KHI KHÔNG THẾ GIỚI IM LÌM
KHI KHÔNG TRO BỤI ĐI TÌM BỤI TRO
Nguyễn Tấn Cứ
Áo vàng Đông phương
Giao thừa qua ngõ
Tóc dài Đông phương
Tết hồng môi đỏ
Dây hoa bé xíu
Buông trước sân nhà
Đầu năm tôi quét
Chổi vương đầy hoa
Đông phương mắt đen
Đông phương guốc nhỏ
Đông phương ngón tay
Chưa từng sơn đỏ
Và ai lấp ló
Sau cội hoàng mai
Tóc ai vương gió
Xanh cọng cỏ dài
Áo vàng Đông phương
Hồn tôi sêu tết
Lá me cốm xanh
Mùa xuân chưa hết
Mùa xuân chưa hết
Nên tôi ngồi chờ
Đông phương dáng ngọc
Suốt mùa ngây thơ .
Đỗ Trung Quân
Anh chưa nhìn sao em đà cúi mặt
Để buổi chiều bẽn lẽn ở sau lưng?
Bước chân chim hình như cũng ngại ngùng
Anh sửng sốt thả rơi tình, ân hận…
Và anh biết em vẫn còn đi học
Áo trắng dài bay trong nắng vàng rưng
Phố thênh thang mộng mị tuổi mười lăm
Hồn trầm quế đan thêm mùa xuân ngọc.
Anh chưa nhìn sao em đà hấp tấp
Ướt mi chi cho xa lắc trăng rằm?
Đến mây trời cũng ngừng cuộc lang thang
Để bịn rịn theo ai về cuối ngõ…
Anh vẫn biết anh chỉ là du tử
Lẽo đẽo nhau chi rồi cũng bằng thừa
Có lẽ về nơi gác hẹp, song thưa
Ngồi gõ mộng chờ mong mùa xuân khác.
Anh chưa nhìn sao em đà cúi mặt
Hay là anh giống hệt một gã khờ?
Em – tháng giêng ngon cũng vừa bay mất
Và cuối hồn anh còn chút dư hương…
Trần Dzạ Lữ
Thời học trung học, tôi có người bạn thân, không những tướng tá mà cả cái tên cũng đẹp: Phan Ái Minh. Hai đứa học chung trường. Minh học Ban B và trước tôi một lớp, còn tôi dốt toán nên học Ban C. Vì vậy mà bạn còn là “ông thầy” kèm toán cho tôi. Nhà Minh ở trên Thành (Diên Khánh), cách thành phố Nha Trang, nơi có ngôi trường Võ Tánh của bọn tôi hơn mười cây số. Minh cùng người anh thuê căn nhà nhỏ trong một con hẻm ở gần đình Phương Sài để trọ học. Mỗi chiều Thứ Sáu, sau khi tan trường, hai anh em đạp xe về thăm nhà đến chiều Chủ Nhật lại ca bài đường trường xa trở lại Nha Trang, mang theo thức ăn cho một tuần sau đó. Tôi cũng từ một vùng quê khác vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, một tiệm buôn giữa trung tâm thành phố. Để tránh ồn ào và khỏi bị sai vặt, tôi thường đạp xe lên nhà Minh vừa chơi vừa học. Có khi tôi ngủ lại hoặc cuối tuần theo anh em Minh về thăm quê bên kia Cổ Thành Diên Khánh.
Minh luôn hãnh diện khoe với bọn tôi về quê hương “Cổ Thành”. Anh thường gọi đó là “la Citadelle” và gần như thuộc lòng sử tích: “được Nguyễn Phúc Ánh xây từ thế kỷ 17 và lần lượt do các ông Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh trấn thủ. Võ Tánh là một dũng tướng bất khuất, sau này đã tự thiêu tuẫn tiết trước khi thành Bình Định lọt vào tay tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn. Có lẽ vì vậy mà ngôi trường trung học lớn nhất miền duyên hải của chúng ta mang tên Võ Tánh, để nêu gương sĩ khí cho đám học trò.” Minh còn đọc đi đọc lại bài thơ của công chúa Ngọc Du khóc phu quân tướng công Võ Tánh, làm bọn tôi thuộc nằm lòng cho đến mãi bây giờ:
Những tưởng ra tay giúp nước nhà
Ai dè binh địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!
Có lẽ chính quê hương Cổ Thành và hình ảnh dũng tướng Võ Tánh in rất đậm trong trí óc và tâm hồn Minh từ thuở ấu thơ, đã hun đúc trong Minh một mẫu người lý tưởng sau này.
