Tình Xuân


Lòng đã chạp, vàng hoa tôi vội nở
Mà mùa xuân còn ở cuối phương người
Lòng chưa tết mà đất trời ươm nỗi nhớ
Rượu lòng ai còn ủ mật phía đời vui

Chiều đã chạp, chiều xanh, chiều biếc ngọc
Con én tình rối rít gọi tình ơi
Ai gõ nhẹ vào đàn tôi suối nhạc
Rừng xôn xao gió hát gọi mây trời

Lòng đã chạp, lòng xanh tôi trổ lộc
Mà xuân em còn bến cũ neo thuyền
Tôi – sóng – vỗ vào bờ em thao thiết
Lòng xuân chưa ? Tình đã nở vô biên

Áo hoa nở hay lòng hoa nở tết
Vàng hoa tôi nhuộm thắm giấc mơ người
Xin về nở giữa lòng tôi tháng chạp
Tô lên chiều màu đỏ thắm son môi.

LÊ VĂN TRUNG

VIẾT ĐỂ CHỊU TỘI

Tôi được sinh ra ở Huế, lớn lên với Huế, nhưng khi trưởng thành, đã rời gia đình, bỏ thành phố và ra đi biền biệt.Hồi trước Tết Mậu thân, hôm 23 tháng chạp năm Mùi, đang cùng chồng con cúng ông táo, tôi bỗng nhận được điện tín từ Huế: về ngay, ba hấp hối.Với một gói hành lý vội vàng, đứa con hư hỏng của gia đình và thành phố là tôi, đã trở lại Huế để chịu tang người cha thân yêu. Và rồi như bao người khác, đã phải chịu luôn cái tang lớn cho cả thành phố, khi biến cố tết Mậu Thân bùng nổ. Sau cả tháng dài lăn lộn trong địa ngục Huế, khi sống sót trở về Sàigòn, tôi đã thao thức mãi về việc phải thắt một giải khăn sô cho Huế, phải viết một hồi ký về những ngày giờ hấp hối của Huế. Nhưng thời sự những ngày sau biến cố Tết Mậu Thân ồn ào quá, bên cạnh cơn khóc than vật vã của Huế, người ta còn bận bịu với việc khai thác những chi tiết ly kỳ của chiến cuộc, những thành tích chiến thắng trên tro tàn, thật chưa phải là lúc viết ra những xót xa, tủi nhục, tuy tầm thường nhất, nhưng cũng lại là sâu sắc nhất của một thành phố hấp hối.Chính vì vậy mà sau khi phác họa một vài nét đại cương trên nhật báo Sống hồi ấy, mặc dù được tòa soạn yêu cầu tiếp tục và sau đó được nhiều nhà xuất bản thúc dục, tôi cũng đã cố gắng ngưng lại. Phải ngưng lại, để nếu không nghiền ngẫm được kỹ hơn, thì ít ra cũng tách rời được khỏi những hậu ý xô bồ của thời cuộc, để chờ đợi một giây phút yên lặng hơn, trầm tĩnh hơn, khi viết về Huế. Cái thời gian chờ đợi ấy, đến nay, đã gần hai năm qua, Hai năm, hài cốt cả chục ngàn dân Huế bị tàn sát, vùi nông ở bờ bụi, vứt bỏ xuống đáy sông đáy suối, đã được thu nhặt dần. Những nấm mồ tập thể đã tạm thời xanh cỏ. Những nền nhà đổ nát đã tạm thời dựng lại. Cơn khóc than vật vã của Huế, những tiếng nói xô bồ về Huế, như vậy, cũng đã bớt ồn ào.