Chuyện “Điên Nặng” ở Texas: Vì Đâu Nên Nỗi?

Sau ngày 23 tháng Chạp đưa ông Táo về trời, tôi khấp khởi mừng thầm vì năm Canh Tý – năm tuổi của tôi – sắp hết mà chưa có điều gì xui xẻo lớn xảy đến.  Không dè đến đêm 27 và 28 tháng Chạp, trời Austin (Texas) trở mưa lớn, và nhiệt độ tụt xuống đến 20° Fahrenheit (khoảng ­-7° Celsius); và sáng hôm sau, 29 tháng Chạp, khoảng 11 giờ sáng nhà tôi bị cúp điện.  Điện nhà tôi do thành phố Austin cung cấp dưới cái tên nghe rất kêu là “Austin Energy.”  Nghĩ trong đầu là không bao lâu sẽ có điện trở lại, vợ chồng tôi hồn nhiên ăn cơm trưa dưới ánh nến (mua dùng cúng Tết), và rồi kiên nhẫn ăn tối và bực bội cúng giao thừa cũng dưới ánh nến.  Đồng thời, chúng tôi lạnh cóng vì không có điện thì máy sưởi dùng động cơ điện thổi hơi ấm ra ngoài không chạy, đành phải mở lò gas nấu ăn lên để giữ ấm một phần nào.  Bước sang năm Tân Sửu lạnh lẽo trong bóng tối, không có máy sưởi ấm, không có Internet, không ti-vi tin tức, và cạn pin điện thoại di động, chúng tôi vào giường buổi tối với hai ba lớp quần áo dày cộm.

Theo lời khuyên của thành phố, để giữ ống nước khỏi đóng băng, chúng tôi để tất cả các vòi nước trong nhà nhỏ giọt suốt ngày đêm.  Mấy ngày đầu năm mới, trời Austin lạnh kinh hồn, hai đêm liền nhiệt độ tụt xuống đến 5 và 6°F (khoảng ­-15°C), và tuyết rơi liên miên chồng chất đến 10–12-inch (khoảng 0.3 m), phủ lấp mái nhà và đường đi.  Ở Austin, hai điều kiện thời tiết hà khắc này chưa bao giờ xảy ra cùng một lúc.  Trong mấy ngày kế tiếp, nhiệt độ nằm lì dưới nhiệt độ đóng băng 32°F, chúng tôi bị “cầm tù” vì đường sá đầy tuyết và nước đá, không đi lại được, và chỉ có cách “tử thủ” và tìm cách sống còn trong nhà mình.  Nhờ để nước nhỏ giọt, ống nước lạnh từ ống nước chính của thành phố vào nhà không bị đóng băng, nhưng nhiệt độ quá thấp khiến cho ống nước nóng chạy trong tường từ máy nước nóng vào nhà kém may mắn hơn, bị đóng băng (và bị vỡ vì nước đóng băng thì tăng thể tích); vậy là chúng tôi mất nước nóng.

image.png
image.png

Sau hơn một tuần mất điện, chúng tôi có điện lại tối mồng 7 Tết.  Trước đó hai ngày, lúc trời ấm lại bình thường, ống nước nóng rã băng và phun nước ào ào từ trong tường ra ngoài, và chúng tôi phải gọi người khóa nước từ ống dẫn chính của thành phố và như thế hoàn toàn mất . . . nước.

Hôm nay, ngày mồng 10 Tết, chúng tôi đang chờ thợ ống nước tới sửa.  Từ năm cũ đến nay, vì lúc đầu thiếu ánh sáng và sau đó thì mất nước, hàng ngày chúng tôi nấu nước nóng và dùng khăn mặt lau người; đó là phương pháp “tắm khô” tôi từng dùng thời còn trẻ bỏ nhà đi bụi đời.  Vẫn cố gắng nấu ăn (vì không thể ra ngoài) nhưng khi rửa chén và nồi niêu soong chảo phải dùng phương pháp rửa tô của các bà bán bún bò gánh ngày xưa ở Huế:  chỉ một thau nước nhỏ và cái khăn lau mà các bà “rửa” hết tô này sang tô khác suốt ngày.  Ngày nay, chúng tôi “tiến bộ” hơn vì có các cuộn paper towel rất tốt và dễ dùng.  Và phương pháp cổ điển này sẽ còn được dùng ít nhất là ba, bốn ngày nữa.

Thực ra, trong tuần lễ “mất điện” đó, điện có trở lại vài ba lần, nhưng lần nào cũng chập chờn khoảng 10 hay 15 phút rồi biến mất.  Lần điện tái xuất giang hồ lâu nhất là khoảng nửa tiếng đồng hồ trước nửa đêm mồng 4 Tết.  Sau đó, tôi nghe tin tức nói ERCOT (Electric Reliability Council of Texas) lúc đó đã ra lệnh cho Austin Energy và các công ty điện lực ở Texas cúp điện luân phiên.  ERCOT là cơ quan điều hành hệ thống điện và chỉ huy các công ty điện lực trong tiểu bang.

Cúp điện luân phiên là một cách giải quyết vấn đề thiếu điện; công ty điện lực chia vùng phục vụ thành từng khu, cho mỗi khu có điện 45 phút rồi cúp đi, và đóng điện cung cấp cho khu khác.  Không may cuộc cúp điện luân phiên thất bại ê chề và khiến cho hơn 40 phần trăm khách hàng toàn tiểu bang bị mất điện tuốt luốt.  ERCOT cho biết, lúc đó nếu không ngưng kịp thời, chỉ trong vòng vài phút hay vài giây là tai ương xảy đến:  toàn thể hệ thống điện Texas sẽ sụp đổ hoàn toàn, và sẽ cần vài tháng mới có thể phục hồi.  Về mặt kỹ thuật, các viên chức có trách nhiệm trong việc quyết định và thi hành công tác cúp điện luân phiên này xứng đáng được thưởng huy chương vàng về sự . . . bất tài.

Vì Sao Nên Nỗi?

