PHỐ KHUYA

 

Đêm vàng khuya
Im hơi
Phố buồn
Một mình tôi
Khói thuốc bay
Tìm mộng
Em mù mịt sao trời!

Đàn sầu ai văng vẳng
Sông xa chìm khói sương
Đèn vàng
Chong bến vắng
Mình tôi
Xõa tóc buồn.

Tôi
Nửa đêm về sáng
Gió cô hồn
Phố hoang
Đời không Em
Đá tảng
Đè nặng kiếp dã tràng!

Tôi đi về
Trăng vỡ
Máu lai láng
Đường khuya
Hoa cô độc chợt nở
Cùng tôi ngủ
Hiên Chùa.

Em có về
Phố khuya?
Mà lệ lá
Đầm đìa
Tôi
Loài hoa cô độc
Ngủ, thức
Cùng sao khuê

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Advertisements

FORMOSA, MÔI TRƯỜNG VẪN NHIỄM BẨN

 

Sự kiện tập đoàn Formosa xả chất thải nhiễm độc dọc theo bờ biển miền Trung từ năm 2016 đến nay vẫn còn là một sự kiện nóng bỏng. Nó vẫn sôi sục chỉ vì sự đền bù không được rõ ràng. Nó vẫn sùng sục như lò thuốc súng chỉ vì Formosa vẫn trắng trợn xả những chất độc hại ra bờ biển dưới sự bao che của nhà cầm quyền cộng sản. Cá vẫn nằm chết trắng xóa dọc theo chiều dài bờ biển. Những người tranh đấu cho quyền lợi của ngư dân vẫn bị bắt bớ và cầm tù một cách oan ức. Ngay chính những ngư dân chính thức cầm đơn kiện lên các tòa án Huyện, Tỉnh, vẫn bị bắt bớ và trù dập.
Vậy làm thế nào để tìm công lý cho những nạn nhân Formosa đây?
Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa”, (Justice for Formosa Victims, JfFV) tập hợp một nhóm người ưu tư về sự đền bù cho các nạn nhân Formosa chưa được giải quyết thỏa đáng, kể cả vùng biển miền Trung vẫn bị ô nhiễm mà tập đoàn Formosa không hề một lần bàn thảo đúng đắn với nhà cầm quyền cộng sản VN, và những người lên tiếng bênh vực cho những nạn nhân Formosa bị bêu rếu và áp đặt một bản án tù giam vô lý, đã chính thức đứng ra đại diện cho các nạn nhân liên quan đến Formosa và đâm đơn kiện lên các tòa án tại Đài loan, Nữu ước (Hoa kỳ), và tuơng lai tại La Hague (Hòa lan).
Vụ khiếu kiện được tiến hành từng bước với sự tham khảo về pháp lý của nhiều tổ hợp Luật sư tại Canada và Đài loan; trong đó có hai tổ hợp Luật sư là Quỹ Bảo Vệ Quyền Môi Trường (Environmental Rights Foundation – ERF) và Hội Luật Sư Bảo Vệ Môi Trường (Environmental Jurist Association) đặt trụ sở tại Đài Loan.
Vào tháng 4/2016, Công ty Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh tại Việt nam (FHS) bị phát hiện xả thải chất độc hại vào vùng biển dài 250km thuộc 4 tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, và Thừa thiên – Huế thuộc miền Trung. Ngay sau đó, Việt nam chính thức cấm đánh bắt cá dọc theo bờ biển, và vùng biển cách xa bờ 20 hải lý. Số lượng cá chết và phải loại bỏ vì nhiễm độc lên đến 322 tấn trong 3 tháng từ 6/2016 đến 9/2016. Ngư nghiệp chiếm gần 20% tổng sản lượng quốc gia nên một khi hải sản bị loại bỏ từng ấy trọng lượng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế chung của Việt nam. Nhưng quan trọng nhất vẫn là đời sống kinh tế của hàng trăm nghìn ngư dân thuộc 4 tỉnh kể trên bị sa sút nghiêm trọng. Một số ngư phủ phải bỏ nghề đánh bắt cá, kiếm nghề khác – không có một chút tay nghề – để sinh tồn. Một số khác phải mượn nợ để giúp gia đình cầm hơi. Nhiều cảnh thương tâm như gia đình chị Trần thị Hảo, nghề bán cá, hai đứa con phải bỏ học để giúp mẹ kiếm sống, vì cả nhà kiếm không đủ ăn. Gia đình anh Trần đình Thái, chủ hãng nước nắm, đành phải bỏ nghề vì không còn cá để sản xuất nước mắm; chưa kể người dân quanh vùng cũng không dám dùng nước mắm chỉ vì cá bị ngộ độc. Và còn nhiều gia đình lâm vào cảnh túng quẫn chỉ vì thảm họa do nhà máy Formosa gây ra.
Đúng ra, vào ngày 30/6/2016, công ty Formosa đã nhận lỗi xả thải và đền bù 500 triệu Mỹ kim qua nhà cầm quyền cộng sản Việt nam. Cho đến nay, số người được bồi thường quá ít, và số tiền bồi thường chẳng là bao so với tình trạng nợ nần từ vay mượn để nuôi sống gia đình trong những năm qua. Trường hợp điển hình, gia đình anh Paul Nguyễn Dương nhận được tiền bồi thường 50 triệu đồng ($2430 USD) chỉ vừa đủ trả nợ. Số tiền đền bù thật ra còn nhiều uẩn khúc. Uẩn khúc ở chỗ còn rất nhiều bí ẩn về số tiền 500 triệu Mỹ kim vì chưa ai thấy một chứng từ nào, từ tập đoàn Formosa hoặc phía nhà cầm quyền cộng sản, xác nhận số tiền này. Không ai biết tập đoàn Formosa có thật sự đền bù số tiền 500 triệu Mỹ kim, hoặc giả đây chỉ là một thỏa thuận ngầm giữa hai bên để trấn an dư luận, nhất là để xoa dịu sự phẫn nộ từ phía dân chúng.
Theo nghiên cứu độc lập của Giáo sư Tiến sĩ Paul Jobin, người Pháp, thuộc Viện Xã hội học, Sinica Academics (Đài Loan), và Đại học Diderot (Ba-lê) được loan báo vào tháng 3/2018 vừa qua cho biết, một số cá nhỏ (nhẹ ký) đã quay trở lại vùng biển bị ô nhiễm. Một ngư dân cho ông biết tuy có một chút cá nhưng sản lượng đánh bắt giảm hẳn, từ 300-400kg hải sản, nay chỉ còn khoảng 60kg. Bán ra không đủ nuôi sống gia đình. Nhiều nhà phải chấp nhận ăn cá hàng ngày trong phập phồng lo sợ về sức khỏe của con cái về sau, vì lẽ họ không biết mức độ nhiễm độc nặng hay nhẹ, khi tin tức bị nhà cầm quyền bưng bít, hoặc loan tin bất nhất. Họ phải chấp nhận ăn cá độc chỉ vì không còn cách nào khác để cầm cự với cuộc sống ngày càng khó khăn. Riêng về khoản đền bù, giáo sư Jobin tiếp xúc kín đáo với người dân trong vùng và ông xác nhận một số rất ít gia đình nhận được tiền bồi thường. Tình trạng ngày càng bi đát thêm vì nhà máy Formosa vẫn tiếp tục xả thải chất độc vào biển. Khi cuộc sống trở nên vô vọng, và không nhận được sự hổ trợ kinh tế nào từ nhà cầm quyền để sống qua ngày, ngư dân bắt đầu biểu tình đòi hỏi công lý và điều làm giáo sư Jobin ngạc nhiên là nhà cầm quyền thẳng tay đàn áp người dân một cách vô lý và dã man.
