NHÀ TÙ; CHƯƠNG 13

Cùng buổi chiều Thanh Thương Hoàng vào cachot, Hồ Văn Đông, Trịnh Viết Thành, Như Phong, Doãn Quốc Sĩ cũng túi bị vào cachot. Chủ nhiệm nhật báo Quyết tiến trụ trì cachot số 6. Chủ bút nhật báo Quật Cường trụ trì cachot số 3. Tác giả Sầu mây chiếm cachot số 11. Tác giả Khói Sóng 1, cuốn tự điển Việt Nam Quốc Dân Đảng, cắm dùi ở cachot số C-2. Những cachots còn lại của C-1 dành cho quý vị đại đức Ấn Quang. Thượng tọa Thích Quảng Độ trụ trì cachot số 7. Được đúng tuần lễ, kể từ hôm Thanh Thương Hoàng giã từ 6C-1, ba chúng tôi, Hồng Dương, Nguyễn Hải Chí, Duyên Anh, nhận lệnh rời phòng. Người công an chấp pháp nói: “Các anh cần đổi nước”. Chúng tôi đã tưởng đi xa. Cuối cùng thì Nguyễn Hải Chí sang khu A; Hồng Dương và tôi vào 1C-1, cái phòng bẩn cả nội dung lần hình thức. Thời gian này, cửa nhà giam đã trổ rộng một nửa gần chấn song và ống nước đã vô phòng. 1C-1 hưởng dưỡng khí và ánh sáng 24/24 đầu tiên. Trưởng phòng 1C-1 tên là Nguyễn Hữu Trí. Hắn vốn làm tài xế tắc xi sau khi giải ngũ. Ở quân đội, hắn đeo lon thượng sĩ. Hồng Dương miệt thị hắn là Trá xế. Trí cấu kết với Viên và Quang. Về sau ba đứa tách rời. Cả ba cùng vượt biên đường bộ, bị bắt ngay tại bến xe đò Pleiku. Phó phòng tên Đảm, quen biết chúng tôi bên Sở Công An. Đa số tù nhân bên 1C-1 là những người tuổi trẻ, đủ thành phần, vượt biên đường bộ, từ Pleiku, Bạn Mê Thuột chuyển về.
Chế độ nhà tù ở Pleiku, Ban Mê Thuộc hết sức tồi tệ. Tù nhân bị tịch thu hết, chỉ còn bộ quần áo dính thân thể. Họ không được tắm gội cả tháng nên ghẻ lỡ kềnh càng, chấy rận lổn ngổn. Ở mấy nhà tù cao nguyên, nhóm tù nhân này đã hục hặc nhau, chia bè kết đảng. Và bộ ba Trí-Viên-Quang bị bọn trẻ thù ghét. Trở về đề lao Gia Định, Nguyễn Hữu Trí vẫn làm trưởng phòng. Giữa hắn và phó phòng Đảm không ưa nhau. Thêm thư ký Miên coi thường hắn nên hắn bám chặt cai ngục. Hắn chỉ sợ mất chức trưởng phòng. 1C-1 ngoài Nguyễn Hữu Trí nham hiểm, còn có “nghệ sĩ” Ngô Văn Sự. Tên này bị gù, có tài về trang trí. Sử nói phét thánh trời. Hắn tự nhận hắn là Chóe, quen thân với Nhã Ca, Duyên Anh, Doãn Quốc Sĩ… Bất ngờ chúng tôi vào 1C-1, Ngô Văn Sử bị anh em lột mặt nạ. Đó là sự bất hạnh của hai chúng tôi. Sử được ra ngoài sơn cửa các phòng tù. Hắn cấu kết với Trí. Hồng Dương và tôi là hai đối tượng báo cáo của hai đứa. “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên”. Tôi không quan tâm hai thằng vô lại này mà rất quan tâm chấy rận vượt biên xâm lăng tôi.
Tôi bắt đầu ghẻ nhiều ở 1C-1. Chúng tôi vẫn chưa được gặp vợ con. Đúng lúc ghẻ hành hạ tôi, vợ tôi viết thư báo tin buồn: “Ông ngoại đã chết. Em mặt áo tang đến xin gặp bố, người ta từ chối”. Thật sự, tôi muốn quên chuyện gia đình. Nhưng muốn quên thật khó. Mà nhớ thì lòng dạ như bị xát muối. Nhìn khuôn mặt hốc hác của Trịnh Viết Thành dán chặt vào ô cửa gió cachot số 3, Hồng Dương bảo tôi:
– Sắp đến lượt mình.
Tôi không sợ cachot. Tôi thèm nằm cachot. Rất giản dị, ở cachot, tôi chẳng cần đề phòng ai. Cachot đề lao Gia Định lý tưởng lắm, nếu không bị còng tay chéo chân để ngủ ngồi. Nhờ ghẻ nặng, tôi loay hoay với ghẻ cả ngày. Khởi sự là ghẻ nước. Ghẻ mọc từng cụm trên mu bàn chân. Vừa khều nặn xong vài mụn, vài mụn khác đã mọc quanh. Chuyện khó tin mà có thật. Cả 1C-1 ghẻ. Ngót 50 tù nhân ngồi nặn ghẻ mủ, ghẻ nước. Tất cả bị nấm tấn công “hạ bộ”. Đàn Ta-Lư gẩy liên miên. Cơ thể tôi thiếu sinh tố.. Da khô và mỏng. Chất nhờn trên mặt da không bài tiết nữa. Ở 6C-1, tôi nặn hết nước, nặn ra máu, thấm khô rồi bôi thuốc xanh, mụn ghẻ chịu ngay. Ở 1C-1, nặn hết nước, bôi thuốc, nước cứ đùn ra. Nước đùn rạ, ghẻ mọc thêm. Ghẻ mọc cả trên mụn ghẻ mới khỏi. Ghẻ tấn công ngược. Bắt đầu ở chân, rồi lên đùi, háng, mông. Ghẻ nước lỡ toét bị nhiễm trùng thành ghẻ mủ. 1C-1 có mấy “dũng sĩ” ghẻ. Hai cẳng ghẻ cơ hồ cơm cháy đắp lên. Nước vàng ri rỉ cả ngày. Bục xi-măng nhớp nhúa. Manh chiếu khô cứng máu mủ, nước vàng. Mùi vị tanh tưởi nồng nặc. Tôi đã ăn, ngủ, hít thở cùng mùi vị tanh tưởi mủ ghẻ ấy. Khi ghẻ mủ mọc khắp cẳng, đùi và đầy mông, tôi mất ngủ. Nằm nghiêng hằng đêm, tôi thao thức. Các bạn trẻ của tôi nhờ dễ ngủ mà bớt ngứa, bớt đau. Nhức ghẻ mủ, ngứa nấm ăn “hạ bộ”, hai cái thái cực quái đản nầy tưởng xa mà gần, tưởng mơ hồ mà hiện thực. Tôi vốn khổ từ niên thiếu. Những nỗi khổ tôi đem vào đời, những nỗi khổ tôi làm cuộc đời tôi, tôi ngỡ đã ghê gớm lắm. Vất đi tại đề lao Gia Định. Vất hết đi. Tôi nằm nghiêng trên hai gang chiếu của phòng 1C-1, ngửi mùi tanh mủ ghẻ, nuốt đắng cay, nghiến răng chịu nhức nhối. Để nhập môn thống khổ.
Sau khi đi học tập viết tự khai và sau khi viết tự khai tại phòng, người ta tách Hồng Dương khỏi tôi. Hồng Dương từ giã tôi. Từ đó tới nay, tôi chưa gặp lại. Tôi không tin tên Nguyễn Hữu Trí báo cáo Hồng Dương. Thời gian chuẩn bị thẩm vấn, người ta cách ly chúng tôi. Để tránh trao đổi ý kiến. Hồng Dương đi, 1C-1 có thay đổi. Anh em vượt biên được gia đình tiếp tế. Xà phòng tắm gội. Quần áo cũ loại bỏ. Phòng bớt tanh và chấy rận bớt dần. Viên đi. Quang đi. Đảm đi. Nguyễn Hữu Trí hòa hoãn với thư ký Nguyễn Hữu Miên và mọi người. Vợ hắn không nuôi hắn. Hắn chợt hiểu cai ngục không cho hắn mì vụn và uống cà phê. Hắn bám anh em. Ngô Văn Sự chuyển trại. Mọi việc bình thường. Tôi bình yên nằm nghiêng nghe mủ mưng trên cơ thể. Lãng mạn một chút, tôi bảo thống khổ mưng giữa nỗi đời cơ cực của tôi.
Tháng 7, 1976, đề lao Gia Định tiếp nhận hàng ngàn tù nhân phản động bình dân. Gọi là phản động bình dân để phân loại. Ngày 30-4-75, các nhà tù thành phố được giải phóng hết. Nhưng 1-5, nhà tù mở cửa đón khách mới. Lâm Văn Thế là khách khai trương. Từ tháng 6-1975 đến tháng 5-1976, đề lao tiếp nhận tù nhân phản động trí thức. Thời điểm rực rỡ này là thời điểm của sinh viên, học sinh, luật sư, giáo sư chống phá cách mạng. Bây giờ là thời điểm của nông dân, công nhân, phu nhà đòn, lơ xe đò, du đãng… Những nhà nghiên cứu Mác xít sẽ nhức đầu về hiện tượng phản động bình dân. Ngoài tù nhân phản động bình dân, tháng 7-1976, đề lao cũng tiếp nhận hàng ngàn tù nhân vượt biên bị bắt. Người ta sắp xây thêm các khu D, E… 1C-1 phải chứa 60 tù nhân! Tôi đã phiêu bạt khá nhiều phòng giam của đề lao Gia Định. Và tôi có một nhận xét: Tỷ lệ đại đức thượng tọa vượt biên 1%, linh mục 99%; tỷ lệ đại đức thượng tọa phản động 99%, linh mục 1%. Những người vượt biên thuộc đủ mọi thành phần xã hội. Vượt biên đường biển thì bị chặn bắt ngay tại Phú Lâm. Vượt biên đường bộ thì bị chặn bắt ngay khi vừa bước xuống các bến xe đò Pleiku, Ban Mê Thuột. Hài hước của vượt biên đường bộ có ông giáo sư họ Mai là biểu tượng. Ông này mang theo ba đôi giày deluxe, hai bộ complet, chục cái cà-vạt, chuẩn bị họp báo ở Vọng Các. Bi thảm thì có cậu cháu anh thợ hàn xì lạc rừng mây ba ngày, đói quá, bẻ trộm bắp, bị mọi cộng bắt trói đem giao nộp Việt cộng. Đúng lúc 1C-1 đông nghẹt, tôi được gọi ra làm việc. Người ta dẫn tôi sang phòng chấp pháp khu B. Tôi cặm cụi đi, không nhìn ngang nhìn dọc. Công an chấp pháp ngồi đối diện tôi. Hắn ta cao lớn, mặt rỗ hoa mè, mặc áo sơ-mi mầu trứng sáo. Chỉ cái ghế trước bàn giấy, hắn bảo tôi ngồi.
– Tôi xin anh một ân huệ?
– Gì?
– Tôi bị ghẻ mủ đầy mông, anh cho tôi ngồi nghiêng.
– Không. Anh phải ngồi ngay ngắn. Vì anh làm việc với đại diện của Đảng (Hắn dân Bắc kỳ, giọng nói miền biển Tiền Hải)
– Hiểu chưa?
– Tôi hiểu.
Tôi đã đụng độ ba thằng việt cộng đằng đằng thù hận. Thằng thứ nhất bên Sở Công An, phòng lý lịch. Nó quát tháo khi thấy tôi ngồi gác chân. Nó bắt tôi ngồi nghiêm túc và mang tội thiếu… văn hóa. Thằng thứ hai ở đề lao. Nó đến cửa 6C-1 ghi lý lịch tôi. Nó mắng tôi nói láo vì tôi khai tôi là nhà văn chế độ cũ. Nó muốn tôi khai tôi là tay sai chế độ cũ. Thằng thứ ba đang đứng trước mặt tôi. Hắn nhìn tôi, hất hàm:
– Khi các anh bắt cộng sản, các anh đối xử thế nào?
Tôi chưa ngồi, tôi vẫn đứng.
– Chúng tôi không bắt ai. Chúng tôi không có quyền bắt ai. Chúng tôi không thích bắt ai.
Tôi nói thêm:
– Nhà văn không phải là nhà cầm quyền.
Phản ứng của tên chấp pháp Bác Kỳ là nụ cười nửa miệng.
– Anh không phải là ngụy quyền?
Tôi đáp:
– Phải.
Hắn dập điếu thuốc lá:
– Nhưng anh là tay sai của ngụy quyền, các anh là tay sai của ngụy quyền, bọn nhà văn Sàigòn là tay sai của ngụy quyền.
Tôi nói:
– Đó là ý nghĩ của anh.
Hắn gằn giọng;
– Của nhân dân. Các anh nhận tiền của Mỹ, của Ngụy chống phá cách mạng, tạo ra chiến tranh tâm lý. Anh muốn tôi kể tên những thằng chống cộng ăn lương Mỹ Ngụy không?
– Anh đừng kể.
– Anh xấu hổ à?
– Tôi đã biết. Chính chúng tôi đã công kích chúng nó công khai.
Chúng nó. Chỉ có vài thằng thôi! Đứa lấy tiền của Juspao, của Usis qua trung gian Lý Trung Dũng. Đứa lấy tiền của Ngô Đỉnh Diệm qua trung gian Bùi Kiến Tín. Đứa lấy tiền của Sở Nghiên Cứu Chính Trị. Đứa lấy tiền của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Đứa lấy tiền của Asian Foundation… Toàn những khuôn mặt khoa bảng và văn nghệ hàng đầu cả. Hai ba đứa làm tôi mọi cho đài phát thanh chiến lược Mỹ. Những thằng nhà văn “for rent” này đã chuồn hết. Chúng tôi ở lại chịu nhục. Chịu nhục với công sản chưa đủ, còn bị chúng nó bêu nhục trên đất Mỹ. Tôi đã cố dằn phẫn nộ để im lặng về thái độ bần tiện của chúng nó khi chúng nó toa rập nhận chìm tôi xuống bùn nhơ. Rõ rệt, chúng nó đã “bắt nạt tôi những ngày đầu lưu vong của tôi”.
– Anh công kích?
– Người khác.
– Ai?
– Anh có đọc một bài báo của Nguyên Sa không?
Hắn bảo tôi:
– Anh ngồi xuống.
Tôi hỏi:
– Ngồi nghiêng?
Hắn lắc đầu:
– Ngồi ngay ngắn, ngồi nghiêm túc.
Tôi ngồi ngay ngắn. Nỗi đau khác đã làm bớt nỗi đau ghẻ mủ. Tôi biết sức nặng của phần trên thân thể đã bắt những mụn ghẻ mủ ở mông tôi vỡ ra. Tên công an chấp pháp biết rõ hơn. Hắn thích vậy. Hắn muốn nhìn tôi đau đớn. Bao thuốc chìa ra, hắn mời:
– Anh hút thuốc.
Tôi rút một điều thuốc Vàm Cỏ. Hắn quẹt diêm cho tôi mồi thuốc.
– Tôi gọi anh ra để mạn đàm.
Hắn nhả khói thuốc.
– Mạn đàm cũng là làm việc đấy.
Cuộc mạn đàm bắt đầu.
– Anh xa nhà mấy tháng rồi, anh Duyên Anh, thần tượng của tuổi trẻ?
Giọng mỉa mai, hắn bĩu môi nói hai tiếng “thần tượng”. Mạn đàm với hắn là vấn nạn, đối với tôi, với chúng tôi, những nhà văn, nhà thơ bị bỏ tù.
– Tôi không là thần tượng của ai cả. Tôi đã viết điều này. Làm thần tượng có hai điều khổ. Một, trở thành nô lệ của những kẻ phong tước vị cho mình. Hai, sẽ bị đạp đổ.
– Anh đã được coi là thần tượng?
– Tôi thành thật khước từ.
– Tại sao?
– Tôi thích tự do làm theo ý của tôi. Thần tượng, tôi phải làm theo ý của người khác. Khác ý họ, tôi bị đạp đổ nhục nhã. Nhưng thần tượng là cái gì? Theo tôi, thần tượng là đất nung, gỗ đẻo.
– Anh ám chỉ ai?
– Tôi nói tôi.
– Mà anh mà là thần tượng à?
– Anh vừa bảo tôi là thần tượng.
– Anh tin tôi thành thật ư?
– Cách mạng không bao giờ gian dối.
Hắn nhìn thẳng mặt tôi, đôi mắt hắn long xồng xộc:
– Lũ các anh là thần tượng móc méo, xỏ xiên. Tôi hỏi anh xa nhà mấy tháng rồi?
Hắn chuyển đoạn cau có. Tôi chậm rãi đáp:
– Tôi vào tù từ 8-4.
– Ai bảo anh vào tù?
– Cán bộ Ba Trung bên Sở.
– Anh đi học tập cải tạo tư tưởng.
– Tôi xa nhà.
– Anh xa nhà đi hoc.
– Vâng, tôi xa nhà đi học được bốn tháng rồi.
– Thấy thế nào?
– Nhớ vợ, thương con.
– Có vậy thôi?
– Phải, có vậy.
– Không thấm thía à?
– Không.
– Thế là chưa tiến bộ, chưa có chuyển biến tư tưởng. Anh cần học tập lâu hơn.
– Tùy anh.
– Tùy ở chính bản thân anh đấy.
Thằng rỗ mặt hoa nầy coi bộ đã nhận chỉ thị áp đảo tinh thần tôi. Tất cả những nhà văn, nhà thơ làm việc, bị mạn đàm đều bị làm khán giả xem kịch sĩ công an thủ các vai Ác và Thiên. Hễ hôm nào bị Ác át giong, ngày mai sẽ được Thiện vuốt ve. Ác bít lối, Thiện mở đường. Thiện thỏa mãn yêu sách chưa được thực hiện, Ác đã xoá bỏ ngay tức thì. Thằng mặt rỗ hoa mè mặc áo sơ mi mầu trứng sáo, tháng 6 năm 1977, gặp Doãn Quốc Sĩ ở 3C-1, kể lại cuộc mạn đàm, anh Sĩ nhận ra “cố nhân” liền. Anh Sĩ nói: “Nó đã dọa chặt tôi ra làm ba khúc xem thân thể tôi có là kim cương. Chính nó tống tôi vào cachot.”
– Anh Duyên Anh.
– Tôi nghe.
– Đồng chí Ba Trung bảo anh vào tù là đúng.
– Tôi không xa nhà đi học?
– Anh nằm tù.
– Anh vừa nói …
– Bây giờ là chân ly, anh nằm tù. Anh nằm tù suy nghĩ tội ác. Các anh nằm tù suy nghĩ tội ác.
Bổng hắn hất hàm:
– Thằng Doãn Quốc Sĩ thế nào?
Tôi thừa hiểu, khi chúng nó nói chuyện với nhau, khi chúng nó nói với anh em của tôi, chúng nó cũng gọi tôi là thằng Duyên Anh, như lãnh tụ của chúng nó mở miệng là thằng Diệm, thằng Nhu…
– Đó là thằng được nhiều người kính trọng.
– Thằng Doãn Quốc Sĩ được nhiều người kính trọng? Nó ví Hồ Chủ Tịch là chồn tinh chín đuôi. Vũ Hạnh báo cáo thằng Sĩ thường nhục mạ Bác. Sàigòn có ba thằng đáng tội chém. Thằng Doãn Quốc Sĩ viết cổ tích lăng mạ lãnh tụ Hồ Chí Minh. Thằng Chóe vẽ cờ tổ quốc cắm lên cán chổi. Còn anh, anh ví cờ tổ quốc với xì-líp đàn bà có kinh. May cho các anh, Biệt đôi bận việc khác, chứ không, các anh đã ăn đạn như thằng Chu Tử.
Chu Tử viết Ao thả vịt của nhật báo Sống, chê “Hồ chủ tịt làm thơ như cục kít”. Tôi xin phép được nói rõ về trường hợp Chu Tử và sau đó, một vài trường hợp ngộ nhận quốc gia sát hai quốc gia. Thuở báo Sống chống đối sự thừa thắng xông lên của các ông sư chính trị, nhóm Phật giáo quá khích đã đốt tòa soạn Sống, đốt luôn chiếc xe Vespa mới toanh của nhân viên trị sự tên là Vũ Hải Vân. Chu Tử nổi giận. Nhật báo Sống đánh sư chính trị, sư thành phố thả giàn. Chu Tử bị mưu sát. Chúng tôi quả quyết thủ phạm là thượng tọa Thích Thiên Minh. Báo chí Sàigòn tỏ thái độ với Phật tử ồn ào xuống đường và lãnh tụ của họ. Tự nhiên, nhà cầm quyền hưởng lợi. Chẳng cần thuê mà báo chí xúm nhau “mần thit” những kẻ chống đối mình. Rồi thượng tọa Thích Thiên Minh bị mưu sát. Phật giáo Ấn Quang đổ riết tội cho nhà nước. Nhà nước, nhà chùa, nhà báo chơi nhau lung tung beng. Nhà báo bảo nhà chùa … dàn cảnh. Đến khi chết giữa biển và chết trên quê hương, Chu Tử vẫn tưởng Thích Thiên Minh bắn mình và Thích Thiện Minh vẫn tường nhà nước hại nhà chùa. Tôi, nhờ nhà tù, tai nghe rõ cộng sản xác nhận họ bắn Chu Tử. Họ gây xáo trộn tình hình Sàigòn. Từ đó, tôi nhận diện thủ phạm ám sát Nguyễn Văn Bông và Trần Văn Văn. Tôi vốn không ưa ông Kỳ và không hưởng bổng lộc gì của ông Loan, nhưng tôi muốn đóng góp một chút sự thật vào sự thật của lịch sử. Trong cuốn Một người tên là Trần Văn Bá, tôi viết ông Nguyễn Cao Kỳ và ông Nguyễn Ngọc Loan không hề ám hại nhà chính khách đối lập Trần Văn Văn. Thủ phạm vẫn chỉ là việt cộng, tác giả các vụ Chu Tử, Thích Thiện Minh, Nguyễn Văn Bông, Trần Văn Văn,… Phản ứng của bà Trần Văn Văn là, căn cứ vào một tờ báo lưu vong xuất bản tại Úc Đại Lợi, ký tên một tác giả không ai biết, vẫn khẳng định Kỳ, Loan giết chồng bà. Những ngộ nhận tại hai điển hình vừa kể, cần phải chấm dứt. Còn ngộ nhận là còn chơi trò chơi tạo mâu thuẫn của cộng sản.
– Tại sao anh dám ví cờ tổ quốc với xì-líp đàn bà có kinh?
– Tôi không biết trả lời.
Trả lời thế nào? Trả lời hôm nay, khi ngồi viết hồi ký ở Ivry Sur Seine rằng, tôi ví cờ tổ quốc của anh với xì-líp đàn bà có kinh vì tôi ghê tởm cờ tổ quốc anh. Tôi không ham nói phét, dẫu nói phét không bị đánh thuế và dẫu có thể được coi như ngục sĩ anh hùng. Cuộc đời đã thừa thãi những anh Rambo, chẳng nên thêm tôi. Ở cuốn Đàn bà, người đàn ông bị vợ từ chối không cho làm tình, gã hỏi “Hôm nay em kéo cờ cộng sản hả?”. Tôi dám ví cờ đỏ sao vàng với xì-líp đàn bà có kinh? Cộng sản chụp mũ tôi. Họ ví chứ tôi không ví.
– Anh chỉ biết viết?
– Tôi không biết trả lời.
– Anh không trả lời?
– Anh hiểu tôi khó trả lời mà.
– Anh cần suy nghĩ.
– Phải.
Hắn tống tôi vào cachot khu B, khóa chặt cửa gió, không cho tôi về 1C-1 thu dọn hành lý, không phát chiếu, không còng tay. Cuộc mạn đàm kết thúc như vậy. Tôi có dịp biết cachot. Và tôi bằng lòng ở cachot. Cachot là phòng lý tưởng của khách sạn quốc doanh đề lao. Đang nằm nghiêng trên hai gang chiếu ở cái phòng tập thể nhung nhúc tù nhân, nồng nặc mùi mồ hôi, hôi nách, ghẻ mủ, được nằm thoải mái một bục xi-măng láng coóng, yên tĩnh, cầu tiêu, vòi nước riêng, tôi cảm giác mình được cách mạng đãi ngộ. Đối diện dãy cachot nhốt tôi là các phòng tập thể khu B dành riêng cho nữ tù nhân. Tôi không nhìn thấy ai cả. Thú thật, lúc ấy tôi quên sợ hãi. Càng ở tù lâu, hai chữ cũng đành càng lớn và cảm giác sợ hãi nhỏ dần. Ngồi mạn đàm với đại diện của đảng cộng sản quang vinh, những mụn ghẻ mủ ở mông tôi vỡ ra, ướt nhẫy đít quần. Bây giờ, quần bám chặt vào mụn ghẻ tạo thành mảng mài lớn, khô cứng. Tôi không dám gỡ ra, sỡ máu sẽ chảy và lại thành mảng mài lớn. Với riêng nỗi khổ ghẻ mủ, tôi đã muốn ngồi lên mặt những đứa bịa đặt chuyện bêu nhục tôi ở tù bằng cái đũng quần cứng khô máu mủ. Nhưng mà tôi đã ngồi lên mặt chủ nghĩa cộng sản. Như thế hách hơn.
Người ta không cho tôi ăn cơm trưa, không cho cả nước sôi. Tôi ghé miệng vào vòi nước, vặn rô-bi-nê uống nước phông tên. Rồi tôi nằm duỗi chân, dang chân thoải mái mà ngủ. Cơn mưa lớn đã ru tôi ngủ ngon. Khi tôi thức giấc, mưa đã tạnh và ngọn đèn vàng trong cachot đã bật. Mụ cai ngục lùn, mắt lé mở khóa. Tên công an chấp pháp mặt rỗ huê đợi tôi bước ra. Hắn hỏi tôi:
– Anh suy nghĩ chưa?
Tôi nói:
– Đói quá, tôi không suy nghĩ được.
Hắn nín thinh dẫn tôi về khu C-1, giao tôi cho cai ngục. Tôi trở lại 1C-1 ồn ào và tiếc rẻ cachot khu B. Sáng sớm hôm sau, trước cả giờ báo thức, cai ngục gọi tôi ra làm việc. Tên công an rỗ hoa dẫn tôi ra khu A, tống tôi vào cachot. Nhờ ví cờ cộng sản với xì-líp đàn bà có kinh, tôi biết thêm cachot khu A, khu sát khít trường Hồ Ngọc Cẩn. Hôm nay tôi bị còng tay chéo sau lưng. Vẫn bị cúp bữa cơm trưa, cúp nước sôi. Chập tối, tên công an rỗ hoa lại dẫn tôi về khu C-1. Một tuần liền, sáng sớm tinh mơ tôi vào cachot, chập tối tôi ra cachot với vài kiểu còng tay, còng chân. Bố tôi, tháng 9-1975, đi lẻn vào Sàigòn, dạy tôi kinh nghiệm ngục tù: “Ăn ít, dù gia đình tiếp tế đầy đủ. Tập thắt dạ dày, vì, sẽ bị nhịn vài ngày”. Nhờ kinh nghiệm của bố, được … học tập ăn một bữa suốt tuần, tôi đã tồn tại.
Trò chơi của tên công an chấp pháp rỗ hoa đến đó là chấm dứt. Hắn không cho tôi ngủ đêm ở cachot. Hắn cũng quên hỏi tôi “Suy nghĩ chưa”. Tôi bị bỏ rơi ba ngày liền. Lúc này, Doãn Quốc Sĩ đã từ cachot 12 chuyển về cachot số 1 đối diện phòng tập thể của tôi. Trịnh Viết Thành, Hồ Văn Đông bị sang Sở Công An. Chuyến đi này có thêm Nguyễn Mạnh Côn. Bên cachot C-2, Như Phong vẫn khước từ viết tự khai. Bệnh ghẻ mủ của tôi không thuyên giảm. Có mòi tăng triển. Ghẻ báo động … đỏ. Mỗi tuần, vào buổi trưa nắng, đề lao cho tù nhân ra phơi nắng 10 phút. Phòng này vào, phòng kia ra. Tù nhân ngồi nguyên chỗ của mình. Các cửa gió của cachot đóng kín, đề phòng liên lạc bằng dấu hiệu. Mười phút nắng chỉ làm ghẻ buồn cười. Hôm tắm nắng, đồ đạc treo lên hết. Trực sinh rửa phòng và y tế xịt thuốc trừ chấy rận. Tôi khám phá ra sự thiếu máu. Ở ngoài nắng bước vô, mắt tôi mờ đi mấy phút. Tôi ôm mặt đứng. Cứ ngỡ mình đã bị lòa. Tôi thèm nói chuyện mắt với Doãn Quốc Sĩ. Anh ta không hề dán mặt vào ô gió cachot như những tù nhân khác. Sáng sớm, Sĩ chạy tại chỗ. Rồi thiền và ngủ. Vợ tôi vẫn tiếp tế đều đặn. Qua ba ngày không thấy tên công an chấp pháp rỗ hoa gọi ra, tôi ngỡ đã yên thân. Tôi nhầm. Cai ngục lại réo tên cúng cơm của tôi.
– Vũ Mộng Long.
– Có.
– Mặc quần áo ra làm việc.
Chú thích:
Viết tiểu thuyết, Như Phong ký Lý Thắng. Trường thiên tiểu thuyết Khói Sóng đăng dang dở trên nhật báo Tự Do trước 1963.