Là một kỹ sư điện hồi hưu, chúng tôi đã từng làm việc gần 40 năm trong ngành điện lực Hoa Kỳ, trong đó khoảng 13 năm là hội viên của Reliability Assessment Subcommittee (RAS) là tiểu ban có nhiệm vụ nghiên cứu, tiên liệu, và tìm cách ngăn ngừa những vụ cúp điện rộng lớn ở Bắc Mỹ, tương tự như vụ cúp điện Texas trong tuần lễ vừa qua.  RAS là một ủy ban thuộc North American Electric Reliability Council (NERC), NERC là cơ quan tầm Bắc Mỹ chỉ huy và bao gồm các cơ quan như ERCOT.  Theo lời yêu cầu của anh bạn trẻ Nguyễn Đình Hiếu đang biên tập và trình bày cho Nguyệt san KBC, chúng tôi ghi lại dưới đây một số cảm nghĩ tại sao “dân Texas phải gánh chịu những ngày ‘thảm thương’ như thế.  Lỗi tại ai hay lỗi tại . . . Trời?” (nguyên văn thư của Hiếu).

Lỗi tại . . . Trời

Dĩ nhiên đổ lỗi cho ông Trời, hay “khoa học” hơn là đổ thừa cho hiện tượng “biến đổi khí hậu,” là cách giải thích dễ dàng và an toàn nhất.  Mưa lạnh và tuyết rơi cộng thêm nhiệt độ cực kỳ (nói một cách tương đối) lạnh giá lúc đầu khiến cho các đường dây tải điện đến khách hàng bị đứt, khách hàng mất điện.  Đồng thời, thời tiết giá lạnh làm cho các cơ quan điện lực thiếu khả năng cung cấp điện (“thiếu điện”), càng làm cho việc phục hồi điện cho khách hàng khó khăn và trì trệ.

Nước mưa và tuyết tan thành nước đọng trên dây truyền điện, gặp lạnh đông thành đá, và khiến cho dây nặng quá sức, bị đứt ra rơi xuống, và không thể tải điện từ nhà máy đến người tiêu thụ.  Texas lại có rất nhiều cây cối; nước đọng trên lá và cành cây khiến cành cây trĩu nặng, gãy lìa ra khỏi thân cây, và hoặc là rơi đè lên nối tắt hoặc là kéo đứt các dây phân phối dẫn điện vào nhà khách hàng.  Tóm lại, dây điện đứt là do thời tiết ông Trời gây ra, người đành ngậm đắng nuốt cay mà khó có thể làm gì được.

Nhưng tại sao thiếu điện?  Trong một số năm gần đây, do chính sách của chính phủ và khuynh hướng của quần chúng cổ võ việc bảo vệ môi sinh và ngăn ngừa hiện tượng sưởi ấm toàn cầu, Texas cũng như nhiều tiểu bang khác đã thiết trí nhiều nhà máy phát điện dùng năng lượng gió cũng như khai thác triệt để năng lượng mặt trời.  Cả hai loại “nhiên liệu” tái tạo này có sẵn trong thiên nhiên, người ta chỉ tốn tiền xây nhà máy và dụng cụ, sau đó dùng “miễn phí.”  Austin Energy lôi cuốn khách hàng tư gia thiết trí các tấm pin quang điện trên mái nhà để giảm bớt nhu cầu dùng điện, và do đó giảm nhu cầu xây cất nhà máy phát điện, bằng cách tặng tiền mặt (gọi là “rebate”) cho khách hàng giảm bớt chi phí.  Thí dụ, các tấm pin quang điện giá $25,000, Austin Energy có thể tặng cho khách hàng $10,000 tiền mặt.  Khách hàng còn có thể được miễn thuế lợi tức một phần (40 phần trăm chẳng hạn) của chi phí $15,000 còn lại.  Từ các chính trị gia đến công ty điện lực và khách hàng, ai nấy đều thơ thới hân hoan, vờ quên mất rằng sẽ có một lúc nào đó gió không thổi và mặt trời không hiện ra, lấy điện đâu ra để khách hàng dùng và có được những tiện nghi của đời sống văn minh?

“Lúc nào đó” đã xảy ra.  Trời mưa lạnh và tuyết rơi tan thành nước và đông đá trên cánh quạt của các trụ phát điện dùng năng lượng gió, bão tuyết dữ với gió thổi mạnh có thể bẻ gãy các cánh quạt này, và các trụ phát điện phải ngưng hoạt động.  Năng lượng gió trở thành vô dụng.  Tuyết và mây mù che khuất mặt trời, dân Texas đành hôn chia tay với năng lượng mặt trời; nhu cầu dùng điện tưởng là đã giảm nay lại càng gia tăng hơn vì trời lạnh giá và thiếu ánh sáng mặt trời.  Ôi thôi, thế là anh em ta cùng nhau hô lên là thiếu điện.

Lỗi tại . . .  Người

Theo ý kiến thô thiển của chúng tôi, đổ lỗi “thiếu điện” cho ông Trời thì quả là lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.  Nhà nghiên cứu kế hoạch điện lực luôn luôn tâm niệm công ty điện lực có “nghĩa vụ phụng sự” (obligation to serve) khách hàng trong mọi trường hợp.  Ở một cửa hàng bách hóa, nếu khách hàng đến mua một đôi giày mà cửa hàng không có, khách phải ra về hay tìm mua ở cửa hàng khác.  Công ty điện lực không thể làm như thế, bất cứ lúc nào khách hàng bật đèn lên hay cắm một dụng cụ vào ổ điện, khách mong đợi đèn đỏ lên hay dụng cụ hoạt động ngay lập tức.