Đài BBC loan tin, hôm 10/5/2019 vừa qua, xác cá chết trôi dạt vào bờ biển Nguyễn Tất Thành, TP Đà Nẵng kéo dài tới hơn 1 km, bốc mùi hôi thối, theo báo Người Lao Động. Vào tháng 4/2018, cũng tại bờ biển này, số cá chết lên tới 2 tấn. Hôm 11/5, cá heo trắng đầu đàn cùng cả đàn ngàn con dạt vào bờ biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, nơi gần nhà máy Formosa. Thông tin này được đăng tải trên báo Thanh Niên nhưng sau đó bị gỡ xuống. Vẫn tại Vũng Áng, tháng 4 năm ngoái, hàng trăm kilô cá, mực nằm chết la liệt trên bờ. Một sự thật không thể chối cãi là đến bây giờ, cá vẫn tiếp tục chết tại khu vực xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh và huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Người ta ước lượng chỉ riêng trong năm 2018, tại Quỳnh Lưu, số cá chết lên tới 1,500 tấn. BBC còn lên tiếng cảnh báo về 900,000 tấn chất thải độc hại đang tồn đọng, và chắc chắn dưới sự bao che của nhà cầm quyền cộng sản, Formosa sẽ thải dần dần ra biển. Môi trường biển miền Trung sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn trong một ngày không xa.
Những sự kiện hiển nhiên như thế làm đau lòng những ai còn nghĩ đến tiền đồ của dân tộc và thế hệ con cháu mai sau. Họ là những người có cuộc sống bình thường như mọi người, nhưng có trái tim thật phi thường. Vì thế, họ thay mặt ngư dân và mẹ thiên nhiên lên tiếng báo động giới hữu trách trong và ngoài nước. Họ can đảm đấu tranh đòi hỏi quyền lợi cho ngư dân và đúng như họ dự đoán, nhà cầm quyền cộng sản kết án họ với những bản án nặng nề. Anh Hoàng Đức Bình bị bắt và bị nhốt chung (một cách cố ý) với những tay tội phạm hình sự, và bị chúng đánh đập tàn bạo trước khi nhận một bản án 14 năm tù chỉ vì đứng lên đòi hỏi sự đền bù chính đáng. Anh Nguyễn Nam Phong bị một bản án 2 năm tù vì (dám) khiếu kiện lên tòa án huyện. Blogger Nguyễn văn Hóa bị kết án 7 năm tù vì đơn phương mở cuộc điều tra và tường trình lên trang blog cá nhân về sự xả thải chất độc vô trách nhiệm của nhà máy Formosa. Mẹ Nấm cũng bị kết án 10 năm tù chỉ vì lên tiếng báo động về môi trường biển bị ô nhiễm. Họ lên tiếng dùm các nạn nhân và bị trù dập một cách dã man. Tiếng kêu gào của các nạn nhân Formosa bị bóp nghẽn trong uất ức và bất công. Tiếng than van của mẹ thiên nhiên chìm lẫn trong luồng nước độc hại đang giết dần mòn vùng biển miền Trung.
Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa” đang tìm mọi cách để tiếng gào của biển và tiếng than khóc của các nạn nhân Formosa được thế giới lưu tâm. Một trong những người lưu tâm đến hoạt động của Hội là Đức cha Nguyễn thái Hợp, nguyên Giám mục Vinh. Vũng Áng, nơi nhà máy Gang Thép của tập đoàn Formosa đang gieo rắc tai ương kinh hoàng cho hàng trăm nghìn ngư dân, thuộc địa phận ngài cai quản.
Vào đầu tháng 8/2017, Đức cha Nguyễn thái Hợp đã lặn lội đến Đài loan để quan sát và tìm hiểu cách làm ăn của tập đoàn Formosa, cũng như gặp các viên chức quan tâm đến môi trường, kể cả các chức sắc của các quốc gia để kêu cứu thay cho các ngư dân. Ngài ráo riết vận động để thế giới hiểu được sự ô nhiễm trầm trọng đang xảy ra tại vùng biển miền Trung, và cuộc sống thoi thóp của cả triệu người dân trong khu vực nhiễm độc do tập đoàn Formosa gây ra.
Và Giám mục Nguyễn thái Hợp đã ủy quyền cho Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa” (https://jffv.org/) đảm nhận sứ mệnh cao cả này. Hội tiếp nhận trọng trách này với 3 mục đích chính:
– Đòi hỏi sự đền bù xứng đáng cho các nạn nhân,
– Đòi hỏi làm sạch các vùng biển bị ô nhiễm,
– Đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản thả ngay các bloggers, nhà báo, ký giả, thường dân, giáo dân… đang bị bỏ tù oan ức chỉ vì lên tiếng về thảm họa Formosa.
Từng bước nhỏ nhưng chắc chắn, Hội tiến lên và kêu lớn tiếng. Tiếng kêu đầu tiên đề đạt lên Ủy Ban Nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc vào ngày 27 tháng 5, 2019 vừa qua, Tổ hợp luật sư Larochelle Avocats tại Canada; thay mặt Hội đã đưa đơn khiếu nại lên Ủy Ban Nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc, yêu cầu thành lập những tiểu ban để điều tra những sai phạm về môi trường của tập đoàn Formosa. Đơn khiếu nại cũng đề nghị Ủy Ban yêu cầu Formosa phải đền bù xứng đáng cho gần mười nghìn ngư dân và giám sát việc làm sạch môi trường đã bị ô nhiễm trong những năm qua.
Tiếng gào thứ hai mạnh mẽ hơn, gây được nhiều chú ý từ các giới hữu trách hơn. Ngày 11/6/2019 vừa qua, Hội chính thức khởi kiện công ty Formosa Hà Tĩnh tại tòa án Đài Loan, Đài Bắc. Trong đơn kiện, Hội yêu cầu số tiền đền bù là $4,4 triệu đô cho 51 hồ sơ trong đợt cứu xét đầu tiên. Tùy theo mức độ hoàn chỉnh, Hội sẽ đệ trình khoảng 280 hồ sơ trong đợt 2; đợt 3 gồm trên 3,000 hồ sơ và những hồ sơ còn lại trong đợt cuối cùng. Tổng số tiền bồi thường cho 7,875 hồ sơ là trên $600 triệu đô la. Hội cũng tổ chức một cuộc họp báo quốc tế ngay trước Tòa án thành phố Đài Bắc để công khai đòi hỏi tập đoàn Formosa phải chịu trách nhiệm bồi thường cho các ngư dân, đồng thời phải chịu trách nhiệm làm sạch môi trường biển miền Trung đã và đang bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Lúc 13:30 chiều cùng ngày, Hội tiến hành một cuộc biểu tình họp báo tại Trụ sở chính của tập đoàn Formosa, trong lúc công ty đang họp cổ đông hàng năm.
Đơn kiện được sự ủng hộ nhiệt tình của các tổ chức phi chính phủ (NGO) tranh đấu cho môi trường tại Đài Loan như: Hiệp Hội Theo Dõi và Thực Thi Công Ước Liên Hiệp Quốc (Covenant Watch); Hiệp Hội Thúc Đẩy Nhân Quyền Đài Loan (Taiwan Association for Human Rights – TAHR); Văn Phòng Trợ Giúp Công Nhân, Di Dân Việt Nam (Vietnamese Migrants and Immigrants Office – VMWIO); Quỹ Bảo Vệ Quyền Môi Trường (Environmental Rights Foundation – ERF); Hội Luật Sư Bảo Vệ Môi Trường (Environmental Jurist Association – EJA). Ngoài ra, giáo sư Paul Jobin (đề cập trên) thuộc Sinica Academics cũng có mặt trong buổi kiện lịch sử này.
Về phía tôn giáo, một phái đoàn từ Việt nam hiện diện trong cuộc biểu tình, cổ võ nỗ lực của Hội đòi công lý cho nạn nhân Formosa, gồm Đức Cha Hoàng Đức Oanh và hai linh mục thuộc Giáo phận Vinh và Hà tĩnh, nơi ngư dân bị ảnh hưởng kinh tế nặng nề nhất; và cũng chính nơi đây, môi trường biển bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất. Linh mục Phêrô Nguyễn văn Hùng, người đòi hỏi và tranh đấu quyền lợi cho các cô dâu Việt và các công nhân Việt lao động tại Đài Loan, hổ trợ phái đoàn khởi kiện từ những ngày đầu.

