ĐẦU XUÂN, BƯỚC CHÂN QUA VÙNG “XÔI ĐẬU”…

 

( Kí sự)

“ Có ai qua vùng hỏa tuyến.
Nhắn cho tôi đôi lời….”

Có cô ca sĩ nào đó , có cái giọng lạ, hớp hồn tôi bằng một bài hát của nhạc sĩ Lê Minh Bằng. Một giọng ca thiên phú,  chỉ dành riêng cho dòng nhạc vàng_  trong trẻo và da diết. Chất giọng mềm và chân, hầu như không có sự luyến láy của học thuật bỗng dưng làm thăng hoa một cái gì đó đã quá cũ kỹ. Một thứ đã qua tay quá nhiều người, trong việc cố gắng làm sống nó , bằng khá nhiều hình thức, nhưng gần như thất bại. Em đã thành công , ít ra trong tôi, nhờ một vấn đề mà những người đi trước đã bỏ qua hoặc không chú ý đến. Sự chân chất…. và chiếc lư xỉn màu vì thời gian trên đôi tay thành tâm của người thợ đánh bóng trong những ngày giáp Tết, qua vài vòng cọ xát với lượt vải mềm, một màu đồng sáng chợt hiện ra, lóe lên, ngời ngợi …. chao lòng người!

“ _ Ai hát vậy em?” Tôi ngoái cổ lại, hỏi thăm cô chủ quán.

“ _ Ca sĩ Hồng Trúc đó anh!”

Cái tên nghe lạ!  Tôi cố gắng ngồi nán lại trong cái  quán cà phê nghèo ven sông để nghe cho hết bài hát.

****

Đi làm ở Sài Gòn khá lâu và nhiều buổi chiều, khi đi làm về , tôi thường đứng hóng mát trên cầu Sài Gòn. Tôi đứng từ chạng vạng đến lúc đỏ đèn, khoảng tiếng đồng hồ,  để nhìn dòng sông mênh mang, trãi rộng trong tầm mắt. Nghe âm thanh lạch bạch quen thuộc của những chiếc võ lãi, dõi theo  những chiếc ghe bầu cũ kỹ, ì ạch chở sản vật của từ những vùng quê lân cận mang xuống thành phố . Con sông quanh năm suốt tháng  chỉ mang một màu phù sa đùng đục  ….thứ màu  của bùn đất, của lam lũ ..xuôi qua phố thị náo nhiệt, tráng lệ. ….Đôi lúc tự hỏi có con sông nào trên thế giới,  mang những hình ảnh tương phản như phần đặc trưng của sự sống chính mình thế này hay không ?…. Đứng nhìn những xoáy nước cuộn dưới chân cầu, cũng tội những mảng riều, lục bình trăm năm cứ lẩn quẩn mãi ở một khúc sông, không ra được tới biển , theo con nước ròng vừa qua được chân cầu lại gặp con nước lớn đẩy ngược trở lại, cứ như thế, theo dòng thời gian, một sự giành giật chà xát không khoan nhượng giữa những thế lực tự nhiên mạnh mẽ hơn nhiều…

Cầu Phú Cường_ Thủ dầu Một  , mồng tám Tết Đinh Dậu ( 2017). Một thứ dây leo trùm lên thân cây tràm, cho những chùm quả đỏ mọng lạ mắt , dẫn tôi theo một con đường tôi chưa hề có ý định rẽ vào.  Bên trái là cung đường khá quen thuộc lúc tôi còn làm công trình ở Tây Ninh. Cầu Phú Cường, vắt ngang sông Sài Gòn (đoạn này có tên Sông Cái ), theo tỉnh lộ 8, lên đến trung tâm huyện Củ Chi, hòa nhập vào quốc lộ 22, sau đến Trảng Bàng rồi Gò Dầu…Còn rẽ phải, cầu Rạch Trầu, kho xăng dầu Thalexim….gì gì nữa, tôi chịu, chỉ biết nó dẫn lên vùng thượng nguồn sông Sài gòn, hồ Dầu Tiếng, chiến khu  Dương minh Châu…. Cung đường vắng vẻ, đã rãi nhựa. Bên trái, trãi ra đến mé sông, khu đô thị Chánh Mỹ  với những khu biệt thự dành  cho người nước ngoài thuê hoặc cho những đại gia người Việt đứng biệt lập, sau bức tường rào và hàng cây cao được tỉa tót cẩn thận.  Loáng thoáng màu áo xanh biển của những tay bảo vệ  và màu trắng của người phục vụ.  Gần 9 h, không gian im ắng. Một vài  công ty cở nhỏ đóng cửa im lìm, chưa hoạt động.   Đoạn qua làng Mỹ Hảo,  cư dân hai bên đường có vẻ đông đúc hơn.  Một ngôi làng đẹp, lâu đời với những con đường nhỏ láng xi măng, sạch sẽ. Cư dân theo đạo công giáo, niềm nở và tốt bụng, sẵn sàng dành thời gian để trả lời những câu hỏi cho khách qua đường . Những nụ cười đôn hậu không quên được. Cuối làng là một nghĩa trang  và một ngôi nhà thờ nhỏ…. Khu phố Mỹ Hảo 2 là những mảnh đất đã phân khu nằm trong quy hoạch, nhưng có thể thiếu kinh phí hoặc chưa có nhà đầu tư nên gần như bỏ hoang. Vài cụm dân cư, trường học nằm cô lập. Mái ngói đỏ au, những bức tường mới xây cho cảm giác đây là khu dân cư mới ….Và thú thật, cái mới không hấp dẫn tôi lắm. Như một kẻ háo chuyện tinh vi… và cái mới có gì để nói.