Để thực hiện sứ mạng của mình, công ty điện lực phân biệt hai loại khả năng của hệ thống phát điện:  Một là “năng lượng” (energy) tương tự lượng kilowatt-giờ công ty điện lực đọc đồng hồ tính tiền khách hàng tư gia.  Hai là “khả năng cung cấp điện” (capability) là công suất điện có thể cung cấp bất cứ lúc nào khách hàng cần tới.  Trước đây, khả năng “được công nhận” (accredited) của các nguồn điện dùng năng lượng tái tạo bị quy là rất thấp.  Thí dụ, căn cứ theo thống kê về hoạt động thực sự của nhà máy phát điện dùng gió, người ta chỉ công nhận khả năng của chúng khoảng 6-10 phần trăm, và các nguồn điện mặt trời khoảng 3-5 phần trăm.  Ngoài ra, NERC và các cơ quan như ERCOT còn đòi hỏi mỗi công ty điện lực phải có đủ khả năng cung cấp điện cho khách hàng ở thời điểm dùng điện cao nhất trong năm, cộng thêm “số dư dự trữ” (reserve margin) thường là 15-18 phần trăm nhu cầu tối đa của khách hàng.  Như thế, dù “có chuyện gì xảy ra,” công ty điện lực vẫn đủ khả năng đối phó với tình thế bất trắc.

Trong những năm gần đây, do chính sách của chính phủ, các yếu tố kinh tế, và tâm lý quần chúng, nguồn điện dùng năng lượng tái tạo trở thành những mặt hàng quý giá.  Khả năng được công nhận của nhà máy gió được nâng lên đến 60-80 phần trăm, năng lượng mặt trời đến 30-50 phần trăm.  Song song với sự “sáng tạo” ra các khả năng cung cấp điện ma, người ta không còn đòi hỏi công ty điện lực có thêm số dư dự trữ, với lý do các hệ thống điện nối liền với nhau và có thể giúp đỡ lẫn nhau khi cần.  Họ vờ quên mất rằng khi thời tiết khắc nghiệt xảy đến trong một diện tích rộng lớn như cơn bão lạnh Texas vừa qua, công ty nào cũng bị ảnh hưởng, cũng bị thiếu điện, và không thể trợ giúp công ty khác.  Không còn tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn (chứa lúa để ngừa đói, để dành áo phòng khi lạnh) như cái thuở không mấy xa xưa ấy.

Xem ra, lý do khiến Texas thiếu điện và nạn cúp điện kéo dài hơn mười ngày là lỗi tại . . . người.  “Người” ở đây có thể hiểu là các chính trị gia hay các nhà quản trị điện lực ở cấp cao nhất; từ năm, mười, hay mười lăm năm nay, họ đã dần dần tạo nên những chính sách và đường lối đưa lại hậu quả chẳng đặng đừng như đã thấy.  Ta cũng có thể đổ lỗi cho các kỹ sư thiếu khả năng tìm ra bột để khuấy thành hồ.  Nhưng trong một quốc gia dân chủ như Hoa kỳ, trách nhiệm tối hậu là của người dân.  Họ đã bỏ phiếu bầu người lãnh đạo, đặt viên chức có thẩm quyền vào những chức vụ quyết định, và chấp thuận các chính sách đề ra.  Nếu chưa kể họ đã tận hưởng những lợi lộc phát sinh từ các chính sách đó.

Tôi đã thấy rõ và tiên liệu những gì sẽ xảy đến, và dĩ nhiên không đồng ý với những chủ trương “cấp tiến” đó.  Nhưng tôi là thiểu số.  Vì vậy mà phe tôi bị thất cử.

Nguyễn Ngọc Hoa

Còn Nợ Một Lời Xin Lỗi

Giữa tháng Mười Một, mặt trời North Dakota lặn sớm, mới năm giờ chiều mà đã chạng vạng tối.  Chiều nay tan sở, tôi và anh bạn Charlie đứng xếp hàng sau chiếc xe chở hàng phân phát gà tây ở góc bãi đậu xe; hàng năm, vào khoảng thời gian này, công ty tặng nhân viên mỗi người một con gà tây để ăn lễ Tạ ơn.  Charlie hiếu kỳ hỏi tôi,

            “Ở Việt nam anh có ăn gà tây hay mừng lễ Tạ ơn không?”

            “Ngày Sài gòn tôi biết hai điều:  Lễ Tạ ơn vào ngày thứ Năm tuần lễ chót của tháng Mười Một, và lính Mỹ đóng ở bất cứ nơi nào trên thế giới đều được ăn tiệc gà tây trong dịp này.  Gà tây thì mỗi năm tôi ăn một lần – vào đêm Giáng sinh, khi được mời dự bữa ăn nửa đêm theo kiểu Pháp sau khi đi lễ mi-xa nhà thờ,” tôi ngượng ngập trả lời.

            “Anh nhớ lễ Tạ ơn nhằm ngày thứ Năm thứ tư của tháng Mười Một chứ không phải thứ Năm cuối cùng vì có khi tháng Mười Một có đến năm ngày thứ Năm,” chàng nháy một bên mắt chỉnh tôi, “Đối với dân Mỹ, lễ Giáng sinh mang tính cách tôn giáo và lễ Tạ ơn thiên về gia đình hơn.  Nhưng cả hai đều là dịp gia đình sum họp vui vầy.  Hàng năm vợ chồng tôi ăn lễ luân phiên giữa hai nhà:  nếu Tạ ơn với gia đình tôi thì Giáng sinh với gia đình bà xã, và năm sau thì ngược lại.”

Ở nhà tôi, trong những ngày trước lễ Tạ ơn, cha rộn ràng mở tiệc “cám ơn Chúa” lần lượt mời ông bà Mục sư Nielsen, ông bà Gardner, cặp vợ chồng “thân” nhất với cha khi đi lễ nhà thờ, và sau hết là bác Kiệt đến nhà “dùng cơm gia đình.”  Tuy cha không giao thiệp với “đám Việt nam không ra chi,” nhưng bác Kiệt là ngoại lệ.  Cha nghe nói trước đây bác mở trường dạy Anh văn ở Nha Trang và chắc mẩm thế nào bác cũng biết cha đã giữ chức vụ quan trọng ở vùng duyên hải và sẽ phục cha không biết để đâu cho hết.

