ĐOẠN TANG

Xả tang, người bình dân gọi thế. Đoạn hay xả đều có nghĩa là cắt đứt, bỏ đi. Anh em tôi, dâu rể, con cháu quay về VN để dự lễ đoạn tang của ông cụ. Sao không xả tang ở Mỹ, có người hỏi tôi. Thưa vì bà cụ muốn thế, và vì ông cụ hiện đang yên nghỉ tại nghĩa trang của một họ đạo.

Phong tục VN cho phép con cái đoạn tang sau một thời gian dăm ba năm. Trong thời gian này, con cái hạn chế những cuộc vui chơi, hội hè vì đang chịu tang lớn trong gia đình, và để tỏ lòng hiếu thảo. Sau lễ đoạn tang (tục xưa con cháu bỏ hết khăn tang vào một hũ hớn và đốt cháy ra tro), con cái vui vẻ quay trở lại nếp sống sinh hoạt bình thường. Đoạn tang mang ý nghĩa đó, chứ không phải dứt tang là cắt đứt mối liên hệ với kẻ quá cố. Theo đức tin, con cái phải luôn cầu nguyện cho cha mẹ đã nằm xuống cho đến lúc chết, vì đó là bổn phận theo điều răn thứ bốn, là hiếu thảo theo truyền thống văn hóa VN.

Phi trường TSN vẫn chật ních người. Nhà nước không lường được số lượng quá tải khi mở rộng vòng đai phi trường. Đường sá chỉ đến đó, trục lộ giao thông không kham nổi một lượng xe cộ chạy rầm rập ngày lẫn đêm. Tầm nhìn của những kẻ có trách nhiệm ở đâu đó chỉ một vài năm ngắn hạn. Cả một Saigòn bức nóng, ồn ào, ngột ngạt hơi thở như hai năm trước khi tôi về để tang ông cụ. Tất cả vẫn vậy, chẳng có gì thay đổi.

Vậy mà tôi nhận ra một thay đổi. Anh thuế quan xét giấy nhập cảnh tại hàng rào an ninh là một người miền Nam. Người Bắc dọn vào miền Nam sinh sống khá đông sau 75, nhưng chỉ có phi trường là nơi tập trung nhiều người Bắc nhất. Họ nắm giữ các chức vụ then chốt, chỉ nhường lại những công việc tầm thường cho người địa phương. Những lần trước về, khi bước đến quầy thuế quan, tôi đều bắt gặp ánh mắt dò xét, và giọng nói dấm dẳn thật lạ tai của người miền Bắc. Cặp mắt anh loang loáng đầy nghi kỵ đến nỗi tôi cứ tưởng mặt tôi dính nhọ. Cung cách hỏi của anh, “về làm gì, ở đâu,” (thường không có chủ từ) “ở bao lâu,” như quan tòa ngồi ngất ngưởng trên cao hạch sách phạm nhân. Tôi là công dân Mỹ lương thiện nên cứ bình thản trả lời từng câu hỏi cộc lốc. Cũng ngắn, gọn, vừa phải. Giọng vừa đủ nghe, nói không thêm, không bớt. Riêng âm giọng anh cao ngất, xoáy vào tai nghe như búa bổ. Bởi thế, những lần trước cứ bước ra khỏi hàng rào an ninh là đầu tôi nhức nhối khó chịu.

Lần này khác hẳn, anh thuế quan người miền Nam cất tiếng chào hỏi vợ chồng tôi thật lịch sự. Cũng từng ấy câu hỏi nhưng giọng anh nhã nhặn, nếu không nói là lễ phép. Không vồn vã, cũng không lãnh đạm, đúng cung cách của một người làm việc tại cửa công. Về nhà hỏi lại mấy chú em về dự lễ giỗ và được biết người xét giấy nhập cảnh đều là người miền Nam. Lúc về lại Mỹ, khi trình giấy tờ tôi cũng gặp một cô gái người miền Nam. Hóa ra hàng rào an ninh bây giờ hầu hết là người địa phương. Một thay đổi bất ngờ.

