LỤC BÁT KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

THỀ

Không có ai ở ngoài thềm
Chỉ nghe bóng lá đi tìm bóng khuya
Nhịp của ngày đi, tôi về
Những bước chân như rủ rê tôi rằng
Về đi, đêm có ánh trăng…

NGUYỀN

Không có ai ở ngoài thềm
Chỉ nghe bóng lá đi tìm bóng tôi
Chia nhau hai nỗi đơn côi
Xin dành riêng lại nụ cười, làm duyên
Đêm nay có cuộc thề nguyền…

HẸN

Cầm tay giây phút. Hẹn về
Rằng ra đi. Sẽ đi về giấc mơ
Nghe thân đá lạnh bao giờ
Mọc xanh bờ tóc để chờ thủy chung
Bóng reo, đá nhỏ lệ mừng

Nguyễn thị Khánh Minh

Người hùng của tuổi thơ tôi (James Jeffrey)

nguyetthuho

Bản dịch của HỒ NGUYỆT THU
( để tặng các bạn tôi)

Cách đây hai năm khi cha con tôi gặp măt nhau, không ngờ đó là lần cuối. Trong ánh sáng lờ mờ của phòng viếng tại nhà quàn , khuôn mặt của Ba trông kỳ quặc lạ lẫm . Hình như Thần Chết đã trao cho Ba cái mặt nạ để người có thề chuồn đi một cách lặng lẽ và không bị quấy rầy. Về một khía cạnh nào đó nhận xét này khá thích hợp với Ba .Về cuối đời, chúng tôi không còn nhận ra người cha quen thuộc nữa vì căn bệnh mất trí nhớ đã dần dần cướp đi hàng triệu mảnh nhỏ nhân cách của ông y hệt như đàn kiến nhẩn nha khiêng vác thức ăn bị bỏ quên ngoài trời.
Nhưng đôi tay Ba vẫn không hề thay đổi.Lúc này hai bàn tay của người nằm bất động trong tĩnh lặng vì chúng đã được giải thoát hoàn toàn khỏi những cơn run rẩy của chứng bệnh Parkinson- xảy ra cùng thời với chứng mất trí .

Như vẫn thuờng làm khi thăm Ba ở nhà dưỡng lão, tôi đan chặt tay mình với hai bàn tay của người . Tôi cố gắng không bị ảnh huởng bởi sự lạnh lẽo đến rợn người của chúng và nâng niu những ngón tay luôn mang vẻ thanh nhã của một cựu kỹ sư hầm mỏ đầy tự hào về khả năng chuyên môn của mình.

Tôi nhận ra từng đốm đồi mồi cùng từng cọng lông tay ;ngón trỏ thuờng hay chỉ chỏ về huớng tôi khi răn dạy ; cho dù mấy chục năm đã trôi qua nhưng ngón đeo nhẫn dường như vẩn thiêu thiếu một cái gì. Trong lần cải vã cuối cùng với Mẹ , Ba đã ném chiếc nhẫn cưới vào tường khiến nó lăn vòng vòng dọc theo hành lang .

Thời tôi mới lớn đôi bàn tay đó có vẻ rất mạnh mẽ ,thông minh và hơi tinh nghịch. Lúc tôi còn nhỏ, chúng đã tung tôi lên cao khi cha con đùa giỡn , hoặc treo tôi tòn ten trong khi Ba liên tục thổi phì phèo vào bụng để cù lét. Khi tôi đã quá cao lớn và đôi tay này không cách chi tung hứng tôi nữa, chúng thuờng xoa tóc và hay ôm lấy tôi .

Đóng vai con quỷ chuyên cù lét có tên là Mercatops Poo, Ba hay đặt hai tay ở hai bên đầu rồi vừa lắc tay vừa đảo mắt vòng vòng đồng thời miệng gầm gừ liên tục trong lúc rượt bắt tôi và cô em gái chung quanh nhà. Khi con quỷ bắt được chúng tôi – 2 con mồi tuy bất lực nhưng miệng luôn cười ha hả – đó là lúc chúng tôi bị cù lét. Mà chúng tôi không hề tè trong quần lần nào . Điều này mới thật lạ lùng .

Khi mọi ồn ào náo nhiệt lắng đọng xuống, đôi bàn tay lại đắp mền cho chúng tôi trên giường ngủ trong lúc chúng tôi cùng nói với nhau ” vô số kể “, một câu nói tắt của gia đình để diễn đạt cho hằng tỷ tỷ nụ hôn , một số lượng quá lớn lao không cách chi đếm xuể.

