BIÊN GIỚI CA

Núi cao chớn chở mồ uổng tử
Rừng xanh bát ngát hồn ma thiêng
Chiến địa máu trào như là suối
Biên giới hề, âm u dị thường!

Biên giới ngày nắng nung chảy mỡ
Biên giới đêm lạnh như cắt da
Xác chết rủ nhau ngồi ngay dậy
Đốt lửa rừng lên mà hát ca…

Ta mang thân trấn thủ lưu đồn
Ba năm biên giới nhận là con
Ba năm man dại theo rừng rú
Buổi chiều ngồi vuốt chòm râu non

Bạn ta áo bạc màu sương gió
Đem tuổi xuân phơi giữa chiến trường
Từ buổi lên đường xa phố chợ
Chưa từng san sẻ chuyện yêu đương

Ngày mai xuống núi ta tìm rượu
Quyết chí tiêu pha hết nỗi buồn
Những lòng lính trận thèm say quá
Men nồng chống lạnh gió biên cương

Thôi em, chớ có chờ ta nhé
Đã mặn lắm rồi lệ núi sông
Bạn ta trăm đứa qua sông Dịch
Mẹ già mòn mỏi cũng bằng không

Những kẻ thù ta thân gầy đói
Núp lá rừng xanh chực bắn rình
Nhai vắt cơm khô mà lặn lội
Cam chịu hề, sinh bắc tử nam

Bắc nam đau xót hờn chia cắt
Đem máu xương cùng bón đất hoang
Biên cương đâu thấy người cô phụ
Thờ chồng quấn vội chiếc khăn tang

Chiều nay sương xuống mờ quan ải
Nghe tiếng hồn ma hú não nề
Vỗ tay ta hát hề, biên giới
Súng đạn người đi chẳng trở về…

NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN

MỘ KHÚC

1.

treo giấc ngủ lên trên cành đêm
thêm chiếc khăn choàng đen
ngày dịu dàng lên tiếng

2.

vo tròn tiếng cười
ném vào giữa lằn ranh sinh tử
sững sờ giọng hát thoát thai

3.

đóa hồng bị bỏ quên
đỏ thẫm một màu buồn
rưng rức khóc trong đêm nguyệt thực

4.

bóng râm của hiện tại
đã che mất lối đi về của giấc mơ
như một minh chứng của sự xâm lăng

5.

cơn bão đã tàn
cuộc vui khởi sự
nước mắt của sự lặng im đòi trả giá

6.

uốn cong niềm vui làm cung
lấy nỗi buồn làm tên
tôi nhắm vào đích của cuộc hành trình

7.

đã từ lâu
con sơn ca không còn hót nữa
bởi tiếng đồng vọng của suối nguồn đã tắt

8.

những lằn roi định mệnh
quất vào đám đông
khi không còn một sự lựa chọn nào khác

9.

khúc bi ca đã lặng
nhưng lời ai oán vẫn còn vọng trong hư vô
đợi ngày tiễn biệt

10.

chỉ còn lại sự đợi chờ
khép nép bên niềm hy vọng mỏng manh
trong một đêm bầu trời đầy sao    

                     NP phan

BÀI THƠ BUỒN LÀM TRONG NGÀY CHỦ NHẬT

Trời hôm nay có vẻ / một nửa nắng nửa mưa. Bình minh mà mờ mờ, chim không về ríu rít.

Mưa ngày mai mới thiệt. Mưa hôm nay chắc không. Bão chắc chuyển khác luồng. Hy vọng Chúa Nhật đẹp…

Sống, bây giờ thời tiết / chuyện lo lắng từng ngày / của nhiều người đi “cày” / để trả nợ cơm áo…

Vài năm nay điên đảo, biển đổi thời tiết hoài. Bão, lụt giết nhiều người, mả mồ không còn nữa…

Sống mưa dầu, nắng lửa, chết lò lửa hỏa thiêu…Bình tro gửi hơi nhiều, nhiều kệ Chùa sập, đổ…

Cái gì thấy… là ngó, còn ngắm thì thôi, đi…Có nghe tiếng thở dài… người xa người, xa xứ…

*

Năm mươi năm dang dở, bỡ ngỡ rồi quen dần… mà nhàn nhạt tình thân: ông, bà, con, cháu…lợt…

Nguyễn Du dùng chữ “lợt” hai câu thơ nghẹn ngào: “Quê người cỏ lợt màu sương, đường đi thêm một tấc đường một đau!”.

Đau có nghĩa là sao? Cứ nói: “Đau Thiệt Chớ!” y chang như đứa nhỏ / than khi trợt bước chân…

Hôm nay…

Tôi bâng khuâng: Trời nửa mưa nửa nắng. Cái mặt sân phẳng lặng, đồ ăn cho chim, chờ…

… Có lẽ chờ bài thơ. Buồn. Buồn. Buồn. Chúa Nhật.

Trần Vấn Lệ

CHẠM THU

Về lại cổ thành mây xám
Ngô đồng rơi mấy giọt thu
Gió còn thơm mùi tháng tám
Bến sông chìm khuất sương mù

Vườn rêu xanh hoài nỗi nhớ
Con chim trốn nắng hiên nhà
Tiếng chuông chiều vang tĩnh mịch
Như rơi tận cuối giang hà

(Và tôi…
như người có lỗi
Bỏ quên…
lâu quá
quê nhà…)

Tôn Nữ Thu Dung

LÚC XUỐNG NÚI

“Chân đã xa. Trùng trùng. Ly ly biệt
Thuở tang bồng gãy gánh bụi hồng xưa”( thơ Hạ Quốc Huy)

1.

