MẶC KHẢI THỜI GIAN

mocmienthao

Đêm đông lạnh rơi nghiêng miền cô tịch
Trăng nghiêng vào đêm dò dẫm vết tích mùa
Năm lại đến?
Sẽ trôi qua
lặng lẽ
Phúc âm buồn trên sợi nhớ già nua

Ta chậm bước ngang cánh cung kỷ niệm
Chuông thời gian rơi lạc phía ngày tàn
Nhặt dấu tích màu xanh rêu ký ức
Hoang hoải cung buồn khi thổn thức băng ngang

Ngày vội vã khép vào đêm vội vã
Thanh âm đời mặc khải những buồn vui
Tờ lịch cũ
vẫy
xuân về vội vã
Nghe trong những ngày tàn ước vọng hóa mù khơi…

Người ngồi đó
hỏi lòng mình
phiến đá
Tiếng thời gian ai vốc thả lưng trời?
Cười với bóng in hằn trên vách đá
Con dế buồn
ru khúc hát…
à ơi…!

Mộc Miên Thảo

Toàn dân yêu thơ, sơn hà nguy biến!

nguyendinhbon

Câu chuyện chị Vương Thị Ngọc Thu (ngụ ở thôn Thái Thịnh Văn, thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, Bình Định) khiếu nại lên Ban giám hiệu Trường mẫu giáo thị trấn Vân Canh, tỉnh Bình Định vì con mình là cháu Phan Vương Ngọc T. (4 tuổi, đang học lớp mầm tại trường trên) đã bị cô giáo nhốt vào nhà vệ sinh cùng với hai cháu bé khác, chỉ vì các cháu không… thuộc thơ đã làm nhiều người Việt, một dân tộc mà “ra ngõ gặp nhà thơ” dấy lên nhiều suy nghĩ.

Hành động phi giáo dục của cô giáo thật đáng trách, nhưng vì sao cô lại bắt những cháu bé 4 tuổi phải đọc thơ?

Ở đây liệu có hay không tâm lý thơ được xem như những bài học, dễ nhớ, dễ thuộc và cần thiết cho chương trình giáo dục tiếp theo bởi trong các chương trình học của học sinh bậc tiểu học và trung học, khối lượng thơ trong những bài học “Tiếng Việt” và “Ngữ Văn” là khá lớn?

Ngoài ra chúng ta còn nhìn nhận một điều, dù nhân loại đã bước sang kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật từ lâu, đến kỷ nguyên của máy tính thông minh nhưng rất nhiều người Việt vẫn cứ mơ màng với thơ và ao ước trở thành nhà thơ.

Chuyện một quan chức cỡ bự khoe mình làm “thơ thần” từng bị dư luận cười cợt một thời, hay một “đại gia” siêu giàu tại Bình Dương, lập hẳn một khu du lịch lớn, trong đó đi đến bất kỳ đâu người ta cũng nhìn thấy thơ (mà toàn những câu thơ trời ơi đất hỡi) là một câu hỏi khó giải đáp vì sao người ta lại “yêu thơ” đến vậy.

Hay là chuyện một tay láu cá, tổ chức hẳn một Câu lạc bộ Sáng tác Văn học nghệ thuật Việt Nam (?), chuyên đi lừa tiền các cụ già hưu trí để dụ họ in thơ và “kết nạp hội viên” cho họ.

Thực ra các loại câu lạc bộ này hằng hằng lớp lớp tại nước ta, từ phường xã đến quận huyện tỉnh thành, nhà văn hóa… đều có.

Và hằng năm, có lẽ thơ là một trong những danh mục sách được in khá nhiều tại các nhà xuất bản, tất nhiên người ta in bằng tiền túi, rồi đem tặng nhau, “tự sướng” với nhau, cũng không nguy hại gì cho ai, âu cũng là một thú chơi… tao nhã!

Ngay cả Hội nhà văn Việt Nam, mỗi năm đến rằm tháng giêng đều tổ chức Lễ Hội Thơ hoành tráng khắp cả nước, trong đó có đủ tiết mục ngâm, biểu diễn hình thể, hát thơ, thả thơ lên… thượng giới, v.v…

Cho nên thật chẳng ngạc nhiên khi một ông nhà thơ nổi tiếng từng hùng hồn phát biểu “Nước ta là một cường quốc thơ” còn công dân mạng lại tự trào “Toàn dân yêu thơ, sơn hà nguy biến”.

Ngẫm lại những phát biểu trên đều có lý. Cường quốc thơ thì hẳn rồi vì nếu tính số lượng câu lạc bộ thơ, nhà thơ, tập thơ, bài thơ… thì chắc khó quốc gia nào địch nổi Việt Nam ta.

Còn trong thời buổi các quốc gia trên thế giới đang cạnh tranh nhau trở thành những cường quốc hùng hậu về khoa học kỹ thuật, nếu chỉ giành “chất xám” cho thơ, e là sơn hà nguy biến thật!

Nguyễn Đình Bổn

TẢN MẠN CHIỀU CUỐI NĂM

tranvannghia

Gõ ly mà hát khúc tình
Rượu chưa cạn biết rằng mình chưa say
Chiều nay chiều nay chiều nay
Bỗng dưng chạnh nhớ màu mây quê nhà

Nhớ gần rồi lại nhớ xa
Nhớ bên kia chở mưa qua bên này
Nhớ con đường với hàng cây
Có thời mười tám run tay tỏ tình

Liêu xiêu bóng lênh đênh hình
Tóc đời bạc thếch phù vinh xứ người
Gỡ tờ lịch cuối năm rơi
Ngẩn ngơ thêm tuổi à ơi tuổi già

Hoàng hôn ngồi lại cùng ta
Chia nhau chút nắng la cà góc sân…

TRẦN VĂN NGHĨA

Giọng buồn của tượng

tanhoaidavu

Đã trả em đôi bàn tay của gió
Dăm phiến trời trong tình sử ngày xưa
Công viên buồn, tượng hồn tôi dựng đó
Khi vàng bay lá nhớ chớm sang mùa

Mai đời qua xin cúi đầu đứng lại
Dưới chân tôi hãy đặt nụ hôn mềm
Lời thương tiếc cho một thời vụng dại
Để bây giờ chín đỏ những oan khiên

Tôi sẽ khóc bằng trái tim của đá
Ru êm đềm theo những bước đêm trôi
Mà giọt lệ chút ơn đời đã rã
Rơi xót xa trên bãi cỏ thiếu thời

Lời cảm tạ đó mong người vui cất giữ
Là tượng buồn tôi còn có gì hơn
Trên bệ cao trọn kiếp này đứng rũ
Từng đêm nghe gió lạnh thổi trong hồn.

Tần Hoài Dạ Vũ

TRUYỆN RẤT NGẮN: THIÊN THẦN

tonnuthudung

…Năm 1984, có con bé mới sinh trong trạm xá chưa có tên.
Chú y tá hỏi: “Cô định đặt bé tên gì?”
Cô trả lời trong nước mắt: “Trần Thị Tạm Giam.”
Chú y tá cũng chảy nước mắt: “Đừng ác như vậy, cháu.”
Cô sinh bé trong trại tạm giam của Tuy Hoà, bé mất, họ thả cô về ngay sau đó với một trái tim tan nát.
Bé nằm trong vườn một ngôi nhà nguyện… Tiếng chuông sáng chiều ru bé thiên thu.