Giỗ đoạn tang xong, cả mấy anh em kéo nhau đi chơi Phú Quốc. Sân bay nội địa từ trước đến nay đều là người miền Nam. Tôi bắt gặp được sự thân quen thuở nào. Đáp máy bay nội địa lần đầu sau gần nửa thế kỷ, thế mà tôi có cảm giác như mới hôm qua, như tôi chưa hề rời mảnh đất thân yêu, dù chỉ một lần. Giọng anh tiếp viên của hãng VietJet trầm bổng bằng 2 thứ tiếng, Anh và Việt, thuần thục và trôi chảy như nhau. Dĩ nhiên, tôi khỏi cần giới thiệu, anh là người miền Nam chính gốc.

Ở Phú Quốc tôi được tin bà con Lộc Hưng bị cưỡng chế đất đai qua mạng FB. Hình ảnh một đứa bé ngồi trên bao tải đựng quần áo dưới mái hiên xiêu vẹo khiến lòng tôi chùng xuống. Đúng ra em được ngồi trên một chiếc ghế nào đó, kế chiếc bàn học. Đáng lẽ quần áo trong bao tải được treo lên móc. Nhưng nhà cửa không còn thì làm gì còn ghế. Tủ quần áo gẫy vụn nằm tả tơi trên nền đất khô thì làm gì còn móc để treo. Cả một cảnh hoang tàn trên một diện tích 220m vuông. Hơn một trăm gia đình lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, như vừa qua một trận thiên tai. Không, nhân tai. Ông trời hình như chịu thua cái ác của con người, ngoảnh mặt đi. Tết gần kề, gần nghìn nạn nhân không còn chỗ nương thân, nói gì hưởng Xuân. Chỉ thấy nỗi đau như hơn 50 năm về trước, Tết Mậu Thân. Màu tang trắng thấm máu đỏ nhuộm khắp xứ Huế. Lộc Hưng, 2019, cũng một màu trắng oan khiên. Những giọt nước mắt màu trắng đục rơi lã chã trên vùng đất bị cưỡng chế bởi nhà cầm quyền.

Phú Quốc sống cho khách du lịch. Nhà hàng, khách sạn, kể cả những resort, mọc lên san sát dọc theo bờ biển khu Dương Đông. Chợ Đêm rộn ràng tấp nập từ sẩm tối, một sắc thái đặc biệt của hòn đảo cực nam. Hải sản tươi rói, giá cả phải chăng, ăn ngon miệng. Tuy vậy, hòn đảo này còn khá hoang vu. Dọc trên đường từ phi trường về khách sạn, những khu rừng nhỏ còn đậm nét thiên nhiên chạy đều hai bên đường. Hệ thống du lịch hình như chưa phát triển đúng bài bản. Nhiều bãi biển vẫn còn buôn thúng bán bưng, chưa đi vào kế hoạch tầm cỡ. Có thể vì tầm nhìn của các viên chức nhà nước hạn chế, hoặc giả Phú Quốc sửa soạn trở thành đặc khu của Tàu nên nhà cầm quyền thấy không cần phát triển, dành việc phát triển cho nhà nước Tàu.

Vậy mà tôi cố ý tìm vẫn không thấy bóng một người Tàu nào. Có thể vì tôi chưa đến những khu resort đắt tiền, $500/đêm. Quanh tôi, chỉ thấy người miền Bắc. Họ từ miền cực bắc, lặn lội đến hòn đảo cực nam để kiếm sống. Tôi nhờ nhân viên khách sạn gọi một cuốc taxi đến cửa hàng ngọc trai Ngọc Hiền. Tài xế là một anh miền Bắc, trắng trẻo, mập mạp, thân nặng trĩu trên ghế. Anh hỏi tôi dấm dẳn, mặt lạnh lùng. Đoạn đường ngắn, chưa đến 4km nên tài xế và khách miệng ngậm hột thị. Đến nơi, tôi hỏi bao nhiêu? Anh chỉ ngón tay vào đồng hồ, chẳng buồn vén môi nói số tiền. Tôi trả tiền và biếu anh số tiền lẻ. Anh chộp lấy tờ giấy bạc không một lời cám ơn. Trên đường về, tôi gặp anh tài xế đen đủi, khẳng khiu. Giọng anh đơn đớt vùng Rạch Giá. Tôi lân la hỏi chuyện làm ăn. Anh tâm sự, mỗi ngày phải trả cho chủ (người miền Bắc) khoảng 450 nghìn, và ký một hợp đồng khoảng 5 tháng. Có ngày dư dả nuôi vợ và hai con, có ngày thiếu hụt phải oằn lưng trả nợ chủ. Không thể trả xe nếu chưa hết hạn hợp đồng. Bất thường, như cuộc sống của anh. Tiền trả chuyến về cũng bằng tiền chuyến đi. Dĩ nhiên, tôi biếu số tiền lẻ như ban sáng. Anh cám ơn chân tình. Xuống xe, tôi móc túi biếu anh thêm. Anh nắm lấy tay tôi cám ơn nồng nàn.