Chiều Sài Gòn

 

Chiều Sài Gòn sao lòng anh trống rỗng
Khi đi tìm gót nhỏ dưới hàng sao ?
Ngày tháng hẹn…cơ hồ qua mất bóng
Em không về, ai sưởi ấm tình đâu ?

Chiều SàiGòn anh không đợi mưa mau
Sao lại ướt tóc bồng bay trong gió ?
Khói thuốc cứ bay vòng theo nỗi nhớ
75 buồn, quán nhỏ một mình sao ?

Chiều Sài Gòn anh chẳng biết đi đâu
Lang thang để chở sầu về trong mộng
Em ơi em ! Chiều nay không chút nắng
Anh lấy gì hơ hóng trái tim đau ?

Chiều SàiGòn đi dưới dãy nhà cao
Lại thương em bên chiều Thủ Dầu Một
Căn nhà nhỏ, có một người dựa cột
Tiếc ngày xưa không hái mộng ban đầu!

Chiều SàiGòn nhớ con-mắt-dao-cau
Em nhìn anh- cháy lòng người ở phố!
Chỉ một khắc thôi trong lần sơ ngộ
Sao một đời ta đau đáu vì nhau ?

TRẦN DZẠ LỮ

BỐN MÙA THIỀN MỘNG

 

 

mùa thu còn để bên bờ
hẫng chân tôi bước trật mùa xuân xanh
mộng đầy hơi thở lữ hành
đan điền chấm lửng tròng trành mộng ra
chân mòn con dốc ghé qua
băng triền núi lở mưa sa cuối hè
chập chờn hoa phượng lắng nghe
hoa mai trổ nụ, hoa chè trổ hương

bốn mùa hạt nảy bốn phương
xuân thu nhảy với vô thường hạ đông
hai vai trần thế quay mòng
chợt đâu nắng vội trong lòng mưa xuân
đan vui từng chặng xen buồn
cũng còn mộng ảo soi gương mỗi đời
soi người rồi lại soi tôi
hằng hà bào ảnh phân đôi số phần
bao nhiêu chìm nổi xa gần
nửa xoay huyễn tượng, nửa quần nhân sinh
từng cơn sấm chớp thình lình
bốn mùa tung toé thân mình lại rơi
con đường lữ thứ xa xôi
dài từ thiên cổ đến tôi là cùng
tự nhiên có bỗng là không
tự nhiên hữu bỗng nảy bông không thời
thì chơi tận cuộc sinh sôi
bốn mùa chắc đủ nguôi ngoai gọi là…

Phù Du

TRONG GÓC TỐI

 

 