Đôi tay này từng cuốc đất và thay vỏ xe . Chúng từng làm việc dưới lòng đất , và khi kỹ nghệ than đá xuống dốc , chúng cũng cầm chổi lau chùi và máy đánh bóng sàn nhà . Chúng từng xây chuồng chim và lái xe đi du ngoạn khắp năm châu . Chúng đã gõ hàng loạt các lá thư đầy bực dọc nhưng hài huớc đến các tờ báo địa phương và chịu trách nhiệm cho dòng chữ viết tay chằng ăn nhập gì đến 24 chữ cái , khiến bác sĩ gia đình cũng phải lắc đầu. Chúng từng vỗ về hết con chó này dến con chó nọ khiến chúng rất vui sướng và nhẹ nhàng vuốt ve những chú chim non chẳng may lọt ra khỏi tổ . Nhiều năm sau, khi tôi cùng Ba thăm viếng vùng đất thuộc trung tâm xứ Úc, trong reo vui kinh ngạc, đôi tay này cũng ịn lên những phiến đá màu cam đỏ và thân màu trắng bạc của cây khuynh diệp rất đặc trưng ở vùng này.
Rồi trong một lần Ba vẫn còn đủ minh mẫn để trò chuyện với tôi – mà cũng là lần chót- đôi tay này đã xiết chặc tay tôi trong lúc Ba chịu cháp nhận và buông xã hoàn toàn sự bực tức và nỗi sợ hãi về những gì căn bệnh mất trí nhớ sẽ gây ra .
Bây giờ chúng im lìm bất động, giống như phần còn lại của cơ thể người. Trong phòng đợi em gái tôi đang thút thít khóc . Ngoài sân mẹ đang nhả khói bập bùng . Nhìn thấy người chồng cũ nằm yên trong tĩnh lặng cuối cùng đã khiến nước mắt bà tuôn ào ạt từ dòng sông của nỗi đau bi thảm ; nhưng đó chỉ là lương nước của một nhánh sông nhỏ so với lưu lượng hùng mạnh của dòng suy tư về cái chết của chính mình sau khi bà được trợ sức bởi vài điếu thuốc nữa.
Giờ đây, chỉ cho mình tôi. Và Ba . Trong buổi lễ chôn cất vài ngày sắp tới , quan tài chỉ còn là một cái hộp , nhưng cốt lõi của Ba sẽ sinh động trở lại qua các tấm hình chiếu trên tường nhà nguyện , trong âm nhạc Ba đã chọn và trong những câu chuyện chúng tôi sẽ kể về người.
Tuy vậy vẫn còn một điều cuối cùng cần làm trong lúc này. Tôi mỉm cười khi nhìn thấy chiếc khăn choàng cổ màu mè đuọc xếp đặt cẩn thận trong quan tài . Đây là thành quả do nỗ lực từ hồi thơ ấu của chị tôi . Chị đan cho Ba chiếc khăn giống hệt như chiếc khăn choàng cổ của nam diễn viên Tom Baker( đóng vai The Dr) trong bộ phim tập Dr Who . Ba đã từng mê mẫn bộ phim này trong một thời gian dài. Nhưng còn môt chi tiết nhỏ nữa thì bộ dáng của Dr Who mới hoàn chỉnh . Từ trong túi, tôi lôi ra cái tuốc nơ vít chạy bằng âm thanh – dụng cụ đa năng của Dr Who chuyên giúp ông chạy thoát mọi hiểm nguy – rồi đặt nó trong bàn tay của ba. Tôi suýt bật cười về chi tiết oái ăm và ngược đời này . Chắc hẳn Ba sẽ vui thích lắm .

Tôi cúi xuống , đặt một nụ hôn lên vầng trán lạnh của Ba và khẽ nói: ” Không có con số . “. Những lần trò chuyện trong gia đình tôi rồi sẽ tiếp tục nhưng từ đây trở đi Ba chỉ còn là một ký ức đẹp. Tôi ngoái đầu nhìn lại một lần nữa người anh hùng của thời thơ ấu . Rồi khép cửa bước ra ngoài .

James Jeffrey

LỮ KHÁCH HÀNH

phudu

Kẻ lữ thứ đi dặm dài chưa mỏi
Nâng trái tim đau quặn vết chai lì
Người ngã gục, kẻ chôn tình trong mộ
Gục đầu và ôm ngực gọi vô tri

Kẻ đi xa không màng trông thấy đích
Đủ oan khiên nếm mùi vị cuộc đời
Dày phong độ để hành trình vạn lý
Ngã bao lần cũng ráng mỉm môi cười

Kẻ phong sương mấy lần đi trật nẻo
Cứ lần mò tìm giữa khói sương mù
Tay quờ quạng và chân dò miệng hố
Lòng bình nhiên như cây cỏ vô tư

Lứ khách hành, phương nao, xa tít tắp
Hữu và vô chen lấn bắc cùng nam
Lòng vô ngại hát trên giòng phù động
Đường ta đi, đi mãi cuộc trăm năm.

 

PHÙ DU

THÁNG SÁU, SÀI GÒN…

nguyenlienchau

(Gởi Phạm Thái Nhân)

Tháng sáu, Sài Gòn…
buồn như lời tình bị khước từ
những cơn mưa trở mình mộng du
phủ dụ người
ngập ngụa hỗn mang thời gian mở

Trắng giăng mờ vắng tanh đường phố
trắng từng hơi thở vuốt mặt mưa
trắng chùng lòng lẩm cẩm chuyện xưa
ảo ảnh phập phồng
gương mặt nhân gian nhòe nước

Thất thường và bất chợt
sự đùa cợt thăng hoa
những ai đã đi qua – những ai rồi sẽ tới
ai nghiêng dù da xanh
ai mỏng manh mắt đỏ
ai ngâm mình trong bể lo

Lạnh mưa xui người nép
lạnh buồn dục người dầm
lạnh buốt nhát dao đâm
dửng dưng mưa trút vào xa vắng

Tháng sáu, Sài Gòn…
buồn như niềm tin bị đánh cắp
những cơn mưa tăng tốc tận thu
vẫn không rửa trôi được bụi ám
vẫn không gột sạch được nhân tình
mưa vô sinh và phố vô minh