Qua cầu Bà  Cô….một ngã ba, rẽ tay trái… Một ngôi đền có biển cảnh báo đang sửa sang và những cây dầu cổ thụ thẳng tắp , cao ngất ngưỡng. Không gian mát mẻ hẳn lại.  Tôi hỏi người đàn bà đang bán hàng bún mì gần đó: _ “ Đền thờ ai vậy chị?”  _” Đền thờ ông Phan Thanh Giản”. Chị trả lời , quay lại với câu chuyện đang dở với bà khách   “….Trời tối mò. Đạn bay lẹt xẹt xanh lè. Mấy ông lính la hét quá trời…” . Thấy không tiện hỏi thêm, tôi đứng bên đường, ngóng vào. Cánh cửa vào đền đóng kín. Một bệ thờ cũ, án ngữ phía trước, có họa tiết, che chắn tầm nhìn. Phía trong có tượng một con cọp đang nằm vẻ phấn khích với cái đuôi  cong vểnh lên. Lạ so với nhiều con cọp tại những ngôi miếu cổ , mà tôi từng biết. Sâu hơn một mái ngói đã hư hỏng khá nhiều. Tường gạch đôi chỗ không còn nguyên vẹn….Ngôi đền trông xập xệ và thiểu não. Tôi đứng nhìn loanh quanh, những ngôi nhà bên đường không còn mới, nhưng cũng không gọi là cũ, tầm độ mười, mười lăm năm đổ về sau. Điều đáng chú ý là khá nhiều những ngôi mộ nằm trong khuôn viên nhà. Những ngôi mộ được xây bằng loại đá ong đỏ, đã sẫm màu. Một số bị thời gian bào mòn, vẹt đi. Tôi có lấy tay, khẩy khẩy vài nơi. Không một vụn đá rơi ra. Đá khá rắn và chắc chắn….Một vùng đất lâu đời, có từ thời khai thiên lập ấp của Chúa Nguyễn, nơi dừng chân một bộ phận giống nòi Giao Chỉ trong cuộc Nam tiến. ẩn mình bên mép sông Sài gòn, cách thành phố Thủ dầu Một khoảng mươi cây số về phía Tây Bắc, Sài Gòn khoảng bốn mươi cây theo đường chim bay. Phía Nam góc hợp lưu của con sông Sài gòn và Thị Tĩnh, nơi có những trận giao tranh lớn giữa quân Giải phóng và quân đội Sài gòn , vào những năm 72-74. Bên kia sông là Củ Chi, Đất Thép,  địa danh giành giật không ngưng nghỉ của hai phe vào những năm chiến tranh… Làng Tương Bình Hiệp, Bình Dương.

Tôi quay lại, hỏi người đàn bà , lúc này đã rỗi việc, đang với cái khăn lau.

“_ Chị dân đây hả chị?”

“ _ Tui dân đây lâu rồi!”

Người đàn bà cũng thật khó đoán tuổi. Dấu ấn thời gian bị trượt khá nhiều trên sự cơ cực và những biến cố tác động lên con người. Ngặt thay những tác nhân này quá đậm nét làm khuôn mặt người đàn bà trông già nua một cách đáng kể. Ẩn số cứ tiếp tục gia tăng cho đến khi một phản xạ quay ngoắt để tránh mấy con ruồi, làm tôi nhận ra, chị không lớn tuổi như tôi tưởng.

_ Vùng này trước đây an ninh không chị?

_ Đánh nhau ….

_  Chị năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

……

Người đàn bà không trả lời tôi, cặm cụi với việc lau mấy cái tô, như không nghe. Hoặc chị không muốn nói chuyện với người lạ….hoặc câu nói của tôi là một sự vô tình đánh động một điều gì đó…” _ Trời ! Sao cách nhau chỉ một con sông mà con người khác dữ!”  . Biết không thể đứng thêm, tôi chào chị, quay đi. Nghe phía sau em ém một tiếng thở dài đánh sượt….Hỏi sau bốn mươi mấy năm dư âm một cuộc chiến có còn ẩn náu đâu đó trong lòng người ???

****

Vùng xôi đậu là một danh từ có trong thời chiến tranh. Cuộc chiến kéo dài 30 năm trên đất nước này, hàm chỉ một vùng đất nằm trong sự tranh chấp giữa hai phía, (Lúc bên này, lúc bên kia …. hoặc sáng bên này, tối bên kia)  thay nhau dành quyền kiểm soát. Trong thời gian kiểm soát dù là ngắn ngủi, các bên cũng cố gắng áp dụng những biện pháp ‘khả thi’ để củng cố chính quyền  của mình.  Ban đầu cũng khá dễ dãi nhưng về sau sự tinh vi và khắc nghiệt cũng tăng dần theo mức độ  leo thang của cuộc chiến, khi máu đã đổ và những hạt giống của thù hận bắt đầu được gieo rắc khắp mảnh đất Việt. Vào quãng cuối thập niên 50 đầu thập niên 60, má tôi lúc ấy còn là thiếu nữ khoảng mười tám đôi mươi. Ở  Nha Trang nhưng bà vẫn cùng bạn bè cùng độ tuổi đi chơi  vào tận miền Tây. Sóc trăng, Sa đec, Cần Thơ….Nhiều lần cũng ra vào vùng tạm chiếm phía bên kia. Bà kể cũng chẳng có chuyện gì xảy ra, nếu gặp Việt Minh chỉ khai đi chơi thôi, người ta cũng cho qua…. Tôi tin rằng sau hiệp định Genève ( 1954) có một giai đoạn người Việt phía bên này và người Việt phía bên kia vẫn rộng lượng với nhau, đối xử với nhau trong tình người, có thể do niềm tin  vào một nền  hòa bình quá lớn lao hiện hữu gần như trước mắt ….. Có lẽ cuộc chiến nên dừng lại ở đó. Chiến tranh nên kết thúc sứ mạng của mình trên đất nước này vào thời điểm ấy. Nhưng không cuộc chiến lại tiếp tục với cường độ cao hơn nữa, trãi rộng hơn nữa, kéo dài thêm hai mươi năm, với bàn tay can thiệp sâu hơn  của những cường quốc. Hai mươi năm cho bao sinh linh, bao tinh hoa nước Việt cả hai miền nằm xuống, bao tài nguyên bị phá hủy, bao sự lệ thuộc nặng nề, bao hệ lụy tối tăm trở thành ý thức hệ, hận thù chất đống….