Và đêm đó tôi mơ, giấc mơ vượt qua thung lũng, qua thảo nguyên xanh non, qua tuyết trắng đại hàn, đến với tôi khi tôi đang nghe khúc Main Theme. Vượt qua cả mười năm xa cách, vượt qua cả mười năm đợi trông, trong mơ, tôi gọi tên An, trong mơ tôi đã hình dung khuôn mặt của An, khuôn mặt tôi đã hình dung suốt mười năm qua. Tôi ngồi đó, ràn rụa nước mắt nhìn giấc mơ trước mặt mình, An ơi
Giấc mơ về một ngày quá khứ.
Hay giấc mơ cho một hoài niệm không bao giờ thành sự thật?
Biển đêm không xanh mà sâu hút.
Hay hơi se lạnh đêm cuối năm.
Đống lửa đốt dưới rặng dương không đủ ấm. Tay An lạnh buốt, và chúng tôi ngồi dưới sương, nhìn đêm trắng đi qua, nhìn ban mai từ từ loãng ra, như cách chúng tôi dần mờ tan trong nhau.
Tôi ngồi trong góc tối, nước mắt vẫn ràn rụa trên mặt. Trong mơ, tôi chỉ muốn chụp chung với An một tấm hình. Tấm hình chúng tôi cùng mang áo liệm. Nhưng thật khó khăn. Chúng tôi đã phải leo qua mấy con dốc cành khô gãy dưới chân. Leo qua bao cảm giác chông chênh. Tôi muốn được vịn tay An biết bao.
Giấc mơ đưa tôi đến với màu trăng xưa không tàn. An có cùng đưa tay níu thời gian với tôi?
Những năm tháng ấy, An từng nói tôi nghe về góc tối An náu mình. An nói về sự bất an của ánh sáng, An nói về nỗi sợ hãi hạnh phúc, về ảo giác, về ảo vọng làm người, tại sao tôi không hiểu An, không thấu được cảm giác như bây giờ? Mười năm, quá dài cho một lời chia sẻ. Tôi không muốn hiểu lời giải thích vì sao An ra đi.
Cách đây mười năm, An nói với tôi , An chỉ thích ngồi miệt mài trong bóng tối, An thấy an toàn trong góc tối của mình, những đêm dài sâu, An kể tôi nghe những cảm xúc ấy, An nói về sự cô đơn, mất niềm tin, sự không thỏa hiệp. tôi từng nghĩ, điều gì đã làm cho chàng trai mười sáu tuổi phải dằn vặt như vậy. Tôi đã không hiểu được An, không chia sẻ được gì cho An. Bây giờ, An không còn, tôi vừa chợt nhận ra thì An đã không còn. Đêm thì quá dài, An ơi
Tôi ngồi trong góc tối và ràn rụa nước mắt. Trong nhà vẫn khói nhang mù mịt. Mẹ vẫn chốc chốc trợn ngược mắt, nhảy dựng lên “ hí í í í í í …..”. Hai bên chiếu, mọi người rạp xuống lạy. Lúc này mẹ là Thánh . “ Không biết là Thánh Xuân Nhất hay Thánh Xuân Nhị về đấy?” Mọi người thì thào. Mẹ thành Thánh từ hai mươi năm nay. Xuân Nhất và Xuân Nhị là hai thằng anh song sinh của tôi. Hai đứa nó chết lưu trong bụng mẹ trong thời gian mẹ đi buôn mực khô. Muốn qua trạm quản lý thị trường, mấy bà thường bó mực vào bụng, giả làm bụng bầu. Mẹ vác cả hai đứa trong bụng, lại còn nịt thêm gần chục kí mực, bó chặt quá nên tụi nó chịu không nổi, sống không nổi mà chết non trong bụng. Sau này buôn bán lỗ lã, quản lý thị trường bắt mấy vụ, vậy là cụt vốn. Mẹ về quê và thành “Thánh” để kiếm cơm.
Thánh lại hí thất thanh thêm lần nữa, sau đó mẹ ngã lăn ra đất. “ Ngài thăng rồi, vừa rồi là ngựa hí đưa Ngài đi” Mọi người lại thì thào. Họ mặc lại áo cho người điên vừa được đưa tới cho Thánh chữa bệnh. Tấm lưng trần nát nhừ những vết bỏng đỏ loét vì mẹ dùng nhang cháy quất vào. Tôi ngồi trong góc và xây xẩm nhớ lại tấm lưng trần của An. Ngày xưa, An cũng được mẹ chữa bệnh điên như thế.
Tôi ngồi đó và ràn rụa nước mắt. Có tiếng ba lè nhè trong nhà : “ Ăn rồi chỉ biết đánh bạc, con đàn bà hư đốn” Mùi nhang vẫn còn nghi ngút trong nhà. Mẹ đã sang bên xóm đánh tứ sắc, có khi hết đêm nay chưa về.
Góc tối lạnh và nhiều muỗi, hai thằng anh chết non của tôi đang nhảy nhót trửng giỡn trên cái am thờ trước nhà. Xuân Nhất bẻ một trái chuối lột bỏ miệng nuốt chửng, thằng em thì đu đưa trên con ngựa giấy “ Mày đi chơi với bọn tao không? Vui lắm cơ” Xong nó cười ré lên. Tôi muốn ăn chuối nhưng dạ dày nóng rát, mồ hôi lạnh với nước miếng lạt túa ra. Tôi đói, sáng giờ chưa được cho ăn thứ gì. Tôi muốn nôn mà không nôn được.
“ Mày chơi vui thì mày chơi một mình đi, sao mày bắt An của tao theo mày làm chi?”
“ Nó chết do mẹ cho nó uống thuốc tầm bậy mà lại không cho nó ăn nên nó trúng gió mà chết chứ, mà cũng tại mày đêm hôm đưa nó ra biển chi, đâu phải tại tao, thôi bọn tao đi đây”
Tôi vẫn ngồi đó và ràn rụa nước mắt như đã khóc bao năm nay.
Trong nhà im lìm, ba đã ngủ, thằng em trai sau khi đi chơi về khuya cũng lăn ra sàn nhà ngủ luôn. Mẹ vẫn chưa về.
Giấc mơ lại đến với tôi, giấc mơ vượt qua sóng ngút bạc đầu, qua chiều mưa tầm tả, qua hàng phi lao xanh ngắt khi tôi lén tháo xích cho An và dắt An chạy ra biển trốn. Giấc mơ được triệu hồi trong sự đập cánh loạn xạ của ánh sáng, giấc mơ nhấn chìm con sóng dữ nào đó đã từng nhấn chìm chiếc thuyền thúng của tôi và An trên biển. Giấc mơ của tôi há to miệng cắn ngập biển từng miếng và nhai nuốt ngon lành. Biển vỡ ra từng mảnh, xanh ngắt và trong suốt như nước mắt , những giọt nước mắt tôi đã khóc mười năm nay. Biển nhỏ dần, nhỏ dần rồi biến mất trong cái miệng khổng lồ ấy. Nhưng còn An của tôi, An của tôi vẫn còn nằm lại trong biển, giấc mơ đã ăn hết biển rồi, tôi còn biết tìm An ở nơi đâu?
Khi ấy, tôi bị sóng đánh giạt vào bờ, còn An thì không thấy đâu cả. An của tôi đi đâu? Tại sao mẹ lại xích tôi lại mà không cho tôi xuống nước tìm An?
Tôi ngồi bó gối trong góc tối và ràn rụa nước mắt, chân tay tôi lạnh buốt và thân thể càng lúc càng nhẹ bẩng. Tôi phải đi tìm An, tôi nương theo ánh trăng xanh lét cuối tháng mà bay. Được một đoạn, tôi ngoái lại nhìn căn chòi tôi đã ngồi suốt mười năm nay, nơi đó vẫn tối, lạnh và nhiều muỗi.
Một cơn gió thổi qua làm tôi xính vính, tôi lại nương theo ánh trăng lạnh buốt mà bay lên, theo mùi hương xa lắc xa lơ dội về từ phía u mê.
Mùa hè đã đi vắng mười năm nay, chỉ còn cơn mưa khan tiếng trôi mệt mỏi.
Bay nhanh lên, bay đi trước khi ánh trăng tàn đêm nhạt dần, gió vẫn ầm ào hú lộng dập dềnh trong linh ẩn cơn mơ.

 

Phương Uy

 

 

 

NHÀ TÙ: Chương 12

 