Tôn Nữ Thu Dung

THƯ MỜI HỘI NGỘ

29_DOOL_081029_PMB_P1_4 (1)

Để mừng TƯƠNG TRI tròn 3 tuổi, nhóm chủ biên TƯƠNG TRI sẽ tổ chức những CHIỀU HỘI NGỘ tại các nơi:
1. SÀI GÒN: vào lúc 5 giờ chiều ngày 31/1/2016
Tại Nhà Hàng SÔNG TRĂNG- 233A Bình Quới, Phường 28, Quận Bình Thạnh vào lúc 5 giờ chiều ngày 31/1/2016.
Mọi chi tiết xin liên lạc:
-Văn Công Mỹ: 0122-705-3032
-Võ Xuân Đào: 0983-117-037
2. ĐÀ NẴNG: vào ngày 5/2/2016 (địa điểm thông báo sau)
3. BÌNH ĐỊNH: vào ngày 12/2/2016 (địa điểm thông báo sau)
4. NHA TRANG: vào ngày 15/2/2016 (địa điểm thông báo sau)
Rất mong được tiếp đón đông đủ các tác giả yêu quý và các thân hữu của Tương Tri.
(Thư này là thiệp mời chính thức. Ở Sài Gòn, Xin hồi báo trước ngày 29/1/2016 để tiện sắp xếp)
Thay mặt Nhóm Chủ Biên , Chủ nhiệm Tạ Chí Thân Kính mời.

hinh-cali-345

NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC (TT)

khuatdau

Thời gian trôi mau, chẳng mấy chốc mà Mị Lan đã trở thành thiếu nữ. Cho dù cô có là người H’rê, người Bana hay người Rhađê mà nhiều người có máu phân biệt chủng tộc bảo là khét nắng, thì ở tuổi 17 cô vẫn đẹp. Cái nước da màu mận chín của cô lúc mới sinh, giờ này quả thật là đang chín, nó nâu sáng chứ không nâu tối, và nó căng phồng lên nhưng vẫn chắc nịch, nhất là ở những chỗ mà cụ Nguyễn Khuyến gọi là con cúi và nữ sĩ Hồ Xuân Hương gọi là hai gò bồng đảo. Cô đẹp và đương nhiên cô biết mình đẹp chỗ nào, và cũng đương nhiên không cần tổ tiên dạy bảo, cô vẫn biết đem cái chỗ tốt nhất của mình ra mà khoe, nói trắng ra là cô cứ để ngực trần, biến mình thành sự thách thức âm ỉ với người mẹ nuôi mà sự che dấu cái đẹp được phong tục ngàn đời ngợi khen là kín đáo.
Bà không ngớt la mắng cô là đồ hư thúi, rấm rức bảo phải thế này thế kia, nhưng cái cách dạy dỗ không ngọt ngào đó không phải là cách của người mẹ, mà là nỗi ghen tức ngấm ngầm biến thành sự đay nghiến, chì chiết. Cũng ít nhiều do cái việc bà gọi là “bẹo ra” hay “phơi ra” đó, chẳng những làm “ngứa” mắt mà còn làm xốn xang mỗi khi nhìn thấy cô, sao mà đẹp mây mẩy còn mình thì ngực chẳng những lép mà còn bị xẻo mất một bên.
Còn ông chồng, tức là cha không sinh mà có dưỡng của cô, tuy ngày nào cực kỳ cứng rắn trong việc gò ép cô đóng khung trong một cái bình, nhưng giờ lại tỏ ra dễ dãi buông thả. Chẳng những ông không la mắng mà còn ngầm về hùa với cô khi được dịp châm chích vào nỗi đau của vợ. Ông bảo, “thôi đừng chọc tức bà ấy nữa!”, thực ra là chọc tức quá đi chứ, vì nghe ông nói bà bỗng lồng lên như một con ngựa điên. “Tức cái gì? hả? hả? Nó là con tui chứ có phải mụ đĩ già kia đâu mà tức?!” Rồi bà khóc và nói huỵch toẹt ra cái điều lâu nay bà đã biết tỏng:
-“Biết quá mà, nhìn nó ông “đã” con mắt quá phải không?”
-“Đã” chớ sao không? Nuôi con lớn ai mà không “đã!”
-“Nhưng nó đâu phải con ông!”
-“Thì nuôi cũng “đã” được chớ ai cấm”
-“Ông mà đụng tới nó coi chừng tui thiến!”
-“Thì cũng như xẻo vú chớ gì!”
Ông cứ cà nhơn, nửa khiêu khích nữa cà rỡn khiến bà càng muốn nổi điên, nhưng Mị Lan thì ghếch tai lên nghe rồi cười lăn, coi như hai người đang tấu hài.
Thực ra cô cũng ý tứ lắm, vì cái bản năng của người nữ luôn cảnh báo cho cô biết những tai họa có thể gây ra bỡi người khác giống. Không phải lúc nào cô cũng phơi ngực ra, nhất là trước những cặp mắt có ý đồ của bọn đàn ông con trai, mà trong đó có cái nhìn không được bình thường của một người luôn miệng gọi cô là con. Cô chỉ phơi ra không những trên mà cả dưới khi cô được tắm mát trong sông hay suối. Lúc đó cô như con cá bơi lội tung tăng, khi thì lượn lờ dưới sâu, lúc lại vọt lên cao, mà cá đâu có cần mảnh vải nào để che thân nên dù dưới ánh nắng hay ánh trăng cô vẫn đẹp rực rỡ. Cô cũng không cần gì phải che dấu bé Đông Nhi, cô coi cậu em như rong rêu, như đá sỏi, như nước mát nghĩa là một trong những thành phần làm nên sông suối. Nhưng nói thế không có nghĩa Đông Nhi vô tư không biết gì, chú bé biết chứ, sau này càng biết rõ hơn, rằng nếu ở trong cuộc đời có một thứ gọi là cái đẹp thì Mị Lan chính là cái đẹp bằng xương bằng thịt.