Dạy cho con tiếng nói thật thà

Dạy cho con chớ quên màu da

Ôi lũ con cùng cha

Quên hận thù…..

Lời ru của Mẹ Việt như thúc thủ giữa tiếng súng đạn gào thét trên tay những đứa con say máu…

Khác những cuộc cách mạng mà khoa học ký thuật mang đến cho nhân loại,- nhằm làm thay đổi nhận thức, hành vi, cuộc sống… diễn ra một cách hiền hòa  thâm nhập một cách êm thấm  vào đời sống con người vào cuối thế kỷ 20. Đại diện như computer, internet, điện thoại di động trong truyền thông….tự động hóa  trong sản xuất, vật liệu mới cho xây dựng….Những sản phẩm đã khá tinh xảo của nền công nghiệp cơ khí  vào thập kỷ  50-60 đến với tay người nông dân Việt, vốn chỉ quen nẫu với đồng lúa, con trâu, các sản phẩm tre , gỗ …hì hụi thổi bể cùng lắm cho những lưỡi cày, cái mác….nay được ấn vào tay những công cụ cáu cạnh của hãng Colt, Kalashnikov… có khả năng phun ra 1200 hòn chì/ phút. Một cuộc cách mạng dữ dội , mạnh mẽ đến bạo tàn điều đáng tiếc những thứ ấy chỉ được gắn với mỗi một nhiệm vụ: hủy diệt và giết chóc….

Những  vùng xôi đậu mọc lên ngày càng nhiều, những con người khốn khổ còn lưu  trú ẩn trong những địa danh rặt ngôn từ Việt với ý thức bất di bất dịch là giữ lấy mảnh đất tổ tiên, bám lấy mảnh ruộng, miếng vườn của cha ông bị quăng đi, quật lại với mật độ cao hơn nhiều. Cái chết , sự hoại thương không chỉ nằm ở  những hòn chì, miểng bom của ngoại bang ….mà còn nằm ở sự hành xử nhẫn tâm giữa con người với con người chung một giống nòi.

Trong một đất nước lịch sử vốn được xây dựng bằng những cuộc nội chiến từ thời Lê Mạc (1533-1677) ,Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1672), (1773- 1775) Tây sơn – Chúa Nguyễn (1771-1802) tổng cộng vào khoảng 173 năm. Đối tượng cho người lính cả hai bên nhắm vào không đơn thuần là một đối phương với vũ khí, quân phục…hoặc những dấu hiệu cụ thể để nhận biết đó là địch quân  mà còn là những người dân tay không, trong vùng tranh chấp . …..Gần hai thế kỷ,  liệu có cho những người lính một kinh nghiệm tác chiến hiệu quả trong môi trường đặc trưng này không, hay chỉ cho ra đời một câu vè “ than vắn, thở dài” cho sự bế tắc.

“ Bạc như dân, bất nhân như lính”

Vị thế người dân trong vùng xôi đậu được đặt lên đỉnh một con lật đật không biết sẽ ngã nghiêng theo chiều hướng nào….

Cuộc chiến kéo dài đủ lâu để con người sống trong môi trường đó mang hai khuôn mặt riêng biệt. Một cho bên này và một cho bên kia. Một cho những người lính quân đội Sai gòn ban ngày và một cho những người Việt Cộng ban đêm. Với từng chuỗi ngày đêm, bản năng sống còn đã khoác lên những con người còn sống, những chiếc mặt nạ hóa trang kệch cỡm nhất, buồn bả nhất của người nông dân Việt vốn có tự trọng, nhưng lại “thấp cổ, bé họng” trước sự ưu thắng của những kẻ cầm vũ khí. Con người bỗng trở thành những nghệ sĩ nghèo nàn trong hoạt cảnh đầy tên bay, đạn lạc và chết chóc là có thực. Ngày nào vở tuồng ấy cũng diễn ra ….. Hai mươi năm trời dăng dẵng, nếu còn sống sót, liệu những chiếc mặt nạ có dính sâu vào trong da thịt??? Những người đã chết, liệu họ có trút bỏ được chiếc mặt nạ đang đeo????

Dân cư vùng “ Xôi đậu” thường chỉ còn lại những người đàn bà, những người già _đã quá già cho một sự tranh chấp, những đứa nhỏ còn quá nhỏ đế suy nghĩ, những người đàn ông hầu hết đều đã có con đường cho chính họ, hoặc ở bên này, hoặc ở bên kia ….Thực ra trong lứa tuổi cầm súng hoặc còn có khả năng cầm vũ khí, việc khẳng định sự trung lập trong thời buổi chiến tranh, là điều vô cùng khó khăn. Những luật lệ hoặc chẳng cần luật lệ của cả hai bên đều được áp dụng để đẩy bật những người đàn ông khỏi nơi trú ẩn của họ, hoặc chèo kéo họ về phía mình, hoặc những cuộc thanh lọc không minh bạch với mục đích loại trừ những đối tượng có khả năng gây nguy hiểm ….và những người đàn ông thường là những mục tiêu đầu tiên được nhắm đến.