Trầm mình trong nước biển ấm vào buổi sáng trời se lạnh, nhìn về hướng Đông, nơi quê hương thứ hai đã ân cần nắm lấy tay tôi và chợt nghĩ ai sẽ nắm lấy những bàn tay gầy guộc của đồng bào Lộc Hưng? Tôi cố quên Lộc Hưng và dành thì giờ trọn vẹn với gia đình. Những ngày vui qua mau. Bay về đất liền sau mấy ngày đầm mình trong vũng nước mặn quê hương. Vừa bước ra khỏi cửa Tân Sơn Nhất đã nghe tiếng ồn ào của 2 thanh niên miền Bắc. “Bay lâu thế, tao chờ mày vãi l…” Lần đầu tiên tôi nghe nguyên văn một câu trách quá lạ tai. Anh nói oang oang, thật tự nhiên, thoải mái giữa chốn công cọng. Ông tiến sĩ tình dục học Thiên Nguyên đã khẳng định đó là nét văn hóa đặc thù (cứ tìm trên mạng sẽ thấy bài nói chuyện của ông tiến sĩ này) của người dân sống trong lòng xã hội chủ nghĩa. Văn hóa “vãi l…” xuất phát từ miền Bắc sau 75 và du nhập vào Nam. Xem ra người miền Nam chẳng mặn mà gì với nét văn hóa đó. Sự vật biến đổi không ngừng, như tinh túy của nền văn hóa qua bốn nghìn năm kết tụ thành nền văn hóa vãi l…

Sàigòn vẫn sinh hoạt nhộn nhịp. Không một ai nói đến Lộc Hưng. Mấy người em tôi cũng chẳng biết gì về một khu đất vừa bị cưỡng chế. Tất cả đều im lìm, như tiếng than van uất nghẹn của dân Lộc Hưng.

Ngày tôi bỏ tang xuống cũng là ngày đồng bào Lộc Hưng khoác lên người mảnh khăn trắng của bất công, của uất ức, và của oan khiên.

Xin thêm lời cầu nguyện cho họ.

HẠ NGÔN

Advertisements

THÁNG CHẠP, TÔI VỀ…

Tháng chạp tôi về, qua chân cầu cũ
Chiều bâng khuâng, nghe sóng gọi tên người
Ừ nhỉ, em – mấy mươi năm dâu bể
Một đời người, nước có một dòng trôi?

Nhớ vàm sông, những ngày con nước đổ
Sóng chòng chành, ai khua nhịp qua sông
Xóm Chài xưa, em về trong mưa nhỏ
Một mình tôi, nhặt sợi tóc còn vương.

Tháng chạp tôi về, đi ngang đường nhỏ
Hàng hiên xưa, hoa dại khéo đợi chờ
Đâu cánh bướm của tôi thời bụi đỏ
Đã mang đi biền biệt một vần thơ.

Cám ơn người, trong ngăn đời khép kín
Tim vẫn còn giữ lửa để yêu thương
Bao vết chém cuộc đời – tôi nhẫn nhịn
Sẹo trăm năm, hằn chết thịt da buồn.

Tháng chạp tôi về, cơn mưa trái nết
Tập làm quen như ngựa chứng sân trường
Tình bất kham, bao lần lên cơn sốt
Qua bốn mùa vẫn tấy đỏ vết thương.