Bác Kiệt mang bó hoa tươi tới tặng mẹ; cha đón nhận và biểu tôi tìm bình hoa cắm vào và để giữa bàn phòng khách, nhưng không gọi mẹ ra chào.  Như các khách người Mỹ dự tiệc trước, bác Kiệt rất đỗi ngạc nhiên nhưng không nói gì khi thấy bàn tiệc chỉ có cha và bác ngồi đối diện nhau.  Xưa nay cha vẫn đãi khách như thế.  Mẹ nấu nướng sau nhà bếp, Quỳnh Châu và Bình phụ giúp để kịp làm món ăn trong thực đơn cha đề ra, và bọn con trai là đội ngũ hầu bàn phục vụ tỉ mỉ.  Bác khen dồi các món ăn mẹ nấu và lắng nghe cha khoe khoang thành tích và quyền hành ngày cũ, nhưng không hùa theo tán dương; có lẽ cha thất vọng lắm.  Bác khiêm tốn,

            “Thưa bác, tôi dạy học nên không biết nhiều về quân sự và chính trị.”

Khi ăn trái cây tráng miệng, cha hết chuyện nói bèn chuyển sang đề tài mà chín người mười ý, dân tỵ nạn lúc nào cũng tranh luận sôi nổi và trong lúc cãi cọ khó lòng giữ được hòa khí:  Tại sao mình mất nước?  Cha đưa ra ý kiến huyền hoặc,

            “Nếu mà thằng Mỹ và thằng Pháp không bắt thằng Thiện từ chức, bây giờ Việt nam Cộng hòa (“VNCH”) mình vẫn còn khả năng chiến đấu và chưa mất.”

Bác Thiện là bạn thân và cũng là thần tượng của cha.  Ngày tôi học đệ tam niên trường kỹ sư, cha muốn kết thông gia với bác và ép tôi làm rể.  Tôi không bằng lòng, cha nổi trận lôi đình từ bỏ “thằng con bất hiếu bất mục,” và tôi cuốn gói bỏ nhà ra đi bụi đời.  Tôi nhớ như in tối thứ Hai 21 tháng Tư (1975), cả gia đình xúm xít trước chiếc ti-vi đen trắng xem trực tiếp truyền hình bác Thiện tuyên bố từ chức tổng thống tại dinh Độc lập.  Không đồng ý với cha nhưng bác Kiệt nhẹ nhàng hỏi,

            “Thế ạ?  Làm sao ông Thiện làm được?”

            “Thằng nớ hắn giỏi ghê…ê…ê…ê lắm,” cha thán phục nói lớn.

            “Thưa bác, ông ấy giỏi làm sao ạ?” bác Kiệt vẫn từ tốn.

            “Tiếng Anh và tiếng Pháp hắn giỏi ghê lắm,” cha suy nghĩ vài giây rồi nói thêm, “Hắn là thằng tướng duy nhất tốt nghiệp đại học trước khi gia nhập quân đội.”

            “Điều này mới, tôi chưa được biết.  Ông ấy học đại học nào ạ?”

“Sau khi học hết đệ tứ (lớp 9) và đậu bằng diplôme (Trung học đệ nhất cấp), hắn học trường Hàng hải và hai năm sau tốt nghiệp sĩ quan hàng hải.  Hắn không thèm làm việc trên tàu biển khi biết tụi Pháp trả lương thấp hơn sĩ quan Pháp và ghi tên nhập học trường Võ bị Quốc gia khóa 1 ở Đập Đá Huế.  Chỉ có tay tài giỏi kinh hồn như hắn mới có cơ lật ngược thế cờ.”

Trường Việt nam Hàng hải sau này thuộc Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật ở Phú Thọ, trung tâm gồm cả trường Cao đẳng Điện học của tôi, và chương trình sĩ quan hàng hải ngang hàng với bậc cán sự kỹ thuật.  Ngày Sài gòn, tuy cãi lệnh cha về việc hôn nhân, tôi vẫn một lòng kính trọng vị nguyên thủ quốc gia vì thấy bác là người đàng hoàng chín chắn nhất trong số các tướng lãnh và chính trị gia đương thời.

* * *

Trong đợt người từ trại tỵ nạn Đồn Chaffee đến Bismarck định cư sau cùng, bác Hòa được mọi người kính nể nhất.  Bác là đệ nhất tham vụ tòa Đại sứ VNCH tại Trung hoa Dân quốc (Đài Loan), nhân vật số hai của tòa đại sứ.  Bác trạc dưới bốn mươi, người tầm thước lịch sự, nói năng dịu dàng, và làm việc ở nha Chức nghiệp North Dakota và chuyên tìm việc cho người Việt.  Bác gái trẻ hơn bác hai, ba tuổi, mặt đẹp như hoa, và thường kiên nhẫn chỉ dẫn cho các bà các cô về lối sống gia đình ở Mỹ.

Bọn đàn ông thường vấn kế bác Hòa về việc mua xe hơi, mua bảo hiểm, và bảo trì xe cộ.  Hầu hết những người này chưa bao giờ ngồi vào ghế tài xế lái xe nên làm chủ chiếc xế tứ và oai vệ lái phom phom chạy ngoài đường là ước ao tột cùng.  Có việc làm và để dành đủ món tiền trả trước là tính ngay đến chuyện mua xe.  Với túi tiền giới hạn, họ chỉ đủ sức mua xe cũ – có tên văn hoa là xe tiền sở hữu (pre-owned) – và trở thành mồi ngon cho hãng và người bán xe cũ.  Những người bán xe cũ học một sách lừa dối khách hàng nghèo mà cần mua xe như nhau.  Thí dụ, dù chiếc xe cọc cạch đã chạy sáu, bảy chục ngàn dặm Anh, anh nào cũng lôi ra bài quảng cáo cũ mèm,

Máy móc và bên trong xe còn mới toanh.  Chủ trước là bà cụ già góa chồng giữ gìn xe cẩn thận và mỗi tuần chỉ lái đi nhà thờ một lần.

Bác Hòa hay kể câu chuyện khôi hài,

Người bán xe cũ và luật sư là hai hạng người chuyên ăn gian nói dối.  Hỏi:  Làm sao biết được khi nào họ nói dối?  Trả lời:  Khi thấy môi họ mấp máy!