NGUYỄN LIÊN CHÂU

NGƯỜI MẸ CỦA BIÊN GIỚI SỐNG VÀ CHẾT

boatpeople

Đây là câu chuyện được cha Nguyễn Tầm Thường, Dòng Tên, thuật lại nhân kỷ niệm 5 năm ngày Mẹ Têrêsa Calcutta qua đời 1997 – 2002…
Năm 2000, tôi tới giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam ở Oakland, miền bắc California. Hôm ấy, cuối nhà thờ có người gọi tôi. Quay lại nhìn, ngờ ngợ, ai ngờ đâu tôi gặp lại người đàn ông tôi đang muốn tìm từ lâu…

Sáu năm làm việc tại trại tỵ nạn Palawan, Philippines 1989 – 1995, tôi gặp ông ở đấy. Một người đàn ông im lặng, ít nói. Ông lúc nào cũng như có chuyện khổ tâm. Ngày ngày ngồi tráng bánh ở một góc đường trong khu trại tỵ nạn. Ngâm gạo đêm trước, dậy tráng bánh từ hai giờ sáng bên vỉa đường. Mỗi ngày vài chục pesos. Ngày ấy,1 US dollar được 25 pesos tiền Philippines.

Hoàn cảnh tỵ nạn bấy giờ nhiều người túng cực. Ông phải đùm bọc hai người gốc Chàm không người quen với bốn em bé không thân nhân. Mấy người sống chung với nhau trong căn nhà tỵ nạn. Kẻ xách nước, người kiếm củi, ông tráng bánh. Khoảng ba tháng ông góp được hai chục đô la, lại nhờ cha Crawford, một cha già người Mỹ trước ở Việt Nam, sau qua trại tỵ nạn giúp đồng bào, gởi qua trại tỵ nạn Hongkong cho vợ.

Ông rời cửa biển Cam Ranh ngày 2.9.1988 vào đất Philippines. Một năm sau, tháng 9 năm 1989 ghe của vợ ông rời Vạn Ninh, Nha Trang được hai ngày bị bể máy. Ghe lênh đênh trên biển đông, rồi lâm nạn. Vợ ông đem theo ba con nhỏ. Hết lương thực, nhờ mưa gió có nước uống mới sống sót. Sau nhiều ngày bão táp, một chủ ghe đánh cá người Tầu ở đảo Hải Nam bắt gặp chiếc ghe lâm nạn này. Ông ta chỉ đồng ý tiếp tế gạo, cho nước và kéo ghe ra khỏi vùng lâm nạn san hô với điều kiện cho ông ta bé cháu trai trên ghe. Cháu bé chính là con của người đàn ông này.

Kể từ ngày rời bờ biển Vạn Ninh đến khi gặp chiếc ghe người Tầu rồi cập được vào đất liền là 25 ngày. Nước Tầu hạn chế sinh sản. Ông chủ ghe người Tầu mong một cháu trai mà không được. Cuộc mặc cả là xé ruột gan người mẹ. Trước biên giới sống và chết, họ phải chọn sống. Vấn đề ở đây là sự sống của toàn thể 44 người trên chiếc ghe. Nếu không mất đứa bé, toàn ghe có thể chết.

Chiếc ghe đánh cá người Tầu mang theo cháu bé rồ máy chạy vội vã biến mất hút về phía Trung Quốc. Rồi tin ấy đưa đến cho người đàn ông này ở Palawan. Mỗi ngày ông cứ lặng lẽ tráng bánh, kiếm ăn gởi qua cho vợ ở trại tỵ nạn Hongkong. Ðau thương vì mất con. Con tôi trôi giạt nơi đâu ? Vợ chồng mỗi người một ngả.. Ðứa con mất tích sẽ ra sao? Dáng ông buồn lắm. Cháu bé lúc đó mới hơn ba tuổi.

Cha Crawford kể cho tôi câu chuyện này. Không biết người đàn ông đã nhờ cha già gởi tiền cho vợ như thế bao lâu rồi. Theo ông kể lại, vì không là người Công Giáo, ông đâu có tới nhà thờ. Một hôm có mấy người vào cha xin tiền mua tem gởi thư. Ông cũng đi theo. Rồi một linh cảm nào đó xui khiến ông gặp cha. Ông kể cho cha già nghe chuyện ông mất con.

Một trong những ý định qua trại tỵ nạn làm việc của tôi là thu lượm những mẩu đời thương đau của người tỵ nạn. Tôi tìm gặp ông ta để hỏi chuyện.

Câu chuyện bắt đầu.

Sau khi chiếc ghe được kéo vào đảo Trung Quốc, một nửa số người quá sợ hãi, đi đường bộ trở về Việt Nam. Số còn lại kết hợp với ít người đã trôi dạt vào đảo trước đó, sửa ghe tìm đường qua Hongkong. Người đàn ông tưởng chừng vợ đã chết trên biển vì hơn ba tháng sau mới nhận được mấy lời nhắn tin viết vội bằng bút chì từ trại tỵ nạn Hongkong. Ông đưa miếng giấy nhàu với nét bút chì mờ cho tôi. Sau khi ông rời trại tỵ nạn, mất liên lạc, tôi chỉ còn giữ tấm giấy như một kỷ niệm quý hơn chục năm nay.