Hai chị em rất thân nhau, phải nói là rất thương nhau, vì cùng biết rằng chúng là những đứa trẻ bất hạnh. Ngoài những thiếu thốn thường ngày có thể vượt qua được thì thiếu mẹ là không cách gì vượt qua nổi. Có thể trong một ngày, trong một tháng hay trong một năm, không có mẹ cũng chẳng sao, nhưng cả một đời không có mẹ thì giống như một ngôi nhà không có người ở, nó lạnh lẽo, nó buồn bã, nay viên gạch này rơi, mai viên ngói nọ rụng, mốt cánh cửa kia hư, cứ thế mà rơi rớt dần cho đến ngày đổ sụm.
Đương nhiên đã đến lúc Mị Lan không còn chơi cái trò chui vào bình để cha cô hốt bạc cắt nữa. Chiếc bình không thể lớn theo cô, mà cho dẫu có lớn theo thì lúc này chiếc bình dù có bằng sắt cũng không thể nào chịu đựng nổi thịt da của một cô gái mười bảy tuổi. Cô chơi trò ò e ma le đánh đu Tarzan nhảy dù, một trò mới hợp với gái rừng gái rú mà đạo diễn tài năng là cha cô bày ra. Một cây bồ đề trong chùa, một cây đa đầu làng, một cây bàng trong sân trường, cứ có cây là cột dây chơi được. Cô vòng quanh hông một chiếc váy lá dừa, có khi là lá chuối, ngực quấn dây bìm bìm rồi đu từ cành này qua cành nọ, tuy không bằng Tarzan nhưng cũng le lói hấp dẫn lắm, vì ngoài lá và hoa, trên người cô không có một thứ gì gọi là vải. Cha cô đặt tên là Công chúa rừng xanh, nhưng mẹ cô mỉa mai bảo mụ điên thì hay hơn.
Những ngày đầu khá là đông khách, sân chùa và sân trường chật kín người. Cái vẻ rừng rú man dại của cô đúng là có một sức hút kỳ lạ. Nó như đôi cánh bướm cứ khép rồi lại mở, chập chờn giữa mộng và thực, giữa cái hồng hoang nguyên thủy và cái tồn sinh khô cằn. Những ai thiếu giấc mơ thì chỉ một lần đến xem cô diễn là đủ để mơ tới sáng. Nhưng bọn trẻ con thì không chịu nằm mơ giữa ban ngày. Chúng la toáng lên như trong truyện ông vua ở truồng, thế là sư cụ chăp tay mô Phật không cho làm ô uế cửa thiền, nhà trường thì cấm cửa vì thiếu đạo đức, ngoài phố thì bị mã tà đuổi vì công xúc tu sỉ! Cha cô đổi qua cho mặc đầm xòe, rồi tập cô đi trên dây, nhưng dây thì ngắn chỉ mấy bước là cô muốn ngã nhào, còn đầm xòe chỉ làm cho cô trở nên đen đúa vụng về, nên chẳng có ma nào còn muốn đến xem cô diễn nữa.
Bây giờ gánh xiếc chỉ còn trông cậy vào cái trò bắn súng thịt của Đông Nhi và xe đạp cọc cạch của con khỉ khọt. Lúc này là lúc phải dài cổ ra mà kêu gọi lòng tốt của mọi người, có nghĩa không phải hát kiếm tiền nữa mà là xin tiền. Cái công việc không được đẹp ấy giao cho bà chủ, mà mỗi khi ngửa nón ra, bà cảm thấy cái nỗi nhục này nó thấm thía còn hơn cái nhục vì bị xẻo vú.
Nghèo không phải là cái tội, nhiều khi nghèo còn là thứ keo kết dính mọi số phận hẩm hiu một cách cảm động như mẹ con nhà mẹ Lê trong những chiều đông lạnh. Nhưng đó là những thân phận có cùng chung máu mủ, còn ở gánh xiếc có cái tên rất dịu dàng này, với những con người năm cha bảy mẹ, thì lại là một khối thuốc nổ rất dễ bắt lửa. Chuyện tan đàn sẩy nghé là chuyện đã được báo trước, nên cũng chẳng có ai ngạc nhiên khi bà chủ bỏ đi.
Thì đúng là một cuộc ra đi có báo trước, tuy điềm báo đó đã có từ lâu mà chẳng một ai thèm để ý. Ấy là cái sự hí hửng của ông chủ gánh xiếc khi bày ra cái trò Tarzan nhảy dù cho cô con gái nuôi. Hí hửng không phải vì sẽ kiếm được nhiều bạc cắc mà vì được tận tay kết váy lá dừa, tận tay quấn lá bìm bìm, tận tay kết tràng hoa ti gôn, lại còn tận tay gắn lên người cô nữa. Sự hí hửng đó, một lần nữa sau nhiều lần, làm ngứa con mắt của bà. Thế là bà bắt đầu đờn quyển nỉ non, bắt đầu đay và nghiến với hai hàm răng sít rịt. Rằng “đã” quá mà, “đã” mắt, “đã” tay, rồi còn “đã” cái gì nữa đây? Tiếng “đã” sau cùng bà rít lên như con dao đã bén rồi mà còn liếc thêm một lần nữa khiến sợi tóc đứt làm đôi.
Cái gì nữa sẽ “đã” đây bà không nói nhưng ông chồng thì quá hiểu bà đang tung một đòn ngầm vào chỗ hiểm. Không chỉ một lần mà nhiều lần, không chỉ một đêm mà nhiều đêm. Vậy là gã rút con dao tuy không bén như dao thiến heo, nhưng dao nào cũng là dao, dao cùn còn đáng sợ hơn nữa, đòi xẻo luôn cái vú còn lại của vợ. Thay vì bỏ chạy như những người đàn bà thường bị chồng ăn hiếp, thì bà bứt tung nút áo, phơi ngực ra áp sát cái vú mồ côi một mình vào tận mặt chồng bảo “có giỏi thì xẻo đi, ăn đi!”
Thấy hai người không còn diễn tấu hài nữa mà sắp diễn tuồng bi, nữ tài tử hết thời quá sớm bèn can ngăn một câu: “Thôi mà má, con có diễn nữa đâu mà má nói hoài!”. Câu nói đó không phải nước mà là xăng tưới vào lửa, khiến bà cháy phừng phừng, cảm thấy cha con nhà “nẫu” kẻ tung người hứng, sắp làm những chuyện mờ ám, thì thôi một lần cho xong, bà lao vào con bé mà bà tin là đã sớm ngứa nghề này, xé toang quần áo cô ra: “diễn! diễn này!” Ông bố chưa kịp can ngăn, nghĩa là chưa kịp vung dao lên bà đã chạy đi, được mấy bước còn quay lại phủi đít mấy cái!

Bị vợ bỏ đi, cái cảnh gà trống nuôi con, thực ra là gà con nuôi gà trống, rất chi là tội nghiệp. Đông Nhi giờ đã 12 tuổi, tuy chưa phải là gà tồ, nhưng xương cốt của cậu cũng đã bắt đầu cứng cáp. Cho dù mỗi ngày ăn chỉ một phần tư bữa vì cả nhà không đủ gạo ăn ngày hai bữa, mà cậu còn bị ông chủ bắt phải ăn đói để có thể chui lọt qua cái ống thiếc, dù ống đã mấy lần thay như trăn lột vỏ, nên khi bị gập làm đôi nhét vào rồi bị dộng xuống đất bình bịch, cậu ê ẩm cả mình mẩy. Mỗi lần như thế, vì xương nhiều thịt ít, sự cọ xát làm cho cậu đau tận óc, nhưng chẳng dám kêu la vì như vậy coi như bị bể dĩa. Cũng may còn có chị Mị Lan, tối đến ôm em vào lòng, nhè nhẹ xoa bóp cho em những chỗ đau.
-“Nín đi em, rồi chị em mình sẽ có cách ra khỏi cái nhà này”.
-“Cách gì”, cậu thút thít hỏi.
-“Thì từ từ chị sẽ tìm ra”.
-“Bộ chị tính đi lấy chồng hả?”.
-“Bậy nào, chị cười, lấy chồng thì chết sướng hơn”.
-“Sao lấy chồng mà lại chết sướng hơn?”.
-“Ờ, chị nghĩ vậy đó, không thấy má sao, chẳng những bị xẻo vú mà còn suýt bị xẻ thịt nữa kia”.
-“Má cũng đâu có vừa gì!”.
-“Thôi ngủ đi em”.
Đêm khuya, tiếng con vạc kêu mưa càng làm cho hai đứa trẻ thêm buồn. Ông chủ thì cứ ngáy roọt roọt như nước chảy qua một cái cống đầy rác. Con ngựa đứng mỏi chân thỉnh thoảng gõ móng kêu lộp cộp. Hai đứa chưa ngủ được mà vẫn cứ nằm mơ. Mị Lan mơ được chạy chơi trong rừng, mỏi chân thì ngồi trên gộp đá bên bờ suối. Đông Nhi mơ người nằm ôm mình không phải Mị Lan mà là mẹ.
Sáng ra, một tai họa nữa lại ập đến: con ngựa không hiểu sao nằm chết nhăn răng. Ông chủ ra coi, giơ chân đá vào bụng nó, mặt nó mấy cái để biết chắc nó không còn sống nữa, rồi một mình đi xuống chợ. Mị Lan ôm vai em, đứng nhìn đám ruồi nhặng đang bu tới.
Chừng một giờ sau, ông chủ trở về cùng hai người đàn ông và một người đàn bà. Ông chủ thảy cho mỗi đứa một cái bánh ú, còn mình thì phì phèo một điếu thuốc thơm. Hai người đàn ông lặng lẽ lôi trong bị ra hai cái dao và một cây rìu. Họ chặt đầu con ngựa, chặt luôn bốn chân, rồi họ mổ banh ruột ra, chỉ trong nháy mắt đã xẻ xong thịt con ngựa. Người đàn bà liền lấy những phần thịt xếp vào bao, hai người đàn ông xếp xương, chân, đầu, vào hai bao khác. Xong, họ vác lên vai đi như chạy. Đúng lúc đó, ông chủ kêu: “Ê! để miếng thịt ăn chơi chớ”. Người đàn bà dừng lại đợi, xẻo đưa ông một miếng thịt, nói: “để lại cả bộ lòng rồi kia mà!”. Ông cầm miếng thịt bầm đen, bóp thử: “ờ, cũng phải có thịt chớ”
Trưa hôm đó, sau nhiều ngày chỉ ăn toàn rau và mắm mặn, cả nhà được ăn một bữa thịt ngựa, nhưng ông chủ chắc thấy ngon chứ Mị Lan thì thấy nhờn nhợn cứ như muốn ói, còn Đông Nhi chỉ ngồi ngó chứ không dám ăn. Đó là cái cảnh rùng rợn đầu tiên mà cậu thấy trong đời. Dù sao, con ngựa cũng đã là con vật góp công sức khá nhiều cho gánh xiếc. Nó đã trần vai ra kéo cái cổ xe xộc xệch đi qua biết bao nhiêu dặm đường, nó bị đánh bị mắng mà không hề thở than, chỉ một đôi lần cậu thấy hai con mắt tưởng là vô hồn của nó, có vẻ như chìm trong một làn nước mỏng mà cậu tin đó là nước mắt. Để nhớ nó, cậu giữ lấy cái lục lạc đeo luôn bên mình.
Không rõ bán cái xác con ngựa chết được bao nhiêu tiền, nhưng ông chủ không thèm đi hát nữa. Với lại còn ngựa đâu mà kéo xe, mướn xe thì xe ăn hết, mà cuốc bộ thì cuốc sao nổi. Rồi ai vác bình, ai vác chiếu mền, con khỉ dắt theo nhưng con trăn chẳng lẽ quấn lên cổ mà đi khơi khơi?! Cái cảnh rã gánh đang bày ra trước mắt sờ sờ, thôi thì nhờ số tiền mới có, sống được ngày nào hay ngày ấy. Ông lại kêu người bán luôn chiếc xe cà tàng, rồi thuê tạm một chiếc thuyền để có chỗ trú mưa đụt nắng. Cả ngày Mị Lan chỉ phải nấu hai bữa cơm, ngoài ra không biết làm gì cho hết thì giờ. Đông Nhi hết câu cá lại chơi với khỉ. Còn ông thì hết nhậu lại lăn ra ngủ.