Đặc tính địa phương của những vùng xôi đậu khá phức tạp và đa dạng, là những nơi xa xôi, hẻo lánh miền cao nguyên trung phần, dân cư thưa thớt, những xóm chài ven biển heo hút, những đồn điền cao su bạt ngàn miền Đông Nam bộ, hoặc  nằm rìa những vùng đất trù phú miền Nam có khả năng cung cấp lúa gạo, những vùng đệm sát nách những thành phố, thị trấn …nơi có thể tạo một sự đe dọa về mặt quân sự …Nhưng dù ở đâu đi nữa, dù được ngợi ca thế nào đi nữa, chiến tranh vẫn mang đến sự tệ hại thứ hai sau chết chóc và tàn phá là những cộng đồng tan nát, rục rã sự tin cậy lẫn nhau giữa con người và con người. Người ta luôn sống trong sự hoài nghi. Những người,  gia đình có người thân theo phe bên này nghi ngờ những gia đình có người bên nọ. Anh em một nhà có chí hướng khác nhau cũng mất đi sự tin tưởng vào nhau. Hàng xóm láng giềng  trở nên nghi kỵ. Những cuộc chiến tuyên truyền của cả hai bên là những chất xúc tác mạnh mẽ cho sự chia rẽ sâu sắc này. Có lần qua một địa phương ở miền Trung, tôi có nghe một người đàn bà, tâm sự : “ Ngồi nói chuyện một đám. Biết bả là dân bên kia nằm vùng. Nhưng không ai nói ra….” Cái từ “ Không nói ra” của người Việt không bao hàm hàm ý ủng hộ hoặc ghét bỏ, nhưng ẩn chứa thái độ dè chừng, tạo khoảng cách….Điều này không loại trừ những việc để tạo một cảm giác an toàn cho cuộc sống chính mình, cho gia đình mình….đôi lúc họ buộc phải làm những việc thật nhẫn tâm. Dù trái với cái nhìn đạo đức được nhìn nhận là truyền thống, nhưng trong chiến tranh, nó được khuyến khích bởi các thế lực…và thù hận theo sau là hệ quả khó tránh.

***

Tôi ngồi đối diện với Má trong cái quán nhỏ. Nắng xuân đậm đủ để ghim những cánh mai bên kia đường trong một sắc vàng tươi tắn, cho cảm nhận rõ rệt về sự ưu ái mà tự nhiên dành cho mọi sinh vật trong cái mùa phồn thực.  Những con gió nhẹ từ phía sông Sài gòn thỉnh thoảng tràn qua, làm chao nghiêng mấy con bướm, lật lên một sự tương phản mang tính đối kháng chẳng bao giờ đi đến đồng nhất của cái đẹp với cái đẹp. Con đường nhỏ vắt qua làng đã tráng nhựa nhưng chắc đã lâu không duy tu nên để lại những ổ gà lởm chởm. Ngôi miếu nhỏ thờ Bà chúa xứ bằng xi măng dựng ven đường không gây được sự chú ý cho lắm bởi khá thấp và sơ sài. Má  bảo có gian thờ lớn phía trong kia….

Má tên thật Nguyễn Bạch Nhạn, năm nay đã chín mươi  ( sinh năm 1927), có đến 9 người con. Cô con gái út bán bún mì cũng xấp xỉ  năm mươi ,đã có cháu ngoại. Người chồng gia nhập Việt Minh thời kháng Pháp , sau này theo Việt Cộng chết vào năm 1969 dưới Bình Thung (thị trấn Dĩ An), mói chuyển di cốt về gần được vài năm. Ở lứa tuổi như vậy nhưng đầu óc người đàn bà này vẫn còn khá minh mẫn. Tôi thật sự thán phục khi nhìn bà bán hàng. Những phép tính cộng trừ nhân chia được bà nhẩm tính một cách nhanh chóng và chính xác, nhanh hơn cả nhưng cô bé đáng tuổi chắt bà.  Điều này có lẽ mang đến sự đối lập với cái vẻ bề ngoài đã chậm chạp vì tuổi tác. Vóc người thấp nhỏ, khuôn mặt rất có nét, chắc lúc trẻ khá đẹp….nhưng đôi mắt ….Đôi mắt khá lạ! Đôi mắt xám và trơ.  Đôi mắt chẳng bao giờ nhướn lên hoặc nheo lại khi cười. Đôi mắt lành lạnh của sự đóng băng. Không hiển thị một điều gì và không điểm kết thúc khi nhìn vào nó….Nhưng khi nói chuyện,  như một đặc điểm đáng quý của những người đàn bà Nam bộ , suốt chiều dài câu chuyện là  thời điểm mà sự cả tin bị mê hoặc bởi tính chân chất và thật lòng.