Cần nói thêm về số người Việt hiện đang sinh sống và làm ăn tại Đài Loan. Số cô dâu lấy chồng Đài cả trăm nghìn, còn “xuất khẩu” lao động khoảng hai trăm nghìn. Riêng tại Đài Bắc, tổng cộng số cô dâu và công nhân chiếm khoảng một trăm nghìn. Phần lớn cô dâu bị ngược đãi, đối xử tàn tệ trong gia đình chồng. Còn công nhân Việt thường làm việc trong một điều kiện khắc nghiệt, nếu không nói là bị bóc lột. Họ làm việc khổ nhọc – thường 16 tiếng một ngày – để đủ tiền trả món nợ từ $7-10 nghìn qua môi giới (nộp cho nhà cầm quyền Việtnam), và dư dả chút đỉnh giúp gia đình. Khi biết Hội đến tận Đài Bắc để khiếu kiện tập đoàn Formosa, họ nghẹn ngào đến bật khóc. Theo chị Nancy Bùi, Phó Hội đặc trách Ngoại vụ, họ tâm sự: “bọn con cứ tưởng các bác, các cô chú có đời sống an vui ở hải ngoại rồi quên chúng con, không nhớ gì đến quê hương. Khi nghe tin Hội JfFV đâm đơn kiện Formosa, bọn con đến tiếp sức ngay, cho dù phải bỏ vài ngày làm việc.” Đối với những thành viên trong Hội, đây là một phần thưởng tinh thần cao quý nhất từ trước đến nay.
Bước tiếp theo là tổ hợp luật sư của tổ chức Quốc Tế Quyền Môi Trường (Earth Rights International – ERI) tại New Jersey, Hoa Kỳ sẽ đại diện cho Hội và các nạn nhân Formosa nộp đơn kiện tại tòa án Liên Bang về môi trường tại tiểu bang New Jersey, nơi đặt bản doanh của Công ty Formosa USA. Đây là công ty có cổ phần lớn cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành Công Ty Hưng Nghiệp Gang Thép Formosa Hà Tĩnh.
Quỹ của Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa” hiện nay đủ trang trải án phí kiện tụng tại tòa án Đài Loan nhưng những bước kế tiếp Hội rất cần sự tiếp tay của tất cả đồng hương, các hội đoàn, các Mạnh Thường Quân, các thương gia, các nhà bảo trợ hầu thực hiện cho bằng được trọng trách này.
Gần mười nghìn nạn nhân Formosa đang cần chúng ta. Cả một môi trường biển dài 250km cần làm sạch đang cậy vào chúng ta. Thế hệ con cháu tương lai hy vọng từ việc làm của chúng ta hôm nay.
Xin góp một bàn tay vào công việc cao cả này.

Sơn Nghị

CÁM ƠN EM, ĐÀ LẠT

 

 

Cám ơn em một sáng đầy hoa
Phố núi vẫn đáng yêu đến thế!
Những con dốc bao năm vẫn trẻ
Chỉ có ta lấm bụi thời gian

Cám ơn em đường quỳ rực nắng
Vàng cả tim ai trong gió đông
Loanh quanh tìm dấu chân dĩ vãng
Lòng có bồi hồi một chút không?

Cám ơn, gốc thông già tri kỷ
Đêm xưa sóng sánh ánh trăng tan
Lừng lững nỗi cô đơn lãng mạn
Bên sườn đồi thả bóng tịnh an

Cám ơn em mặt hồ sương phủ
Đăm đắm tình ai trong mắt trong
Thủy tạ. đêm nguyệt cầm. lữ thứ
Đồi Cù xanh mơ giữa muôn trùng

Chiều tịnh độ sắc hoa bất tuyệt
Thiền viện mênh mang gió rất hiền
Cám ơn phút từ tâm chợt hiện
Chợt hoa vàng bịn rịn chân duyên

Những con đường hút vào đồi biếc
Thung lũng phiêu bồng quấn gót chân
Cám ơn, cám ơn em, Đà Lạt
Men đất trời say khướt trăm năm…

Nguyễn Ngọc Nghĩa

VỀ BIÊN CƯƠNG,

 

về biên cương sẵn ghé qua Sa Đéc
Phút độc hành say lạc giữa kỳ hoa
Tháng giêng tây sa mù còn mướt rét
Có lá me bay bàng bạc kiêu sa

Thành phố có em là dòng sông êm ả
Và con đường hai phía có chờ nhau !
Lát nữa đây đường binh đao chia ngã
Rồi về rừng biết thương nhớ ở đâu !

Nghe man mát từ dòng Sa lãng mạn
Em về đâu ta gói lại hành trang
Leo lên xe là về vùng chiến trận
Ngoái lại rồi châu thổ chạy sau lưng

Ta ngờ rằng vẫn còn chút dở dang
Ở đâu đó trên đường ra mặt trận..
Ta ngờ rằng từ sâu thẳm rừng hoang
Hoa vẫn nở nơi chiến hào lửa đạn

Về biên cương mà hồn còn lãng mạn
Sinh tử nào xóa nỗi những tâm hồn..
Chào những bông hoa ta về tả ngạn
Mùi hương nào ta nhớ quá môi hôn !

HOA NGUYÊN

Bóng Mưa Bay

Người đi rồi!  Đã đi rồi!
Làn sương, cọng khói, tiễn người chân mây!
Mười năm…người trở về đây
Hay trong chớp mắt là ngày-hôm-sau?
Nghĩ mai…nước mắt, đã trào
Nghĩ lâu hơn nữa, chừng nào Thiên Thu?
Ai về rồi giấc ngủ sâu?
Ai hôn lên tóc…cái màu Thanh Xuân!
Người đi rồi…đã xa xăm
Bàn tay bỗng lạnh, ai cầm Thời Gian?
Ghế kia…bên cạnh cái bàn
Một pho sách mở…từng trang gió lùa…
Nghĩ câu Ngọn Cỏ Gió Đùa…
Lênh Đênh Chút Phận…ai ngờ lênh đênh! (*)
Gốc cây kia, chỗ ta, mình
Trăng rơi tự nó, bóng hình tự nhiên…
Em không còn nghe tiếng Em!
Anh không còn vuốt tóc mềm gió bay…
Thôi đành như gió rung cây
Như sương mới giọt mà đầy biển sông!
Người ơi hai nhánh sông Hồng
Một sông Tô Lịch, mấy vòng Thu Giang?
Ba vì Tây Lĩnh non xanh ngắt
Một dải Thu Giang nước vẫn đầy! (**)
Ai thật đi chăng?  Hồn bất động!
Ai về ai khiến…bóng mưa bay…
 
Trần Vấn Lệ
 
(*) Nhan đề hai cuốn tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh:  Ngọn Cỏ Gió Đùa, Chút Phận Lênh Đênh.
(**) Thơ Tản Đà.

chỗ ngồi quen tiếng hư linh

 

thức tâm treo nhánh trăng liềm
chuỗi dư vang rụng trắng chiêm bao rồi
cả cười vớt mộng vàng trôi
lạnh tay điếng chút ngậm ngùi tịnh không

hồn theo gió vẽ đường cong
rủ rê hương nắng đẫm dòng xanh mưa
hắt hiu bóng khói chiều xưa
nghiêng ly rượu cặn cho vừa cơn say

rùng mình mùa rụng nào hay
câu thơ sủng ướt thở dài hụt hơi
giẫm đau bao mảnh vỡ đời
lặng nghe phiếm dụ cuộc chơi ái tình

chỗ ngồi quen tiếng hư linh
ngậm mây cố xứ tượng hình hài ta

khaly chàm

mùa hè. 6/2019

Gió thiên đường

Lần đầu tiên đến lớp khiêu vũ ở nhà tôi, Hiếu còn mảnh dẻ như cây tre non. Khi tôi cầm tay Hiếu chỉ những bước đi đầu tiên, hắn gọi tôi là “Sư Mi”. Tôi bảo: “Vậy thì từ nay Mi là sư phụ của Hiếu đó nghe”. Hiếu cười, khoe chiếc răng mẻ rất dễ thương.