Điều kiện cần để mua xe cũ là có vài trăm đô la trả trước và việc làm, tức là có lương để trả góp hàng tháng.  Sau khi hai bên thương lượng giá cả mà thua thiệt về phần người mua, anh bán xe cũ “thương tình” khách hàng và vào trong văn phòng “năn nỉ ông sếp” đồng ý cho vay trả góp số tiền còn lại với lãi suất “rất nhẹ.”  Anh ta thừa biết nếu khách hàng ra nhà băng vay tiền mua xe, nhà băng sẽ từ chối vì khách không hội đủ tiêu chuẩn về lợi tức để trả nợ.  Thế là ông di dân mới hí hửng ký giấy vay nợ mua xe với mức lời cắt cổ 29 phần trăm một năm, rước về chiếc xe cà rịch cà tang, và è lưng kéo cày trả nợ 36 tháng dài.

Tôi không phải qua cầu đoạn trường đi mua xe cũ vì hai tuần sau khi tôi nhận việc, Charlie mua xe mới và tặng tôi chiếc Chevrolet Chevelle đời 1967 cũ của anh; tôi nhận xe và cuối tháng lãnh lương đưa cho anh 100 đô la.  Chiếc Chevelle tám máy to gần bằng chiếc tàu đánh cá di tản ra biển Đông, dư sức chở người và đồ đạc đi câu cá hay cắm trại, thoải mái cõng bàn ghế tủ giường khi dọn nhà giùm, ăn chịu với tôi hơn hai năm, và gồng mình qua ba mùa đông dài không hề ho hen hư hỏng.  Bạn tỵ nạn gọi nó là chiếc “phi thuyền” và chế nhạo tôi kẹo kéo bủn xỉn, đi xe cũ kỹ xấu xí làm “người Việt mình” mất mặt bầu cua với Mỹ.

* * *

Cuối tuần lễ Tạ ơn, mẹ, bác Hòa gái, và vài bà khác tụ họp nấu nướng ở nhà bác Hòa để mừng lễ Tạ ơn trễ, tổ chức thành một buổi sinh hoạt chung.  Sau bữa ăn thịnh soạn, mọi người chia làm hai phe:  Phe đàn bà ngồi ở phòng ăn bàn chuyện . . . đàn bà, phe đàn ông tiếp tục uống bia và cãi nhau chí chóe trong phòng khách.  Như một truyền thống tự ngàn xưa, chuyện gì đàn ông An nam cũng cãi nhau cho bằng được, và chuyện gì họ cũng khăng khăng cho mình giỏi mình đúng và mọi người khác đều dở đều sai.  Thí dụ, khi nói về chuyện bảo hiểm xe cộ, anh nào cũng gân cổ trưng ra lý lẽ chứng tỏ hãng bảo hiểm của mình có uy tín nhất, mình mua bảo hiểm rẻ nhất, và hợp đồng bảo hiểm của mình tốt nhất, và các người khác đều chọn lầm và mua lầm.  Làm tôi nhớ lại chuyện ngụ ngôn “thầy bói mù xem voi”!  Họ chỉ đồng ý với nhau một điều,

            “Bọn Mỹ trong sở tao ngu như bò.  Tao hỏi mua xe ‘mới’ trả bảo hiểm bao nhiêu tiền, tụi nó ngu ngơ lắc đầu không biết và biểu tao gọi hãng bảo hiểm mà hỏi.”

Thấy tôi ngồi yên tay cầm lon bia còn uống dở, bác Hòa bước lại,

            “Sao không nói năng gì cả vậy, anh cần thêm gì không?”

            “Dạ không.  Rượu vào lời ra, cháu chưa đủ đô (dose) nên chưa thưa thốt và còn dựa cột mà nghe,” tôi cười cười.

            “Vậy thì anh qua kia ngồi nói chuyện ba lăng nhăng với tôi.  Hay là muốn sang với ‘cô ấy’ để hóng chuyện ngồi lê đôi mách của các bà?” bác chỉ sang phòng ăn; nói “cô ấy” bác ám chỉ Quỳnh Châu.

            “Cháu mà lết sang bên kia thế nào cũng bị ‘cô ấy’ đuổi trở lại đây, ‘Khu liền bà, anh léo hánh tới làm chi?’  Vả lại, cháu có chuyện quan trọng muốn hỏi bác,” tôi đứng dậy đi theo bác; hơn nửa năm nay tôi băn khoăn thắc mắc về chuyện bác Thiện.

Đầu tháng Tư dân Sài gòn đồn đại bác Thiện ra lệnh cho thống đốc Ngân hàng Quốc gia liên lạc với hai hãng hàng không Trans World Airlines và Pan Am và hãng bảo hiểm Lloyd’s of London để chuyển 16 tấn vàng ra ngoại quốc nhằm tài trợ chính phủ lưu vong và mua vũ khí cho quân kháng chiến trong trường hợp đất nước lọt vào tay Cộng sản.  Đêm thứ Sáu 25 tháng Tư, bốn ngày sau khi từ chức, bác rời Sài gòn bay sang thủ đô Trung hoa Dân quốc là Đài Bắc với danh nghĩa đi phúng điếu cố Tổng thống Tưởng Giới Thạch mất trước đó ba tuần rồi bay đi Anh quốc.  Tiếng đồn lan rộ lên:  Bác lấy 16 tấn vàng mang theo.  Từ đó, mỗi khi nghe người đồng hương lên án bác biển thủ tài sản quốc gia, tôi không biết thực hư nên cứ xót xa trong lòng.  Bây giờ có dịp hỏi bác Hòa,

            “Thưa bác, ông Thiện có mang 16 tấn vàng sang Đài Bắc hay không?”

            “Làm quái gì có chuyện đó!  Trong trại Đồn Chaffee, tôi đã cãi cọ với nhiều người về lời đồn ác nghiệt này.  Thủ phạm không ai khác hơn lũ Việt Cộng lưu manh phao tin láo toét, trong lúc phần lớn dân mình ngây thơ dễ tin.  Nhưng có đôi ba thằng tướng tá vốn hèn nhát ôm vợ con của cải chạy trốn, có tật giật mình, và đồn rân lên để bôi nhọ ông Thiện xuống hàng giun dế như nó,” bác Hòa giận dữ mặt đỏ gay.

            “Sao bác biết chắc như vậy?”