Bà sinh ra và lớn lên tại làng Tương Bình Hiệp này. Gia đình cũng khá giả nên được học hành đầy đủ. Có bằng Thành Chung (Primaire), sau đó gia đình không cho học nữa, ở nhà làm ruộng, gia chánh. Năm 17 tuổi lấy chồng.  Năm 19 tuổi theo chồng ra bưng kháng chiến, xuống tận Đồng Tháp Mười, làm y tá. Được biết với cái tên Hoàng Anh Phụng ( đi Việt Minh mà tên đẹp dữ) và những giai thoại về việc cứu sống khá nhiều thương bệnh binh trong đó có việc truyền dịch bằng nước dừa…. Má kể có lần có một anh thương binh bị mày bay Pháp bắn lủng ruột, anh này còn khá trẻ khoảng 16-17. Nằm trên sạp mỗi lần tỉnh ảnh cứ nắm tay Má, kêu “ Chị ráng cứu em sống… Em còn bà già ở nhà….” Nhưng lúc đó thuốc men khan hiếm, không nước biển, cứ nước dừa mà truyền, nên vài hôm sau anh chết. Cái chết của người lính đó làm Má ray rứt một khoảng thời gian dài, vì không biết được tên tuổi, quê quán và cả gia đình ảnh sống ở đâu. Nghe phong phanh đâu Mĩ Tho, nhưng đất mênh mông biết đâu mà tìm….Sau 1954 đình chiến, người Pháp thua trận, Hiệp định Genève được kí kết, đất nước chia đôi hai miền, những người tham gia Việt Minh một phần tập kết ra Bắc , số còn lại về quê làm ăn , chờ ngày tổng tuyển cử….  Má cùng chồng với mấy đứa con nhỏ, lục tục quay về làng cũ, bắt đầu cuộc sống mới. Ở đây bà làm cô giáo dạy tiểu học, còn người chồng về làm ruộng. Những ngày hòa bình đầu tiên sau những năm dài chiến tranh và đô hộ thật yên bình, ngọt ngào. Bà kể :”_ Ở thôn quê lúc đó ngày nào cũng như ngày Tết. Dù nghèo, nhưng người ta sống chơn thiệt và nghĩa tình. Không có trộm cắp, cướp giựt. Lúa má làm ra dư dả. Vụ sáu tháng đất nghỉ sáu tháng vẫn dư ăn. Tụi con nít ngoan ngoãn, lễ phép, biết vâng lời. Chính quyền thì cũng những ông hương xã  cũ, hoặc những người mới do dân bầu lên, nhưng phần đông là những người lớn tuổi và đáng kính trọng. Không thấy bóng dáng lính tráng nhưng thật sự yên ổn…..” Kỳ vọng về một biểu tượng hòa bình lâu dài cũng rất sớm tan vỡ. Cái ngày hiệp thương kéo dài, kéo dài mãi cho đến khi nó không có một dấu hiệu nào để chứng minh nó tồn tại. Sự mong đợi trở thành nỗi thất vọng lớn lao. Tiếng súng của chính quyền trong cuộc bình định những đảng phái chống đối như Năm Cụt, Bảy Viễn, Hòa hảo, Cao Đài….khơi mào cho nỗi lo âu của những người từng tham gia Việt minh chống Pháp, Dù được xem như những người có công trong công cuộc đánh đuổi thực dân, nhưng những viễn cảnh về một cuộc sống yên lành dưới chế độ mới, cũng là một điều không dễ mường tượng. Chính quyền mới lập cơ chế quản lý hành chính mới. Những xung đột và kỳ thị lại thường xuyên xảy ra sau một thời gian vắng bóng. Sự can thiệp của lực lượng cảnh sát . Và điều quan trọng là sự móc nối  của những người Việt minh còn trụ lại trong bưng về quyết tâm tiến hành một cuộc chiến võ trang nhằm thống nhất đất nước, sau kì vọng lớn đã mất. Người chồng sau vài lần bị mời thẩm vấn, xét hỏi …ở trụ sở thôn lại trốn vào rừng. Má khóc hết nước mắt nhưng con cái tay dắt, tay bồng đành cắn răng ở lại. Sự phân cực đến hồi đỉnh điểm của Thế giới đã khởi động một guồng quay với động cơ là những bàn tay đã thọc quá sâu của những thế lực bên ngoài. Một sự chuyển động kéo dài hai mươi năm, cuốn theo số phận của bao con người, trong đó có người đàn bà Việt vóc bé nhỏ, có tám đứa con ở một cái làng sát bên dòng sông Sài Gòn, cách thị trấn Thủ Dầu Một khoảng mười mấy cây số về hướng Tây Bắc.

Tôi không mang tham vọng viết những trang viết về những hình thái nhằm quản trị những người dân nằm ở vùng giáp ranh vào thời điểm ấy. Những kiến trúc được xây dựng trên cả cơ sở chính trị lẫn thổ  nhưỡng mang tính kinh nghiệm nặng nề của những đầu óc bậc thầy trên thế giới được áp dụng trong cuộc chiến. Phần nữa  sau bốn mươi năm đã quá nhiều sách vở, tài liệu, hồi ký lịch sử ….từ nhiều phía , từ những nhân vật tiếng tăm …..được xuất bản đã mô tả khá chi tiết về những cấu trúc đã  bị lãng quên hoặc diệt vong trong thế giới đương thời….Việc của tôi là theo đuổi những số phận. Những số phận nằm bên dưới những mô hình , chính sách, hiệp định, nghị quyết và những con số thống kê mang tính khoa học, đầy chất thuyết phục hàng ngày vẫn được đưa lên những buổi thuyết trình hoặc các bản báo cáo…..Tuy chỉ là vài dòng, đứt quãng, đầy thăng trầm…đôi lúc thiếu logic.

_ Vùng này hồi trước làm ruộng hả má?

_ Ờ…Nhưng ở đây gò, đất xấu…Phải đi ghe qua Củ Chi.

_ Hồi đó ở đây có xây dựng ấp chiến lược không Má?

_ Không….Nhưng đồn lính gần đây, trên kia… Vùng này là vùng an ninh mà….. Nói thì nói vậy thôi, chớ Việt Cộng lúc đó đâu không có.

Một thoáng suy nghĩ lướt qua trong tôi. Có thể  do cùng đất này này khá lâu đời, dân cư tập trung đông và cũng gần những thủ phủ như Lái Thiêu, Thủ Dầu Một.

_ Vậy cuộc sống có dễ thở không Má?

_ Lúc trước thời ông Diệm thì khó, sáng nào cũng bắt lên tra vấn, xét hỏi chồng đi đâu, làm gì….nhưng sau này rồi cũng hết…Hỏi riết …chán….Họ cũng không đả động gì nữa…Má cười nhạt. Lần đầu tiên tôi thấy nụ cười xuất hiện trên khuôn mặt bà_  Đời sống sau này dễ thở hơn. Lúa gạo cũng dư dả. Nhất là khi gạo Mỹ vô. Gạo Mỹ hột tròn, gạo Mỹ hột dài …cả bao bố, rẻ thúi…..Mấy thứ Thần Nông của mình đâu có bao nhiêu….

_ Lúc Mỹ vô có đóng bót ở đây không?

_ Đâu bên Củ Chi, Bến Cát….Ở đây không có. Thỉnh thoảng cũng thấy tụi nó đi…nhưng cũng không đụng chạm gì…Chỉ có lính Cộng Hòa….Lính cũng có người này, người nọ…..Có người phá phách…cũng có người đàng hoàng. Sợ nhứt là bom đạn. Nhà nào hồi đó cũng có cái hầm bên hông nhà ….Bom đạn là thứ vô tình. ….

_ Rồi phía cách mạng có về không?