Vào những mùa thi, căn nhà trọ khá oi bức và đèn điện không đủ sáng, bọn tôi thường rủ nhau đạp xe xuống bờ biển, nơi có các trụ đèn tỏa sáng, vừa học bài vừa nhìn biển trời mênh mông mà xây mộng tương lai. Có lần Minh bảo“ sau này nhất định tao sẽ chọn binh nghiệp để đọ sức cùng nắng mưa và tha hồ xông pha trận mạc”. Tôi cười đùa: “Mày nói hay như đang hát tuồng Thuyền Ra Cửa Biển!” (lúc ấy gánh hát Thanh Minh Thanh Nga đang diễn vở tuồng này tại rạp Minh Châu – Nha Trang).
Là bạn, nhưng dường như tất cả mọi thứ trên đời ông trời đã dành cho Minh nhiều hơn tôi: đẹp trai hơn, to con hơn, võ nghệ, đàn hát và nhất là học hành cũng giỏi hơn. Chơi đàn và đọc sách là hai món tiêu khiển của Minh. Anh đọc rất nhiều sách, từ truyện Tam Quốc Chí đến Đệ Nhi Thế Chiến, từ các sách nghiên cứu Khoa Học đến Thiên Văn Học. Trí nhớ của Minh rất tốt, anh nhớ từng chi tiết và làm bọn tôi mê mẩn mỗi lần ngồi nghe anh kể lại. Ngoài ra Minh rất tư cách, tính tình bộc trực, thẳng thắn. Một lần có tay “anh chị” ở đầu hẻm hiểu lầm, tưởng tôi làm ngã cái xe gắn máy của y, lớn tiêng ăn hiếp, Minh bênh vực tôi, ôn tồn nói điều phải trái, nhưng gã kia hung hăn ra tay trước, Minh không đánh lại, chỉ đỡ vài đòn mà hắn đã té nhào không đứng lên được. Minh đưa tay kéo hắn lên và phủi bụi đất bám trên mặt hắn. Thấy Minh võ nghệ cao cường, có khí phách và lòng hào hiệp, hắn ta phục, bắt tay xin làm bạn, đãi bọn tôi một chầu phở Hợp Lợi. Sau lần ấy, tôi mới biết bạn tôi “văn võ song toàn”.
Cứ đến mùa Hè, tôi đạp xe lên quê Minh ở chơi một vài tuần. Nhà Minh ở gần con sông chảy uốn khúc qua một vài khu xóm làng và ruộng đồng tĩnh mịch. Ban đêm, tôi theo Minh và đám bạn bè, ra cắm lều, đàn hát, câu cá và ngủ lại bên bờ sông. Khung cảnh êm đềm thơ mộng. Đêm mùa Hè, trời trong vắt, bọn tôi thường đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm trong các dải ngân hà, xem nơi nào có cái cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Minh biết tên khá nhiều các ngôi sao, và lúc ấy Minh đã dạy bọn tôi biết cách nhìn sao trời để định hướng và dự đoán cả thời tiết nữa. Minh còn giải thích về các thiên hà, tinh tú trong vũ trụ mênh mông, có những vì sao mang cái tên kèm theo một huyền thoại, rồi kể cho bọn tôi nghe truyện Les Étoiles của nhà văn Alphonse Daudet mà thầy Cung Giũ Nguyên có nói qua trong giờ Văn Học Sử Pháp. Có những vì sao sáng lấp lánh, bọn tôi đua nhau giành lấy. Ai “xí” được ngôi sao nào lóe lên trước nhất sẽ được đặt tên mình và tên một cô bạn học trò đã từng khuấy động trái tim. Trong bọn, Minh là người tìm được cho mình nhiều ngôi sao nhất. Nhưng có một điều lạ, là ngôi sao nào anh giành được và đặt tên mình, đều lóe sáng lên, nhấp nháy vài lần rồi bỗng dưng vụt tắt, biến mất trên bầu trời, giữa hằng hà tinh tú khác. Nằm chờ mãi không thấy hiện lên, Minh bèn phân thích hiện tượng này, nhưng rồi cả anh và bọn tôi đều xuýt xoa nuối tiếc.
Ngày ấy, chúng tôi đều con nhà nghèo lo đi học, chưa có người yêu và cũng không dám mơ tưởng tới chuyện yêu đương, nhưng dường như trong trái tim khờ khạo của đứa nào cũng phảng phất bóng hình một cô bạn học trò cùng lớp hoặc chung trường. Trong những lần tâm tình, hay lúc đặt tên cho những vì sao, Minh cũng thường nhắc tên một cô học trò cùng quê, học sau Minh hai lớp. Cô bé có làn da trắng, đôi môi mọng đỏ, hiền hậu dễ thương, mà bọn tôi đã gặp một đôi lần.