Ðó là lá thư thứ nhất ông nhận được. Những lần giảng trong Thánh Lễ về tình nghĩa vợ chồng, tôi lại nghĩ đến ông.. Một người đàn ông cặm cụi tráng bánh để rồi ba tháng trời dành được 20 đô la gởi tiếp tế cho vợ.

Ông tâm sự với tôi là ông dự tính một ngày nào đó được đi định cư, dành dụm tiền rồi đi Trung Quốc dò hỏi tin con. Nghe ông nói vậy, tôi thấy ngao ngán cho ông. Bao giờ ông mới được định cư ? Rồi định cư xong, biết bao giờ ông mới thực hiện được mơ ước? Tình trạng tỵ nạn lúc này quá bi đát. Mười người vào phỏng vấn may ra đậu được ba. Ðất Trung Quốc rộng mênh mông như thế biết đâu tìm ? Bao nhiêu khó khăn như tuyệt vọng hiện ra trước mặt. Tôi thấy ý nghĩ mơ ước đi tìm con của ông như cây kim lặng lờ chìm xuống lòng đại dương.

– Tại sao không nhờ Cao Ủy Tỵ Nạn, nhờ Hội Chữ Thập Ðỏ Hongkong?

Người đàn ông này sợ lên tiếng như thế gia đình Tầu kia biết tin sẽ trốn mất. Chi bằng cứ âm thầm tìm kiếm. Tôi thấy dự tính của ông khó khăn quá. Những năm làm việc bên cha già, tôi biết một đặc tính của ngài là thương kẻ nghèo. Ngài thương họ vô cùng, ngài sẽ làm bất cứ gì có thể. Tôi đề nghị cha già cứ viết thư khắp nơi, kêu cầu tứ chiếng.

Các thư được viết đi. Ngài cầu cứu Cao Ủy Ti Nạn, Hội Hồng Thập Tự, cơ quan từ thiện dịch vụ tỵ nạn Công Giáo, từ Manila đến Bangkok, Thailand. Ðợi chờ mãi mà năm tháng cứ bặt tin. Tôi vẫn thấy người đàn ông cứ dáng điệu buồn bã ngồi bên đường tráng bánh. Trời nhiệt đới nắng và nóng, mỗi khi xe chạy qua, bụi đường bay mờ người. Hàng ngày lên Nhà Thờ, tôi lại hình dung bóng hình ông. Chỗ ông ngồi không xa tháp chuông Nhà Thờ bạc vôi sơn và tiếng chuông mỗi chiều là bao.

Mỗi chiều dâng lễ, tôi lại nhìn thấy cây Thánh Giá trên nóc Nhà Thờ đã nghiêng vì gỗ bị mục. Cây thánh giá trải qua nhiều mùa mưa nắng quá rồi. Bức hình Mẹ Maria bế Chúa Hài Nhi trên tấm ván ép dưới cây Thánh Giá cũng bạc nước sơn. Những người tỵ nạn đã bỏ một vùng đất rất xa. Quê hương của họ bên kia bờ biển mặn. Nhiều người cứ chiều chiều ra biển ngồi. Ðêm về sóng vỗ ì ầm. Biết bao người đã không tới bến.. Họ đến đây tìm an ủi trong câu kinh.

Giữa tháng ngày cằn cỗi ấy, rồi một chiều bất ngờ tin vui đến.. Hội Hồng Thập Tự Hongkong báo tin về Manila. Manila điện xuống báo cho cha Crawford biết người ta đã tìm được cháu bé.

Lúc bắt cháu bé, người Tầu trên ghe đánh cá kia đã lanh trí che tất cả số ghe. Không ngờ trời xui khiến, trong lúc thương lượng bắt cháu, trên chuyến ghe tỵ nạn Việt Nam có kẻ lại ghi được mấy chữ Tầu ở đầu ghe bên kia vào một chiếc áo. Không ngờ chiếc áo này lại là chính chiếc áo của cháu bé bỏ lại. Quả thật là chiếc áo định mệnh. Nguồn gốc nhờ mấy số ghe đó mà sau này người ta mới phanh phui ra được gốc tích chiếc ghe. Ðó là một thuyền đánh cá ở đảo Hải Nam.

Tìm được cháu rồi, bây giờ lại đến phần gia đình người Tầu đau khổ. Cháu không còn nói được tiếng Việt, vì hơn một năm liền mọi sinh hoạt trong gia đình kia là của cháu. Hồi bị bắt cháu còn bé quá, mới hơn ba tuổi. Bà mẹ người Tầu cũng khóc, biết mình sẽ mất đứa con mà họ đã nuôi. Họ nhất định không trả. Cao Ủy phải can thiệp nhiều lắm. Gia đình ở đảo Hải Nam kia dựa lý do là cháu đang được nuôi nấng tử tế, còn ở trại tỵ nạn cháu thiếu thốn đủ thứ, họ không chịu mất con. Nhưng Cao Ủy bắt phải trả cháu về cho bố mẹ ruột.