_ Có chớ….Đêm nào không về. bên kia sông Củ Chi lội qua….trên Bến Cát. Mỹ Phước đổ xuống….Dạo sau này  năm 67-68 trở đi, bom đạn liên miên. Ban ngày lính quốc gia, ban đêm Việt Cộng….Chiều khoảng 3-4 giờ , lính rút về đồn hết. Làng xóm chỉ con lại đàn bà, con nít, mấy ông già, bà già…Mấy ống lại vô làng, mặc quần áo đen, xách cái rổ, gõ cửa từng nhà xin gạo. Thấy ốm đói, tội nghiệp cũng cho. Sau Mậu Thân, chồng tui về …trốn cả tuần dưới hầm…rồi đi biền biệt. Sau đó mới ra con Út. Ổng mất năm 69 , dưới Dĩ An….

Một khoảng không gian lặng yên. Không những chỉ tôi mà cả bà, đều thấy cần một khoảng yên lặng tối thiểu trong thời điểm này. Ngoài sân mấy con ong bầu đen trũi nặng nề đậu trĩu cả những búi mai vàng rực làm những cánh hoa tròn xoe rơi lả tả, xoay tròn đánh những vòng trôn ốc chầm chậm cho đến khi chạm đất.

_  Lúc cho gạo không sợ bên quốc gia họ biết sao? Tôi hỏi sau thời gian yên ắng.

_  Sợ chớ… Nó biết được , nó lôi ra nó đánh….làm tình, làm tội dữ lắm….Nhưng thấy họ hốc hác, đói rách quá cũng cho….cái tình là ở con người với con người….

_ Năm 74 nghe đâu đánh lớn trên miệt Rạch Bắp, Thị Tính…Ở đây có sao không má?

Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tác động của thời gian lên con người. Bà đưa ngón tay trỏ lên, day day những nếp nhăn nơi trán, như muốn gợi dậy những ký ức quá cũ kỹ ẩn náu đâu đó trong tâm thức. Ngón tay mốc thếch, ngắn cũn như trái quả chuối cau đã dậy mùi, loang lỗ vết tàn nhang.

_ Có nhưng chỉ trên Bến Thế, nhà cửa trên đó tan hoang hết…Dân chạy loạn xuống đây, xuống Thủ Dầu Một. Ở đây ít hơn chỉ thỉnh thoảng bị pháo kích, dội bom…Lúc đó suốt ngày cứ trốn trong hầm, không ra ngoài làm ăn gì được.

_ Có chết ai không?

_   Có…thỉnh thoảng cũng năm ba mạng….

_ Vậy có kiện ai không?

_   Biết ai đâu mà kiện. Thời tên bay đạn lạc….. Trời kêu ai nấy dạ…

_  Rồi năm 75????

_  Năm 75 thì yên. Lính tráng bỏ chạy hết. Giải phóng không có một tiếng súng…Chỉ có mấy ông “ Ba mươi” nó quậy thôi!

Cái từ nghe lạ! Tôi quay hỏi lại.

_  Tụi “ Ba mươi” là tụi nào Má?

_  Tụi “ Ba mươi” là mấy ông nhỏ 15-16 , tay băng đỏ, cầm súng, ngồi xe zíp đó!

….

Cô con gái mới về. Dáng người chắc, đậm của những người phụ nữ miền quê choáng hết lối đi. Chị chào tôi, vứt cái nón vào góc nhà, quay ra nói chuyện với bà. Để hai mẹ con nói chuyện, tôi bước tới cửa, châm điếu thuốc hút. Trời đã vào trưa. Nắng sẫm vàng. Tôi dưa mắt cố tìm chung quanh những vật chứng có thể liên kết với câu chuyện của bà, nhưng thấy bất khả. Đã hơn 40 năm những vết tích dù nhỏ nhặt của cuộc chiến cũng không còn. Bóng dáng của những cộng đồng nhỏ bé thúc thủ, thu mình trong những công cụ phòng vệ quân sự chừng như đã tuyệt diệt hoàn toàn. Mấy cây dừa ngất ngưỡng trước nhà , thân trơn bóng chứng tỏ cũng mới trồng chừng chục năm đổ lại. Nông thôn ngày nay đã thật sự thay đổi. Những ngôi nhà hình hộp hiện đại cũng mọc rãi rác. Con người cũng xóa được cái lằn ranh tự kỉ giữa phố thị và thôn quê tồn tại trước đây. Những con hẻm đổ bê tông sạch sẽ. Mấy luống hoa đủ màu sắc dọc bên đường cũng làm dịu cái nhìn trong sự phản xạ gay gắt của ánh nắng….Tuy vậy bên cạnh đó  vẫn còn những mái nhà tiều tụy, chắp vá của cái nghèo níu kéo.

Cô con gái có vẻ vồn vả khi thấy tôi quay lại:

_ Anh dưới thành phố lên định đi mua đất hả? Có mấy lô đẹp lắm, sát đường…tui dẫn cho mà coi!

Tôi cũng ngớ người trước cái từ khá “ hot” dưới thành phố lại lọt tuốt lên đây. Tự hỏi sao bây giờ ở đâu người ta cũng dùng cái từ trở nên khá thời thượng này. Chừng như khắp đất nước.

Tôi chống chế:

_  Không… Tôi chỉ đi chơi cho biết thôi. Mua bán gì đâu….

­ _ Ảnh ở miền Trung vô chơi…Hỏi thăm cuộc sống, làm ăn chổ mình….Má ngồi bên kia, nói giúp qua.

Chị con gái bắt chuyện cũng nhanh:

_ Giờ làm ăn gì nữa anh ơi! Ruộng đất bán quy hoạch thành khu công nghiệp rồi. Còn mấy lô đất nhà để lại, xẻ bán dần thôi.

_ Ủa chị bây giờ làm gì?

_ Giờ sáng bán bún mì, hủ tiếu, đồ ăn sáng cho công nhân đi làm. Ngày kiếm được khoảng trăm, trăm rưỡi . Già…. quá tuổi công nhân , người ta đâu có nhận.