            “Tôi không biết thì ai biết?  Ông Thiện đến Đài Bắc bằng máy bay quân sự Mỹ.  Đại sứ Kiển là anh ông Thiện đi vắng, đi đâu không biết, và đích thân tôi ra phi trường đón đưa gia đình ông Thiện,” bác giơ tay ra quả quyết, “Chính tay này mang tất cả 31 chiếc va-li của gia đình ông Thiện từ trên máy bay xuống cũng như đưa lên máy bay khi họ rời Đài Bắc đi Anh.  Nếu chia đều 16 tấn vàng cho 31 chiếc va-li, mỗi va-li phải đựng vào khoảng nửa tấn, tức là 500 kí.  Làm sao sức người có thể đưa lên đưa xuống máy bay?”

Hơn ba thập niên sau, năm 2006, chính phủ Việt Cộng cuối cùng thú nhận toàn bộ số vàng gồm 1,234 thỏi vẫn nằm y nguyên tại Sài gòn và được bàn giao cho chúng “khớp với sổ sách từng chi tiết nhỏ.”  Nợ bác Thiện một lời xin lỗi những kẻ phe VNCH đã kết tội bác, dù tưởng lầm hay có ác ý.  Nhưng không ai đứng lên tạ lỗi.  Dầu sao đã cũng trễ rồi.  Bác mất năm năm trước tại Boston thuộc tiểu bang Massachusetts.

Nguyễn Ngọc Hoa

SAU BÃO

nắng vàng hơn và cây cũng xanh hơn
những ngày nắng lại về sau cơn bão
những cô gái quàng khăn màu thạch thảo
lại lụa là ra phố mỗi sớm mai

một chỗ ngồi gió biển thổi qua vai
một ghế trống chờ người đi trở lại
một nỗi nhớ mênh mông như bờ bãi
như niềm vui trống vắng tự lâu rồi

nắng đầu ngày sau bão ấm yên phơi
gió trải lá thềm xưa buồn mấy thủa
ta ngước mắt thấy trời thênh thang quá
thèm trở về từ chỗ đã ra đi

không hẹn hò nên không có chia ly
không sum họp nên chẳng hề xa cách
bao lâu rồi trái tim ta hoá thạch
bỗng một ngày tan chảy dưới cơn giông

ta vẫn biết có một ngày bão tố
biết ngóng trông và biết cả đợi chờ
ta vẫn biết vì sao chung niềm nhớ
chung buồn vui và chung cả niềm đau

sau bão mưa rực rỡ nắng muôn màu
bầu trời phố lại bừng hương khởi sắc
NẾU CUỘC ĐỜI CHO TA THÊM ĐIỀU ƯỚC
XIN TRỞ VỀ…TỪ CHỖ ĐÃ RA ĐI

Dao Lam

Ngày Xuân Quá Vội

Thế rồi xuân cũng vội
Trôi qua lòng hoàng hôn
Vàng hoa chiều tiếc nuối
Rơi như giọt lệ buồn

Hình như em cầm giữ
Mấy mươi mùa xuân tôi
Hình như em vừa thả
Tình xuân tôi bên trời

Tôi hóa thành chiếc lá
Vàng suốt một rừng xuân
Em ướm lòng hương cũ
Chưa nguôi niềm lãng quên

Ngày xuân qua quá vội
Lòng chưa kịp giao thừa
Có người thay áo mới
Thầm nhớ mùi hương xưa

Tình em vàng hoa cúc
Từ buổi nguyệt chưa rằm
Tôi một đời nở muộn
Nở muộn hoài trăm năm.

Lê Văn Trung

u hồn cỏ hoa

thiền sư trụ trì trong non
nửa đêm hoa nở cung tròn nguyệt thư
hiên ngoài giọt biếc quỳnh như
đổ tràn chính điện khói lư hương vàng
tâm trầm xuống giọng đôi trang
đèn hiu hắt ngọn chực tàn cõi mê
có ai ngoài cửa buồn về
làm chao nến lụn tư bề vắng im

Phạm Quang Trung

ĐỢI XUÂN SAU

Tiễn năm đi dùng dằng chiều sau chót
Mơ người về men mật rót môi hoa
Đàn đứt dây lặng thinh treo vách mọt
Người không về hoen bụi phím ghi-ta

Tình xa lắc xa lơ người có nhớ
Nến chập chờn soi mắt đợi khuya xanh
Đàn ta chạm tay run sầu hoang vỡ
Tiếng hát người huyền hoặc khói mong manh

Dư âm từ mùa xa về cám dỗ
Rót cạn đời ta chúc tuổi tình nhau
Chợt lặng hồn ngoài kia xôn xao phố
Tự dỗ lòng: thôi cứ đợi xuân sau