Bạn biết người y tá tù là ai không? Đoàn văn Toại, tác giả Goulag Vietnamien láo lếu đấy. Cái xó xỉnh đề lao Gia Định này là biểu tượng của nền ngục tù ô nhục của công sản ư? Đoàn Văn Toại chỉ quanh quẩn ở đề lao Gia Định. Anh ta bị bắt trước tôi vài tháng. Khi tôi đến đề lao, Đoàn Văn toại được ban phát ân huệ giúp việc Phòng Y Tế. Trưởng phòng Y Tế, bác sĩ Quang, y sĩ trung úy Thủy Quân Lục Chiến … nằm vùng. Sau 30-4-1975, anh ta mang quân hàm trung úy công an. Có lẽ, Quang là bí danh của anh ta. Đoàn văn Toại nghiền, tán thuốc dân tộc và phát thuộc các phòng tập thể C-1. Anh ta chưa được bén mảng ở cửa cachot. Toại hưởng quy chế ăn uống, tắm giặt thoải mái trên Phòng Y Tế. Mỗi tuần, Toại ra cổng trại, nhận thuốc của thân nhân tù nhân đăng ký. Bề ngoài nhận xét, Đoàn Văn Toại có vẻ là một cán bộ bị kỷ luật hơn một tù nhân chính trị. Lý do nào anh ta được cộng sản tin cẩn, tôi không hiểu. Toại biết thân, biết phận, không bàng nhàng với anh em. Một cách vô tư mà nhận xét, dưới mắt tôi, Đoàn văn Toai chỉ khúm núm cầu an. Anh ta chưa hề hại ai. Mà cũng chẳng ai có thể hại ai ở trong tù. Những kẻ xử dụng ngôn từ đao to búa lớn “Bước lên xác anh em, bán xác anh em” là những kẻ gian dối. Nó đã chứng tỏ kiến thức nhà tù cộng sản quá thấp. Cộng sản không bao giờ tin cả những tên họ xử dụng làm tai mắt cho họ. Hễ tên “ăng-ten” báo cáo một tù nhân nào, ít nhất, hai tù nhân khác bị gọi ra làm việc trước. Và câu hỏi như vậy: “Anh thấy anh X có khả năng làm việc đó, nói điều đó không?” Nếu hai tù nhân “chứng nhân” trả lời “không”, tù nhân bị báo cáo bình yên, và tên “ăng-ten” viết tự kiểm. Tôi đã trải qua ba nhà tù lớn nhất và hãi hùng nhất của miền Nam, tôi chưa thấy một tù nhân nào bị chết vì bị “ăng-ten” báo cáo. Tôi cũng chưa thấy một tù nhân nào được thả sớm nhờ làm “ăng -ten”. Chuyện “ăng-ten” là chuyện nhỏ nhặt đấy. Bạn còn nhớ Vũ Thành An, tác giả Những bài ca không tên chứ? Tất cả viên chức cao cấp “ngụy quyền” ở Lòng Thành đều rõ. Vũ Thành An đã sáng tác ca khúc có đoạn:
… Nay mới rõ, đế quốc Mỹ là quân xâm lược
Nay mới rõ, lũ ngụy quyền là lũ tay sai
Bao nhiêu năm mình cúc cung phục vụ miệt mài …
Nhờ ca khúc … nín thở qua câu này, Vũ Thành An ho lao đỡ phải vác cuốc, ngồi nhà làm Thông Tin Văn Hóa tù. Rốt cuộc, anh ta vẫn bị đày ra Bắc và trở về bệnh hoạn tiều tụy. Người ta có nỡ kết án Vũ Thành An làm “ăng-ten”, Vũ Thành An “bán xác anh em” không? Vẫn ở trại cải tạo Long Thành, bác sĩ N. Ng. T. (hiện đang định cư ở Mỹ) phục vụ tại bệnh xá tù, đã tình nguyện vác cả tủ lạnh, ti vi đem vào dâng Trưởng trại Ba Tô để hưởng nhàn, để tích trữ thuốc và để Chánh án Đào Minh Lượng mất nửa lá phổi, để Vũ Thành An ói máu thì sao không ai nói? Chưa đủ đê tiện, bác sĩ T. còn dụ đưa Ba Tô về Sàigòn chơi, cho Ba Tô ăn uống no say, để được ngủ với vợ. Và bầy trò khám các nữ tù trại Long Thành để bọn cai tù … coi xi nê thỏa thích 1. Sao không nghe ai nói nhỉ? Tôi sẽ bênh vực đến cùng, nếu ai bảo Đoàn Văn Toại làm “ăng-ten”. Toại, ban ngày, ở ngoài phè phỡn, ban đêm, vào phòng 7C-1. Phòng 7C-1 có phóng viên lùn Văn Chi, dũng sĩ quốc gia đã đánh hai Pháp kiều thân Cộng treo cờ Giải Phóng ở trung tâm Sàigòn trước 1975. Sau năm 1975, Văn Chi bán phở và tham gia tổ chức phản động. Anh ta đã “chào mừng” tôi bằng trái xoài nhờ Đoàn Văn Toại chuyển. Phòng 7C-1 có tỷ phú Phạm Quang Khai, vua tàu dầu, tư sản mại bản. Ông Khai có 50 chiếc tàu chuyên chở dầu chiến lược. Ông không tin thủy thủ đoàn Việt Nam, chuẩn bị một chiếc tàu với thủy thủ đoàn Đại Hàn. Chổi cùn, dế rách ở biệt thự nguy nga số lẻ đường Công Lý, đối diện trường Régina Mundi, được khuân hết xuống tàu. Vợ con ông đã đi từ khuya. Ngày 29-4-1975, ông khệnh khạng xuống tàu. Thủy thủ đoàn Đại Hàn ớn cộng sản đã chuồn rồi. Ông tỷ phú đứng khóc. Ông muốn điên. Ông lú lẫn. Ông không kiếm người khác. Ông sợ tàu… chìm. Và ông … vào tù y hệt tinh thần luân lý giáo khoa thư: “Ba quan đắt quá, thà chết còn hơn”. Phòng 7C-1 có cụ Cao Văn Diên, phản động già và cụ Trần Văn Liễu, phản động gân. Nhân vật Cao Văn Diên hiện diện trong Goulag Vietnamien của Đoàn Văn Toại như một ông già bị bắt oan và chết tại đề lao Gia Định. Sẽ đề cập sau.
Nhờ thảnh thơi ban ngày ngoài phòng giam, Đoàn văn Toại đã thoát dịch ghẻ 1976 kéo dài từ tháng 4-1976 đến tháng 10-1976. Cuối năm 1976, Toại bị tống vào phòng vì sự liên hệ lèm nhèm nào đó. Chức vụ y tá C-1 rơi vào tay Lý Sen, chủ nhà băng Đông Nam Á, tư sản mại bản Chợ Lớn. Đoàn Văn Toai bắt đầu bất mãn. Vợ anh ta, quốc tịch Pháp, con gái nhạc sĩ Võ Đức Tuyết, đã ẵm con sang Tây. Toại ở chung phòng với Đặng Giao bên khu A. “Ngày nào thành công, tôi sẽ sản xuất một loạt cầu tiêu hình đầu Hồ Chí Minh. Cái miệng lão là chỗ phân rơi xuống!” Đoàn Văn Toại tâm sự với Đặng Giao và Đặng Giao kể lại ngày chúng tôi tái ngộ ở Chí Hòa. Rồi Toại được thả, được leo lên máy bay Air France, đoàn tụ gia đình. Tôi vượt biển sang Pháp, biết Đoàn Văn Toại đã kể chuyện đề lao cho Minh Đức Hoài Trinh và Minh Đức Hoài Trinh thông dịch cho một ký giả Tây. Và Goulag Vietnamien xuất bản. Tôi lại biết Toại đã vận động định cư ở Mỹ và theo Trương Như Tảng. Tảng theo Hoàng Văn Hoan, chỉ chống tập đoàn Lê Duẩn – Trường Chinh, chứ không chống cộng sản Việt Nam. Họ đã xác định lập trường. Hồ Chí Minh vẫn là xác chết được tôn thờ. Cậu Đoàn Văn Toại từng bầy tỏ chí khí “Sản xuất một loạt cầu tiêu hình đầu Hồ Chí Minh. Cái miệng lão là chỗ phân rơi xuống”. Bây giờ, cậu Đoàn Văn Toại “phản tỉnh”, “thức tỉnh”, cậu hò hét “Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”. Giữa Toại và tôi đã có biên giới.
Mùa thu 1985, Đoàn Văn Toại, qua Paris, với tư cách cựu tù nhân đề lao Gia Định, mời tôi ăn tối. Với tư cách cựu tù nhân đề lao Gia Định, tôi nhận lời. Chúng tôi hẹn nhau ở quán Đào Viên quận 13. Đoàn Văn Toại tặng tôi cuốn Goulag Vietnamien. Tôi nói:
– Tôi đã đọc. Sách của cậu đáng liệng vào thùng rác. Vì có những ba điều bố láo. Một: Ở đề lao Gia Định, giấy và bút bị nghiêm cấm. Công an kiểm tra hành lý tù thường xuyên, cậu đào đâu ra giấy bút mà lập kiến nghị? Rồi tù nhân bị nhốt kỹ 24 trên 24, cậu liên lạc với ai mà xin được hàng trăm chữ ký? Hai: Cụ Cao Văn Diên phản động nặng, cụ bị đầy lên Pleiku và chết tại Gia Trung, cậu bảo cụ ấy chết ở đề lao. Cậu được tha, cụ Diên vẫn còn nằm ở đề lao. Cụ Diên rời đề lao sau 2-9-1977. Ba: Cậu quả quyết tôi chết rồi. Còn rất nhiều bố láo. Ba điều thôi đã đủ liệng sách “Chứng nhân” của cậu vào thùng rác. Tôi sẽ chửi nhà xuất bản Laffort cái tội rủa tôi chết.
Đoàn văn Toại cười cầu tài:
– Tôi kể đại ông ơi!
Tôi nhìn thẳng mặt anh ta:
– Điều nầy ngoài cuốn sách. Cậu là thằng bất nhân. Đã cho tôi chết, cậu còn bảo tôi làm “ăng-ten”
Toại chối:
– Tôi thề với ông, tôi không hề bêu nhục ông. Đứa nào nói với ông vậy?
Tôi chậm rãi:
– Bạn cậu, Vũ Ngọc Yên, tạp chí Độc Lập bên Đức.
Đoàn Văn Toai câm họng. Tôi cười xòa và bốc anh ta chín từng mây. Toại khoái chí chửi Trương Như Tảng cù lần, Hoàng Văn Hoan đần độn, Nguyễn Công Hoan ngu dốt, Tô Văn cố đấm ăn xôi… Anh ta nói về đài phát thanh sẽ lập ở Tân Gia Ba, gợi ý mời tôi bằng cách than thở thiếu nhân tài. Nội tình của phe nhóm anh ta, anh ta kể vanh vách. Tôi nghĩ thầm: Mẹ kiếp, mày nhóc tì, tuổi ít hơn ông, ngu hơn bò mà cứ đòi đi mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc ông à? Ông vừa trổ đòn nhà báo, mày đã tự khai vung xích chó. Hết chai rượu đỏ, tôi nói:
– Thôi nhé, chut tình đồng tù đề lao đến đây chấm dứt. Cậu đi đường cậu, tôi đi đường tôi. Mai này tôi đánh, cậu rán mà đỡ. Tôi thích sòng phẳng.
Chúng tôi chia tay. Ít tháng sau, Toại gửi cho tôi một bức thứ từ Liễu Châu. Anh ta ba hoa: “Đã thăm mộ các liệt sĩ quốc gia, sẽ không còn sai lầm như họ”. Tôi suýt chửi thề. Đó, người y tá tù đề lao Gia Định khu C-1, nhà cách mạng lưu vong Đoàn Văn Toại, với đầy đủ tài năng và tư cách, người đang chu du thế giới bằng tiền Tàu, tranh đấu cho giấc mộng Tôn Sĩ Nghị cùng đám Hoàng Văn Hoan, Trương Như Tảng. Và tôi, tôi ngồi trên lầu 8 của cái immeuble bên bờ sông Seine, thành phố có thị trưởng Jacques Laloe, là đảng viện cộng sản, có tổng hành định của Georges Marchais, Tổng bí thư Đảng cộng sản Tây, viết sách mưu sinh. Bởi nghèo, nên bị cư trú tại Ivry Sur Seine. Bởi chống cộng, nên bị Jacques Laloe lờ tít mọi trợ cấp xã hội, y tế. Không sao, tôi đã chống cộng, tôi đang chống cộng, tôi còn chống cộng đến tối. Tôi anh dũng thấy mẹ, tôi chống cộng trong lòng địch!
Trở lại đề lao Gia Định, nơi tôi đang học môn Thống Khổ Nhập Môn. Tôi ở 6C-1 đã 2 tuần, đã quen với sinh hoạt phóng này. Tôi không còn gớm ghiếc nhìn đống mài ghẻ mà trực sinh quét gom buổi sáng. Bạn thử tưởng tượng mài ghẻ mủ và mủ ghẻ dính nhớp nhúa trên bục nằm, mỗi sáng. Người ta phát cho chúng tôi miếng bố tời, vừa để chùi chân bước lên cầu tiêu vừa để lau bục nằm. Ở đề lao, dép cất kỹ trong bị, chỉ mang khi bị gọi lên phòng chấp pháp làm việc. Làm việc, danh từ cộng sản, có nghĩa là làm việc với công an, có nghĩa là viết tự khai và chịu đựng những cuộc thẩm vấn điên đầu. Người cộng sản chơi chữ rất xảo quyệt. Một ông Ba Tàu đã phát biểu ý kiến ở phòng B, Sở Công An: “Lù má ló, pắt pỏ tù lại pảo li học tập. Lấy cung lại pảo làm việc. Nhà tù lại pảo trường học. Cai ngục lại pảo quản giáo, cán pộ!” Chữ nghĩa của cộng sản đã huyễn hoặc thế giới. Cho đến hôm nay, báo chí người và cả báo chí mình vẫn viết nhà tù, trại tập trung khổ sai lao động là Trại học tập cải tạo! Ở khắp nơi tôi đi làm chứng nhân, người ta đều hỏi tôi: “Ông được học tập ra sao?” Và tôi đã trả lời: “Tôi chẳng được dạy dỗ gì cả. Người cộng sản có một mục đích rõ rệt. Họ làm chúng tôi sợ hãi, bắt chúng tôi khổ cực và bỏ chúng tôi đói. Càng kéo dài sự sợ hãi, khổ cực và đói, chúng tôi càng sa sút tinh thần. Khi biết chúng tôi tàn lụi ý chí phấn đấu, đó là lúc họ thả chúng tôi về. Và họ đã đạt kết quả. Đa số, chúng tôi về mất trí, thành phế nhân. Có nhiều người đã được xuất ngoại chính thức theo chương trình ODP, sang Mỹ, sang Tây … vẫn chưa hết ngẩn ngơ, ngơ ngác. Chúng tôi học tập sợ hãi, khổ cực và đói. Bất cứ tù nhân nào vượt qua sợ hãi, khổ cực và đói, thì sẽ tự học ở đó những ý nghĩa rạng ngời của cuộc sống, của lý tưởng chiến đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền.” Tôi không dám nói thêm: “Nhưng không dám vượt qua sợ hãi, khổ cực và đói thì sẽ ăn vụng thịt dưới bếp, ăn cắp cơm cháy, ăn tranh phần cơm heo và tự đòng hóa mình với súc vật”. Vậy thì, làm việc là danh từ hãi hùng của tù nhân. Bạn sẽ mệt lữ cò bơ với làm việc. Làm việc ở đề lao Gia Định, là bị truy nã dĩ vãng, hiện tại; ở Chí Hòa là bị đánh học máu mồm; ở các trại tập trung là vào nhà lô, ăn đòn nhừ tử.
Tôi chưa bị ghẻ. Hồng Dương đã bắt đầu. Nhờ không biết ăn mắm ruốc và cá biển, một vài mụn ghẻ nước của tôi chịu thuốc xanh ngay. Tôi dùng mũi kim băng khều mụn, nặn đến máu chảy ra rồi thấm khô, chấm thuốc. Là mụn ghẻ mọc mài. Mỗi tù nhân đề lao đều có một cái kim băng và phải dấu kỹ. Khi bị ngứa, ngày cũng như đêm, tôi lấy bàn chải đánh răng chà lên chỗ ngứa. Nếu gãi bằng móng tay, gãi cho đã, da sẽ bị xước. Và chỉ cần da xước một tí là ghẻ mủ cấp kỳ. Ghẻ nhà tù “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” hơn xã hội chủ nghĩa. Hàng chục thứ bệnh truyền nhiễm ở phòng giam tập thể, nhưng tù nhân không được chích thuốc ngừa. Sự khôn ngoan chống ghẻ của tôi bắt tôi phải đánh răng bằng cái bàn chải tôi đã gãi khắp thân thể. Không có sự khôn ngoan nào không bị trả giá. Sự khôn lớn của con người bị trả giá đắt nhất. Phòng 6C-1, ngoài mấy tên trộm cắp vô lại, mấy tên Mafia cơm nước, mấy “chuyện buồn nhỏ nhặt”, không đáng chi phải để phòng. Tôi yêu nhóm anh em trẻ phản động Hóc Môn, Bà Điểm. Người của Mười tám thôn vườn trầu đã được hai kép hát Út Trà Ôn và Thành Được diễn tả điêu luyện và rung động trong Người ven đô như những chiến sĩ “Chống Mỹ cứu nước” phi thường lại cũng chống cộng cứu nước phi thường. Nếu tôi đã ngờ vực Trương Phiên, tôi hoàn toàn ngưỡng mộ và tin tưởng tinh thần chống cộng của nông dân trẻ miền Nam. Bắt đầu, ở phòng 6C-1, tôi suy nghĩ về cuộc tân cách mạng Tây Sơn 2. Tôi đã nói chuyện nhiều với nhóm anh em Mười tám thôn vườn trầu. 6C-1 có một người tên Nga, tâm sự na ná Moritz của Gheorghiu. Anh ta nuôi heo cho một chủ trại ở Thủ Đức. Vợ anh ta đã chết. Anh ta làm gà trống chăm sóc đứa con gái 8 tuổi. Chủ trại bị bắt. Anh Nga bị bắt theo. Người ta chụp lên đầu anh cái mũ phản động … nuôi heo để dễ ăn cướp bầy heo. Anh Nga xin đem con gái vào tủ. Người ta từ chối. Cả ngày, anh ta ngồi xổm trên thành hồ nước hết khóc lại thở dài. Này bạn chống cộng sản và bạn thân cộng sản, có bao giờ bạn thấy một người vô sản ngồi khóc nhớ con trong nhà tù cách mạng vô sản về tội nuôi heo? Chẳng bao giờ bạn thấy cả. Vì bạn không bao giờ ở tù cộng sản. Vậy bạn nên suy nghĩ về cái gọi là bản chất và hiện tượng cộng sản, xuyên qua thân phận người vô sản cùng khốn tên Nga. Chừng suy nghĩ đắn đo, chín muồi, bạn sẽ có thái độ chính trị quyết liệt, dù chống cộng hay thân cộng. Tôi vốn khinh bỉ mọi sự làm dáng chính trị. Nó không thấm khô nước mắt của anh Nga nuôi heo, nó không lau sạch mủ ghẻ trên bục xi măng nhà tù.
Tôi chưa kể chuyện người bạn tuổi nhỏ của tôi, nhà văn Từ Kế Tường, cũng bị bắt, bị đưa về đề lao Gia Định và đã tạm trú ở 7 C-1. Từ Kế Tường trốn quân dịch. Giám đốc Nha Quân Pháp của Bộ Quốc Phòng ký cho cậu ta đầy đủ giấy tờ hợp lệ như một sĩ quan. Từ Kế Tường lãnh lương và đóng thêm tiền mồ hôi nước mắt, nộp cho cai thầu lính kiểng. Cậu ta mặc quân phục, mang phù hiệu quân pháp, đeo lon thiếu úy công khai. Sau hai năm, lên trung úy. Từ Kế Tường dại dột diện quân phục về ngõ nhà mình. Khi các sĩ quan đi trình diện học tập hết, không thấy Từ Kế Tường ra đi, mấy đứa ác độc gần nhà cậu ta tố cáo cậu ta trốn học tập cải tạo. Từ Kế Tường bị bắt. Nằm đề lao chưa kịp ghẻ, nhờ ông bố tập kết bảo lãnh nên hồ sơ… lính kiểng được cứu xét lẹ. Từ Kế Tường về đời xã hội chủ nghĩa, làm tới chức Chủ nhiệm Nhà Văn Hoá quận 4. Báo Tuổi Ngọc phá kỷ lục vào tù. Chủ nhiệm Duyên Anh, chủ bút Đinh Tiến Luyện, thư ký tòa soạn Từ Kế Tường. Cuối năm 1981, được tin tôi ra trại, Từ Kế Tường, Nguyễn Thanh Trịnh, Đinh Tiến Luyện đến thăm tôi. Luyện đã phiêu lưu các trại tập trung Suối Máu, Bù Gia Mập, Tống Lê Chân và làm nghề buôn bán hạt giống, nước mắm. Trịnh làm công nhân xưởng dệt quốc doanh, cộng tác với báo Tuổi trẻ. Pham Đình Thống bán thuốc tây chợ trời. Chúng tôi vẫn dành cho nhau nguyên vẹn tình cảm nhưng tư tưởng đã tạm ngăn cách. Và đó là nỗi buồn của chúng tôi. Pham Đình Thống khấm khá nhờ những kinh nghiệm và thủ đoạn chợ trời. Trước ngày tôi bỏ Sàigòn, Thống mở hiệu bán thuốc với công ty bằng hữu ở đường Đồng Khánh. Chẳng biết hiệu thuộc của Thống còn tồn tại? Từ Kế Tường đã bị loại khỏi sinh hoạt văn nghệ. Nguyễn Thanh Trịnh mỗi năm chỉ được đăng hai truyện ngắn ca ngợi lao động sản xuất. Đinh Tiến Luyện vượt biên hoài không nổi, đành kết hôn với một nữ thuyền nhân hụt và yên phận chọn Tam Hiệp, Biên Hòa. Luyện đã có con gái đầu lòng. Cuộc đời đã đổi thay hết.
Một thứ không hề thay đổi. Là cung cách chiến đấu chống cộng sản. Một thứ dừng lại. Là tư tưởng văn chương của các tiên chỉ, lý trưởng văn nghệ. Một thứ trở về. Là lối kiếm tiền chụp giật để chóng giàu. Một thứ tiến bộ. Là tinh thần ăn cắp, ăn quỵt, chụp mũ.
Đầu tuần lễ thứ ba, sau khi điểm tâm, chúng tôi được lệnh chuyển trại cả phòng. Lệnh khẩn trương. Tù nhân hạ bị, giỏ, tháo gỡ hết giây, gom góp mọi đồ “tế nhuyễn”, đem ra xếp thứ tự thành một hàng dài ngoài hành lang. Tất cả sợ hãi và băn khoăn. Ngày mai thăm nuôi, chuyển trại đột xuất, chưa kịp báo tin, vợ con khuân quà cáp tới sẽ mất công khuân về và sẽ lo lắng không hiểu chồng, cha mình ở đâu. Như ở bên Sở, tù nhân được nhận quà của gia đình mỗi tuần một lần. Ngày này, danh từ cộng sản gọi là ngày thăm gặp. Thực ra, không có thăm, cũng chẳng có gặp. Thân nhân bỏ quà cáp (thịt khô, mì vụn, mắm ruốc, nước mắm, kẹo bánh, cà phê, thuốc lá, thuốc bệnh, thuốc rê, thuốc lào, giấy quấn, diêm quẹt, trái cây… và 10 đồng) vào bị cói hay túi vải, túi phân bón, kèm tấm giấy ghi các món quà. Công an kiểm soát các món ở sân ngoài, rồi ký tên xác nhận lên tấm giấy “danh sách quà cáp”. Món nào cấm, công an gạch xóa. Được nhận quà, thân nhân tin là tù nhân không bị kỷ luật, bèn về ngay. Những người được Sở cho phép gặp tù nhân thì ngồi chờ trong phòng khách. Các Trưởng phòng khiêng những túi quà vào một căn nhà khám xét quà cáp của khu mình. Đề lao Gia Định có ba khu, mỗi khu một ngày nhận quà. Ở căn nhà khám xét, công an chiếu cố quà cáp kỹ lưỡng. Món nào dính dáng tới nước mắm, bị đổ ra cái thau nhựa. Đũa, muổng, dĩa khoắng, quậy, gắp, rỉa xem có thư gửi lén. Rồi lại dồn vô túi ni-lông. Thịt kho ướp mắm ruốc, cá kho là vì cái thau nhựa bới tung mắm ruốc, cá kho bới tung thịt.. Đường, cà phê… bị nắn bóp. Bánh chưng bị cắt làm tư. Quà tù nghe chừng cũng đau đớn. Dưới mắt công an cộng sản, cái gì của tù nhân phản động đều … phản cách mạng cả. Thuốc lá bị xé bao, dẫu là thuốc lá cách mạng, dồn vào túi ni lông. Dồn cả 200 điếu. Vẫn thuốc lá ấy, nhà tù mua giùm tù nhân thì để nguyên trong bao! Khám xét … nát quà cáp, rồi vất bừa vô bị, vô giỏ. Lúc ấy, trưởng phòng khiêng về cửa phòng theo tên tù nhân và số phòng. Cai ngục mở cửa. Tù nhân dở đồ ra sắp xếp. Chuối là dập nát. Xoài là dập nát. Bún chả tanh mùi cá. Phở xào nặng hương vị mắm tôm. Mì vụn vương đầy thuốc rê. Thăm gặp, dùng chữ của công sản, là một thủ đoạn. Đừng tưởng cộng sản ban phát ân huệ. Thăm gặp nhằm những mục đích:
° Chính sách cải tạo của Đảng và Nhà Nước nhân đạo.
° Đỡ tốn thức ăn và thuốc men.
° Tù nhân dinh dưỡng bằng thực phẩm của gia đình mình sẽ khỏe mạnh để ở tù lâu.
° Cho tù nhân hưởng phè phỡn thành thói quen. Sẽ dọa cúp thăm gặp làm áp lực tình cảm và vật chất.
Bởi vậy, ngoài thăm gặp hàng tuần, còn cho mua hàng hóa hàng tuần. Tù nhân sợ chuyển trai, phần lớn, vì sợ mất liên lạc gia đình, ít ra, nửa tháng. Đến trại mới được gửi quà.
Sau khi tù nhân ra ngoài hết, cửa phòng khóa chặt. Mỗi tù nhân đứng cạnh hành lý của mình. Cai ngục điểm số. Chúng tôi, từng người đọc tên và số thứ tự xếp hàng.
– Số 1, Vũ Mông Long.
– Số 2, Nguyễn Thanh Chiểu.