Lời thơ viết mênh mang ngày quy ẩn
Khắc ngang tàng đá dựng đỉnh hoang vu
Lúc xuống núi. Rừng chuyển động vào thu
Trên tóc gió. Sương khuya còn ẩm ướt

2.

Gởi tới em một lần đi không đến
Một môi cười không hẹn buổi chia tan
Một vòng tay chơn chất đến ngỡ ngàng
Em qụy xuống ôm bàng hoàng xao xuyến

3.

Ta vin tay bẻ cành hoa củi đước
Cài lên mây đợi gió thổi phương ngàn
Mây trôi đi, gió chần chừ ở lại
Nhắn chàng. Dừng hệ lụy. Sẽ ly tan

4.

Thơ hoảng hốt chắp tay cầu xin gió
Gió lạnh lùng không nghe tiếng than van…
Tim bật khóc. Từ đây thêm ngấn lệ
Nửa chia nàng. Nửa tặng ngã đường mê

5.

Hồn Lạc Tướng trên cây lao ngạo nghễ
Hú chập chùng lẫm liệt bản trường ca
Miền đất cũ óng ánh lệ kiêu sa
Lững thững ta đi giữa vòng nhật nguyệt

6.

Chân đã xa. Trùng trùng. Ly ly biệt
Thuở tang bồng gãy gánh bụi hồng xưa
Phong trần qua hoa lạnh đất đổi mùa
Năm trôi. Tháng trôi. Ngày trôi ước hẹn

7.

Ta muốn hỏi trời xanh và biển mặn
Có góc nào chôn được nửa vầng trăng ?

HẠ QUỐC HUY

TÌNH SẦU!

I. HUYỀN KIÊU, NGHĨA LÀ KIÊU, THÊM DẤU HUYỀN

Nhà thơ Huyền Kiêu tên thật là Bùi Lão Kiều. Huyền Kiêu có nghĩa là Kiêu, thêm dấu Huyền, thành Kiều.

Ông sinh năm 1915, và mất năm 1995, thọ tám mươi tuổi.

Ngoài làm thơ, ông còn là dịch giả. Huyền Kiêu làm thơ không nhiều. Ông nổi tiếng với hai bài Tương Biệt Dạ và Tình Sầu.

******

II. NHỮNG TRANH CÃI VỀ BÀI THƠ TƯƠNG BIỆT DẠ

Bài Tương Biệt Dạ dưới đây cũng tốn kém nhiều tranh cãi của người đời sau, xuất phát từ hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.

Đại loại thế này, đây là bài thơ của Huyền Kiêu làm, nhân buổi tiệc chia tay của hai người bạn thân thiết là Khái Hưng và Nhất Linh. Sau đêm đó, Nhất Linh sẽ lên đường sang Tàu, chuẩn bị cho những hoạt động bí mật của ông sau này.

Tiệc được tổ chức tại nhà Thạch Lam, Thạch Lam là em ruột của Nhất Linh. Hôm ấy, có: Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng, Đinh Hùng, Huyền Kiêu, Thế Lữ và Nguyễn Tường Bách.

Tranh cãi, bắt đầu diễn ra ở chi tiết: Thạch Lam, chủ nhà, chính là tác giả của câu mở đầu Tương Biệt Dạ, hay, ông còn là người viết nhiều câu khác nữa, ở trong bài.

Nhưng kiểu gì kiểu, đã ký tên Huyền Kiêu thì là của ông Huyền Kiêu. Vả lại, đều là những nhà văn, những thi sĩ có tên tuổi vào thời ấy, thì sá gì, một vài câu thơ, do mình nhân lúc hứng khởi, do mình nhân lúc xúc động, mà đóng góp vô.

Theo tôi, những chuyện ấy, chẳng gì to tát. Trà dư tiểu hậu thì cũng được, còn quyết liệt làm cho ra ngô ra khoai, thì để được gì, và để làm gì. Các ông ấy, bây giờ, biết đâu, nơi tiên giới, đang ngồi khề khà với nhau bên chén rượu, ván cờ, có còn lưu tâm đến chuyện trần thế nữa đâu, mà ta ở dưới này, xôn xao, cho thêm mệt.

******

III. BÀI THƠ TƯƠNG BIỆT DẠ

01. ĐINH HÙNG – NGƯỜI LÀM SỐNG LẠI TƯƠNG BIỆT DẠ

Bài thơ Tương Biệt Dạ được viết vào mùa thu năm 1940 của thế kỷ trước, nhưng mãi đến năm 1965, khi cả Khái Hưng và Nhất Linh đều đã mất, thì câu chuyện kể về đêm trăng xưa này, mới được Đinh Hùng – người duy nhứt đêm ấy, di cư vào Nam – sực nhớ ra, và thuật lại.

Tương Biệt Dạ

Hiu hắt trăng khuya lạnh bốn bề

Ý sầu lên vút tới sao Khuê

Quý thay giây phút gần tương biệt

Vương vấn người đi với kẻ về

Ngồi suốt đêm trường không nói năng

Ngậm ngùi chén rượu ánh vừng trăng

Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ

Có giống như mình lưu luyến chăng

Đã tắt lò hương lạnh phím đàn

Thư phòng sắp sẵn để cô đơn

Trời cao mây nhạt ngàn sao rụng

Một giải sương theo vạn dặm buồn

Sớm biệt ly nhau không nhớ nhau

Nửa đêm chợt tỉnh bỗng dưng sầu

Trăng mùa xuân đó ai tâm sự?

Anh đã xa rồi, anh biết đâu.