Xong tú tài, đang học ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn thì Minh tình nguyện vào Khóa 20 Võ Bị. Con đường võ nghiệp mà Minh đã từng nhiều lần tâm tình với đám bạn bè là anh sẽ chọn, mặc dù với khả năng, anh còn có thể tiến xa trên đường học vấn. Bạn bè có người khuyên Minh vào Trường Hải Quân ở ngay Nha Trang để được gần nhà và sau này trong các chuyến hải hành tha hồ ngắm sao trời mà đặt tên cho người tình trong mộng. Nhưng Minh nhất quyết chọn Trường Võ Bị. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, một người có khả năng, phong độ và tư cách như Minh, lại được đào tạo bởi một quân trường danh tiếng, chắc chắn sẽ trở thành một sĩ quan, một cấp chỉ huy đảm lược và mẫu mực sau này.
Đúng vào một ngày Giáng Sinh, đám bạn bè chúng tôi tiễn Minh lên Đà Lạt. Cùng nhập học Khóa 20VB với Minh còn có một số các anh cựu học sinh xuất sắc khác của trường Võ Tánh: Phạm Cang, Hoàng Văn An, Hồ Đắc Tùng, Cao Đình Phú, Quách Giám, Võ Anh Tuấn, Nguyễn Công Lắm vv. Chia tay Minh, bọn tôi cũng mỗi thằng mỗi ngã. Sau đó hơn tám tháng, tôi và hai thằng bạn khác vào quân trường Thủ Đức.
Những ngày đầu năm 1965, khi chúng tôi đang thực tập hành quân cuối khóa tại bãi tập bên bờ sông Đồng Nai, thì nghe các sĩ quan cán bộ và anh em SVSQ bàn tán về trận chiến Bình Giã rất khốc liệt. Tiểu Đoàn 30, 33 BĐQ và nhất là Tiểu Đoàn 4 TQLC bị tổn thất rất nặng nề. Cả tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, y sĩ trưởng và gần 20 sĩ quan khác đã hy sinh. Chúng tôi bàng hoàng khi biết được trong số các sĩ quan tử trận có ba thiếu úy tân khoa vừa mới tốt nhiệp Khóa 19VB Đà Lạt, 1 BĐQ (Nguyễn Thái Quan) và 2 TQLC (Võ Thành Kháng, Nguyễn Văn Hùng). Họ đã hy sinh ngay trong trận đánh đầu đời, chỉ sau hơn hai tuần trình diện đơn vị. Đặc biệt trong số này có vị thủ khoa Võ Thành Kháng. Người sĩ quan tân khoa ưu tú đã bắn bốn mũi tên đi bốn phương trời trong ngày lễ ra trường, và mang theo rất nhiều hào quang cho con đường binh nghiệp. Bọn tôi không ai quen biết anh Võ Thành Kháng cũng như các anh cùng khóa 19 VB vừa tử trận, nhưng tất cả đều ngậm ngùi tiếc thương những sĩ quan rất trẻ, chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn, nhưng vừa được đào tạo văn võ song toàn mà đã hy sinh khi chưa kịp thi thố tài năng, chưa có cơ hội để “đem hết sở tồn làm sở dụng”, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành những cấp chỉ huy tài giỏi sau này. Khi ấy, bỗng dưng tôi nhớ tới Phan Ái Minh, người bạn thân tài hoa của tôi đang theo học Khóa 20 Đà Lạt, và tất nhiên cũng thoáng một chút âu lo cho số phận của chính mình. Cuộc chiến đang có dấu hiệu bắt đầu khốc liệt.