– Số 52, Lâm Văn Thế.
Điểm số xong, cai ngục nói:
– Các anh nhớ số của mình.
Cửa phòng lại mở. Chúng tôi nhận lệnh trở vào. Cai ngục gọi:
– Số 1.
Tôi hô “có” và đi ra. Cai ngục bắt tôi đứng nghiêm, dơ hai tay lên. Hắn rờ nắn thân thể tôi khám xét túi quần, túi áo tôi. Những tên vệ binh đeo súng ngắn, đứng canh chừng. Khám người xong, cai ngục bảo tôi đổ từng đồ “tế nhuyễn” ở túi, bị, giỏ ra. Hắn kiểm soát từng món, cật vấn đủ điều. Thư vợ tôi gửi, cai ngục tịch thu. Ảnh vợ con tôi, hắn giữ lại “nghiên cứu”. Hành lý của tôi bừa bãi trên nền xi măng của hành lang khu C. Cai ngục hạ lệnh “Khẩn trương”. Tôi quơ vội nhét vào giỏ, bị. Nước mắm lẫn với quần áo. Tôi được đem hành lý vào phòng. Tù nhân thứ hai, Nguyễn Thanh Chiểu, bị gọi ra. Cứ vậy, tới tù nhân số 52. Một buổi tổng kiểm tra phòng. Cai ngục nói dối chuyển trại để tù nhân có cất dấu cái gì trong phòng cũng sẽ phải thu quén bỏ hết vào bị. Thêm một thủ thuật. Thủ thuật biến ảo. Nó không thành qui luật chết. Nên tù nhân mắc bẫy dài dài. Lần sau chuyển trại thật sự, tù nhân tưởng tổng kiểm tra, công kênh nhau dấu những thứ cần dấu trên những xà gỗ trần phòng. Thế là vất lại những gì đã dấu. Nửa tháng, có khi một tuần, tù nhân, tiếc rẻ món này bị tịch thu, mừng húm món kia thoát nạn. Là đầu óc bớt căng thẳng, sự nổi loạn ở phòng giam được bảo đảm. Tôi đã nhìn rõ tôi qua hình ảnh Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Hải Chí và tất cả tù nhân đề lao ngoài ánh sáng. Mặt chúng tôi trắng bệch, ngơ ngác. Mới đứng tại hành lang khám tư trang của tù nhân đã thấy mình hèn mọn. Mọi sự hung hăng biến đâu mất. Tôi chợt nhớ bài thơ L’albatros của Beaudelaire. Con hải âu đã rơi xuống sàn tàu. Tôi chợt nhớ bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ. Con hổ đã nằm trong chuồng. Tôi chợt nhớ thiên hồi ký ngắn của Nguyễn Mạnh Côn, nhắc lại kỷ niệm ở tù Việt Minh với nhà văn Trọng Lang 3. Anh Nguyễn Mạnh Côn, viết rất thật, rất người rằng, vì thương con, Trọng Lang đã lạy cộng sản để nó đừng giết mình. Trọng Lang đã phản ứng bằng cách miệt thị Nguyễn Mạnh Côn nói láo. Tôi vừa tìm ra sự thật. Chưa có ai lạy cai ngục cả. Nhưng tất cả đều lễ phép khi bị cai ngục cật vấn, xét hành lý. Tôi lại chợt nhớ lời khuyên của Thanh Thương Hoàng bằng thơ Sông Hồ “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên”.
Chúng tôi ăn cơm trưa muộn. Vì bận bịu sắp xếp và treo hành lý tù. Buổi trưa, không ngủ, tôi mò sang chỗ ông Lâm Văn Thế đánh cờ tướng. Đánh cờ để tâm sự. Chúng tôi nói thật nhỏ.
– Ông Thế, ông nghĩ bao lâu họ thả chúng ta?
– Chịu. Không ai đoán nổi. Mọi suy nghĩ về cộng sản của người quốc gia đều sai hết. Ông sẽ đi lao cải, sẽ về, tùy vào sự ổn định tình hình sớm hay muộn.
– Còn ông?
– Tôi sẽ ở đây với các ông Thái Đen, Nguyễn Thiện Giai, Như Phong chờ phép lạ. Hai nơi đến và đi của chúng tôi: Sở và Đề Lao. Người ta không cho chúng tôi ra ánh sáng đâu.
– Tại sao?
– Chúng tôi là tự điển!
Tự điển, ông Lâm Văn Thế, thiếu tá cảnh sát đặc biệt giải thích:
– Tôi đặc trách một cụm tình báo. Rất nhiều cộng tác viên tình báo không có tên. Họ lãnh lương bằng hàng trăm mật danh ổi, xoài, mít… Tôi cũng không thể biết mặt họ toàn thể. Một số nào quan trọng thôi. Cơ quan của tôi, kẻ đã di tản, người trốn trình diện. Và tôi bị bắt ngay đêm 30-4. Tình báo đánh giá đúng mức tình báo. Họ dùng tôi làm tự điển.
– Họ tra … ông?
– Phải. Bắt được nhân viên của tôi trốn trình diện hay một người họ ngờ vực là cộng tác viên của tôi, trước hết, họ khai thác người bị bắt. Nếu người bị bắt chối, họ bảo người bị bắt làm tự khai danh dự, chấp nhận mọi hậu quả nếu gian dối. Rồi họ gọi tôi ra. Họ nêu tên tuổi người bị bắt, hỏi tôi có quen biết không. Tôi nói không quen, họ dẫn tôi về phòng. Rồi họ lại gọi tôi ra, cho tôi gặp mặt người mà tôi nói không quen biết. Họ quan sát mặt chúng tôi, cử chỉ của chúng tôi để tìm ra sự thật.
– Nếu ông trả lời ông quen biết?
– Thì người chối không hề quen biết tôi can tội gian dối. Và anh ta đích thị là công tác viên tình báo.
– Có trường hợp ngược?
– Có chứ. Tôi đâu biết người bị bắt khai làm việc với tôi, tôi nói không quen. Họ dí vào mặt tôi tờ tự khai và dẫn người bị bắt ra gặp tôi.
– Rồi sao?
– Tôi bắt buộc phải làm tự điển trung thực.
Ông Thế buồn bã:
– Với công ăn ở bất cứ chế độ nào ông có thể dấu diếm được tư tưởng trong đầu óc ông mà không thể dấu diếm được các sự việc đã xảy ra. Ngoài tôi, còn các cuốn tự điển khác mà tôi không biết. Có lẽ, họ cũng bị bắt sớm như tôi. Cá nhân tôi, tôi cũng chẳng rõ ai chạy thoát, ai kẹt lại, ai trình diện, ai bị bắt, ai còn lẩn trốn. Họ sợ tình báo, họ cần quét sạch tình báo, từ lính đen sĩ quan, từ gác cổng đến bưng nước văn phòng.
Tôi hỏi:
– Như Phong dính dáng tình báo?
Ông Thế đáp:
– Ông ấy là tự điển Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Tôi đã thấy Trịnh Quốc Tài tự tra … tự điển bên Sở Công An. Và tôi đã thấy ông ta tra bạn tôi, Thanh Thương Hoàng.
– Họ cũng tra tự điển tôi về các nhà văn, nhà báo. Cơ quan của tôi không phụ trách “hồ sơ” văn nghệ sĩ.
Chúng tôi ngừng cuộc cờ. Tôi trở lại chỗ của tôi, ngồi dựa lưng vào tường suy nghĩ. Có hai đối tượng cộng sản đang truy lùng: Tình báo và đảng phải. Cộng sản thù hận các đảng Đại Việt, Duy Dân, Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đó là mối thù “truyền kiếp”. Rất nhiều đảng viên của ba đảng này không trình diện và tiếp tục chống đối cộng sản. Cụ thể hóa sự sợ hãi và lòng thù hận của cộng sản là Mai Chí Thọ đã đích thân chỉ huy cuộc hành quân, vây bắt trọn vẹn đàn ông (thanh niên, phụ lão) của hai làng Sống Vinh (Bà Rịa), hai làng do Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập trong kế hoạch khẩn hoang lập ấp của Phan Quang Đán. Họ sợ hãi những nhân vật chìm, những con bài chưa lật tẩy. Thứ đã lật tẩy, đã om sòm tên tuổi cỡ Vũ Hồng Khanh, Hà Thúc Ký, Đặng Văn Sung, Phạm Huy Cơ, đi hay ở, chẳng có gì quan trọng. Vũ Hồng Khanh, kẻ ngang vai vế với Hồ Chí Minh (Ở bối cảnh lịch sử 1946, còn trên cơ là khác), đã lẽo đẽo đi trình diện, đã trả lời câu hỏi “Tai sao ông chống cộng?” của tên thiếu tá quân đội nhân dân như vầy: “Sống dưới chế độ miền Nam, không chống cộng là chết!” Câu trả lời bất hủ nầy phẩm định giá trị chiến đấu của đại lãnh tụ quốc gia. Ông Vũ Hồng Khanh đã già lắm, đáng lẽ, ông đã khước từ trình diện và chỉ chấp thuận trả lời Phạm Văn Đồng, Trương Chinh. Ông đã sợ … chết già. Ông ta ham sống như bọn lãnh tụ già bất tài vô tướng ham sống vậy. Câu trả lời bằng tiếng nói đích thực của Vũ Hồng Khanh đã được truyền thanh khắp nước, ròng rã hàng tháng. Biểu tượng quốc gia bị bêu nhục. Ông giáo Giản 4 đã tiêu diệt các đảng phải quốc gia nhỏ để Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông chiếm đa số ghế trong Quốc Hội bịp 1946. Ông giáo Giản suýt thủ tiêu Nguyễn Mạnh Côn (Việt Nam Phục Quốc Đảng), nếu Nguyễn Tường Tam không kịp can thiệp 5. Nhà lãnh tủ đa sát này đã đứng giữa hoàng hôn giăng giối: “Sống dưới chế độ miền Nam, không chống cộng là chết!” Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Nguyễn Tú (ký giả nhật báo Chính luận, tên thật Nguyễn Ngọc Tú, nhân vật quan trọng của Đại Việt quan lai, từng chấp chính giữ ghế Tổng Giám đốc Nha Thanh Niên thời Tổng Trưởng Nguyễn Văn Kiểu) bị bắt ngay đêm 30-4-75 mà Phan Huy Quát, cựu Thủ tướng, Chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng vẫn đạp xe mini suốt tháng 5-1975, Tự điển người! Ghê gớm thay thủ đoạn cộng sản. Tôi bắt đầu lo ngại cho Thanh Thương Hoàng.
Anh ta đã thức giấc đúng lúc nước sôi buổi chiều vào. Thanh Thương Hoàng pha cà phê mời tôi uống.
– Vụ ấy, mày không nhận là may. Anh em bảo mày OK.
Tôi ngẩn tò te.
– Vụ nào?
Thanh Thương Hoàng cười ruồi:
– Vụ anh em đưa vợ con mày đi.
Tôi nhớ rồi.
– Bị bắt hết. Bị Mai Chí Thọ cài người gài bẫy bắt hết.
– Có chuyến đi?
– Có. Chuyến đi dính lưới toàn bộ.
– Có chiến khu?
– Có. Một nhóm sĩ quan, một nhóm lính. Đang nằm trong tay Quân Báo bên Tô Hiến Thành.
– Sao mày biết?
– Tao không dám ta-pi. Tao từ chối. Một người quen thoát lưới chuyến đi, nhờ hối lộ tên công an Phước Tỉnh hai lạng vàng, cho tao rõ. Mấy hôm sau, người ấy báo cáo thêm cả tổ chức bị sa lưới.
– Không phải là tao không nhận. Vợ tao đau nặng hôm đó.
– Vận may. Đàn bà con nít không nên vào tủ. Họ phải ở ngoài tiếp tế cho bọn mình.
Thanh Thương Hoàng thở dài:
– Bốn phương mù mịt cả. Tổ chức nào cũng dính lưới. Có tổ chức cài người vào Phường, khi bị công an bảo vệ chính trị bắt, Phường trưởng không tin người bị bắt là phản động. Trước hôm mày vô 6C-1, thằng Chín bị đổi phòng. Nó được cài vào huyện đội công an Thủ Đức. Nó chửi Mỹ tổ chức chống cộng rồi xúi cộng sản bắt!
Tôi bỗng nhớ Trương Phiên. Người Mỹ âm mưu gì nữa? Tôi hoàn toàn mù tịt. Vỗ vai Thanh Thương Hoàng, tôi hỏi:
– Mày thận trọng nhé! Tao thấy thằng Trịnh Quốc Tài viết báo cáo có tên mày, Trịnh Viết Thành, Tô Ngọc. Mày dính dáng Phủ Đặc Ủy Trung ương Tình báo hả?
Thanh Thương Hoàng giật mình:
– Không, không…
Tô Ngọc phục vụ cảnh sát đặc biệt để trốn lính như Y Vân. Trịnh Viết Thành làm báo Quật Cường của Trung ương Tình báo với Anh Quân. Còn Thanh Thương Hoàng chỉ tai tiếng vụ Làng Báo Chí. Anh ta có dính liếu với Trung ương Tình báo hay không, tôi không biết. Nhưng khi tôi nhắc nhở anh ta có tên trong báo cáo của Trịnh Quốc Tài, anh ta rầu rĩ vô cùng. Sáng hôm sau, cai ngục đến 6C-1 trước giờ phát nước sôi. Tên hắn là Sáu, dân Sàigòn, vì bị lé nên tù nhân tặng hắn biệt danh Sáu lé.
– Nguyễn Thanh Chiểu.
– Có
– Mặc quần áo ra làm việc.
Thanh Thương Hoàng vội vàng mặc bộ bà ba vải mỏng, mầu gụ. Anh ta cầm đôi giép Nhựt bước tới cửa phòng. Tù nhân ra làm việc, bất kể làm gì, đều phải ăn mặc tươm tất, đi giép. Đầu tóc có thể rối bù. Râu ria có thể rậm rạp. Quần áo không thể thiếu nghiêm chỉnh. Ở đề lao, hàng tháng, tù nhân được cắt tóc, cạo râu một lần. Tù cắt tóc cho tù. Cai ngục đứng giám sát. Cuối khu C-1, người ta dựng cột lợp tôn làm cái chái. Do đó, phòng 7C-1 thiếu ánh sáng. Tù nhân khu C-1 ra cắt tóc ở cái chái nầy. Buổi sáng một phòng. Buổi chiều một phòng. Ba thợ cắt tóc tù làm việc khẩn trương. Cai ngục mở cửa. Ba tù nhân ra một lượt. Cửa khép chặt, ấn khóa. Không có khăn quàng. Không có dao cạo. Không có kéo. Không có gương. Tông-đơ Trung quốc lưỡi thưa, thứ tông đơ cắt lông ngựa liếm tóc tù nhân. Giáo điều cắt tóc của cách mạng vô sản:
– Cắt dài là thiếu nếp sống văn hóa mới.
– Cắt trọc là chống đối.
Bởi thế, tông-đơ đẩy lưng chừng. Đẩy xong những đường tóc, tông-đơ đẩy râu ria. Tông-đơ chấm bát luôn. Năm phút một cái đầu. Cằm bị chảy máu, mép bị chảy máu, ráng chịu. Tông-đơ nhai tóc, đừng kêu ca. Ba anh này vào, ba anh kia ra. Anh nọ soi gương bằng cách nhìn đầu anh kia. Thấy mình giống quái vật. Cắt tóc xong thì bước vô phòng tắm, dùng khăn khô phủi tóc cho nhau, đợi sáng mai hãy tắm (nếu cắt tóc chiều). Ngủ một đêm với tóc vụn dính mồ hôi có sao. Ngứa thì gãi chung với gãi ghẻ cho tiến bộ, đuổi kịp nếp sống văn hóa mới.
Đầu tóc, râu ria Thanh Thương Hoàng khiếp lắm. Rõ là thằng tù! Sáu lé mở cửa. Hắn khóa lại. Tù nhân đi trước, cai ngục đi sau, đề phòng đánh lén. Cách mạng luôn luôn cảnh giác cao. Sau bữa ăn sáng, Thanh Thương Hoàng trở về. Anh ta mệt mỏi, bỏ cơm. Kẻng tù báo thức giấc trưa, anh ta ra làm việc. Cứ vậy, sự làm việc của Thanh Thương Hoàng kéo dài cả tuần. Trong khi ấy, Chóe, Hồng Dương, Thân Trọng Kỳ, Cao Sơn và tôi chưa bị gọi ra. Một buổi tối, chúng tôi ngồi bên nhau hút thuốc lá, chuyện gẫu. Thanh Thương Hoàng nói :
– Tao đã kết thúc tự khai.
Anh ta kể:
– Tao viết một câu rất hòa giải dân tộc.
Thanh Thương Hoàng đọc:
– “Chúng tôi sẵn sàng bắt tay với các anh xây dựng lại đất nước”.
Hồng Dương dẫy nẩy:
– Hỏng rồi.
Thanh Thương Hoàng vốn phục Hồng Dương thông minh, đọc nhiều. Anh ta hỏi.
– Hỏng sao?
Tôi nhanh miệng đáp:
– Mày bỏ tù nó, mày viết thế là mày cao thượng, quốc gia cao thượng. Nó bỏ tù mày, mày nói thế là mày xấc. Nó sẽ hành mày. Nó ví chúng ta là thú vật. Mày hiểu chưa? Nó đòi cắt đuôi chúng ta để chúng ta làm người. Sức mấy nó chìa tay cho mày bắt. Xấc thì hay đấy nhưng thiếu lô-gích. Thằng nào chấp pháp mày?
– Hai Nghiêm.
– Dân gì?
– Quảng Bình.
– Nó đọc chưa?
– Rồi.
– Phát biểu?
– Tốt.
Hồng Dương lắc đầu. Hôm sau, Thanh Thương Hoàng lại lên làm việc. Lúc về, anh ta uể oải:
– Chúng mày đúng. Nó bảo tay tao chưa sạch tội ác. Tao chuẩn bị vào cachot. Nó bảo vậy.
Thanh Thương Hoàng sửa soạn hành lý. Ngay buổi chiều, anh ta rời phòng 6C-1 vào cachot số 4 của khu C. Thanh Thương Hoàng nằm cachot một tuần thì bị đưa trở lại Sở Công An. Từ đó, tôi mất tin anh. Tháng 9 năm 1981, về đời, tôi biết anh bị lưu đày lên Pleiku cùng chuyến đi với Doãn Quốc Sĩ. Gặp Sĩ, anh nói tác giả Cánh chim mỏi rã rượi lắm. Anh ta rụng hết răng, tê liệt. Người vợ thứ nhất của Thanh Thương Hoàng là con gái của Lê Khải Trạch đã không còn ở với anh từ lâu. Mọi sự nuôi anh trong tù do người vợ thứ hai. Người nầy tiếp tế anh đầy đủ. Nhưng chị ấy đã vượt biên. Người vợ thứ nhất lo việc tiếp tế. Chị ta nghèo, thiếu phương tiện thăm chồng xa xôi. Thanh Thương Hoàng trở thành “con bà phước” ở rừng núi Gia Trung 6. Anh ta hào sảng lắm, ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định. Trên Pleiku có ai hào sảng với anh? Tất cả đã là tù nhân. Tất cả đều là bạn tù. Bạn tù trong danh ngôn nghiệt ngã “Bạn tù, tình nhà thổ”. Khi nỗi khổ kéo dài mòn mỏi, khi sự phú quý đi giật lùi, con người đâm ra bần tiện, chỉ còn biết nghĩ đến mình. Mọi thù hận lẫn nhau phát xuất từ đó. Anh em nguyền rủa lẫn nhau, nói xấu lẫn nhau. Ra khỏi tù, anh em không quên thù hận, vẫn nguyền rủa nhau, nói xấu nhau, gặp nhau không thèm nhìn mặt. Đó là mục đích trong những mục đích của học tập cải tạo tư tưởng!