Không còn ai mơ màng qua ô cửa
Tôi là gì trong góc nhớ đời em
Năm tháng cũ giạt trôi tình hai đứa
Ngày cuối năm, tháng chạp biết ai đền?

NGUYỄN AN BÌNH

Nước Rơi Thẳng Đường Mưa

Mưa sang ngày Thứ Năm. Mưa qua ngày Thứ Sáu. Mưa thôi, không có bão…là mưa, mưa-không-bay…

Mưa suốt cả tuần nay. Chim đi đâu hết cả? Cây mùa Đông không lá. Hoa mùa Đông không hoa…

Cái lạnh đã buốt da, bây giờ buốt tới thịt. Thương quá môi con nít, tím hườm, đôi khi run…

Người lớn có người ôm / cái mền cho đỡ lạnh. Phone, tiếng chuông đặc quánh (chắc đông đá hết rồi?).

Không ai nói một lời…Xe ngoài đường cũng vắng. Khác hẳn những ngày nắng…đi làm để khoe xe…

Nhà Thờ, Chùa im khe. Nước không là nguồn sống. Trang Kinh năm bất động…không có gió để bay!

Thế là suốt tuần nay, mưa từng ngày cho đủ / lời khấn cầu hôm nọ: Lậy Trời Cho Có Mưa!

Mưa từ sáng tới trưa. Mưa xế chiều tới tối . Chim có về: mất lối! Người có về: Mất Quê…

Bờ sông ở bên tê, ở bên ni, cũng vậy…
Ai xa hồi mười bảy, bây chừ…Mưa Ra Sao?

Một câu hỏi…ngọt ngào. Chuông Giáo Đường không đổ…Những ngày mưa không gió, nước rơi thẳng đường mưa…

Trần Vấn Lệ

PHÍA SAU THƠ

Muôn đời thơ chỉ là thơ
Phía sau là những tình cờ dễ thương
Ngực trái có thực tế buồn
Thì bàn tay phải nắm luôn nghĩa tình

Muôn đời nắng cứ lung linh
Cỏ thật xanh, lá thật gần đưa hương
Ngọt ngào tóc hát rối tung
Kính nâu che khuất trùng trùng thời gian

Già nua không dám vội vàng
Ngôn từ tươi trẻ cứ đàng hoàng phơi
Lụa là mềm mại vàng tươi
Đếm thầm tri kỷ lựa lời tri âm

Phía sau thơ, cứ thâm trầm
Với bao cử chỉ ân cần trước sau
Yêu thương luôn ngấm thật sâu
Những gì ảo, đến đã lâu…thật mà!

TƯƠNG GIANG

ÔN CỐ TRI TÂN


Hàng đứng: Nhà văn Lâm Chương, nhà thơ Đức Phổ.
Ngồi: Nhà văn Phạm Ngũ Yên, Hồ Đình Nghiêm, nhà thơ Triều Hoa Đại, nhà văn Nguyễn Vĩnh Long.

Người về già thường hay mang tật nhìn lui, vọng tưởng. Có thể để tiếc nuối.

Năm cùng tháng tận, giữa bàn giao chuyển dịch cũ sang mới, ta thường mượn đến bốn chữ “rêu bám” này: Ôn cố tri tân. Cố là quá khứ, tân là hiện tiền. Nhắc chuyện cũ để hiểu thêm chuyện mới. Lâu nay chưa có chữ nào thay thế? Đành lạm dụng cho giản tiện. Ôi, hán với nôm! Nói rêu bám là bởi thế.

Vì sao gọi “ông cố nội”? Cớ sao bảo “kẻ quá cố”? Tựu trung nó thay thế cho một thứ gì được xếp vào hàng cổ vật. Xưa rồi diễm là cụm từ rất đỗi tầm bậy. Năm con Heo xuất hành đúng lối hoàng đạo, thiên thời địa lợi nhân hoà nên cưa đổ được em tên Diễm tuổi tròn trăng, đang cầm tay nhau đôi uyên ương nọ hẵng phật lòng, bất bình khi nghe được. Cái gì xưa, cha nội? Diễm rạng ngời như đoá tường vi vừa bung nở trong đêm giao thừa đấy thôi, sương ướt át còn đọng, mới tinh khôi. Không cứ là tình nhân, Trịnh Công Sơn khi đón nhận, trong dạ cũng chẳng mấy vui. Bá tánh thật lắm chuyện!