_ Vậy còn ông xã ?

_ Ổng chạy xe ôm, lúc phụ hồ….Thu nhập bấp bênh lắm!

Câu nói của chị khiến tôi nhận thấy một thực trạng nhức nhối trong cuộc sống của những người nông dân vùng ven_  Những vùng đang bị cơn lốc công nghiệp hóa, đô thị hóa cuốn vào. Những con người hiện tại không còn đất đai canh tác, ruộng đất được đền bù theo giá đất nông nghiệp giỏi lắm chỉ xây được căn nhà khang trang, trong khi tay nghề hoặc lứa tuổi không đủ sức đáp ứng tiêu chuẩn của các nhà máy, xí nghiệp mới mọc lên trên mảnh đất vốn trước đây của họ. Một lực lượng lao động dôi ra đáng kể…. Liên đới với báo giới  khoảng thời gian gần đây về tình trạng tăng vọt của lực lượng bán vé số, đó là chưa tính đến những thành phần lao động tự do khác như: xe ôm, buôn bán nhỏ, hậu cần linh tinh cho những quần thể công nghiệp và cả một nguồn lao động trôi nổi từ vùng quê  di cư vào các thành phố lớn theo mùa hoặc thời vụ…… Tôi nghĩ, phần nhiều trong số những con người đó đang là hệ quả của vấn đề được nêu lên ở trên. Vậy hỏi họ sẽ làm gì để tiếp tục cuộc sống còn với hiện tại và tương lai trước mắt?????

….

Tiếng xe máy phân khối lớn rú lên, phá không gian vốn yên ả của ngày Tết. Mấy con bồ câu nghe động bay vù lên. Tiếng đập cánh sàn sạt qua cửa sổ. Hai cái đầu vàng hoe gói trong chiếc mũ bảo hiểm thò vào, dáo dác. Chị con gái nhanh nhẩu đứng dậy, te te bước ra bên ngoài. Mấy câu đối thoại nửa Tây, nửa ta…rồi tiếng xe máy lại gào lên, lao đi.

_ Tây ba lô….Chị xuất hiện ở khung cửa, nhoẻn cười , nói. Tụi nó mua nước suối.

_  Bọn nó lên đây thường xuyên không Chị?

_  Đầy, ngày nào không có….Chị lại cười, chỉ tay vào Má_ Hỏi bà già trước Tết bị tụi nó lừa làm sao nè?

Tôi quay sang Má, thấy bà cười đôn hậu. Một niềm vui thật sự xuất hiện trên khuôn mặt bà khiến các nếp nhăn giãn ra. Điểm trơ trong đôi mắt nhòa đi, khỏa lấp trong  sự từ tâm. Một cái gì của tâm hồn Việt hiếm hoi, còn sót lại, giữa thời này.

_ Mồ tổ nó….Hết người lừa nó lừa bà già….Một triệu tám chớ ít ỏi gì……Mồ tổ cha hai thằng Mỹ đen, Tây mặt ghạch….

Nghe bà chửi lẩy, tôi cũng thấy không nhịn được cười. Không gian bỗng có cái gì đó khá gần gũi. Tự dưng tôi lại có niềm vui lây từ câu chuyện rất đời của hai má con. Dù bụng muốn ra về, tôi cố ngồi hóng hớt cho hết câu  chuyện…

_ Sau này nghe nói tụi nó bị công an bắt đâu bên Củ Chi, cũng cái trò ảo thuật tráo tiền. _ Chị con gái nói.

_ Vậy có lấy lại được tiền không?  Tôi chăm chú hỏi.

_ Không , trong túi tụi nó chỉ còn vài trăm ngàn.

_ Mất luôn à?

_ Mất luôn! Chị con gái trả lời gọn lỏn.

_ Thôi cho nó cho rồi…Nhắc hoài làm gì. Của đi thay người mà…. Đầu kia Má nhỏ giọng.

Ôi chao cái câu, nghe mà nghèn nghẹn! Câu nói mà dường như tôi đã thuộc lòng từ thời ở với bà ngoại đến khi về bên nhà Má ruột. Cũng câu nói  đầy hỷ xả của muôn bà má tôi đã gặp và ngồi trò chuyện. Từ những làng chài của dãi đất hẹp miền Trung cháy bỏng cát, nắng, phi lao… đến những vuông đất ngậm nước, ướt loáng màu thép, cò bay thẳng cánh của đồng bằng miền Tây nam bộ….và giờ thì ở đây, nơi nền đất nện thẫm màu đỏ bazan, lợn cợn đá ong quá lửa của những xóm thôn miền đông này. Sao đâu cũng vậy!

_ Vậy sau giải phóng cuộc sống ở đây thế nào má?  Tôi hỏi khi không gian đã nhàn nhạt.

Câu hỏi của tôi chạm phải sự im lặng. Cả hai người đàn bà như hóa đá, ngồi miên man đến nỗi tôi không biết phải làm gì. Lát sau, cô Út nói:

_ Anh hỏi thời kỳ sau 75 hả? ….Nhiều chuyện để nói lắm anh ơi…

_ Vùng này có thuộc diện đi kinh tế mới không Chị?

_ Không chiến tranh xác xơ hết rồi đi gì nữa…Dựng làng xóm như cũ đã thấy ông bà ông vãi rồi!

_  Rồi cuộc sống có đỡ không ? Tôi bám theo câu chuyện

_  Đỡ gì đâu anh ơi! Ruộng đất vô hợp tác xã. Lúa gạo thì chia phần đâu đủ ăn. Hỏi Má coi, ngày nào Má cũng nấu nồi khoai to tổ bố cho mấy đứa con trong nhà….. Xuồng anh Ba đi chở lúa từ Củ Chi về, qua trạm kiểm soát, chưa kịp dừng lại. Nó xả cả băng đạn. Chìm mất cả xuồng lúa. Người chưa chết là may…Có lít gạo giấu trong người mang từ đây xuống Thủ Dầu Một, tụi “ Ba mươi” chặn lại. Nó lấy cây xăm,  xăm nát mình, nát mẩy……Gạo lộn với máu chảy xuống mặt đường….