Ðể thỏa mãn điều kiện kia, Sở Di Trú Mỹ liền cho bà mẹ bị bắt con quyền định cư tại Mỹ, dù đã đến trại sau ngày thanh lọc. Trong lúc đó người đàn ông này đã bị Mỹ từ chối tại Philippines. Ông buồn lắm. Cha Crawford bảo tôi rằng vợ người đàn ông đã được vào Mỹ, nên cơ quan Cao Ủy Tỵ Nạn tại Philippines yêu cầu cho ông cũng được vào Mỹ theo. Vì nhân đạo, sở di trú Hoa Kỳ đồng ý. Tin vui như vậy mà ông cứ đứng như trời trồng không tin chuyện có thể xảy ra như thế.

Ngày trao trả cháu bé, báo chí Hongkong đăng hình cháu khóc thảm thiết. Cháu đẩy mẹ ruột ra, đòi về với mẹ nuôi. Người mẹ nuôi khóc vì thương nhớ cháu. Mẹ ruột cũng khóc vì thấy lại con mà con không biết mình. Tất cả ai cũng khóc. Cao Ủy Tỵ Nạn bồi thường lại phí tổn nuôi nấng cháu bé cho gia đình người Tầu kia. Chuyến bay rời Hongkong mang theo bao tình cảm nhân loại của con người với con người.

Thời điểm bấy giờ không biết bao chuyện thương tâm xảy ra. Hàng trăm ngàn người chết trên biển, ăn thịt nhau vì chết đói. Hải tặc Thái Lan tung hoành bắt người nhốt ngoài đảo, hãm hiếp, chặt răng vàng, giết. Ðối với thế giới chuyện cháu bị bắt cóc chỉ là chuyện nhỏ. Vậy vì đâu họ ra sức đi tìm?

Ðây là lý do:

Câu chuyện thương tâm của người mẹ mất con đến tai Mẹ Têrêsa Calcutta. Ấn Ðộ là thuộc địa cũ của người Anh. Mẹ Têrêsa viết cho chính phủ Anh xin can thiệp chuyện này. Từ London, chính phủ Anh xin Bộ Ngoại giao Bắc Kinh điều tra tìm chiếc ghe mang số như thế.

Bên ngôi mộ Mẹ Têrêsa ở Calcutta, ngày 14.5.2001 tôi kể chuyện này cho Sơ Bề Trên Dòng. Sơ yêu cầu tôi viết lại cho sơ làm tài liệu. Trong những ngày này, nhân viên Tòa Thánh đang ở Calcutta điều tra để xúc tiến hồ sơ phong thánh cho Mẹ Têrêsa. Một Linh Mục ngồi nghe chuyện tôi kể, ngài nói:

– Tâm hồn Mẹ Têrêsa rất bao dung. Mẹ thương người nghèo. Mẹ là người của biên giới giữa sống và chết.

Nghe câu nói đó của cha, tôi hiểu ý là Mẹ luôn đứng bên lề sự sống kéo kẻ chết về phía mình. Chính vì thế tôi đặt tên cho bài viết này là: Người Mẹ của biên giới sống và chết.

Nghe tiếng người đàn ông gọi, quay lại nhìn, không ngờ chính người đàn ông mất con, ngồi tráng bánh ở trại Palawan ngày xưa, tôi mừng lắm. Sau lễ chiều, tôi tới nhà ông dùng cơm. Ông rời trại tỵ nạn Palawan tháng 6, lên Bataan rồi vào Mỹ tháng 12 năm 1990. Không ngờ mười năm sau tôi gặp lại.

Cháu bé bây giờ lớn rồi. Chuyện đã hơn cả chục năm qua. Cháu chẳng nhớ gì. Riêng cha mẹ thì nhớ lắm, nhất là những gì đau thương vì con cái thì trong trái tim cha mẹ không bao giờ quên. Còn tôi, đấy là một kỷ niệm đẹp trong những ngày làm việc bên trại tỵ nạn.

Không ngờ có ngày tôi gặp lại người đàn ông này. Không ngờ có ngày tôi ngồi bên mộ Mẹ Têrêsa trên đất Ấn. Một vùng đất rất xa với chỗ ngồi tráng bánh của người đàn ông mất con. Không ngờ tôi lại là kẻ chứng kiến những chuyện tình này, để rồi nối kết khung trời này với khung trời kia. Không ngờ vào ngày Lễ Phục Sinh năm 1999 ông đã nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội, nếu ông không đi lễ ở Nhà Thờ Oakland hôm đó, làm sao tôi gặp lại.

Tại vùng đất Vạn Ninh, chỉ có một ngôi Nhà Thờ nhỏ miền quê độc nhất. Ðêm Noel năm 1985 sau khi đến Nhà Thờ về, em bé chào đời đúng ngày 25 tháng 12 năm 1985. Người đàn ông kể cho tôi ngày sinh nhật của em thật đặc biệt. Còn tôi, tôi thấy ngày em mới hơn ba tuổi phải hy sinh để cứu chuyến ghe là hình ảnh thế mạng sống chuộc thay cho người khác.

Trong câu chuyện này, cả ba người đàn bà đều có những tấm lòng rất đỗi đáng yêu. Người mẹ sinh cháu bé, bao yêu thương và xót xa. Mẹ Têrêsa với tấm lòng hiểu nỗi thương đau của những người mẹ. Bà mẹ nuôi người Tầu đã săn sóc em khi ông chồng đánh cá đem cháu về. Tất cả là tấm lòng bao dung của những bà mẹ.

Tôi viết dòng này, cha già Crawford đã chết rồi. Mẹ Têrêsa cũng chết rồi.