Ôn cố, thường phải nương nhờ vào bộ phận mơ hồ gọi là chất xám. Người lớn tuổi ắt trí nhớ phải bị thần thời gian bào mòn đi, lu mờ dần. Nếu nó vẫn bén nhạy, linh hoạt, sung sức, thì một cha nội tuổi 80, giả dụ thế, khi buồn miệng nhắc lại, kể ra thì “mua vui cũng được một tuần”, chí ít. Đêm giao thừa ngồi bên nồi lớn dung tích chứa 80 lít nước dùng luộc bánh tét bánh chưng, đít nồi đen thui hứng đỡ ba thanh củi to đang reo vui do thần hoả kích hoạt. Rét đậm dùng dằng chịu đứng ngoài rào chớ không mon men vào được, sự ấm cúng quây quần kia đã chận đứng “âm mưu hiểm độc” của thần gió muốn bà con phải cảm hàn. Bà con vui xuân không quên nhiệm vụ bánh trái mứt món dâng cúng ông bà đã khuất, để khỏi ngủ gật, bà con vòi vĩnh tới ông cố nội: Kể chiện đi mờ, từ hồi thoát chết vụ cải cách ruộng đất đến bi chừ, ông cố thiếu cha gì biến cố đã kinh qua. Tản cư, chạy giặc, di tản… ui mười ngón tay không đủ để xoè ra đếm những kỷ niệm xám đen máu lửa.

Lửa tí tách reo phà ra làn khói nồng ấm dù đôi phần cay mắt, nước sôi trong nồi kêu lục bục. Má dặn hồi nào ba thanh củi to cháy hết bề dài còn lại than hồng thì xem như bánh vừa chín. Bánh chín mà chuyện ông cố nội vẫn còn râm rang. Thôi mày, tao hổng kể nữa đâu nhen. Đời tao toàn cả chuyện buồn, năm mới năm me nặn óc nhớ lại chuyện nào vui thì hổng có. Xui chi xui vô hậu!

Hoạt cảnh trên xảy ra “vào thuở xa xưa trên đất Thần kinh”. Giờ này chẳng biết có tồn tại? Đó là nói riêng tới dân tình ở trong nước. Chạy ra ngoài này thì mọi sự cầm bằng như nước cuốn hoa trôi, đã xôi hỏng bỏng không, chín bỏ làm mười, vắng ngắt hơn cả chùa bà Đanh ghẻ lạnh. Thốn tim, run lòng. Có phải do lẽ nọ mà mỗi độ nghe ra chữ Tết như gió thoảng qua tai thì đầu óc tự động… ôn cố tri tân. Người yếu bóng vía thì hát thầm “nhạc sến”: Mẹ ơi xuân này con vắng nhà… Mới thấy sến luôn chứa giá trị của sến. “Nếu hoa mai không nở con đâu biết xuân về hay chưa?”. Ui, nức nở thiếu đường chảy nước mắt! Bạn vin vào đâu để luận tới chữ sến? Hà cớ gì để chân đi quàng xiên? Bạn đã làm ra thức gì khiến cho thiên hạ phải “nửa hồn thương đau” tựa thế? Mình xin gọi bạn là Tám. Mình nhỏ nhẹ: Bỏ đi Tám.