(Hà Nội – mùa xuân 1939)

******

02. TƯƠNG BIỆT DẠ – BÀI THƠ VIẾT VỀ BUỔI CHIA TAY CỦA ĐÔI BẠN KHÁI HƯNG VÀ NHẤT LINH

Tiệc rượu đêm này, được tổ chức cho Khái Hưng chia tay Nhất Linh. Hai người vốn có một tình bạn thân thiết hơn cả anh em ruột thịt, vì thế, nên buồn. Mà người buồn thì cảnh có vui đâu bao giờ: Hiu hắt trăng khuya lạnh bốn bề / Ý sầu lên vút tới sao Khuê / Quý thay giây phút gần tương biệt / Vương vấn người đi với kẻ về.

Sầu mà mô tả, vút tới sao trên trời, nghĩa là sầu đã lắm lắm rồi đó. Cộng thêm với từ “tương biệt”, khiến cảnh và người cứ man mác, bâng khuâng những niềm không rõ. Nào có đâu ai đặt đá tảng vào lòng, mà vẫn cứ nghe nỗi buồn nằng nặng.

Chỉ có bảy người trong tiệc rượu thôi, mà bà Thạch Lam, qua sáng ngày hôm sau, đếm được cả thảy mười một vỏ chai rượu. Để uống đến độ như vậy, hẳn là họ đã phải trải qua một cơn buồn lắm lắm: Ngồi suốt đêm trường không nói năng / Ngậm ngùi chén rượu ánh vừng trăng / Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ / Có giống như mình lưu luyến chăng.

Buồn thì thường đi liền với cô đơn, với lạnh lẽo, với quạnh hiu, trống vắng: Đã tắt lò hương lạnh phím đàn / Thư phòng sắp sẵn để cô đơn / Trời cao mây nhạt ngàn sao rụng / Một giải sương theo vạn dặm buồn.

Cái câu “anh đã xa rồi, anh biết đâu”, theo tôi, cũng là một câu hay. Anh đây là chỉ Nhất Linh. Anh đã lên đường rồi, anh có biết cho chăng, chúng tôi, những người ở lại, nhớ anh, và lo lắng cho anh, biết là chừng nào.

Nguyễn Tường Tam, tức Nhất Linh, không chỉ mang con trai mình cho bạn làm con nuôi, đổi tên từ Nguyễn Tường Triệu thành Trần Khánh Triệu, con của Trần Khánh Giư, tức Khái Hưng, vì Khái Hưng hiếm muộn, không có con, mà hai ông Nhất Linh và Khái Hưng còn viết chung nhiều tác phẩm xuất sắc, để lại cho đời sau như: Anh Phải Sống, Gánh Hàng Hoa và Đời Mưa Gió.

Thật ít có một tình bạn văn nào đẹp, đồng điệu, thân thiết, tri kỷ đến như vậy, xưa nay.

******

IV. BÀI THƠ TÌNH SẦU

01. TÌNH SẦU – ĐƯỢC NHIỀU THẾ HỆ YÊU THÍCH

Bài Tình Sầu của Huyền Kiêu được rất nhiều người thuộc thế hệ sau ông, yêu thích và trích dẫn.

Trích dẫn, hoặc chép ra toàn bài khơi khơi vậy thôi, chớ thực tình, tôi cũng chưa thấy ai phân tích hoặc bày tỏ lý do vì sao mình thích. Chỉ là thấy dễ thương, chỉ là thấy rất thơ, nên thích.

Mà nói cho cùng, một bài thơ, sau khi hoàn thành, tác giả nào cũng chỉ mơ được như thế thôi, nghĩa là, được như bài Tình Sầu của Huyền Kiêu, được đông đảo bạn thơ ưa chuộng, được truyền tụng đến nhiều thế hệ sau.

Hiểu được thì tốt. Không hiểu, cũng chẳng sao. Thơ là thế mà. Bản chất thơ là thế mà.

Thơ, bất khả giải.

**

TÌNH SẦU

Xuân hồng có chàng tới hỏi:

– Em thơ, chị đẹp em đâu?

– Chị tôi hoa ngát cài đầu

Đi hái phù dung trong nội

Hè đỏ có chàng tới hỏi:

– Em thơ, chị đẹp em đâu?

– Chị tôi khăn thắm quàng đầu

Đi giặt tơ vàng trong suối

Thu biếc có chàng tới hỏi:

– Em thơ, chị đẹp em đâu?

– Chị tôi khăn trắng ngang đầu

Đi hát tình sầu trong núi

Đông xám có chàng tới hỏi

– Em thơ, chị đẹp em đâu?

– Chị tôi hoa phủ đầy đầu

Đã nghỉ trong hầm mộ lạnh.

(Hà Nội mùa thu 1938)

******

02. BÀI THƠ CHỨA ĐỦ BỐN MÙA, XUÂN, HẠ, THU, ĐÔNG

Theo thiển ý tôi, ở những năm bốn mươi của thế kỷ hai mươi, tức là, đã cách cho đến nay bốn thế hệ, mà, làm được một bài thơ như vậy, viết được một bài thơ như vậy, tôi cho là quá tài.

Huyền Kiêu quá tài.

Bài thơ lạ. Lạ không chỉ ở tứ thơ, ý thơ, mà còn lạ ở cách trình bày, tức là cách sắp xếp, tức là bố cục thơ.

Bốn khổ thơ là thứ tự của bốn mùa xuân, hè, thu, đông. Xuân thì hồng. Hè thì đỏ. Thu thì biếc. Đông thì xám. Và, duy nhất, đến rồi đi, đi rồi quay trở về, bốn mùa ấy, chỉ mỗi một chàng trai.