Trong lớp này tôi phải dạy đến năm sáu anh chàng, anh nào cũng dẻo mồm. Đôi khi tôi thầm trách ba. Lẽ ra ba không nên phó mặc mọi chuyện cho tôi như thế, lẽ ra ba phải đứng dạy mấy ông con trai to xác này để đỡ cho con gái mười tám tuổi của ba. Có lúc bực mình tôi bảo: “Ba có nghe mấy chữ “con gái rượu” không? Rượu có đem chôn kín thì mới ngon”. Ba tôi lừng khừng: “Rượu tốt không sợ bay hơi”. Mắt ba tôi như nhìn xa xôi, đượm buồn.

Tự nhiên tôi thương ba. Lại lẳng lặng gánh vác hết mọi điều, để ba lặng thầm trong cõi riêng.
Những băng nhạc để tập trong lớp dều do ba tôi chọn. Nhạc vasle với Le beau Danube bleu của Strauss, Thu vàng của Cung Tiến, behop với Love is blue, tango với Vũ nữ thân gầy, Le Paloma. Hiếu bảo tôi: “Mi biết vì sao lớp nhà em ít người học không? tại nhạc chán quá”. Tôi ức: “Nhạc thế này mà còn chê. Toàn những bài bất tử”. “Nghe cổ lắm”. “Vậy Hiếu tới đây làm chi?”. “Nhạc sầu lắm nhưng cô giáo thì dễ thương”. Tôi mím môi, không thèm đáp. Yêu ai yêu trọn một đời, giọng Khánh Ly dìu dặt vang lên theo tiếng nhạc. Chừng nghe giai điệu quen thuộc, ba tôi ngồi lặng, mắt nhìn như soi vào quá khứ. Hiếu nháy mắt, hát nhại theo: Yêu ai, yêu chỉ vài giờ. Tôi nhăn mặt không nói gì, thừa lúc Hiếu bước sai tôi giả vờ lỡ chân đạp cho hắn một cái đau điếng.

Cả dòng họ tôi, trừ tôi ra, ai cũng có đôi mắt đẹp mà buồn. Mắt ba tôi cũng thế, lúc nào cũng u ẩn đầy kỷ niệm. Ngày xưa, ba tôi cũng từng có một mối tình lớn. Người con gái ấy tên là Lý Thanh Thúy, dân chơi ngày ấy thường gọi là Thanh Thúy Tàu. Đó là bông hoa nổi nhất trong vũ trường Đà Nẵng. Tất nhiên trong mắt ông bà nội tôi, một người con gái như thế không thể nào bước vào một gia đình thế gia vọng tộc tuy đã sa sút về tiền của nhưng chưa hề đánh mất nề nếp gia phong. Đám cưới của ba tôi, cho đến giờ những người bạn thân vẫn còn nhớ. Một đêm trước Giáng sinh, ba tôi và mấy người bạn đến vũ trường, đem theo một bó hoa và một chiếc bánh cưới. Vào cuối đêm, vũ trường vắng người, đôi tình nhân vừa cầm tay đi theo nhạc Oui devant Dieu vừa xuống từng bậc cầu thang dẫn đến phòng riêng. Đèn tắt, từng ngọn, tắt ngấm, tất cả chìm trong bóng đêm. Rồi những ngọn nến được thắp sáng dần, từng ngọn một và Thanh Thúy Tàu thấy người yêu đang nắm tay mình, lồng vào ngón tay một chiếc nhẫn cưới. Nàng bật khóc vì hạnh phúc… Từ đó chàng sĩ quan ở lại với Thanh Thúy Tàu, không về nhà cha mẹ. Thanh Thúy Tàu không tiếp những khách chơi giàu có nữa, và đáp lại, chàng trai hai sáu tuổi nổi tiếng khiêu vũ giỏi cũng tự nguyện không bao giờ nhảy với ai ngoài người vợ yêu của mình.

Thanh Thúy Tàu về sau đã phản bội cha tôi, đúng như lời tiên đoán của bà nội tôi ngày trước. Nàng quá đẹp và quá mong manh, mà những năm tháng dài ba tôi ở trong trại cải tạo là một thử thách quá lớn. Cha tôi trở về vào tuổi ba mươi hai, cảm thấy hụt hẫng từ mọi phía, nhận ra những kỹ năng của nghề lính không giúp ích gì được cuộc sống trước mắt. Ông lấy vợ, sinh con, bị buộc phải nghĩ tới mưu sinh, và không ngờ cái tài khiêu vũ, trước đây là thú vui, nay lại là sinh kế. Cuộc đời nghiệt ngã đã không cho ông giữ đúng lời ước nguyện: không nhảy với ai ngoài Thanh Thúy Tàu. Nhưng từ đó, vũ điệu với ông không còn là niềm say mê nữa, nó chỉ còn là việc kiếm sống nhọc nhằn. Có vẻ như ông đã chờ từ rất lâu ngày tôi mười tám tuổi; để trao lại cho con gái cái gánh nặng vui vẻ này.

*
Hiếu bảo tôi: “Sư Mi ơi, người nhảy như cá bơi trong nước. Mi tập khiêu vũ mấy năm rồi”. Tôi không nhớ nổi đã tập bao lâu. Mới lớn lên, có trí nhớ là đã nắm tay ba đi hết các fan promenade. “Hồi Mi bắt đầu tập với ba, mỗi lần nhảy phải đóng cửa lại. Ba nói hồi đấy uống cà phê buổi sáng còn bị phê bình, nói gì đến khiêu vũ. Các học viên đi học phải gói theo giày, hết giờ lại phải đi dép về nhà”. Hiếu hỏi: “Mười mấy năm ở đây Mi thấy học viên nào ưa ý nhất?”. Tôi cười, lắc đầu. Nếu như thật lòng được nói ý mình, tôi sẽ nói: “Hiếu”. Nhưng mà ngượng lắm, nếu để cho y biết rằng người đầu tiên mà tôi thấy thú vị nhảy cùng, chính là y.

Không phải y nhảy giỏi, nhiều người thuộc và biết nhiều fan hơn y, nhưng y nhảy rất có hồn, y say đắm với vũ điệu, không phải chỉ nhảy bằng hai chân mà còn bằng cả tóc, mắt, miệng cười và niềm vui sôi nổi toát ra từ thân thể. Tôi dạy y phần kỹ thuật, còn chính y bằng năng khiếu trời cho đã dạy tôi rằng động tác vũ chẳng là gì cả nếu không thấm đẫm niềm hạnh phúc, không gợi cho người ta cảm giác về khát vọng sống, khát vọng tình yêu. Vì tự ái nghề nghiệp, tất nhiên không bao giờ tôi chịu thú nhận với y điều đó.