Những tháng ngày lênh đênh trên sông nước, Đông Nhi bỗng thèm được đi học. Trong những lần làm xiếc ở các trường, cậu thích nhất là được thấy những đứa bé như cậu ăn mặc sạch sẽ, lưng đeo cặp, đi đến trường một cách hồn nhiên vui vẻ. Giá như có mẹ, cậu chắc mình cũng được đi học như thế. Giờ cầm quyển sách lên, cậu cũng chẳng biết cầm thế nào cho khỏi bị ngược. Một đôi lúc được bọn họ xuýt xoa hoan hô, cậu không thấy vui mà chỉ thấy tủi hờn. Còn Mị Lan, phải chi biết đọc cũng đỡ buồn. Cô sẽ mướn sách về đọc rồi kể lại cho em nghe, hai chị em sẽ có biết bao nhiêu chuyện để nói.
Tuy vậy được sống trên thuyền vẫn thích hơn là sống trên cạn, vì với sông nước đó, hai chị em muốn tắm lúc nào cũng được. Như chiều hôm nay, chỉ cần một đứa hô “tắm” là đã thấy chúng để nguyên quần áo nhảy ùm xuống sông, té nước vào nhau đùa nghịch. Ông bố ngồi trên thuyền, rót một chén rượu đầy, ngửa cổ ra uống cạn. Khà một tiếng, ông thấy “đã” chi lạ!
Chợt nhớ tới con trăn, ông quên mất là hãy còn một món tiền. Ông tính trong đầu khi bán được, sẽ mua cho Mị Lan một đôi guốc mới, một cái kẹp tóc, một cái xú chiêng, một chiếc xì líp, công việc đó là của con mụ ấy nhưng giờ là của ông. Nó đã lớn rồi, cũng phải sửa soạn cho nó chứ. Rồi còn phải sắm áo quần này nọ các thứ cho nó đi lấy chồng. Bộn tiền chớ đâu phải ít, mà nó đi là mình mất tất cả, mất con mụ vợ lúc nào mặt cũng nhăn như khỉ ăn ớt thì được, nhưng mất nó, uổng quá!
Nghĩ thế, ông bỗng khóc rống lên làm Mị Lan đang ngồi hong khô quần áo ở đầu thuyền phải giật mình. Cô hỏi:
-“sao khóc vậy ông già?”.
Ông mắng:
-“mồ tổ cha mày, ai dạy mày kêu tao bằng ông già?”.
Cô cười:
-“thì nghe người ta kêu, bắt chước”.
Ông cũng cười:
-“ờ phải đó, nhưng tao chưa già đâu”.
Ông lại thấy vui, nhìn cái chai rổng ông kêu lên:
-“Hết rượu rồi mày, đi mua thêm, Nhi”.
Ông cho tay vào túi áo lấy tiền.
-“Nè, nhiêu đây đủ mua thêm một con vịt quay nữa của chú Xìn, cho tụi bay mần một bữa, sướng nghen!”. Nhi cầm tiền, miệng “dạ”, chân nhảy lên bờ phóng đi như gió.
Còn lại hai người trên thuyền, ông lom khom bò ra ngồi cạnh con gái. Gió chiều hây hẩy khiến mặt sông lao xao, ông tưởng tượng lòng sông cũng như lòng mình.
Ông bảo:
-“tao quay mặt ra sông, mầy lui vào trong thay quần áo đi”.
-“Khỏi”, cô nói, “sắp khô rồi”.
Ông đặt tay lên đùi cô, xoa tới xoa lui, miệng nói:
-“Còn ướt nè, cảm lạnh chết”.
Cô khó chịu vì bàn tay ông, bảo:
-“không sao đâu, ông già”.
Ông vuốt tóc cô, nói đẩy đưa:
-“Muốn phi dê không? Hôm nào cho tiền xuống phố phi dê!”
-“Quăn rồi, không thấy sao mà phi dê!”
-“Không thì mua đồ mới, guốc nè, quần nè”
-“Cũng khỏi luôn, ngồi trên thuyền chớ đi đâu mà mang guốc”
-“Thì lớn rồi cũng phải sắm sửa chứ.”
-“Sợ lớn lắm, chưa gì mà đã có người muốn xé xác ra, không thấy sao?”
-“Thôi nhắc làm gì con mụ ấy.”
-“Sợ muốn chết luôn!”
-“Giờ còn sợ gì nữa”
-“Sợ chớ sao không, biết đâu ông già…”
Ông dỗ dành:
-“thôi thì vào trong đi, ngoài này chòng chành quá!”.
Cô cự nự:
-“Thì ông già vào đó đi, kệ tui”.
-“Nhưng mà tao say, đỡ giúp tao”, ông lèm bèm hay giả bộ lèm bèm, cũng không ai biết.
-“Thì bò! bò ra được thì bò vào cũng được chớ”
-“Mày rắn mắt quá, thôi để tao vịn mày”
Ông vòng tay qua người cô, kéo cô đứng dậy. Cô gạt tay ông ra định nhảy xuống sông, nhưng ông nắm tóc cô giữ lại. Chiếc thuyền lắc lư như con lật đật, làm ngã luôn hai người. Con “cúi” của cô và con dao làm cá nằm trên sàn, cùng một lúc sáng lên trong ánh nắng chiều. Cô nghe ông cười khịt khịt.
Ông trườn lên người cô, thở hào hễn:
-“tao thương mày mà!”, miệng ông nói, tay ông luồn vào bụng cô.
Cô cố gỡ ra, một tay với lấy con dao.
Ông lại nói:
-“thương thiệt mà, cho tao…”. Tay ông luồn xuống sâu hơn.
Cô giữ tay ông lại, nói thầm:
-“từ từ đã ông già!”.
-“Từ từ hả?!”, ông có vẻ mừng, nhỏm dậy.
Đúng lúc đó cô chồm lên người ông như một con báo, mắt ông thấy lóe lên một ánh thép và tai ông nghe một tiếng “rẹt”.
Khi ông hiểu ra cớ sự, ôm bụng kêu rú lên thì Mị Lan đã nhảy tòm xuống sông, mất dạng.(còn tiếp)

Xuân Đất Khách

trantrungdao

Ai có về bên kia đất nước
Thở dùm tôi hơi ấm quê hương
Tôi, con én lạc mùa xuân trước
Vẫn khóc âm thầm nơi viễn phương.