Người sẽ về phục sinh từng thớ gỗ
Lại nâng đàn lau phím nhẹ dây đau

Nguyễn Vân Thiên

MÙI CHẠP PHÔ

Trong những khu xóm nhỏ, tiệm chạp phô báo hiệu Tết đến sớm khi bắt đầu đưa hàng về bán càng lúc càng nhiều. Trong đó, có nước mắm tĩn, cải xá bấu, khô cá và có cả đầu ông Địa. Hàng hóa của ông tạo thành một thứ mùi riêng, đó là
MÙI… CHẠP PHÔ
Cuối tuần mấy ông bạn già ngồi cà phê với nhau. Sau khi nói hết chuyện thời sự, một ông cắc cớ hỏi: “Nghề tui là lái xe cho ông chủ. Có lúc ngồi đợi chủ ngoài bãi xe, tôi chợt nghĩ: người ta hay nói… mùi quê hương. Nghe cũng hay hay, nhưng theo mấy ông, mùi quê hương là mùi gì?”Một ông buông tờ báo nói: “Đó là mùi sữa mẹ!”.“Thôi đi, nghe nói hồi ông còn nhỏ, má ông đứt sữa sớm, ông phải uống sữa Guigoz. Không có bú sữa mẹ thì làm sao ông nhớ được tới giờ?!”Ông khác nói: “Đó là mùi đất sau cơn mưa. Hồi xưa vùng Gia Định này còn nhiều đất trống. Mùa hè, sau cơn mưa, mặt đất xông lên mùi âm ẩm. Mưa ít thì mùi đất nồng, người lớn bảo hít vào dễ bị bệnh. Có lúc mùi đất sau cơn mưa lớn thơm mát như mùi cỏ, dễ chịu. Nắng hạn lâu ngày, tụi mình chơi đánh trổng, phải đào đất đặt con trổng vào. Khi xới miếng đất ẩm, có chút mùi đất ẩm hít vào nhớ mùa mưa ghê lắm!”.Cả nhóm gật gù, có lý!Ông lái xe bảo: “Nghề nghiệp bắt tui hay phải đi xa đi gần. Có lúc đi cả tháng ngoài Bắc, khi nhớ về Sài Gòn là nơi sinh ra, tui nhớ nhất là… mùi chạp phô. Đó là mùi quê hương của tui!Mùi chạp phô! Đó là mùi gì mà nhớ dữ vậy! Mà chạp phô là cái gì, một ông gốc ngoài Bắc xen vào. Mấy ông còn lại gật gù, không biết ý ra sao.Mùi chạp phô? Ông lái xe bảo đó là một mùi khó diễn tả. Nó là thứ mùi tổng hợp, có mùi xà bông cục Cô Ba, mùi xà bông bánh dài hình chữ nhật hiệu Cây Đờn. Hai thứ mùi thơm đó quyện với mùi củ cải muối, mùi tương hột và mùi nước tương, nước mắm. Tất cả tạo thành một mùi hơi hâm hẩm, luẩn quẩn trong gian nhà trước của tiệm chạp phô với hằng trăm hàng ngàn món, không chỉ là những món đồ nhà bếp như mắm muối, hộp quẹt diêm, đá lửa, dầu hôi, ngo chụm lửa… mà còn có nhiều thứ khác như kim, chỉ, nút áo, tim đèn… có cả thuốc Con Rồng trị đau bụng, thuốc nhức răng nhức đầu… Hàng hóa đựng trong hũ, treo lủng lẳng trên đầu, đựng trong cái tủ kiếng luôn luôn mờ căm vì không chùi bao giờ, hàng hóa vun ngọn trong mấy cái bao đang hé miệng đặt dưới đất. Ông chủ tiệm người Hoa (nhiều chủ tiệm chạp phô là đàn ông) ngồi trong một góc chật hẹp, chen giữa lối đi bé nhỏ để lấy đồ cho khách, miệng còn lơ lớ: “Hầy cái lầy, ngộ tính năm cắc dẻ dồi!”, “Nị mua từ từ chả cũng lược mà!”. Tiệm chạp phô giống như cửa hàng tiện lợi, dù không bán 24 giờ nhưng trưa trời nắng đúng ngọ hay đêm hôm cần mua, như mua chai dầu gió hay thuốc đau bụng chẳng hạn, đến kêu cửa họ cũng bán, chẳng càu nhàu. Ai mua đồ, chê đồ dỏm họ cũng tỉnh bơ không tự ái, khuyên vậy thì mua cái khác đi. Tiệm đặt trong hẻm cũng có, ngoài mặt tiền đường cũng có, nhất là góc ngã tư. Trên đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển) ở Phú Nhuận, chỉ một đoạn ngắn đã có mấy tiệm, chưa kể trong chợ Lò Đúc. Góc đường này, giáp đường Trương Quốc Dụng có một tiệm chạp phô lâu đời, tính ra đã hơn bảy chục năm giờ vẫn còn. Ông lái xe vẫn lui tới tiệm này, như tìm chút ký ức hồi còn nhỏ nhà còn ở xóm Lộc Lì gần đường rầy xe lửa cổng số 8 đường Nguyễn Minh Chiếu, nay là đường Nguyễn Trọng Tuyển. Hồi nhỏ, ngoài chuyện đi học và bắn bi, đánh trổng với bạn bè, con nít trong xóm giao tiếp với xã hội bên ngoài qua tiệm chạp phô. Nhờ cái tiệm mà biết trên đời có bao nhiêu món người ta sản xuất ra để phục vụ cuộc sống, như đường thì có đường cát trắng, cát vàng, đường phèn, đường phổi, đường thốt nốt… mắm thì có đủ thứ mắm thu, mắm lóc, mắm tôm chà… khô thì khô tra phồng, khô cá đuối, khô khoai… đứa nào chịu để ý sẽ khôn ra nhiều. Nhờ có cái tiệm, đứa nào đựợc sai đi mua nước mắm, mua gạo hay củi, than sẽ được chủ tiệm cho thêm cây kem, cái bánh vòng… Nếu có tĩn nước mắm dùng hết, thay vì đem bán cho ve chai, đem ra tiệm đổi mỗi cái tĩn 3,5 lít sẽ được hai cây cà rem, không cần dài cổ đợi bà ve chai vô xóm. Nếu đi mua xà bông Cây Đờn, nhìn ông chủ dùng dây cắt xà bông rất sướng, một đầu dây ông cột vào tay nắm cửa, tay kia ông cầm sợi dây kéo thẳng ra và hạ xuống cắt bánh xà bông rất ngọt. Nhà hết gạo, ra mua thiếu ông cũng chịu, hỉ hả nói cứ từ từ cũng được mà. Có vài người nghèo có lúc ngặt quá, ra lấy vài ký gạo rồi xin thiếu, sau đi ngang qua tiệm, ông ngó lơ, để rồi người ta cũng nhớ trả nhưng chậm, có khi cả tháng. Ngày qua ngày, ông vẫn nhập hàng về đều đều, nhớ từng món một để ở đâu, ai cần là đứng dậy đến đúng chỗ mà lấy rất nhanh. Có lần, chú bé trong câu chuyện này hỏi ông có bán cây súng gỗ bắn pháo không? Ông lắc đầu. Nhưng chỉ chiều hôm sau, ông nhắc: “Có súng bắn pháo rồi đó, có mua không?”. Người ta nói: ai cần gì thì ông bán cái đó! Có người trong xóm phân tích: “Ông chủ tiệm chạp phô bán rẻ vậy, sao có lời? Hay ông bán hàng giả?”. Mấy người trong xóm lắc đầu bảo tui thấy rẻ là được, gạo mắm ăn được còn nói gì nữa? Về nhà, hỏi má, má bảo: “Con nhớ có bán cho ổng mấy cái tĩn nước mắm phải không? Ổng đi mua nước mắm rẻ tiền trong can nhựa chiết ra tĩn, bán ra với giá nước mắm tĩn, có lời hơn vì giá nước mắm tĩn cao hơn. Ai cũng biết, nhưng người ta vẫn mua. Thôi kệ, không có cái tiệm chạp phô đó ra mua chỗ khác cũng vậy, chắc chắn không có chuyện cho thiếu!”. Sau này lớn lên, thấy chút tiểu xảo của ông không đáng gì so với sự dễ dãi, có khi tốt bụng với người nghèo của ông. Anh Thành, người lái xe trong câu chuyện này chia sẻ với tôi những câu chuyện vụn vặt về… mùi quê hương của anh. Anh bảo tui luôn nhớ cái tiệm chạp phô góc đường Trương Quốc Dụng đó và có mấy lần ghé mua vài thứ cho vui. Ông chủ tiệm đã mất, hai cô con gái của ông đã lớn tuổi, không lập gia đình vẫn duy trì cái tiệm cũ, vẫn xởi lởi vui vẻ với khách như cha mình, chỉ có khác là khi tính tiền thì nhẩm trong miệng hoặc dùng máy tính, không gảy bàn toán gỗ lạch cạch như cha nữa. Tiệm này tuy vẫn bề bộn, cũ kỹ nhưng đã sáng sủa hơn. Có điều không còn cảm thấy cái mùi xưa cũ đậm đà. Có lần sau khi ghé tiệm về, anh Thành chợt nhớ mình vẫn chưa hỏi hai cô chủ là vì sao ngày xưa ba của các cô không bao giờ bán cây kim vào ban đêm. Ông trả lời khi Thành đến hỏi mua cây kim cho má vào một buổi tối: “Lâu có lược, ngộ không bán cây kim vào buổi tối lược!”. Cùng với cách phát âm lơ lớ của người Hoa ngụ cư trên đất Việt, có thể đó là một phong tục cũ kỹ của đất tổ Trung Hoa mà ông mang theo khi sang sống bên xứ này.Ngày xưa, ngoài Chợ Lớn là nơi tập trung sinh sống đông đúc của người Hoa, ở Sài Gòn – Gia Định và khắp Nam kỳ ở xóm làng nào, con đường nào cũng có vài tiệm chạp phô của họ. Ngay trung tâm Sài Gòn, từ những con đường vây quanh chợ Bến Thành cho đến các con đường Bonard (Lê Lợi), đường George Guynemer (Hồ Tùng Mậu), lề đường chợ Cũ đều có nhiều tiệm vách ván. Họ bán chạp phô, có khi kiêm luôn tiệm nước bán hủ tiếu, cà phê. Sau này, đặc biệt sau 1954, các tiệm tạp hóa thay thế dần, dù không quá đa dạng hàng hóa như tiệm chạp phô nhưng bày biện thoáng, sạch sẽ hơn. Tiệm chạp phô biến thành một hình ảnh để hoài niệm của những đứa nhỏ nay đã hai thứ tóc, nhớ lại cái thời hồi đó suốt ngày le te chạy ra tiệm chú Xồi, chú Sừng mua chai nước mắm, miếng cải xá bấu, để được xâu bánh vòng treo trên cổ ăn dần.