Cùng hai nhân vật còn lại, là hai chị em. Người chị luôn không có mặt khi chàng trai đến. Và kẻ xưng tôi, là em của cô gái, cũng là người trả lời các câu hỏi của chàng trai.

******

03. ĐI HÁI PHÙ DUNG TRONG NỘI

Mùa xuân, mùa đẹp nhất của đời người, chị của em bé chắc lúc ấy cũng chỉ ở khoảng tuổi mười bốn, mười lăm. Tuổi của hoa mộng. Tuổi của ước mơ. Con gái quê, nào sẵn đâu son phấn, muốn làm đẹp, chỉ biết hái đóa hoa cài lên tóc. Và đứa em ngây thơ, trả lời, chị còn đang đi hái phù dung, nội đâu đó quanh nhà.

Tuổi còn xuân, mùa xuân, sao không đi hái hoa xuân như hoa mơ, hoa mận, như trong bài hát Gái Xuân do Từ Vũ phổ thơ của Nguyễn Bính, mà lại đi hái phù dung nhỉ?

Phù dung, sớm nở tối tàn, hay ý Huyền Kiêu muốn ví, làm thân con gái, giống đóa hoa, vừa nở đẹp sớm mơi, chớm khuya đã lụi tàn: Xuân hồng có chàng tới hỏi: / – Em thơ, chị đẹp em đâu? / – Chị tôi hoa ngát cài đầu / Đi hái phù dung trong nội.

Chàng trai hỏi, rồi đi. Vẻ như cái hỏi ấy chỉ là một sự thăm chừng. Tại sao thăm chừng mà không đi tìm gặp? Cũng không rõ. Có thể, vì nàng khi ấy còn bé quá chăng, hay, vì chàng trai khi ấy còn đang nhiều vướng bận, chưa thể nghĩ đến tình riêng?

******

04. ĐI GIẶT TƠ VÀNG TRONG SUỐI

Mùa hè tới. Oi bức. Hanh nồng. Bầu trời đỏ một màu chói chang, khó chịu. Chị, lúc này, đã không còn tuổi bé thơ. Chị đã lớn, đã biết trồng dâu, nuôi tằm, lấy tơ, dệt lụa. Và lúc chàng trai ghé đến, chị đang ngoài suối giũ tơ: Hè đỏ có chàng tới hỏi: / – Em thơ, chị đẹp em đâu? / – Chị tôi khăn thắm quàng đầu / Đi giặt tơ vàng trong suối.

Khăn quàng đầu là để giữ cho mái tóc đừng xổ tung khi làm việc. Khăn quàng đầu là còn để che mát lúc trời nắng nôi. Chị trưởng thành rồi. Chị đã có thể nuôi em và tự chăm sóc mình. Vậy mà hỏi xong, anh ấy lại đi. Sao không đi kiếm chị mình nhỉ. Hẳn đứa em thắc mắc lắm. Nhưng biết hỏi gì bây giờ. Chắc có những lý do riêng không tiện nói. Thì đành vậy, chớ biết làm sao hơn.

******

05. ĐI HÁT TÌNH SẦU TRONG NÚI

Mùa thu, mùa hoàng hôn, mùa úa tàn, xế chiều, nắng tắt. Chị không còn trẻ nữa. Sau bao chờ đợi, chị đã thôi hy vọng. Và, chị buồn. Câu trả lời của đứa em cũng buồn, và, dường như, có chút trách thầm, nhè nhẹ: Thu biếc có chàng tới hỏi: / – Em thơ, chị đẹp em đâu? / – Chị tôi khăn trắng ngang đầu / Đi hát tình sầu trong núi.

Sao lại là khăn trắng ngang đầu? Cô ấy để tang cho cha mẹ vừa mới mất hay để tang cho chính cuộc tình mình? Một mình thơ thẩn vào núi sâu, hát những câu hát sầu cho núi nghe, cho chính mình nghe. Đứa em, vẳng nghe tiếng hát sầu của chị, chắc nó cũng buồn lắm. Nhưng hỏi chàng trai, thì nó vẫn không. Nó lờ mờ hiểu ra, rằng những quan tâm của người đàn ông ấy chỉ là những ái ngại, kiểu như, thấy mình có lỗi, khi mà, họ đã đâu đó, yên bề gia thất rồi.

******

06. ĐÃ NGHỈ TRONG HẦM MỘ LẠNH

Mùa đông, mùa lạnh giá. Có đôi, có cặp thì còn ủ ấm nhau trong những ngày rét mướt. Còn chị, chị một mình, mòn mỏi. Và chị thôi, chị không muốn kéo dài thêm những ngày đơn côi, lầm lũi nữa. Chị trao hết lại cho em, giao hết lại cho em, cậy nhờ em hương khói giùm cha mẹ: / Đông xám có chàng tới hỏi / – Em thơ, chị đẹp em đâu? / – Chị tôi hoa phủ đầy đầu / Đã nghỉ trong hầm mộ lạnh.

Mình là người dưng thôi, nghe câu trả lời của đứa em mà còn muốn rớt nước mắt, huống hồ, người đàn ông, tóc chắc cũng đã bạc trắng kia. Kiếp người, sao mà buồn đến thế. Hẳn là sau lần này, người đàn ông cũng không còn tìm đến nữa đâu. Ông ấy dù đau đớn nhưng đã yên lòng rồi. Từ đây, người con gái mà ông đem lòng yêu từ thuở còn thơ ấy, sẽ không còn bơ vơ, không còn phải một mình một bóng nữa.

Và, biết đâu, trên đường quay về, ông ấy sẽ ghé ngang qua hầm mộ, đốt nén hương trầm thơm và lầm rầm khấn vái, đợi anh, em nhé, chúng mình kiếp sau.