Đây, chính là lúc chúng ta có thể cùng nhau chít lại giải khăn sô, đốt lại nén hương nhỏ trong đêm tối mênh mông của chiến tranh và tang tóc, để hồi tưởng về Huế.Có nhiều loạt súng đạn, nhiều loại tang tóc, đã nổ và đã tàn phá Huế. Công trình ấy không biết từ đâu, nhưng dù do đâu đi nữa, thì cái tội ác tàn phá một thành phố lịch sử là Huế, chính thế hệ chúng ta, thời đại chúng ta, phải chịu trách nhiệm.Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đoan, một cô bạn học cùng lớp với tôi ngày nào, đang ngồi trên ghế đại học ở Sàigòn, bỗng về Huế, đeo băng đỏ nơi tay, dắt súng lục bên hông, hăng hái đi lùng người này, bắt người khác, để trở thành một nữ hung thần trên cơn hấp hối của Huế. Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đắc, một sinh viên trẻ trung, hăng hái. Thời trước Đắc làm thơ, Đắc tranh đấu, rồi bỏ ra khu. Để rồi trở lại Huế lập những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loạt người, rồi đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố, để xử tử. Cậu bạn của Đắc, tên Mậu Tý, giơ cái băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Đắc :”- Em lạy anh. Bây giờ em theo các anh rồi mà. Em có mang băng đỏ rồi mà. Cách mạng muôn năm… Hồ chủ tịch muôn năm” .Nhưng mặc Mậu Tý năn nỉ, hoan hô, Đắc vẫn nhất định nổ súng vào người bạn nhỏ. Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có từng đoàn người, hàng trăm người, cha có, sư có, già có, con trẻ có, mỗi người cầm một lá cờ trắng để ra dấu đầu hàng bất cứ phe nào, đi thất thểu trong một thành phố đầy lửa cháy. Cứ như thế chạy ngược chạy xuôi, cho đến khi gục ngã gần hết. Cũng chính trong thời đại chúng ta, ngày thứ hai mươi mấy trong cơn hấp hối của Huế, đã có một con chó nhỏ kẹt giữa hai lằn đạn, chạy ra sủa bâng quơ ở bên bờ sông Bến Ngự. Con chó thành mục tiêu đùa rỡn cho những mũi súng hờm sẵn từ bên kia sông. Họ bắn cho con vật khốn khổ sợ hãi rơi xuống sông. Rồi lại bắn vào những bờ sông mà con chó nhỏ đang lóp ngóp bơi vào. Những phát súng đùa cợt không có tình bắn chết con chó nhỏ, mà chỉ có trêu chọc cho con chó chới với giữa giòng nước, để có chuyện đùa chơi với máu lửa. Thành phố Huế, và có lẽ cả quê hương khốn khổ của chúng ta nữa, có khác gì thân phận của con chó nhỏ đã chới với giữa giồng nước ấy. Thế hệ chúng ta, cái thế hệ ưa dùng những danh từ đẹp đẽ phô trương nhất, không những chúng ta phải thắt một giải khăn sô cho Huế, cho quê hương bị tàn phá, mà còn phải chịu tội với Huế, với quê hương nữa.Gần hai năm đã qua, hôm nay, nhân ngày giỗ thứ hai của biến cố tàn phá Huế sắp trở lại, tôi xin viết và xin gửi tới người đọc tập giải khăn sô cho Huế này như một bó nhang đèn góp giỗ.Xin mời bạn, chúng ta cùng thấp đèn, châm nhang, chịu tội với quê hương, với Huế.”

