫn thích được gọi bằng anh mà. Ông này lạ lùng quá, điều gì sẽ đến?

    Ngọc nói: dạ, đương nhiên là ông đã biết em làm gì. Nếu là việc ngoài “chuyên môn” của em, em không làm được đó.

    Ông khách điềm đạm: cháu yên tâm, nếu cháu không đồng ý tôi vẫn trả tiền cho cháu. Còn làm gì, tôi sẽ nói sau.

  Xe đi qua nhiều đoạn đường, ra khỏi thị trấn, đến trước cửa một biệt thự.

  Ngôi nhà nằm sâu trong vùng cây, thật thơ mộng nhưng tạo cho Ngọc cảm giác bất an. Nó e sợ những điều kinh dị sẽ xảy ra.

  Ông khách như đoán được ý nghĩ của nó. Ông nói: ngoài trời gió lạnh, cháu vào trong cho ấm.

*-

    Ông ta dẫn Ngọc vào một gian phòng bài trí trang nhã. Giọng ông thân ái, như trong gia đình:’cháu ngồi nghỉ một chút, tôi cũng đói rồi, để tôi làm ít món ăn.

    Giây lát sau, Ngọc đã nghe mùi thức ăn. Nó không còn lo lắng, chỉ thắc mắc không biết ông khách này sẽ biểu mình làm chuyện gì. Khó hiểu quá.

    Ngọc dạn dĩ nói: chú, chú có cần con giúp gì không?

  Ông khách bưng ra khay thức ăn. Đơn giản, nhưng sang trọng: hai đĩa mỳ Ý, một đĩa thịt nguội khai vị. Có cả một chai vang.

    Ông ta rót rượu, nói: tôi quá quen  với việc bếp núc. Rượu khai vị, nhẹ thôi, cháu uống cho ấm và ăn tự nhiên, cũng đã tối rồi.

  Món ăn làm kiểu Tây, ngon. Ông khách tiếp đãi lịch sự, thân thiện. Ngọc cảm thấy an tâm.

  Một lúc sau, khi thấy Ngọc đã xong bữa, ông khách nói: bây giờ, mời cháu đi gặp con trai chú. Nó ở phòng trong.

  Ông ta mở cửa. Căn phòng rất rộng, có cả giường ngủ, bàn làm việc, như một phòng lớn của khách sạn.

  Trên bàn ăn, Ngọc thấy một cái bánh sinh nhật. Nến đã thắp, sáng lung linh.

  Ông khách gọi: Đức ơi! Mở nhạc đi, bạn đến mừng sinh nhật con đây.

  Từ phòng trong, có chiếc xe lăn chậm rãi chạy ra.

  Ngọc mím môi ngăn tiếng kêu hoảng sợ của mình.

  Trên chiếc xe lăn là một người không tay, không chân.

  Ông khách nhẹ nhàng đặt tay lên vai Ngọc, trấn an: nó là người. Người, rất người như mọi người.

    Ông kể: vợ tôi, sau khi sinh nó được tròn tháng đã bỏ đi. Chính xác là 25 năm rồi. Tôi ở vậy nuôi thằng bé.

    Đức- tên thằng bé- sinh ra đã không có tứ chi. Tay, chân nó teo lại chỉ còn một mẩu nhỏ. Nhờ tập luyện nhiều, Đức dùng mẩu thịt nhỏ đó đủ để điều khiển xe lăn, máy vi tính và các thiết bị trong phòng.

  Đức bị phế tật thân xác, nhưng trí óc nó bình thường. Nó hiểu được đời sống nhờ công nghệ thông tin. Tôi cũng thường chở cháu đi ra ngoài nhìn người, nhìn cảnh vật.

  Ông ngừng câu chuyện: mà thôi, chúng ta hãy mừng 25 năm làm người của Đức.

    Ngọc thầm nghĩ: mừng! Có thể mừng cho cái sự sống người không ra người không? Ngọc lại liên tưởng đến Stephen Hawking. Và nó mong phép lạ đến cho hai cha con tội nghiệp này.

  Ông khách nắm tay Ngọc, đẩy chiếc xe lăn đến trước bàn ăn.

  Đèn, nến huyền ảo trong tiếng nhạc mừng sinh nhật.

  Ông khách cất tiếng hát: Happy birthday to you.

  Ngọc hát theo. Đức, cái thân hình không tay, không chân cũng hát: Happy birthday to you. Happy birthday to you..

  Giọng Đức ngọng nghịu, như vọng về từ một cõi oan khiên nào đó.

    Những giọt nước mắt đã lăn trên mặt người cha. Ngọc cũng rưng rưng cay mắt.

*-

  Một lúc sau, như đợi một khoảng lặn trong giai điệu ma mị, người cha nói riêng với Ngọc: tôi thật lòng cảm ơn cháu. Tôi có đề nghị này muốn nói, mà… khiếm nhã. Cháu có thể từ chối.

  Ngọc thông cảm: dạ, chú cứ nói.

  Người cha khẽ khàng nói tiếp: dù thân xác không đầy đủ, không ra người. Nhưng Đức có lý trí, có tâm hồn như Người. Và, tất nhiên, nó cũng có ham muốn tình dục như mọi người.

    Trong tồn sinh của đời mình ai cũng có khổ đau, có hoan lạc. Đức đã gánh chịu sự bất hạnh quá nặng của kiếp người từ khi mới chào đời.

  Người cha nghẹn ngào tiếp tục ý tưởng:

  Cháu à, nhân ngày sinh của Đức, chú muốn cho con chú món quà tặng của tạo hoá… đó là khoái cảm lạc thú giữa nam và nữ.

    Chú muốn con giúp Đức được làm người, được như mọi người.

    Chắc con đã hiểu. Con có thể từ chối. Chú không trách con đâu.

    Ngọc sững sờ. Nó yên lặng, như không còn trong cõi nhân gian này.

  Rồi nó nghĩ: tôi, tôi chỉ là một con đĩ, xã hội không xem là người, lại được giúp một người sống cho trọn chữ con-người sao?

*-

  Có lẽ ai cũng sẽ tò mò muốn biết kết cuộc câu chuyện. Mà con Ngọc ngưng, không kể nữa. Cũng không có đứa nào biểu nó kể tiếp.

ÁI ĐIỂU

( viết theo lời kể của Ngọc )