Mình vào đội tuyển U-60 nhưng luôn ngồi ghế dự bị. Làm hậu vệ thì yếu việc cản phá bóng, làm trung phong thì chuyền banh chẳng ai nhận, đến khi đôn lên chân tiền đạo thì cứ sút bóng ra khung thành hoặc phạm lỗi trong vùng cấm địa. Nếu bạn chẳng am tường bộ môn túc cầu thì nói như này: Mình loay hoay xoay trở trên chiếu văn chương nhiều trận cứ mãi bị phơi áo, luôn thua lỗ mà chẳng có khi được mở tỉ số làm bàn. Đầu óc bạn “chạy” có ngon lành không chứ bộ nhớ mình rất tệ, phôi pha gần hết bao hình ảnh thơ mộng tuổi đầu xanh. Tình cờ bạn học đệ Lục đệ Ngũ xưa quắc cần câu hổm kìa hôm kia nhìn nhận ra mình, nhắc nhớ bao tuồng tích cũ mà mình cứ đực mặt ra lòng nhăn nhàu hoài nghi. Ai đứng đó lạ lùng như mới gặp, sao dang tay ôm gọi thân ái ngày xưa? Trời không nắng mây chẳng đổ mưa, hãy trách mắng về thịnh tình khô hạn. Khi “ôn cố” mà nghèo nàn kiểu đó thì không rõ “tri tân” có đậm đà?

Bữa tê bữa nhiếp mình nhìn ra tên hai người quen năm cũ, vừa gửi bài đăng trên Sáng Tạo: Nhà thơ Đức Phổ và nhà văn Nguyễn Vĩnh Long. Tự nhiên trí nhớ hao mòn vùng dậy để rục rịch làm một màn ôn cố. Cố sự là vầy, năm 2000 nhà thơ Phan Xuân Sinh ở Boston xuất bản tập thơ “Đứng Dưới Trời Đổ Nát” bèn tổ chức ngay buổi ra mắt sách, hóng được tin hành lang sẽ có lắm thân hữu bốn phương lành lặn chịu đưa đầu trần về đứng chung dưới “bầu trời” bất toàn nọ nên địa phương quân Mộng Lệ An gồm nhà thơ Luân Hoán, nhà văn Song Thao, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn cùng mình không hẹn mà làm cuộc vượt biên mất có hơn bốn tiếng gầm rú trên xe ngốn lấy đoạn đường “an toàn xa lộ” (làm bà xã hài lòng).

Đi buổi trưa đứng bóng, tới buổi chiều còn sáng nắng hoàng hôn. Khi ghé tới nhà anh Trần Trung Đạo làm trạm trung chuyển chưa thật sự đông đủ mặt quần hào, ở đó phút đầu mình gặp Nguyễn Vĩnh Long cùng một nửa rạng ngời mặt ngọc của nhà văn. Dạo nọ Nguyễn Vĩnh Long định cư ở Carolina (?) thường gửi sáng tác đăng ở báo Văn của anh Nguyễn Xuân Hoàng. Nho nhã, hiền từ, thong dong, dáng điệu như một cậu sinh viên chưa giã từ trường ốc. Có thể Vĩnh Long là bút hiệu? Người được sinh đẻ ở thành phố Vĩnh Long nên muốn mang ơn vùng đất từng dinh dưỡng mình? Phút sơ ngộ nên chẳng tâm sự được gì nhiều, dù gì thì cả hai đã nhìn ngó ra nhau thầm lặng tỏ bày hàng tháng trên các trang giấy do Văn magazine thu giữ.

Sau chuyến đi “thực tế” ở Boston, Nguyễn Vĩnh Long có ghi lại đôi điều cảm nhận gửi đăng báo Văn, thứ tuỳ bút chất đủ một trải lòng đáng mến có nơi nhà văn tâm lành ấy. Có thể số báo nọ đã nằm trong hai thùng giấy lớn mình vui vẻ trao tặng cho người trẻ tuổi sanh sau đẻ muộn mãi mến chuộng thơ văn hải ngoại: Nguyễn Trường Trung Huy (Huy Vespa) hiện ở Sài Gòn ngăn cách (bốn phương vô sản đều là bạn văn). Nếu còn giữ hẵng mình đã giở lục nhằm chép lại, đưa lên để nhớ một kỷ niệm chừng đã “đổ nát”, phôi pha.

Bóng tối dồn về, hối thúc mọi người đến nơi sum vầy có ở một hội trường lớn. Hoạ sĩ Nguyễn Trọng Khôi làm người điều khiển chương trình, nhà văn Trần Doãn Nho lên nói về thi tập của nhân vật chính Phan Xuân Sinh. Mình ngồi ở bàn xôm tụ, nơi chật ghế chen vai thích cánh toàn những khuôn mặt “hào kiệt”: Nhà văn Lâm Chương, nhà thơ Triều Hoa Đại, nhà thơ Đức Phổ, nhà thơ Hoàng Lộc, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn Nguyễn Vĩnh Long, nhà văn Lương Thư Trung (Hai Trầu)… Ai đó đã điểm danh mang tật kiểm kê vùng miền: Riêng xứ Huế đếm ra được hai chàng, HĐN và Đức Phổ.