Vẫn đếm xuân về trên đất khách
Nghe buồn nhỏ giọt xuống vai tôi
Ðèn ai thắp sáng bên kia phố
Nhớ quá, chao ôi, tiếng mẹ cười.

Bếp lửa than hồng sao chẳng ấm
Tôi thèm một chiếc bánh chưng xanh
Thèm nghe ai nói lời tha thiết
Một lời chúc tụng bước sang năm.

Ai có về bên kia đất nước
Chở dùm tôi nỗi nhớ qua sông
Hỡi em, cô gái mùa xuân trước
Còn đứng hong khô áo lụa hồng.

Lòng tôi cũng bạc theo màu áo
Chiếc pháo giao thừa đã tả tơi
Chén rượu mừng xuân tôi chẳng uống
Chỉ uống đêm nay những ngậm ngùi.

Trần Trung Ðạo

TÔI NỢ NGƯỜI ĐẠM BẠC

chuthuynguyen

vuốt ve tôi
cơn gió đầu mùa còn chưa về
từng cánh chuồn bay

con chim sâu chẳng buồn hót
ở chỗ ta nhớ nhau
khóm tre trưa nhớ gió

những con sóng háo hức gọi bờ
ngư phủ chống sào gát tay lên trán ngủ
hải lý nào đợi người?

lỡ thương môi chúm chím
trái rừng ngọt mê tơi
môi đó tôi nợ người

một ngày đau hơn vết thương
tôi quay lại chiến trường
tìm tiếng em khóc ngất

mênh mang lắm
bầu vú xanh ơi! đừng cự tuyệt
em đã bỏ bùa tôi

để lần sau em nhé
những búp lan nở dại
anh sẽ gọi thuyền

về đi! lời mộc mạc
đường cổng trời tối om
tôi nợ người đạm bạc…

Chu Thụy Nguyên

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ (TT)

ledachoanghuu

Dì đã đi bịnh viện.
Nó một mình ở nhà, má nó vô bịnh viện liền luôn. Gần một tuần lễ má đi đi về về, rồi dì cũng về nhà. Chiếc xe xích lô chở dì và má vô tận bên trong, dì vẫn còn đau, đi đứng khó khăn. Nó chạy ra phụ dìu dì vào:
“Dạ, dì mới về”.
Dì nói nho nhỏ:
“Ừa, đì mới về, chà cái thằng hồi nhỏ ú na ú nần, trắng bóc giờ đen như than và ốm nhách, tội nghiệp bây quá”.
Nó cười:
“Tại con dang nắng với lại vọc than đó dì”.
Dì nó quay qua má nó:
“Khổ quá, hay tụi bây dắt díu nhau trở lại trong này, coi vậy chớ trong này còn dễ thở, buôn bán nhỏ nhỏ cũng đủ sống”.
Má nó lắc đầu:
“Dạ, em cũng nghĩ nhiều rồi, muốn đi mấy bận cuối cùng tính tới tính lui hông được đâu chị…”.
Dì nó cắt ngang:
“Sao mà hổng được, người ta sống được thì mình được”.
Má nó tiếp:
“Dạ, hông phải vậy, chị hiểu sai ý em rồi, là vầy, giờ mà đi là chỉ có đi chui ở chui thôi, đâu ai chứng giấy tờ, tụi em lớn thì hổng sao chứ sắp nhỏ lấy gì học hành”.
Dì nó gật đầu:
“Ừa hén, bây nói tao mới nhớ, phải cho đi học kiếm mấy chữ, sau này đỡ cực thân”.
Nó thì thấy học hành bắt đầu chán chán, nửa muốn tiếp tục nửa muốn không, nhưng theo lời ba má thì phải đi. Thằng Cọt đã nghỉ học ở nhà chuyên chăn bò và phụ đi rừng. Nó nhớ lại bữa ngang nhà nghe ba má thằng Cọt cũng cãi rần vụ này.
Ba thằng Cọt:
“Cho nó nghỉ đi phụ tui kiếm ăn chớ học hành làm gì”.
Má thằng Cọt:
“Học hành có lợi sau này”.
“Bà chỉ cái lợi tui coi?”.
“Thì như ông Sáu Hoàng đó, ổng có cái chữ khỏi phải ra đồng”.
“Bà hay quá hén, có mình ông Sáu chớ mấy, mà nói thiệt tại ổng già làm hông nổi nên người ta để ổng cầm viết, còn ông Hai Sài Gòn kìa, thằng Hải tặc kìa, bao nhiêu người nữa đó, chữ nghĩa đầy mình có mần được cài gì hông hay phải cầm cuốc với lại mấy người có mấy chữ cũng làm cán bộ rần rần”.
“Biết đâu có may được như ông Sáu Hoàng, chú Tư”.
“Ở đó mà chờ may rủi, với lại bà có tiền đóng nổi hông, trăm thứ tiền chớ có như xưa đi học miễn phí đâu, tiền cơ sở vất chất, tiền sách tiền vở, tiền bút tiền mực, tiền ủng hộ quỹ này quỹ nọ, phong trào này kia, nói là ủng hộ nhưng thiệt ra bắt đóng hết chớ bộ, biết bao nhiêu là quỹ một năm”.
Má thằng Cọt tới đây hết cãi lại. Thằng Cọt còn bị ghép thêm một tội nặng khó phai dấu tích, vậy là nó phải nghỉ. Mùa nắng, đói khát, bao nhiêu sự thèm thuồng, thèm một lát thịt, thèm một con cá… tràn lên cuống họng đám con nít, đám chăn bò tuổi ăn tuổi lớn, và kế sách bao ngày suy tính bàn bạc được đưa ra, cùng thả bầy bò dưới chưn núi Đất, lùa cho con bò tơ vừa đủ tuổi kéo cày thằng Cọt chăn của hợp tác xã vào gần đám cỏ còn xanh bên trong hàng kẽm gai rồi giả tảng lờ bỏ đi xa, con bò cũng đói với đồng hanh nắng cháy có thua gì xăm xăm tiến lại, một tiếng nổ phát uỳnh tung bụi tung luôn cái cẳng con bò, mảnh đất còn cấm vì chưa gỡ hết bom mìn thuộc cái đồn trấn giữ trên lưng chừng núi, bò ba cẳng chẳng thể trở thành “dân chơi cầu ba cẳng” nằm vật bị xẻ thịt chia thôi, thằng Cọt đã gồng mình chấp nhận mọi hình phạt từ ban đầu rồi…
Dì đỡ bịnh, má con nó trở về. Mang hai chục bánh mì ổ to, bánh mì Sài Gòn thơm ngon, để lâu chỉ xìu xuống, đem nướng sẽ giòn trở lại chớ không cứng như đá và một thùng mì gói về chia cho bà con lối xóm thân thuộc, có được ổ bánh mì, vài gói mì tôm mà như bắt được vàng. Má nó mua thêm chôm chôm nữa, đem trái cây nhiều người thất cười quở: “Trời đất! chuyện nghịch đời, chở củi về rừng”.