Chú thích
Đọc Sỏi Đá Ngậm Ngùi, cùng một tác giả, Nam Á Paris xuất bản 1985.
Trong bộ tiểu thuyết Hồn Say Phấn Lạ, tôi khai triển tư tưởng cách mạng Tây Sơn.
Đã đăng trên tạp chí Bách Khoa, tôi quên số và tháng, năm phát hành.
Vũ Hồng Khanh, xuất thân là giáo làng.
Đọc Hồi Ký Nguyễn Mạnh Côn, tạp chí Bách Khoa.
Nghe nói anh đã được tha vào năm 1986.

NHƯ LÁ NGẬM NGÙI

Lá đã vàng phai trên phố mai
Ngày thơm giấc ngủ của đêm dài
Tay ta năm ngón sầu… năm ngón
Buồn lướt theo dòng tóc mơ bay

Củng tỉ như ngày xưa… quá xưa
Đời riêng một cõi những đêm mưa
Nằm nghe sóng vỗ trong hồn lạnh
Nhớ nhung đầy ắp đến dư thừa!

Thuở ấy lòng ta như sớm mai
Yêu em hồn gửi cánh chim bay
Ngẩn ngơ từng buổi về tan học
Mắt còn xanh ngát dấu thơ ngây

Tình mấy lần yêu mấy… dỗi hờn
Yêu nhau qua hết một mùa xuân
Áo trắng em buồn hơn kỷ niệm
Nên tình tan tác những đau thương!

Rồi một chiều vàng hơn sắc thu
Ta về phố núi… phố sương mù
Trả lại đời em… thời áo trắng
Giữ lại đời ta… kiếp lãng du

Cũng tỉ như ngày xưa chẳng quen
Trắng vai áo giáo cũ ngoan hiền
Giờ em hun hút như đồi núi
Còn ta năm tháng vẫn lênh đênh

Ta vẫn lênh đênh giữa cuộc đời
Tháng năm buồn tẻ kiếp đơn côi
Bao nhiêu kỷ niệm giờ tơi tả
Như lá mùa thu… lá ngậm ngùi…

Nguyễn Hải Thảo

ĐẦU XUÂN, BƯỚC CHÂN QUA VÙNG “XÔI ĐẬU”…

 

( Kí sự)

“ Có ai qua vùng hỏa tuyến.
Nhắn cho tôi đôi lời….”

Có cô ca sĩ nào đó , có cái giọng lạ, hớp hồn tôi bằng một bài hát của nhạc sĩ Lê Minh Bằng. Một giọng ca thiên phú,  chỉ dành riêng cho dòng nhạc vàng_  trong trẻo và da diết. Chất giọng mềm và chân, hầu như không có sự luyến láy của học thuật bỗng dưng làm thăng hoa một cái gì đó đã quá cũ kỹ. Một thứ đã qua tay quá nhiều người, trong việc cố gắng làm sống nó , bằng khá nhiều hình thức, nhưng gần như thất bại. Em đã thành công , ít ra trong tôi, nhờ một vấn đề mà những người đi trước đã bỏ qua hoặc không chú ý đến. Sự chân chất…. và chiếc lư xỉn màu vì thời gian trên đôi tay thành tâm của người thợ đánh bóng trong những ngày giáp Tết, qua vài vòng cọ xát với lượt vải mềm, một màu đồng sáng chợt hiện ra, lóe lên, ngời ngợi …. chao lòng người!

“ _ Ai hát vậy em?” Tôi ngoái cổ lại, hỏi thăm cô chủ quán.

“ _ Ca sĩ Hồng Trúc đó anh!”

Cái tên nghe lạ!  Tôi cố gắng ngồi nán lại trong cái  quán cà phê nghèo ven sông để nghe cho hết bài hát.

****

Đi làm ở Sài Gòn khá lâu và nhiều buổi chiều, khi đi làm về , tôi thường đứng hóng mát trên cầu Sài Gòn. Tôi đứng từ chạng vạng đến lúc đỏ đèn, khoảng tiếng đồng hồ,  để nhìn dòng sông mênh mang, trãi rộng trong tầm mắt. Nghe âm thanh lạch bạch quen thuộc của những chiếc võ lãi, dõi theo  những chiếc ghe bầu cũ kỹ, ì ạch chở sản vật của từ những vùng quê lân cận mang xuống thành phố . Con sông quanh năm suốt tháng  chỉ mang một màu phù sa đùng đục  ….thứ màu  của bùn đất, của lam lũ ..xuôi qua phố thị náo nhiệt, tráng lệ. ….Đôi lúc tự hỏi có con sông nào trên thế giới,  mang những hình ảnh tương phản như phần đặc trưng của sự sống chính mình thế này hay không ?…. Đứng nhìn những xoáy nước cuộn dưới chân cầu, cũng tội những mảng riều, lục bình trăm năm cứ lẩn quẩn mãi ở một khúc sông, không ra được tới biển , theo con nước ròng vừa qua được chân cầu lại gặp con nước lớn đẩy ngược trở lại, cứ như thế, theo dòng thời gian, một sự giành giật chà xát không khoan nhượng giữa những thế lực tự nhiên mạnh mẽ hơn nhiều…

Cầu Phú Cường_ Thủ dầu Một  , mồng tám Tết Đinh Dậu ( 2017). Một thứ dây leo trùm lên thân cây tràm, cho những chùm quả đỏ mọng lạ mắt , dẫn tôi theo một con đường tôi chưa hề có ý định rẽ vào.  Bên trái là cung đường khá quen thuộc lúc tôi còn làm công trình ở Tây Ninh. Cầu Phú Cường, vắt ngang sông Sài Gòn (đoạn này có tên Sông Cái ), theo tỉnh lộ 8, lên đến trung tâm huyện Củ Chi, hòa nhập vào quốc lộ 22, sau đến Trảng Bàng rồi Gò Dầu…Còn rẽ phải, cầu Rạch Trầu, kho xăng dầu Thalexim….gì gì nữa, tôi chịu, chỉ biết nó dẫn lên vùng thượng nguồn sông Sài gòn, hồ Dầu Tiếng, chiến khu  Dương minh Châu…. Cung đường vắng vẻ, đã rãi nhựa. Bên trái, trãi ra đến mé sông, khu đô thị Chánh Mỹ  với những khu biệt thự dành  cho người nước ngoài thuê hoặc cho những đại gia người Việt đứng biệt lập, sau bức tường rào và hàng cây cao được tỉa tót cẩn thận.  Loáng thoáng màu áo xanh biển của những tay bảo vệ  và màu trắng của người phục vụ.  Gần 9 h, không gian im ắng. Một vài  công ty cở nhỏ đóng cửa im lìm, chưa hoạt động.   Đoạn qua làng Mỹ Hảo,  cư dân hai bên đường có vẻ đông đúc hơn.  Một ngôi làng đẹp, lâu đời với những con đường nhỏ láng xi măng, sạch sẽ. Cư dân theo đạo công giáo, niềm nở và tốt bụng, sẵn sàng dành thời gian để trả lời những câu hỏi cho khách qua đường . Những nụ cười đôn hậu không quên được. Cuối làng là một nghĩa trang  và một ngôi nhà thờ nhỏ…. Khu phố Mỹ Hảo 2 là những mảnh đất đã phân khu nằm trong quy hoạch, nhưng có thể thiếu kinh phí hoặc chưa có nhà đầu tư nên gần như bỏ hoang. Vài cụm dân cư, trường học nằm cô lập. Mái ngói đỏ au, những bức tường mới xây cho cảm giác đây là khu dân cư mới ….Và thú thật, cái mới không hấp dẫn tôi lắm. Như một kẻ háo chuyện tinh vi… và cái mới có gì để nói.

Qua cầu Bà  Cô….một ngã ba, rẽ tay trái… Một ngôi đền có biển cảnh báo đang sửa sang và những cây dầu cổ thụ thẳng tắp , cao ngất ngưỡng. Không gian mát mẻ hẳn lại.  Tôi hỏi người đàn bà đang bán hàng bún mì gần đó: _ “ Đền thờ ai vậy chị?”  _” Đền thờ ông Phan Thanh Giản”. Chị trả lời , quay lại với câu chuyện đang dở với bà khách   “….Trời tối mò. Đạn bay lẹt xẹt xanh lè. Mấy ông lính la hét quá trời…” . Thấy không tiện hỏi thêm, tôi đứng bên đường, ngóng vào. Cánh cửa vào đền đóng kín. Một bệ thờ cũ, án ngữ phía trước, có họa tiết, che chắn tầm nhìn. Phía trong có tượng một con cọp đang nằm vẻ phấn khích với cái đuôi  cong vểnh lên. Lạ so với nhiều con cọp tại những ngôi miếu cổ , mà tôi từng biết. Sâu hơn một mái ngói đã hư hỏng khá nhiều. Tường gạch đôi chỗ không còn nguyên vẹn….Ngôi đền trông xập xệ và thiểu não. Tôi đứng nhìn loanh quanh, những ngôi nhà bên đường không còn mới, nhưng cũng không gọi là cũ, tầm độ mười, mười lăm năm đổ về sau. Điều đáng chú ý là khá nhiều những ngôi mộ nằm trong khuôn viên nhà. Những ngôi mộ được xây bằng loại đá ong đỏ, đã sẫm màu. Một số bị thời gian bào mòn, vẹt đi. Tôi có lấy tay, khẩy khẩy vài nơi. Không một vụn đá rơi ra. Đá khá rắn và chắc chắn….Một vùng đất lâu đời, có từ thời khai thiên lập ấp của Chúa Nguyễn, nơi dừng chân một bộ phận giống nòi Giao Chỉ trong cuộc Nam tiến. ẩn mình bên mép sông Sài gòn, cách thành phố Thủ dầu Một khoảng mươi cây số về phía Tây Bắc, Sài Gòn khoảng bốn mươi cây theo đường chim bay. Phía Nam góc hợp lưu của con sông Sài gòn và Thị Tĩnh, nơi có những trận giao tranh lớn giữa quân Giải phóng và quân đội Sài gòn , vào những năm 72-74. Bên kia sông là Củ Chi, Đất Thép,  địa danh giành giật không ngưng nghỉ của hai phe vào những năm chiến tranh… Làng Tương Bình Hiệp, Bình Dương.

Tôi quay lại, hỏi người đàn bà , lúc này đã rỗi việc, đang với cái khăn lau.

“_ Chị dân đây hả chị?”

“ _ Tui dân đây lâu rồi!”

Người đàn bà cũng thật khó đoán tuổi. Dấu ấn thời gian bị trượt khá nhiều trên sự cơ cực và những biến cố tác động lên con người. Ngặt thay những tác nhân này quá đậm nét làm khuôn mặt người đàn bà trông già nua một cách đáng kể. Ẩn số cứ tiếp tục gia tăng cho đến khi một phản xạ quay ngoắt để tránh mấy con ruồi, làm tôi nhận ra, chị không lớn tuổi như tôi tưởng.

_ Vùng này trước đây an ninh không chị?

_ Đánh nhau ….

_  Chị năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

……

Người đàn bà không trả lời tôi, cặm cụi với việc lau mấy cái tô, như không nghe. Hoặc chị không muốn nói chuyện với người lạ….hoặc câu nói của tôi là một sự vô tình đánh động một điều gì đó…” _ Trời ! Sao cách nhau chỉ một con sông mà con người khác dữ!”  . Biết không thể đứng thêm, tôi chào chị, quay đi. Nghe phía sau em ém một tiếng thở dài đánh sượt….Hỏi sau bốn mươi mấy năm dư âm một cuộc chiến có còn ẩn náu đâu đó trong lòng người ???

****

Vùng xôi đậu là một danh từ có trong thời chiến tranh. Cuộc chiến kéo dài 30 năm trên đất nước này, hàm chỉ một vùng đất nằm trong sự tranh chấp giữa hai phía, (Lúc bên này, lúc bên kia …. hoặc sáng bên này, tối bên kia)  thay nhau dành quyền kiểm soát. Trong thời gian kiểm soát dù là ngắn ngủi, các bên cũng cố gắng áp dụng những biện pháp ‘khả thi’ để củng cố chính quyền  của mình.  Ban đầu cũng khá dễ dãi nhưng về sau sự tinh vi và khắc nghiệt cũng tăng dần theo mức độ  leo thang của cuộc chiến, khi máu đã đổ và những hạt giống của thù hận bắt đầu được gieo rắc khắp mảnh đất Việt. Vào quãng cuối thập niên 50 đầu thập niên 60, má tôi lúc ấy còn là thiếu nữ khoảng mười tám đôi mươi. Ở  Nha Trang nhưng bà vẫn cùng bạn bè cùng độ tuổi đi chơi  vào tận miền Tây. Sóc trăng, Sa đec, Cần Thơ….Nhiều lần cũng ra vào vùng tạm chiếm phía bên kia. Bà kể cũng chẳng có chuyện gì xảy ra, nếu gặp Việt Minh chỉ khai đi chơi thôi, người ta cũng cho qua…. Tôi tin rằng sau hiệp định Genève ( 1954) có một giai đoạn người Việt phía bên này và người Việt phía bên kia vẫn rộng lượng với nhau, đối xử với nhau trong tình người, có thể do niềm tin  vào một nền  hòa bình quá lớn lao hiện hữu gần như trước mắt ….. Có lẽ cuộc chiến nên dừng lại ở đó. Chiến tranh nên kết thúc sứ mạng của mình trên đất nước này vào thời điểm ấy. Nhưng không cuộc chiến lại tiếp tục với cường độ cao hơn nữa, trãi rộng hơn nữa, kéo dài thêm hai mươi năm, với bàn tay can thiệp sâu hơn  của những cường quốc. Hai mươi năm cho bao sinh linh, bao tinh hoa nước Việt cả hai miền nằm xuống, bao tài nguyên bị phá hủy, bao sự lệ thuộc nặng nề, bao hệ lụy tối tăm trở thành ý thức hệ, hận thù chất đống….

Dạy cho con tiếng nói thật thà

Dạy cho con chớ quên màu da

Ôi lũ con cùng cha

Quên hận thù…..

Lời ru của Mẹ Việt như thúc thủ giữa tiếng súng đạn gào thét trên tay những đứa con say máu…

Khác những cuộc cách mạng mà khoa học ký thuật mang đến cho nhân loại,- nhằm làm thay đổi nhận thức, hành vi, cuộc sống… diễn ra một cách hiền hòa  thâm nhập một cách êm thấm  vào đời sống con người vào cuối thế kỷ 20. Đại diện như computer, internet, điện thoại di động trong truyền thông….tự động hóa  trong sản xuất, vật liệu mới cho xây dựng….Những sản phẩm đã khá tinh xảo của nền công nghiệp cơ khí  vào thập kỷ  50-60 đến với tay người nông dân Việt, vốn chỉ quen nẫu với đồng lúa, con trâu, các sản phẩm tre , gỗ …hì hụi thổi bể cùng lắm cho những lưỡi cày, cái mác….nay được ấn vào tay những công cụ cáu cạnh của hãng Colt, Kalashnikov… có khả năng phun ra 1200 hòn chì/ phút. Một cuộc cách mạng dữ dội , mạnh mẽ đến bạo tàn điều đáng tiếc những thứ ấy chỉ được gắn với mỗi một nhiệm vụ: hủy diệt và giết chóc….

Những  vùng xôi đậu mọc lên ngày càng nhiều, những con người khốn khổ còn lưu  trú ẩn trong những địa danh rặt ngôn từ Việt với ý thức bất di bất dịch là giữ lấy mảnh đất tổ tiên, bám lấy mảnh ruộng, miếng vườn của cha ông bị quăng đi, quật lại với mật độ cao hơn nhiều. Cái chết , sự hoại thương không chỉ nằm ở  những hòn chì, miểng bom của ngoại bang ….mà còn nằm ở sự hành xử nhẫn tâm giữa con người với con người chung một giống nòi.

Trong một đất nước lịch sử vốn được xây dựng bằng những cuộc nội chiến từ thời Lê Mạc (1533-1677) ,Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1672), (1773- 1775) Tây sơn – Chúa Nguyễn (1771-1802) tổng cộng vào khoảng 173 năm. Đối tượng cho người lính cả hai bên nhắm vào không đơn thuần là một đối phương với vũ khí, quân phục…hoặc những dấu hiệu cụ thể để nhận biết đó là địch quân  mà còn là những người dân tay không, trong vùng tranh chấp . …..Gần hai thế kỷ,  liệu có cho những người lính một kinh nghiệm tác chiến hiệu quả trong môi trường đặc trưng này không, hay chỉ cho ra đời một câu vè “ than vắn, thở dài” cho sự bế tắc.