Tôi lặng người , sau đó ngước nhìn má, cố tìm xem phản ứng của người đàn bà trước những sự kiện trần trụi được khơi lại một cách vô tình này.  Đôi mắt trở lại trạng thái vốn có của nó _trơ và xám lạnh. Tròng mắt tĩnh và sâu….Ở trạng thái mà mọi tác động bên ngoài như  bị hóa giải và khó làm rối được một tâm trạng  khó hiểu che giấu đâu đó  phía trong,

Sau tiếng thở dài, bà nói:

_  Bây giờ mặc kệ ai làm gì đó thì làm…..

Thực tình trong tôi, tôi cũng không thể nào chấp chứa cùng lúc hai hình ảnh đối lập,  kịch tính,  mang đầy mâu thuẫn đến vậy . Hình ảnh của những con người trong bộ đồ ba ba đen , tay cắp cái rổ, đến gõ cửa từng ngôi nhà tranh xin từng nắm gạo và cũng chính những con người đó, sau đó vài năm, với họng súng trong tay, lại đi lục soát, xăm nát thân thể của những nông dân từng nuôi giấu họ, để tìm ít gạo giấu trong người…. Mặt đất vốn đỏ thẫm nay lại loang lỗ gạo lẫn máu.

_ Còn bây giờ thì sao hả chị? Tôi hỏi tiếp.

Cũng chị con gái trả lời: _ Giờ thì đỡ rồi . Tụi sau này có học hành nên làm việc đàng hoàng hơn. Cái đám lúc trước đã “ về vườn “ ….. Dân còn ghét lắm. Đi qua nhà, họ còn hắt nước cơm, chửi trước mặt “_ Cơm tao thà cho chó ăn, còn hơn mày ăn”…..

Không gian im lặng . Tôi cũng không nén được một làn hơi sườn sượt.

Thấy trời đứng bóng, tôi quay ra chào Má và chị con gái để chuẩn bị ra về. Đang nói câu từ biệt, bỗng khuôn mặt rất dễ thương của một thiếu nữ, khoảng đôi mươi, lấp ló phía cửa. Đôi mắt to chững lại nơi tôi như dò hỏi. Chị con gái nhanh miệng:

_ Con Út tui . Chào Bác đi con. Nó học Đại học tài chính dưới Thủ Dầu. Năm nay năm cuối!

Thiếu nữ chào tôi, dắt chiếc xe đi vào trong hẻm trong cái dõi theo của hai người đàn bà.

…..

Tôi nắm bàn tay thô kệch, với những ngón tay ngắn, loang mốc. Lòng bày tay lạnh, lớp da chai và dày đến nỗi không cảm nhận được nguồn nhiệt phía sau. Chia tay Má, không hiểu sao tôi không dám nhìn  thẳng vào đôi mắt của bà.

Con đường mới _ Theo tay hai người đàn chỉ, ra khỏi làng không dài. Con đường chạy qua một ngôi trường tiểu học hay trung học gì đó mới xây khá đẹp, mang tên Tương Bình Hiệp. Tôi có đứng trước cổng ngó vào trong sân một lúc. Dưới những tán hoa bằng lăng  biêng biếc là những tà áo dài trắng lướt thướt qua lại.  Tiếng cười đùa vô tư của một thế hệ mới lớn át cả tiếng xe cộ ầm ào từ quốc lộ 13 gần đó, vọng vào.

Cái tên “Vùng xôi đậu” đã phai lãng từ lâu lắm rồi trong tâm thức con người ở đất nước này , cả những người từng kinh qua chiến tranh_ cũng như cuộc chiến ngày càng trở nên là một cái bóng mờ  trong quá khứ……nhưng trên mảnh đất bazan đã lành lặn vết thương, dưới tán lá cao su xanh um mới trồng từ chục năm đổ lại, vẫn còn lẫn khuất đâu đó là đôi mắt lạnh, ráo hoảnh của những người đàn bà và cái nhìn thật sự khó hiểu.

Dù chỉ đơn thuần là người chuyển tải những thông tin đến những nơi cần đến, tôi cũng cảm thấy đang nợ họ một điều gì.

Và bạn, nếu thật sự quan tâm….. bạn có nghĩ thế không?

Sài Gòn, 15/04/2017

Vũ Khuê

Advertisements

One thought on “ĐẦU XUÂN, BƯỚC CHÂN QUA VÙNG “XÔI ĐẬU”…

  1. lê ngọc duyên hằng nói:

    NỢ HỌ”NIỀM TIN” Mầm gieo Hạt…HY VỌNG ở đời sau CHÁU CHẮT…Xem HỌ kìa… ”Chờ qua ĐÔI MẮT…Dõi nhìn theo CÔ CON GÁI ÚT…Đại Học ”TÀI CHÍNH”không phải ”BỞ”?….Sẽ CÂN BẰNG Cuộc Sống ẤM NO ?GIỜ- Đừng như XƯA”QUÁ KHỐN KHÓ!”?Cứ TIN cứ CHỜ VÀ cứ MƠ…?Cuộc đời mà Ở ĐÂU CŨNG KHỔ?!Sống được Sống Còn NHỜ ƯỚC MƠ???
    ……QUÁ KHỨ Sống từng SAN SẺ CHO….Dù ở trong nguy hiểm khốn khó…TÌNH THƯƠNG đã Vượt qua TẤT CẢ ”ĐÔI MẮT Mẹ NÓI LÊN ĐIỀU ĐÓ?”TÌNH”Độ lượng-bao dung-nhân từ”Đức tính đó Con gái HẤP THỤ…”Con như Mẹ”Thương người BỎ LỖI…”Ai LỪA tự họ gánh lấy TỘI?

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s