***

Họp đội thông báo, mỗi lao động chính phải đóng góp mười ngày công xã hội chủ nghĩa. Nhà nhiều lao động được giảm bớt, nhà nó phải đóng góp ba chục công. Đang mùa nắng, đội làm theo chủ trương xây dựng thủy lợi. Chị nó thay gia đình đi làm cả tháng trời.
Ngày ra quân làm thủy lợi cả hợp tác xã rầm rầm rộ rộ, loa kèn vang vang khúc nhạc, ông chủ nhiệm phát biểu hăng say: “Chúng ta phải thay đổi thiên thời, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”… và ở dưới thì chủ yếu là thanh niên vung tay hô quyết tâm quyết tâm khí thế.
Đại hội hợp tác xã đã bầu chú Tư râu vô ban kiểm soát, đội nó giờ đội trưởng là chú Năm Ngàn. Chú Năm Ngàn xìu xìu ểnh ểnh, nữa muốn làm nửa muốn không, nghe đâu chú Năm có bà con gì với chú Tư râu hay ai đó nên được vận động làm, chú nhận một cách miễn cưỡng.
Chú Năm Ngàn dẫn đoàn người vác cuốc, xẻng, xà beng, gióng gánh đi.
Chú Tám Phèn hỏi:
“Đi làm ở đâu vậy?”.
Chú Năm trả lời:
“Ở núi Đất”.
Anh Hải đất hỏi theo sau:
“Làm thủy lợi là làm cái giống gì?”.
Chú Năm Ngàn như người mơ ngủ ậm ờ:
“Nghe nói đắp đập, đào kinh, đào mương gì đó”.
Anh Hải tặc lắc đầu:
“Ông cũng chẳng biết gì luôn hả?”.
Chú Năm Ngàn làm thinh một hồi lên tiếng:
“Có phổ biến cho tui rồi mà tui thấy nó sao sao á, lên núi đất đào đá khiêng về đắp đập”.
Anh Hải hỏi tiếp:
“Đắp ở đâu?”.
“Ở con suối gần dưới chân núi luôn đó, sẽ có người hướng dẫn chỉ chỗ, đào mương cũng vậy, có mấy ông kia kìa – Chú Năm chỉ mấy người đang vác cái máy đo đạc có ba chưn – Mấy ổng đâu trên huyện về, đo đo ngắm ngắm bữa giờ rồi”.
Đến sườn đồi có bãi đá của núi Đất, đoàn người chia nhau người nậy đá lên người khiên xuống dưới suối cách đó chừng gần cây số rồi toán người dưới suối lựa đá mà xếp chồng lên nhau.
Hai tuần sau con đập hình thành, đập nhìn hoành tráng đắp chắn ngang dòng suối cao vượt bờ, chiều dày thì tới bảy tám thước. Nghe nói có con đập vừa đắp xong, cán bộ vui lắm. Có cụ già lững thững tới coi, chắp tay sau đít, ông cụ cả tóc râu đều dài và bạc phơ đi tới lui một hồi, cười cười phán:
“Tui ở đây gần cả đời chưa thấy ai làm kiểu này, con suối ở đây là con nước hỗn bởi gần nguồn, dốc núi tụ tập đổ xuống, có mưa là ào ào cuồn cuộn, mấy cục đá này có cái gì kết dính đâu, được ba bữa hông bị cuốn mất cái gì tui cũng chịu, nói thiệt nước mà, cho tảng đá cả tấn xuống thử có trôi hông chớ mấy cục lòn hòn”.
Nhiều người nhìn ông cụ mà nghi ngại, anh Ngạo hỏi:
“Chắc hông ông?”.
Cụ già quay qua anh Ngạo:
“Sao hông chắc, tui giỡn chơi à, cá gì tui cũng cá, dám bán nhà tui cũng cá”.
Anh Ngạo gục gật:
“Con hông dám cá với ông đâu, nghe ông nói có lý, với lại bữa giờ cũng nghe mấy người nói rồi”.
Dì Tư Thể hỏi:
“Mày nghe ai nói mậy, nói ba xàm coi chừng bị gông cổ nghe con”.
Anh Ngạo lè lưỡi:
“Có nghe thì nói có nghe, dám nói bậy, tui đâu muốn xộ khám”.
Anh Hải đất thấp thởm:
“Nghe ai nói nói lẹ coi”.
Anh Ngạo tiếp:
“À, hổm tình cờ tui nghe mấy ông kỹ sư đo đạc nói đó…”.
Dì Tư cắt ngang:
“Nói sao, mày cứ cà dần cà dà như ông già”.
Anh Ngạo cười khì:
“Thì một ông nói giống ông già là nghi quá, rồi một ông cản lại kêu thôi mày ơi, bàn cãi gì nữa, ở trển quyết vậy rồi cứ làm thôi, mày hông thấy ông tổ trưởng mình hả, ổng cãi bây giờ ngồi chơi xơi nước đó, hông chừng cho giảm biên chế thấy cha luôn”.
Chú Tư râu đứng sau đâu nãy giờ mặt đanh lại:
“Thôi nghe mậy Ngạo, mày làm hông lo làm đi hóng chuyện, nói hoang đàng chi địa, còn ông già cổ hủ ơi, thời buổi giờ khác xưa rồi, người ta làm có sách có vở, có tính có toán chớ khơi khơi đâu, ông về dùm đi, ăn nói lung tung quá”.
Ông cụ lắc đầu nói ngắn gọn và bỏ đi:
“Để rồi coi”.
Anh Ngạo không chịu thua:
“Đúng đó cứ để rồi coi” – Quay qua chú Tư râu, anh Ngạo tiếp: “Tui có sao nói vậy nghe ông, nói chình ình ngay lỗ tai tui tui phải nghe thôi chớ thèm hóng à, ông đừng gắp lửa bỏ tay người”.
Anh Ngạo mới đi làm chung với bà con đợt này, anh không chỉ ngang tàng hơn anh Hải tặc mấy lần mà còn ba lém nữa, nghe đâu anh là dân chợ búa đâu đó mới chuyển về. Anh Ngạo suốt ngày cà khịa nhứt là với chú Tư. Có mặt chú Tư bà con mỗi người lôi tên anh Ngạo và vài từ tưng tửng: “Ngạo đâu? Có Ngạo. Ngạo nè. Ngạo à, Ngạo hả? Ngạo luôn. Làm một ngạo đi. Cho một Ngạo. Chơi một Ngạo…”. Chú Tư đã khổ với anh Hải nay lại thêm anh Ngạo.
Đắp đập xong tới đào mương. Đào băng từ đập đá về cánh đồng lớn, cánh đồng này thuộc hai đội ba và đội bốn. Giữa trời nắng nóng, nắng đôi khi muốn cháy da người, nhiều người sạm đen như người ở vùng xích đạo, đoàn người lầm lũi đào tung bụi mù, gặp chỗ đất mềm không nói gì gặp chỗ đất cằn sỏi, đất gò chỉ có nước than trời, than đất, tiếng cúp cuốc xuống nghe chát chúa mà chẳng xuống được bao nhiêu, băm băm như đục đá, còn gặp phải đá thì tóe lửa xoẹt xoẹt…
Một buổi chiều vừa xong giờ làm, chú Năm Ngàn gặp anh Hải tặc và anh Ngạo:
“Tối mày về làm dùm tao cái bảng kiểm điểm”.
Anh Hải và anh Ngạo ngạc nhiên:
“Kiểm điểm vụ gì cha nội?”.
Chú Năm giải thích:
“Hai thằng bây xuyên tạc bậy bạ quá”.
Anh Hải cãi lại:
“Tui xuyên tạc cái gì?”.
Chú Năm nói:
“Hổm thằng Ngạo hát hò tầm bậy tầm bạ mày cũng rần rần hát theo mà hông chịu dòm rước ngó sau để ông Tư ổng đi ngang ổng nghe”.
Anh Ngạo cười hà hà:
“Ạ, tui hát bài nhạc chế, cây cuốc cong mình chờ mong cho nó gãy cây cuốc gãy thì mình khỏi ra đồng, khỏi ra đồng thì đừng mong có lúa… chớ gì, tui hát chọc cười bà con chơi cho qua cơn mệt chớ gì mà la làng”.
Anh Hải nhếch mép:
“Cha Tư này thù vặt, chả ghim tui lâu lắm rồi, nay thêm cha Ngạo gặp chuyện chả làm tới”.
Chú Năm năn nỉ:
“Thôi lỡ rồi, làm ơn viết đại vài dòng cho nó qua chuyện, đừng làm khó tao nữa”.
Anh Ngạo gật gù:
“Ờ, viết thì viết ba mươi giây xong ngay, có khỉ gì, ông Hải sẵn chữ viết dùm tui luôn cái coi, tui hậu tạ ông sau, mà ông viết mùi mùi nghe ông”.
Anh Hải gật đầu:
“Để tao viết, mày làm như ca cải lương viết mùi mùi, một xị đế nghen mậy”.
Anh Ngạo cười ha ha:
“Cho ông một lít lên bờ xuống… mương luôn”.
Hai tuần sau mấy cây số mương về tới cánh đồng cũng là xong công xã hội chủ nghĩa.