Ngày mai, giữa biên giới của sự sống và chết ,còn những chuyện không ngờ nào sẽ xảy đến nhỉ ?

Lm. NGUYỄN TẦM THƯỜNG, Dòng Tên

(Trích trong sách “Những Trang Nhật Ký Của Một Linh Mục”.)

CHIỀU

maithanhvinh

Em vẫn đứng
đợi chiều không gió
và mây
cứ trắng cuối thung buồn
sầu đã rớt triền sông một thuở
trăng mười ba
xanh tựa lá thu non….

Em vẫn nhớ
con đường xưa cát nõn
lún bàn chân
theo nhịp bước xuân về
ngày có nắng
như ru mùa đã cũ
thì thôi…
nhớ cũng đủ vừa…

MAI THANH VINH

TRĂNG SÀI GÒN NHỚ HẠC XƯA

tranbaodinh

cố xứ bao giờ em trở lại?
hạc chìm đáy nước ánh trăng tan
Sài Gòn run rẩy đêm hoang dại
tháng sáu rồi em, cánh hạc vàng!

Thủ Ngữ chiều phai quên hẹn ước
Bạch Đằng khói sóng ngỡ rằng mây
hạc về nào thấy người năm trước
tiếng khóc quê nhà, em có hay?

mùa mưa cánh hạc bay về xứ
em đã về chưa buổi tối nay
lẻ bạn bơ vơ trăng lữ thứ
Thủ Thiêm bến vắng đợi chờ ai?

trần bảo định

Cùng Chút Bụi Bên Đường

 

nguyenducbatngan

khi anh về vẫn những dòng chữ đó
vẫn là thơ xanh ngăn ngắt hoài mong
mù con mắt dõi vời phương hướng nọ
trên môi em còn đọng chút hương nồng

chừ có héo lòng em không, hở nhỏ
chờ trăm năm anh cũng chờ trăm năm
chừ có tủi lòng nhau không, hở nhỏ
anh hoang tàn còn xuôi ngược xa xăm

trong mỏi mệt có lần nào em thấy
vầng mây anh đà hóa nắng ban trưa
này ân ái tang bồng theo buổi ấy
dù bên người còn gợn ý hôm xưa

từ dạo nắng chìm sâu trong đáy mộ
nhánh hoa người là hương phấn vô chung
chừ anh đã xanh dần như huyết lộ
hồn an nhiên dù giữa dạ bi hùng

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

ĐỌC TÙY BÚT MAI THẢO…

nguyentruongtrunghuy

“ Đọc Mai Thảo, không phải là đọc những gì ông viết mà là đọc cái cách ông viết ra những gì ông đã viết. Một căn nhà vùng nước mặn. Một chuyến tàu trên sông Hồng. Một bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời. Ðó không phải là những cái truyện, những tên truyện. Ðó là mảnh vỡ của những cuộc đời, long lanh hạnh phúc, ràn rụa nước mắt. Không kể lại được. Phải đọc từng dòng, từng chữ của Mai Thảo, để thấy ông nghĩ, ông viết thế nào về những truyện đó, chứ không phải những gì chất chứa trong những truyện đó”(Nguyễn Đình Toàn)

Đọc Mai Thảo , đặc biệt là những tùy bút dạt dào “nội dung siêu hình cùng những tâm thức lãng mạn, đớn đau..”… là có thể đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc là mỗi lần va chạm vào một xao xuyến mới, tiệm cận với một rung động liền kề, hứng chịu một mê đắm từ những giọt mưa cường toan rát buốt sát thương hết những … phiền nhung gấm, mân mê một buốt tấy mê man từ vùng yêu thương còn tưởng như gần sát…

Mai Thảo đã thả cánh bướm Trang Tử trên những nhịp nhàng chữ nghĩa, trên những cuộn xoáy ảnh hình…tạo ra một cú sốc ngôn ngữ “mới” đối với người đọc (không những là trong 20 năm huy hoàng của văn học nghệ thuật miền Nam) mà còn là những độc giả “bây giờ”…để ta/ chúng ta…sửng sốt trước sự khai phóng đủ sức làm độc giả lạc lối trong một thế giới vừa thực vừa phi thực mà tác giả đã xây dựng…đọc Mai Thảo là đi tìm lại thời gian đã mất (hay cũng có thể..là chưa?!?), là ấp ủ một cái đẹp mong manh , là “để tưởng nhớ mùi hương”…

Là người của kỷ niệm, của dĩ vãng, của “căn nhà vùng nước mặn” chợ Cồn, Hải-hậu, Mai Thảo còn là người Hà-nội, người sông Hồng, người Sài-gòn… mà lại rất Paris, rất Camus, rất Sartre.

“Văn phong Mai Thảo dào dạt, mãnh liệt, đau đớn, thiết tha, đó là những chân dung: chân dung kỷ niệm, chân dung sao trời, chân dung Hà-nội, chân dung bạn văn, chân dung nụ hôn, chân dung ngọn cỏ, chân dung Cửu-long, chân dung sông Hồng, chân dung cuộc tình… Đó là những bức họa, ấn tượng, trừu tượng, siêu thực ẩn hiện trong những điệu nhạc jazz trầm uất..”

