Bẻ Gãy Gươm Nhìn Lịch Sử Quay

phamhongan

Đêm nay trời bỗng dưng trở lạnh
Đất ẩm mù sương buổi lập đông
Ta chợt soi đời trong gương vỡ
Ngờ đâu đánh mất một làn hương

Ta là kiếm sĩ sầu sông núi
Bẻ gãy gươm nhìn lịch sử quay
Em nuôi hèn mọn thân cổ thụ
Đành ngó hư không tiếng thở dài

Ta đốt lửa lên ngồi ngắm biển
Lập lòe sóng bạc liếm đêm thâu
Rót ly rượu nhớ thời chinh chiến
Khuấy động mười phương một nỗi sầu

Ta đốt than hồng hâm nóng lại
Khơi dòng nhật nguyệt ngậm ngùi trôi
Giang hồ đành gác đường gươm bại
Hào khí chơi vơi đáy vực đời

Phạm Hồng Ân

Hư không

chieuanhnguyen

Em đưa em về đến cuối trời
nơi không ảo vọng không mây trôi
tiếc hồn rải khắp chân trời cũ
tiếc câu hẹn ước với thề bồi

Em đưa em về chốn tuyệt tình
nơi không lệ nhỏ không hi sinh
không rung động mắt môi run rẩy
không chén rượu sầu lúc tàn canh

Em trả lại em góc mê này
trả đời hi vọng níu ngàn mây
trả khuya vàng vọt chăn chiếu mỏng
trả hận trả yêu trả đổi thay

Chút gì đọng lại chốn thư phòng
chút gì như máu rỏ về sông
chút gì như chút yêu đương cũ
coi như trả nợ với hư không.

Chiêu Anh Nguyễn

CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (TT)

ledachoanghuu

…Ba tháng sau ngày khánh thành con đập, hồ tích đầy nước. Còn thằng Chí nhận được hai giấy báo, một giấy báo đậu đại học, một giấy báo… bị đuổi việc. Nữa tháng sau nó cũng nhận được giấy báo, giống giấy báo sau của thằng Chí. Nhưng hai đứa bị đuổi thì không liên quan gì với nhau.
Kèm với tờ giấy báo đuổi việc thằng Chí còn bị một trận đòn nhừ tử. Vài ngày sau nó mới biết được lý do ngay từ người đánh nó, một tay quậy phá xóm làng gần huyện, tay này ăn năn kiếm gặp hai đứa nó mời bằng được ra quán nhậu một chầu, tay tên Chiến lưu linh. Ra quán nhậu, Chiến lưu linh đẩy bộc thuốc bự trên bàn qua thằng Chí:
“Cho anh xin lỗi thằng Chí, trong này đầy đủ thuốc uống, thuốc xoa bóp anh cất công trèo núi lên chùa xin về coi như tạ lỗi, anh vì chút tiền mà chẳng tìm hiểu kỹ, cứ nghĩ cha đó nói thiệt, đâu ngờ chả ba xạo, mong tụi em bỏ qua”.
Thằng Chí hỏi lại:
“Cha nào?’.
Chiến lưu linh rót rượu, gắp mồi vô chén tụi nó:
“Cạn ly đi nghen, ủa mà tụi em hông biết gì sao?”.
Thằng Chí lắc đầu, cả ba cùng cạn, Chí lưu linh nói tiếp:
“Là cha sếp của em đó”.
Hai đứa nó giựt mình, thằng Chí trợn mắt:
“Anh đừng nói bậy”.
Chiến lưu linh khoát tay liên tục:
“Hông nói bậy à nghen, anh nói bậy ông Trời oánh Thánh vật à”.
Nó xen vô:
“Chuyện thế nào, anh nói đi”.
Chiến lưu linh chậm rãi:
“Cha đó nói bữa em gặp chả xin đi học lớp theo tiêu chuẩn phòng phải hông?”.
Thằng Chí gật đầu:
“Phải, ổng hông cho đi, ổng nói hông có người làm”.
Chiến lưu linh cười khẩy:
“Làm gì có vậy, chả sợ thì có”.
“Sợ gì, ổng là thủ trưởng mà?”.
Chiến lưu linh tiếp tục cười:
“Chả hông có trình độ phải hông, chả sợ thằng này học về chả sẽ mất ghế”.
“Đúng rồi, chả chỉ có cái bằng bổ túc lớp chín, đang bổ túc tiếp, mà học hành khỉ gì bổ túc đó, đi cho có vài năm có cái bằng”.
Nó thắc mắc:
“Nhưng hổng lẽ chỉ vậy mà oánh thằng Chí?”.
Chiến lưu linh lắc đầu:
“Đâu chỉ vậy, người ta hông có học chớ có mưu mô đầy mình, oánh thằng Chí là mũi tên trúng hai đích, chả yêu cầu anh oánh cho nhập viện lâu lâu, thằng này có lành bịnh cũng đâu còn chỗ, đã có người khác thế, coi như nhổ được cái gai, hai là báo công được với cấp trên”.
Thằng Chí hỏi lại:
“Báo công?”.
“Ờ, tụi em bị mất trộm sạch sành sanh đúng hông?”.
Hai đứa nó gục gật, Chiến lưu linh đưa ly rượu cụng:
“Thiệt ra là giả đó, chả vô phòng hai đứa tình cờ hay sao chả có được tấm ảnh chụp xe chở vật liệu cho mấy cha cán bộ gộc, chả dàn ra cuộc trộm đó, tụi anh dọn sạch, đưa chả hết xấp ảnh, còn lại tiền bạc, tư trang chả biểu tụi anh chia nhau, có cả cái máy ảnh nè, giờ tụi anh xin trả lại hết”.
Thằng Chí cầm cái máy ảnh Chiến lưu linh đưa trả mà ngèn nghẹn, nó bật ra:
“Cha này đểu quá”.
Chiến lưu linh hất hàm:
“Ờ, mà chưa hết, ba mũi tên chớ hông phải là hai, chả móc nối với kiểm lâm luôn, thằng Chí được phân công vô rừng tìm hiểu về lâm tặc chớ gì, sau khi oánh đổ vạ cho lâm tặc, tụi anh rút êm thì kiểm lâm xuất hiện, có công đưa thằng này về rồi thêm công chặn bắt được lâm tặc khét tiếng, chống trả người thi hành công vụ, giải thoát cho phóng viên, được viết lên mặt báo đó, nhưng có nêu tên thằng lâm tặc nào đâu, được nhận bằng khen, có tiền thưởng ăn nhậu hà rầm”.
Hai đứa nó ngao ngán:
“Phải nói là xảo quyệt”.
Chiến lưu linh thấy lạ hỏi:
“Ủa nhưng mà sao em lại bị đuổi, đâu có nằm nhà thương, đâu có nghỉ nhiều, chỉ hai ba bữa mà?”.
Thằng Chí cười khảy:
“Họ đã xảo quyệt thì bằng mọi cách, thua keo này bày ngay keo khác”.
Nó gục gật:
“Đúng vậy đó anh Chiến, họ muốn đuổi cho bằng được mà, họ bươi móc tìm ra tội, họ lục bài viết của thằng này đời nảo đời nao, lúc đó chẳng nói gì, giờ gán ghép tội”.
“Viết cái gì mà đến nổi vậy?”.
“Cũng viết về rừng rú, về những người đi làm rừng, những người bị cho là phá rừng, đại ý là hỏi những người làm rừng thì người ta trả lời, tui đâu có phá, phá là phải chặt xuống bỏ đó cho hư cho mục, nhưng vì nghèo đói, hai mùa mưa nắng, mùa nắng chẳng còn biết làm gì phải vào rừng làm củi làm gỗ để nuôi thân nuôi gia đình, có thể là khai thác trái phép, khai thác hông đúng nhưng có thấy ai hướng dẫn, khai thác như thế nào, làm ra sao, chỉ thấy kiểm lâm vây bắt rồi xong”.
Chiến lưu linh uống cạn rồi khà một tiếng:
“Nói có lý mà”.
Nó chen vô:
“Mình thì thấy có lý, nhưng họ cho là đâu có lý, họ cho ngược lại là thằng này sai quan điểm, sai lập trường, tư tưởng có vấn đề, a dua theo dân phá rừng mà viết, hết họp cơ quan kiểm điểm, là ngày ngày được tuyên giáo mời làm việc, nói đủ điều, nhiều người giáo huấn làm sao chịu nỗi, thằng này còn tâm trí đâu mà làm việc, công việc bỏ bê chẳng hoàn thành, vậy là cái kết cục thế nào ai cũng rõ”.
Chiến lưu linh thở hắc:
“Thua với tiểu nhân thâm độc”.
Nó bực tức:
“Nhưng hổng lẽ thua, nhân chứng vật chứng đầy đủ hết mà”.
Thằng Chí đưa ly cụng rồi uống cạn:
“Có cũng thua thôi, vật chứng mất hết rồi, họ đã vậy sẽ làm mọi cách, họ lại đông cấu kết với nhau, chuyện gì họ hông dám làm, nguy hiểm tới tính mạnh anh em chớ giỡn, bỏ qua thôi, với lại tao tự đi thi, đậu rồi nên đi học thôi”.
Chiến lưu linh đồng ý:
“Có lẽ vậy là tốt nhứt”.
Nhấm thêm ngụm rượu Chiến lưu linh chỉ nó hỏi tiếp:
“Ủa, còn em sao bị đuổi. có dính dáng gì với thằng Chí?”.
Nó lắc đầu:
“Chuyện em khác, hông dính gì với thằng Chí”.
Nó kể, một bữa về nhà thì hay tin, ông Thành sẹo về lại thị xã, ông ta đem căn nhà và miếng vườn ngày nào năn nỉ ỉ ôi cho ở sang nhượng cho người khác, không một lời với gia đình nó và chính chú Tư râu ký giấy cho ông này chuyển lên xã, xã chứng nhận. Nó tức mình đi tìm chú Tư râu hỏi cho ra lẽ, chú Tư râu trốn biệt không dám giáp mặt lại đưa vợ ra tiếp tục năn nỉ, ông Thành sẹo này thiếu nợ hợp tác xã, hợp tác xã sang nhượng để cấn trừ. Nó tìm hoài hông được, một phút nóng giận đã giựt sập cái chái nhà, vậy là bị ghép tội manh động, xã nhốt cho tuần lễ, báo lên huyện, còn tư cách nào mà làm việc, nhận giấy báo cho về vườn.
Thằng Chí hậm hực:
“Thằng cha Tư râu cũng là hạn tiểu nhân, ngày trước gia đình nó cưu mang cho làm thuê làm mướn kiếm cơm. Sau có cơ hội là trở quẻ, một hạng với Thành sẹo, một hạng với cha sếp của tao”.
Chiến lưu linh lắc đầu:
“Tiểu nhân sao quá nhiều, cứ tưởng mình đã là tiểu nhân có người còn tệ hơn nữa”.
Nó rót đầy ba ly rượu, thở một tiếng mạnh:
“Thôi, bỏ qua bên hết đi, uống rượu chơi, coi như kết thúc thêm một tập”.
Cả ba nâng ly, miệng cười mà lòng man mác…

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

Gãy Khúc Âm Đời

phamthicucvang

Có gì đâu, gì đâu
Khóc cá chậu chim lồng
Ca sông dài, biển rộng
Trùm chăn trái tim đông?

Có gì mơ, mà mơ?
Nguệch ngoạc chữ tình hờ
Giọt vào đêm nhức buốt
Lạnh lẽo ngón tay thơ

Có gì đâu, tình yêu?
Nắng đã ngả bóng chiều
Trăng lùi mau về sáng
Vò võ cái đăm chiêu

Có gì đâu, anh ơi!
Nhặt úa lá vừa rơi
Cầm chắc tình yểu mệnh
Gãy khúc điệu âm đời.

phamthicucvang

MỘT HÔM TA LẠI THẤY TA

nguyenngocnghia

Một hôm đuổi bóng bên triền núi
Thương bờm xơm râu tóc mịt mù
Bóng cứ đi, chỉ ta ngoảnh lại:
Gã bụi đời khoác áo nhà tu

Một hôm lãng đãng cùng mây trắng
Bỗng thấy buồn lơ lửng ngọn cây
Tình quá nhỏ trong trời tịch diệt
Ta với người ngàn năm mây bay

Buộc công danh treo lên gác bếp
Học người xưa mài kiếm dưới trăng
Nằm xó nhà mơ đời hành hiệp
Tráng sĩ hề cũng lụy áo cơm

Một hôm thẩn thơ quanh phố chợ
Chân thấp chân cao hụt dốc đời
Giang hồ dăm bước quanh lỗ rốn
Cũng tập tành gió bụi rong chơi

Có lúc thu mình như sâu kén
Gặm cô đơn mặc thời thế quay
Ẩn sĩ hề
nhớ câu hò hẹn
Không đành
dù chỉ chút tình phai

Nguyễn Ngọc Nghĩa
(4.2016)

SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT (CHƯƠNG 5)

duyenanh

10 giờ 40, mười phút sau lệnh đầu hàng cộng sản của Dương văn Minh, Đặng Xuân Côn và tôi ra vỉa hè trước cửa nhìn Sài gòn chờ đợi cộng sản vào. Tại sao chưa đánh đã đầu hàng? Tôi nghe rõ câu hỏi nghẹn ngào đó trong những ánh mắt ngơ ngác của người Sài gòn quanh tôi. Trời hết âm u, nhưng vẫn chưa có nắng. Vẫn thiếu nắng vàng rực rỡ. Dân Xóm Lách kéo lên. Lề đường Công Lý, gần nhà tôi đông nghẹt. Dẫu lòng ngổn ngang bối rối, tôi còn chút hạnh phúc trên những khuôn mặt buồn bã của đám dân “vô sản” Xóm Lách. Không một nụ cười. Khó tìm ra niềm hân hoan. Ngay cả những người đã truy nã kỹ thân phận mình, sự nghiệp của mình ròng rã hai mươi năm Việt Nam cộng hòa, thấy chẳng dính líu gì tới “nợ máu” với cộng sản, cũng hồi hộp vì “biển máu.” Chưa bao giờ tôi thấy, kể từ nhận Sài gòn làm quê hương, một cảnh tượng Sài gòn não nề đến thế. Tôi có cảm tưởng Sài gòn đang sợ hãi cơ hồ tôi đang sợ hãi, cơ hồ mọi người đang sợ hãi. Xe cộ ngưng chạy. Những gia đình có “máu mặt” rút hết vào nhà. Cổng đóng kín mít. Cửa sổ gác cao he hé mở. Ai đã nhìn tôi qua ô cửa kính mắt lệ mờ?
Tôi sinh ra ở miền Bắc, thị xã nhỏ bé, êm đềm Thái Bình. ấu thơ của tôi, trải dọc theo hàng cây hồi thấp và vương vấn cùng khắp cầu Bo. Niên thiếu của tôi lãng đãng vùng trời Hà Nội. Tôi khôn lớn ở Sài gòn. Sài gòn cho tôi những bước xuống đời cay đắng để tôi làm cuộc đời tôi Sài gòn cho tôi tình yêu, cho tôi thi ca, cho tôi tiểu thuyết. Công sinh không nặng bằng công dưỡng. Sài gòn đã nuôi dưỡng tôi. Sài gòn là mẹ tôi. Mẹ Sài gòn săn sóc tôi hai mươi năm. Tôi đã làm gì cho Sài gòn? Đã làm gì, vẫn chưa đủ, vẫn chỉ mới là cái hữu hạn trong cái vô hạn. Bây giờ, đứa con phóng đãng ôm ghì mẹ mình bằng đôi tay rời rã, nước mắt ròng ròng. Đứa con bất lực, đứa con hèn hạ, đứa con khiếp nhược, đứa con mải rong chơi nỡ để mẹ mình lạc vào tay thù. Mà chỉ biết khóc. Mà chỉ rên rỉ Mà chỉ luyến tiếc hàng me xanh, ghế đá công viên và những cuộc tình phù phiếm. Tôi hiểu những giọt nước mắt của tôi vô nghĩa, chẳng dám khóc, chẳng thiết khóc, mà mắt tôi cứ căng mọng và lệ cứ rơi. Tôi đã biết khóc vì Sài gòn, vì một thành phố kỷ niệm.
Một toán quân xuất hiện. Quân ta. Tôi đếm: 19 người. Mười chín người lính, mười chín người chiến sĩ, đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun, máng súng trên vai, mũi chúc xuống, mặt cúi gầm, lầm lũi bước. Tối hôm qua, tôi đã thấy quân ta ngang qua đây. Quân ta và xe tăng. Hình ảnh người lính sửa xích tăng đã in vào tiềm thức tôi. Tối hôm qua, tôi đã thấy tướng Vĩnh Lộc chủ chiến. 10 giờ 30 hôm nay, tôi nghe Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng. Và, sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, tôi lặng người ngắm toán quân chiến bại. Cảm giác đầu tiên của tôi là ngậm ngùi. Tôi nhớ một câu thơ của Corneille: “ô cruel souvenir de ma gloire passée” mà Thế Lữ cảm hứng viết: “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu? Thời oanh liệt đâu? Những chiến tích rực rỡ dội vang sông núi của quân lực Việt Nam cộng hòa, những chiến tích làm bàng hoàng thế giới, làm vỡ mộng xâm lược của cộng sản, nay còn đâu? Tôi không bao giờ quên người Do Thái đã bầy tỏ công khai với nhân loại rằng, họ mơ thành người An Lộc. Tôi vốn không ưa các chế độ, các nhà lãnh đạo, một số tướng lãnh bất tài vô học, tham nhũng của miền Nam sau 1963, nhưng, luôn luôn, tôi yêu mến và cảm phục quân đội. Chế độ đã xóa bỏ chế độ, lãnh đạo đã hạ bệ lãnh đạo, quân đội tồn tại như quê hương. Bởi vì quân đội bảo vệ quê hương. Quân đội không phải là công cụ riêng của chế độ, của lãnh tụ. Một số tướng lãnh hèn mạt, vì quyền lợi cá nhân, vì địa vị khốn kiếp, đã bán mình cho chế độ, cho lãnh tụ để bán xương máu của quân đội và làm nhạt nhòa cái kiêu sa của người lính. Kẻ bán xương máu của lính nhiều nhất, kẻ dùng quân đội làm thang lưng leo lên danh vọng là Nguyễn văn Thiệu.
Bây giờ, Thiệu đã bỏ đi. Cao văn Viên đã bỏ đi. Vô số tướng lãnh đã đào ngũ chạy trốn. Dương văn Minh đã đầu hàng. Quân đội tiếp tục chiến đấu. Quân đội sẽ tiếp tục chiến đấu, nếu Dương văn Minh không hám cái hư vị “tổng thống miền Nam trung lập” đến nỗi thỏa hiệp với cộng sản. Tham vọng bằn tiện của Dương văn Minh còn là tham vọng của vài ông tướng, vài ông nghi sĩ, vài ông dân biểu “nhất định” ở lại làm Tổng trưởng. Bùi Tường Huân là một thí dụ. Những người khác đã đi học tập cải tạo, đã vượt biên sang âu châu, Mỹ châu thì xin miễn kể tên, sợ mất ép-phê chống cộng của quý vị ấy.
Thế giới đã thiếu sự công bình tối thiểu để khắc nghiệt lên án sự tan hàng bệ rạc của quân đội ta. Họ không thèm quan tâm tới sự tôn trọng kỷ luật tối đa của quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân đội không tuân lệnh đầu hàng của Dương văn Minh mà tuân lệnh đầu hàng của vị Tổng thống nước Việt Nam cộng hòa kiêm Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân đội nước nào cũng thế cả, trừ trường hợp người ta làm cách mạng, làm đảo chính lật đổ Tổng thống. Tôi yêu quân đội của đất nước tôi. Tôi không xuẩn ngốc phán xét quân đội. Tôi có bổn phận ngưỡng mộ quân đội quốc gia. Và tôi đau đớn nhìn quân đội của tôi đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun, máng súng trên vai, mũi chúc xuống, mặt cúi gằm, lầm lùi bước. ông Nguyễn văn Thiệu không chứng kiến thảm cảnh này. Các ông tướng đào ngũ không chứng kiến thảm cảnh này. Tôi nghĩ các ông ấy chẳng nên nói về quân đội, nhắc đến quân đội nữa.
Một bà mẹ hớt hơ hớt hái, từ dốc chợ Xóm Lách, chạy lên đuổi theo toán quân, (tôi quả quyết quân đội ta không thua trận. Quân đội ta mãi mãi chiến thắng, mãi mãi anh dũng. Chế độ Nguyễn văn Thiệu thua trận, các ông tướng đào ngũ thua trận và chính sách Mỹ ở Việt Nam thua trận). Bà mẹ già ôm chặt lấy một người lính:
– Mày đi đâu nữa con? Sao không về nhà? Hết chiến tranh rồi, hòa bình rồi. Về thôi, con?
Người lính cố gỡ nhẹ tay mẹ mình ra:
– Con không thể về được. ‘
Bà mẹ khóc. Bà mẹ khóc tức tưởi:
– Sao vậy? Có lệnh hàng rồi mà.
Người lính lắc đầu:
– Con không thể về được.
Toán quân đã băng qua ngã tư Công Lý – Yên Đổ. Bà mẹ vẫn níu chặt người con chiến sĩ lại:
– Mày đã đi đánh nhau bao lâu nay, có được hưởng gì đâu?
Người lính nghẹn ngào:
-Con không thể nào bỏ các bạn con.
Bà mẹ rên rỉ:
-Bỏ hết, bỏ hết đi con, về với má, không sao đâu.
Người lính gỡ mạnh tay mẹ mình ra:
– Má về đi, con phải theo các bạn con.
Người lính chạy nhanh để bắt kịp các chiến hữu. Bà mẹ đứng bên đường mắt đẫm lệ, nhìn theo con mình…
***
– Rồi người lính có về không?
Đó là câu hỏi của ký giả Patrick Sabatier của nhật báo La libération đã đến tận nhà tôi ở Ivry sur Seine phỏng vấn tôi để làm số báo đặc biệt cho ngày 30-4-1985. Tôi đã kể câu chuyện trên nhằm trả lời câu hỏi “Điều gì còn làm ông nhớ Sài gòn nhất”?
– Tôi không biết, ông Patrick ạ! Sau 6 năm tù đầy trở về, tôi hỏi thăm người Xóm Lách, được rõ là bà mẹ còn sống, và người con vẫn biệt tăm…
– Anh ta đi đâu?
– Tôi nghĩ rằng anh ta đi làm cuộc chiến đấu mới, không cần viện trợ Mỹ, cố vấn Mỹ và lính Mỹ. Dân tộc tôi cần thiết cuộc chiến đấu mới mẻ này.
– Tại sao?
– Nó mới đích thực là cuộc chiến đấu của dân tộc tôi nhằm tiêu diệt chế độ cộng sản, chủ nghĩa cộng sản để giành lại tự do, dân chủ, độc lập cho Việt Nam. Cuộc chiến đấu mới của dân tộc tôi loại bỏ hết tay sai của Mỹ, của ngoại bang. Như thể, chúng tôi gọi là một cuộc chiến đấu có chính nghĩa, tuy cô đơn, lãng mạn nhưng tổ tiên chúng tôi đã lãng mạn, cô đơn chiến đấu.
-Rất đẹp, rất cao quý.
– Ông ủng hộ cuộc chiến đấu mới của chúng tôi chứ?
-Vâng, tôi hết lòng.
Số báo đặc biệt của La libération, một tờ báo khuynh tả, xuất bản ngày 30-4-1985 viết về Việt Nam đã như gáo nước lạnh hắt vào mặt đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Số báo này có đăng thêm một đoạn trong bài thơ Sài gòn ra đường của tôi trên trang nhất.
***
19 người lính đi tới đâu, đi về đâu, tôi không biết. Hình ảnh bi thảm của họ khiến lòng tôi se lại nhưng cũng sưởi ấm tâm hồn tôi. ít ra, tôi còn được tự hào là người Sài gòn, người miền Nam. 19 người lính quốc gia đã anh dũng chiến đấu cho tới phút giây nghe lệnh đầu hàng. Vẫn 19 người lính này, biểu tượng của quân lực Việt Nam cộng hòa bất khuất, tháo bỏ quần áo Mỹ, giầy nón Mỹ, tiếp tục chiến đấu sau lệnh đầu hàng. Tôi đã thèm sống hèn, càng thèm sống hèn hơn. Để nói lên được cái hào hùng của người lính, cái tâm sự não nề của người lính, những con người không được phép chiến thắng, những con người bị tước đoạt quyền chiến thắng cộng sản. Thế giới đã không có hân hạnh nhìn 19 chiến sĩ Việt Nam. Thế giới đã không có hân hạnh nghe người lính giã từ mẹ mình lên đường nhập cuộc chiến đấu mới. Thế giới, cái thế giới mù lòa, điếc, ngọng đã bảo chúng ta thua trận đã miệt thị quân đội chúng ta tan hàng bệ rạc. Tôi đợi, tôi đã đợi, tôi đang đợi những kẻ tự nhận mình sống hùng viết những trang tâm sự của người lính sau 30-4-1975.
Thú thật, tôi đã chai lỳ từ dạo cắm sừng nhọn vào đầu đề đương đầu với cuộc đời và người đời. Thế mà tôi còn khóc được hôm nay, khóc như kẻ mau nước mắt nhất. Giống hệt người mẹ anh lính, tôi cũng mắt đẫm lệ nhìn theo anh ta.
– Buồn quá hả, Long? Côn hỏi.
-Buồn hơn một chuyện tình buồn trong tiểu thuyết. Tôi nói.
-Nếu mày còn sống và có cơ hội viết nhỉ?
– Ở đâu?
-Mỹ.
– Ông mơ mộng hơn cả tôi rồi.
– Sống phút nào mơ mộng phút ấy.
11 giờ, đường Công Lý nườm nượp những người đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun cắm cúi rảo bước. Nhiều người chạy. Đó là lính, là sĩ quan của chúng ta. Họ đã liệng súng đạn. Họ về nhà mình, nhà thân nhân của mình. Khuôn mặt họ, sự sợ hãi pha trộn sự phẫn nộ. Dân chúng hai bên đường im lặng. Không một nụ cười rè bỉu. Không một ánh mắt khinh khi. Người ta đã thù ghét chế độ, thù ghét Nguyễn văn Thiệu và tập đoàn thống tri tôi mọi cùng đám tướng lãnh dốt nát, hống hách nhưng chẳng bao giờ người ta thù ghét quân đội* . Chỉ thiếu những tiếng hoan hô nồng nhiệt, những tràng pháo tay bất tận như những lần quân ta chiến thắng sau mỗi chiến dịch trở về thành phố. Tiếng nhạc quân hành, tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay, lúc này, là tiếng vỡ của trái tim, tiếng nứt của mạch máu, tiếng rơi của nước mắt. Lúc này, cả thành phố thấy mình chiến bại, cả thành phố chia xẻ nỗi đau chiến bại, bởi vì, những kẻ đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun là anh, là chồng, là cháu, là em của người Sài gòn. Của Sài gòn. Có phải khi người ta đã quá sợ chết thì người ta hết biết mình sợ chết? Tôi bỗng quên nỗi sợ chết của tôi. Hoặc là tôi đã chết rồi, linh hồn tôi đậu trên chân đất của người lính tìm về nhà mình. Người lính ấy, hai mươi năm ròng rã đứng giữa biên giới sống chết, hai mươi năm chưa một lần cúi đầu, nửa tiếng đồng hồ trước vẫn ngẩng mặt và, lúc này… Tôi hết biết mình sợ chết. Hơn cả thế, tôi biết mình nên sống hèn, không nên sống hùng để cùng bị chết hèn lãng nhách.
-Côn!
-Hả?
-Ông nhớ sau hôm đảo chính 1945 chứ?
-Nhớ.
-Thực dân Pháp đã chạy dài, đã lột bỏ quần áo, giày vớ, đã chân đất, đội nón mê cắm cúi bước. Đã bị phát xít Nhật truy lùng.
– Chúng ta đứng bên kia cầu Bo nhìn các ông Tây kéo xe bò chở đất, các bà Đầm khóc sướt mướt và phát-xít Nhật cười hoan hỉ.
-A, chúng ta đã vỡ lẽ chiến bại và chiến thắng từ năm mười tuổi.
Chúng tôi trở vào nhà, đóng cổng kỹ lưỡng. Chuông điện thoại reo vang. Tôi nhấc máy.
– Alô, alô, tôi muốn nói chuyện với Duyên Anh.
-Chính tôi.
-Phạm Lê Phan đây…
Phạm Lê Phan, nhà văn, nhà thơ, tác giả nhiều truyện ngắn đăng rải rác trên các tạp chí Bách Khoa. Chi Đạo từ 1960 là bút hiệu của thượng sĩ Phạm văn Kiệm, phục vụ tại Cục tâm lý chiến. Anh ta đã viết thi phẩm Chiến ca mùa hè mà Phạm Duy phổ nhạc. Chiến ca mùa hè như những trang quân sử bằng thơ ghi lại mùa hè đỏ lửa.
– Mày chạy không thoát à?
-Ừ.
– Tao gọi bạn bè, chẳng còn thằng nào. May quá, còn mày.
– May cái con c…? Mày chưa về nhà ư?
-Về hả? Tao là thượng sĩ nhưng là chiến sĩ, hơn cả, tao là kẻ sĩ. Tao đại diện quân lực Việt Nam cộng hòa chuẩn bi tiếp xúc với Việt cộng.
-Cục mày hết người… lớn rồi à?
– Còn mỗi mình tao. Tao là tân Cục trưởng. Cục trưởng cút lâu rồi. Cục phó Phan Trọng Thiện vừa về… nhà.
– Mày cũng nên về đi.
-Tại sao tao lại phải về? Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè. Tao thủ trái lựu đạn, ngồi tại văn phòng Cục trưởng Tâm lý chiến thuộc Tổng cục chiến tranh chính trị của quân lực Việt Nam cộng hòa. Chai whisky trên bàn vơi quá nửa rồi. ông tu chất cay. Bọn nó vào mà tử tế, ông giao Cục, dở trò hỗn láo, ông cho lựu đạn nổ… Tao sẽ gọi mày sau. Thôi nhé!
Người lính văn nghệ, thượng sĩ Phạm Lê Phan không muốn cộng sản vào Cục tâm lý chiến như vào nhà hoang. Anh ta ngồi đợi kẻ thù tới tiếp thu. Không còn cấp bậc và huy chương nào tưởng thưởng anh ta cả. Anh ta có quyền về nhà, được phép về nhà mình mà không ai dám kết tội anh ta đào ngũ hèn nhát. Nhưng mà “lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè.” Anh ta kiêu hãnh nói “tại sao tao phải trở về”? Sẽ chẳng một ai đủ liêm sỉ bắt chước Phạm Lê Phan tự vấn lòng mình “Tại sao tôi lại đào ngũ”. Tôi ngồi hút thuốc, chờ điện thoại của Cục trưởng Tâm lý chiến: Thượng sĩ Phạm văn Kiệm.
XÁC T-54 BÊN KIA CẦU THỊ NGHÈ
“Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè”. Tôi biết rõ những người lính ấy. Họ là nhà báo vô danh, là kép cải lương thứ yếu, là ca sĩ tân nhạc hạng xoàng. Họ còn là thanh niên Chợ Lớn, thanh niên con nhà giàu sợ hãi chiến trường, được ẩn thân ở Cục Tâm lý chiến dưới sự “bảo trợ” của tướng bà Cao văn Viên. Hai hạng người dưới, lương quân đội lĩnh xong phải cộng thêm tiền gia đình nộp cho người bảo trợ hàng tháng, chưa kể khoản tiền nặng ra mắt và được chấp thuận bảo trợ. Lính văn nghệ cơ hữu của Cục tâm lý chiến chỉ có bổn phận canh gác giữ an ninh cho Cục ngày và đêm. Sự canh gác mang tính cách trình diễn, dù đã học 9 tuần quân sự ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Vòng đai an ninh của Cục bé nhỏ. Đã có lực lượng bảo vệ an ninh của Cục an ninh quân đội, của Đài phát thanh Sài gòn lo giùm hết. Vậy bên đây cầu Thị Nghè, kế sát Cục, là nơi lính văn nghệ canh gác ban đêm để bảo vệ Đài phát thanh quân đội, tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến, văn phòng của các quan văn nghệ… Nói ra hơi buồn, lính văn nghệ gác cầu, chỉ nhằm trình diễn tinh thần kiểng và tạo oai phong cho các quan tâm lý chiến chơi xì-phé, mạt chược những đêm trực.
Truyện kể về những người lính văn nghệ gác cầu Thị Nghè sáng 30-4-1975 như sau: Xe tăng cộng sản vào thành phố Sài gòn để vô Dinh Độc Lập bằng hai ngả. Ngả thứ nhất: Từ ngã tư xa lộ Hàng Xanh, T-54 của cộng sản chia đôi. Không nhiều gì đâu. Có 10 chiếc thôi. 5 chiếc rẽ phải vô Hàng Xanh, qua đường Bạch Đằng, qua đường Chi Lăng, Võ Tánh Phú Nhuận, bọc lên đường Cách Mạng, Công Lý. 5 chiếc rẽ trái vô Thị Nghè, qua cầu, qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, qua đường Thống Nhất. Chiếc thứ nhất bị lính văn nghệ chặn đánh ở bên kia cầu. Với súng M- 16, lính văn nghệ đã nhắm T-54 mà khạc đạn. Lúc ấy, 10 giờ 45 phút, sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh 15 phút. Lính văn nghệ đã gây cảm hứng cho quần chúng. Sự phẫn nộ nổi lửa, nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ Thị Nghè bốc phừng phừng. Bất chấp cái chết, thanh niên Thi Nghè đã viết những trang sử đấu tranh mới bằng những chai xăng châm lửa ném tới tấp vào T-54 của kẻ thù. Lửa cháy trên nóc T-54. Lửa cháy dưới T-54. Lửa cháy xích T-54. Lửa cháy đàng trước T-54. Lửa cháy đàng sau T-54. Lửa Thị Nghè bất khuất. Lửa Thị Nghè của Sài gòn. Ngọn lửa tiên phong của cuộc chiến đấu mới. Chiếc T-54 dẫn đầu đứng khựng. Nó bất động. Năm người bộ đội xe tăng, công cụ tội nghiệp của cộng sản, đã chết thảm dính chùm trong một sợi xích khốn kiếp. Đã chết mà không biết mình bị mê hoặc:
Năm ngón tay trên một bàn tay
Như năm người con cùng một mẹ
Năm ngón tay trên một bàn tay
Không xa rời nhau
Như năm người con cùng một mẹ
Năm người bộ đội trong xe tăng
Như năm ngón tay trên một bàn tay
Như năm người con cùng một mẹ
Không xa rời nhau
Sống bên nhau và chết bên nhau*
Một chiếc T-54 bị bốc cháy. Là thừa thắp sáng cuộc chiến đấu mới. Là thừa mở mắt thế giới đui mù. Bốn chiếc sau phải dừng lại, ngơ ngác. Kẻ thù hoảng sợ. Nó hung hãn khạc đạn. Nó trấn áp. Nó vất vả qua cầu Thị Nghè. Hà Nội phải hiểu họ không có đại thắng. Bởi vì, theo Ngô Khởi, chiếm được đất mà không chiếm nổi lòng người thì không bao giờ chiến thắng cả. Xác chiếc T-54 nằm nhục nhã bên kia cầu Thị Nghè trọn ngày 30-4 và những ngày kế tiếp là biểu tượng bất hủ của lịch sử nòi giống và của quân sử Việt Nam cộng hòa.
Tôi nhớ đã xem một phim, hình như tên phim là El Alamein do Frederick Stafford thủ vai đại úy quân đội ý, diễn tả một trận đánh tuyệt vọng giữa đám quân đồn trú ở sa mạc Phi Châu với đạo quân xe tăng của tướng Montgomery lừng danh Anh Quốc. Tăng của tướng Montgomery đã phơi xác lớp lớp. Và rồi, kẻ chiến thắng đã nghiêng mình kính cẩn chào tinh thần chiến đấu quả cảm tới phút chót của kẻ chiến bại. Người cộng sản, chắc chắn, thiếu sự hào sảng đó. Và, tôi còn thấy, thiếu cả những trang sách vinh tôn những người lính văn nghệ đã chết hay vẫn sống đã hạ chiếc T-54 của cộng sản bên kia cầu Thị Nghè buổi trưa ngày 30-4-1975 của những ông quan văn nghệ tự cho mình sống hùng trong ngục tù cộng sản rồi thoát ra ngoại quốc. Tôi cố tìm ở hồi ký dầy cộm của họ. Chẳng thấy gì ngoài sự kể khổ, lên án cộng sản man rợ và phô diễn cung cách sống bần tiện của mình.

Xưa lắm rồi Mót ơi

nguyentri

Toàn thể cư dân của tổ 2 xóm 1 ấp Thanh Long, đừng nói tổ xóm ấp, cả xã luôn, không một ai không ngớ người khi nghe tin nhỏ Út Mót cuốn gói đi theo thằng lôtô hội chợ.

Vợ chồng Bảy Sánh có trả lại một ngàn đô cho con mẹ Cẩm Hồng chưa chắc yên. Bởi giao một ngàn cho gia đình Út Mót thì mẹ Cẩm Hồng lấy của thằng già Đài Loan phải hai ngàn. Sức mấy con mẻ chấp nhận câu của đổ mà hốt. Bây giờ Bảy Sánh một xu teng còn không có, ở đó mà một ngàn, tức là hai mươi hai triệu tiền xứ ta. Nguy chưa?

– Chồng thì rượu vợ thì cờ bạc. Tiền tỉ còn hết nói gì triệu.

– Mày hiền dữ? Rượu bao nhiêu? Còn tứ sắc thì chơi vui đỡ ghiền. Chẳng qua ba cái giấy tờ ăn hết mày ơi. Tao đây xong mọi cái cho con Thắm lấy chồng Hàn là bảy trăm ngoài luôn đó.

– Dữ vậy sao?

– Con gái mày đủ tuổi, có chứng minh nên chuyện lấy chồng ngoại dễ như ăn ớt. Còn Út Mót cũng như con tao không khai sanh, không có tên trong hộ khẩu lại hô biến từ mười lăm lên mười bảy là tốn không ít đâu ông nội.

– Chuyến nầy nguy cho vợ chồng Bảy Sánh quá. Bầy xăm mình dưới trướng mẹ Cẩm Hồng chắc cho cả nhà ăn dao phay quá.

– Nó lụi luôn chứ chém là còn đỡ lắm.

Cả tổ 2 tuôn vô hội chợ làng lục lọi từng gian một để tìm Út Mót giùm Bảy Sánh. Dân hội chợ rất kinh hồn vụ mồm loa mép giải. Chời ơi là chời – họ bài hãi – Nó theo thằng lôtô thì lại dàn lôtô mà tìm. Tui là tui không chứa.

Hai thằng Hòa và Hiệp – anh trai Út Mót – quắc cặp mắt cú vọ:

– Câm cái họng lại. Muốn tao đốt sạch khu hội chợ nầy không?

– Tao thách đó. Hộp quẹt gas nè, muốn xăng tao cho luôn. Bà nội mẹ… sao mà ngu quá dzị con. Đã bỏ nhà theo trai nó ngu sao trốn ở đây? Giờ nầy chắc tuốt luốt trên xì ghềnh rồi. Hai mươi mấy quận huyện thì có mà chịu sầu em ơi.

Người ta truy căn thằng lôtô. Nó tên Hùng. Quê đâu tìm mà hỏi. Nó hát hay, đờn địch cũng biết chút chút. Hô lôtô chẳng ai dưới gầm trời hội chợ nầy qua được. Mấy đứa hai phai gặp nó ngoài quán dẫn về cho một chưn kiếm cơm tạm qua thì khốn nạn.

Đẹp trai cao to nên hai thì khoái lắm. Kẹt cái nó chuẩn men nên không bồ bịch với nửa y nửa thị. Nhỏ Út Mót đi chơi hội chợ làng, xứ nầy ba cái con mấy cờ ra rồi cờ ra con mấy là sự kiện văn hóa nghệ thuật, một năm được hai lần là nhiều. Nên chi bà con cô bác tới cúng tiền cũng phải thôi.

Trên sân khấu lôtô Hùng thấy một em rất chi đẹp liền quăng mi-cờ-rô nhảy xuống tận mặt xem sao. Mẹ cha ơi, em đã thơm thì chớ còn duyên dáng nữa mới là tuyệt diệu. Hên cho thằng lôtô là trước đó nó vừa ca xong bài Tình anh bán chiếu.

Thiệt mà nói, nghe nó ca thì Út Trà Ôn cũng phải bỏ nghề. Ông Út chỉ một mùi tận mạng chứ Hùng thì còn ngọt như mật nữa. Em Út Mót khoái liền dù chỉ còn nửa tháng là em đăng ký kết hôn như lịch trình đã hẹn.

Nói về cái sự vụ liều thì dân đây ai cũng kiềng mặt Út Mót. Đi bán vé số đứa nào giành mối là chết với nó liền. Mót theo bà má và hai ông anh đi bán vé số từ năm bốn tuổi. Không biết một chữ nhưng tính nhẩm nhanh như sao xẹt và hát karaoke kẻ biết đọc phải chào thua. Tội nghiệp Út lắm. Không có cái vụ môi giới hôn nhơn lấy chồng ngoại chắc Út bị đì suốt kiếp.

Cô Bảy, vợ cha nội Sánh, tục gọi Bảy Sánh, thuở con trẻ lòng dạ nhẹ tựa lông hồng. Thằng bồ thứ nhứt cho cái bụng rồi quất ngựa truy phong, thằng thứ hai cũng một khuôn. Hai anh em Hòa Hiệp đứa lên năm đứa bốn tuổi thì Út Mót lên ba. Bà ngoại của ba đứa nhỏ chịu không xiết cảnh khổ nên qua đời. Bảy lôi con theo mình đi bán vé số.

Mót bốn tuổi thì cô Bảy mượn tạm bờ vai cha Sánh làm điểm tựa. Sánh xúi dại Bảy bán miếng đất của bà má về ở chung với mình. Khi khổng khi không Sánh được vợ lời thêm ba đứa con biết kiếm tiền. Cái dòng con nít đi bán vé số là bá tánh thương lắm. Đã mua họ còn cho thêm tiền. Con nít kể khổ cha chết mẹ bịnh thì lòng Tào Thị còn chết nói chi thường nhân.

Ta bà thương anh em Út Mót bao nhiêu thì bực bội cho cái nhẹ dạ của bà má tên Bảy bấy nhiêu. Sao mà có người ngu dữ vậy kìa? Tin chi cái thằng sáng xỉn chiều say vậy không biết? Thằng Sánh là chúa khốn nạn. Đâu phải con ruột nên nó nào biết yêu thương chi. Nó xui dại người ta bán đất về ở chung, bao nhiêu tiền bạc nó sửa lại nhà.

Bốn mẹ con tưởng êm, ngờ đâu cong lưng đi làm nuôi nó chết mụ nội, đã vậy say lên nó đuổi như đuổi tà. May mà bốn mẹ con ngụ trong nhà chỉ từ mười hai giờ đêm đến sáng là hết phép. Nghề bán vé số sáu giờ đã có mặt khắp hang cùng ngõ hẹp để thưa bà thưa chú thưa anh mua giùm em vài vé, hông ấy một vé cũng được…

Bốn giờ chiều lại tiếp tục nhận vé mới và sau giờ xổ số lại rong ruổi đến mười hai giờ đêm. Cơm hàng cháo chợ tiện đâu xực đó. Đời anh em Út Mót nào biết đến mâm ăn. Vậy lấy đâu ra tình thương mến thương anh em dành cho nhau hỡi tha nhân?

Mười tuổi Mót đã có sáu năm thâm niên trong ngành vé số dạo. Năm đó nó phải bươn bả một mình vì bà má thảm thương bị bệnh. Đàn bà con gái sanh đẻ không kiêng cữ, lại lết bộ ngày mười lăm tiếng đồng hồ thì mấy cái khớp nó khua cũng phải thôi.

Ba anh em kể cũng lớn rồi, thôi thì má ở nhà để tụi tui lo. Bảy ở nhà buồn tình nên ghé chị em chơi cho khuây khỏa. Dân tổ 2 xóm 1 ấp Thanh Long mười nhà đã hết sáu có con lấy chồng không Hàn thì Đài nên ngoại tệ cũng có chút chút. Họ tụ tập điều binh khiển tướng cho vui.

Bảy ghé một tuần là sành điệu. Cái dòng tứ sắc nhìn sơ là biết cần chi học hỏi. Ba đứa nhỏ đang nuôi một thằng cha ghẻ chốc luôn siểng tảng trong rượu nay thêm bà má nghiện bài.

Ở cái tuổi mười lăm con khô lưỡi trâu Út Mót bỗng phổng phao bởi trổ thì con gái. Nó tuy đen thủi đen thui vì dầm mưa dãi nắng nhưng phụng hoàng chứ không hề là quạ đen. Thiên hạ chưa kịp trầm trồ thì trùm môi giới hôn nhân Cẩm Hồng lân la đến.

Thằng cha ghẻ chốc đắc co liền. Còn má Bảy? Nhìn nhà người có con lấy chồng Đài mà ham. Đừng nói chồng, mấy đứa trong xóm đi ôsin đâu bên Sing bên Mã là đã nhà xây rồi. Vậy là má cũng gật gù. Mót cũng ừ. Bà nội nó – Mót văng tục nghĩ thầm – Bảy chục tuổi tao cũng ừ nói chi năm chục. Tao thù cái vé số nầy tận xương rồi.

Vậy là Cẩm Hồng bung tiền để cho xong cái gọi là hợp thức hóa. Mười lăm sao cho đủ tuổi lấy chồng là một lốc tiền. Thằng anh lớn mới mười bảy thì Mót làm sao mười tám? Xem như phải làm lại hộ khẩu. May mà mấy ông quyền chức đồng ý trên tinh thần khai lại lý lịch cho chính xác theo yêu cầu.

Cầm cái chứng minh tên Nguyễn Thị Hồn Nhiên, Mót thích ơi là thích. Cẩm Hồng bỏ tiền để má Bảy tút tiếc nhan sắc cho Mót. Chỉ hai tháng mà nước da bánh ít đường đen của Mót hóa sang đường thùng rồi đường cát. Cuối cùng là trắng gần bằng bông bưởi luôn. Có vậy Mót mới hồn nhiên mà yêu anh lôtô hội chợ.

Cẩm Hồng đe hai thằng du côn Hòa Hiệp:

– Nó mà không dzìa là hai thằng mày đi âm phủ đội chuối khô với tao. Ai cho tụi bây đánh thằng lôtô? Tại sao không cho tao biết con Mót bồ bịch? Tao biết sớm thì một tiếng là thằng lôtô biến. Tụi mày ăn cái gì mà ngu vậy?

Quay sang Bảy và Sánh, con quỷ môi giới nghiến răng:

– Một ngàn đô hai vợ chồng mày lo bán nhà trả gấp. Lãi mười hai phân kể từ ngày giao.

Nói xong chị hai lên xe dông tuốt. Dân tổ 1 xóm 2 xúm lại vừa bàn vừa chửi rằng:

– Kệ bà nội con Cẩm Hồng. Lâu lâu tổ trác một lần cho nó biết thế nào là lễ độ. Bà cha nó… vụ con tao nó nuốt ít cũng hai ngàn. Vợ chồng Bảy Sánh với hai thằng bây đừng lo đếch gì cho mệt. Cho vàng nó cũng không dám đụng. Ông chính quyền xã mình không để cho nó manh động đâu. Lớn chuyện là lòi ra biết bao nhiêu cái hồ sơ khai man tuổi… Bây hiểu không?

Nói vậy chứ hai thằng Hòa Hiệp sợ lắm. Bầy em út của Cẩm Hồng toàn dân xăm mình. Nó đâu có ngu mà đánh người công khai. Đang lơn tơn dính một cây vô đầu hay một ca axit thì có mà chết. Mót ơi là Mót, mày ở đâu về đi, không về là chết cả ổ Mót ơi. Hai thằng long trọng hứa với Cẩm Hồng sẽ đi tìm Mót về để giải quyết hợp đồng. Nhưng sáu mươi bốn tỉnh thành trên đất nước nầy biết đâu mà tìm hỡi trời đất ơi.

Trong lúc mọi người nhao nhác như gà mất mẹ thì Nguyễn Thị Hồn Nhiên thường gọi Mót đang vui vầy bên lôtô. Cả hai thuê phòng trọ hưởng trăng mật.

Được hai tháng thì lôtô dông tuốt.

Kề bên phòng của Mót là phòng của chị Thùy. Chị đi làm mười hai giờ đêm mới tan ca. Nghe Mót tỉ tê khóc chị liền thăm hỏi xem sao. Nghe qua chị biết con nhỏ mười lăm tuổi bị sở khanh nó dụ. Chị nói:

– Nín ngay. Nín tức khắc. May là nó không bán qua Trung hay Miên là chết mụ nội mày. Về nhà đi, chị cho tiền xe.

Nghe Mót kể gia cảnh chị Thùy cũng rùng mình:

– Mẹ ơi… Lấy thằng Đài năm chục tuổi hả? Sao mà gia đình mày ngu dữ dzị cưng? Nó đưa mày qua bển để làm nô lệ hả? Thôi… ở đây đi làm với chị. Chừng nào có tiền thì về trả lại cho con Cẩm Hồng.

– Em chỉ biết bán vé số thôi chị ơi.

– Đẹp như mày ngu sao bán vé số. Nghe tao là nên cửa nên nhà cưng coi.

Vậy là Hồn Nhiên theo chị Thùy đi làm. Nơi làm việc của chị là một quán karaoke cao cấp. Có trên hai mươi tiên sa thơm như mít tố nữ làm việc. Công việc thì nhàn ơi là nhàn. Hồn Nhiên Mót chỉ việc rót bia khi ly khách đã cạn. Khách toàn dân nói tiếng Đài.

Hôm đầu tiên chị Thùy xin chủ cho Mót làm chung bàn. Chị uống bia với khách, ngả đầu vào vai khách. Khách ôm chị rồi hôn lên má lên môi chị. Chị cũng hôn lại. Vậy là khách nhét tiền vào áo ngực chị… Hôm đầu tiên Mót ngỡ ngàng lắm. Nó mới qua tay thằng lôtô nên nào có biết chi mô răng rứa gì. Một ông khách đài ngà ngà hơi men ôm Mót vào lòng. Giật mình Mót xô khách ra. Khách liền móc ra một tờ năm trăm ngàn lẹ tay nhét vào cóc-xê Mót:

– Chiều nó tí cưng. Chả có mất gì đâu mà cưng sợ.

Nửa đêm là xong hai tua khách. Mót được tiền bo những bảy trăm ngàn. Taxi đưa hai chị em về lại phòng trọ. Nhưng chỉ một mình Mót về phòng còn chị Thùy thì đi khách sạn. Tảng sáng chị mới về. Lúc làm đẹp cho Mót để tiếp tục cho đêm vui, chị nói:

– Nghiệp nầy phải đẹp cưng hiểu không? Tụi Đài hay Hàn sộp hơn dân mình trăm lần. Ôm và hun hít là có tiền. Còn muốn qua đêm thì một trăm đôla Mỹ. Tụi nó xa quê hương xứ sở, cái gì cũng có chỉ thiếu đàn bà.

Mót tròn mắt. Chị lại tiếp tục:

– Tao không lừa mày đâu mà sợ. Tao thương là vì mày giống cái cảnh đời khốn nạn của tao. Thằng nào muốn rủ cưng đi đâu thì hỏi chị một tiếng. Nghe không?

Lại cấm:

– Đừng có ngu mà nốc bia cho cố. Lớn bụng là bỏ. Cũng không được bài bạc hay tứ sắc. Va vô là lún cả đời vào cái vũng lầy tăm tối nầy. Làm một thời gian kiếm đủ tiền rồi lo làm lại để kiếm đứa con mà hú hí.

Hồn Nhiên đẹp như tiên nên chỉ một năm cô có đủ bất cứ thứ gì mà một công nhân trong xí nghiệp làm chục năm chưa chắc có.

Một ngày của tháng thứ mười ba kể từ ngày Út Mót bỏ nhà ra đi thì hai thằng anh, bà má tên Bảy và mụ Cẩm Hồng xuất hiện. Kẻ đưa tất cả lên gặp Mót là thằng bạc tình lôtô hội chợ.

– Bà muốn gì? – Mót hỏi Cẩm Hồng.

– Trả lại tiền cho tao. Cả lãi luôn.

Chị Thùy có mặt:

– Bao nhiêu?

– Ba ngàn đô.

– Nói lại đi. Thắt họng vừa phải thôi. Cà chớn là không một xu teng nào hết. Bà đưa cho má con Mót bao nhiêu?

– Bao nhiêu mày khỏi cần biết. Không trả là có người trảm cả nhà mày đó Mót.

Hồn Nhiên Mót lên tiếng:

– Tao đéo trả xu nào hết. Gan thì mày giết hết đi.

Nói xong Mót vào phòng và khóa trái cửa.

Bà Bảy vắn dài nước mắt Mót ơi Mót hỡi bỏ má sao con. Rằng thì là má khổ lắm con ơi. Tiếng ồn làm bồ chị Thùy thức dậy. Làm cái nghiệp nầy không có mặt rằn bảo kê làm sao trụ? Anh điểm mặt lôtô:

– Mày còn dám lên đây hả thằng khốn? Mày tưởng hôm nay như hôm qua tháng nầy như tháng trước sao? Quỳ xuống. Còn chị – anh nói với Cẩm Hồng hết sức nhẹ nhàng – Con Mót nói có một ngàn, chị đòi ba ngàn là hơi quá. Con Mót bây giờ là em gái tôi, chị muốn trả thì tôi trả cho. Mót đâu. Mở cửa tao giải quyết cho xong mọi chuyện.

Cẩm Hồng mặt xanh đít nhái. Phải chấp nhận điều kiện anh đưa ra. Một ngàn trả làm ba. Lần đầu bốn trăm. Còn sáu trăm sẽ trả trong vòng sáu tháng.

Lúc taxi đến để đưa hai chị em đi làm, ngang qua thằng lôtô đang quỳ, Mót đưa ai-phôn lên chụp một pô. Thùy hỏi để làm chi vậy, Mót nói bắn lên phây-búc cho bà con biết mà cảnh giác thằng sở khanh.

Mót bây giờ là Hồn Nhiên chứ đâu phải như xưa.■

V Ợ L Í N H

linhphuong

Vợ lính đi qua cuộc chiến tranh
Mấy mươi năm chưa vơi mùi thuốc súng
Mấy mươi năm như ân sủng
Nằm trong ngực “ bên thua cuộc “ tan hàng

Khóc đi hỡi những oan hồn
Mấy mươi năm vất vưởng
Khóc đi hỡi anh thương phế binh còn sống
Đêm từng đêm đau nhức vết thương xưa

Vợ lính đi qua dâu bể một thời
Một thời đội khăn tang theo chồng ra trận
Xương máu Việt Nam chảy dài con đường di tản
Mấy mươi năm rồi chưa khô

Mấy mươi năm những nấm mồ
Lạnh tanh không nhang khói
Tấm thẻ bài nhìn đôi giày saut đau khổ
Nón sắt buồn ứa lệ khóc rưng rưng

Vợ lính đi qua cuộc chiến tranh
Vành khăn tang còn đó
Vợ lính năm nào còn đó
Nước mắt chảy ngược vào trong

Đứa con của Ngụy lớn lên đã biết mình mất quê hương
Từ tháng tư người lính Sài Gòn bị bức tử
Từ tháng tư thủ đô treo cờ rũ
Tưởng niệm anh hùng ” vị quốc vong thân ”

Sau một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Vợ lính năm nào ôm lá cờ xưa bật khóc
Mấy mươi năm chưa cạn dòng nước mắt
Dù chiến tranh đã đi vào quá khứ xa xăm

LINH PHƯƠNG

đi kinh tế mới

huynhminhle

quê hương không là khế ngọt
một ngày dắt díu ra đi
sông ray đêm rền thác đổ
mùa mưa đất nặng hơn chì

tháng giêng mịt mù bụi đỏ
ta đi bốc củi trong rừng
trông những cây già bị cháy
tự nhiên lòng bỗng rưng rưng

chim quyên xuống đất ăn trùn
ta chẳng anh hùng hảo hán
bữa nay cũng phải vô bưng
kiếm tiền cho con ăn sáng !

một ngày về quê thăm mẹ
thấy nhà thấy cửa điêu tàn
chỉ còn trơ cái nền gạch
từ đường hương hỏa tan hoang

05.04.2016
Huỳnh Minh Lệ

Giòng Sông Biệt Xứ

trankiemdoan

Huế có giòng sông Hương. Giòng sông mang tên con gái, hay con gái mang tên giòng sông. Khi gọi “Hương ơi!” thì vẻ mượt mà của giòng sông hay bóng dáng yêu kiều của giai nhân đến trước? Nếu đến để mà đi là người con gái, nhưng đến để chảy mãi trong lòng là giòng sông.

Tôi xa Huế tròn 20 năm. Những mảnh đời vinh quang và cay đắng đã thành đồi, thành núi, thành sông… hay chỉ là những đám bụi mù không tên tuổi, lần lượt đến rồi đi cuối mùa như những hàng phượng già trên cao và khóm hải đường dưới đất. Nhưng giòng sông ấy vẫn trôi chảy hoài, có khi triền miên heo hút, có lúc bão liệt cuồn cuộn nhưng chưa có một lần đứt đoạn ở trong lòng. Giòng sông như một định mệnh hư ảo, một ám ảnh trường kỳ, một sự vỗ về rất mẹ, một nỗi nhớ rất tình yêu, nhưng chưa bao giờ khước từ sự quay về của ký ức hay chối bỏ những ân tình vắng mặt. Hình như không có ngoại lệ, mỗi người Huế xa quê đều mang theo một giòng sông cho đến cuối đời. Đôi khi ngỡ giòng sông ấy chỉ là tâm ảnh, nhưng không, đó là một hiện thực vô cùng. Những người Huế thành công xứ người vẫn mong ngày về với giòng sông để soi chút vinh quang của mình trên sóng nước. Những người Huế không may sống hẩm hiu xa Huế không mong chi ngày hội ngộ nhưng vẫn man mác nỗi xót xa khi tưởng đến sự cau mặt của giòng sông. Phải chăng tâm lý “soi bóng giòng Hương” đã dự phần năng nổ “xui khiến” dân Huế tha hương hầu hết nếu không xênh xang áo gấm thì cũng chẳng đến nỗi khăn gói quả mướp… về làng.

Người tìm về sông, sông tìm về nguồn, nguồn tìm về cội. Vì thế mà lịch sử con người khó thấy một vẻ đẹp kỳ tú, một thành phố nên thơ, một quê hương mơ ước mà thiếu vắng một giòng sông. Khi giòng sông khô cạn trong lòng cũng là khi giòng sông biệt xứ.

Âu Châu là chiếc nôi văn hóa trong lịch sử văn minh cận đại, nhưng sự trôi chảy của nguồn văn hóa từ từ chậm lại khi văn minh vật chất đày biệt xứ những giòng sông. Có ai từng ngồi bên bờ sông Seine trong một đêm khuya rất vắng, nhìn vẻ mặt ngước lên gần như thảng thốt van xin những ngôi sao đừng chiếu sáng của bức tượng người đàn bà dưới gầm cầm Mirabeau cảm nhận hết được nỗi niềm biệt xứ của một giòng sông. Sông Seine mây nước xanh trời thuở Appolonaire làm thơ đã bị mớ văn minh vật chất biến đổi thành một mương nước nông sâu giữa hai bờ xi-măng và đá. Những tòa cao ốc nối đuôi nhau soi bóng hai bên bờ sông Siene thật là tội tình cho giòng sông. Giòng sông như ngỡ ngàng không chảy nổi vì thiếu vắng cây xanh soi bóng mùa Xuân, hoa thạch thảo soi bóng mùa Hè, lá vàng soi bóng mùa thu và những cành trơ xương trĩu tuyết soi bóng mùa Đông.

Ai có lặng lẽ đi ven sông trong buổi chiều về rất chậm trên những thành phố Âu Châu mới thấy được những con sông biệt xứ. Và thật mỉa mai, sự biệt xứ lại thường chỉ dành cho những giòng sông con gái hiền hòa có con nước dịu dàng như tóc mây dậy thì dầm sương muối. Còn những giòng sông lãnh chúa vạm vỡ với thủy lung trùng trùng như Cửu Long, Hoàng Hà, Missisippi, Amazon, Nile, Volga thì vẫn tất bật ra biển về nguồn từ buổi cổ sơ mà không ai ngăn trở. Cũng có những giòng sông qua đời vì cái bồi đất lở trong khi những giòng sông biệt xứ thì vẫn sống mòn bất tận. Có chăng một chút reo vui thì cũng chỉ là cảnh cá chậu chim lồng. Những giòng sông đó đã bị con người đày ải để sống cuộc đời của mương nước giòng kênh.

Sông Hương là một giòng sông hiền hòa. Với vẻ đẹp “lung linh đáy nước lưng trời”, giòng sông rất dễ bị con người dựa bóng để trang điểm cho ảo tưởng và khát vọng của uy quyền, giàu sang dễ dãi.

Xa Huế 10 năm, rồi 15 năm, 20 năm, tôi có những lần về thăm Huế. Nỗi vắng lặng 20 năm trước nhường chỗ cho sự chiếm ngự hai bên bờ sông Hương. Về Huế năm 1992, dăm ba quán mọc ven sông Hương có khuynh hướng “bành trướng lãnh thổ” không phải bằng thế mở đất mà bằng thế chiếm sông. Về Huế 5 năm sau 1997, đã có những công trình giới hạn xây dựng nhà cửa ăn làn ra bờ sông. Và về Huế những lần sau, những ngôi nhà lầu nhiều tầng mọc lên kênh kiệu sát giòng sông. Thiên nhiên lùi bước khi nhà cửa thi nhau soi bản mặt vôi đá, trơ mắt ếch vô duyên trên giòng sông xanh lồng bóng sương hồng ban sớm và mây tím ban chiều.

Sự nghèo hèn thường giấu mặt, nhưng sự giàu sang vật chất thường ô nhiễm lên nhau. Trong ba, bốn thập niên vừa qua, dân Mỹ giàu có đua nhau dựng nhà trên đồi. Nhìn những bờ đồi xanh bị cao trọc và những ngọn núi cụt đầu để cho những căn nhà đồ sộ mọc lên, người yêu thiên nhiên phải lắc đầu ngao ngán vì những dải đồi xanh và những trái núi bầu bĩnh bao quanh những thành phố và thung lũng đầy hoa vàng dần dần sẽ bị đày chung thân biệt xứ. Núi sẽ không còn núi, đồi cũng chẳng ra đồi mà chỉ còn là thế đất cao nhìn xuống những con đường phố.

Những buổi chiều ngồi trên bờ sông, chặng từ Bãi Dâu, Cồn Hến lên Kim Long, Văn Thánh với Túy Linh, Đoàn Tuyền Châu, Hòa, Quyết… chúng tôi thường nói về vẻ đẹp thay đổi từng lúc từ sớm đến chiều của sông Hương và bỗng lo xa, dù cho sự lo xa đó mới chỉ là một sự giả định “Lỡ một mai tê bóng xế qua cầu”…

Nếu tham vọng “Hương Giang hóa” khung cảnh những ngôi nhà quyền thế hai bên bờ sông Hương thắng thế, nét đẹp thiên nhiên của sông Hương sẽ lùi dần. Và giòng sông nên thơ và lãng mạn truyền đời “Hương Giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa sầu” của Huế ấy sẽ từ từ đi vào cõi biệt xứ. Sông Seine ở Paris, sông Thames ở Luân Đôn đã đi vào biệt xứ vì văn minh kỹ thuật đã thắng văn hóa thiên nhiên. Chuyện buồn mấy trăm năm trước ở Âu Châu là một bài học cho Mỹ Châu cho đến hôm nay nơi xứ này những giòng sông như American River mà tôi vừa đi qua chiều nay vẫn còn lồng bóng là mùa thu vàng, lam, tím, đỏ.

Giòng sông quê hương của tôi bên trời Hương Giang xa xôi nớ có đang thao thức mùa lá vàng thu như bên ni?!

Trần Kiêm Đoàn