Ba tôi xem chừng không có cảm tình với Hiếu. “Cái đầu rẽ giữa trông khó thương.” Tôi nhìn Hiếu, nhưng lại thấy đầu tóc hai mái rất hợp với vẻ mặt lãng tử. Ba tôi, một thời đã từng bất chấp tất cả, thế mà bây giờ vẫn không thể vượt qua mấy phân xê xích của đường ngôi. Tôi nói với ba: “Con nghĩ cái quan trọng là cái bên trong đầu tóc”. Ba tôi nhún vai: “E rằng trong ấy chẳng có cài gì ngoài những câu tán tỉnh sáo rỗng. Bao giờ cũng thế, khi yêu con gái trở nên bao dạn, còn con trai thì hoá ra nhút nhát. Những thằng miệng tía lia là trong bụng không có gì”. Tôi nao núng. Hôm sau Hiếu tới. Tôi đi slow với y. “Mi có áo mới phải không?”. “Đẹp không?”. “Rực rỡ y như Claudia Schiffer”. Y vừa nhảy vừa nhìn tôi như ngắm một con nhân sư từ Ai Cập tới. Nụ cười răng mẻ thường ngày rất dễ thương, tự nhiên hôm nay làm tôi sợ. Như thể tự vệ, tôi bất giác dí ngón tay vào trán Hiếu: “Dẻo vừa thôi. Cái mặt này đểu lắm nghe chưa”. Nghe chữ đểu, Hiếu khựng lại, đột ngột ngừng nhảy bỏ về ghế ngồi. Tôi biết mình lỡ lời. Từ đó, Hiếu không đến nữa. Thảng hoặc có đến cũng không mời tôi nhảy. Tôi bối rối, ân hận, nhưng sự đã rồi. Mặt mũi nào nói lời xin lỗi. trong nửa tháng, tôi sụt ký, gầy xuống trông thấy. Soi gương, tôi tự an ủi: “Càng hay, gầy càng có dáng”.

Trước Giáng sinh, Hiếu đến gặp tôi: “Vũ trường có gửi vé nhảy cho lớp mình không?”. “Có”. “Cho Hiếu xin một cặp vé”. Tôi lẳng lặng mở hộc đưa cặp vé cho Hiếu. Hiếu cảm ơn rồi về, không chào. Ba tôi bảo: “Giáng sinh năm nay lớp mình đi chơi ở sàn Ngọc Anh, Nguyễn Huệ hay Ngô Quyền?”. Tôi tần ngần nghĩ ngợi. Ba tôi nói: “Ba sẽ nhảy với con một bản valse tuyệt vời, như Giáng sinh mọi năm”. Tôi im lặng. Chút gì đó như chán nản. Chút gì đó như nghẹn ngào. Tôi mười tám tuổi, nóng lòng chờ đợi một điều gì mới, không phải như mọi năm…

Đêm Giáng sinh, ba tôi đi với cả lớp. Tôi ở nhà. Tôi sợ, sợ một điều gì không rõ. Sợ gặp Hiếu đi với ai đó, trên sàn nhảy. Một người nào quan trọng với Hiếu đến thế, khiến Hiếu phải giành vé trước cả mười ngày trời? Y sẽ nhảy với ai đó, bằng cả thân mình, cả tóc, mắt và nụ cười “Sư Mi, ở nhà một mình hả?” Chợt Hiếu hiện ra sau lưng tôi, mảnh dẻ và dễ thương, sạch sẽ hơn hẳn mọi ngày, trông tươm tất y như một gói quà Giáng sinh.

Tôi dụi mắt, tưởng mình đang nằm mơ.

Lúc đó là mười một giờ khuya, chuông nhà thờ đổ. Và Hiếu, và tôi và đêm thánh vô cùng.
“Đi với Hiếu. “Đi đâu?”. Hiếu rút trong túi ra cập vé còn y nguyên. “Sư Mi dở quá, không biết vì sao mà Hiếu xin cặp vé này à?”. Tôi nhìn y, lòng muốn lao vào y mà cấu mà xé, “Đồ mắc dịch, đồ chết toi, đồ đùa dai, đồ mất dạy, làm người ta chết đi được”. Nhưng lẽ nào con gái mà tuôn ra những lời rủa sả như thế Cho nên tôi đành lặng nhìn Hiếu như thể một người con gái dịu hiền và ít lời nhất trên đời này. Hiếu cười cười, nụ cười răng mẻ mà lâu nay tôi quá nhớ. “Sư Mi, muốn chửi rủa gì thì chửi to lên đi, Hiếu sẵn sàng nghe đây”. Tôi ngậm bồ hòn làm ngọt: “Thông minh lắm, chưa nói đã hiểu rồi”. Hiếu chở tôi đi. Bỗng nhiên tôi sợ. “Sợ gì?”. “Sợ người ta thấy Hiếu đi với Mi”. “Mặc kệ thiên hạ”. Tôi không mặc kệ được. Giờ này mà đến vũ trường, ba tôi sẽ nhìn tôi như thế nào đây, bên cạnh chàng trai dẻo mồm mà ông luôn cảnh giác. Hiếu bảo: “Dù sao, đêm Giáng sinh cũng không cho Mi ngồi nhà đâu”. Hai đứa qua cầu Mới, lên dốc Bến Ngự. Quán cà phê Dã Thảo đêm nay lung linh ánh nến và tiếng nhạc, trông như một thế giới huyền thoại. Tôi run chân, như cô bé Lọ lem bước vào lâu đài của hoàng từ. Hiếu dẫn tôi lên lầu. Một bình hoa hồng xanh nằm trên chiếc giá gỗ nơi lưng chừng cầu thang. “Mi thích không?”. Không đợi tôi trả lời, Hiếu nhanh tay nhón ngay một bông hoa lạ. Tôi xanh mắt: “Sợ quá. Người ta nói chết”. Hiếu cười: “Đồ thỏ đế”.

Bên khung cửa sổ rộng mở, trời đen như nhung lác đác sao. Bên dưới là cỏ xanh, lá xanh và những tia nước lấp lánh. Hiếu khuấy cà phê sữa cho tôi. “Sao Mi thừ người ra như thế?”. Tôi không nói đây là lần đầu tiên tôi đi với một người con trai vào quán cà phê. Vừa lo sợ, vừa cảm thấy thích thích, hồi hộp, như thể đi vào một cuộc phiêu lưu, một thế giới khác. Một ngôi sao bay vụt ngang, rơi qua bầu trời. Hiếu kêu: “Mi ơi, nhanh lên, hãy ước một điều gì đi”. Tôi ước thầm một điều nhưng khi Hiếu hỏi, tôi không nói. Một điều ước thầm kín, có thể một ngày kia sẽ nói ra, nhưng không phải bây giờ…

Từ năm ấy, tôi mới hiểu thế nào là đêm Giáng sinh.

