Dẫu lìa ngó ý



Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
(Nguyễn Du)

Nhà thơ ngụ ngôn người Pháp La Fontaine đã nói một câu rất hay về tình bạn: “Tình yêu thật sự đã hiếm; tình bạn thật sự còn hiếm hơn ”.

Cát Đằng, tên một loài hoa leo có màu xanh pha tím, mỏng mảnh. Bạn tôi cũng dịu dàng, mềm mại, quý phái như hoa.

Chúng tôi thân nhau từ thuở nhỏ, lúc còn học trường tiểu học Đoàn Thị Điểm trong Thành Nội. Hai đứa cứ thế lớn dần lên, lần lượt qua bên kia sông Hương học Đồng Khánh rồi Văn Khoa…

Nhà Cát Đằng nằm ở một góc nhỏ trên đường Mai Thúc Loan. Căn nhà cổ xưa như cuộc sống quan cách của gia đình. Ba Cát Đằng làm công chức cao cấp của Ty Ngân khố Thành phố. Ông đặt cho con những cái tên thật đẹp của các loài hoa : Cát Đằng, Đỗ Quyên, Hoàng Lan…Mấy chị em sống khép kín như những con ốc trong bốn bức tường rêu.

Tôi, tên bình thường : An Nhiên, gia cảnh cũng “thường thường bậc trung”, tóc cắt kiểu Demi Garçon, tính tình đôi lúc ương bướng. Vậy mà chúng tôi thương nhau vô cùng. Chỉ có tôi dám bước qua hai cánh cổng sắt luôn khép kín trong tiếng sủa của con Berger để rủ Cát Đằng đi học. Cũng chỉ có tôi chiếm được lòng tin của ba mạ Cát Đằng. Hai bác nghiêm nghị nhưng coi tôi như con. Hình như hai bác xem tôi là một lá chắn bảo vệ cho cô con gái yếu ớt của mình.

Chúng tôi đã có một thời thơ ấu thật đẹp và hồn nhiên. Những chiều mùa hạ dắt nhau vô con đường bên hông Đại Nội gần cà phê mụ Tôn, nhặt bông phượng đỏ về làm bướm. Những sáng mùa đông sương mù lạnh buốt chở nhau qua cầu Phú Xuân, gió hung hăng như muốn quật hai đứa xuống sông. Những đêm cùng học bài thi, em gái Đỗ Quyên đem vào phòng cho hai chị chén chè hạt sen long nhãn mát rượi. Mạ Cát Đằng thường cười bảo tôi “Phải chi An Nhiên là con trai, bác gả Cát Đằng cho cháu.”

Tuổi dậy thì hồn nhiên và mơ mộng. Cát Đằng đẹp, nhiều người tán. Tan học về bao nhiêu cái đuôi theo, mãi cho đến cửa Hiển Nhơn mới chịu lui gót. Tôi như garde corps cho bạn. Những chàng sinh viên mê Cát Đằng, nhờ tôi làm chim xanh kèm theo nhiều món quà hậu hĩnh, trong số có cả con của một ông Trưởng Ty đang theo học trường Y. Nhưng tôi từ chối. Không ai hiểu bạn hơn tôi. Cát Đằng tâm sự : “Sao mình thấy ông nào cũng nhẵn nhụi như Mã Giám Sinh. Ngó phát ớn!”. Người hùng trong tâm tưởng Cát Đằng phải bụi bụi như tài tử Charles Bronson, đêu đểu với bộ ria giống nụ cười của Clark Gable hoặc chí ít cũng phải lãng tử như Gregogy Peck trên chiếc Vespa cổ chở nàng công chúa Audrey Hepburn chạy khắp thành Rome trong Vacances Romaines… Thâm tâm tôi thấy bạn mình quá lãng mạn. Biết tìm đâu ra người lý tưởng trong môi trường phố thị này?

Ấy thế mà một hôm thật bất ngờ, “người hùng” của bạn đã xuất hiện. Đó là một buổi sáng “đầy sương thu và gió lạnh” như trong văn Thanh Tịnh, đoàn Sinh Viên Sỹ Quan trường VBQGVN về Huế vào Đại Học Văn Khoa tuyển quân. Phải công nhận sự có mặt của họ như một hiện tượng trong sân trường xưa nay toàn áo dài, chemise , quần tây. Trong trang phục worsted thật đẹp, thật hào hùng mặt anh nào cũng sáng láng thông minh. Họ trình bày thật ấn tượng về ngôi trường quân sự ở Đà Lạt ngang ngửa với Saint Cyr của Pháp, West Point của Mỹ. Đứng bên những chàng trai Văn Khoa “trói gà không chặt”, trông các anh cao to và đường đường khí thế. Nhìn qua cạnh mình, tôi thấy Cát Đằng như trên mây. Nàng say sưa dán mắt vào anh SVSQ đang giới thiệu chương trình đào tạo. Anh nói giọng Bắc pha chút Huế. Khi chàng ta đi từng bàn phát những tờ ảnh về ngôi trường cho sinh viên nam, Cát Đằng cũng nhoài người qua xin một tờ. Một thoáng ngạc nhiên nhưng người SVSQ vẫn lịch sự trao tận tay nàng. Mắt hai người gặp nhau. Một cái gì đó thật lạ lần đầu tiên tôi thấy xuất hiện ở cô bạn mình. Má nàng ửng hồng , ánh mắt long lanh, môi mọng ướt mềm…Chuông reo giờ ra chơi, hai người còn trao đổi với nhau suốt cả mười lăm phút bên hành lang Morin.

Ra về, tôi bảo Cát Đằng “Mình thấy hình như có Coup de Foudre”. Nàng yên lặng do dự một chút rồi bảo tôi : -“An Nhiên ơi, bạn có thương mình không?”. Tôi ngạc nhiên : – “Tui không thương bạn thì thương ai?” – “Vậy thì chiều ni bạn xin mạ cho tui qua chơi nhà bạn hí! ” “- Được thôi mà”

Buổi chiều , tôi ngồi chờ bạn trên chiếc xích đu dưới giàn bông giấy. Nàng xuất hiện trong chiếc áo mousseline màu xanh trứng sáo, quần tây đen. Trông Cát Đằng xinh xắn làm sao. Hèn gì con ông Trưởng Ty mê nàng như điếu đổ. Ngồi nói chuyện với tôi mà mắt nàng nhìn ra cổng như ngóng trông ai…Và bốn giờ chiều. Một bóng người trước cửa. Anh chàng Sinh viên Võ bị hồi sáng…Cô nàng thông minh thật, lấy địa chỉ nhà tôi làm nơi gặp gỡ.

Tôi không tin lắm vào duyên tiền định. Xưa nay, ba mạ vẫn hay nói tôi là kẻ cứng lòng. Nhưng với cô bạn thân Cát Đằng thì tôi nghĩ đó là một mối nhân duyên mà tôi là người góp phần dung túng, ủng hộ. Cô bạn tôi không phải là type người “ yêu cuồng sống vội”. Xưa nay nàng chưa hề cười với ai một nụ. Con nhà gia thế, kín cổng cao tường. Điều gì đã làm cho nàng dám vượt qua khuôn phép gia đình và xứ Huế vốn dễ tiếng tăm?

Chàng sinh viên sỹ quan ấy tên H. đang theo học năm thứ ba trường Võ bị. Anh gốc Bắc, di cư vào Nam năm 54, chọn Huế làm quê hương thứ hai. Anh sống cùng mẹ và chị gái bên Bến Ngự. Anh hơn chúng tôi năm tuổi, trước đây từng học MPC rồi mới quyết định tòng quân. Đợt tuyển quân này là một cơ hội cho anh về thăm mẹ và số phận đưa đẩy để hai người gặp nhau.

Anh H. hiền, tính điềm đạm. Tôi chắc bạn tôi không chọn nhầm. Hai người có một tuần để hiểu nhau. Tôi nhiều lần qua nhà Cát Đằng xin cho bạn đi học nhóm, đi thảo luận… để rồi sau đó chở nàng lên đồi Thiên An, chùa Từ Hiếu hẹn hò. Trong khi hai người trò chuyện, tôi lặng lẽ đi dạo dưới những hàng thông hoặc ngồi đọc sách bên hồ Thủy Tiên để rồi sung sướng ngắm nhìn bạn sáng ngời trong hạnh phúc. Tình yêu làm người ta đẹp ra. Anh H. đưa chúng tôi về thăm gia đình. Căn nhà nhỏ nép mình trong một khu vườn sum suê cây trái.Tiếng chim sâu kêu lách chách. Bà mẹ hiền lành mừng rỡ đón bạn của con; người chị gái tên Hương thương em vô hạn, chăm anh từng ly từng tý. Tôi mừng cho Cát Đằng.

Anh H. trở về Đà Lạt tiếp tục khóa huấn luyện. Nhà tôi trở thành địa chỉ cho hai người trao đổi thư từ. Những bức thư đều đặn hàng tuần. Cát Đằng có một cái hộp bánh CHOCOLATE hình chữ nhật .Đọc xong thư bạn cất vào đó và nhờ tôi giữ hộ. Cuộc tình vẫn nằm trong bí mật với gia đình và bạn bè. Không ai biết ngoài tôi.

Gần cuối năm 1971, sau khi đọc xong lá thư có cái insigne rồng vàng ôm kiếm thiêng, Cát Đằng có vẻ suy tư. Bạn ngồi trầm ngâm trên chiếc xích đu trắng nhìn mông lung. Tôi mở lời : “Răng đó? Giận nhau hả?”. –“Không, có chi mô”. Lần này, bạn cầm lá thư về chắc để đêm nghiền ngẩm.

Con đường đến giảng đường sáng hôm sau như dài ra với sự yên lặng của Cát Đằng. Giờ English Grammar bạn dường như không nghe lời thầy John Schaffer giảng. Lúc ra chơi, đứng ở khung cửa sổ nhìn xuống đường Lê Lợi, Cát Đằng đưa bức thư cho tôi : “An Nhiên đọc đi !”.Tôi liếc nhanh qua bức thư với những lời yêu thương nồng thắm nhớ nhung chất ngất, hơi đỏ mặt vì thấy mình xâm phạm chuyện riêng tư của bạn. A, đây rồi. Cái lý do làm bạn tôi trăn trở hai ngày nay. Anh H. muốn bạn tôi có mặt trong đêm Lễ trao nhẫn truyền thống của SVSQ năm 3 trường Võ Bị. Là răng? Cát Đằng đi Đà Lạt ư ? Tôi không thể hình dung được chuyện này. Không được. Chuyện quá nghiêm trọng với con gái Huế, nhất là với bạn tôi, một người chưa hề bước chân qua đèo Hải Vân.

Ánh mắt của Cát Đằng tha thiết: “ An Nhiên giúp mình đi. Năn nỉ mà. Cam đoan không có chi xảy ra. Mình đi ba ngày. Chỉ bạn mới có thể giúp mình…”. Điều gì khiến một người con gái dịu dàng như Cát Đằng nẫy ra quyết định liều lĩnh thế ? Cái này gọi là sức mạnh của tình yêu đấy ư ? Xưa nay tôi vốn dị ứng với thứ tiểu thuyết lãng mạn của Quỳnh Dao và hoàn toàn không tin vào nhan đề một cuốn truyện của Lệ Hằng “Chết cho tình yêu”. Không, không đựơc.

Hai đứa không nói chuyện với nhau suốt ba ngày. Nhưng cái vẻ ủ dột của Cát Đằng làm tôi thương xót. Anh H. cũng gởi cho tôi một bức thư ngắn. Anh bảo chính vì xem Cát Đằng là người trăm năm nên anh muốn nàng có mặt trong buổi lễ trang trọng và ý nghĩa này. Anh chịu trách nhiệm về chuyến đi. Lòng tôi mềm ra. Tình yêu xét cho cùng cũng có cái lý của nó. Tôi trở thành kẻ đồng lõa trong cuộc hành trình của bạn.

Vậy là tôi sang nhà xin ba mạ Cát Đằng cho hai đứa vào Đà Nẵng ăn cưới bà chị họ. Mạ bạn tỏ ra e ngại như tất cả những bà mẹ người Huế. Nhưng ba bạn thoáng hơn, hình như ông đang vui vì mới trúng một cú affaire. Hơn nữa, chơi với Cát Đằng hơn mười mấy năm, gia đình bạn tin tưởng tôi tuyệt đối.

Ba của bạn đích thân chở chúng tôi ra bến xe. Ông không thể ngờ rằng khi tới Đà Nẵng, việc đầu tiên của chúng tôi là đến ngay Air Việt Nam trên đường Độc Lập. Và chuyến bay DC six đưa Cát Đằng lên thành phố cao nguyên lúc hai giờ chiều để tôi ở lại với cõi lòng như lửa đốt.

Ba đêm tôi ăn không ngon, ngủ không yên ở nhà bà chị. Tôi chắp hai tay cầu nguyện Chúa, Phật và tất cả các đấng siêu nhiên cho chuyến đi thuận buồm xuôi gió. Tôi hơi ân hận vì đã lạc lòng trước những giọt nước mắt của bạn. Có chuyện gì xảy ra với Cát Đằng chắc tôi không sống nổi…

Và chiều thứ hai tôi đã oà khóc tức tưởi khi thấy bạn bước ra từ chiếc Bus của Hàng không Việt Nam.