******

V. TÌNH SẦU LÀ MỘT BÀI THƠ ĐẸP, NHƯNG RẤT BUỒN

Tình Sầu là một bài thơ rất buồn. Đẹp, nhưng buồn.

Tất cả các nhân vật trong bài thơ đều buồn. Thảy, đều lặng lẽ, và mỗi người, tự buộc vào mình những nhận mang, những cố nén.

Không chỉ nhân vật, mà tình tiết thơ, mà từ ngữ thơ, cũng sẫm một màu buồn như thế. Buồn lắm. Buồn thắt thẻo cả ruột gan, dẫu hình ảnh mà tác giả tạo dựng lên rất thơ, rất mơ: phù dung, tơ vàng.

Bàng bạc suốt bài thơ là sự sống tưởng tươi vui mà lại rất mỏng manh, tưởng căng tràn sức sống mà lại héo hắt, úa tàn: trong nội, trong suối, trong núi, trong hầm mộ lạnh.

Đời, có bao giờ được như ước mơ đâu.

Thế nên, đời mới sầu. Thế nên, tình cũng sầu. Và bài thơ mang tên Tình Sầu, là vậy đó.

******

VI. HUYỀN KIÊU, CHA ĐẺ CỦA TỪ “CHỊ ĐẸP”

Tình Sầu được nhạc sĩ Việt Dzũng phổ thành ca khúc mang tên Thu Vàng Có Chàng Tới Hỏi và nhạc sĩ Phạm Duy thì phổ thành ca khúc Ngày Xưa Một Chuyện Tình Sầu.

Trên facebook cũng như trong các giao dịch thư tín, trò chuyện đời thường, người ta hay dùng ái ngữ, chị đẹp ơi, em đẹp à. Tôi cho rằng, cha đẻ của ái ngữ này, chính là nhà thơ Huyền Kiêu với bài thơ Tình Sầu, độc nhất vô nhị, của ông.

Sài Gòn 12.05.2025

Phạm Hiền Mây

Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'TÌNH SẦU!'

NHỮNG LẦN “GẶP PHẬT”

Kính Mừng Phật Đản 2024, Phật lịch 2568

ROCKPORT, MASSACHUSETTS

Một lần ghé thăm Rockport, một thành phố du lịch nhỏ, cách Boston khoảng một giờ lái xe. Dọc hai bên đường phố hẹp là những quán bán quà kỷ niệm du lịch.

Tôi đi ngang một tiệm bán hàng điêu khắc. Nhiều tượng Phật được trưng bày. Tôi dừng lại. Trước khi chụp vài tấm hình, tôi đứng thẳng, nhìn các tượng Phật và chắp tay vái một vái. Du khách tấp nập và hình như có ai đó đang nhìn tôi.

Rất nhiều người nghĩ chỉ có Phật được đặt trên chánh điện nghiêm trang trầm hương nghi ngút mới là Phật, còn Phật ở các cửa tiệm, ở những phòng trưng bày nghệ thuật, viện bảo tàng thì không phải.

Thật ra, hình tượng chỉ để nhắc nhở. Phật trong tâm, trong suy nghĩ có tánh thiện, trong nhận thức, và vì thế, Phật ở mọi nơi. Khoảnh khắc ta nghĩ đến Phật là lúc Phật hiện ra trong ta. Bất cứ nơi nào, bất cứ hoàn cảnh nào.

Tuần trước đó tôi đi chùa nhân lễ Phật Đản. Thầy trụ trì rất vui và bảo “Lâu lắm con không về chùa, lát nữa con lên nói vài lời với các đạo hữu nhân ngày Phật Đản”. Tôi không chuẩn bị gì nhưng nói rất dễ dàng vì Đạo Phật có rất nhiều điều hay, nét đẹp để nói về. Tôi nói sở dĩ đức Phật chọn một nơi nhiều bất công, nghèo nàn như Ấn Độ để thị hiện chỉ vì tình thương của đức Phật dành cho con người.

CHENNAI, INDIA

Phật ở Ấn Độ cũng không khác gì Phật ở Rockport tấp nập.

Một lần ở Chennai, tôi hỏi người chủ tiệm món hàng nào được du khách ưa chuộng nhất, người chủ tiệm trả lời “tượng Phật”.

Đức Phật là biểu tượng của tình thương và Đạo Phật là đạo của tình thương. Ai lại không muốn mang về nhà một biểu tượng từ bi, bác ái và bao dung như thế dù người đó thuộc tôn giáo nào.

Trong ý nghĩa đó, Đạo Phật không chỉ là đạo riêng của những người Phật Tử mà là đạo chung của con người, bởi vì con người còn tồn tại đến hôm nay là nhờ có tình thương. Thế giới con người sẽ tận diệt nếu một ngày tình thương không thắng được hận thù.

CAPE COD, MASSACHUSETTS

Mới “gặp Phật” ở Rockport tháng trước, nay lại “gặp Phật” ở Cape Cod. Lần này tôi không lạy Phật. Phật ở Cape Cod được dùng như một loại trang sức hay chỉ để lừa bịp khách hàng.

Một tượng đức Phật được đặt trước cửa một tiệm coi bói, một tượng đức Phật được đặt trong lồng kính chung với áo quần, một tượng đức Phật được dựng trên lối đi như để chào đón khách hàng, một số tượng đức Phật bị nhốt bên trong cửa sắt của một khu vườn dường như lâu rồi không ai chăm sóc.