Một sự kiện trùng hợp đặc biệt khác làm tôi không thể nào quên. Người kể cho chúng tôi nghe chi tiết trận Bình Giã và danh tánh các sĩ quan hy sinh trong trận chiến khốc liệt này là anh Dương Văn Chánh, người bạn cùng trung đội SVSQ Thủ Đức với tôi. Nhờ có người thân quen ở TQLC nên anh biết rõ từng chi tiết một. Chánh đang học ở đại học luật khoa thì nhận lệnh động viên. Tướng tá phong trần, nước da sạm đen, giọng nói khàn khàn, đôi mắt sáng, tính tình hiền lành và trầm ngâm, ít nói. Ra trường, anh là một trong số rất ít (hình như chỉ có bốn người) được chọn về binh chủng Nhảy Dù. Sau ngày mãn khóa, khi chúng tôi đã ra đơn vị và tham dự nhiều cuộc hành quân, thì Dương Văn Chánh vẫn còn đang học nhảy dù. Vậy mà đến giữa tháng 6/65, tôi bất ngờ được tin Chánh vừa hy sinh trong trận Đồng Xoài. Có lẽ đó cũng là trận đánh đầu đời của Chánh. Và cũng khi ấy, chúng tôi mới biết Chánh được bổ sung về Tiểu Đoàn 7 thuộc Chiến Đoàn 2 ND mà vị Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Trương Quang Ân, là anh rể của Chánh. (Ba năm sau ông là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn của tôi).
Là một sĩ quan trừ bị, khi bước chân vào quân trường, Chánh không phải là người chọn binh nghiệp, nhưng với một người có nhiều khả năng và cá tính như Chánh, nhất định phải là một người lính can trường, được hầu hết bạn bè cùng khóa kỳ vọng trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi sau này, nhưng anh đã hy sinh quá sớm. Cái chết của Chánh làm tôi lại nhớ đến bầu trời tuổi thơ ngày xưa của bọn tôi ở quê Minh, bên kia Cổ Thành Diên Khánh và mơ hồ như nhìn thấy một vì sao nữa vừa mới lóe lên rồi vụt tắt!
Khi đang hành quân ở Phú Yên, tôi nhận được thư Minh báo tin anh chuẩn bị làm lễ ra trường. Minh bảo sẽ cố gắng để được đi Nhày Dù hay TQLC, còn nếu ra Bộ Binh thì sẽ chọn về Sư Đoàn 23 để được gần tôi cùng một số bạn bè khác cho vui.
Tôi vào quân trường Thủ Đức sau hơn nửa năm nhưng lại ra đơn vị trước Minh. Vì thời gian học ở Võ Bị lúc ấy gấp ba lần ở Thủ Đức. Hơn nữa, đặc biệt so với các khóa trước, Khóa 20 VB, sau khi tốt nghiệp,còn phải theo học khóa Rừng Núi Sình Lầy tại TTHL/ BĐQ Dục Mỹ thêm 42 ngày.
Khoảng đầu tháng 2 năm 1966, hình như ngay sau Tết nguyên đán, tôi rất vui mừng được tin Minh bổ sung về cùng Trung Đoàn với tôi. Minh về Tiểu Đoàn 4, còn tôi đang ở Tiểu Đoàn 3. Lúc ấy, đơn vị tôi đang hành quân ở Di Linh (Lâm Đồng) còn tiểu đoàn của Minh thì hành quân ở Lạc An (Khánh Hòa). Hai đứa hẹn gặp nhau sau cuộc hành quân, uống một chầu mừng cho cuộc trùng phùng. Nhưng rồi cuộc hẹn đã không thành và tôi không bao giờ có cơ hội để được gặp lại Minh, người bạn đa tài mà tôi hằng mến mộ cả một thời đi học.
Cuộc hành quân dài hạn ở Di Linh vừa kết thúc, tiểu đoàn tôi không trở lại Nha Trang như dự trù mà lại nhận lệnh di chuyển đến Phan Thiết, tăng phái cho TK Bình Thuận, phối họp với một đơn vị Thiết Kỵ của Hoa Kỳ, hành quân giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong. Một mât khu rộng lớn và địa thế hiểm trở bị Cộng quân chiếm cứ khá lâu. Tại tuyến xuất phát, tôi được anh sĩ quan truyền tin Tiểu Đoàn, cùng quê với Minh, cho biết Phan Ái Minh đã hy sinh tại Lạc An trước đó hai ngày, khi đang điều động trung đội tiến chiếm mục tiêu. Tôi bàng hoàng, xót xa khi vừa mất một người bạn mà mình hằng mến phục, quân đội cũng vừa mất đi một sĩ quan ưu tú, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi . Tôi mang hình ảnh của Minh theo suốt cuộc hành quân cam go hôm ấy. Cuộc hành quân kết thúc toàn thắng. Tôi nghĩ, có thể hình ảnh của Minh đã tạo thêm sức mạnh cho tôi để đơn vị tôi có được chiến thắng vẻ vang này.