Không biết ba tôi sẽ nghĩ sao, nếu biết mỗi tuần tôi vẫn gặp Hiếu vài lần ở quán cà phê Dã Thảo. Cũng trước khung cửa sổ mênh mông đó không có những ngôi sao, nhưng có trời chiều và có những bông Hoàng Hậu lác đác hồng. Hiếu hỏi: “Mi hút thuốc không?”. “Sợ lắm”. “Cái gì cũng sợ. Thử cho biết”. Tôi phải hút thử vì Hiếu đưa điếu Ngựa Trắng tận miệng. Tôi sặc. Không thấy ngon lành gì, nhưng cảm thấy mình ngầu ngầu. Người Hiếu trông cứng cỏi, lấc cấc vậy mà khi ngồi bên tôi lại rất dịu dàng. Từ nhỏ, tôi đã thiếu sự dịu dàng chăm sóc. Anh chị không có, mẹ tôi quá chất phác vô tư. Hiếu thì khác, tế nhị và kiên nhẫn. Có hôm tôi đến trễ gần nửa giờ, Hiếu vẫn chờ trước quán, ngồi trên xe, dưới mưa. Thấy tôi đến, mặt Hiếu sáng lên với nụ cười đến là dễ thương. “Ngồi đồng trước quán thế này, không sợ người ta dòm ngó à?”. “Việc gì đến ai đâu mà sợ. Chỉ sợ Mi không dám đi vào quán một mình”. Gió đông lạnh, Hiếu vẫn đòi mở rộng cửa sổ cho Hiếu nhìn trời. “Hiếu có phải là quỷ sứ không? Chẳng bao giờ nghe Hiếu mệt, Hiếu lạnh, Hiếu bận việc”. Hiếu cười: “Hiếu mê cái quán này vì nó đầy gió. Nhất là từ khi Mi tới đây. Mi đừng dại mặc áo ấm kín mít làm gì. Mỗi năm mình đâu cần có hai mùa hè”. Tôi nghe lời Hiếu, mặc phong phanh ngồi trước cửa sổ mênh mông, nghe mưa. Dần dần tôi hiểu mùa đông, yêu mùa đông, biết thế nào là vẻ đẹp của gió, của giá buốt và hơi ấm khi ở bên nhau.

Hiếu ít tới nhà tôi, đơn giản vì thấy ba tôi không thích. Tôi bảo Hiếu: “Nếu nghĩ tới Mi thì sửa đầu tóc lại”. Hiếu bướng: “Tóc là của Hiếu. Hiếu rẽ ngôi trên đầu Hiếu. Khi nào Hiếu rẽ ngôi trên đầu người khác, người ta mới có quyền có ý kiến”. “Nhưng Mi không thích cái đường ngôi ấy”, tôi vờ bảo thế. “Sao Mi cứ muốn Hiếu trở thành con người khác”.

Trong suốt mùa đông tôi không còn cảm thấy lạnh, không thấy những giờ dạy khiêu vũ là mệt mỏi, không thấy những buổi học luyện thi ban đêm là chán chường, không thấy nỗi lo, nỗi căng thẳng khi mẹ tôi nói tiền hết, em cần mua sách vở, ba cần uống thuốc… Cả cuộc sống đang khó nhọc trở nên nhẹ nhàng. Quán cà phê thành địa chỉ thứ hai của tôi, đến nỗi hễ tôi và Hiếu đến người ta không đợi gọi, dọn ra thức uống quen thuộc: hai ly cà phê và hai điếu Ngựa Trắng.

Một hôm trời mưa, xe Hiếu chạy nhanh văng bùn đầy gấu quần Jean của tôi. Đến quán, Hiếu đòi lau cho tôi nhưng tôi ngượng, chạy vào toilet tự vẫy nước chùi một mình. Tiếng những người phục vụ nói cạnh đó vọng vào, họ nói tự nhiên vì không trông thấy tôi: “Một cà phê đá một sữa tươi phải không”‘. “Không phải. Cu cậu này có hai “mái”, một mái tóc xõa mới uống sữa tươi, con bé này tóc demi chuyên uống cà phê sữa. Coi chừng đưa lầm”. Tôi lạnh gáy. Trở lại bàn, tôi cố nhấm nháp hết ly. Hiếu rất tinh ý, vặn hỏi mãi. Tôi bảo: “Mi mệt. Bắt đầu cảm thấy gió lạnh thật rồi”. “Mi nói dối”. Nói vậy chứ Hiếu cũng mở cái áo Jacket ra ủ lên vai tôi. Tôi cố gắng ngồi nhưng ngồi không vững. Hiếu xốc tôi lên, bế xuống cầu thang. Tôi mệt lả nhưng cũng biết xấu hổ. Hiếu dỗ dành: “Nằm yên cho khỏe, Hiếu đem Mi về nhà. Thương Mi lắm, đội Mi lên đầu đi khắp phố cũng chẳng sao”.

Tối ấy tôi không đứng dậy nổi nữa, đành phó mặc mọi chuyện cho ba tôi. Gọi điện về nhà Hiếu. Không có Hiếu. Tôi đứng dậy mặc áo. Ba tôi lo ngại “Con đi đâu?”. Tôi lắc đầu, đi như người khùng. Tôi là con của ba tôi, cái tính bất chấp nằm sẵn trong máu tôi. Tôi phải nhìn vào sự thực, dù sự thực ấy như thế nào. Xe của Hiếu đang ở trước quán cà phê. Và Hiếu ngồi đó với một cô gái tóc dài trạc tuổi tôi, không phải trước cửa sổ mà khuất sau một cánh cửa. Có lẽ Hiếu không bao giờ nghĩ rằng tôi lại có can đảm một mình đi vào quán. Tôi ngồi vào bàn bên cạnh. Người ta bưng cho tôi cà phê sữa như mọi lần. Sữa ngọt không làm giảm nổi vị đắng. Hiếu sang bàn tôi “Mi đi đâu vậy?”. “Đi để nhìn. Để thấy con người không đơn giản”. Nói rồi tôi đứng dậy, ra về. Ba tôi nói đúng, nhưng khổ thay, chỉ có lời dạy của cuộc đời mới đủ sức thuyết phục đối với đứa con bướng bỉnh như tôi.

 

Cô bé tóc xõa ngồi trước mặt tôi, trông vẻ mặt cô xinh xắn và hiền. Cô từ chối chỗ ngồi trước khung cửa sổ. “Sợ gió lắm. Em thích cái quán này vì nó có những góc ấm”. Chúng tôi ngồi vào một chỗ kín sau chậu thủy trúc. “Em biết chị là Mi, dạy khiêu vũ ở đường Phượng Bay. Nói thực, em không ngờ lâu nay Hiếu vẫn đi nhảy. Em đã bảo Hiếu em biết Hiếu nhảy rất đẹp nhưng Hiếu phải tôn trọng người yêu của Hiếu là một người không biết nhảy”. “Thế Hiếu bảo sao?”. “Hiếu đã hứa với em là không bao giờ khiêu vũ nữa”. Tôi lặng lẽ không nói gì, tự mình gọi một điếu Ngựa Trắng và… hút. Chắc lúc ấy tôi trông giống một con quái vật lắm. Nhưng ít nhất không nói được, thì tôi cũng phải làm một cái gì đó, dù là một điều gì thật quái đản. Cô gái tâm sự: “Chị biết không, em và Hiếu yêu nhau đã ba năm nay. Hồi đầu ba em không cho, bắt em nhốt trong phòng riêng trên lầu. Nhớ em quá, Hiếu dựng xe trèo cột điện mà lên thăm em. Ba em chụp được dong Hiếu xuống tầng dưới mở cửa tống ra. Hiếu về nhà xong lại quay lại, trèo cột lên lần nữa. Lần này ba em không thèm mở cửa mà bảo: “Mày trèo lên đường nào thì cút xuống đường ấy”. Hiếu trèo cột xuống đi xe về. Lại đi bộ đến… sáng mai ba em lên, thấy chúng em vừa cắn hạt dưa vừa nói chuyện ngoài lan can, ba em bảo: “Ba keo mèo cắn cổ, tao thua chúng mày. Mày nói ba mẹ mày đến lo mà rước con gái tao về”. Tôi hỏi: “Rồi sau đó thì sao?’. “Hiếu lui tới nhà em đã hai năm. Ba mẹ em xem như con. Sáng, trưa, chiều Hiếu đều ghé, thường thường ăn cơm ở nhà em. Em không thể đoán là Hiếu có thời gian vớ vẩn đâu khác”.