Buôn bán tượng Phật là một kỹ nghệ đang được thịnh hành, bắt đầu từ quê hương đức Phật. Bước xuống phi trường quốc tế New Delhi hình ảnh đầu tiên những khách phương xa bắt gặp là bàn tay đức Phật. Bước vào tiệm bán đồ kỷ niệm cho du khách ở nhiều nơi trên xứ Ấn, hình ảnh được trưng bày nhiều nhất cũng là đức Phật. Khuôn mặt bao dung, nụ cười nhân hậu của ngài rất thu hút khách thập phương.

Tuy nhiên, đúng như Giảng sư Tây Tạng Dzongsar Jamyang Khyentse viết, Ấn Độ là quốc gia đã lãng quên người con yêu quý của mình: Đức Phật. Bởi vì di sản của đức Phật không phải là khuôn mặt bao dung, nụ cười nhân hậu hay ngay cả đền đài mà là những lời dạy của ngài. Rất hiếm tại Ấn Độ có nơi phát hành các kinh sách Phật Giáo, phần lớn chỉ bán các tượng Phật hay giữ đền thờ để thu tiền.

Nhìn những tượng Phật ở Cape Cod, tôi thầm mơ ước, ngày nào người Mỹ nói riêng và Tây Phương nói chung không còn nhìn các tượng Phật như món đồ trang trí mà cùng tìm hiểu, cùng lắng nghe những lời khuyên của đức Phật, ngày đó nhân loại sẽ hòa bình.

KYOTO, NHẬT

Tại Nhật, đạo Phật trở thành một đạo dân tộc, cùng với Thần Đạo (Shinto) đã và đang tồn tại một cách hài hòa. Đạo dân tộc không nên hiểu theo nghĩa là quốc giáo hay đạo riêng của một nước nhưng tư tưởng Phật Giáo thấm đậm vào đời sống văn hóa và con người Nhật.

Người dân Nhật không đến chùa lễ Phật, tụng kinh thường xuyên nhưng trên đường đi làm họ có thể dừng chân ở một ngôi chùa, kéo dây chuông ba lần, chắp tay cầu nguyện.

Người hướng dẫn du lịch kể lại khi người Nhật sinh con, cha mẹ thường ẳm con đến đền Thần Đạo để làm lễ cầu nguyện nhưng khi qua đời thường làm đám tang theo nghi lễ Phật Giáo.

SEOUL, NAM HÀN

Seoul thì khác. Đạo Phật một thời hưng thịnh tại Triều Tiên đang mờ dần vào quá khứ. Thống kê năm 2005, chỉ 25% dân số xác nhận là tín đồ Phật Giáo nhưng con số đó đã xuống thấp dần đến mức ngày nay Phật Giáo tại Nam Hàn không còn được xác định một cách rõ ràng như một tôn giáo mà đang hòa chung vào tập tục văn hóa.

Chùa Jogyesa, ngôi chùa lớn nhất tại Seoul, được biết như là một địa điểm du lịch nhiều hơn là Thiền Viện chính của tông phái Jogye. Cám dỗ vật chất đã thu hút các thế hệ trẻ đi theo, bỏ lại sau lưng họ những cụ già ngồi đếm từng ngày cuối của đời mình trong lời kinh tiếng kệ. Các tượng Phật dễ tìm thấy ở khu shopping Insadong hơn là tại các ngôi chùa.

Đạo Phật là đạo của con người với các giá trị tình thương và sự thật nhưng để mang tình thương và sự thật đến cho con người, Phật Giáo cũng cần thay đổi cách hoằng dương.

MONTEREY, CALIFORNIA

Trên con đường chính dọc bờ vịnh Monterey có một tiệm Ấn Độ bán đồ kỷ niệm cho du khách. Một phụ nữ Ấn ngoài 60 tuổi và một thanh niên Ấn trạc 30 tuổi đang coi tiệm. Một số hình tượng đạo Hindu như Lord Shiva, Lord Brahma v.v… được trưng bày nhưng đa số là tượng Phật.

Tôi dừng lại chụp một số hình những tượng Phật được đặt bên ngoài. Chàng thanh niên bước ra ngăn cản. Anh chỉ tấm giấy nhỏ “No photography” gắn trên một trong những tượng Phật. Tôi ngừng, nhưng không quên phản ứng “Tấm giấy quá nhỏ để thấy”, và tôi lại tiếp “Lẽ ra anh nên để cho du khách chụp hình thoải mái. Bức tượng đẹp sẽ gây cho họ ấn tượng đẹp khi nhìn lại. Biết đâu vì thế họ sẽ trở lại mua. Cho dù không mua, họ sẽ giúp anh quảng cáo miễn phí khi gởi cho bạn bè họ.”

Chàng thanh niên dịu giọng “Vâng, anh nói cũng đúng.” Tuy nói vậy anh ta vẫn không lấy cái bảng cấm chụp hình xuống. Tôi bước vào tiệm. Chàng thanh niên hỏi tôi muốn mua tượng Phật nào không. Tôi đáp “Tôi là Phật Tử nhưng cám ơn, tôi không mua.”

Tôi muốn thử anh ta một câu rất dễ “Anh biết Đức Phật ra đời ở đâu không?” “Nepal”, chàng thanh niên đáp ngay. “Anh google chứ gì?” Anh cười “Đúng vậy.” Lý do tôi đoán anh ta google vì người có kiến thức lịch sử căn bản cũng có thể biết Đức Phật đản sanh tại một vương quốc của nước Ấn Độ, ngày nay thuộc lãnh thổ Cộng Hòa Nepal. Tôi giải thích “Đúng ra anh nên trả lời là Ấn Độ nay thuộc Nepal vì khi Đức Phật ra đời chưa có nước Nepal. Là người Ấn anh cũng nên hãnh diện là nơi Đức Phật ra đời.”