Mấy đêm liền sau đó, tôi nằm trằn trọc nghĩ tới Minh, nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Nhớ những đêm cùng Minh và đám bạn bè nằm bên bờ con sông quê dưới bầu trời lung linh những vì sao, mầu nhiệm. Bỗng tôi giật mình khi nghĩ tới một điều kỳ lạ: các vì sao mà Minh đã chọn để đặt tên mình, tất cả chỉ vừa lóe sáng lên rồi vụt tắt. Và nhớ tới người con gái nào đó, được Minh trầm trồ tha thiết đặt tên, không biết nếu nghe được câu chuyện thơ mộng này lòng cô có nhiều xúc động? Tôi (và chắc có cả Minh nữa) thầm cầu mong cho cô được tròn hạnh phúc sau này.
Khóa 20VB được bổ sung về đơn vị tôi còn có các anh Vũ Phúc Sinh, Hoàng Văn An, Cao Đình Phú, Bùi Hữu Kiệt, Dương Đình Chính, Hồ Đắc Tùng, sau này đều là những cấp chỉ huy giỏi. Anh Vũ Phúc Sinh, người cùng về TĐ 4 với Minh, đã được đặc cách lên trung úy chỉ 9 tháng sau ngày ra đơn vị, Anh Hoàng Văn An là sĩ quan đẹp trai nhất Trung Đoàn, tính tình vui vẻ, cương trực, được mọi người từ quan tới lính yêu thương. Rất tiếc là các anh đã thuyên chuyển, rời khỏi đơn vị khá sớm, sau khi nắm đại đội và đánh thắng vài trận, để lại bao luyến thương và tiếc nuối cho tất cả mọi người. Dương Đình Chính đã tử trận (mất tích) tại chiến trường Kontum đầu năm 1973, khi vừa lên nắm Tiểu Đoàn 1. Bùi Hữu Kiệt thuyên chuyển về TK Ninh Thuận, nắm một tiểu đoàn ĐPQ và hy sinh tại Bình Định cuối năm 1972 khi dắt tiểu đoàn tăng cường cho mặt trận này. Người cuối cùng còn ở lại đơn vị là anh Hồ Đắc Tùng, sau này là một tiểu đoàn trưởng đã đóng góp nhiều chiến công trong chiến thắng Kontum mùa Hè 1972.
Khóa 20 VB đã có rất nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc ở các quân, binh chủng, làm rạng danh quân lực. Một số đã thăng tiến rất nhanh, giữ các chức vụ trung đoàn trưởng BB, liên đoàn phó BĐQ. Sau này khi biết được một số trong những tên tuổi của Khóa 20 VB từng nổi danh trên các chiến trường: các anh Hoàng Mão, Lại Thế Thiết, Huỳnh Bá An, Vương Mộng Long, Phạm Cang, Quách Vĩnh Trường, Nguyễn Thái Bửu, Trương Phúc, Đoàn Minh Phương, Trương Dưỡng, Nguyễn Văn Măng, Phạm Văn Tiền…tôi luôn nghĩ đến Phan Ái Minh, người bạn đa tài của tôi, và nhớ tới những vì sao sớm vụt tắt trên bầu trời tuổi thơ của chúng tôi thuở trước.
Phạm Tín An Ninh
Mặc dù được xem là một trong những gương mặt lãnh đạo uy quyền nhất thế giới, quyền lực của tổng thống Mỹ không phải là vô hạn định. Đó là nhờ Hoa Kỳ có một thể chế chính trị phân quyền gồm ba ngành hành pháp, lập pháp, và tư pháp hỗ trợ cho nhau theo mô thức “kiểm soát và cân bằng” (check and balance), và tổng thống chính là người đứng đầu của ngành hành pháp.
Theo hiến pháp Mỹ, tổng thống là nhân vật đứng đầu cơ quan hành pháp, cũng là nguyên thủ quốc gia đồng thời là tổng tư lệnh quân đội. Vai trò của ngành hành pháp là thi hành pháp luật. Do đó, trách nhiệm của tổng thống là lãnh đạo quốc gia đi theo đúng những điều luật đã ghi trong hiến pháp và các luật liên bang. Ngành hành pháp dưới quyền lãnh đạo của tổng thống có khoảng bốn triệu nhân viên, trong đó có cả quân đội. Trong một hệ thống chính trị phân quyền, hai cơ quan lập pháp và tư pháp giữ quyền kiểm soát và cân bằng quyền hạn của tổng thống. Ví dụ như trong quyền bổ nhiệm nhân sự, tổng thống được quyền bổ nhiệm các chức vụ trong nội các, đại sứ, chánh án trong tối cao pháp viện, và một số vị trí trong chính quyền liên bang. Tuy nhiên, các chức vụ này đều phải được Thượng Viện chấp thuận.