***

Nó bị hai trận đòn nhớ đời!
Một trận lỗi nó.
Đội có thêm quy định về tiếng kẻng, thứ sáu hoặc thứ bảy hàng tuần lúc hai giờ có bốn tiếng kẻng báo hiệu bà con tới nhà ông Sáu Hoàng mua cá, cá từ dưới thị xã lên bán theo tiêu chuẩn. Lúc này bán hàng cho dân nhà nước có thêm cái cửa hàng thương nghiệp cấp ba và bán theo tem phiếu, theo sổ hộ gia đình. So với giá bên ngoài, ở chợ thì kiểu bán này rẻ hơn rất nhiều. Mất cái sổ hay tem phiếu là khổ, coi như đói, gặp gượng mặt nhăn nhó khó chịu người ta ví như mặt mất sổ gạo là vậy. Tem phiếu tính theo nhân khẩu, nhà nó mua được bốn ký cá. Và nó được giao canh giờ nghe tiếng kẻng để đi mua. Mua cũng vậy, bán mua bao cấp, nhà nước lập mấy trạm thu mua lương thực, nông sản của dân giá theo quy định cũng như bán rẻ như bèo.
Thứ sáu nó nằm dài cổ chờ, lâu lâu nghe văng vẳng tiếng két két keng leng là nhổm dậy liền nhưng nghe kỹ thì không phải, bốn tiếng kẻng rất rõ ràng. Chiều thứ bảy nó tiếp tục ngã người trên tấm phản dưới gốc mít trong cái gió liu riu. Gió liu riu buổi chiều làm mắt nó ríu xuống vậy là chìm vào giấc mộng. Oánh một giấc đã đời giựt mình thức giấc, trời ơi đã bốn giờ. “Vắt giò lên vai” mà băng đường tắt bất kể gai gốc phi tới nơi xếp hàng và dĩ nhiên là… xếp chót, cuối cùng tới lượt thì còn được… một ký mà bác bán hàng ngắt bớt vài con của người này người kia dành cho.
Tối về nó ăn nó một trận đòn. Má nó nghi cho cái tội ham chơi. Mà cho ăn đòn cũng phải, nó không trách móc gì. Lấy đâu tiếp tế vô trong rẫy cho ba nó, làm lụng cực khổ với cái nắng gay gắt lại nhai toàn với mắm muối, vài con khô đét làm sao chịu thấu. Ngoài chợ thì cá hiếm, cá mắc mỏ có mua nổi đâu. Bị oánh đau thiệt nhưng còn khó trào nước mắt hơn hổm trước, nó tận mắt thấy, má đi chợ mua được mớ cá mua luôn mớ đầu cá nói về cho heo, má nó chẳng dám ăn cá chừa để đưa vô rẫy cho ba và vài con cho anh em nó, còn mình lặng lẽ lựa trong mớ đầu cá, đầu nào còn tươi còn ngon đem kho cho mình, cá dành cho heo thử hỏi cái nào còn ngon (?!).
Một trận thì oan ức.
Tóc quá dài, cô giáo nhắc mấy lần nó giả tảng lờ, không biết cách nào kiếm tiền mà xin má thì ngại quá. Cô giáo hăm lần cuối: “Em không hớt cô gởi giấy về mời phụ huynh lên đó”. Nó vắt óc suy nghĩ rồi nảy ra một ý, đi học về ghé vô tiệm hớt tóc ông Tư bạc, tiệm không có khách, ông Tư ngả người trên ghế ngáy khò khò, nó ngồi đợi, quá giấc trưa có lẽ tới giờ đói ông Tư thức giấc, thấy nó ông hỏi:
“Hớt tóc hả nhóc con, sao hông kêu ông dậy?”.
“Dạ, con thấy ông ngủ ngon quá”.
Ông Tư tiếp:
“Nhưng chờ ông về ăn cơm cái đã”.
“Dạ, ông ăn cơm lẹ lẹ nghe ông, con chờ ông oánh cờ…”
Nghe tới oánh cờ, “món” khoái khẩu của ông, ông mê lắm nên phủi tay luôn:
“Oánh cờ hả, oánh luôn, cơm nước từ từ”.
Nó cũng muốn oánh cho nhanh để còn hớt tóc rồi về:
“Nhưng con có giao kèo”
Ông Tư lấy bàn cờ ra:
“Nói nghe coi”.
“Dạ, oánh ba ván, nếu con thắng, ông hớt tóc cho con hông lấy tiền, con thua con mới trả”.
Ông Tư gật gù:
“Được”.
Bàn cờ được sắp ra, ông Tư nhường nó đi trước, cùng dàn trận nhanh cấp kỳ rồi từ từ ông Tư chậm dần, suy đi tính lại từng nước đi. Cuối cùng ông thắng, ván đầu tiên coi như nó đi tong. Nó tự dặn mình phải chậm rãi, không được lơ là bởi phân tâm lúc chờ ông Tư. Ván thứ hai lấy lại quân bình, một đều. Ván thứ ba tiếp tục xảy ra căng thẳng, nó tập trung hết mức, nếu thua ván này thì toi mạng à. Ông Tư bóc con xe vượt sông thẳng tiến, thấy ông bị hở sườn nó với tay định bóc con xe phản công, ông Tư ngăn lại:
“Khoan khoan, hông đi con đó”.
Ông Tư đi con khác, lát sau tới nó đi trật nước cờ ông Tư cười khà khà:
“Chiếu bí nghe con”.
Nó giựt con cờ lại:
“Khoan, con đi lại nước này”.
Ông Tư trợn mắt:
“Thua rồi, đi lại cái gì”.
Nó sấn cổ cãi:
“Thì hồi nãy ông cũng đi lại đó, nếu hông con đi nước nữa là chiếu ông rồi”.
Ông Tư gãi đầu:
“Ờ… ờ… thì… thì đi lại đi”.
Chơi một chập nữa nó chiếu bí, ông Tư bực tức hết xưng con:
“Ván này hông được mày, huề đi, chơi lại ván mới”.
Nó nhìn mặt trời, trời đã quá xế nhưng nó cũng chẳng biết làm sao đành gật đầu:
“Nhưng lần này hông có đi lại đì gì hết nghe ông”.
Ông Tư rổn rảng:
“Hạ thủ bất hoàn, oánh lại ba ván, hông như ba ván hồi nãy”.
Thấy ông Tư không về ăn cơm, con ông đơm một cà mèn xách ra, gặp ông oánh cờ, chị này nói:
“Trời, ba oánh cờ quên cơm luôn, thôi ba nghỉ chút để đói à”.
Ông Tư ậm ờ:
“Ờ để đó, tao ăn giờ”.
Ba ván tiếp theo tỷ số là 2-1 nghiêng về… nó. Nó mừng rơn dợm đứng dậy bước vô ghế hớt tóc, ông Tư đập tay vô bụng:
“Khoan mày, tại tao đói quá… run tay chớ dễ thua hả, ba ván nữa mày”.
Nó tui nghỉu:
“Con cũng đói vậy, ông chơi… ăn gian”.
“Ăn gian hồi nào, mày ăn gian thì có, tao đói nói tao đói”.
Hai mái đầu, một bạc trắng, một còn xanh… non còn cãi qua lại một chập nữa, biết khó thay đồi ý ông Tư, lỡ ông hông chịu hớt tóc cho thì khổ, nó dịu dọng:
“Thôi, oánh ba ván nữa, nhưng ông ăn cơm đi để hồi ông đổ thừa”.
Ông Tư gạt ngang:
“Oánh tiếp, tao hết đói rồi, hạ thủ bất hoàn nghe mậy”.
Chú Tám Phèn ghé vô tiệm hớt tóc ông Tư:
“Chú Tư hớt cho con cái tóc”.
Ông Tư ừ, à:
“A… a, mai đi Tám”
Chú Tám hỏi lại:
“Sao giờ hông hớt, mê cờ quá hả”.
Ông Tư không ngẩn mặt lên:
“Làm gì có, tại… tại… gởi cái dao cạo… đi mài rồi, mai mới lấy, hớt hông cạo coi sao được”.
Chú Tám nửa tin nửa ngờ nhưng thấy ông Tư chăm chú vào ván cờ quá nên thôi:
“Dạ, thôi mai con ra, chà thằng nhỏ con anh Hai oánh cờ cũng dữ hen, dám oánh với ông Tư”
Nó cười cười:
“Dạ, oánh cho vui chớ con oánh dỡ ẹt”.
Hai ván tiếp theo bất phân thắng bại, lại là 1-1. Ván thứ hai oánh trong trời nhá nhem cho tới hết thấy đường, chuẩn bị ván thứ ba, nó đứng dậy:
“Dạ, thôi coi như huề, con về” – và nó chờ trận đòn.
Ông Tư lần chần, rồi đứng dậy đốt cây đèn dầu:
“Khoan, vô đây ông hớt nhanh cho rồi về”.
Ngồi lên ghế mà lòng thấp thởm, hớt xong nó lóng ngóng:
“Dạ… dạ… con hông có tiền”.
Ông Tư cười xuề:
“Ông hông lấy tiền, biết bây làm gì có tiền…- ông Tư được nước nói luôn – Ông thả cho bây đó chớ”.
Nó mừng quýnh chạy biến trong bóng tối nói với lại:
“Bữa nào rảnh con ghé oánh cờ với ông Tư”.
Nhưng nó vẫn không thoát trận đòn vì cái tội đi biền biệt.