“ Bạc như dân, bất nhân như lính”

Vị thế người dân trong vùng xôi đậu được đặt lên đỉnh một con lật đật không biết sẽ ngã nghiêng theo chiều hướng nào….

Cuộc chiến kéo dài đủ lâu để con người sống trong môi trường đó mang hai khuôn mặt riêng biệt. Một cho bên này và một cho bên kia. Một cho những người lính quân đội Sai gòn ban ngày và một cho những người Việt Cộng ban đêm. Với từng chuỗi ngày đêm, bản năng sống còn đã khoác lên những con người còn sống, những chiếc mặt nạ hóa trang kệch cỡm nhất, buồn bả nhất của người nông dân Việt vốn có tự trọng, nhưng lại “thấp cổ, bé họng” trước sự ưu thắng của những kẻ cầm vũ khí. Con người bỗng trở thành những nghệ sĩ nghèo nàn trong hoạt cảnh đầy tên bay, đạn lạc và chết chóc là có thực. Ngày nào vở tuồng ấy cũng diễn ra ….. Hai mươi năm trời dăng dẵng, nếu còn sống sót, liệu những chiếc mặt nạ có dính sâu vào trong da thịt??? Những người đã chết, liệu họ có trút bỏ được chiếc mặt nạ đang đeo????

Dân cư vùng “ Xôi đậu” thường chỉ còn lại những người đàn bà, những người già _đã quá già cho một sự tranh chấp, những đứa nhỏ còn quá nhỏ đế suy nghĩ, những người đàn ông hầu hết đều đã có con đường cho chính họ, hoặc ở bên này, hoặc ở bên kia ….Thực ra trong lứa tuổi cầm súng hoặc còn có khả năng cầm vũ khí, việc khẳng định sự trung lập trong thời buổi chiến tranh, là điều vô cùng khó khăn. Những luật lệ hoặc chẳng cần luật lệ của cả hai bên đều được áp dụng để đẩy bật những người đàn ông khỏi nơi trú ẩn của họ, hoặc chèo kéo họ về phía mình, hoặc những cuộc thanh lọc không minh bạch với mục đích loại trừ những đối tượng có khả năng gây nguy hiểm ….và những người đàn ông thường là những mục tiêu đầu tiên được nhắm đến.

Đặc tính địa phương của những vùng xôi đậu khá phức tạp và đa dạng, là những nơi xa xôi, hẻo lánh miền cao nguyên trung phần, dân cư thưa thớt, những xóm chài ven biển heo hút, những đồn điền cao su bạt ngàn miền Đông Nam bộ, hoặc  nằm rìa những vùng đất trù phú miền Nam có khả năng cung cấp lúa gạo, những vùng đệm sát nách những thành phố, thị trấn …nơi có thể tạo một sự đe dọa về mặt quân sự …Nhưng dù ở đâu đi nữa, dù được ngợi ca thế nào đi nữa, chiến tranh vẫn mang đến sự tệ hại thứ hai sau chết chóc và tàn phá là những cộng đồng tan nát, rục rã sự tin cậy lẫn nhau giữa con người và con người. Người ta luôn sống trong sự hoài nghi. Những người,  gia đình có người thân theo phe bên này nghi ngờ những gia đình có người bên nọ. Anh em một nhà có chí hướng khác nhau cũng mất đi sự tin tưởng vào nhau. Hàng xóm láng giềng  trở nên nghi kỵ. Những cuộc chiến tuyên truyền của cả hai bên là những chất xúc tác mạnh mẽ cho sự chia rẽ sâu sắc này. Có lần qua một địa phương ở miền Trung, tôi có nghe một người đàn bà, tâm sự : “ Ngồi nói chuyện một đám. Biết bả là dân bên kia nằm vùng. Nhưng không ai nói ra….” Cái từ “ Không nói ra” của người Việt không bao hàm hàm ý ủng hộ hoặc ghét bỏ, nhưng ẩn chứa thái độ dè chừng, tạo khoảng cách….Điều này không loại trừ những việc để tạo một cảm giác an toàn cho cuộc sống chính mình, cho gia đình mình….đôi lúc họ buộc phải làm những việc thật nhẫn tâm. Dù trái với cái nhìn đạo đức được nhìn nhận là truyền thống, nhưng trong chiến tranh, nó được khuyến khích bởi các thế lực…và thù hận theo sau là hệ quả khó tránh.

***

Tôi ngồi đối diện với Má trong cái quán nhỏ. Nắng xuân đậm đủ để ghim những cánh mai bên kia đường trong một sắc vàng tươi tắn, cho cảm nhận rõ rệt về sự ưu ái mà tự nhiên dành cho mọi sinh vật trong cái mùa phồn thực.  Những con gió nhẹ từ phía sông Sài gòn thỉnh thoảng tràn qua, làm chao nghiêng mấy con bướm, lật lên một sự tương phản mang tính đối kháng chẳng bao giờ đi đến đồng nhất của cái đẹp với cái đẹp. Con đường nhỏ vắt qua làng đã tráng nhựa nhưng chắc đã lâu không duy tu nên để lại những ổ gà lởm chởm. Ngôi miếu nhỏ thờ Bà chúa xứ bằng xi măng dựng ven đường không gây được sự chú ý cho lắm bởi khá thấp và sơ sài. Má  bảo có gian thờ lớn phía trong kia….

Má tên thật Nguyễn Bạch Nhạn, năm nay đã chín mươi  ( sinh năm 1927), có đến 9 người con. Cô con gái út bán bún mì cũng xấp xỉ  năm mươi ,đã có cháu ngoại. Người chồng gia nhập Việt Minh thời kháng Pháp , sau này theo Việt Cộng chết vào năm 1969 dưới Bình Thung (thị trấn Dĩ An), mói chuyển di cốt về gần được vài năm. Ở lứa tuổi như vậy nhưng đầu óc người đàn bà này vẫn còn khá minh mẫn. Tôi thật sự thán phục khi nhìn bà bán hàng. Những phép tính cộng trừ nhân chia được bà nhẩm tính một cách nhanh chóng và chính xác, nhanh hơn cả nhưng cô bé đáng tuổi chắt bà.  Điều này có lẽ mang đến sự đối lập với cái vẻ bề ngoài đã chậm chạp vì tuổi tác. Vóc người thấp nhỏ, khuôn mặt rất có nét, chắc lúc trẻ khá đẹp….nhưng đôi mắt ….Đôi mắt khá lạ! Đôi mắt xám và trơ.  Đôi mắt chẳng bao giờ nhướn lên hoặc nheo lại khi cười. Đôi mắt lành lạnh của sự đóng băng. Không hiển thị một điều gì và không điểm kết thúc khi nhìn vào nó….Nhưng khi nói chuyện,  như một đặc điểm đáng quý của những người đàn bà Nam bộ , suốt chiều dài câu chuyện là  thời điểm mà sự cả tin bị mê hoặc bởi tính chân chất và thật lòng.

Bà sinh ra và lớn lên tại làng Tương Bình Hiệp này. Gia đình cũng khá giả nên được học hành đầy đủ. Có bằng Thành Chung (Primaire), sau đó gia đình không cho học nữa, ở nhà làm ruộng, gia chánh. Năm 17 tuổi lấy chồng.  Năm 19 tuổi theo chồng ra bưng kháng chiến, xuống tận Đồng Tháp Mười, làm y tá. Được biết với cái tên Hoàng Anh Phụng ( đi Việt Minh mà tên đẹp dữ) và những giai thoại về việc cứu sống khá nhiều thương bệnh binh trong đó có việc truyền dịch bằng nước dừa…. Má kể có lần có một anh thương binh bị mày bay Pháp bắn lủng ruột, anh này còn khá trẻ khoảng 16-17. Nằm trên sạp mỗi lần tỉnh ảnh cứ nắm tay Má, kêu “ Chị ráng cứu em sống… Em còn bà già ở nhà….” Nhưng lúc đó thuốc men khan hiếm, không nước biển, cứ nước dừa mà truyền, nên vài hôm sau anh chết. Cái chết của người lính đó làm Má ray rứt một khoảng thời gian dài, vì không biết được tên tuổi, quê quán và cả gia đình ảnh sống ở đâu. Nghe phong phanh đâu Mĩ Tho, nhưng đất mênh mông biết đâu mà tìm….Sau 1954 đình chiến, người Pháp thua trận, Hiệp định Genève được kí kết, đất nước chia đôi hai miền, những người tham gia Việt Minh một phần tập kết ra Bắc , số còn lại về quê làm ăn , chờ ngày tổng tuyển cử….  Má cùng chồng với mấy đứa con nhỏ, lục tục quay về làng cũ, bắt đầu cuộc sống mới. Ở đây bà làm cô giáo dạy tiểu học, còn người chồng về làm ruộng. Những ngày hòa bình đầu tiên sau những năm dài chiến tranh và đô hộ thật yên bình, ngọt ngào. Bà kể :”_ Ở thôn quê lúc đó ngày nào cũng như ngày Tết. Dù nghèo, nhưng người ta sống chơn thiệt và nghĩa tình. Không có trộm cắp, cướp giựt. Lúa má làm ra dư dả. Vụ sáu tháng đất nghỉ sáu tháng vẫn dư ăn. Tụi con nít ngoan ngoãn, lễ phép, biết vâng lời. Chính quyền thì cũng những ông hương xã  cũ, hoặc những người mới do dân bầu lên, nhưng phần đông là những người lớn tuổi và đáng kính trọng. Không thấy bóng dáng lính tráng nhưng thật sự yên ổn…..” Kỳ vọng về một biểu tượng hòa bình lâu dài cũng rất sớm tan vỡ. Cái ngày hiệp thương kéo dài, kéo dài mãi cho đến khi nó không có một dấu hiệu nào để chứng minh nó tồn tại. Sự mong đợi trở thành nỗi thất vọng lớn lao. Tiếng súng của chính quyền trong cuộc bình định những đảng phái chống đối như Năm Cụt, Bảy Viễn, Hòa hảo, Cao Đài….khơi mào cho nỗi lo âu của những người từng tham gia Việt minh chống Pháp, Dù được xem như những người có công trong công cuộc đánh đuổi thực dân, nhưng những viễn cảnh về một cuộc sống yên lành dưới chế độ mới, cũng là một điều không dễ mường tượng. Chính quyền mới lập cơ chế quản lý hành chính mới. Những xung đột và kỳ thị lại thường xuyên xảy ra sau một thời gian vắng bóng. Sự can thiệp của lực lượng cảnh sát . Và điều quan trọng là sự móc nối  của những người Việt minh còn trụ lại trong bưng về quyết tâm tiến hành một cuộc chiến võ trang nhằm thống nhất đất nước, sau kì vọng lớn đã mất. Người chồng sau vài lần bị mời thẩm vấn, xét hỏi …ở trụ sở thôn lại trốn vào rừng. Má khóc hết nước mắt nhưng con cái tay dắt, tay bồng đành cắn răng ở lại. Sự phân cực đến hồi đỉnh điểm của Thế giới đã khởi động một guồng quay với động cơ là những bàn tay đã thọc quá sâu của những thế lực bên ngoài. Một sự chuyển động kéo dài hai mươi năm, cuốn theo số phận của bao con người, trong đó có người đàn bà Việt vóc bé nhỏ, có tám đứa con ở một cái làng sát bên dòng sông Sài Gòn, cách thị trấn Thủ Dầu Một khoảng mười mấy cây số về hướng Tây Bắc.

Tôi không mang tham vọng viết những trang viết về những hình thái nhằm quản trị những người dân nằm ở vùng giáp ranh vào thời điểm ấy. Những kiến trúc được xây dựng trên cả cơ sở chính trị lẫn thổ  nhưỡng mang tính kinh nghiệm nặng nề của những đầu óc bậc thầy trên thế giới được áp dụng trong cuộc chiến. Phần nữa  sau bốn mươi năm đã quá nhiều sách vở, tài liệu, hồi ký lịch sử ….từ nhiều phía , từ những nhân vật tiếng tăm …..được xuất bản đã mô tả khá chi tiết về những cấu trúc đã  bị lãng quên hoặc diệt vong trong thế giới đương thời….Việc của tôi là theo đuổi những số phận. Những số phận nằm bên dưới những mô hình , chính sách, hiệp định, nghị quyết và những con số thống kê mang tính khoa học, đầy chất thuyết phục hàng ngày vẫn được đưa lên những buổi thuyết trình hoặc các bản báo cáo…..Tuy chỉ là vài dòng, đứt quãng, đầy thăng trầm…đôi lúc thiếu logic.

_ Vùng này hồi trước làm ruộng hả má?

_ Ờ…Nhưng ở đây gò, đất xấu…Phải đi ghe qua Củ Chi.

_ Hồi đó ở đây có xây dựng ấp chiến lược không Má?

_ Không….Nhưng đồn lính gần đây, trên kia… Vùng này là vùng an ninh mà….. Nói thì nói vậy thôi, chớ Việt Cộng lúc đó đâu không có.

Một thoáng suy nghĩ lướt qua trong tôi. Có thể  do cùng đất này này khá lâu đời, dân cư tập trung đông và cũng gần những thủ phủ như Lái Thiêu, Thủ Dầu Một.

_ Vậy cuộc sống có dễ thở không Má?

_ Lúc trước thời ông Diệm thì khó, sáng nào cũng bắt lên tra vấn, xét hỏi chồng đi đâu, làm gì….nhưng sau này rồi cũng hết…Hỏi riết …chán….Họ cũng không đả động gì nữa…Má cười nhạt. Lần đầu tiên tôi thấy nụ cười xuất hiện trên khuôn mặt bà_  Đời sống sau này dễ thở hơn. Lúa gạo cũng dư dả. Nhất là khi gạo Mỹ vô. Gạo Mỹ hột tròn, gạo Mỹ hột dài …cả bao bố, rẻ thúi…..Mấy thứ Thần Nông của mình đâu có bao nhiêu….

_ Lúc Mỹ vô có đóng bót ở đây không?

_ Đâu bên Củ Chi, Bến Cát….Ở đây không có. Thỉnh thoảng cũng thấy tụi nó đi…nhưng cũng không đụng chạm gì…Chỉ có lính Cộng Hòa….Lính cũng có người này, người nọ…..Có người phá phách…cũng có người đàng hoàng. Sợ nhứt là bom đạn. Nhà nào hồi đó cũng có cái hầm bên hông nhà ….Bom đạn là thứ vô tình. ….

_ Rồi phía cách mạng có về không?

_ Có chớ….Đêm nào không về. bên kia sông Củ Chi lội qua….trên Bến Cát. Mỹ Phước đổ xuống….Dạo sau này  năm 67-68 trở đi, bom đạn liên miên. Ban ngày lính quốc gia, ban đêm Việt Cộng….Chiều khoảng 3-4 giờ , lính rút về đồn hết. Làng xóm chỉ con lại đàn bà, con nít, mấy ông già, bà già…Mấy ống lại vô làng, mặc quần áo đen, xách cái rổ, gõ cửa từng nhà xin gạo. Thấy ốm đói, tội nghiệp cũng cho. Sau Mậu Thân, chồng tui về …trốn cả tuần dưới hầm…rồi đi biền biệt. Sau đó mới ra con Út. Ổng mất năm 69 , dưới Dĩ An….

Một khoảng không gian lặng yên. Không những chỉ tôi mà cả bà, đều thấy cần một khoảng yên lặng tối thiểu trong thời điểm này. Ngoài sân mấy con ong bầu đen trũi nặng nề đậu trĩu cả những búi mai vàng rực làm những cánh hoa tròn xoe rơi lả tả, xoay tròn đánh những vòng trôn ốc chầm chậm cho đến khi chạm đất.

_  Lúc cho gạo không sợ bên quốc gia họ biết sao? Tôi hỏi sau thời gian yên ắng.

_  Sợ chớ… Nó biết được , nó lôi ra nó đánh….làm tình, làm tội dữ lắm….Nhưng thấy họ hốc hác, đói rách quá cũng cho….cái tình là ở con người với con người….

_ Năm 74 nghe đâu đánh lớn trên miệt Rạch Bắp, Thị Tính…Ở đây có sao không má?

Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tác động của thời gian lên con người. Bà đưa ngón tay trỏ lên, day day những nếp nhăn nơi trán, như muốn gợi dậy những ký ức quá cũ kỹ ẩn náu đâu đó trong tâm thức. Ngón tay mốc thếch, ngắn cũn như trái quả chuối cau đã dậy mùi, loang lỗ vết tàn nhang.

_ Có nhưng chỉ trên Bến Thế, nhà cửa trên đó tan hoang hết…Dân chạy loạn xuống đây, xuống Thủ Dầu Một. Ở đây ít hơn chỉ thỉnh thoảng bị pháo kích, dội bom…Lúc đó suốt ngày cứ trốn trong hầm, không ra ngoài làm ăn gì được.

_ Có chết ai không?

_   Có…thỉnh thoảng cũng năm ba mạng….

_ Vậy có kiện ai không?