Tuy tổng thống không nằm trong ngành lập pháp, nhưng ông vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh một số điều luật, đặc biệt là lúc đảng chính trị của tổng thống chiếm đa số tại lưỡng viện Quốc Hội. Một trong những quyền hạn về mặt lập pháp của tổng thống là quyền phủ quyết. Tất cả các dự luật sau khi được thông qua tại Thượng Viện phải cần được tổng thống ký thì mới chính thức trở thành đạo luật. Nếu tổng thống phủ quyết, thì dự luật bị trả về cho Thượng Viện. Quốc Hội muốn vượt qua quyền phủ quyết của tổng thống cho một dự luật, cần phải có sự biểu quyết với hai phần ba số phiếu áp đảo và điều này sẽ trở nên rất khó khăn và tạo thêm sự căng thẳng giữa hai cơ quan ngành pháp và lập pháp.
Về mặt quân sự, tuy Quốc Hội có quyền tuyên chiến, nhưng việc lãnh đạo quân đội sẽ hoàn toàn thuộc về tổng thống. Trong vị trí là Tổng Tư Lệnh quân đội, tổng thống có quyền hạn tối cao chỉ huy quân đội và đưa ra những chiến lược quân sự cần thiết. Ngược lại, Quốc Hội có khả năng giới hạn quyền này của tổng thống qua việc kiểm soát ngân sách quân sự. Bên cạnh đó, tổng thống cũng là người hướng dẫn đường lối ngoại giao cho quốc gia. Do đó, tổng thống thường phải chịu trách nhiệm cho chính sách đối ngoại trong nhiệm kỳ của mình.
Nơi ở và làm việc của tổng thống là Tòa Bạch Ốc. Có lẽ ai cũng đã biết chiếc phi cơ dành riêng cho tổng thống được gọi là Air Force One, ngoài ra, tổng thống còn có thể sử dụng máy bay trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến được đặt tên là Marine One. Tương tự như vậy đối với Navy One, Army One, hay Coast Guard One khi tổng thống sử dụng những phương tiện này. Lương tổng thống tính đến năm 2014 là 400,000 Mỹ kim. Tổng thống đầu tiên George Washington được trả lương 25,000 Mỹ kim tương đương với khoảng 566,000 Mỹ kim hiện giờ. Ngoài mức lương chính ra, tổng thống còn được thêm 50,000 Mỹ kim tiêu xài, 100,000 Mỹ kim cho việc di chuyển và 19,000 Mỹ kim dành vào các việc giải trí. Tổng thống vẫn phải đóng thuế hàng năm như bất kỳ công dân nào khác tại Hoa Kỳ.
Để bảo vệ an ninh cho tổng thống, một đội mật vụ (secret service) có trọng trách phải theo sát và bao chung quanh tổng thống mỗi khi tổng thống xuất hiện trước quần chúng. Trước năm 1997, tất cả những vị tổng thống tiền nhiệm và gia đình đều được bảo vệ an ninh cho đến khi tổng thống qua đời. Luật đã được sửa đổi năm 1997 và những tổng thống sau này chỉ được bảo vệ trong vòng mười năm sau khi mãn nhiệm. Tổng thống Bill Clinton là người cuối cùng được hưởng quy định bảo vệ suốt đời. Tuy nhiên, vấn đề khủng bố trong những năm gần đây khiến Quốc Hội đang xem xét lại việc bảo vệ an ninh suốt đời cho các vị tổng thống tiền nhiệm vì hầu hết các cựu tổng thống sau khi rời Bạch Cung vẫn tiếp tục hoạt động khá mạnh mẽ trong các lãnh vực khác như ngoại giao, nhân quyền, xã hội, v.v.
Điều kiện căn bản để có thể ứng cử tổng thống là phải đủ 35 tuổi, là công dân sinh ra tại Hoa Kỳ và phải cư ngụ tại Hoa Kỳ ít nhất 14 năm. Nhiệm kỳ của tổng thống là bốn năm và tổng thống chỉ được nắm quyền trong hai nhiệm kỳ liên tục dựa theo Tu Chính Án 22 có hiệu lực từ năm 1951. Trước đó, việc giữ hai nhiệm kỳ chỉ là một tiền lệ do tổng thống George Washington đặt ra và được hầu hết các tổng thống sau đó theo chân nhưng không phải là luật chính thức. Tổng thống Franklin D. Roosevelt là người duy nhất thắng cử tổng cộng bốn lần. Ông lãnh đạo Hoa Kỳ từ năm 1933, vượt qua giai đoạn Đại Khủng Hoảng và Đệ Nhị Thế Chiến, cho đến khi ông qua đời vào tháng Tư năm 1945, vài tháng sau khi nhậm chức nhiệm kỳ thứ tư.