NHÃ CA

CHIỀU 30 TẾT

Chiều 30 tết buồn ghê gớm
Mình ra trước cửa tiễn mình về
Tết nhất cũng phải về chứ nhỉ
Lưu lạc Sài Gòn, lạc mất quê!

Chiều 30 tết buồn ghê gớm
Tự bắt tay mình, tiễn mình đi
Quê nhà đã bỏ, xa biền biệt
Mấy mươi năm,
hồi hương
mấy khi…

Chiều 30 tết buồn ghê gớm
Còn sót mình ta giữa Sài Gòn
Bụi đơ8ì cũng học đòi thương nhớ
Bụi đời cũng đặt bày héo hon…

TRUNG DŨNG

MÙA XUÂN TRONG TUỔI THƠ TÔI


Một người bạn gái thiếu thời vừa mới qua Mỹ, cô đọc cuốn sách “Tuổi thơ” tôi viết và bảo: “Tao thất vọng quá, trong cuốn sách này mày không viết gì về Nha Trang cả!”.

Ðúng vậy, tôi không viết về Nha Trang vì Nha Trang cưu mang quá nhiều kỷ niệm. Làm sao tôi có thể đem 15 năm sống và lớn lên tại Nha Trang vào một vài trang giấy.  Nha Trang là thời hoa mộng, là áo lụa Hà Ðông, là thơ tình TTKH, là niềm đau, là những đóm lửa tình yêu lóe lên rồi vội tắt, Nha Trang là những ngày thơ tuyệt diệu đầy nắng vàng, trời xanh, mây trắng, là tình đầu, tình cuối, là giông bão, đạn bom…và nhiều hơn thế nữa cho nên tôi không đủ lời, đủ chữ để níu lại Nha Trang!

Tuy nhiên, hôm nay tôi bỗng nhớ, như những đốm tro tàn lóe lên lần cuối, vài kỷ niệm nho nhỏ của ngày xưa.

Căn nhà của chúng tôi nằm trong khu “Xóm Mới”. Xóm Mới chỉ mới được xây dựng trong cuối thập niên 1950. Nhà tôi xa biển chừng một cây số nhưng lúc tôi còn bé, đó là một khoảng đường xa diệu vợi. Sau nhiều lần đi tắm biển, ngang qua những căn biệt thự của người Pháp, tôi thường ước ao được ở trong những căn nhà xinh xắn đó. Tôi nhớ căn nhà tôi thích nhất tên là Villa Colette. Nhà mà cũng có tên như người, sang trọng không kể xiết!

Căn nhà của chúng tôi cũng có tên, nhưng là tên của hai vợ chồng ông thầu khoán, người xây và làm chủ căn nhà trước khi bán lại cho ba tôi. Ông chủ cũ tên tắt là PK và vợ là TX. Họ khắc tên mình hai bên cửa. Ba tôi không thích hai dấu hiêu này nhưng ông không sửa đổi được vì sợ tốn kém. Ông bèn dạy cho chúng tôi rằng: PK có nghĩa là “Phong Kiều” và TX có nghĩa là Trường Xuân. Ông vốn là một thi sĩ nên ông nghĩ ra các từ ngữ ấy, cố tạo dựng một gia sản mới và hy vọng cho gia đình có một đời sống mới vui tươi và nhàn hạ…tại miền cát trắng Nha Trang. 

Đối với người cư ngụ những vùng khác thì họ cho rằng Nha Trang là một thiên đường hạ giới. Nhưng với riêng tôi, Nha Trang là nơi mình định cư; phải chịu đựng thời tiết, phải đi học (chán chết), nhất là phải lội nước lụt đi học khi trời mưa. Nha Trang cho tôi nhiều đêm thiếp đi trong tiếng mưa rạt rào, hạt mưa rơi đồm độp liên miên trên mái tôn, rồi thức dậy buổi sáng nhìn khu vườn hoang tàn: Cây đu đủ trốc gốc nằm dài trong vườn, trái còn xanh, lăn long lóc xuống rảnh nước, tổ chim trên cây khế cũng bay vèo nằm vướng mắc trên cành cây sa bô chê, cây ổi xá lị cũng gảy mất mấy cành và lá chuối bị gió xé ra như răng lược.

Tôi cũng nhớ nhiều buổi trưa nằm dã dượi trên giường, cố nhắm mắt, nhưng không thể nào ngủ vì nhiệt độ nóng kinh hoàng! Gió biển dường như không thổi đến nơi tôi ngủ vì những bức tường, những căn nhà đã mọc lên san sát trên mảnh đất trống bên láng giềng. Mảnh đất một thời được trồng khoai mì và cũng vì tò mò, tôi đã chui qua hàng rào, kéo cây lên để xem củ mì và bị đòn một trận vì hàng xóm qua mắng vốn.