Anh không nói gì nhưng người đàn bà lớn tuổi gật đầu.

Nhiều báo chí ca ngợi sự phục hồi Phật Giáo tại Ấn Độ bởi vì đi đâu họ cũng gặp hình tượng Đức Phật. Nụ cười Đức Phật có thể nhận ra từ khi du khách bước xuống phi trường New Delhi cho đến một quán nhỏ bán đồ kỷ niệm ven đường.

Tôi không lạc quan như vậy. Cao trào phục hưng phải được đánh dấu bằng tăng đoàn, tu viện, thiền viện, trung tâm nghiên cứu, đại học, thiện trí thức, tín đồ. Đạo Phật không phải là một món đồ để trưng bày, một thị hiếu dù hấp dẫn bao nhiêu.

Nhìn những đồng bạc cắc và viên đá mỏng viết chữ “fortune” đặt dưới chân một tượng Phật, tôi định nói với anh Đức Phật không mang may mắn tài lộc gì đến cho ai cả, nhưng rồi đổi ý. Nói để làm gì, một người không biết nơi sinh của một trong số rất ít bậc thầy của nhân loại thì Đức Phật trong mắt anh đơn giản chỉ là một món hàng.

NEPAL

Buổi chiều trên đường phố Pokhara, cách vườn Lumbini nơi Thái Tử Tất Đạt Đa sinh ra 126 miles (203 km). Ở Mỹ đó là một đoạn đường ngắn có thể lái xe đến thăm và trở lại phố cùng ngày. Nhưng Nepal thì không. Đường rất xấu và đèo dốc cheo leo phải mất cả ngày mới tới nơi và không thể trở lại trước khi trời tối.

Đây không hẳn là tượng Phật mà chỉ là tấm bia bằng nhôm hay xi-măng đúc hình đức Phật. Dưới chân đức Phật không phải là hoa quả do thập phương bá tánh cúng dường, chung quanh ngài không phải là những bậc La Hán và trên nền trời không phải chư thiên vân tập về nghe pháp.

Không, chung quanh ngài là hình ảnh quảng cáo. Một lon Coke, một lon Exel, những mẫu vẽ áo quần, đồ trang sức, những bụi hoa dại héo tàn. Cách đó không xa, một hãng máy bay tuyến đường ngắn từ Pokhara đi Kathmandu được đặt một cái tên rất an toàn là Buddha Air.

Theo thống kê, hơn 80% dân Nepal theo Ấn Độ Giáo (Hinduism), khoảng 8% là Phật Giáo. Nhưng thực tế, nếu tách chư tăng và tín đồ Tây Tạng, Miến, con số thuần túy Phật Giáo Nepal từ thời vương quốc Shakya còn lại ít hơn nhiều.

Chính quyền Nepal đầu thế kỷ 20 cũng không khoan dung cho một tôn giáo lớn của nhân loại đã gieo hạt mầm đầu tiên trên đất Nepal của họ. Triều đình Rana trong những năm 1926 và 1944 từng có chính sách kỳ thị với tông phái Theravada và một số tăng sĩ thuộc tông phái này đã bị trục xuất sang các nước lân cận.

Người dân Nepal, nhất là các chủ tiệm bán đồ kỷ niệm, rất hãnh diện khi giới thiệu với du khách “Nepal là quê hương của đức Phật” nhưng đó chỉ là cách để gạ bán hàng chứ không biết gì về Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế hay kinh điển Phật Giáo.

Tương tự ở Chennai, miền Nam Ấn Độ, khi tôi hỏi món quà kỷ niệm nào khách ưa chuộng nhất, người chủ tiệm trả lời “tượng Phật”.

Dù trong hoàn cảnh nào và được đối xử ra sao, đức Phật vẫn mỉm cười.

BRAINTREE, MASSACHUSETTS

Nhớ lại chuyện nhiều năm trước. Không bao lâu sau khi dọn về nhà mới, ngày nọ nhìn ra đường, một tu sĩ Phật Giáo còn khá trẻ đang đứng ngắm căn nhà đang treo bảng bán. Vợ tôi nhìn tôi “Anh đến đâu là có chùa theo đó.” Lúc đầu tôi tưởng là thầy đi lạc nhưng khi bước ra hỏi mới biết vợ tôi nói đúng.

Thật vậy, vài tháng sau, căn nhà của người láng giềng trở thành ngôi thiền viện. Thiền viện Bồ Đề như tên chùa được khắc vào viên đá trước cổng ra vào. Ngoại trừ những ngày lễ lớn ghé qua thăm và chúc sức khỏe các thầy, tôi ít khi đến chùa và cũng không nhớ hết pháp hiệu các thầy. Một phần vì bận rộn với đời sống và phần khác cũng không cảm thấy cần thiết. “Trong núi không có Phật” như Tổ Trúc Lâm đã dạy thì trong chùa cũng chưa hẳn có Phật. Đến chùa để tìm gì?

Ngày còn nhỏ tôi thường niệm hồng danh Đức Phật và ngủ nhiều năm dưới chân ngài. Những đêm khuya im vắng tôi ngồi dưới hiên chùa ngắm hàng vạn vì sao mọc kín vòm trời. Tôi tâm sự với ngôi sao những chuyện thầm kín nhất, những chuyện tôi chưa từng nói với ai và cho dù tôi muốn cũng chẳng có ai gần gũi để cùng san sẻ. Qua Mỹ cũng thế. Tôi niệm Phật và nghĩ đến những lời dạy của ngài ở bất cứ nơi đâu dù khi ngồi nhìn những đám mây bay bên kia cửa sổ phi cơ, những đêm thao thức và ngay cả những chiều kẹt trên xa lộ. Tôi yêu đạo Phật vì đạo Phật là đạo của tình thương, bao dung và tha thứ.