Khác với những quốc gia có hệ thống bầu tổng thống trực tiếp, tổng thống Hoa Kỳ được bầu một cách gián tiếp. Mặc dù mọi công dân đều bỏ phiếu bầu tổng thống, nhưng tổng thống tại Hoa Kỳ thắng cử là dựa trên số phiếu của cử tri đoàn (electoral college) thay vì tổng số phiếu bầu của cử tri. Số lượng cử tri đoàn tùy vào số lượng dân biểu và thượng nghị sĩ liên bang của một tiểu bang. Ví dụ, tiểu bang California có 55 phiếu cử tri đoàn vì có 53 dân biểu liên bang (U.S Congress Member) và hai thượng nghị sĩ liên bang (U.S Senator). Những tiểu bang bé nhỏ như South Dakota chỉ có 3 phiếu cử tri đoàn vì chỉ có một dân biểu liên bang và hai thượng nghị sĩ liên bang. Số lượng dân biểu liên bang của một tiểu bang tùy theo dân số của tiểu bang đó. Như vậy, tiểu bang nào càng đông dân thì càng có thế mạnh về mặt số phiếu bầu trong cử tri đoàn.
Trong cuộc tranh cử tổng thống, kết quả được tính theo từng tiểu bang; ứng cử viên nào có số phiếu cử tri cao hơn sẽ thắng được số phiếu cử tri đoàn của tiểu bang đó, và người với số phiếu cử tri đoàn cao hơn sẽ trở thành tổng thống. Trong năm 2000, tuy phó tổng thống Al Gore có số phiếu phổ thông cao hơn (popular vote), có nghĩa là nhiều người dân bầu cho ông hơn, nhưng ông vẫn thua tổng thống George W. Bush vì bị thua phiếu của cử tri đoàn. Chính vì điều này mà trong một cuộc vận động tranh cử tổng thống, các ứng cử viên dồn nhiều nỗ lực vận động phiếu tại các tiểu bang đông dân như California, Texas, New York, Florida, v.v. để có thể thắng được nhiều phiếu cử tri đoàn hơn. Trong trường hợp các ứng cử viên tổng thống có phiếu cử tri đoàn bằng nhau, Hạ Viện sẽ bầu chọn tổng thống và Thượng viện sẽ chọn ra phó tổng thống. Tổng thống Barack Obama là tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ, cũng là vị tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ.
Với hệ thống dân chủ tại Hoa Kỳ, tổng thống có thể bị cách chức khi phạm các tội liên quan đến phản quốc, tham nhũng, hay những tội nghiêm trọng khác. Trong trường hợp này, Hạ Viện sẽ có quyền buộc tội tổng thống và Thượng Viện sẽ xét xử tổng thống. Trong lịch sử Hoa Kỳ, có hai tổng thống bị Hạ Viện luận tội là Andrew Johnson và Bill Clinton, nhưng cả hai đều vượt qua được. Riêng đối với tổng thống Richard Nixon về vụ Watergate, ông đã từ chức trước khi bị Hạ Viện luận tội. Đây chính là nét son của xã hội dân chủ – ngay chính tổng thống vẫn bị xét xử theo pháp luật khi phạm những sai lầm nghiêm trọng.
Với chức vụ cao nhất trong chính quyền Hoa Kỳ, tổng thống được xem là người có quyền lực nhất, nhưng hệ thống phân quyền tại Hoa Kỳ đã chia đều quyền lực của ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm tạo được sự hài hòa và cân bằng quyền lực, giúp Hoa Kỳ đứng vững cho đến ngày nay.
Tạ Đức Trí
Có những ngục tù không song sắt
Đi đứng buồn vui mặc xác người
Thây kệ nuốt hay rơi nước mắt
Ngoài kia ngày tháng vẫn trôi xuôi.
Có những đêm dài như ngừng lại
Lòng chông chênh đôi mắt mở trừng
Chực vùng dậy tìm trầm ngậm ngải
Nơi lời ru không chốn nương thân.
Có những lầu son ôm gác tía
Hòa âm nhuần nhuyễn khúc bi ca
Trói mình bằng dây da lễ nghĩa
Bất tách phân ý niệm chánh tà.
Xênh xang cùng ngựa xe cờ quạt
Tất tật xung quanh thảy nhạt nhòa
Nơi đó ngục tù không đói khát
Nằm ngồi trên phú quý vinh hoa.