Ừ, con gái thật khờ, ai cũng thế. Một ngày có đến hai mươi bốn giờ. Dù có ghé sáng, trưa, chiều, cùng lắm chỉ mười tiếng đồng hồ. Chỉ cần một ngày một giờ, chàng trai đủ tạo nên một huyền thoại phiêu lưu mới. Và một trong những huyền thoại phiêu lưu ấy là tôi… Tôi nghẹn như nuốt phải mật đắng. Dã Thảo ơi, ta sẽ không bao giờ còn đến đây. Từ biệt khung cửa sổ mênh mông và gió. Và những bản nhạc mà Hiếu thích. Giờ đây tôi hiểu vì sao Hiếu không thích nghe nhạc tiền chiến. Trong đó không có cách yêu, cách nghĩ của Hiếu. Thôi đừng nghĩ đến Hiếu, đừng nghĩ nữa…

Tôi bước đi, ngang qua góc cầu thang, nơi Hiếu đã lấy trộm bông hồng xanh cho tôi. Bây giờ ở đây chỉ đơn độc một bông cúc tím. Tiếng hát Cẩm Vân mãnh liệt mà nghẹn ngào: Còn trông mong chi cơn mơ phù du theo gió mây bay xa thật xa. Hãy thôi đam mê vấn vương buồn thương, nỗi đau trong đời sẽ qua…

Buổi tối, tôi ra đứng lớp, dạy điệu bebop cho các học viên mới. Một vũ điệu vui nhộn và lả lướt. Tôi nhảy, tôi cười. Chuyện đã qua, xin hãy qua… Tôi cố gắng ăn nhiều. Mẹ tôi bảo rất vô tư: “Con này thất tình mà không ốm, lại mập lên mới quái!”.

*
Lâu lắm, Hiếu mới đến nhà tôi. Trông Hiếu gầy và xanh, giống cây tre non hơn bao giờ hết. Tôi hầu như không nhận ra hắn. Hắn không cười và nói năng dẻo quẹo. Nhưng cũng không nhút nhát. Hiếu im lặng và dữ dội, ngồi một mình trên ghế nhìn tôi. Mắt Hiếu cứ thiêu đốt và tôi cứ cố làm cho lòng mình trở nên băng giá. Không biết trong cuộc chiến tranh im lặng này, ai lì hơn? Lừa trong mắt Hiếu tan trước hay tảng băng trong lòng tôi rã trước? Tôi giấu nỗi đau bằng vẻ điềm nhiên, nhưng làm sao giấu được con mắt sắc sảo của ba tôi. Ba tôi bảo: “Can đảm lên con. Còn đau đớn là còn có thể tha thứ. Mà tha thứ là sẽ tiếp tục đau thêm nữa”. “Con mắt Hiếu nhìn con, không phải là con mắt của kẻ lừa dối”. “Con đừng ảo tưởng. Sự thể đã quá rõ ràng mà con còn ngụy biện cho nó nữa ư? Ngày trước khi từ trại cải tạo trở về biết được Thanh Thúy lừa dối ba, ba nhất định cắt đứt dù cô ấy quỳ xuống đất van lạy hết lời. Với ba, tình yêu là sự chân thành tuyệt đối sự thủy chung như nhất, trước sau không thay đổi”. Tôi nghĩ thầm: “Mẹ con với ba lúc nào cũng chung thủy, nhưng có phải tình yêu không?”.

Hiếu đến đều đặn mỗi tối, không nhảy, không cười. Tôi không trách móc, không nặng lời, không cau mặt, xem như cuộc phiêu lưu vừa qua chỉ là một giấc mơ. Dần dần bỗng tôi thú vị với những cuộc gặp lặng lẽ đó: giống như một bản nhạc không lời, êm dịu và sâu vô tận.

Cuối tháng, cả lớp đi chơi Ngọc Anh, Hiếu cũng có mặt. Hiếu cứ ngồi, không nhảy với ai. Bỗng nhiên như ma xui, tôi bước ra và quay lại vẫy tay: “Hiếu”. Giọng ra vẻ một cô giáo đầy uy quyền, mà thực ra là một kẻ đầu hàng. Hiếu sáng trưng mặt mày, lâu lắm mới nhìn thấy nụ cười răng mẻ. Tôi và Hiếu cùng bước trên sàn nhảy, tôi hạnh phúc từ đầu đến chân, quên cả việc trước đây một giờ Hiếu đi đến đâu, ăn cơm nhà ai, làm gì…

Hiếu chỉ nhìn tôi, bao nhiêu lời lẽ bay đi đâu hết. Mãi sau mới đưa ngón tay cái lên môi tôi: “Mi cắn đi. Cắn một cái cho đau, cho đáng đời Hiếu”. Tôi bất giác ứa nước mắt không cầm được: “Cắn một cái mà đủ sao, Hiếu ơi!”. “Hiếu biết tội rồi. Nhưng ai bảo hồi đó Mi nói Hiếu đểu làm chi. Nói người ta đểu thì người ta đểu cho biết mặt”. Tôi nói: “Ân trả, oán trả. Mi cũng biết tội rồi. Từ nay khỏi nợ nhau”. Bất giác Hiếu đưa tôi xoay tròn như một cơn lốc. “Giờ thì Hiếu không cho Mi hết nợ đâu, Hiếu sẽ đi theo Mi đến cùng trời cuối đất”.

À à, lại còn thế nữa chứ. Tôi đâu còn dễ tin như tôi ngày xưa. “Vậy mấy cái cột điện ai sẽ trèo đây”. Hiếu trừng mắt nhìn tôi: “Đó là quá khứ, một quá khứ đang chờ chấm hết. Lúc đó Hiếu đã sống hết mình, và giờ đây Hiếu cũng sống hết mình”.

Hiếu nói rồi nắm chặt tay tôi, lòng bàn tay Hiếu tỏa hơi ấm như lửa. Bỗng nhiên tôi muốn òa khóc. “Rồi mai đây, Mi cũng sẽ là quá khứ sao?”. “Không ai nói trước được tương lai. Hiếu không nói chuyện tương lai, chỉ biết bây giờ”. Hiếu nói rồi nhẹ nhàng ôm tôi trong tay, và những đốm sáng đèn muôn màu, và nhạc valse, và tôi là cô bé Lọ lem trong vũ hội của hoàng tử…

Khi tôi trở về, ba không nói gì, chỉ nhìn. Đôi mắt đẹp của ông, dù qua bao thời gian, vẫn sâu thẳm và đầy dĩ vãng. “Con biết ba sẽ trách con. Nhưng con…”. Tôi muốn nói: Nhưng con hạnh phúc quá. Con không cầm lòng được. Ba tôi lạnh lùng: “Chỉ vì không chịu nổi đau đớn, nên nạn nhân không đứng vững, phải dựa vào chính tên sát thủ. Có biết đâu như thế là sẽ bị giết chết lần thứ hai”. Tôi nghẹn: “Hiếu không phải người như vậy”. Bỗng ba tôi không giấu được sự phẫn nộ: “Con muốn làm kẻ cướp đoạt sao? Thằng Hiếu đến đây ba sẽ đuổi. Nó phản bội một đứa con gái, nay lại định lừa dối một đứa con gái khác”.