Đức Phổ tửu lượng cao, anh uống “tì tì” cho tàn năm canh cũng “ba say chưa chai”. Những ai tiếp cận lần đầu với vị sĩ quan Hải Quân ngày cũ này đều có chung một nhận định: Hiền từ. Thích cười hơn nói. Có nghĩa là nghe bạn vung vít nhặng xị, nhà thơ Đức Phổ chẳng lấy đó làm điều, chỉ bày vành môi cười không tròn nụ. Thơ anh làm cũng vậy, một biểu tỏ thường đằm thắm, nhỏ nhẹ, nói ít hiểu nhiều. Một chắt lọc đầy sâu lắng. Ít ra thì mình quá vui khi được ngồi bên Huế mềnh, thứ lầu son gác tía nay thành “nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Ngồi bên nhau buổi ấy, có thể mình vô tâm không hay biết nhà Sông Thu đã xuất bản cho anh thi tập “Một Chỗ Về”. Hai năm sau, (2002) được biết tạp chí Văn ở Cali đứng tên xuất bản tác phẩm thứ nhì mang tên “Mùa Tình, Xin Kịp Gặt”.

Giống như thành phố mang tên Vĩnh Long, Đức Phổ là một huyện thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Vậy thì danh từ riêng Đức Phổ khoác thân nơi nhà thơ hiền lành ít ăn ít nói chánh quán người Huế này e có ẩn chứa một sự tình khác lạ chăng? Mới đây nhà thơ nhắc lại đôi lần anh từ Atlanta thuộc bang Georgia sang thăm Montréal gặp gỡ quàng vai nhau đi uống cà phê sau những cuộc rượu, mới giật mình hay ra mới đó mà dòng chảy cuộc sống tha phương đã mười mấy năm chìm trôi trong tịch lặng. Đôi lúc chạnh lòng phải mượn lời Trịnh Công Sơn ra để hát thầm “Này nhân gian có nghe đời nghiêng”. Mình xin lấy tạm một bài thơ trong muôn ngàn bài (từng có thơ đăng báo ở Sài Gòn thập niên 1970) của anh Đức Phổ, bài” Gửi Tình Theo Quê” mà mình từng mặn nồng, sau đây:

Sáng nay giống sáng hôm qua
thức dậy. ngồi ngóng xa xa quê tình.
ngóng tin em đến đầu đình
hẹn trăng ngàn núi. hẹn anh phương trời.

mắt buồn theo ngọn lá rơi
thương người xuống vực. lên đồi vẫn thương.
nói chi đời. cuộc vô thường
tử sinh. còn mất. tròn vuông… cũng đành.

em đâu hiểu được ngọn ngành
cuộc ly tan ấy đã thành di căn.
mốt mai dù mãn căn phần
tình thiên thu. vẫn ngàn năm không rời.

sáng nay ngồi ngắm mưa rơi
nguồn cơn nào đã khiến xui bọt bèo.
mây ngang đầu ải lưng đèo
có hay tình đã về theo quê tình.

Đức Phổ

Sáng nay ôn cố tri tân, mình nghe tiếng động lần khân vọng về. Vĩnh Long hề, Đức Phổ hề! Hai nơi kia đã tứ bề mây che. Còn chăng nước chảy lũng khe, hai nhân diện cũ vừa le lói bày. Người xưa dấu mặt độ rày, tri tân năm mới đến vầy cuộc chơi.