PHẠM CÔNG LUẬN (Trích trong SÀI GÒN NGOẢNH LẠI TRĂM NĂM – Công ty sách Phan Book xuất bản 2021)

Mặt Mộc


Đâu cần chi điểm trang, em đã là nhan sắc!  Em giai nhân có thật để anh kề mặt hôn…
Đẹp, một phần phấn son mà xinh là mặt mộc!   Em là Niềm Hạnh Phúc, Trời đã ban cho anh!
Em mãi mãi Xuân xanh, đó cũng là ước vọng, ai ở trong đời sống không mơ gặp người Tiên?
Có người ước liên miên, cả đời không vừa ý!  Có người đi tới Mỹ, đẹp nhất vẫn Quê Huơng!
Em là trăm ngàn thương.  Em là trăm ngàn nhớ.  Anh không giỏi tính sổ nhưng anh biết tính em…
Người con gái thật hiền, người con gái thật giỏi, anh, không một anh nói: “Em Xinh Nhất Trần Gian!”.
Hỏi Đất Nước Việt Nam, mấy bà Trưng bà Triệu?  Anh biết đời sẽ thiếu nếu không em hôm nay… 
Biển có Đông có Tây, biển có Nam có Bắc…biển vẫn là biển chật!  Tình em mới bao la!
Em là ánh trăng ngà.  Em là tinh tú ngọc.  Em đúng là Tổ Quốc trọn đời anh ghé vai!
Mai mốt về Bồng Lai (một nơi gần Tùng Nghĩa, nơi gần chỗ em ở), mình gặp nhau lại thôi!
Anh sẽ thưa với Trời:  Em là Tiên, đa tạ!  Mình lên rừng đếm lá, em thấy tình anh nha!
Bây giờ anh rất xa sẽ về chân em bước.  Đố mà em bay được trong vòng tay anh ôm!

Trần Vấn Lệ

Nụ Tình Buồn

chút an vui sót lại
trên lá nắng rưng vàng
chút ngày xưa rớt lại
trên chuỗi ngày cưu mang

phố lên xanh màu nhớ
ngày nào xa rất xa
ta đi qua mùa gió
con đường về ngập hoa

người xa như bóng nắng
chảy vào chiều quạnh hiu
nghe tiếng lòng trĩu nặng
thương nhớ ngợp mắt chiều

rồi mai về lại phố
mùa nắng tràn gió đông
ly cafe quán gió
hắt hiu xao xác lòng.

sông xa dài mấy nhánh
núi mênh mông ngút ngàn
trên tay cầm sót lại
nụ tình buồn trăm năm


Nguyễn Dao Lam