NGUYÊN VI
con đường dài đôi chỗ có bóng cây
lổ đổ nắng và những ngã ba
ngã tư
ngã nhiều hướng
những ngày mưa mình đi
nước giọt trên đầu
thơm mùi lá ướt
mình đi rẽ dọc rẽ ngang mình quay lại
con đường dài có bóng cây
và vỉa hè nham nhở chật
hay vắng vẻ
ngọn đèn soi bóng mình trên nếp gạch xếp hàng
xô lệch
lẫn vào bóng lá vàng vọt phân chia
bóng gió đu đưa mình trên mặt đất
mình đi lướt qua người
những bóng người che mặt
những đôi mắt không chớp một giây nhìn thẳng
cánh tay mình đưa lên giữa chừng
xin đường hay kêu gọi
không ai
không ai
không ai nữa
đi qua mình
như những đám mây trong khúc phim time-lapse
đẩy ngày đêm náo loạn về không
thị trường mình rạn nứt
sau mí mắt nhắm lại mình nghe
giọt nước mưa môi mặn mình đọng lại
một biển lời xâm chiếm
nhìn tôi
nhìn tôi một lần đi…
LÊ THANH TRƯỜNG
Tưởng ngày mới thì thấy gì cũng mới
Thất vọng ghê! Toàn cũ rích cũ rê!
Người đàn bà đi bán dạo vĩa hè
Chạy muốn chết vì Công An rượt đuổi!
Xác ba đứa nhỏ chết trôi theo dòng suối
Từ hôm qua, không thấy nữa mặt,…giời!
Ngó lên cây Thánh Giá thấy Đức Chúa Blời
Máu còn chảy, hình như còn đang chảy?
Lát nữa đây mặt… trời nóng cháy
Hết cả núi rừng, không biết California sẽ buồn ra sao?
Người homeless còn ngủ thiếp bên rào
Ông nhà Sư ôm bình bát đứng bên hiên chợ
Xe Police chạy quanh quanh thành phố
Tất cả mọi người cùng giống: cái nhìn lơ!
Ngày sẽ qua thôi, hết sáng rồi trưa
Rồi nắng xế, rồi chiều tà, tê tái?
Hai cẳng giò của vài ba cô gái
Vẫn là cái nhìn… tiêu chí quang vinh!
Tưởng tới Việt Nam trong cảnh thái bình
Ông Thủ Tướng hô Ma De sảng khoái
Đường đi bộ ông cho xe rà rà thoải mái
Mười ngày sau Xin Lỗi với cái lẳng hoa đặt trước cái mi cờ rô!
Tất cả người Việt Nam hô:
Bác Hồ Vĩ Đại!
Những con gà mái ngó lên mặt trời ứa lệ, chúng không biết gáy thì từ nay tập gáy
Như Bà Nguyễn Thị Kim Ngân
Nhìn gần, đau thắt ruột!
Bà vung cái xô đồ ăn cho cá, cá không kịp nuốt
Ông Obama kéo bà bước đi ăn chả giò
Cuộc thi Hoa Hậu Việt Nam năm 2016 bế mạc tại Trường Đua Ngựa Phú Thọ.
Thành Phố Hồ Chí Minh Rực Rỡ đèn đỏ đèn xanh…
Trần Vấn Lệ
chừng như bóng nắng đã gầy
đường xưa đã vắng gót giày hào hoa
chút hư hao lẫn nhạt nhòa
còn vương vấn một lời ca võ vàng
thôi em, ngày tháng miên man
đường xưa giờ bóng thu tan mất rồi
mắt buồn một thuở lên ngôi
bước chân hào sảng đã thôi mời chào
em ơi, này khúc tiêu dao
đường xưa rồi sẽ bước vào lãng du
bàn tay xòe ngón thiên thu
ta xin em một lời ru ngàn đời
NP phan
ví dụ như chiếc lá
em đẹp như tiếng rơi
rớt vào ta tâm tưởng
nhớ mãi một tiếng cười
mai nhỡ ngày xa nhau
anh nói thầm như thế
tình ta dường như thế
đẹp như một tiếng rơi
lúc anh nói yêu em
là khi im lặng nhất
là lúc buồn như sông
trôi qua từng sự thật
ví dụ như sương bay
ngày đồi cao có gió
môi em mầu nơ đỏ
áo đẹp trắng như mây
em đẹp chả làm gì
chỉ cho anh ngớ ngẩn
yêu em anh làm thơ
cho đến ngày khánh tận.
Ngô Yên Thái