_   Biết ai đâu mà kiện. Thời tên bay đạn lạc….. Trời kêu ai nấy dạ…

_  Rồi năm 75????

_  Năm 75 thì yên. Lính tráng bỏ chạy hết. Giải phóng không có một tiếng súng…Chỉ có mấy ông “ Ba mươi” nó quậy thôi!

Cái từ nghe lạ! Tôi quay hỏi lại.

_  Tụi “ Ba mươi” là tụi nào Má?

_  Tụi “ Ba mươi” là mấy ông nhỏ 15-16 , tay băng đỏ, cầm súng, ngồi xe zíp đó!

….

Cô con gái mới về. Dáng người chắc, đậm của những người phụ nữ miền quê choáng hết lối đi. Chị chào tôi, vứt cái nón vào góc nhà, quay ra nói chuyện với bà. Để hai mẹ con nói chuyện, tôi bước tới cửa, châm điếu thuốc hút. Trời đã vào trưa. Nắng sẫm vàng. Tôi dưa mắt cố tìm chung quanh những vật chứng có thể liên kết với câu chuyện của bà, nhưng thấy bất khả. Đã hơn 40 năm những vết tích dù nhỏ nhặt của cuộc chiến cũng không còn. Bóng dáng của những cộng đồng nhỏ bé thúc thủ, thu mình trong những công cụ phòng vệ quân sự chừng như đã tuyệt diệt hoàn toàn. Mấy cây dừa ngất ngưỡng trước nhà , thân trơn bóng chứng tỏ cũng mới trồng chừng chục năm đổ lại. Nông thôn ngày nay đã thật sự thay đổi. Những ngôi nhà hình hộp hiện đại cũng mọc rãi rác. Con người cũng xóa được cái lằn ranh tự kỉ giữa phố thị và thôn quê tồn tại trước đây. Những con hẻm đổ bê tông sạch sẽ. Mấy luống hoa đủ màu sắc dọc bên đường cũng làm dịu cái nhìn trong sự phản xạ gay gắt của ánh nắng….Tuy vậy bên cạnh đó  vẫn còn những mái nhà tiều tụy, chắp vá của cái nghèo níu kéo.

Cô con gái có vẻ vồn vả khi thấy tôi quay lại:

_ Anh dưới thành phố lên định đi mua đất hả? Có mấy lô đẹp lắm, sát đường…tui dẫn cho mà coi!

Tôi cũng ngớ người trước cái từ khá “ hot” dưới thành phố lại lọt tuốt lên đây. Tự hỏi sao bây giờ ở đâu người ta cũng dùng cái từ trở nên khá thời thượng này. Chừng như khắp đất nước.

Tôi chống chế:

_  Không… Tôi chỉ đi chơi cho biết thôi. Mua bán gì đâu….

­ _ Ảnh ở miền Trung vô chơi…Hỏi thăm cuộc sống, làm ăn chổ mình….Má ngồi bên kia, nói giúp qua.

Chị con gái bắt chuyện cũng nhanh:

_ Giờ làm ăn gì nữa anh ơi! Ruộng đất bán quy hoạch thành khu công nghiệp rồi. Còn mấy lô đất nhà để lại, xẻ bán dần thôi.

_ Ủa chị bây giờ làm gì?

_ Giờ sáng bán bún mì, hủ tiếu, đồ ăn sáng cho công nhân đi làm. Ngày kiếm được khoảng trăm, trăm rưỡi . Già…. quá tuổi công nhân , người ta đâu có nhận.

_ Vậy còn ông xã ?

_ Ổng chạy xe ôm, lúc phụ hồ….Thu nhập bấp bênh lắm!

Câu nói của chị khiến tôi nhận thấy một thực trạng nhức nhối trong cuộc sống của những người nông dân vùng ven_  Những vùng đang bị cơn lốc công nghiệp hóa, đô thị hóa cuốn vào. Những con người hiện tại không còn đất đai canh tác, ruộng đất được đền bù theo giá đất nông nghiệp giỏi lắm chỉ xây được căn nhà khang trang, trong khi tay nghề hoặc lứa tuổi không đủ sức đáp ứng tiêu chuẩn của các nhà máy, xí nghiệp mới mọc lên trên mảnh đất vốn trước đây của họ. Một lực lượng lao động dôi ra đáng kể…. Liên đới với báo giới  khoảng thời gian gần đây về tình trạng tăng vọt của lực lượng bán vé số, đó là chưa tính đến những thành phần lao động tự do khác như: xe ôm, buôn bán nhỏ, hậu cần linh tinh cho những quần thể công nghiệp và cả một nguồn lao động trôi nổi từ vùng quê  di cư vào các thành phố lớn theo mùa hoặc thời vụ…… Tôi nghĩ, phần nhiều trong số những con người đó đang là hệ quả của vấn đề được nêu lên ở trên. Vậy hỏi họ sẽ làm gì để tiếp tục cuộc sống còn với hiện tại và tương lai trước mắt?????

….

Tiếng xe máy phân khối lớn rú lên, phá không gian vốn yên ả của ngày Tết. Mấy con bồ câu nghe động bay vù lên. Tiếng đập cánh sàn sạt qua cửa sổ. Hai cái đầu vàng hoe gói trong chiếc mũ bảo hiểm thò vào, dáo dác. Chị con gái nhanh nhẩu đứng dậy, te te bước ra bên ngoài. Mấy câu đối thoại nửa Tây, nửa ta…rồi tiếng xe máy lại gào lên, lao đi.

_ Tây ba lô….Chị xuất hiện ở khung cửa, nhoẻn cười , nói. Tụi nó mua nước suối.

_  Bọn nó lên đây thường xuyên không Chị?

_  Đầy, ngày nào không có….Chị lại cười, chỉ tay vào Má_ Hỏi bà già trước Tết bị tụi nó lừa làm sao nè?

Tôi quay sang Má, thấy bà cười đôn hậu. Một niềm vui thật sự xuất hiện trên khuôn mặt bà khiến các nếp nhăn giãn ra. Điểm trơ trong đôi mắt nhòa đi, khỏa lấp trong  sự từ tâm. Một cái gì của tâm hồn Việt hiếm hoi, còn sót lại, giữa thời này.

_ Mồ tổ nó….Hết người lừa nó lừa bà già….Một triệu tám chớ ít ỏi gì……Mồ tổ cha hai thằng Mỹ đen, Tây mặt ghạch….

Nghe bà chửi lẩy, tôi cũng thấy không nhịn được cười. Không gian bỗng có cái gì đó khá gần gũi. Tự dưng tôi lại có niềm vui lây từ câu chuyện rất đời của hai má con. Dù bụng muốn ra về, tôi cố ngồi hóng hớt cho hết câu  chuyện…

_ Sau này nghe nói tụi nó bị công an bắt đâu bên Củ Chi, cũng cái trò ảo thuật tráo tiền. _ Chị con gái nói.

_ Vậy có lấy lại được tiền không?  Tôi chăm chú hỏi.

_ Không , trong túi tụi nó chỉ còn vài trăm ngàn.

_ Mất luôn à?

_ Mất luôn! Chị con gái trả lời gọn lỏn.

_ Thôi cho nó cho rồi…Nhắc hoài làm gì. Của đi thay người mà…. Đầu kia Má nhỏ giọng.

Ôi chao cái câu, nghe mà nghèn nghẹn! Câu nói mà dường như tôi đã thuộc lòng từ thời ở với bà ngoại đến khi về bên nhà Má ruột. Cũng câu nói  đầy hỷ xả của muôn bà má tôi đã gặp và ngồi trò chuyện. Từ những làng chài của dãi đất hẹp miền Trung cháy bỏng cát, nắng, phi lao… đến những vuông đất ngậm nước, ướt loáng màu thép, cò bay thẳng cánh của đồng bằng miền Tây nam bộ….và giờ thì ở đây, nơi nền đất nện thẫm màu đỏ bazan, lợn cợn đá ong quá lửa của những xóm thôn miền đông này. Sao đâu cũng vậy!

_ Vậy sau giải phóng cuộc sống ở đây thế nào má?  Tôi hỏi khi không gian đã nhàn nhạt.

Câu hỏi của tôi chạm phải sự im lặng. Cả hai người đàn bà như hóa đá, ngồi miên man đến nỗi tôi không biết phải làm gì. Lát sau, cô Út nói:

_ Anh hỏi thời kỳ sau 75 hả? ….Nhiều chuyện để nói lắm anh ơi…

_ Vùng này có thuộc diện đi kinh tế mới không Chị?

_ Không chiến tranh xác xơ hết rồi đi gì nữa…Dựng làng xóm như cũ đã thấy ông bà ông vãi rồi!

_  Rồi cuộc sống có đỡ không ? Tôi bám theo câu chuyện

_  Đỡ gì đâu anh ơi! Ruộng đất vô hợp tác xã. Lúa gạo thì chia phần đâu đủ ăn. Hỏi Má coi, ngày nào Má cũng nấu nồi khoai to tổ bố cho mấy đứa con trong nhà….. Xuồng anh Ba đi chở lúa từ Củ Chi về, qua trạm kiểm soát, chưa kịp dừng lại. Nó xả cả băng đạn. Chìm mất cả xuồng lúa. Người chưa chết là may…Có lít gạo giấu trong người mang từ đây xuống Thủ Dầu Một, tụi “ Ba mươi” chặn lại. Nó lấy cây xăm,  xăm nát mình, nát mẩy……Gạo lộn với máu chảy xuống mặt đường….

Tôi lặng người , sau đó ngước nhìn má, cố tìm xem phản ứng của người đàn bà trước những sự kiện trần trụi được khơi lại một cách vô tình này.  Đôi mắt trở lại trạng thái vốn có của nó _trơ và xám lạnh. Tròng mắt tĩnh và sâu….Ở trạng thái mà mọi tác động bên ngoài như  bị hóa giải và khó làm rối được một tâm trạng  khó hiểu che giấu đâu đó  phía trong,

Sau tiếng thở dài, bà nói:

_  Bây giờ mặc kệ ai làm gì đó thì làm…..

Thực tình trong tôi, tôi cũng không thể nào chấp chứa cùng lúc hai hình ảnh đối lập,  kịch tính,  mang đầy mâu thuẫn đến vậy . Hình ảnh của những con người trong bộ đồ ba ba đen , tay cắp cái rổ, đến gõ cửa từng ngôi nhà tranh xin từng nắm gạo và cũng chính những con người đó, sau đó vài năm, với họng súng trong tay, lại đi lục soát, xăm nát thân thể của những nông dân từng nuôi giấu họ, để tìm ít gạo giấu trong người…. Mặt đất vốn đỏ thẫm nay lại loang lỗ gạo lẫn máu.

_ Còn bây giờ thì sao hả chị? Tôi hỏi tiếp.

Cũng chị con gái trả lời: _ Giờ thì đỡ rồi . Tụi sau này có học hành nên làm việc đàng hoàng hơn. Cái đám lúc trước đã “ về vườn “ ….. Dân còn ghét lắm. Đi qua nhà, họ còn hắt nước cơm, chửi trước mặt “_ Cơm tao thà cho chó ăn, còn hơn mày ăn”…..

Không gian im lặng . Tôi cũng không nén được một làn hơi sườn sượt.

Thấy trời đứng bóng, tôi quay ra chào Má và chị con gái để chuẩn bị ra về. Đang nói câu từ biệt, bỗng khuôn mặt rất dễ thương của một thiếu nữ, khoảng đôi mươi, lấp ló phía cửa. Đôi mắt to chững lại nơi tôi như dò hỏi. Chị con gái nhanh miệng:

_ Con Út tui . Chào Bác đi con. Nó học Đại học tài chính dưới Thủ Dầu. Năm nay năm cuối!

Thiếu nữ chào tôi, dắt chiếc xe đi vào trong hẻm trong cái dõi theo của hai người đàn bà.

…..

Tôi nắm bàn tay thô kệch, với những ngón tay ngắn, loang mốc. Lòng bày tay lạnh, lớp da chai và dày đến nỗi không cảm nhận được nguồn nhiệt phía sau. Chia tay Má, không hiểu sao tôi không dám nhìn  thẳng vào đôi mắt của bà.

Con đường mới _ Theo tay hai người đàn chỉ, ra khỏi làng không dài. Con đường chạy qua một ngôi trường tiểu học hay trung học gì đó mới xây khá đẹp, mang tên Tương Bình Hiệp. Tôi có đứng trước cổng ngó vào trong sân một lúc. Dưới những tán hoa bằng lăng  biêng biếc là những tà áo dài trắng lướt thướt qua lại.  Tiếng cười đùa vô tư của một thế hệ mới lớn át cả tiếng xe cộ ầm ào từ quốc lộ 13 gần đó, vọng vào.

Cái tên “Vùng xôi đậu” đã phai lãng từ lâu lắm rồi trong tâm thức con người ở đất nước này , cả những người từng kinh qua chiến tranh_ cũng như cuộc chiến ngày càng trở nên là một cái bóng mờ  trong quá khứ……nhưng trên mảnh đất bazan đã lành lặn vết thương, dưới tán lá cao su xanh um mới trồng từ chục năm đổ lại, vẫn còn lẫn khuất đâu đó là đôi mắt lạnh, ráo hoảnh của những người đàn bà và cái nhìn thật sự khó hiểu.

Dù chỉ đơn thuần là người chuyển tải những thông tin đến những nơi cần đến, tôi cũng cảm thấy đang nợ họ một điều gì.

Và bạn, nếu thật sự quan tâm….. bạn có nghĩ thế không?

Sài Gòn, 15/04/2017

Vũ Khuê

NHỮNG HƯỚNG SAO RƠI

 

Khi miếu đường kia phá bỏ rồi
ta đi tìm những hướng sao rơi
lạc loài theo dấu chân cầm thú
từng vệt dương sa mọc khắp người

sau trái cô sơn, ngày lại ngày
hồn kinh kỳ hiện dưới chân mây
đôi tay vò xé loài hoang thảo
đỏ máu căm hờn trên cỏ cây

rồi những đêm sâu bỗng hiện về
vượn lâm tuyền khóc rợn trăng khuya
đâu đây u uất hồn sơ cổ
từng bóng ma rừng theo bước đi

ta đến sườn non rẽ cỏ gai
sống đây ghi trước mảnh di hài
lẫn trong kiến trúc toà vân thạch
hồn cổ ngồi chung, mộng vẫn dài

từng buổi hoàng hôn xuống lạ kỳ
ta nằm trên cỏ lắng tai nghe…
thèm ăn một chút hoa man dại
rồi ngủ như loài muông thú kia

ĐINH HÙNG

Ở MỘT CHỖ XA XƯA

 

Xin ngồi lại một chỗ ngồi rất cũ
Để nhìn em mặc áo mới đến trường
Trời buổi sáng xanh non màu lá biếc
Gió trở về quấn quýt áo dễ thương

Trong mắt em mùa nắng lên rất đẹp
Sách học trò đầy ắp một mùi hương
Sao chẳng phải là những viên sỏi nhỏ
Lót chân em thân mật lúc sang đường

Ngày rất đẹp nhờ có em trang điểm
Lòng rất vui vì có chút tình vương
Tóc bồ kết thả giữa trời hương sắc
Làm tôi yêu đời sống rất lạ thường

Rất lãng mạn nên âm thầm gợi nhớ
Mộng tưởng xanh trên một mặt hồ đầy
Rất đa tình nhưng chẳng bao giờ ngỏ
Mắt lưng trời mơ một mái tóc bay

Xin ngồi lại một chỗ ngồi năm trước
Để nhìn em nhan sắc mới đầu ngày
Với năm tháng vui khuê phòng gương lược
May em còn sót lại chút thơ ngây

Mà tôi đã mất lâu rồi, lâu lắm
Bậm môi sầu cho tiếng khóc thôi cay

Xin ngồi lại một chỗ ngồi cũ kỹ
Đã mấy năm lặng lẽ chẳng tìm về
Ôi hồng phúc của ngày xưa bé bỏng
Tôi còn gì để mắt ủ tay che?

Nên buồn quá tôi ngồi như pho tượng
Nghe đời sầu quạnh quẽ gió nghĩa trang

TRẦN VĂN NGHĨA

BUỔI SÁNG QUA ĐỒI

 

Sóng vẫn gọi từ ngày anh xa biển
Bờ cát trôi, cuốn mất tuổi tên mình
Một buổi sáng qua đồi nghe nước chảy
Cội thông già quên nhớ chuyện hồi sinh

Anh đứng lặng nhìn mây bay trên núi
Thương đời mình hơn nửa kiếp đi hoang
Từ dạo ấy, rừng phương đông ngút cháy
Con sông nào từng nhánh nhỏ lang thang

Anh vẫn hát bài tình ca thuở đó
Trong những chiều rất lạnh thiếu quê hương
Và đôi lúc một mình đêm khuya vắng
Anh ngồi mơ tha thiết buổi lên đường

Người năm trước ra đi không trở lại
Người năm xưa ở lại biết về đâu
Trên bến cũ, trăng thu vàng mấy độ
Ngọn đèn đêm, tiếng nước vỗ chân cầu

Tuyết rơi rải trên đồi dăm đốm bạc
Anh nghe lòng thương tiếc tuổi hai mươi
Dẫu mai mốt có còn ngày trở lại
Tìm quê hương hay chỉ thấy quê người.

Trần Trung Đạo