Mong sức khoẻ đến với bạn văn, tha thứ nếu trí nhớ mình đã chịu qua định luật nước chảy đá mòn. Chúng ta nay đã tựa nắng quái bên đèo cho nên còn trao được chữ tình với tha nhân là chuyện đáng xiển dương. Hy vọng được đón đọc tiếp các sáng tác của nhị vị. Và như vậy, mai hậu thật dễ cho mình khi muốn vọng động “ôn cố tri tân”. Xa xưa cho đến tận giờ, mình vẫn mang ơn Bùi Giáng:

Giờ đứng lại là bây giờ rất lạ
Là bao giờ từ buổi lạc tin hoa
Nhầm bóng nguyệt là sầu đau khôn tả
Phút trùng lai là ngó vội nhau và…

Hồ Đình Nghiêm

CHỈ CÒN NHỮNG NGÀY CHỦ NHẬT

1. bây giờ ngày nào cũng là chủ nhật
nên quên mất thứ hai thứ ba thứ tư…
thời gian không còn là của mình
mỗi ngày qua là một ngày phải chờ đợi
lúc đến hạn phải rời căn nhà thân yêu để mãi mãi ra đi
với mảnh hồn rơi tả
không cần giấy thông hành

2. bây giờ ngày nào cũng là chủ nhật
lại ra đi khi mặt trời vừa mọc
cứ đi cứ đi
cho đến khi nụ hồng trên tay đã nở thành bông
là lúc thăng hoa của sự cô đơn
không ngọn gió nào ve vuốt
không còn mảnh trăng nào ở lại đồng hành với mình
tất cả đều đi vào huyễn mộng

3. bây giờ ngày nào cũng là ngày chủ nhật
ngồi trên băng
đôi mắt ngái ngủ nhìn người qua lại như chiếc đèn cù
tất bật vì cơm áo
không một bông hoa nào mỉm cười với mình
không một lời thăm hỏi nào
dù chỉ là giọng đãi bôi
nỗi cô đơn xòe móng vuốt
ghim sâu vào trái tim suy kiệt

4. bây giờ mỗi ngày đều là ngày chủ nhật
ngồi canh bóng tối
đêm đóng băng
mơ làm gã chăn cừu
trong”Les étoile”của Alphonse Daudet
có được cô chủ như vì sao
âm thầm đáp nhẹ xuống vai
với tiếng cựa mình êm ái và
cái mát rượi của sao
suốt đêm trăng
đêm trong vắt của thiên nhiên
đêm trong veo tâm hồn người
đêm cũng trong ngần những ý nghĩ
cũng như gã
mình sẽ thở rất nhẹ rất nhẹ
cho đến khi vì sao cuối cùng trên trời đã tắt
cũng là lúc có một vì sao thức dậy
chẳng có vì sao nào trượt chân rớt xuống vai mình

5. bây giờ mỗi ngày là một chủ nhật
mỗi chủ nhật nhìn đời bằng đôi mắt
mở toang cửa sổ
hiện lên trống hoác một hoang mạc
rồi tự hỏi
hôm nay là thứ mấy

HẠC THÀNH HOA

NÓI CÙNG CON

Lũ trẻ bứt hoa ném vào nhau
mà tim con như rớt
mắt con dính những nụ cành gãy nát

Nhìn dáng nhỏ tức tưởi lom khom lượm sắp
con ơi, ba hãi lắm rồi,

Con sẽ thành thi sĩ mất thôi!

Giấc mơ cho ba hào phóng một gia tài
ba giấu nhẹm không cho con… cảm thấy
những mảnh vỡ cứa hồn ba đến chiều rồi còn tấy
nỡ nào còn để con đau

Nhưng khi lũ trẻ bứt hoa ném vào nhau
mà tim con như đá
thản nhiên trước nụ cành tơi tả
con ơi ! ba lại ước cái ngày
con âm thầm khóc nhặt xác hoa bay.

NGUYỄN HÀN CHUNG

CŨNG ĐÀNH

Cũng đành người bỏ xa tôi
Để vun bên đó, để vơi bên này
Chim giờ lệch cả đường bay
Trời xanh đã thẳm những ngày hư hao!
Cũng đành buồn chuyện ca dao
Trầu cau đôi ngã, nắng nhàu, mưa xiên…
Cũng đành ngựa lạc, người điên
Suối trôi cô độc, sông biền biệt xa!
Tôi giờ “Trong cõi người ta”
Chiều không, quán vắng, đường xa độc hành…

TRẦN DZẠ LỮ