Nhưng quả thật, chưa bao giờ tôi thấy bạn xinh như vậy. Mặt Cát Đằng hớn hở như trăng rằm, môi cười rất tươi. Nàng ôm choàng lấy tôi, hôn lên má : – “Cám ơn An Nhiên. Chúng mình cám ơn bạn vô cùng”. Những giận hờn trong tôi đều tan biến.

Trên chuyến xe ra Huế, Cát Đằng tíu tít kể cho tôi bao nhiêu chuyện . Thành phố hoa, những con dốc mù sương, chuyến xe ngựa vòng quanh bờ hồ Xuân Hương và một tấm ảnh đầy ấn tượng. Dưới ánh đèn huy hoàng có hàng chữ Lễ trao nhẫn với hai cái dấu như hai vương miện, bên một cái nhẫn to được trang trí cách điệu lộng lẫy, bạn tôi âu yếm lồng vào tay anh H. chiếc nhẫn Võ Bị. Họ như đôi tân lang và tân nương trong ngày cưới. Mãi mãi đây là một bí mật chỉ riêng ba người biết…

Thi thoảng chúng tôi qua Bến Ngự thăm nhà anh H. Mẹ anh coi Cát Đằng như con dâu tương lai. Bà kể về tuổi thơ vất vả của anh từ khi di cư vào Nam, về lúc cha anh mất , về người con trai cả tên Hùng phải lưu lạc vào Bình Dương kiếm sống. Có những đoạn xúc động, bà rươm rướm nước mắt. Cát Đằng ngồi kế bên bóp nhẹ tay bà. Một hình ảnh dễ thương làm sao. Bà còn dạy cho bạn tôi cách chế biến những món ăn mà con trai thích như canh cua rau đay, bún chả…

Cuối năm 1972 anh H. ra trường. Anh có mười ngày phép trước khi về trình diện tại Sư đoàn 9 Bộ binh có biệt danh “ Mũi tên thép”, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn đóng ở Vĩnh Long,Tư lệnh là Chuẩn Tướng Trần Bá Di. Chiến trường miền Trung đang sôi động với chiến dịch tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Đêm đêm tiếng đại bác ì ầm từ phía Bắc vọng về. Thành phố Huế tràn ngập màu áo lính rằn ri. Cát Đằng có vẻ yên tâm với sự chọn lựa này dù hai người có xa nhau về không gian. Mười ngày, tôi phải ra sức bao biện cho bạn để họ có những giây phút hạnh phúc.

Rồi cũng đến lúc chia ly. Chúng tôi tiễn anh vào Nam. Hình ảnh cuối cùng trong mắt tôi là cảnh chàng thiếu úy trẻ trai cầm chặt tay người yêu nói những lời từ biệt : “Em cười đi. Cát Đằng cười đi cho anh yên tâm. Anh sẽ về với em và sẽ thưa chuyện với ba mẹ”. Bạn tôi cười mà nước mắt hoen mi.

Như muốn làm Cát Đằng yên tâm, thư anh H. gởi về liên tục. Anh đóng quân ở Cao Lãnh. Anh làm Đại đội trưởng một đại đội trực thuộc Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 14. Anh nói về một vùng đất trù phú, những người dân miền Nam hồn nhiên, những đồng ruộng bạt ngàn, những cánh đồng chó ngáp… Anh ít kể chuyện chiến trường, chắc để người yêu bớt lo.

Nhà ông Trưởng Ty muốn dạm ngỏ Cát Đằng trước khi con trai đi du học. Cô bạn tôi nói với ba mạ “Con chưa muốn lấy chồng” nhưng sau đó cô gặp riêng chàng trai và bảo “Tôi có người yêu rồi. Anh đừng mất công” .Tội nghiệp anh chàng cứ đứng ngẩn tò te.

Cứ thế, những lá thư nối hai niềm vui. Cát Đằng mơ màng dự trù với tôi về tương lai. Một ngôi nhà với ngọn lửa ấm và những đứa con ngoan sẽ ra đời. Ước mơ trong tầm tay với. Tôi chia sẻ hạnh phúc với bạn bằng nụ cười bao dung.

Buổi chiều hai đứa ngồi trước sân hóng gió thì một cánh chim sâu sa xuống trước mặt. Bạn tôi nâng nó lên, âu yếm vuốt ve “Tội nghiệp mày chưa. Chị nuôi em nhé!”. Mạ Cát Đằng đi từ nhà sau lên hốt hoảng: “Chim sa cá nhảy. Ăn nói bậy bạ”. Rồi bà lấy một nắm gạo muối tung ra sân. Bạn tôi le lưỡi “Mạ sao mê tín dị đoan. Thả con chim thấy tội bắt chết!”

Huế tháng chín. Mùa thu. Những trái thanh trà da đã rám vàng. Tôi chở Cát Đằng lên Nguyệt Biều chọn những trái thật ngon về cúng Rằm tháng Tám. Bạn không quên lựa một cặp thật đẹp để biếu mẹ anh H. chưng bàn thờ. Hai đứa ngồi thòng chân xuống dòng nước sông Hương trên bến đò Giã Viên. Trời thật đẹp. Nắng vàng như mật . Gió hiu hiu. Cát Đằng thở dài “Phải chi có anh H ”. Tôi nguẩy vai “Rồi sẽ có ”.

Rẽ vào căn nhà dốc Bến Ngự. Cô bạn nhanh nhẹn nhảy chân sáo trên lối đi quen thuộc. Nhà vắng ngắt. Mùi hương trầm thoang thoảng trên bàn thờ . Chị Hương ngồi lặng trên ghế, nước mắt chảy quanh. Bạn tôi hốt hoảng: “Có chuyện chi rứa chị ? Mẹ mô rồi? ”. Chị Hương òa khóc: “ Mẹ với anh Hùng đi Vĩnh Long. Em ơi, thằng H.”…. Cát Đằng quỵ xuống đất.Tôi và chị Hương đỡ vội lên. Mặt bạn tái xanh, hơi thở ngắn như không còn sức sống. Tôi rót cho bạn một ly nước lọc rồi hỏi han chi tiết. Chị Hương kể cho tôi nghe trong tiếng sụt sịt. Anh Hùng từ Bình Dương gọi ra báo tin anh H. bị thương nặng trong cuộc hành quân vào mật khu ở quận Mỹ An, vùng Đồng Tháp Mười . Mẹ chị đang trên đường vào, chưa biết chi thêm.Trong bóng chiều chạng vạng, ba chị em ngồi yên lặng. Không ai đủ sức đưa tay bật ngọn đèn điện. Chao ôi! Tuần trước tôi vừa đưa thư cho bạn. Anh đang đóng quân ở Đồng Tháp. Anh kể cho bạn nghe về Gò Công – quê hương của bà Từ Dũ mẹ vua Tự Đức; về cam Cái Bè; về mận Trung Lương …Thượng đế ác nghiệt vậy sao? Anh vừa tròn 26 tuổi, ra trường mới chín tháng…

Không biết bằng cách nào tôi đã đưa được Cát Đằng về đến nhà. Bạn ngồi sau tôi xiêu vẹo như một cái xác không hồn. Tôi nói với bác gái bạn bị trúng gió rồi đưa bạn vào phòng. Chân tay bạn lạnh ngắt. Đêm ấy tôi xin ở lại, thi thoảng lắng nghe tiếng rên rỉ đau đớn của Cát Đằng. Mọi ngôn ngữ trong giây phút này đều bất lực!

Nhưng nỗi bất hạnh không chỉ ngang chừng đó.Trong khi Cát Đằng định thưa thật với ba mạ để xin phép vào Vĩnh Long thì mươi hôm sau, mẹ anh H. nhắn ra anh H. không chỉ bị thương nặng mà còn mất tích. Cầm bằng như anh đã chết.Thôi còn mong chi nữa. Lần này thì bạn tôi quỵ ngã hoàn toàn. Nỗi đau ẩn giấu tận trong tim biến bạn thành một bóng ma câm lặng. Bác gái cứ căn vặn tôi hai đứa có chuyện chi không. Làm sao tôi dám trả lời. Thôi cứ đế bác tối tối thắp nhang ngoài cổng ngõ cầu cho con gái yêu đừng mắc “bệnh đàng dưới ”.

Phải sau ba tháng mẹ anh H. mới ra Huế. Bà sút gần bốn kí và hốc hác hẳn đi. Bà ôm lấy Cát Đằng khóc nghẹn “Con ơi! Bác không có duyên làm mẹ con rồi !”. Cát Đằng òa lên nức nở. Thôi cứ để bạn khóc cho nhẹ lòng.Tôi thật đau xót khi thấy đêm đêm bạn lôi tấm ảnh hai người trao nhẫn ra ngắm nghía.

Không hiểu sao nhà anh H. không lập bàn thờ. Có lẽ niềm tin của người mẹ cho rằng con mình chưa chết. Vâng, mất tích chưa hẳn là chết. Mắt anh sáng, tai anh to vậy mà. Chắc bác vẫn hy vọng một phép mầu nào đó chăng? Căn nhà đóng kín cửa. Mẹ anh H. vắng nhà luôn. Chị Hương bảo bà vào Bình Dương chơi với cháu nội cho đỡ buồn. Khu vườn rộng thui thủi một mình chị. Mỗi lần ghé thăm, nhìn Cát Đằng, chị lại bệu bạo “ Số em sao khổ thế H. ơi !”

Những đợt trao trả tù binh hai bên ở Lộc Ninh, Quảng Trị làm cho Cát Đằng hi vọng. Biết đâu anh sẽ trở về. Anh chỉ bị thương thôi mà. Bạn chăm chú theo dõi trên những tờ báo Tiền Tuyến, Sóng Thần… Nhưng tháng ngày qua. Niềm hi vọng hầu như đã thành tuyệt vọng. Bất chấp hiệp định Paris, chiến sự ngày càng ác liệt. Máy bay cứu thương liên tục hạ xuống bệnh viện Mang Cá trong Thành Nội…

Rồi Huế nháo nhác, tan tác…Rồi đất nước tang thương…

Ba Cát Đằng đi “cải tạo” vì bị xếp vào loại “ Ngụy quyền”. Bạn tôi bước xuống cuộc đời.

Trải một tấm nilon ở góc chân cầu Trường Tiền, Cát Đằng đi bán chợ trời. Cô tiểu thư con nhà quyền quý ấy bây giờ phải bươn chải với gánh nặng áo cơm của cả gia đình. Bạn bán từng cái áo nhà binh cho người đi lao động, vài cái loon Guigoz tiện cho người đi thăm nuôi, những chiếc áo dài cũ của vợ các sỹ quan một thuở huy hoàng, gói thuốc lá Tam Đảo nặng mùi khét lẹt cho đến cái chén kiểu, ly tách sang trọng một thời vang bóng…Nhìn bạn đếm từng hào tiền Bắc sau buổi chợ, tôi chảy nước mắt. Nhưng một nửa đất nước đều như thế, biết làm sao.

Thỉnh thoảng nhờ em gái Hoàng Lan coi hàng, chúng tôi lên Thiên An quét lá thông về làm chất đốt. Củi cũng phải mua bằng tem phiếu mà gia đình chúng tôi làm gì có đặc quyền đặc lợi ấy. Sau khi nhét đầy lá vào hai bao tải, chúng tôi ngồi dựa gốc cây nghỉ mệt. Cát Đằng âu sầu đưa mắt nhìn chung quanh.Tôi biết trong đầu bạn đang nghĩ về những kỷ niệm xưa. Cũng nơi này, ngày ấy có một cặp tình nhân thật đẹp đang nắm tay nhau đi dưới rặng thông. Cảnh đấy người đây nhưng một người đà khuất bóng. Tôi không dám gợi lên điều gì với bạn. Mọi chuyện cứ như là một giấc mơ nhưng mỗi sáng mai thức dậy lại phải đối mặt với sự thật kinh hoàng.

Thành phố tăm tối hẳn đi. Mới 8 giờ tối điện đã cúp. Những chiếc Honda đổi chỗ cho giai cấp cán bộ. Huế xuất hiện xe đạp thồ. Những khuôn mặt đau khổ nhếch nhác. Những câu ca dao hiện đại được thầm thì chuyền miệng. Những bài hát được chế biến bi hài. Người ta nhắc lại câu nói mười bốn chữ bất hủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. “Rồi cứ thế ni mãi răng???” Mạ tôi ngữa mặt than trời rồi chặt hết những cây mai vàng thay vào mấy luống khoai lang cứu đói!

Bốn năm sau, ba Cát Đằng chết trong tù vì sức tàn lực kiệt. Mạ bạn khô nước mắt đi thăm mộ chồng ngoài Thanh Hóa. Một mô đất trơ trọi trong rừng được đánh dấu bằng viên đá xanh lớn. Còn đâu người đàn ông khả kính trụ cột gia đình. Tóc bà bạc trắng. Cái lúm đồng tiền xưa kia đã trở thành ngoặc đơn rồi ngoặc kép.

Từ nước ngoài người con trai yêu Cát Đằng ngày đó xuất hiện như một vị cứu tinh. Anh ta gởi về giúp gia đình bạn những xấp vải, những gói thuốc tây, những đồng đô la được khéo léo nhét trong hộp sữa… Tất cả chỉ nhằm một mục đích chinh phục tình yêu của người con gái Huế mà anh ta say đắm. Mạ bạn tha thiết khẩn nài “Con ơi! Thằng đó nó tốt, lại hiền lành, con nhà trí thức. Lấy hắn con cũng sướng mà các em cũng đỡ khổ. Với lý lịch này thì nhà mình không ngóc đầu lên được . Con chỉ có nước lấy anh xe thồ hoặc ông nông dân mà thôi” . Bạn tôi gục mặt vào hai bàn tay khóc nghẹn. Phải chăng bạn đang nghĩ đến một Thúy Kiều hiện đại?

Tôi khuyên Cát Đằng : Mọi chuyện đã trở thành quá khứ. Anh H. mất rồi. Đã gần 7 năm. Bạn đâu phải là kẻ phụ tình. Trong hoàn cảnh này đôi khi phải thực tế. Bạn yên lặng gật đầu.

Mọi chuyện được thu xếp nhanh chóng. Bà mẹ chú rể từ nước ngoài trở về. Một vài lễ nghi cần thiết trong buổi giao thời. Và xúc tiến giấy tờ bảo lãnh.

Tôi đưa Cát Đằng lên thăm chị Hương lần cuối. May sao lại gặp mẹ anh H. từ Bình Dương trở về. Bác bảo có thể bác sẽ vào trong đó ở hẳn. Bác ôm vai bạn tôi: “Bác mừng cho con. Biết tin này ở đâu đó chắc H. vui lắm”. Trên bàn thờ vẫn chưa có ảnh của anh. Ghê gớm thay lòng tin của người mẹ. Bạn tôi xin phép được lạy trước bàn thờ ba lạy và nhét vào túi mẹ anh H. chút vốn liếng còm cỏi. Nước mắt người mẹ ứa ra tràn trề. Bà khẽ kêu “ H. ơi! ”.

Trước khi xuất cảnh, Cát Đằng đến nhà tôi ngủ lại một đêm. Bạn đem theo cái hộp bánh CHOCOLATE chứa những bức thư của hai người, tấm ảnh trao nhẫn được đặt lên trên. Cát Đằng bảo tôi “An Nhiên là một chứng nhân quan trọng trong mối tình lớn của mình. Mình không thể mang theo kỉ vật quý giá này. Bạn giữ giúp mình cho đến lúc nào còn có thể ”. Tôi cất vào tủ sách, lòng ngậm ngùi thương bạn.

Thời gian qua, Cát Đằng đã có một gia đình êm ấm. Ông chồng thành đạt, hai con một trai một gái xinh xắn. Cả hai đang định cư ở thành phố Denver, tiểu bang Colorado. Tôi mừng cho bạn. Cuối cùng, một cô gái ngoan hiền như bạn tôi nhất định phải được sung sướng. Qua những cuộc trò chuyện từ nước ngoài, tôi tránh gợi chuyện ngày xưa.

Tôi cũng đã có gia đình. Một ông chồng do bàn tay số mệnh sắp đặt. Một ông chồng yêu vợ thương con nhưng vô tâm. Tôi cũng chẳng bao giờ hé môi về chuyện bạn mình…

Ngày mai, gia đình tôi sẽ vào Nam lập nghiệp. Mở tủ sách, tôi cầm cái hộp bánh cũ. Những bức thư nhuốm màu thời gian nhưng tấm ảnh vẫn còn rất rõ. Ôi! Nụ cười hạnh phúc của cả hai người.

Tôi không thể đem chúng theo. Đốt thì tôi không nỡ. Suy đi tính lại, tôi quyết định đem lên nhà chị Hương, nhờ chị đặt trên bàn thờ anh H. Không còn gì để hy vọng về anh nữa rồi.

Căn nhà vẫn như xưa dù thời gian có làm nó già và cũ kỹ hơn. Tiếng chim sâu vẫn kêu lách chách trên những vòm cây xanh. Tôi dựng chiếc xe vào gốc ngọc lan, lòng bùi ngùi. Kỷ niệm ngày xưa ùa về trong ký ức. Một chiếc xe lăn trên hàng hiên. Tôi trách mình đã lâu không thăm mẹ anh. Cuộc sống bận rộn với cơm áo, gạo tiền làm mình trở thành người có lỗi.

Tôi tự nhiên đẩy cửa vào phòng khách khép hờ. Một người đàn ông nằm trên ghế sofa, tay cầm cuốn sách, chiếc chăn mỏng đắp ngang thân, phía bên dưới là một… khoảng trống. Anh ngước nhìn lên. Có phải tôi đang mơ? Đôi mắt ấy, gương mặt ấy… Đúng là anh H. Anh cất tiếng “An Nhiên đấy ư em? ”. Tôi bàng hoàng, ngơ ngẩn.

Vâng, anh H. Anh bị thương nặng nhưng không chết. Trong cuộc hành quân của Tiếu đoàn vào mật khu Đồng Tháp Mười, đại đội của anh sa vào ổ phục kích. Môt mảnh B40 đã bay vào lưng anh, chạm ngay cột sống. Anh được đưa về quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Bác sỹ cho biết mảnh đạn đã làm đứt dây thần kinh tủy sống dẫn đến khả năng bại liệt suốt đời. Trong cái đau đớn tận cùng của thể xác, anh vẫn nghĩ đến Cát Đằng. Không thể gắn số phận bất hạnh của mình đối với người yêu, anh cắn chặt răng bảo mẹ báo tin với Cát Đằng là mình bị mất tích. Và người mẹ đã làm theo lời anh…

Từ Cần Thơ, anh được chuyển vể Tổng y viện Cộng Hòa. Các bác sỹ và y tá tận tâm chăm sóc anh. Vết thương bên ngoài tạm ổn, anh sang Trung tâm phục hồi chức năng. Mẹ già theo sát anh từng bước. Đó là lý do khiến bà bảo với Cát Đằng mình vào Nam sống với người anh cả.

Sau ngày 30 tháng 4, tất cả thương binh nặng nhẹ đều bị tống ra đường. Anh về Bình Dương nương tựa nhà anh Hùng. Vết thương không còn được quân y viện chăm sóc, lâu ngày bị hoại tử và hai chân anh bị tháo khớp tới háng. Mẹ già mất, Cát Đằng đã đi xa, anh quyết định về Huế sống phần đời còn lại bên người chị gái thương yêu. Gần mười mấy năm nay anh sống nhờ vào sự cưu mang, đùm bọc của các khóa Võ Bị ở nước ngoài, những chiến hữu cùng đơn vị và một số anh em còn kẹt lại ở quê nhà… Cao quý thay tình nghĩa đồng môn của những chàng trai cùng trường Mẹ! Anh cũng tự ôn kiến thức để dịch thuật, để luyện thi cho các học sinh nghèo vào Đại học. Cụôc sống không đến nỗi thấy mình là người vô dụng.

Cầm xấp thư và tấm hình, anh H. trầm ngâm bảo tôi: “Anh cám ơn An Nhiên. Cố vật đã tìm về cố chủ. Cứ để cho Cát Đằng nghĩ rằng anh đã chết. Đó chính là tình yêu của anh giành cho cô ấy”.

Anh nâng chiếc nhẫn có viên hồng ngọc trên ngón tay áp út, âu yếm hôn vào nó. Chiếc nhẫn năm xưa, Cát Đằng đã lồng vào tay anh trong đêm Lễ trao nhẫn trước phạn xá trường VBQGVN.

Một cơn gió lạnh thoảng qua. Mùa Đông đã về trên thành phố.  

HƯƠNG THỦY

ĐI QUA MÙI HƯƠNG NGẢI 

        Nếu không có tiếng súng bên ngoài làm tôi thức giấc, thì có lẽ đêm vẫn còn là một nỗi buồn chảy quanh như một khúc sông lạc nguồn. Cơn mưa chiều đã tạnh từ bao giờ.Tiếng gió rung qua liếp cửa từng hồi đã làm gẫy đổ giấc mơ của tôi, trong đó nụ hôn của Ngải Hương trở thành đậm đặc trên môi, rã rời và xao xuyến làm sao.Trong giấc mơ tôi thấy tôi trở lại Hà Nội. Những cây sấu vừa ra hoa. Con đường có những viên gạch sần sùi dán kín một thơ ấu của tôi bây giờ cũng ngại ngùng và mơ hồ không kém. Trong giấc mơ tôi cũng thấy tôi lùi lại những ngày tháng buồn rầu khi rách nát rơi xuống đời như phấn hoa. Sự học hành đứt ngang nửa chừng khi những người thân lần lượt ra đi. Vừa lên lớp 9 tôi đã mất mẹ. Năm sau đến lượt cha tôi. Tôi bỏ dở lớp 10 để đi vào đời. Hà Nội trống hoát từng cơn gió thổi qua những tấm lòng trơ trọi.  
Mùa đông rất dài như một chuyện đời xưa không có đoạn cuối. Những con phố dọc ngang ở bên nầy thơ ấu, còn bên kia là cơ hàn. Đường phố tiếp tục nuôi tôi khôn lớn. Hay tôi tự mình khôn lớn và tự học nơi trường đời. Bản năng sinh tồn đã như ngọn roi quất xuống đời dọc ngang- những vết thương lòng chưa kịp băng bó đã bị áo cơm vùi dập.Hai mươi tuổi tôi đi qua 2 trại giam. Trại giam đầu tiên lâu chừng một tháng vì tội trốn tránh nghĩa vụ. Lần bị giam thứ hai là một dấu ấn. Dài hơn.          
Tôi chưa quen thuộc với đời sống mà trong đó tiếng chim trở thành một điều ước lệ vô cảm. Mùi hoa sửa sáng mai không còn vào ra vấn vít làm thơm ngát Hà Nội 36 phố phường Thay vào đó là bụi bậm và mùi rác rến. Thành phố đó cũng đang muối mặt để quên một dĩ vảng chật nít tự hào. Những cửa ô rướm máu cũ mòn chờ ngày gẫy vụn. Mặt sông Hồng lặng câm che dấu những bất trắc êm ả như chưa hề gợn sóng. Còn những son phấn phù hư nửa? Chúng có lấp được những trái tim thổn thức của các cô gái mong đợi ngày theo chồng đi ngoại quốc, hay đẩy họ vào sâu trong bão lửa làm cháy bỏng thanh xuân? Thành phố đó đang làm sững sốt trái tim côi cút người Hà Nội vì những đổi thay lạ lùng.Từng dãy nhà xô lấn ra mặt đường, giành giựt lối đi của bộ hành. Những chiếc xe gắn máy made in China phun khói đàng sau ống bô chở trên lưng nó những gả đàn ông to bè tượng trưng một uy quyền đại hán. Một lần nào đó một trong những đại hán như vậy đụng phải một đứa nhỏ băng qua đường và hắn bỏ đi. Tôi nổi máu anh hùng và một cuộc ấu đã không cân sức xãy ra. Tôi vào trại giam để nghe xót xa trong hồn và thấm thía thương tích.         
Mưa đêm và gió ngày đôi lúc thổi qua chấn song như tiếng của mùa màng rung lên tuổi thơ. Chúng có khả năng vừa che đậy những nghẹn ngào cũng vừa băng bó mọi vết thương. Chính nơi đây tôi gặp Hà Mô Phạm.Đó là gả đàn ông sống ngoài vòng pháp luật và quen thuộc các trại giam Phường giống như người ghiền xi nê quen thuộc các rạp hát.         
Một lần trong trại tù, Hà Mô Phạm dạy cho tôi biết nếm trải thương yêu ban ngày và đêm đêm ngồi đếm những sĩ nhục. Giữa những chấn song khô khốc tôi nghe khôn lớn nhờ học vỡ lòng những bài học chịu đựng. Hà từng nói: “Một cánh buồm cần trãi được gió bình minh, mới đi vào biển lớn. Những ao hồ cạn hẹp là chuyện nhỏ…”Ra tù, tôi tìm đến địa chĩ của Hà Mô Phạm.Tôi gặp Hà đễ nghe Hà cho tôi một lời khuyên. Mưa đêm làm ướt át cùng bụi bậm bị dán chặt xuống mặt đường, như những điều hư ảo của cơm áo. Những khao khát bùng lên như ngọn lửa làm leo lét một quá khứ trong khi từng hướng đời mất dấu tương lai.Tôi đã chọn cho mình một hướng đi. Như lời khuyên của Hà. Những cơn mưa úp chụp xuống đời một đứa con trai hai mươi tuổi sẽ mát mẻ thăng trầm hay đớn đau khô khốc, tôi không hình dung ra. Nhưng tôi biết tôi cần phải bỏ đi ra khỏi đó càng sớm càng tốt.         
Tôi không nhớ nhiều về cách thức tôi rời khỏi Hà Nội. Nhưng tôi nhớ ơn Hà Mô Phạm. Hắn lấy của tôi một số tiền không lớn lắm, nhưng tận lòng. Hắn dạy tôi làm cách nào để chịu đựng đói khát như từng chịu đựng trong tù. Đồng thời dạy tôi nhiều câu nói ngoại ngữ, vừa phòng thân, vừa che dấu cái gốc gác quê mùa của mình. Một vài địa chỉ quan trọng liên quan đến nơi sẽ đến. Những sợi thuốc phiêu lảng trên vai tôi, từ những ngón tay vàng ám của Hà, thổi ước mơ tôi bay cao. “Chỉ cần qua được bên đó, cậu sẽ làm lại cuộc đời”. Hà mơ màng như chính hắn sẽ nhập vai chớ không phải tôi. “Hãy quên Hà Nội và quên cái Hồ Gươm chết tiệt của cậu đi. Nó không bao giờ là những bài học, để đem về một đáp số vinh quang cho những thanh niên như cậu…”          
Ngày tôi xa Hà Nội, có mưa nhiều trong khi mùa đông đến chậm. Những cơn mưa trãi dài qua những cánh đồng quạnh hiu không bóng người lai vảng. Vài con trâu ốm đói trân mình chịu lạnh và sống sót lạ lùng qua một mùa đông. Một cơn mưa như vậy của mùa Giáng Sinh xô tôi trôi giạt đến địa phận Trung Quốc. Tôi không có thì giờ nhìn lui để kịp nói lời từ biệt Hà Nội. Cũng chưa kịp từ giả màu xanh những cây sấu buồn rầu hai bên đường Cổ Ngư. Những mái ngói rêu phong bụi bậm như chưa hề được tắm gội. May mắn mà tôi chưa có người yêu nên chưa biết một màu hoa thủy chung nở ra sao bên lòng cuộc đời. Có lẻ nào tôi quên được dễ dàng Hà Nội? Những con dế thao thức trong lòng cỏ ướt át sương muộn lúc tôi ngồi trên băng ghế nhìn ra Hồ Gươm. Tờ giấy báo ủ rũ bay giạt dưới gốc cây liễu như chia sẽ với tôi một ngậm ngùi không tên gọi. Mai nầy mùa thu sẽ se sắt hay ấm lòng như lời bài hát của Phan Huỳnh Điểu: “Tình ta như hàng cây, qua những mùa bão gió. Tình ta như dòng sông qua những mùa thác lũ. Thời gian như ngọn gió mùa đi cùng tháng năm…”        
Bài hát tôi nghe Bảo Yến ca khi nàng về Hải Phòng hát cho những lầm than nghe. Năm đó tôi vừa mười sáu. Tôi đang là dân cữu vạn đúng nghĩa. Danh từ “cữu vạn” ám chỉ những người phu bốc vác. Họ khiêng gánh hoặc chở chuyên mọi hàng hóa nặng nề từ bến cảng lên nhà kho hay từ khu chợ nầy đến khu chợ khác. Thời gian làm việc không có giờ giấc nhất định. Khi nào có hàng thì làm. Không có hàng thì tụ năm tụ ba nhậu nhẹt, cớ bạc. Và gái ghiếc…           
Có những đoạn đường tôi phải đi ban đêm. Người lái xe ôm chở tôi ngồi sau lưng hắn, những lời hỏi đáp bị gió cuốn hút. Mùi mồ hôi lẫn với mùi thuốc lá bị ém nghẹn trong thanh quản. Đâu đó phố núi sừng sững khi thì chạy lùi, khi thì song song bên cạnh. Ánh đèn nhập nhòe từ một xóm làng sơn cước. Một chặng khác, cùng với những chiếc xe tãi chở hàng quốc doanh. Tôi bị treo nằm ngang dưới gầm xe cùng với vài người đàn ông có cùng mục đích. Hình như đêm cũng ràn rụa một vầng trăng khi xe dừng nơi một trạm gác. Tiếng chào hỏi của tài xế và tiếng chạy tới chạy lui của người lơ không lấp được tiếng tim đập mạnh trong lòng ngực. Rồi tiếng những tờ giấy bạc vỗ trên thành xe, hay tiếng mưa rớt xuống đời day dứt?  Rồi xe chạy. Con đường dằn xốc, tung hứng và làm chao đão thân thể những con vật người- hay những con người sắp trở thành con vật bị mất cảm giác- Tôi thiếp đi nhiều lần trước khi xe dừng ở biên giới. Một vài lần tôi được tiếp tế thức ăn. Đó là những lần hiếm hoi tôi tiếp xúc với thế giới bên ngoài.Mùa đông mang rét nàng Bân đến sớm. Quê tôi xa tít ngoài những chân mây rối bời. Nơi những dân nghèo không biết đếm thời gian nhưng vẫn đợi ngày lúa trổ. Khi ngươì ta biết góp nhặt khổ đau để hiểu trái tim mình, thì người ta sẽ yêu đất nước mình vô hạn.        
Ngôi nhà nằm trên cao và sâu trong một quận hạt có tên là RoundRock. Tôi biết vậy lúc đến đây ngày đầu tiên. Muốn vào tận nơi, người ta phải vượt qua một xa lộ dài có tên là xa lộ 35, rồi tẻ nhánh vào exit 247. Xác lá mùa thu nằm bẹp dưới vòng bánh xe, khi Ngải Hương kéo tôi ra khỏi chiếc xe Lexus của nàng. Ngải Hương là tình nhân của Sơn, cũng dân Hà Nội, nghe nói qua đây theo diện R.O. Sơn đang là chủ nhân của căn nhà trị giá nửa triệu bạc.
              Đây là “Phố Đá Tròn”. Ngải Hương nói với tôi. “Rồi Quách Tỉnh sẽ thấy không nơi nào dễ chịu bằng nơi nầy. Muốn thấy sông có sông, muốn thấy hồ có hồ. Muốn thấy đồi sẽ có đồi và vùng Dowtown có nhà cao tầng tuyệt đẹp”.Ngải Hương nói mà không cần tôi nghe và hiểu kịp hay không. Nàng gọi tôi là Quách Tỉnh vì dáng điệu bên ngoài của tôi. Tôi không hề để tâm chuyện đó vì chỉ cần nghe nàng nói và mỗi ngày nhìn thấy nàng là hạnh phúc. Chiếc áo đầm màu đen có thêu ren mềm dưới gấu gây cho người nhìn có cảm giác nàng đang mặc áo ngủ ra đường. Hai sợi dây nhỏ rưng rưng trên hai nhánh vai mảnh mai như hờ hững níu kéo mọi vải vóc trên thân thể khi nàng chuyển động. Nhìn nàng phía sau, tôi thấy thán phục cho những đấng sinh thành nào đó đã tạo ra hình hài tuyệt mỹ của nàng.         
“Quách Tỉnh chào Sơn đi”. Nàng nhìn về phía một người đàn ông âu sầu ngồi trước sopha. Ly rượu màu đỏ đang uống dang dở. Sơn nhìn tôi quan sát không nói một lời.“Chào anh”. Tôi ấp úng. Sơn khoát tay và thuận tiện kéo chai rượu gần đó và rót thêm trong ly mình. Màu rượu đỏ sậm sáng lên khi Ngải Hương mở thêm ngọn đèn trong phòng khách. Câu nói đầu tiên mà tôi nghe được chiều hôm đó, từ miệng Sơn, nghe như được ủ bằng mùi khói thuốc và bia bọt trộn lẫn:“Cậu uống được rượu không?”.“Lúc còn ở Việt Nam tôi có uống, nhưng không phải rượu “cao cấp”.Tôi vẫn chưa cảm giác được thoải mái khi đứng trước mặt người đàn ông mà lúc ngồi trên xe, Ngải Hương nói là sẽ  đưa tôi về gặp Boss ”.         
Sơn khoảng 35- 36 tuổi. Hoặc hơn kém chút đỉnh. Bàn tay dài và những móng được cắt cẩn thận. Chiếc áo sơ mi trắng bỏ ngoài quần jeans xanh, đơn giản như một gả học trò đang ngồi trong thư viện. Nhưng ánh mắt gây cho người nhìn sự e dè. Nếu không muốn nói là xa vắng thiện cảm.“Cậu sẽ làm việc gì ở đây? Có ai nói cho cậu biết chưa?“Chị Ngải Hương có nói sơ cho tôi biết”. Tôi trả lời“Tốt”.         Tôi theo Ngải Hương đến phòng ngủ của tôi. Căn nhà nhiều phòng có cửa đóng kín đến nổi tôi không nhớ hết những nơi tôi đi qua. Chỗ của tôi là một căn phòng rộng không có bàn ghế, cũng không có giường. Nền nhà được lát bằng gỗ đánh vẹt ni. Trên đó là những chiếc nệm dùng làm chỗ ngã lưng có phủ drap màu được xếp ngay ngắn. Có tất cả 5 chiếc. Chúng được đặt hai bên chừa một lối đi ở giữa. Bốn chiếc kia đã có mền gối và một ít đồ đạc lỉnh kỉnh, chỉ còn một chiếc bỏ trống, tôi nghĩ dành cho tôi.Phòng vệ sinh gần bên cửa ra vào. Không có TV. Không có tranh ảnh treo tường. Cũng không một âm thanh nào rớt xuống để gây cho ngưòi ta cảm giác đang sống giữa lòng đô thị.        
Chiều xuống bên ngoài. Những cây sồi oằn oại nhìn xuống bờ cỏ xanh mơ màng. Ngải Hương đi khỏi chỉ còn mình tôi trong phòng. Tôi nhìn xuống chiếc túi xách bụi đời dưới chân và ngả lưng xuống nệm. Hi vọng ngủ một giấc nhưng không được. Đầu óc rối bời nghĩ đến ngày mai và công việc lạ lẫm trong một xứ sở cũng lạ lẫm vô cùng.Tháng mười năm ngoái tôi còn ở bên Anh. Một tổ chức nào đó giới thiệu tôi làm việc cho một trang trại vùng North Wales. Tiền công cuối tuần được khấu trừ vào những chi phí như tiền trọ phòng, tiền ăn uống, tiền hối lộ làm giấy tờ để qua mặt cảnh sát. Dĩ nhiên những giấy tờ đó đều giả mạo. Thời gian cơ cực nhất phải nói là thời gian sống ở Trung Quốc. Vì nơi đây là trạm khởi đầu để nhập cư lậu qua các nước Âu Châu nên những nhu cầu cần thiết cá nhân đều bị hạn chế. Những người cầm đầu tổ chức cấm chúng tôi không được ló mặt ra khỏi phòng. Việc ăn uống, vệ sinh cũng bị hạn chế để tránh sự dòm ngó của người địa phương. Thời gian này chỉ kéo dài hơn một tuần lễ, nhưng cũng đủ làm suy sụp tinh thần của tôi.Thoạt tiên, người trưởng nhóm nói tôi sẽ được học nghề trong một nhà hàng. Nhưng thật ra khi về vùng Zabki, ngoại ô Warsaw ở Balan, tôi được dạy cách trồng trọt duy nhứt những bụi cây có hình dáng giống như cây ngò gai, hay cây tần ô, nhưng có lá dài hơn, óng ả. Nhiệm vụ của tôi lúc đó còn thêm việc canh giờ bật điện khoảng sau 10 giờ đêm và trộn hóa chất với nước để tưới cho cây. Sau này tôi biết nguồn điện “câu lậu” từ cột điện cao thế bên ngoài. Người làm công của nhóm này sẽ không biết công việc của nhóm kia. Họ ở trong các phòng riêng và nhiều khi không biết hết tên tuổi của nhau. Mỗi 3 tháng một lần có xe tải đến chở những bao lá sấy khô đem đi nơi khác.Nơi trú ngụ cuối cùng của tôi ở Âu Châu là Canada. Ngải Hương đã bốc tôi ra khỏi nơi đó, giống như bốc một món hàng… Một chi nhánh trồng trọt của Sơn tại Austin đang cần một người Việt Nam có tay nghề và có kinh nghiệm “đụng chạm”. Nàng tìm đến tôi.         Mãi sau này, tôi mới biết tôi đang làm việc cho một tổ chức chuyên trồng cần sa. Những nhánh lá ngoài vườn và trong các chậu treo trên tầng trệt của ngôi nhà 7 phòng mà người đời gọi là những lá cây quyến rũ. Nó có khả năng làm rực rở và ngời sáng một ước mơ, nhưng đồng thời giết chết từng thanh xuân lần mòn. Trên mỗi cánh lá mơn mởn kia, tình yêu và đời sống đan vào nhau rất dịu dàng, rất thân mật, nhưng cũng chua xót bầm vập biêt bao.          Đã có những ngày mưa dầm trên Phố Đá Tròn.Sơn và Ngải Hương không còn hiện diện tại đây. Họ phải về Canada một ít lâu. Tôi tiếp tục làm những công việc mà người ta đã dạy tôi. Buổi sáng tôi tưới những cây ngoài vườn bằng xe có vòi nước lưu động. Ban đêm, khi hơi nóng mặt trời dịu xuống, tôi dùng bình xịt nước tưới những chậu treo trên cao. Bình xịt nước có hai chạt dây, tôi mang nó sau lưng và đi qua dãy hành lang mờ tối. Ánh sáng hiu hắt dội xuống những tia nước như giống như những nhánh tay đời muốn đụng tới bình minh. Khi mỗi cuối đường là bất trắc?Căn nhà rộng mênh mông. Người chủ nhà trước kia đã chia những phòng thànhcác khu tách biệt. Bây giờ khi Sơn về làm chủ, có thêm hệ thống thông gió xuyên qua mái, và hệ thống điện và nước cũng được lắp đặt lại. Những bóng điện công suất cao- mà chúng tôi gọi là đèn mặt trời- có công dụng làm cho hành lang ấm lại vào mùa đông và mát vào mùa hè. Có một người đàn ông gọi là Chú Ba, sẽ phụ trách phần này. Hắn ít nói và biểu lộ sự thân thiêt vừa phải với người chung quanh. Những phòng ngủ cũng được tận dụng tối đa để trồng trọt. Tôi đếm có tất cả 500 chậu. Còn ngoài sân khoảng 250 bụi cây. Ngoài ra trong nhà kho còn những hộp vuông đựng hạt.          Từng buổi chiềucô đơn nhìn ra khu vườn bên ngoài, tôi không còn ý niệm về thời gian. Không gian cũng không gợi trong tôi điều gì, ngoài những vạt cỏ mông lung. Ngôi nhà, như một thế giới khép kín. Đường phố lơ đảng tiếng kèn xe như vọng về từ một xứ sở nào khác. Tôi nhớ nhà vô cùng. Nhớ những bờ đường trượt mình dưới những cơn mưa như tuổi thơ tôi hối hả. Mùa nầy Hà Nội sắp tết. Chắc nơi đó giờ này là buổi sáng mai đang có gió làm sạch mặt đường. Có còn không những cơn bão bịn rịn bay qua bến chợ, làm tê điếng một khúc sông Hồng?        
Sau một mùa thu hoạch, tôi được tăng phái qua khu vực sưởi. Nơi đây, những lá cây được cắt từ sân vườn sẽ được bỏ trong lò sấy hiện đại để làm khô. Sau đó được xếp vào bao tải. Đến phiên người tái xế sẽ đem đi ra khỏi đây.        
Mùa đông, gió rít ngoài cửa kính. Những âm thanh sôi nổi va chạm vào nhau như tiếng chân đời đi vội vã. Một buổi chiều tôi nghe tiếng xe của Ngải Hương trở về. Không có Sơn bên cạnh. “Có gì lạ không, Quách Tỉnh?”. Nàng hỏi. Tôi lắc đầu. Câu nói rơi xuống chiều lặng lẽ. Cùng tia nhìn nặng trĩu một ân cần. Chính vì vậy làm tôi cảm giác mình nhỏ nhoi trước nàng.Dầu gì tháng mười vừa rồi, tôi đã là một thanh niên 25 tuổi.Ngải Hương đứng trên bậc thang dẫn lên tầng trệt. Qua vai nàng, những nhánh lá xanh um phủ kín thành chậu. Có tiếng gì không rõ như tiếng một trái khô vừa rơi xuống lòng suối nhân tạo chảy qua hòn non bộ. Cũng vừa lúc tôi bắt gặp nỗi im lặng đáng sợ của lòng.       
Ngải Hương đem mùa xuân về trả lại cho Phố Đá Tròn. Cùng sự hồi sinh của cây cỏ làm đầm đìa ký ức. Mảnh vườn vắng nàng bấy lâu đã từng im thít tiếng chim. Tôi đi qua những căn phòng hình như thấy rộng hơn và vấp trên những nỗi buồn ngang dọc. Nàng trở lại, thanh thoát và nhỏ nhắn lạ lùng. Phố chiều nay có mùa đông rất lạ. Sương mù thổi về như sông lạnh. Bộ đồ nàng mặc màu trắng như một vệt khói bay qua một góc đời nào đó. Không có nhân quả, cũng không có khổ đau. Giống như một đứa trẻ mang trong lòng sự dỗi hờn, tôi muốn Ngải Hương phải nói một điều gì đó, về nàng. Nhưng nàng đã như một cơn gió đêm rơi thầm trên mái ngói, xa lạ và kéo theo những rét mướt vô tình.Nàng không ra khỏi phòng, cho đến một đêm, nàng nói với tôi:“Mình đi xuống phố. Sơn vừa gọi chúng ta.”Chúng tôi đi qua những giao lộ sầm uất ánh điện và xe cộ vụt qua như thể đời sống hối hả khôn cùng. Những cửa tiệm chất chứa mọi lạc thú của đêm và che dấu mọi bất trắc đàng sau những ngã tư sũng gió. Càng về hướng phố, đường xá càng hẹp và xe chạy chậm hơn. Những tòa cao ốc khi gần khi xa làm choáng váng tầm nhìn của gả con trai quê mùa là tôi. Đi qua một tòa nhà có mái vòm lộng lẫy cùng những thân cột bề thế không biết hàng bao nhiêu năm nắng mưa mới làm suy siểng, nàng nói:”Tòa Capitol. Nơi mấy ông lớn làm việc”. Nàng giải thích như vậy và sợ tôi không hiểu, nàng tiếp:”Tòa nhà nầy xây giống theo hình thức của điện Capitol tại Washington D.C, nơi làm việc của Tổng Thống Hoa Kỳ, nhưng kích thước nhỏ hơn”.Xe rẻ vào một chỗ đậu xe có đóng tiền. Tôi đi theo Ngải Hương trong lòng đêm phơi phới. Những đêm đẹp như thế này mà không có ai bên cạnh sẽ là điều buồn nhất. Chúng tôi đi trên vĩa hè lát đá mỏng vuông vức vẫn còn hơi lạnh như thể mùa đông không bao giờ bay biến. Những dòng xe xuôi ngược bên lối đi, dưới những ngọn đèn đường co ro, rồi mất tăm không biết về đâu. Những băng ghế chờ xe buýt lác đác vài khách bộ hành. Họ thủ kín thân thể trong hai ba lớp áo quần chỉ chừa lại khuôn mặt.        Mùa đông không chỉ là lạnh giá, mà còn có thêm nỗi buồn. Tôi nghĩ về những cơm áo níu chân tôi mỗi ngày khiến từng giấc mơ bay qua đời không đậu xuống. Hay nếu có, thì rất ngắn ngủi. Như những đường chỉ tay cạn trong bàn tay thô ráp.       
Chỗ mà Ngải Hương ghé vào là một quán rượu nằm bên đường số 8. “Sơn có công việc ở đây”. Nàng nói, vẫn không dừng những bước chân thoăn thoắt. Mặt trước phòng dùng để bán bia rượu cùng những thứ giải khát. Có những cô tiếp viên phục vụ mặc đồ nửa kín nửa hở mang khay đựng thức uống bằng một tay, còn tay kia cầm tiền thối lại của khách. Miệng lúc nào cũng cười tươi như hoa. Nhưng coi chừng, đàng sau những nụ cười tê điếng đó là những lưỡi lam cứa đứt ví tiền của bạn như chơi. Tiếng nhạc giống như tra tấn lỗ tai người ngồi quanh quẩn nơi mấy chiếc bàn tròn có phủ drap màu bọt đô. Những chậu hoa trong lọ phơi bày sự mời mọc hớn hở. Tất cả đều trở thành cuồng si nếu chúng ta dừng đâu đó và ngồi xuống. Nhưng Ngải Hương vẫn tiếp tục đi qua chỗ náo nhiệt để vào bên trong. Nàng có vẽ quen thuộc và thành thạo một nơi chốn mà không phải bất cứ ai cũng có thể bình thản tham dự.  Tôi líu ríu và khổ sở đi theo Ngải Hương. Những đôi mắt không che dấu nhục cảm nhìn theo lưng nàng và tôi biết tôi phải che chở cho nàng tới nơi tới chốn. Dù đến tận cùng trời, cuối đất. Càng vào sâu, ánh sáng càng giảm cường độ, cho đến khi chúng tôi lọt hết vào trong một cánh cửa màu đen như trong một cửa hàng bán quan tài thì tôi vừa thấy Sơn.         
Hắn không ngồi một mình mà bên cạnh đó có hai thanh niên trắng trẻo. Chiếc áo quấn trên người họ tượng trưng cho một xã hội khao khát những nghịch lý và không bình thường. Bộ đồ được trau chuốt bằng một thứ vải vóc giống như “sa teng” hay một loại hàng nào đó giống như vậy. Tôi không có khả năng phán đoán người đối diện, nhưng kinh nghiệm cho tôi biết họ là hai người đồng tính- một hạng người mới đang thao túng những góc phố đèn màu của Hà Nội- Sàigòn. Ngọn điện trên trần dọi ánh sáng không đủ xuống những màu sắc hổn hển không cần dấu diếm, che đậy. Sơn thấy chúng tôi nhưng dường như quá bận bịu hay vì quá chén mà không thể đứng lên. Một cánh cửa ăn thông một căn phòng khác mà lúc mới đặt chân vào tôi thấy có giường nệm hẳn hoi. (Một tủ lạnh và một chiếc truyền hình đang dội ánh sáng lướt thướt xuống nền gạch). Mùi mỹ phẩm thoảng bay qua khứu giác khiến tôi nao lòng. Phải chi tôi được uống một chất cay nào đó lúc nầy để giữ bao tử khỏi bị cồn cào, nôn mửa…          Ngải Hương đến sau lưng Sơn. Hai cánh tay trắng muốt của nàng choàng qua vai hắn. Nàng hơi cúi xuống để nói nhỏ với Sơn điều gì đó và chính vì vậy tôi thấy hai gò ngực của nàng phập phòng. Nó mơn trớn và ngỡ ngàng như hai phiến băng lạnh trôi giạt giữa hai bờ yên tịnh của đời. Còn đôi môi màu phượng nửa. Nó vừa cuốn hút, nhưng cũng vừa quay lưng với mọi trần tục bất an. Hơn lúc nào hết, tôi thù ghét cái không khí dung chứa mọi ước lệ về đời trong đó sự kiêu hảnh, sự đè nén đan vào nhau trở thành kỳ hoặc. Cuộc đời bí hiểm hay cuộc đời phơi bày ra những giản đơn, những dung tục? Tôi muốn rời khỏi phòng để ra ngoài trong giây lát, cũng là lúc Sơn đứng lên để rồi té xuống giữa bốn cánh tay dịu dàng của hai gả con trai. Họ xoắn vào nhau và cuối cùng biến mất nhanh chóng vào căn phòng có chiếc truyền hình đang chớp nháy.      
Một gã khác hiện ra tôi không nhớ từ lúc nào. Hắn giống như từ dưới đất nhô lên và khi tôi kịp hình dung ra sự vô lại toát ra từ thân hình vạm vỡ của hắn thì hắn đã đẩy Ngải Hương ngả xuống chiếc bàn- mới vừa sắp sẳn những dấu tích hoan lạc- Sự kinh ngạc to tát khiến nàng không thốt kịp lên thành lời. Nhưng tôi đã kịp biết mình phải làm gì.  Những ngày u uất trong nông trại không giao tiếp với thế giới bên ngoài. Những đêm mưa ngày mưa chôn chặt quá khứ tôi xuống thửa đất mong manh nhưng chứa quá nhiều bí mật. Và trên hết là một tình yêu cho đi mà không chờ đợi lấy về. Tôi không biết tôi có thể yêu được nàng hay không, nhưng tôi biết giấc mơ của tôi dù thơm và ngậm đầy những khuyết tật chồng chềnh, nhưng không phải vì vậy mà tôi để yên cho bất cứ ai xâm phạm đến nàng. Tôi lao tới bằng tốc độ của một ngôi sao băng và một trái tim rét mướt hận thù. Tôi nhớ đến gã “đại hán” Trung Quốc  mà tôi có lần đụng chạm ở Hà Nội. Tôi ngạc nhiên về sự trầm tỉnh của mình khi bàn tay trái của tôi vổ mạnh vào màng tang của hắn. Hắn quay lại và chưa kịp phán đoán ra điều gì thì tôi đã nhập sát vào người hắn đồng thời khủy tay tôi giật ngang. Tôi nghe hình như có tiếng xương vừa gẫy vụn- hay một tiếng gì tương tợ, cùng lúc thân hình đồ sộ ngã xuống. Tôi kéo Ngải Hương không cần biết nàng có ưng thuận hay không. Nàng ngoái nhìn lại phía sau. Bàn tay rung và đậm đặc nỗi sợ hãi. Chúng tôi tìm ra được bãi đậu xe và chiếc Lexus của nàng vẫn nằm yên như mê ngủ. Sương sớm đọng trên những chụp đèn còn cháy muộn bên đường. Phải một lúc lâu, Ngải Hương mới rồ được máy xe. Bảng chỉ đường nhòe nhoẹt hướng về Phố Đá Tròn…        
“Như vậy là Quách Tỉnh đã biết về Sơn”. Trong đêm bao la của tháng chạp, tôi nhủ lòng phải chi mình đừng rời bỏ Hà Nội. Quá khứ cũ kỷ đến nỗi từng chiếc lá khô và những đường gân trên đó cũng cộm lên nỗi đắm say khi vạt gió vụt về. Khi những trận mưa đêm ngấu nghiến lòng đường thô ráp. Những chuyện hôm nào đã trở thành cổ tích.       Tôi đã biết về Sơn cũng như biết Ngải Hương không hề là người tình của hắn.“Em kết hợp với Sơn trong ý nghĩa hai bên cùng có lợi. Em muốn ra khỏi Canada trong khi Sơn cần nhan sắc em để thu phục những nhân viên có tay nghề về với Sơn. Anh đừng giận”. Nàng buồn rầu. Những ngón tay của nàng vuốt nhẹ trên gò má tôi thay cho lời tạ lỗi. “Thoạt tiên, em cũng nghĩ về anh như vậy. Nhưng càng về lâu, em không tìm ra lý do để lợi dụng anh”. Anh hiền lành và có cá tính không như những nhân viên khác”.Tôi muốn nói lời cảm ơn với nàng, nhưng vụng về làm sao.“Nhưng có một điều mà em không hề biết. Là giữa em và Sơn, người thiệt hai nhiều nhất là em chớ không phải Sơn. Em đã mất phương hướng và mất cả đường về. Ngoài việc trực tiếp tham dự vào một tổ chức tội ác mà không một tòa án nào có thể giảm khinh, bản thân em còn vướng vào một tòa án khác. Đó là nghiện ngập. Mỗi ngày đi qua những cành nhánh quyến rũ kia, em đã không thể không mũi lòng trước mùi thơm của nó. Cho đến khi biết nó trở nên một phần xương thịt, máu huyết của em thì đã muộn. Em không thể cưỡng lại lời thầm thì của mụ phù thủy mang tên phù dung trong vườn. Chính cái tên Ngải Hương là do em tự đặt…”Căn phòng dùng làm nơi sống chung của Ngải Hương và Sơn là một căn phòng riêng quay ra phía sân trước. Đêm qua Sơn không về. Có thể Sơn sẽ không về một thời gian vì có nhiều điều tránh né.Buổi sáng có tiếng chim thả những lời mật ngọt qua vườn. Ánh sáng mặt trời e ấp trong sương lạnh giống như tia nhìn của nàng. Tôi thấy nàng thanh khiết và tội nghiệp dù nàng vẫn thao thao bất tuyệt nói về mình. Làm như giông bão đã từng thổi qua vai ai chớ không phải qua vai nàng. Làm như những giọt cường toan vừa ngấu nghiến thanh xuân của ai kia chớ không phải ngấu nghiến thanh xuân nàng.Tôi hôn nàng và nghe tiếng thầm thì đau điếng từ căp môi run. Những thiên đưòng cũng lệch cong trên gối chăn tơi bời. Tôi vào bên trong nàng. Sâu. Và chậm rãi. 

Thay cho lời kết:

Có những dòng sông đau lòng vì sông cô độc.Tôi đang là dòng sông như vậy khi  cả hai bờ đều lở.Khi tôi rời Hà Nội, tôi không có một tình yêu. Khi tôi rời Phố Đá Tròn thì tình yêu đã trở thành một quá khứ. Tôi nghĩ mình sẽ bỏ căn nhà nơi vùng Round Rock để đi đến một nơi nào khác làm lại từ đầu. Hàng cây phong trần bụi bậm không giữ được gió để chúng tản lạc chốn nào. Những luồng xe ngoài Freeway chở chiều trên lưng đi về vội vã.Ngải Hương không còn trong cõi đời này. Tôi đau lòng để nói ra điều này.Tôi chỉ là một gã đàn ông chân quê trước cuộc đời tẻ lạnh, Không nghề nghiệp, cũng không tàì năng. Ngay cả việc làm cũng không biết rõ mục đích. Bỗng một ngày Ngải Hương đi qua. Đôi bàn chân có những ngón đài các làm tỉnh ngủ đất đai và kinh động mùa màng. Và tôi như một dòng sông mất hồn không tìm thấy biển.Những cành hương ngải thơ ấu lớn lên rưng rưng theo thời tiết tháng năm, giống như những chàng trai, những cô gái vào đời. Họ theo gió sớm mưa khuya bay qua những miền dâu bể. Nhưng Ngải Hương thì khác.Khi tôi hôn lên khoảng ngực trần của nàng và đôi vai ngang mầu nhiệm kia, tôi biết thân thể nàng gầy đến nỗi nếu chỉ một cử động hay một hơi thở mạnh sẽ làm cho nàng gẫy đỗ.Dưới hàng khuy che chắn mùi ngực non, ngón tay nàng lạnh không kém mùa đông bên ngoài. Câu chuyện tình yêu nào cũng bắt đầu và kết thúc bằng môi miệng. Những vọng âm và ngụy ngữ không cần thốt nên thành lời. Chỉ có da thịt cồn cào tiếng thầm thì hạnh phúc.Bây giờ tôi đã biết, mùi vị của những cây ngải hương đã tác hại lên từng giấc mơ của tôi. Rõ ràng và mãnh liệt.Chẳng ai có thể thay thế nàng. Giống như một cánh cửa vừa mở ra, đã khép, tôi bất lực nhìn Ngải Hương đi ra khỏi đời.Không có gì khác hơn một khu vườn cuối mùa thu hoạch, những nhánh lá đổi màu xanh thành màu cỏ úa, trong rét mướt của chiều có con chim về lót tổ. Tiếng hót mang giai điệu tủi hờn.Ở bên ngoài tịnh yên, tôi đã chọn cho mình chỗ đứng. Như một chuyến xe vừa đãi lọc những chặng đường, tôi đã vừa từ bỏ những quá khứ lấp lóa đèn màu để đi vào ngỏ cụt.Ngay chổ tôi ngồi, thửa đất phủ kín một phần thân thể của Ngải Hương. Thời gian cuốn phăng những điều nghịch lý giống như mưa thấm sâu vào vùng đất thấp. Mùa xuân ngọt ngào sẽ qua đây sáng mai, nhưng căn phòng có cửa sổ nhìn ra sân trước của khu vườn sẽ đóng lại vĩnh viễn. Từng cơn gió tạt qua đó như nỗi nhớ. Không còn ai để gọi tôi là Quách Tỉnh nửa đâu.Tôi không biết chứng bệnh quái ác hay một cơn phấn khích đột ngột nào đó lấy đi cuộc sống của Ngải Hương. Nhưng bác sĩ ở bệnh viện đã chạy chữa hết cách và trong một tình huống chẳng đặng đừng, họ đã yêu cầu thân nhân đồng ý cho nhân viên bệnh viện rút dây chuyền dưởng khí ra khỏi nàng.Sơn là người duy nhất có mặt để lo liệu thủ tục. Đám tang vội vàng vì theo hắn nếu kéo dài sẽ kéo theo những rắc rối ngoài ý muốn.           Buổi chiều Sơn đem về từ nhà quàng hủ đựng hài cốt có ghi tên Ngải Hương bên ngoài. “Cậu tìm cách bảo quản hay tìm một nơi nào đó, trong vườn để gởi gắm chị cậu… Gọn gàng nhưng đừng sơ sài quá”…Giọng nói vẫn lạnh lùng như của một người chưa hề biết qua những tình yêu hay lòng nhân ái.           Tôi dùng những dụng cụ làm vườn để chôn Ngải Hương dưới một thửa đất, cách xa những gốc cây cần sa … Không xa lắm đủ để tôi nhận ra cuộc đời không mênh mông dễ sợ như tôi nghĩ. Cuộc đời vẫn thừa mứa hoan lạc lẫn khổ đau. Cây thánh giá cắm trên đó như một dấu tích điêu linh và mỗi ngày rét mướt đi qua sẽ lau khô dùm nàng những phiền tục hớn hở.          
Khi cảnh sát ập đến ngôi nhà này hồi tháng trước- nghĩa là sau Tết Việt Nam vài ngày, tôi đang ở nhà một mình. Sơn và những người khác không ai có mặt.Họ lấy khẩu cung tôi nhiều ngày nhưng sau cùng biết tôi chỉ là người làm công, không phải là người điều hành nên giam giữ tôi tại phòng giam của quận hạt, chờ ngày ra tòa. Và nếu xét thấy có tội, tôi sẽ bị tù một thời gian. Sau hạn tù, tôi sẽ bị trục xuất về nơi chốn mà tôi đã ra đi. Đó là Hà Nội, Việt Nam. Tôi sẽ gặp lại Hà Mô Phạm.Tôi không buồn. Chỉ thấy đau lòng không biết ngôi nhà từng ghi dấu kỷ niệm giữa tôi và Ngải Hương sẽ trở nên thế nào. Và một nơi chốn vừa ghi xuống một tình yêu đầu đời.Có những điều mà con tim muộn màng đập lên khi bàn tay đã rời hơi ấm. Và nỗi cô đơn chật kín khúc sông đời mông mênh. Tôi đi qua những tháng năm dài được gối đầu trên đôi vai trần thanh khiết của Ngải Hương. Và hơi thở thơm mùi nha phiến của nàng tỏa ra mỏng mềm hơn sóng áo.Đó là một kinh nghiệm non yếu nhưng rền rĩ từng lời khản thiết gối chăn.Những luồng xe mất hút bên kia đường chiều mịt mùng. Bóng cây dâu cô độc nơi đó vẫn còn cho những nụ hoa. Còn tôi? Phải mất bao nhiêu lâu để trưởng thành? Để không còn trượt chân ngã sóng soài lên một quá khứ? 

PHẠM NGŨ YÊN

PHÒNG VĂN

Hồi trẻ, thích đọc sách, có lúc tôi mơ có thể đến thăm phòng làm việc của một nhà văn có tác phẩm mình yêu thích. Tôi hình dung quanh chỗ ngồi nhà văn ấy có đầy sách tham khảo trên bàn và trong tủ sách, có thể có bình hoa, ấm trà và cái tách xinh xinh. Trên tường có thể là vài bức tranh sơn dầu vẽ cảnh sông nước hay cô thiếu nữ. Không gian ấy không cần sang trọng, thậm chí là đơn sơ, thanh bần nhưng chính là không gian sáng tạo, đủ để nhà văn dậy lên niềm hứng thú viết lách.

Công việc và bản tính khiến tôi không la cà nhiều, không có dịp kết thân rộng với giới sáng tác. Tuy vậy, tôi ghé thăm được vài thư phòng trang nhã.

Có lần, có dịp đến thăm tư thất của nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân ở Cái Bè thuộc Tiền Giang, tôi thấy lại cảm giác thư thái khi ngắm cách bày biện giản dị trong nội thất của anh. Ở phòng khách, sát tường là tủ sách có cửa kính. Trên tường đối diện treo bức thư pháp chữ Hán anh viết kiểu chữ thảo khá đẹp hai câu thơ của danh y Hải Thượng Lãn Ông: “Thiện diệc lãn vi hà huống ác. Phú phi sở nguyện, khởi ưu bần”, nghĩa là “Thiện còn lười biếng làm, huống chi việc ác; Giàu chẳng phải ước nguyện, nên đâu lo nghèo”. Treo bên cạnh bức thư pháp là cái quạt giấy… rách. Cả hai kết thành một tác phẩm sắp đặt đơn sơ nhưng tuyệt hay, hòa quyện với nhau trong tinh thần thiền giản dị và thoát tục. Không gian phòng khách kết nối với phòng làm việc kế bên. Ở đó, có cái bàn làm việc rộng, trên có mấy chồng sách và tạp chí. Con dao tre rọc giấy đặt trong ống bút. Khay trà cũng bằng tre chỉ có một cái chung, có lẽ chỉ dành cho chủ nhân. Trên bàn có một ngoạn thạch đặt trên đế thấp. Bàn viết đơn sơ, thanh sạch. Anh Quân bảo: “Vậy là đàng hoàng lắm rồi. Hơn chục năm trước, tôi ở trong cái chòi lá mái thấp trong rừng cao su ở Lai Uyên, miệt Bàu Bàng thuộc Bình Dương. Tôi ở đó một mình trong hơn một năm, tự nấu ăn, thỉnh thoảng trò chuyện với mấy công nhân cao su gần đó. Trời mưa, bốn vách chòi trống không, tôi ngồi giữa chòi bên cạnh mớ sách vở mà không sợ ướt. Vậy mà vẫn  viết lách được. Bức thư pháp trên tường anh thấy do tôi viết những ngày ở đó”. 

Rời nhà Phạm Hoàng Quân, tôi cùng anh và vài người bạn đi tiếp về huyện Chợ Mới, An Giang để thăm nhà nghiên cứu Lý Lược Tam đang nằm dưỡng bệnh. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối thăm nhà chú Tám (cách tôi gọi ông). Góc phòng văn của chú có kệ sách nhỏ, mấy cuốn tạp chí. Thật cảm động khi thấy chú Tám treo ngay nơi làm việc hai món: áo yukata và cái nón cời lối. Áo yukata là dạng kimono đơn giản của đàn ông Nhật, do Đông Vy, vợ tôi tặng chú sau một chuyến đi Nhật vì biết chú thích. Cái nón cời lối đan bằng tre cũ kỹ, là kỷ niệm để lại từ ông nội của chú mang sang từ nước Trung Hoa ngày xưa, dùng cùng với cái áo xá xẩu khi còn là bang trưởng Triều Châu ở Lái Thiêu. Chú Tám không dùng  máy vi tính, viết tay trên giấy và khi muốn gửi ai đọc thì đi photo rồi phân phát. Góc nhỏ còn có một cái dù bằng giấy, vài món đồ cổ.

Phòng văn là không gian sáng tạo, thể hiện cá tính của chủ nhân. Ở gần nhà tôi, trên đường Lam Sơn hồi thập niên 1960 có một phòng văn của nhà thơ Đông Hồ và vợ là nữ sĩ Mộng Tuyết. Ông anh tôi, cựu sinh viên Văn khoa là học trò của ông, nghe các thầy trong trường kháo nhau đó là một phòng văn rất tao nhã hiếm có mà ông chỉ tiếp khách quý. Các sinh viên mến mộ ông chỉ “nhìn” phòng văn ấy qua mô tả của ký giả Nguyễn Ngu Í đăng trên báo Sáng Dội Miền Nam khoảng năm 1962. Ở đó, vào những dịp gần Tết, ông thường đón tiếp bạn văn với quốc phục, hoa trong bình, câu đối và tranh thủy mặc treo trên tường, phảng phất mùi trầm hương thơm ngát xông trong lò. Sau này, nhà văn Hồ Trường An mô tả lại chốn văn chương ấy trong cuốn Cõi ký ức trăng xanh, đọc càng hấp dẫn:

“Ông Đông Hồ và bà Mộng Tuyết có cuộc sống đẹp và phong nhã. Ông gọi bà bằng Tuyết muội muội, bà gọi ông là Đông Hồ ngô huynh. Khuôn viên của họ được gọi là Úc viên. Gác của ông Đông Hồ treo lủng lẳng một vài khóm phong lan nên được gọi là Vương Giả hương đình, còn căn phòng trên gác của bà Mộng Tuyết có mái hiên gie ra nên gọi là Tân Nguyệt Hiên (mái trăng non). Khi tiếp khách, ông Đông Hồ rửa tay bằng eau de cologne rồi xức eau de lanvande, mặc áo dài gấm, đội khăn xếp, đem lò hương trầm ra phòng khách. Còn bà Mộng Tuyết thì thoa son, giồi phấn tỉ mỉ, đeo nhiều món trang sức bằng cẩm thạch, kim cương, pha trà sen, dọn rượu cúc để bồi tiếp tao nhân mặc khách. Trong văn chương, họ gọi mứt hạt sen là mứt liên tử, rượu chát (vin, wine) là rượu bồ đào hay bồ đào mỹ tửu, gọi trái sầu riêng là trái Đào liên, gọi rượu Tây loại quý như rượu champgne là Quỳnh Tương ngọc dịch, gọi bánh Trung thu là Trung Thu nguyện bỉnh… Ngòi bút của họ nếu tả cảnh thì tả hoa quỳnh, hoa bạch mai, quả đèn bằng dưa hấu khoét ruột (qua đăng), đôi đèn sáp cầu tuổi thọ cho cha mẹ…”.

Phòng văn ấy hiếm có, như phong cách sống của vợ chồng chủ nhân.

Nhà văn xứ Việt bao đời nay hầu hết có đời sống kinh tế bình thường, thường có nghề khác để nuôi ngòi bút … Ai khá hơn thì vừa viết vừa làm chủ báo, chủ bút, chủ nhà in, chủ nhà xuất bản, chưa kể những nghề khác không liên quan đến sách vở. Số đông là sống thanh bạch, thậm chí là nghèo. Trong tâm trí của họ, những câu chuyện sắp viểt ra mới là quan trọng. Văn chương là đam mê, là nỗi thống khoái của họ, và phòng văn là không gian quan trọng, dù đơn sơ, để họ tuôn trào ra ngòi bút những cảm xúc và những điều muốn kể. Nhà văn Hồ Trường An cho là nhà văn Sơn Nam, dù không quan tâm chăm sóc bề ngoài, ăn bận đơn giản, không cạo râu nhưng: “căn gác của Sơn Nam trên đường Nguyễn Cảnh Chân rất gọn ghẽ, mỹ thuật. Sách vở trong tủ, trên kệ được sắp thứ tự, chậu cây cảnh, đồ cổ ngoạn chưng bày rất bon gout…”.  Còn nhà thơ kiêm ký giả Nguyễn Ngu Í, người có những cơn tâm thần bất định, tuy ở một căn nhà hẹp té gần chợ Vườn Chuối, trên căn gác lửng mờ tối, cạnh bàn thờ thắp sáng bởi ngọn đèn trứng vịt bóng đỏ là nơi đặt bàn viết của ông. Trên đó có giấy má, tập vở xép gọn gàng, có con ốc biển vân nâu vàng dằn lên. Tủ sách bày nhiều cuốn bìa da, mạ chữ vàng.  Đó là một không gian khá “sang”, như một góc đền văn chương nhỏ xíu mà Hồ Trường An được thấy và ghi lại.

Có một phòng văn ở Sài Gòn thập niên 1960 mà một nhà nghiên cứu người Mỹ khi đến thăm đã phải thốt lên: “Tôi ước mong có một căn phòng xinh xắn như thế này và chỉ có một nửa số tài liệu của ông thôi!”. Ông ta đã thấy gì ở nơi làm việc của nhà nghiên cứu ngữ học Nguyễn Bạt Tụy này? Theo Giản Chi, trong bài viết “Nguyễn Bạt Tụy, nhà dân ngữ học” trên báo Văn số 159, đó là: “những kệ và tủ kính đầy sách nghiên cứu, không còn để hở mảng tường nào. Một tủ ô to đựng các thẻ từ điển có nhiều tấm nhãn ghi ở đầu mỗi hàng ô: Điển tự Hán, Điển tự Nôm, Điển tiếng Dao, tập tiếng Dao theo gốc (gốc Hán, gốc Nho, gốc Nôm, gốc Ầu (chú thích: tiếng do ông Nguyễn Bạt Tụy đặt, do hai chữ Ấn – Tàu ghép lại), gốc Nê (chú thích: tiếng của ông Tụy, dùng trỏ chung: Indonésien, Mélanénisien, Polynésien). Gốc Thái, gốc Âu Mỹ, bộ tiếng Dao theo ý (tên giống, tên người, tên đất, chức tước, nghề nghiệp…)… Trên tủ ô ấy lại chồng hai tủ nữa với những nhãn đề: “lời ngạn Dao chợ, lời ngạn Dao – Mường, điển tiếng Dao – Mường, các điển tiếng Thái… Ông Tụy chỉ cho  khách về những thùng tài liệu, phim ảnh, băng thu thanh. Thùng nắp xanh để B.W films để chứa 15 ngàn phim đen trắng, đề C. films chứa 5 ngàn phim màu, những thùng nắp tím đề slide chứa 6 ngàn phim chiếu màu, những thùng nắp xanh lợt là ảnh màu và đen trắng, những thùng nắp màu cà phê sữa là những băng thu thanh các ngôn ngữ, các giọng nói, các điệu ca nhạc Kinh Thượng và các cuộc tế lễ. Chưa kế các cuốn sổ tay ghi chép với hơn 40 ngàn trang, “viết đến chết chưa hết”, chưa kể các sấp đối chiếu ngôn ngữ có 1.000 tiếng lấy trong 40 thứ ngữ.”. Tất cả tài liệu do Nguyễn Bạt Tụy thu thập trong bốn năm, gần cạn hết số tiền ông dành dụm trong bao nhiêu năm dạy học. Sau đó, ông chỉ ngồi trong phòng văn của mình và viết. Đây không chỉ là phòng văn, mà là một kho tư liệu quý hiếm. (trong bài viết gốc, chữ Dao được viết là Giao).

Một phòng văn không chắc tạo nên một nhà văn, nhưng một nhà văn có tài sẽ tạo nên câu chuyện thú vị về một phòng văn. Đó là không gian riêng tư của họ, nhưng có sức thu hút với chúng ta, những người thích đọc sách. Có ai từng có ý muốn lập một bộ ảnh, hay một tập tranh ký họa về không gian sáng tác, nơi hoài thai những tác phẩm được ưa thích của các nhà văn ở Việt Nam? Họ đã viết những tác phẩm, như “Vang bóng một thời”, “Chiếc lư đồng mắt cua” của Nguyễn Tuân, “Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam, “Những bước lang thang trên hè phố” của Bình Nguyên Lộc, vân vân trong khung cảnh thế nào?

Đó là việc đáng làm… trước khi quá muộn. Hoặc có khi đã muộn.

PHẠM CÔNG LUẬN

tiếng thời gian


o về phố cổ chiều phai tím
mưa bụi bùn thưa lấm tấm hoa
đôi dòng bướm lạ dường xa quá
bến gió vô tình lại thiết tha

hài son đánh thức kinh thành cũ
phiến đá rêu phong tích hoang trầm
cánh hoa rơi chạm hồn thu thảo
nghe một hoàng cung dậy thuở nào

ơi cô thiếu nữ còn rất trẻ
e ấp mộng vàng mơ quân vương
chiều tan xóm học nâng nhành phượng
giấu ở bình yên mối tình đầu

bao là năm tháng dần trôi mãi
lối cũ o về thôi mưa bay
tiết xuân tê tái màu kỷ niệm
tím cả triều đình đã ngủ say

o về phố cổ còn quên lại
chiếc nón đề thơ hôm tiễn đưa
kinh thành khép cửa sầu giăng kín
mà ngõ nội thành – một bóng chim.

Phạm Quang Trung

THƠ TRÂN SA

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là transa.png

CON NGƯỜI NƯỚC

Tôi là con người nước
Không thể đổi thay.
Vì Em mà tôi mặn-
Vì người mà tôi cay.
Con người nước
Cũng chỉ như bao người nước khác,
Đêm ơi.
Tôi khóc tôi cười tôi thương tôi nhớ.
Tôi lẻ loi như hành khất kia ngoài chợ.
Tôi đợi mỏi mòn như quán nhỏ về khuya.

NHỚ
Tôi nhớ, và mềm như giọt nước,
Mùa đông, tuyết trắng phủ ngoài sân.
Tôi nhớ cả muôn vàn kiếp trước,
Người ngàn kiếp trước – nhớ tôi không?

LẠC

Lạc vào vần điệu ca dao,
Lạc vào lại một thuở nào xa xưa,
Lạc vào mái ngói đình chùa,
Lạc vào lại những ngày chưa vào đời…
Lạc vào tháng của mưa rơi,
Lạc theo hồn phách ngậm ngùi mây bay…
Lạc trong thế kỷ tan bầy,
Kẻ đi người ở – đoạ đày – lang thang…

THA THỨ CHO TÔI

Tha thứ cho tôi- Con ốc trăng mượn hồn mà sống,
Để đêm ngày đắm đuối ở bờ hoang.
Tha thứ cho tôi- Trộm cắp bóng hình người lãng mạn,
Ấp ủ, săm soi trong giấc mộng sinh, tàn.

TRÂN SA

KHI NGƯỜI ĐẾN

Khi Người đến không mặt trời trên biển
Không bóng chiều ngã xuống cuối dòng sông
Không gì cả, chỉ nụ cười lặng lẽ
Và bàn tay cầm một đóa hoa hồng

Khi Người đến như một vầng trăng mọc
Những sao mai dần lặn tắt chân trời
Không gì cả, những lời ca lặng tiếng
Lời thầm thì không nghe được trên môi

Khi Người đến đi qua ngàn mây trắng
Cả hoàng hôn cũng im lặng cúi nhìn
Trong đôi mắt của một người đau yếu
Tôi cúi nhìn một mặt đất mông mênh

Khi Người đến không còn nghe chim hót
Không còn nghe lời than thở van cầu
Tôi chỉ nghe từ xa lời gió thổi
Qua những đỉnh trời suốt cả canh thâu

Khi Người đến tôi trở về im lặng
Tôi trở về chiêm ngưỡng vẻ uy linh
Không gì cả, không còn điều gì cả
Chỉ còn một lời vang vọng, Giáng Sinh.

Lữ Thành Kiến

Tình yêu của mẹ

(Thương tặng…)

          Lúc Kay còn nằm trong bụng mẹ, bác sĩ đã cho biết em mắc phải nhiều căn bệnh hiểm nghèo, cuộc sống em sẽ rất ngắn ngủi. Cát đau đớn tột cùng, nhưng vẫn quyết định giữ lại con.

          Việc Cát quyết định giữ lại con là mối bất hòa giữa vợ chồng cô. Anh có lý lẽ của anh. Cát có lý lẽ của Cát. Lý lẽ nào nghe ra cũng hợp lý.

          Anh:

          – Con ra đời mà phải chịu bệnh tật thì thật tội nghiệp thân nó. Mình thương con thì không nên để con phải khổ. Khổ cả thể xác lẫn tinh thần. Nó sẽ mặc cảm thân phận…

          Cát:

          – Điều đó chưa hẳn đúng với tất cả. Rất nhiều người khuyết tật về thể xác vẫn rất hạnh phúc. Chỉ có khuyết tật về tâm hồn mới đáng sợ. Em nghĩ, khi con đã tượng hình, nó có quyền bước vào cuộc đời. Ít nhất con sẽ được nhìn thấy cha mẹ, được ngắm bầu trời, được ngóng mưa trông nắng, được nếm giọt sữa mẹ, được khóc được cười… Em nghĩ, được làm người là một hạnh phúc.

          Những cuộc tranh luận cãi vả ngày càng nặng nề, ngày càng cay đắng. Và giọt đắng cuối cùng đã tràn chén đắng khi anh lắc đầu nhìn Cát:

          – Em cần phải biết người đời sẽ dị nghị như thế nào khi nhìn thấy con mình không trọn vẹn hình hài!

          Cát sửng sốt nhìn anh, nhìn thật lâu, rồi cũng lắc đầu. Cô nói chậm, giọng nghẹn ngào nhưng cương quyết:

          – Dị nghị ai? Con hay chúng ta? Đối với em, ai đó dị nghị là việc của họ, còn mình như thế nào mới là việc của mình. Thôi được. Em hiểu. Em không trách anh, và em tin con chúng ta cũng sẽ không trách anh. Tuy nhiên, nếu anh đã nói như vậy thì chúng ta nên chia tay nhau. Em và con sẽ không bao giờ- mãi mãi không bao giờ phiền lụy đến anh. Hãy xem chuỗi ngày chúng ta chung sống như một giấc mơ thoáng qua. Còn đứa con nầy là của em, chỉ của riêng em thôi.

           Chỉ một tháng vội vàng sắp xếp, Cát dời sang một tiểu bang xa, nơi có chị bạn thân thời trung học. Chị ấy là chủ một tiệm phở. Chị sẵn lòng chia sẻ với Cát chỗ ở, cho Cát công việc nhẹ trong tiệm. Không muốn lợi dụng lòng tốt của chị, chừng vài tuần sau, Cát tìm được chỗ ở khác.

          Vừa chào đời, Kay đã phải sống trong lồng kính, mang ống thở cùng nhiều dây nhợ quanh người. Gần bảy tuổi, Kay vẫn chưa biết nói. Nhưng em biết nhìn và biết cười. Ánh mắt và nụ cười của em thay cho lời nói. Em luôn giữ nụ cười và ánh mắt hiền hậu với những người quanh em. Đặc biệt nụ cười, ánh mắt em sáng bừng rạng rỡ niềm vui và âu yếm khi em có mẹ Cát bên cạnh.Gần bảy tuổi mà thân hình Kay như đứa trẻ chừng ba tuổi. Em vẫn chưa biết đi, vẫn phải ngồi trong xe đẩy với ống thở và nhiều dây nhợ quanh người, nhưng em biết vẽ. Em vẽ mẹ Cát. Em vẽ những cô đến chăm sóc em. Em vẽ con chó nhỏ quanh quẩn bên em, vẽ dáng cây bên ngoài khung cửa… Những bức tranh của em đơn sơ dễ thương với sắc màu tươi sáng.

           Kay đã phải trải qua nhiều cuộc phẩu thuật về tim, gan, thận… Em chịu đau đớn rất giỏi. Có vẻ như em sợ làm phiền người khác nên chỉ rên rỉ nhè nhẹ qua hơi thở. Kay càng ít khi khóc. Mà nếu khóc, em chỉ khóc thật nhỏ. Cát gọi con mình là Người Hùng của mẹ, là Anh Chàng Đáng Yêu của mẹ, là Tình Yêu của mẹ.

          Rồi một buổi sáng giữa tháng mười hai, trong lớp chăn nệm êm ái, Kay không thức dậy nữa. Em đã ngủ quên, mãi mãi.

          Chị bạn hiểu hoàn cảnh cô đơn và khó nghèo của Cát, liền nói chuyện với Ban chấp sự của nhà thờ. Ngay lập tức, một nhóm tín đồ và mục sư đến thăm viếng, yên ủi Cát. Rồi với sự đồng ý của Cát, nhà thờ đứng ra tổ chức tang lễ cho Kay.

          Tình Yêu của Cát đã ra đi. Bầu trời trên đầu Cát đã khép lại. Mặt đất dưới chân Cát đã sụp đổ. Bước chân cô chao đảo hụt hẫng. Trái tim cô tan vỡ. Tất cả đã tan vỡ. Chỉ còn lại nỗi cô đơn tuyệt vọng, nỗi đau đớn không cùng.

          Sau đám tang con, Cát gục ngã. Cô nằm bẹp dí trên giường. Im lặng. Bất động. Cô không buồn bật đèn khi đêm đến. Toàn thân cô như tê cứng. Cô không còn ý niệm về không gian, thời gian. Không hề hay biết ngày cứ đi và đêm cứ đến theo tuần hoàn vĩnh cửu. Cô nằm đó, mải mê nhìn bầu trời ảm đạm lạnh lẽo trắng xóa mênh mông tuyết qua khung kính cửa sổ. Mải mê nhìn theo những bông tuyết bay chấp chới, quay cuồng trong bầu trời xám xịt, hắt hiu. Mải mê tìm kiếm một vì sao xa nhấp nháy đâu đó trong mông lung đêm tối. Tất cả tất cả đều khơi dậy niềm thương nỗi nhớ Kay quặn thắt trái tim cô. Nước mắt cô dường đã cạn khô. Cô thấm thía đến tận cùng sự mong manh khổ đau của kiếp người.

***

          Tuần lễ cuối của tháng mười hai lạnh căm. Tuyết phủ trắng xóa những tòa nhà cao ngất đến các lối mòn ven dòng sông đã đóng băng. Tuyết phủ trắng xóa những tán cây cổ thụ khổng lồ đến từng nhánh cỏ ven bìa rừng…

          Cả thế giới đang háo hức vui mừng chào đón Giáng Sinh. Không khí mùa lễ hội tất bật, nhộn nhịp. Ánh đèn lung linh rực rỡ sắc màu khắp nơi.

          Chị bạn gọi điện thoại cho Cát, nhưng Cát đã tắt máy. Chị đến chỗ Cát ở, gõ cửa nhưng không hề có tiếng trả lời. Lo lắng, chị nhờ chủ nhà mở khóa dùm. Cát đang nằm im lìm trên giường. Xanh xao, yếu ớt, mỏi mệt, mắt nhìn xa vắng. Chị bạn đỡ Cát dậy, lấy khăn ấm lau mặt cho Cát, lấy dầu chà xát  thái dương, lòng bàn tay, bàn chân Cát. Ép Cát ăn được ít phở nóng. Chị thủ thỉ trò chuyện với Cát. Chị tin chắc trên thiên đường Kay cũng đang tíu tít cùng các bạn nhỏ chuẩn bị cho ngày vui lớn nầy.

          Đêm Giáng Sinh, chị bạn đưa Cát đến nhà thờ.

           Không khí bên trong nhà thờ ấm áp, thoang thoảng mùi thơm dễ chịu. Khung cảnh lộng lẫy với các sắc màu: đỏ, trắng và xanh lá cây. Tình yêu Thiên Chúa truyền hơi ấm qua những bàn tay siết chặt nhau, lan tỏa trên những nụ cười hân hoan chân tình, những khuôn mặt tươi vui, niềm nở ân cần, những ánh mắt chan chứa thương yêu. Tình yêu Thiên Chúa đầy ắp tuôn tràn trong những lời chúc nhau bình an, thịnh vượng, phước hạnh.

          Chị bạn và Cát đến ngồi trong góc ở dãy ghế trên cùng, bên cạnh cây thông lớn được trang trí đẹp tuyệt vời.

          Chương trình lễ bắt đầu với những bài thánh ca Giáng Sinh. Giai điệu êm ái mượt mà tha thiết hòa lẫn tươi vui rộn rã sôi động. “Đêm xuống êm đềm. Chuông thánh vang rền. Lướt lướt êm qua bao miền… Đêm Chúa ra đời…” We wish you a Merry Christmas. We wish you a Merry Christmas. We wish you a Merry Christmas. And a Happy New Year …”…. Cảm xúc rất lạ, trong veo, thiêng liêng đang chạm đến tận sâu thẳm trái tim Cát. Mắt cô cứ rưng rưng mà không hiểu duyên cớ.

          Kìa! Ban nhạc thiếu nhi đang bước ra sân khấu. Các thiên đồng được trang phục toàn màu trắng với những đôi cánh trắng. Tinh khôi, thanh khiết. Đám trẻ chộn rộn một chút rồi hàng trước hàng sau đâu vào đó. Bài Jingle Bells rộn rã ngân vang. Khuôn mặt bé thơ hồn nhiên, giọng bé thơ non nớt. Đáng yêu làm sao! Trong nỗi buồn thương thổn thức, Cát buột miệng thốt lên nho nhỏ: “Kay ơi, mẹ nhớ con quá!”

          Bỗng Cat nghe có tiếng trẻ con thì thầm bên tai cô: “Kay của mẹ đang ở bên cạnh mẹ nè. Chúa đang bồng ẵm con đây. Con cũng nhớ mẹ, yêu mẹ nhiều lắm lắm.”

          Cát thì thầm:

          “Ôi! Lạ lùng thay! Tạ ơn Chúa muôn vàn!”

           Bao ám ảnh bất hạnh, bao hoài nghi chợt tan biến. Nỗi thương nhớ quay quắt đau đớn đến đứt từng khúc ruột bỗng trở nên dịu dàng mềm mại. Cát cảm thấy nhẹ nhõm, thanh thản, tràn ngập niềm an ủi diệu kỳ.

          “ Kay ơi, mẹ cảm ơn con đã làm con của mẹ. Con đã chịu thương chịu khó đến với cuộc đời mẹ, để mẹ được nếm trải hương vị ngọt ngào của tình mẫu tử. Để mẹ được bồng bế con, được hôn con, được nhìn con cười con khóc, được chăm chút vỗ về, dỗ dành con… Con là Tình Yêu của mẹ. Mẹ sẽ không bao giờ, không bao giờ thôi thương nhớ con.  Con ơi, mẹ đang cảm nhận được tình yêu con đang sưởi ấm trái tim mẹ…”

           “ Nhưng, Kay à, nếu được quay lại từ đầu, mẹ vẫn muốn có con, vẫn hình hài đó, hình hài không hoàn hảo nhưng tình yêu con con đem đến cho mẹ thì hoàn hảo. Vẫn là con đó, ánh mắt nụ cười đó, vẻ nũng nịu trẻ thơ đó, để mẹ được yêu thương con, Tình Yêu của mẹ…”

TRƯƠNG THỊ KIM CHI

KHÚC VÔ MINH

Thắp Hồng

Thắp hồng lên sáng mùa xưa
Hỏi thăm hoa phượng vẫn chưa có chồng
Gió đưa áo trắng bềnh bồng
Tờ thư xanh rớt giữa dòng quạnh hiu

Thắp hồng soi mặt dấu yêu
Nghe văng vẳng xứ lời rêu vỗ về
Buồn lay tận phía bên kia
Buồn phai mất dấu chân quê lên thềm

Thắp hồng tìm kiếm thân quen
Bấy nhiêu kỷ niệm bỏ quên giữa đời
Hồng đi vàng tận chơi vơi
Sầu ai rụng mấy nụ thời gian xanh…

Mồ Côi

Mồ côi một giọt giữa đời
Còn đâu bóng mát để vòi vĩnh mơ
Cạn dòng sữa, héo câu thơ
Cha đi chắn sóng che mưa không về

Mồ côi rụng xuống bên lề
Nay con vững chãi dựa kề bão giông
Giấc mơ đổ bóng vào lòng
Sớm khuya ủ ấm quạt nồng mẹ cha

Mồ côi một hạt lệ sa
Hắt hiu chạm phía chiều tà mặn môi
Vàng hoa trải thảm lên trời
Một mai dẫn lối ru người về thương…

Khúc Hát Vô Minh

Trên dòng sông bơ phờ qua năm tháng
Những cánh bèo mang khát vọng lênh đênh
Những giọt nước giang hồ ra tận biển
Để trời xanh mây trắng ngẩn ngơ tìm

Trót khờ dại nghe lời buồn của núi
Thử treo mình trên lồng lộng hoang vu
Vi vu mãi như chưa hề tồn tại
Những vô minh ẩn dưới sương mù

Chào cuộc sống phập phồng vương vãi
Kẻ không đầu người không cuối liêu xiêu
Cứ tăng tốc không bao giờ dừng lại
Vội vã buôn vội vã bán giáo điều

Hình như có một nẻo đường hư ảo
Vẫn ngoằn ngoèo lượn giữa cõi vô tâm
Người tự nhấc mình đi trên độc đạo
Lúc khai minh khi khải thị tâm thần

Trót khờ dại nghe dòng xanh kể lể
Ngắn từ đâu dằng dặc mãi vì đâu
Lửa uốn éo quyến dụ người rực rỡ
Níu đam mê quên tự xóa nhu cầu

Không ít lần nâng đám đông lên mắt
Đã nhiều lần ném trả lại đám đông
Mớ hỏa mù từ sau chen ra trước
Vén lơ mơ ánh sáng dội vào lòng

Ta đợi người ở đầu bài kinh nguyện
Người đợi ta cuối phố vô tình
Vẫn tồn tại bao lần đi lượt đến
Sao lạc lòng nghe khúc hát vô minh?

Lưu Xông Pha

Cũng Đành Gió Lạc Mùi Hương


Bỗng thơm như có hương ngàn / bay qua nội cỏ tới làng xóm khuya…Có ai trong gió đi về / áo bay và tóc bay kìa, đêm trăng!
Chuyện này có tự muôn năm, đêm nay lại hiện và thầm thì thơ…Chuyện tình nào cũng rất xưa, rất sau mà chẳng ai ngờ mới tinh…
Trăng vàng thêm tỏ áo xanh!  Gió thơm hai vạt thình lình dễ thương!  Lại thêm hai má rất hường, hai môi rất ngọt một nguồn suối trong…
Người về lòng tưởng đêm không, đi êm đến nỗi trăng song song người…Còn ai trên ngựa cứ ngồi, nhánh cây che khuất mặt trời cũng duyên…
Chuyện rằng khởi tự một đêm viết câu tình nhớ trao em xa mờ…cũng vì duyên khởi mà chưa trầu cau nên nỗi đường tơ mịt mùng…
Nếu xưa mà chiến tranh đừng…đâu thơm rất lạ gió rừng hỡi em?  Nếu sau đừng nghĩ có Tiên…thì câu thơ chắc không phiền lụy đâu!
Tại em, ai biểu qua cầu. tại em áo đổi sang màu hoàng hôn…Em xa gió đã hoảng hồn bay tan hết khói, đạn còn mảnh tim!
Bài thơ này tạ tình em, cũng là ta tạ tình riêng của mình…Có ai khi đã hòa bình ngẩn ngơ đến nỗi nhớ hình như thương?
Cũng đành gió lạc mùi hương, hoa thơm lối cũ hồn dường trăng sao!


Trần Vấn Lệ