Ngay từ những ngày đầu “đọc Mai Thảo”, tôi đã bị cuốn hút vào “những rừng từ chương và những biển suy tưởng”, những khai phóng “mở đường” (có thể) gây sốc thưở ban đầu nhưng sau vụt thoát thành một lấp lánh văn phong thấy thấp thoáng đâu đấy trong cách viết một vài tác giả, một phong cách maithảo – với rốt ráo tận cùng ngữ nghĩa của từ này trên danh xưng của một – mỹ tính từ…

Đó, trước hết, đến từ cách dùng chữ MỘT – khi thì là trạng từ, khi thì động từ. Nhưng nhiều nhất là tính từ và động từ. Với cách viết này, Mai Thảo loại bỏ hẳn một số từ khác thường đứng trước chúng. Thay vì “một cuộc lưu đày” thì là “một lưu đày”; thay vì “một nỗi nhớ nhà” thì “một nhớ nhà”; thay vì “một sự khuấy động” thì “một khuấy động”, vân vân. Ta gặp dài dài cách dùng đó trong văn Mai Thảo: một tình cờ, một trao phó, một bùng cháy, một bất ngờ, một vượt thoát, một mê đắm, một yếu đuối….Nhiều. Đã quen với cách viết đó, mà thú thật, đôi khi tôi cũng ngỡ ngàng khi gặp chữ một của Mai Thảo, nhất là khi ông thêm vào sau đó một tính từ nào đó (có khi là một cụm từ) có tính cách diễn tả: một lưu đày dịu dàng vào cô đơn, một lạnh buồn vô tận, một gần gụi diễm lệ…khiến cho câu văn đột nhiên mang một vóc dáng khác lạ, thú vị…

Những “MỘT” chơ vơ và tưởng-chừng-đơn-giản…đã là một đằm thắm rõ nét, một tịch liêu vây phủ…trong lòng độc giả (hay ít ra là trong lòng tôi)…

“- Rồi thì một lạnh buồn vô tận đấy nhỉ? Rồi thì là một nhớ nhà vô chùng đấy nhỉ? Khi, giữa một đêm quê người, một đêm ở Mỹ như đêm qua…”
– Tiếng chuông vang lên, âm thanh mang hình ảnh một đường chỉ thẳng vút truyền đi, thật sâu và thật xa vào một phía bên trong thăm thẳm, ở đó là một im lặng lớn nằm giữa một lắng đọng đầy…”(Những tấm hình của chị Thời)
– …Chính ôm lấy người đàn bà. Người đàn bà của một gặp gỡ ngắn. Một tình cờ ngắn. Một hạnh phúc ngắn” (Hồng Kông ở dưới chân)
– Không có tiếng vang, không có một bùng cháy, một bất ngờ, một khuấy động nào nữa (Mười đêm ngà ngọc)
…”
Cái MỘT trơ trọi đó, phần nào, trong một thoáng nghĩ, tôi tin chắc đó là MỘT của một dáng hình, một trầm tư rất MAI THẢO mà trong những phác họa chân dung từ những văn hữu cùng thời, MAI THẢO là một hiển lộ của một cô đơn đến tận cùng … cũng như Mai Thảo đã từng viết “chết tận cùng đến điểm cuối cái chết”, “Tắt tới cái điểm le lói cuối cùng của lửa.”…

Đó là cô đơn của..
“Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy”

hay
“Ngồi tượng hình riêng một góc quầy
Tiếng người: kia, uống cái gì đây?
Uống ư? một ngụm chiều rơi lệ
Và một bình đêm rót rất đầy”

Nguyễn Trường Trung Huy

BÊN MÌNH

khuatdau

Không ở nơi nào nhiều quán cà phê như ở Việt Nam. Cà phê cóc, cà phê võng, cà phê vườn, cà phê máy lạnh, cà phê cao ốc…

Không còn những căng tin với các mậu dịch viên mặt khó đăm đăm, khách phải sắp hàng lấy phiếu để mua một ly nước đen đen với hai điếu thuốc Tam Đảo. Cũng không còn cảnh các bà già Tàu ngồi chồm hổm trên ghế trụi, đổ cà phê ra đĩa ngồi húp như trước 75.

Cà phê bây giờ là nơi hò hẹn, chứ không phải những cây cầu. Trẻ, hẹn để được ngồi gần nhau, được ve vuốt hôn hít. Sồn sồn, đàn ông hẹn đi nhậu, hát karaoke. Đàn bà, hẹn khoe quần áo, xe cộ. Già như tôi, hẹn tán gẫu.

Nếu nhìn vào các quán cà phê và quán nhậu, thì quả thật kinh tế Việt Nam rất phát triển, không chừng là số một thế giới. Từ đó, thang điểm về mức độ hạnh phúc cũng không nước nào bằng.

Chúng tôi ngồi ở một quán cà phê vườn có tên là Gió Núi, cách thị trấn đến những 10 cây số. Nơi đây, trước kia là mật khu, sau đó là kinh tế mới, giờ là xã Ninh T. với trụ sở xã một tầng lầu bề thế như tòa hành chánh tỉnh trước 75. Quán cũng có cây cảnh, có đá, có nước nhểu tong tong từ một tượng nữ giả Chăm đang hờ hững lấy nước cố tình phơi bộ ngực bằng gốm tròn căng và cái rốn sâu thẳm. Ai đó cắc cớ đội lên đầu một chiếc mũ tai bèo, trông rất chi là cảm khái. Vì rằng nếu trước kia các cô du kích đi lấy nước kiểu này thì các cựu chiến binh hai miền chẳng việc gì mà phải vác súng bắn nhau.