***

Mỗi lần bị oánh đòn đau thì có đau nhưng thường hay được bù cho những thứ khác sau đó như dành cho sẵn nguyên con cá tươi ngon trong bữa cơm, nấu chén chè chén cháo… Gắp con cá cho mà má nó rưng rưng, nó cũng vậy, biết má nó đâu muốn oánh chỉ vì quá nóng giận và trong hoàn cảnh này khó có thể không bực tức. Cá chè… nó khoái lắm nhưng khoái nhứt là tối đến được má cho gát đầu trong lòng nằm trên bộ phản để má mân mê tuốt trứng bắt chí trên đầu, đã ngứa và êm ái vô cùng và lại còn được nghe tiếng ngâm nga những câu ca dao, những bài hát dân ca, có những bài mà mãi về sau này nó không thể quên:

“Ngó lên hàng kẽm Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi
Thương cha nhớ mẹ thì về
Nhược bằng thương cảnh nhờ quê thì đừng”.

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”.

“Ngó lên hàng núi cao măng
Thấy ba ông đội cởi trần nấu cơm
Một ông xách chén đòi đơm
Hai ông ứ hự nồi cơm đương vần”

“Đói lòng ăn nửa trái sim
Uốn lưng bát nước đi tìm người thương
Người thương ơi hỡi người thương
Đi đâu mà để buồng hương lạnh lùng”…

Má nó như cái kho tàng chứa ca dao dân ca, tục ngữ, bài vè, câu hò câu hát, hát đối hát bội… phải nói nhiều như trứng như chí trên đầu nó. Nó chẳng mắc cỡ vì điều này, ai ai từ lớn tới nhỏ lại không vậy, nó còn ít hơn đó chớ. Nhiều đứa trứng trắng đầu, trứng no tròn bóng lưỡng đi trong nắng mà thấy ánh lên những tia phản chiếu, có đứa đang học ngứa quá, lấy tập để trước mặt, tay quào quào cào cào mái tóc là chí rớt lộp độp xuống, ấn ngón cái giết kêu lốp bốp. Lại có đứa chí mén nhỏ xíu len lỏi trong từng chân tơ kẻ tóc rất khó bắt, khó chải rơi rụng hết bị cắn ngứa quá gãi tróc da đầu thành ghẻ chóc lục cục đầy. Có đứa phải cắt tóc sát nhưng thành lỏm chỏm để trị ghẻ, cạo đâu có được. Còn có chuyện rùng rợn, có đứa em của thằng nào đó mà nó không dám nhớ tên đau nhứt cái ghẻ chóc trên đầu quá, đứa anh gở mày ghẻ thì thấy cái chấm trắng ngỡ là mủ nhưng nặn hoài không ra, cưng cứng và lâu lâu nhúch nhít, kiếm được cái nhíp khựi và gắp ra thì muốn té ngửa, là con dòi, trời ơi nó đóng xung quanh sắp lớp một dề, gắp ra gần cả chục con, nghe muốn ớn lạnh hơn cảm cúm. Chí nó sanh và lây lan lẹ làng kinh khủng trong khi xà bông nào có, có được xà bông cục 72% cứng như đá hay hộp xà bông kem màu xam xám sền sệt để giặt giũ, ai lấy gội đầu tóc cháy vàng hoe như râu bắp. Nhiều người lấy sáng kiến từ cách giã than nhuyễn hay cát để rửa chén với sơ mướp khô cho bớt dầu bớt mỡ, bỏ lên đầu mà gội nhưng có mấy công hiệu gì, tội tình thêm, rồi tìm kiếm lá này lá nọ nấu nước tắm gội mà trị. Lâu lâu dì nó gởi ra ít đồ trong đó có cục xà bông gội Camay hay Lux là mấy chị nó nhảy chân sáo cất kỹ đâu tới lượt mấy nhóc con. Ôi thôi! đâu chỉ vụ chí đã khổ không đâu, lại sanh đâu ra rận rệp, rận rệp trong ngóc ngánh nào trên giường, trên mùng mền, chiếu gối nó cũng chui rúc ẩn mình được, chờ chực đêm về có hơi người là mò ra mà chích, mà hút máu, rận rệp sanh cũng không thua kém gì con chí. Dăm ba bữa phải đem vạt giường, chiếu gối… ra sân nắng đập giũ và phơi, sanh nhanh quá cách bình thường giết bằng tay trị không nổi phải dùng tới thuốc rày mà phun mà phết, nhà cửa vương vấn cái mùi nồng nặc của thuốc, thuốc rày độc hại khỏi phải nói, vậy mới giết

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU