TIẾNG ĐÀN ĐÁ TRÊN ĐỈNH SƠN TRÀ

 

 

Phạm Đạt vội vàng xuống núi, anh không thể chờ đợi thời khắc đẹp hơn để chụp cảnh hoàng hôn trên đỉnh Sơn Trà được nữa. Mây đen đã bắt đầu quần tụ kéo tới xám xịt mỗi lúc một dầy thêm trên bầu trời, gió từ phía biển u u thổi càng lúc càng mạnh vào vách núi, anh nghĩ chắc có khi mình không kịp xuống triền núi về phía cây đa ngàn tuổi nơi có con đường nhỏ đưa anh xuống núi nơi có cái quán nước nhỏ của người dân bản địa mà anh thường ghé gởi chiếc xe máy cà tàng mỗi khi cuốc bộ lên núi lần theo theo bước chân của đàn voọc chà vá chân nâu hay các loài hoa, bướm đẹp để chụp ảnh. Mưa bắt đầu trút xuống, anh chạy nhanh đến một lùm cây lấy vội bộ quần áo đi mưa trùm vào người sau khi cẩn thận dùng túi ni-lông bao túi da đựng máy ảnh tác nghiệp. Phạm Đạt không phải là tay săn ảnh chuyên nghiệp cũng không phải là phượt thủ nhà nghề nhưng anh lại có một tình yêu bất tận với Sơn Trà, ngọn núi được mệnh danh là “mắt thần Đông Dương”, lá phổi xanh của Đà Nẵng, yêu quí đàn voọc chà vá chân nâu loài linh trưởng kỳ lạ có một không hai trên bán đảo nầy cũng như trên thế giới, người ta gọi chúng là nữ hoàng linh trưởng vì bộ lông có một không hai tuyệt đẹp của chúng khi anh tham gia dự án bảo tồn Khu dự trữ sinh quyển thế giới Hải Vân – Sơn Trà. Nếu ai đã từng đi núi gặp phải cơn mưa rừng mới thấy hết cái dữ dội hung dữ của nó. Nó đến rất nhanh không kịp trở tay, có thể ào ạt chớp nhoáng rồi nhanh chóng đi qua như người khách lạ, có lúc lại dai dẳng nhiều ngày như một kẻ thù truyền kiếp đeo bám không rời. Tiếng mưa rào rạt đập vào các thân cây cành lá nghiêng ngả tạo nên những cơn dư chấn đomino khiến người lạc trong núi phải khiếp via. Trên độ cao hơn ngàn mét thần gió mặc sức hoàng hành, những đám mây xám từ biển cứ ồ ạt kéo về, nước từ trên đỉnh núi theo các khe suối nhỏ ào ạt trôi băng băng xuống triền dốc như cơn lũ dữ. Ngày thường đó là những con suối nhỏ hiền hòa, nước trong veo tận đáy, có thể thấy cả đàn cá nhiều màu sắc lội nhởn nhơ, tung tăng một cách thong dong tự tại, bây giờ nó như trở thành con sông, đục ngầu sôi réo điên cuồng cuốn theo bao đá sỏi, nhánh cây khô, lá rừng mục rửa. Phạm Đạt chật vật lắm mới leo xuống một triền núi thấp hơn. Trong thời tiết bình thường chàng có thể xuống núi dễ dàng nhờ hướng mặt trời và tàng cây đa ngàn tuổi nhô hẳn lên nền trời xanh nhưng trong đám mưa gió phũ phàng thì đinh hướng đó không giúp ích gì cho anh lúc nầy cả, anh phải vận dụng mọi giác quan để tìm hướng đi, anh thầm nghĩ nếu mưa dai dẳng như thế nầy có lẽ anh ngủ lại rừng mất thôi.
Bóng tối như đồng lõa với cơn mưa rừng dai dẳng nên Đạt rất khó khăn di chuyển, chiếc đèn pin anh mang theo lấp loáng ánh sáng chỉ ở một biên độ rất gần, Đạt chật vật bám vào một nhánh rể cây lộ ra mặt đất lần xuống một chổ thấp lại rơi vào một tình thế khỏ xử. Dòng suối nhỏ thường ngày anh băng qua rất dễ, chỉ cần anh nhón chân qua những phiến đá nhô lên giữa dòng suối là có thể qua khỏi để tìm đường xuống núi thì giờ đây nó nó biến thành dòng sông rộng, nước nguồn đổ ào ạt xuống đục ngầu không làm thế nào qua được, nếu cố tìm cách vượt qua không khéo bị dòng nước dữ cuốn phăng đi thì nguy mất, có lẽ phải tìm một hốc núi hay bụi cây rậm nào đó trú qua đêm thôi. Trong lúc tiến thoái lưỡng nan, Bên tai Đạt hình như nghe có tiếng đàn khi xa khi gần hòa lẫn trong tiếng mưa gió núi rừng hoang dã, âm thanh phát ra từ hướng tay trái thì phải, anh đưa mắt hướng về nơi phát ra cái âm thanh lạ lùng đó. Trong màn mưa Đạt thấy hình như có ánh lửa chập chờn khi ẩn khi hiện. Anh chậc lưỡi, ở lại đây cũng đói rét thôi thì cứ phăng theo ngọn lửa, âm thanh phát ra từ tiếng đàn may ra có người sống ở đó mình cũng có thể tạm yên đêm nay. Vừa nghĩ bước chân của anh cũng lần bước theo. Cây cối rậm rạp, đá núi chập chùng nhưng nhờ có ngọn đèn pin nên anh cũng vượt qua. Càng đến gần nơi phát ra tiếng đàn, anh nhận ra đúng là có một căn nhà gỗ nhỏ lúp xúp được dựng trên một nền đá núi khá bằng phẳng, ánh lửa cũng phát ra từ đó. Mừng quá anh đi nhanh về phía căn nhà.
Ngập ngừng giây lát anh đưa tay gõ cửa. Tiếng đàn im bặt. Có tiếng người con gái giọng ra phía sau liếp cửa:
– Ai ở ngoài đó thế? Đêm hôm khuya khoắc sao có mặt ở nơi rừng núi hoang dã thế nầy?
Câu trả lời của Đạt run run vì lạnh:
– Tôi là người chụp ảnh thiên nhiên trên Sơn Trà, Mưa to chẳng may xuống núi không kịp xin chủ nhân tá túc cho qua cơn mưa.
– Nhà vắng người, chắc không tiện cho khách lưu trú đâu.
Đạt nói khẩn khoản:
– Tôi chỉ là người lỡ đường, xin tạm nghỉ qua đêm không có ý xấu đâu. Xin cô đừng ngại.
Một chút im lặng, Đạt nghe có tiếng chân người rồi liếp cửa hẻ mở, tiếng người con gái nói:
– Ông vào đi, kẻo lạnh.
Chàng trai lách người qua liếp cửa bước vào trong, ánh lửa bập bùng trên sàn bếp làm chàng cảm thấy ấm áp. Cô gái nhìn anh nói:
– Ông bỏ áo mưa ra đi, ngồi sưởi bên bếp lửa kẻo lạnh.
Phạm Đạt ngoan ngoãn nghe lời cô gái như một đứa trẻ. Anh hơ hai bàn tay lên ngọn lửa hồng, chốc chốc xoa vào hai má. Cái ấm áp của ngọn lửa trong căn nhà nhỏ làm anh có cảm giác dễ chịụ. Anh đưa mắt nhìn quanh, dưới ánh sáng bập bùng của ngọn lửa ngôi nhà được bày trí thật đơn sơ, ở một góc nhà có cái gùi dùng để đi rừng, một đống khoai củ, trên giàn treo mấy chùm ngô đã khô vỏ, trước mặt chàng là một cô gái còn rất trẻ khoảng độ mười tám hai mươi thì phải, có mái tóc mượt dài, khuôn mặt trái xoăn xinh xắn, đôi mắt đen lay láy đầy nét liêu trai, Đạt chợt giật mình nghĩ đến chuyện hồ của Bồ Tùng Linh mà anh đã từng đọc. Thấy dáng vẻ không được tự nhiên lắm của Đạt, cô gái nói:
– Hình như ông sợ?
Phạm Đạt giật mình vì cô gái đoán đúng suy nghĩ của mình. Chuyện ma quái kỳ lạ trên ngọn núi thiêng anh từng được nghe qua. Nào là có người ban đêm trên đường xuống núi gặp một tốp trẻ con còn lang thang, anh ta xuống núi rồi mà không an tâm về bọn trẻ nên quay trở lên gặp một đôi thanh niên nam nữ chạy ngược chiều xuống hỏi thăm họ bảo không thấy rồi tình nguyện cùng anh lên núi tìm bọn trẻ, anh ta chạy theo lên lưng chừng núi gần ngã ba có vực sâu họ cũng biến mất nốt làm anh hoảng hốt quay trở lại, sau đó lập một trang miếu nhỏ hương khói nơi đó, rồi những nấm đất nho nhỏ tự nhiên mọc lên trên đường lên núi, người ta đồn doán rằng có những cặp tình nhân vụng trộm lén lút chôn cất thai nhi, những linh hồn nhỏ bé ấy không được siêu thoát nên cứ lẩn khuất ở chốn núi non hoang lạnh nầy mãi làm ai cũng e ngại không ai dám ở lại núi lâu hơn khi màn đêm buông xuống, còn về chuyện ma nữ xuất hiện hại người thì anh chưa từng được nghe kể. Tuy có hơi ngán ngại nhưng anh làm ra vẻ cứng cỏi:
– Sao tôi lại sợ? Sợ gì kia chứ?
– Sợ ma. Sợ hồ ly. Rừng sâu núi thẳm không một người ở, ma cỏ đầy rẩy ông không thấy sợ sao?
– Tôi không làm điều gì ác sao phải sợ?
– Ông không làm điều ác nhưng loài người các ông làm điều ác thì sao?
– Nè cô gái, việc ai làm nấy chịu, liên quan gì nhau đâu?
Cô gái phì cười, đôi môi như đóa hoa hàm tiếu vừa nở:
– Hỏi vui chút xíu cũng giận được nữa sao?
Phạm Đạt lòng cũng dịu lại, đúng là mình giận vô cớ thật, anh chuyển qua chuyện khác:
– Thế cô ở một mình không sợ à?
Cô gái nhìn Phạm Đạt, cái nhìn tinh ranh làm anh chột dạ:
– Sợ gì?
– Sợ thú dữ, sợ ăn cướp.
– Cha con tôi ở trên núi bao nhiêu năm có thấy gì đâu?
– Ồ! Thế cô còn có ông cụ à? Sao tôi không thấy ông ấy đâu cả?
– Tôi chưa nói với ông đó thôi. Cha tôi qua bên kia núi trị bệnh cho người quen, gặp mưa chắc không về kịp.
Phạm Đạt nhìn cô gái, ánh mắt cảm thấy như gặp ở đâu, anh mạnh dạn hỏi:
– Cô có thể cho biết tên được không?
– Em tên Linh Nhi. Còn anh?
– Tên dễ thương và đẹp quá. Còn anh Phạm Đạt.
– Sao gia đình em không xuống chân núi mà ở, sống trên đây chi hiu quạnh vậy?
Cô gái nhìn vào khoảng không:
– Cha em nói con người không ai tốt cả, nên ở xa họ càng xa càng tốt đó thôi.
Phạm Đạt phản đối ý kiến đó:
– Đâu phải người nào cũng xấu hết cả đâu em.
– Em cũng biết thế. Nhưng cha già rồi em phải theo đở đần cho cha chứ bỏ đi đâu được.
Linh Nhi vừa nói vừa lấy cây que cời lửa trên bếp, lôi ra mấy củ khoai còn bám tro bếp, đặt trên tấm lá chuối trước mặt anh:
– Anh Đạt chắc đói rồi, nhà chỉ có khoai thôi.
Phạm Đạt xuýt xoa:
– Được vậy tốt quá. Đêm mưa lạnh mà được Linh Nhi cho ăn khoai nóng thì còn gì bằng.
Phạm Đạt bẻ đôi củ khoai, hơi nóng từ củ khoai tỏa ra thơm phức, anh vừa ăn vừa nhìn xung quanh, chợt nhận ra gần đó có một khung gỗ, trên đặt những thanh đá dài ngắn khác nhau, anh đoán đó là bộ đàn đá mà cô gái vừa đánh ban nảy, anh hỏi Linh Chi:
– Âm thanh tiếng đàn anh nghe ở xa chắc phát ra từ bộ đàn nầy phải không?
Linh Nhi khẻ gật đầu, nàng nói:
– Ở núi buồn lắm, mỗi lần ra suối lấy nước, nghe âm thanh dòng nước dội vào bờ đá nghe vui tai nên em nhặt về gõ thử lâu ngày thành quen.
– Anh nghe hay lắm mà.
– Nếu anh thích em đánh lại cho anh nghe nhé.
Không đợi chàng trai trả lời, Linh Nhi bước tới bộ đàn đá, hai bàn tay nhẹ nhàng uyển chuyển đánh thanh gõ lên từng phiến đá, âm thanh một lần nữa phát ra làm Phạm Đạt như chìm đắm vào âm thanh của núi rừng, có tiếng chim hót vang lên buổi sớm, tiếng lá rì rào xôn xao trong cái nắng ban mai hay khi chiều xuống, có tiếng sóng biển từ xa đưa về, tiếng côn trùng hòa tấu những lúc đêm trăng lên, tiếng gió mưa ào ạt, tiếng bão dông cuồng nộ. tiếng thiết tha gọi tình của chim muông vào mùa sinh sản. tất cả tạo thành một bản trường ca thiên nhiên tuôn trào bất tận. Phạm Đạt khẻ bước lại gần cô gái, nhìn đắm đuối vào gương mặt thanh tú của Linh Nhi. Linh Nhi ngừng gõ, ánh mắt cô dịu dàng nhìn anh chờ đợi. Phạm Đạt cúi xuống hôn lên tóc, má cô, rồi môi tìm môi. Phạm Đạt cảm thấy cả hương núi rừng từ trong người cô gái tỏa ra làm anh ngất ngây.Cả hai thân thể quấn quýt tìm lấy nhau nồng ấm trong đêm mưa rừng ẩm ướt lạnh lẽo. Ngọn lửa chập chờn trong đêm khuya tàn lụi dần, thời gian phút chốc như ngừng lại.
Ngoài kia mưa đã tạnh tự bao giờ, ánh trăng hạ huyền lừng lững treo trên cao đã lâu, một vài tiếng chim ăn đêm bay qua để lại một chút âm thanh xao động của núi rừng.
*
Phạm Đạt tỉnh giấc bởi tiếng gà rừng gáy vang một góc núi và tiếng chim hót trên các cành cây đón chào một ngày mới, anh đưa tay sang bên cạnh để tìm Linh Nhi nhưng tay chỉ đụng phải đám cỏ khô lạo xạo, anh mở mắt nhìn sang không thấy cô gái đâu, đệm cỏ vẫn còn hơi ấm chứng tỏ Linh Nhi rời chổ ngủ không bao lâu. Đưa mắt nhìn xung quanh anh ngạc nhiên: Mình đang nẳm trên một vạt cỏ khô chứ không phải là vạt tre nệm cỏ cao ráo, chỗ mình ngủ đêm qua không phải là gian nhà gỗ mà là một hốc núi nhưng bếp lửa vẫn còn vương vất chút khói bảng lảng bay lên. Đang ngơ ngác tay chàng chạm phải một tờ giấy có mấy lời sau:
Anh Phạm Đạt. Khi anh thức giấc là Linh Nhi đã đi xa rồi, duyên kỳ ngộ của chúng ta chắc chỉ có một đêm thôi. Chắc anh còn nhớ vào mấy tháng trước có lần anh vào rừng săn ảnh nghe tiếng kêu thảm thiết của một con voọc chà vá chân nâu, loài linh trưởng mà các thợ săn luôn truy bắt để mua bán làm thuốc, mắc bẩy của bọn thợ săn, anh đã cứu thoát nó khỏi bàn tay tàn bạo của họ. Con linh trưởng đó làm em. Cảm cái ân tình đó của anh em đã dùng tiếng đàn đá lưu anh lại trong đêm mưa gió trên đỉnh Sơn Trà để trả ơn. Anh đừng tìm em làm gì, em đã cùng cha và nhiều đồng loài khác tiến sâu vào đại ngàn hơn nữa để tránh sự truy bức của loài người. Họ là ai và họ có quyền gì mà sát hại bọn em như thế, phải chăng để thỏa mãn những khát vọng và lòng tham lam không đáy chứ gì? Núi rừng ngày càng thu hẹp, chúng em không còn đất sống phải bỏ chốn tai ương nầy càng xa càng tốt thôi, Có một ngày nào đó ngọn núi thiêng nầy sẽ chỉ còn trơ lại núi đá trọc nham nhở. Rừng khô suối độc sẽ tàn phá tất cả, con người rồi sẽ phải trả giá cho những hành động nông nỗi tham lam của mình mà thôi. Anh đừng tìm em, em đã đi rất xa nơi không có dấu chân người hoặc có thể một ngày nào đó có thể em lại sa vào tay của một tên thợ săn khát máu khác, cuộc đời thật quá buồn.
Hãy xem buổi gặp gỡ đêm qua là một kỷ niệm đẹp trong cuộc đời của anh, anh nhé.
Linh Nhi
Phạm Đạt thẫn thờ một lúc lâu, anh hiểu vì sao đôi mắt của Linh Nhi anh nhìn sao thấy quen quá, đúng là cặp mắt biết ơn của cô voọc chà vá chân nâu, nữ hoàng linh trưởng nhìn anh rất lâu trước khi trở về với đại ngàn khi anh giải thoát khỏi cái bẩy của người thợ săn. Đêm ân ái phải chăng là một giấc mơ thật đẹp của đời anh nhưng biết bao giờ giấc mơ đó mới có trở lại với anh lần nữa hay không thì thật là điều khó xảy ra nữa rồi.
Phạm Đạt buồn bã xuống núi, Cây rừng còn ẩm ướt mưa đêm, khi băng qua suối Đá, bên những cây sim rừng trổ đầy hoa tím, một đàn bướm đủ màu sắc, anh nhận ra có nhiều loài bướm đẹp đặc trưng của Sơn Trà như bướm phượng đuôi kiếm, bướm phượng đốm vàng, bướm phượng đen đuôi vàng… bay hàng đàn theo bước chân anh như tiễn anh xuống núi giống như ngày xưa các nàng tiên nữ tiễn đưa Lưu Thần và Nguyễn Triệu về trần gian vậy.
*
– Anh nhà báo nói người dân mình không đủ chứng cứ tố cáo, phản biện bọn cậy quyền coi thường pháp luật nhằm băm nát ngọn núi thiêng nầy sao? Nhà báo nên nhớ Sơn Trà ngàn đời là báu vật của thiên nhiên ban tặng người dân Đà Nẵng cho đất nước nầy. Thần rừng thần núi hay thần nanh đỏ mỏ sẽ không dung thứ cho những kẻ nào đụng chạm đến ngọn núi thiêng, không vặn cổ bẻ họng bọn chúng thì chúng cũng chết bất đắc kỳ tử hay sa vào vòng tù tội thân bại danh liệt, con cháu đời đời không thể nào ngóc đầu lên được. Còn bằng chứng phản biện xã hội ư? Bằng chứng là 10.000 chữ ký của nhân dân cả nước phản đối việc xây dựng băm nát Sơn Trà, rồi sự phản biện vào cuộc của nhiều nhà khoa học, hiệp hội đoàn thể báo chí. Kẻ ác cũng phải chùng tay nao núng thôi.
– Ổ! Nhà báo đừng nói thế, tôi biết anh là một trong nhiều nhà báo nhiệt tình, có cái tâm có lòng dũng cảm viết bài đấu tranh cho sự tồn vong của Sơn Trà, lá phổi xanh của thành phố chỉ sợ sự đấu tranh đó gặp sự vô cảm, thiếu hiểu biết thậm chí gian tham dùng quyền lực vô hiệu hóa đi thì sự đấu tranh chìm trong quên lãng, hay chỉ còn là một đóm lửa lẻ loi heo hút giữa đại ngàn thì thật đáng buồn biết bao.
– À! Nhà báo không tin làm gì có chuyện liêu trai giữa đời thường sao? Ban đầu tôi cũng nghĩ vậy nhưng đó là một thực thể tôi không thể chứng minh dù cả trong giấc mơ cũng chưa chắc gặp được. Tôi thề với nhà báo là tôi có thể đánh đổi cả ngai vàng và đất nước nếu tôi là vua để đổi lấy một cuộc đời bình dị giữa núi rừng với Linh Nhi, tôi không cần biết nàng là ma nữ hay loài hồ yêu quái gì hiện thân miễn nàng yêu tôi là được. Sao cuộc đời ta cứ mãi chạy theo tiền bạc, tranh quyền đoạt lợi cuối cùng được gì chứ chẳng qua cũng chỉ là nấm cỏ khâu xanh rì? Chi bằng sống những ngày tháng thong dong tự tại bên cạnh người mình yêu là thỏa chí một kiếp nhân sinh rồi phải không?
– Nhà báo hỏi từ đêm gặp gỡ ấy đến nay tôi có gặp lại Linh Nhi lần nào không? Hai mươi năm trôi qua tôi mong gặp lại nàng từng ngày từng giờ nhưng đó chỉ là bọt nước đầu gành cửa biển chiều hôm. Hạnh phúc đời người mong manh quá, mặc dù nhiều lần tôi đã trở lại đỉnh núi xưa, trong những đêm mưa gió bão bùng, căng tai căng mắt mong thấy được ngọn lửa ấm áp chập chờn như ma trơi kia, mong nghe lại tiếng đàn đá năm nào, mong tìm lại dấu chân của nàng nhưng chỉ là bóng chim tăm cá. Có lẽ nàng và đồng loại nàng đã thật sự bỏ chốn cũ rời đi thật xa giữa chốn đại ngàn bao la tìm chốn an bình hơn trước cơn lốc hủy diệt tàn bạo của loài người, môi trường sống càng thu hẹp dần hoặc có thể xảy ra điều gì xấu hơn với nàng một lần nữa, nếu thế lần nầy nàng không thể thoát khỏi tai kiếp của loài linh trưởng khi những bẩy rập của lũ thợ săn giăng sẳn khắp nơi trong từng ngỏ ngách của Sơn Trà. Trong thâm tâm tôi hy vọng nàng luôn an bình, sống tốt lẩn khuất đâu đó trên những ngọn núi cao không có dấu chân người. Hơn hai mươi năm qua hy vọng của tôi ngày một vơi dần với nỗi ngóng trông vô vọng nhưng tôi vẫn chờ.
Người đàn ông trung niên tóc đã bắt đầu nhuốm bạc im lặng không nói gì mắt hướng về ngọn núi xa xa bắt đầu tím đẩm sương chiều khi anh nhà báo từ giả ra về.
*
Ngôi nhà nhỏ dưới chân núi Sơn Trà đóng kín cửa suốt tháng nay.
Khi nhà báo trở lại Sơn Trà tìm Phạm Đạt thì chủ nhân ngôi nhà đã không còn ở đó nữa, cửa đóng kín im lìm, cỏ đã bắt đầu lên xanh trước ngỏ ra vào, bìm bìm leo lên trên mái nhà xanh um, hỏi thăm người lân cận họ nói Phạm Đạt đóng cửa đi khỏi từ hơn tháng trước, không biết đi đâu và không có lời nhắn gởi lại chỉ biết đêm đó mưa rất lớn và trên Sơn Trà hình như có tiếng đàn văng vẳng. Nhà báo có vẻ bâng khuâng vì không thể báo cho anh một tin vui: Sự đấu tranh của nhiều tầng lớp nhân dân và báo chí trong việc bảo vệ ngọn núi thiêng, bảo vệ màu xanh muôn đời của Sơn Trà đã có kết quả bước đầu thắng lợi, tất cả các dự án xẻ thịt Sơn Trà đều buộc phải dừng lại, những kẻ có chức quyền ký những văn bản trái pháp luật và những người có trách nhiệm liên quan đều phải giải trình và có thể sẽ chịu những mức án kỷ luật nặng nhẹ khác nhau. Anh nhà báo nhìn lên Sơn Trà, mây đầu núi vẫn bay, màu xanh của núi rừng muôn đời vẫn huyền ảo và trên dãy núi thiêng đại ngàn đó có một người đang tìm đường về thiên thai. Anh nhà báo hiểu Phạm Đạt chỉ có thể tìm lại được tiếng đàn đá năm xưa khi Sơn Trà không còn nổi sóng hay muôn đời chỉ là một hoài niệm khôn nguôi của một kiếp người như mấy câu thơ trong bài Tống Biệt của Tản Đà ngày trước:
Cửa động, 
Đầu non, 
Đường lối cũ
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.

NGUYỄN AN BÌNH

Advertisements

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

 

 

Tại sao lại phải Cõng Thơ Lên Núi khi đã bày biện tất cả những bi thảm hồn phách lẫn tuổi tên buồn?
trả lời câu hỏi này( tương tự to be or not to be?) không khó, vì không hề có những ẩn ngôn mật ngữ gì trong thơ của tác giả (chân dung tự họa: một đứa làm thơ, hiền như cục bột, là người tốt, yêu ai thì nói là yêu… vân vân)
nhưng qua rất nhiều tập thơ văn đã xuất bản, sao vẫn thấy đâu đây rất Thiên Cổ Bùi Ngùi!

 

rất cảm ơn thi sĩ Phạm Hồng Ân đã tặng “Cõng Thơ Lên Núi”
trân trọng giới thiệu cùng các độc giả.

Đà Lạt Trọn Đời Ta Rất Thơ

Mỗi bước theo nàng một bước thơ
ai yêu mà chẳng thế bao giờ?
Từ muôn tiền kiếp ai nào biết
một chút duyên từ ngọn gió trưa…

Một chút duyên bay chéo áo dài
ai từ cô bé áo mơ bay
mà bài thơ nhỏ không rơi rụng
khi lá vàng rơi mưa nắng phai!

Một chút hờn che nón lá nghiêng
chỉ che cho bớt nét nhu hiền
chớ ai tình thật là cô gái
năm cuối trường xưa không thể quên!

Không biết bao năm nhớ mãi về
hai cây khuynh diệp góc trường quê
dĩ nhiên phố thị chừ qua đó
cây nỡ nào ai đã đốn đi?

Nghĩ thế để nghe còn quý mến
còn thương biết mấy gót chân nàng…
Ngô Phù Sai trước kim liên tạc
mình dặm trường xa mây vương vương!

Này ai cúi xuống cho hôn nhé
mái tóc nằm trên vai gió đùa
năm ngón bàn tay thơm ngát hỡi
Hoa Quỳ – Đà Lạt, trọn đời Thơ!

Trần Vấn Lệ

CÁNH CỬA

 

Tôi đến viếng một người hàng xóm vừa mới mất. Đó là một ông già bình thường, sống lặng lẽ một mình. Cuộc đời ông, và kể cả cái chết của ông, chưa hề khơi gợi cho tôi một ý nghĩ nào đó về ông dù là cỏn con. Nhiều lắm tôi chỉ nghĩ ông giống như một chiếc lá khô vừa mới rời cành. Cuộc sống của ông có vẻ chẳng gây nên một chút xao động nào với người xung quanh. Ông là một ví dụ hoàn hảo cho thuyết sinh – lão – bệnh – tử.

Nhưng trong mấy chục phút ở đám tang, tình cờ tôi được nghe hơn bốn câu chuyện về ông. Và tất cả chúng đều kỳ lạ…

Câu chuyện thứ nhất kể rằng ông là một kẻ săn trầm cừ khôi, một kẻ lội rừng sâu chưa bao giờ bị lạc. Cả dãy rừng hùng vĩ miền trung, chạy dài cả sang Lào, chẳng chỗ nào mà ông không rành rẽ. Ông có khả năng siêu hạng để nhận ra những cây gió có trầm. Nhưng cuối cùng ông vẫn là kẻ trắng tay khi bước ra khỏi rừng, không phải do rừng mà vì những đồng bọn của ông – những kẻ đã lột sạch ông ngay cửa rừng.

Câu chuyện thứ hai kể về cuộc đời tình ái của ông. Thật bất ngờ khi biết ông có đến bốn bà vợ và rất nhiều con. Bằng chứng mà người kể chỉ cho tôi thấy là những đứa con lạ mặt hiện diện trong đám tang.

Câu chuyện thứ ba là của một người lạ mặt – người tự nhận là đồng đội cũ của ông trong một đơn vị biệt kích. Người này kể những câu chuyện như bịa về những tháng ngày tung hoành trong rừng rú đất Bắc, những lần đối đầu khốc liệt và những tình huống thoát chết như trong phim…

Còn câu chuyện thứ tư không được hấp dẫn như ba câu chuyện đầu nhưng rất lạ, lạ vì nó quá gần gũi. Người kể câu chuyện này cũng là một người hàng xóm bình dị khác, cùng thế hệ với người đã chết. Ông kể rằng hai người từ xưa đã là những kẻ tử thù không đội trời chung. Có những giai đoạn kẻ này là thợ săn còn kẻ kia là con mồi, và ngược lại. Nhưng vận số may mắn thế nào để cả hai không phải giết nhau và cùng sống sót cho đến bây giờ…

Và tôi còn được nghe thêm vài câu chuyện nữa về người vừa chết. Nhưng tôi cảm giác, nếu có đủ thời gian, tối sẽ được nghe rất nhiều, thậm chí là vô tận những câu chuyện về ông – một con người bình dị mà tôi đã sống bên cạnh bao nhiêu năm nay.

Rõ ràng cánh cứa tử vừa mở ra cho ông nó không chỉ khép lại một cuộc đời mà còn mở ra cho tôi thấy một cuộc hiện sinh náo động và kỳ ẩn. Đối với tôi, ông chỉ thật sự sống kể từ giây phút ấy.

Kiếp người trông giống như một khối thuỷ tinh, nó chẳng có gì, ngoài việc phản chiếu hình ảnh của những thứ hạnh ngộ trên đường. Rồi đến khi vỡ nát, bóng dáng của nó vẫn còn lưu dấu trong những khối thuỷ tinh khác mà nó có dịp đi qua…

TRÀ ĐÓA

 

 

đọc dăm câu
lại rồi nhàm
gấp trang kinh
bỏ chuỗi tràng hạt đeo

ngó bên sông
lá bay vèo
hồ như chim hạc
chở theo hồn chiều

đôi cánh bướm
giấc tình yêu
vườn sau bay động
dáng kiều
vóc hoa

xế non
bóng đổ tà tà
hoa rơi tay áo
cũng là
hư thôi

từ khi
nắng lụn trên đồi
từ khi là biết
tâm tôi
tục phàm

ngó trời xanh quá
khói lam
câu kinh nhẩm đọc
lam nham nửa vời

viết câu thơ
mời bạn chơi
màng gì cõi thế
hụt hơi còn tìm

pham quang trung

TRĂNG VÀNG GÁC KIẾM

Tặng một người bạn giang hồ đào hoa thân thiết của tôi.
Phút xao lòng, gió xa bay
Em ơi! Đừng nhắc chi ngày đã xa!
Giã từ phố thị phồn hoa
Anh về vui với nếp nhà vàng xưa.
Thưa em! Trời đất bây giờ
Là quanh bếp lửa anh chờ cơm sôi!
Trăng vàng gác kiếm tường vôi
Mùa thu gục chết bên đồi lãng quên!

TRẦN THOẠI NGUYÊN  

BÀI CUỒNG CA BUỒN BÃ

 

(Tặng Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn,
Phạm Cao Hoàng, Phan Xuân Sinh)

 

Cái muỗi sao mày vo ve mãi
Máu ta đây còn giọt cuối cùng
Cứ giả đui mù cho khỏi thấy
Xương thịt ta thôi cũng cam lòng

Đất nẻ gió khô mùa hạ cháy
Bò trâu gặm đá trọc đồi trơ
Ta nuốt tình em cho quên đói
Dòng lệ khô bầm đôi mắt thơ

Thôi giận ta chi: mơ đại cuộc
Thánh nhân lạc buổi nhiễu nhương này
Rát mặt mài gươm cơn gió thốc
Giáo gươm còn sao cụt chân tay

Thôi giận ta chi chiều đã tận
Chờ nhau dẫu bỏ xác quê người
Sách vở bùng lên nguồn lửa hận
Tro tàn bay mù mịt đất trời

Thôi giận ta chi cơn bão sử
Vận hạn đến hồi chung cuộc đây
Nơi đâu cũng nực mùi xú uế
Hãy cướp luôn đi giọt máu này

Dẫu chẳng cam làm tên thất chí
Đêm dài đối mặt với tiền nhân
Sấm kinh đã hết hồi linh ứng
Đất trời đầy một lũ vô luân

Có kẻ ngang qua thành quách cũ
Một màu hoang phế lạnh căm căm
Chẳng có nhang trầm xin xá tội
Đốt cành khô nhận chút thành tâm

Có kẻ lạc xiêu dăm buổi chợ
Cuồng ngâm nỗi xót nhục suy tàn
Nghe trái tim còn thoi thóp đập
Như lời đòi đoạn của trăm năm

Có kẻ đêm nay làm khách trọ
Huỳnh Dương ơi hỡi đất Huỳnh Dương (1)
Ngửa mặt nhìn mông mông trời rộng
Ôi cố hương nào qui cố hương

Có kẻ đi quanh mồ tử sĩ
Đọc thấy tên mình trên mộ bia
Hỡi ơi những mất còn dâu biển
Chẳng lẽ đời ta lạc chốn này

Có kẻ giải buồn dăm chén rượu
Ta nay một giọt đã đắng lòng
Người xưa “tam bôi thông đại đạo” (2)
Mời nhau rượu đục tấm lòng trong

Có kẻ bỏ làng lên núi thẳm (3)
Khát uống nước suối đói rau rừng
Ta bỏ đời ta không chỗ trú
Không còn một dúm đất dung thân

Có kẻ nghêu ngao ngoài góc phố
Khóc cười bất chợt, hỏi vì đâu
Ta bỗng dưng thành người thất thổ
Ngó lại đồi xưa mây bạc đầu

Có kẻ đêm ngày che kín mắt
Sợ nhìn rõ mặt đứa vô lương
Ta muốn giam mình trong tịch cốc
Dối lòng chẳng bận gió muôn phương

Ma quỉ lộng hành đền miếu đổ
Thánh thần xiêu lạc bãi gò hoang
Có kẻ đêm nay buồn dưới mộ
Đau từng giọt máu từng đốt xương

Đêm nay qua bến quạnh sông mù
Lòng chạnh soi tình trăng hổ ngươi
Nhớ ai ta nhớ từng sợi tóc
Yêu người không giải nổi niềm đau

Đêm nay phơi áo bên ghềnh đá
Nằm gối lên sương lạnh buốt lòng
Có kẻ muôn đời như khách lạ
Hoàng hạc bay rồi vô cố nhân

Năm tháng đã đành năm tháng cũ
Nỗi sầu này giống nỗi sầu xưa?
Sương khói ngàn năm đau xé ruột
Đâu mái nhà xưa để nhớ nhà? (3)

Thất tán mười phương trôi lạc chợ
Sống chẳng ra ma chẳng giống người
Chẳng giống thì thôi thì đành vậy
Sao còn chua xót mãi không nguôi

Có kẻ vô tình nhen bếp lửa
Tưởng chừng thiên hạ thức đêm nay
Tưởng chừng khi cùng đường mạt vận
Còn chút lòng nhau ở chốn này

Sống cũng thêm dăm ba tuổi nữa
Chết thì dăm tuổi có hề chi
Chỉ sợ lòng ta không đủ chứa
Nỗi đau trùm xuống thế gian này

Chỉ sợ lòng ta em chẳng rõ
Chút tình cố cựu chết bên sông
Ngồi tựa chân cầu con nước vỗ
Vào mạn đời ta buổi mịt mùng

Hỡi kẻ đã từng mang gươm báu
Uống hộ chiều nay chén rượu này
Dẫu phải qua sông không trở lại
Ngửa mặt nhìn trời mây trắng bay (4).

 

Chú thích

 

(1):Túc Huỳnh Dương,thơ Bạch Cư Dị

(2):Hạ Huyệt Đôc Chước,thơ Lý Bạch

(3): Hoàng Hạc Lâu,thơ Thôi Hiệu

 

Ghi thêm:

 

Túc Huỳnh Dương, Trọ ở Huỳnh Dương

Sinh ra tại đất Huỳnh Dương

 

Tuổi xuân đã sớm cố hương chia lìa

Bốn mươi năm dài xa quê

Giờ làm khách trọ não nề Huỳnh Dương

Mới mười tuổi đã dặm trường

Đến nay xấp xỉ tuổi chừng sáu mươi

Hồn nhiên thuở nhỏ vui cười

Như còn hiển hiện trước người hôm nay

Nhà xưa chẳng biết nơi đâu

Họ hàng lân lý ai nào thấy ai

Phải chăng phố chợ đổi dời

Gò xưa hang cũ cũng thôi chẳng còn

Mà sao sông Vị sông Trăn

Trong xanh một sắc vĩnh hằng sông ơi

 

Lê Văn Trung(tạm chuyển thành văn vần)

 

Thiếu tiểu ly hương khúc

Thiều thiều tứ thập tải

Phục đáo Huỳnh Dương túc

Khứ thì thập nhất nhị

Kim niên ngũ thập lục

Truy tư nhi hí thì

Uyển nhiên do tại mục

Cựu cư thất xứ sở

Cố lý vô tong tộc

Khởi duy biến triều thi

Kiêm diện thiên lăng cốc

Độc hưu Trăn Vị thuỷ

Vô tình y cựu lục

Bạch Cư Dị

 

BIỆT

 

Ta đi có lẽ không về nữa
Về làm chi quê quán mịt mùng
Mẹ cha chắc đã tan thành đất
Đất ở đâu cũng lạnh vô cùng
Đất ở đâu cũng màu luân lạc
Và nỗi buồn trải quạnh như sương

Ta đi có lẽ không về nữa
Về làm chi bến mịt sông mù
Em giờ chắc đã thành góa phụ
Xương trắng cồn hoang đêm chó tru
Hồn ai xiêu lạc đền rêu cũ
Cũng đành nén lệ khóc thiên thu

Ta đi là biệt đời nhau nhé
Em có lên ngàn ngóng bốn phương
Đã biết trăm năm tình hóa đá
Thì mong chi giọt lệ tương phùng
Đã biết ta trăm đường muôn ngả
Không chốn nào là chốn dung thân

Thôi cứ xem như ta chẳng về
Xem như đời chỉ tạm ngang qua
Thân là hạt bụi bay trong gió
Đậu xuống trần gian như giấc mơ
Đậu xuống lòng em như điềm gỡ
Nỗi đau truyền kiếp tự bao giờ

Thôi xem như chưa hề có nhau
Hai ta là hai cõi chiêm bao
Em và ta là hai chiếc lá
Chiếc rơi triền thấp chiếc đồi cao
Giông bão thổi tung ngàn số phận
Lạc nhau từ giấc mộng ban đầu

Về làm chi thôi về làm chi
Thà cứ như người không bản quán
Không họ hàng không cả tông chi
Đời ở đâu cũng đời nhiều loạn
Ta ở đâu nào có hơn gì
Người ở đâu cũng người xa lạ
Thôi về chi rào chắn giậu che

Thôi về làm chi đừng hỏi nữa
Gươm cuồng tay mỏi chí tàn suy
Đốt đuốc mà soi lòng nhân thế
Đất trời là một khối vô tri
Qua bao vong diệt cùng dâu bể
Trái tim người là nấm mộ đây
Đôi mắt đã mù khô cả lệ
Thì rót làm sao chén rượu đầy

Về làm chi về làm chi hỡi
Ngươi phương mù áo rách tang thương
Ta nghe ngươi hát lời vinh Thánh
Mà buồn hơn khúc hát đoạn trường
Ta thấy ngươi ngồi ôm tượng Chúa
Mà như ôm cả thế gian buồn

Thôi về làm chi về làm chi
Ngươi và ta hai kẻ sau cùng
Cứ đi cho hết vòng luân chuyển
Mà ngắm nhân gian đã loạn cuồng
Trái tim người chứa toàn sâu bọ
Rắn rít trườn lên cuôn chặt hồn

Ta đi có lẽ không về nữa
Gặp ngươi nơi góc biển chân trời
Tình như phù vân không hò hẹn
Lòng như sương khói chẳng buồn vui
Ta chỉ thương ngươi còn vọng tưởng
Một trần gian quá đổi ngậm ngùi
Ta chỉ thương ta còn ngất ngưỡng
Đi- về hai nẻo vẫn chưa nguôi.

 

 

CÕI LƯU ĐÀY 1

 

Một nơi không có suối có rừng

Trời đất hoang tàn đến dửng dưng

Con chim rã cánh bay mòn mỏi

Mơ một màu xanh của đại ngàn

 

Nơi đây gió thốc từng đêm hạn

Lòng cháy trơ bầm như cỏ khô

Những con chó đói tru buồn thảm

Hồn ma oan bật khỏi hoang mồ

 

Nơi đây nắng bỏng sương như muối

Và lá cây khô chưa kịp vàng

Nơi đây lòng người như đá cuội

Nứt nẻ nằm trơ không tiếng than

 

Tay rỉ máu bầm bươi trong đất

Vớt từng bụm nước quánh bùn tanh

Và vật với người tranh nhau uống

Phổi bám vàng thâm bụi lưu huỳnh

 

Bổ từng nhát cuốc vào trong đá

Gieo hạt mầm đau lệ ứa khô

Cây chết từ khi chưa kịp mọc

Người sống như hồn ma không mồ

 

Nợ đất nợ trời không trả nổi

Quẩn quanh giữa địa ngục thiên đường

Người đi như bóng ma trên đất

Lưu đày ngay giữa rốn quê hương.

 

 

CÕI LƯU ĐÀY 2

(Gửi Lại Nghìn Sau)

 

Lũ lũ ma trơi chạy rợp đồng

Đêm khô mà trời lạnh căm căm

Ta cũng nhập đoàn quân ma đói

Lội giữa trời khuya kiếm cái ăn

 

Tay sục vào bùn đau gốc rạ

Như ai cào xé trái tim mình

Trời đất dửng dưng như kẻ lạ

Ta hú gọi người không nhớ tên

 

Rừng lá run trong gió hạ Lào

Nung cho cháy vỡ những vì sao

Ai qua Đường Chín về Lao Bảo

Thấy xác ai nằm dưới vực sâu

 

Thất tán cõi sơn cùng thủy tận

Đốt lòng đau soi lấy đời nhau

Chỉ thấy đá ngàn năm chảy máu

Chỉ nghe rờn rợn gió oan cừu

 

Đốt đuốc soi lòng nhau mòn mỏi

Nước mắt lau bầm vạt áo thô

Ta khắc thơ vào ghềnh đá lở

Gửi lại nghìn sau giọt lệ khô.

 

 

CÕI LƯU ĐÀY 3

(Nỗi Đau)

 

Giấu mặt nhìn nhau tội nghiệp nhau

Núi xơ xác núi, đồi trơ đồi

Nước xoáy vào tim người xói lở

Nước rỉ vào tim người nỗi đau

 

Cành khô đợi mỏi cánh chim về

Trùng trùng vô tận đá vọng phu

Đá vọng phu hề chinh chiến lụy

Chinh chiến hề thay chốn ngục tù

 

Suối khô đợi mỏi cơn mưa lạ

Đá nứt bày khuôn mặt hãi hùng

Đá cũng kinh hoàng bầy thú dữ

Nhe nanh cắn xé cả linh hồn

 

Người chết quấn hờ manh chiếu rách

Chôn vội vàng dưới lớp cát nông

(Không biết ngày mai trong đáy mộ

Có còn tìm thấy nắm xương không?)

 

Mắt cũng bầm đen dòng lệ máu

Khóc nhau đành nuốt quặn niềm đau

Năm chung mảnh ván mà câm lặng

Nghi nghờ cả cái lén nhìn nhau.

Để nhớ tháng ngày ở núi rừng Trung Việt

 

LÊ VĂN TRUNG

 

 

Bài thơ gửi về từ trại cải tạo Ái Tử

 

Ở làng Cổ Lũy có nhiều người làm thơ, nhưng người viết truyện ngắn thật hiếm hoi. May mắn có Nguyễn Đặng Mừng, anh mê viết văn, làm thơ từ thời học sinh. Năm lớp 11 đã có truyện ngắn được chọn đăng trong tập san Hội mùa xuân, của trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị. Thời quân trường sĩ quan Thủ Đức, anh có nhiều bài thơ hay trên đồi Tăng Nhơn Phú. Sự nghiệp thơ văn của NĐM khá dày dặn kể cả số lượng và chất lượng. Điều đó không phải ngẫu nhiên mà có, mà do được hun đúc từ nhỏ, mê thơ văn, ca dao, tục ngữ, tiếng hò tao nôi của mẹ, đời sống dân dã của làng quê, cuộc chinh chiến dai dẳng nghiệt ngã của vùng ven giới tuyến tạo nên một diện mạo NĐM.

Rời quân trường SQ Thủ Đức, Mừng chọn Pleiku, nơi anh từng bị mê hoặc bởi ‘Má đỏ môi hồng’, ‘trời thấp thật gần’ nhưng không biết rằng thực tế thật là ác liệt, chiến trường đang ngấm ngầm sôi động chuẩn bị cho cuộc chiến lớn. Bài thơ dưới đây là tâm sự thật lòng của 1 sĩ quan Địa Phương Quân mới rời khỏi quân trường, bỏ lại những giọt mồ hôi pha chút lãng mạn nơi quân trường và cả những giấc mơ đẹp của tuổi học trò hoa bướm, tham gia vào cuộc chiến không lối thoát, báo hiệu cho một kết thúc buồn của người trong cuộc. Ví mình như con muỗi vo ve quay trong mùng là hình ảnh độc đáo và đầy tâm trạng.

Mùa mưa ở Pleiku

Mùa mưa về dài thêm những khúc quanh
Bong bóng mưa – ảo ảnh chuyện tình
Ngày – những mùa sương xanh lá núi
Đêm – những mùa trăng vỡ quanh mình

Mùa mưa về dài thêm bóng đêm
Đêm hoang mang đêm gọi em về
Đêm bịt bùng làm sao anh chạy trốn
Quay trong mùng như con muỗi vo ve

Ở tuổi 20, chưa được cầm tay con gái, đã vào quân trường rồi ra lính; nên gặp người em nào là cứ vận vào mình, tạm cho là thương nhớ mình, để mình có cớ thương nhớ lại, để có cớ làm thơ. Nhưng nhờ vậy có những câu thơ hay: Nhớ em không chừng tôi khóc/ Phố quen trống trải thế này.

Hương đã về xuôi!

Sáng nay Hương về dưới ấy
Mùa thu ở lại trên này
Lá vàng rơi theo lối cũ
Buồn nghiêng vàng phía chân mây

Hương về làm chi cho vội
Để chiều Pleiku heo may
Nhớ em không chừng tôi khóc
Phố quen trống trải thế này

Đã tới đèo Mang Giang chưa?
Mà sương mù trong cõi nhớ
Ai bảo sương tan rồi hợp
Để tôi khấp khởi mong chờ

Hay là Hương không trở lại?
Mà lòng tôi chẳng hề hay
Rằng xứ sương mù ẩn hiện
Những giấc mơ buồn lắt lay

Pleiku 1974
Viết về Pleiku rất thật như nó hiện hữu khiến một người chưa tới Pleiku như tôi tưởng như phố buồn u uất pha chút lãng mạn hiển hiện ngay trước mắt mình thời 1974, bên cạnh cái thèm thuồng thương nhớ của lứa tuổi 20. Buồn, u uất, mà sao vẫn thương, vẫn nhớ vẫn cuốn hút. Đơn giản vì cách viết tự nhiên, tả đúng hiện thực, ẩn hiện trong đó là mơ màng, ao ước hẹn hò yêu đương của tuổi trẻ, điều mà ai cũng có một thời trải qua.

Cuộc đời NĐM nhiều mơ màng, nhiều nông nổi, thơ văn NĐM có lúc cũng chạy theo mốt thời thượng, tuy nhiên những bài hay và ghi dấu ấn đều chảy ra từ giọt mồ hôi và những dòng nước mắt. Khi đời sống khấm khá, đầy đủ chúc tụng, thơ văn từ anh cũng được viết ra nhưng đi vào quên lãng; khi cuộc sống khốn khó, tưởng chừng như tuyệt vọng, thì thơ hiện ra cứu chuộc anh, bù đắp cho anh qua những ngày gian khó.
Làng Cổ Lũy có chiếc cầu bắc qua làng Đa Nghi qua con khe nhỏ, mùa hè đỏ lửa năm 1972 cầu bị đánh sập, quân đội miền Nam thay bằng chiếc cầu nhôm dã chiến. Sau 1975, cả nước đói khổ, nhờ chiếc cầu này trai làng có nơi tụ họp, đọc những bài thơ hào sảng của Quang Dũng, thơ Giang Nam và thơ Lê Văn Ngăn…, Công an xã thì ở xa, vả lại may mắn họ cũng không đến nỗi khắt khe lắm nên cũng chưa bị nhắc nhở lần nào.
Đa số những bài thơ tôi được nghe các anh đọc hồi đó là những bài thơ về tình yêu đất nước, cuộc kháng chiến chống Pháp, và những bài về tình yêu.
Trên chiếc cầu này, tôi đã được nghe anh Đẵng đọc “Những bài thơ cũ”, do NĐM gửi về từ trại cải tạo. Trong đêm tối mịt mùng đó, tôi sửng sờ khi nghe bài thơ này, khác với giọng thơ tôi đang học ở trường.
Những hình ảnh như “Tay em xưa vuốt ánh trăng mềm”, “Xưa hoang vu tóc lộng buông rèm”, “Hoàng hôn vàng chờ cúi hôn đêm” trước đó được thay bằng “Tiếng giun tiếng dế”, “đom đóm chập chờn” hay “tiếng lá vông đồng” của phiên chợ nghèo ngày xưa. Đó mới là đích thị Nguyễn Đặng Mừng.

Những bài thơ cũ

Trăm lốí mòn về với ngày xưa
Cho gió mùa thu lật trang sách nhỏ
Em thấy gì không những bài thơ cũ?
Khiến nỗi buồn ta thức dậy thì thầm

 

Ôi con tim đập lại nhịp xưa
Một ngọn gió heo may cũng đủ run nhè nhẹ
Lay hồn ta trầm tiếng giun tiếng dế
Và tiếng lá vông đồng rụng giữa đêm khuya

 

Hay con bướm con chim chập chờn dạ khúc
Hát tiễn anh qua những chặng cuối cùng
Sao em cười mắt liếc bao dung
Hãy cắn tóc mím môi đưa nhau về chặng cuối

 

Những bài thơ xưa chừ như tóc rối
Xui khiến anh ngồi gỡ lại đường tơ
Bóng dáng tình nương đi về ngại lối
Lòng lại dặn lòng hãy chối cơn mơ

 

Những bài thơ là những giấc mơ
Mà bóng tình nương là bóng sương mờ
Đêm nay ngập ngừng như con đom đóm
Bay lại vườn xưa chẳng thấy ai chờ…

Trại cải tạo Ái tử 1975

 

Nguyễn Đặng Trí Tín

LAU KHÔ NỖI BUỒN

 

(Để nhớ quê hương tôi, một quê hương luôn thống khổ)

quê hương tôi đen như cốc cà phê
bốn ngàn năm vẫn y nguyên vị đắng
bốn ngàn năm chưa một lần may mắn
pha thêm đường để trở thành cà phê ngon.

quê hương tôi từ huyền thoại cội nguồn
có bản chất phân ly từ mầm móng
năm mươi con lên núi cao, năm mươi ra biển rộng
giã từ nhau, không hứa hẹn gì nhau.

quê hương tôi một ngàn năm đô hộ bởi giặc Tàu
một trăm năm giặc Tây nô lệ
còn những ngàn năm kia cũng vô cùng tồi tệ
giành giựt cơ đồ, anh em chém giết thê lương.

quê hương tôi vô số kẻ bất lương
thà theo giặc để làm vương, làm tướng
thời nay vẫn có lắm tên hèn hơn Lê Chiêu Thống
nhục hơn Trần Ích Tắc ngày xưa.

quê hương tôi nhiều vụ án như đùa
Lệ Chi Viên là nỗi đau thảm khốc
Nguyễn Trãi và họ hàng bị tru di tam tộc
hai mươi hai năm mới được giải oan.

quê hương tôi sau nội chiến tương tàn
bên thắng cuộc trả thù độc ác
Bùi thị Xuân bị voi phanh thây xé xác
Nguyễn Ánh quật mồ, giã hài cốt Nguyễn Huệ quăng sông.

quê hương tôi hào kiệt rất đông
nhưng bọn tiểu nhân cũng hằng hà sa số
bậc anh hùng ngàn đời không khiếp sợ
dù gông cùm đang khóa chặt tay chân.

quê hương tôi vẫn vậy bốn ngàn năm
lịch sử cứ diễn hoài tuồng cũ
chế độ nào cũng hô to dân chủ
mà sau lưng thì dí súng hăm he.

quê hương tôi đen như cốc cà phê
bốn ngàn năm vẫn y nguyên vị đắng
năm mới xin chờ một lần may mắn
Đổi cốc thêm đường cho hương vị thơm ngon.

PHẠM HỒNG ÂN