Tôi khóc. Hiếu bảo tôi: “Đồ ngốc nghếch. Không ai sở hữu được ai trên đời này, thì làm gì có chuyện cướp đoạt ở đây”. “Nhưng mọi người bảo thế”. “Mọi người có sống giùm cuộc đời mình không?”. “Mọi người không tin Hiếu”. “Hiếu không cần. Mọi người không hiểu rằng người ta có thể cố gắng học, cố gắng làm, nhưng không ai có thể cố gắng yêu. Người ta chỉ có thể yêu cái người mà nhắm mắt mình vẫn thấy. Hiếu cứ nhắm mắt là thấy Mi. Mi tin không”.

Tôi tin Hiếu. Bởi vì chỉ có lòng tin mới giúp tôi sống. Như câu nói của Krishna Murti: “Đó là ánh chớp loé lên trong khoảnh khắc, ai thấy là thấy, ai không thấy là không thấy, không thể nói cho người khác”. Cuộc đời như dòng sông, ai nói trước được nó sẽ qua những ghềnh thác nào. Nhưng hôm nay, dòng sông đang trôi qua những bờ cỏ mịn màng, đang in bóng trời xanh mây trắng. Lẽ nào sợ thác ghềnh mà sông không dám chảy?

Năm nay, Giáng sinh.

Trời khô lạnh. Tôi nhìn ra cửa sổ phòng mình. Ba tôi bảo: “Đừng buồn, tối nay đi với cả lớp đến Ngọc Anh. Ba sẽ nhảy với con một bản valse tuyệt vời, như ngày trước.” Tôi im lặng, không nói. Nước mắt thập thò trên mi. Thèm đi một bản Blue Christmas trong tay Hiếu. Thèm ngồi cạnh Hiếu sau khung cửa mênh mông trong cà phê của Dã Thảo, chia với Hiếu một cơn gió. Thèm cùng đi một xe với Hiếu trên con đường dài, Hiếu thỉnh thoảng vừa cười vừa ngoái đầu ra sau khiến những sợi tóc cứng đâm vào má tôi…

“Sao ngồi thừ ra thế, mau lên con gái”. Ba tôi nhắc. Biết ba cố tình không cho tôi có thời gian để nghĩ tới chuyện riêng tư, tôi đứng dậy mặc áo, đi giày. Mở cửa, hơi lạnh tạt vào, tôi không cầm lòng được, kêu lên: “Nhớ quá!”. “Nhớ gì?”. Ba tôi hỏi. “Nhớ gió!”. Để tránh cái cau mày của ba, tôi vội soi mình lần chót trước khi ra đi. Bỗng tôi nhìn ra trong gương, đôi mắt tôi giờ này mênh mông và buồn, giống hệt mắt ba tôi…

Và tôi chợt hiểu, mình đã lớn. Đã trở thành một ai đó khác mình năm xưa. Đã biết thế nào là yêu thương và chịu đựng. Đôi mắt này, nỗi buồn này, Hiếu đã để lại cho tôi…

Sàn nhảy đêm Noel tưng bừng rực rỡ với những ngọn nến muôn màu. Từng đôi, từng đôi trai gái bên nhau hân hoan… Ba tôi bảo: “Nào, ra sàn nhảy với ba”. Nhưng tôi ngồi yên, giữa tiếng nhạc valse như những cơn xoáy dịu dàng. Thấy tôi bất động, ba tôi cũng không ép. Giờ lâu, ông bảo: “Thôi, con ạ. Đến tuổi này, ba mới nhận ra: Trong tình yêu hạnh phúc thật ngọt ngào, mà khổ đau cũng đầy thi vị. Chỉ có sự trống rỗng chán chường của kẻ không yêu mới thực sự là khủng khiếp”.

Nói rồi ông dõi mắt nhìn xa xôi về phía trước. Bỗng nhiên tôi se lòng. Thương ba. Thương tôi. Và chợt tôi hiểu vì sao mãi mãi ba tôi không quên được Thanh Thúy Tàu, một con người phản bội.

Trần Thùy Mai

 Symbol_End.gif

gieo xuống tháp chuông hồng

 

nắng gieo xuống tháp chuông hồng
ai gieo em xuống thung buồn gọi tôi
môi cười gieo xuống cuộc chơi
tôi gieo tôi xuống tay người mà reo
gọi nhau qua suối qua đèo
con hoàng dương đã mang theo lời rừng
câu đùa chững lại rưng rưng
thì ra gió vẫn chưa từng qua đây
sớm mai chúa nhật hao gầy
góc nhà thờ mọc một cây bồ đề.

trần thiên thị

ĐÀ LẠT MƯA CHIỀU DIỄM XƯA 

Ôi mưa nắng và cây đời kỳ diệu 
Tôi dại khờ tôi tóc trắng yêu Em!
(ĐÀ LẠT TÔI – TTN tặng Phạm Công Thiện ngày ấy và Đỗ Tư Nghĩa bây giờ)
Nhìn em đứng ngoài hiên mưa
Dáng liễu gầy buồn diễm xưa
Đà Lạt mưa phùn phố núi
Yêu Em biết mấy cho vừa!
Thuở ấy tóc xanh sầu mộng
Hồn anh trong trắng yêu Em
Giọt mưa lung linh hình bóng
Dáng Em khép nếp…tóc huyền…
Vàng Son … Khung trời Đại Học
Mưa bay trong nắng hoa lay
Hồn anh tựa mưa len tóc
Giọt thương giọt nhớ bàn tay…
Chiều nay! Mưa chiều diễm xưa
Nhìn em đứng ngoài hiên mưa
Anh giờ mùa thu tóc trắng
Yêu em cho đến bao giờ!
Anh yêu Em như rừng thông
Vòng tay ôm mưa vào lòng
Tình yêu anh như thác lũ
Như cỏ hoa hương thơm nồng.
Ôi! Yêu Em cả một đời
Cầm bằng như giọt mưa rơi
Em ơi! Đà Lạt phố núi
Yêu Em cho đến muôn đời!
TRẦN THOẠI NGUYÊN

Nói Đi Mà Yêu Thương

Tôi vừa ngang qua đó, thấy cây muồng trổ hoa…Đây xứ sở người ta…mà Nha Trang:  Trước mặt!
Hoa muồng vàng như mật / chảy xuống giữa ban ngày.  Không một ai ngang đây / dừng chân lại, nói thế!
Hoa xứ người tỉ tỉ.  Chỗ nào cũng thấy hoa.  Hoa muồng ai thiết tha /  hơn hoa hồng đủ loại?
Hoa muồng không ai nói “hoa đẹp nhất trần gian!”.  Nhưng tôi nhớ Nha Trang…tôi nhìn hoa, ứa lệ!
Nhà kia, Việt, có lẽ…nên trồng hoa Quê Hương?  Tôi từng ở Nha Trang, đất, linh hồn tôi trú…
Hoa muồng đầy thành phố / hồi đó, tôi dấu yêu / tôi thẩn thơ sáng chiều / dáng diễm kiều áo lụa…
Dẫu người ta thôn nữ, dẫu người ta sơn nhân…sao tôi không bâng khuâng…sao tình không chớm dậy?
Tuổi đẹp nhất:  mười bảy!
Hoa đẹp nhất: hoa vàng!
Tôi có nói với nàng…trong tập thơ ôm ấp!
*
Tôi đã xa Tổ Quốc / ba mươi năm nay rồi…Tôi nhớ thuở đổi dời / xe tù qua quốc lộ..
Hoa muồng vàng nhung nhớ… Hoa muồng vàng ngó theo…Nha Trang ơi, buồn hiu…Ai qua sông có vậy?
Hôm nay tôi chợt thấy Hoa Muồng Vàng Rưng Rưng!  nghiêng cánh lá rơi buồn, Mùa thu ơi, muôn dặm!
 
Bao giờ tôi được nắm Bàn Tay Người Nha Trang? Nói đi mà Yêu Thương!  Nói đi mà Vĩnh Viễn…
Trần Vấn Lệ