Tôi chợt hiểu ra, đến chùa không phải để “gặp Phật” mà gặp lại chính mình.

TRẦN TRUNG ĐẠO

(Ảnh ttđ “Một chân dung Đức Phật trên đường phố Nepal”)

May be an image of text

Tháng 4 trên môi hôn lửa cháy

Anh sẽ làm cho em một bài thơ không mã vạch
Không chất lượng lưu thông không hạn định ngày dùng
Chỉ có sương mù và cơn đau đến hồi chung cuộc
Chỉ có cơn mưa đang liên hồi cào ngoài khung cửa
Chỉ có những cơn điên không bao giờ thôi dừng lại
Anh tự bóp nát trái tim mình không cho chết lịm
Phải chạy trốn ngay trong cuối tháng tư nầy

Anh chạy trốn những trận bia không bao giờ tàn cuộc
Những cú nốc out của những tay chơi trong quán nhậu cuộc đời
Chạy trốn những cơn say đang giải phóng anh khỏi những vết hằn buồn thảm
Đừng share like khi biết rằng anh không cần thiết
Những hạnh phúc mong manh những tên tuổi phập phù

Đừng chia sẻ tương thích với anh những kỉ niệm hận thù
Những trói buộc những gọi mời gian trá
Đừng đưa khuôn mặt anh vào những cuộc duyệt binh tầm tã
Những mồ hôi những khẩu hiệu 
Những muộn phiền hầm hập
Đừng ngụ ngôn trong tháng tư 
Và những tháng ngày nào khác
Anh mệt lắm rồi những nhàu nhĩ văn chương

Anh không cần đâu tháng tư 
những con mèo đang mài vuốt
Dưới bóng râm hoan hô 
của một lũ chuột đồng
Không cần đâu những hội hè miên man những lim dim trầm trọng 
Không lầm lẫn nữa đâu nếu một ai đó chơi trò cách mạng
Trò chơi của đám đông trong bóng đêm của địa ngục bạo tàn

Anh sẽ làm cho em một bài thơ 
không chấm xuống hàng
Anh là một 
cho em thôi 
không dành cho ai khác
Anh sẽ chống lại 
nếu ai đó xếp anh vào hàng ngũ
Tháng tư nầy đừng 
cải tạo trái tim anh .

NGUYỄN TẤN CỨ

GIẤU THƠ DƯỚI ĐÁY CÁT LẦY…

 

1-

Mùa xuân vừa chớm nụ
người đã chôn hồn tôi
bằng sử thi phủ dụ
nguỵ trang hùng ca mù.

Con xúc sắc đã gieo
canh bạc bịp trót dự
cạn láng cho đời ai
vốn liếng nào còn giữ?

Khi linh hồn bị cướp
tôi níu giữ giấc mơ
đời, nhe nanh dương vuốt
truy đuổi theo lời thơ.

Lưới bẫy đời rình rập
con chim nhỏ kinh hoàng
chôn thơ đi lánh nạn
vào dòng máu hoang tàn.

2-

Xin vuốt ve dùm tôi
mái tóc khô bù rối
bầy rắn rít ngàn năm
gậm mòn dần sự sống.

Thở cùng tôi nhịp thở
của dòng máu cằn khô
mùa xuân vừa thoáng mở
đã trối trăng từng giờ.

Nới dùm tôi vòng dây
siết nghẹn từng ước mơ
vai người đâu, tôi dựa
hồi sinh những câu thơ?

Xin hôn lên mắt tôi
trong tình sầu đắm đuối
trước khi người bịt mắt
dụ tôi vào nẻo tối.
Xin oan hồn phục sinh
Xin cho thơ được nói
Xin cho tôi làm người.

3-

Giấu thơ xuống vực thẳm đời
nhớ trăng cõi mộng
chôn lời,
vong thân.

Ái Điểu

 đồng dao

còn nguyên một vết thương dài
trên lưng ngựa tía non đoài mây trôi
nằm nghe sông biển ngậm ngùi
sóng reo mà ngỡ quân nơi sa trường 

còn nguyên cung kiếm giữa đuờng
bẻ đôi ném lại xót thương chiều tàn
ngó về cõi mộng trời Nam 
một đàn chim Việt rời đàn bay đi

còn nguyên mắt môi xuân thì
chít tang sô trắng còn gì dấu yêu
tiếng kêu cánh vạc ngang chiều
rơi trên dòng nước tiêu điều lá trôi

còn nguyên vết chém ngang trời
cắt lìa sinh tử nhánh đời dọc ngang
mắt ai mở rộng bàng hoàng
nhớ cơn mộng cũ ngập tràn máu tươi

còn nguyên cánh buồm ra khơi
trùng dương uất hận nhuộm trời đỏ au
cắn môi cho giọt máu đào
rơi trên phần mộ chôn nhau năm nào

còn nguyên lời hát xanh xao
chiếc thân viễn xứ mưa mau chân thầm
như con chim Việt đầu cành
nhớ trời Nam cũ hồn xanh rêu buồn

còn nguyên đóm lửa soi nguồn
thắp soi trí nhớ mặt trường giang cau
hôm ra về trời mưa mau
tưởng ai ngồi hát đồng dao một mình 

đâu rồi quá vãng nhục vinh
đôi vai mỏi gánh tội tình giang san
bi thương gửi gió mây ngàn
vầng trăng bên ấy trời Nam có còn?

Phạm Quang Trung