Ông anh họ vợ tôi trầm ngâm nhớ tới những ngày vác gỗ rừng sâu trong trại cải tạo. Rồi những ngày đạp xe thồ sau khi được “tha”, những ngày hồi hộp chờ kết quả H.O. Vợ tôi nói cái buồn nhất của những bà mẹ kinh tế mới, là không thể cho các con xuống thị trấn học vì quá xa và đói. Cô em vợ bảo rằng về đây thấy đàn ông bụng ông nào cũng to kềnh, mặt thì xệ xuống, uống chi mà uống suốt ngày. Cô đập tay lên vai ông anh họ bảo: “bên mình, chỉ cần một lon thôi mà lái xe là bị phạt 15.000 đô, ở đó mà uống!”.

Nghe hai tiếng “bên mình”, tôi bỗng giật mình. Tôi nhìn cô em đã trên 50, vừa mới thi đậu quốc tịch Mỹ. Cô tuy trẻ hơn nhưng rất giống nhà tôi. Cô vẫn yêu chị mình, yêu họ hàng làng xóm, không hề xa cách bạn bè, nhưng trong bốn người ngồi chung bàn, cùng uống cà phê, cùng ngắm tượng nữ giả Chăm, cùng hít thở bầu không khí mát rượi của núi rừng ban mai, sao lại nói “bên mình” như kiểu “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc” vậy?

Đương nhiên, cô không có ý coi thường anh chị mình, nhưng điều gì khiến cô thấy gần hơn với ông anh họ bên Mỹ, mặc dù cô qua sau anh ấy đến hơn 15 năm? Hóa ra, cái điều khiến họ thấy gần nhau hơn, chính là luật pháp của Mỹ. Cô nói: “ Thằng T. (em chồng cô) hết dám về VN. Hồi mới qua, nó mang theo bánh mì kẹp thịt để ăn. Tới cổng ra, chó đánh hơi, tụi Mỹ bắt phải bỏ vào thùng rác, rồi chụp hình, lăn tay, lưu vào hồ sơ. Giờ nó đi đâu cũng bị kiểm tra tơi bời. Em định đem về một ít lọ mắm ruột, ngon quá, nhưng chồng em bảo tụi Mỹ nó tưởng là thuốc phiện thì khổ. Có con bạn mang bột sắn dây qua, nó nghi là heroin, tháo tung ra rồi xét nghiệm làm con nhỏ sợ hết hồn”.

Gần Tết, bộ thương mại và công an họp ngày đêm tìm cách chống hàng lậu nhập về từ các cửa khẩu miền Bắc. Nào chân giò, nào lòng heo đã thúi đen, chỉ cần rửa bằng một thứ nước gì đó là trắng tinh, ướp ngũ vị hương vào là thơm phức. Công an cấp tướng, hải quan cũng đầy sao, dưới trướng cả ngàn quân, tưởng một con ruồi cũng không chui qua lọt vậy mà mà mỗi ngày có hàng trăm tấn hàng lậu độc hại đi qua cứ như chỗ không người. Xét về luật thì VN không thiếu, còn qui định chi tiết và chặt chẽ hơn cả Mỹ, nhưng về con người thì, nói như một vị có thẩm quyền, không ai mua bom nguyên tử, chứ nếu có nhập vào cũng dễ ợt.

Một lần đi xe lên Thủ Dầu Một, anh tài xế sau khi “làm luật” với công an, nói lầm bầm gì đó trong miệng, hỏi, anh bảo xếp nói :” đù mẹ, nhiêu đây sao đủ chung, mậy?”

Thế đó! Từ anh công an đứng đường, đến anh hải quan cửa khẩu, anh nào cũng phải chung, chi. Cấp nhỏ chung cấp lớn. Rồi cấp lớn vừa chung cho cấp lớn hơn. Cứ thế chung lên cho tới đỉnh. Tham nhũng ở VN là một kim tự tháp. Một vài viên gạch có cạy ra vẫn trơ trơ.

Cái “bên ta” nó khác với cái “bên mình” là ở đó.

Những người VN định cư ở Mỹ 3,4 chục năm vẫn đau đáu nỗi nhớ quê, vẫn thương cây chuối bụi tre, vì khi lìa bỏ quê hương họ chưa có hay ít có cái “may mắn” sống trong cái thiên đường hình tháp. Còn những người mới qua, họ ớn tận mạng cái ụ mối tham nhũng đó rồi. Cái mà cô thấy “bên mình” nó hơn “bên ta” chính là sống trong luật pháp, được nó bảo vệ chứ không phải bị nó vòi vĩnh, hành hạ. Cô không ghét VN, cũng không yêu nước Mỹ hơn, cô giờ chỉ biết có bản thân và gia đình, sao cho con cái học hành, có việc làm và đau bệnh có bảo hiểm y tế. Liệu như thế có ích kỷ chăng?

Tôi tự hỏi, giả dụ tôi ở Mỹ về, liệu tôi có nói “bên mình” như cô? Chắc là có. Một hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch chính là sự kết nối những người nhập cư trên đất Mỹ chứ không phải vì niềm hãnh diện được là công dân của Hiệp Chúng quốc giàu mạnh nhất thế giới.

1/2015

Khuất Đẩu