Ngày hôm qua, trong bữa giổ ba tôi tại Cali. Trong lúc tôi ngồi chơi đàn trong góc phòng thì nghe con em kể tội trong bếp. Con nhỏ ni có cái miệng ghê gớm lắm, nó cố tình kể tội tôi nên dù không muốn nghe mà tiếng nói của nó cũng bị lọt vào tai. Nó kể cho mấy đứa em dâu và cháu chắc về con chị của nó (là Tui đây):” bà nớ thuở nhỏ ghê gớm lắm. Bả bị mạ cho ăn đòn nên giận mạ đi trốn tuốt. Bả ngồi trên cây chùm ruột không vào nhà ăn tối. Mạ cho mấy đứa nhỏ đi tìm, tụi nó về báo cáo là chỉ trốn trên cây chùm ruột, vậy là bả trèo xuống, tát mỗi đứa một cái làm cả bầy lăn ra tru tréo khóc lóc vang rân… Nhưng có một lần được ba mạ đem đi Saigon chơi bằng xe lửa. Xe chạy rồi mà chị cứ đứng nhìn ra cửa mà khóc, mạ hỏi tại sao thì chị nói là nhớ mấy em quá nên không muốn đi nữa…

Năm ấy tôi mới 7 tuổi, có thêm ba đứa em và ba mạ tôi mới dọn về miền duyên hải được một năm. Đó là lần đầu tiên mạ tôi được đi Sai Gòn chơi và cũng là lần đầu tôi được du lịch bằng xe lửa. Bây giờ mỗi buổi sáng sớm nằm mơ màng, tôi nghe tiếng còi tàu xe lửa vọng về từ xa, hồn tôi cứ man mát buồn, nhớ một thời bé thơ êm đềm trôi qua như mơ.

Khi tôi lớn hơn một chút nữa, khoảng 12 tuổi thì mạ tôi từ từ giao cho và trọng trách nữa như tập nấu ăn, làm bánh, tập đạp máy may và theo mạ đi chợ để học cách mua bán và nhất là để ăn hàng… (không biết con nhỏ em kế tôi có ganh không nhưng tôi chưa bao giờ nghe nó khai ra điều đó cả; nó chỉ giận là bà vú thuở nhỏ ẳm tôi nhiều hơn nó!)

Trọng trách mà tôi thích nhất và tự nghĩ rằng mình là nhân vật quan trọng nhất là: giúp ba sửa soạn cúng ông bà vào đêm giao thừa. Chiều 30 tết, sau khi mạ và các cô người làm nấu các thức ăn để cúng xong, mạ cho các cô nghỉ ngơi hoặc đi chơi với nhau. Mạ và các bà cô tụ họp chuyện trò rồi đi ngủ sớm. Trong nhà chỉ còn mấy cha con tôi hăng hái xun xoe dọn cỗ bàn. Ba tôi loay hoay với mấy chậu cúc, cành mai, nhánh đào chớm nở, trong mấy chậu sành hoặc trong các bình sứ cổ; ba sửa soạn lư hương, hai chân đèn con hạc sáng loáng bằng đồng, đội hai cây nến mới. Ba phủi bụi các tấm ảnh của ông bà nội, ông bà cố, và nhiều anh chị em quá vãng trên bàn thờ. Ông xoay qua xoay lại, hết vật này đến vật kia, nét mặt ông nghiêm nghị, trầm ngâm. Tôi chắc rằng lúc ấy ông cũng đang hồi tưởng một thời quá khứ của riêng mình.

Các chị em tôi đứa lau chén, so đũa; đứa múc chè, đơm xôi … đứa nào cũng làm việc trong sự hòa bình trật tự, không la hét cãi nhau như bình thường nữa vì… đứa nào cũng muốn chứng tỏ là mình ngoan ngoãn để ngày mồng một được tiền lì xì. Như lũ trẻ con Mỹ bây giờ hy vọng ông già Noel tụt xuống ống khói đêm Giáng Sinh để mang quà cho chúng.

Khi tiếng pháo đầu tiên vang lên là lúc ba tôi sẵn sàng khăn áo, đứng trên chiếc chiếu mới trước bàn thờ với một nắm hương nghi ngút khói. Ông vái lạy Phật, Thánh, ông bà tổ tiên xong thì cắm bó hương vào cái lư đồng bóng ngời chễm chệ giữa bàn thờ. Chúng tôi cũng lần lượt vái lạy, lớn trước, nhỏ sau như các con người máy được vặn dây thiều. Tôi nhớ mãi hình ảnh của Hoành, con trai đích tôn, hắn nhỏ hơn tôi bốn tuổi. Hắn bệ vệ nghiêm trang như ông cụ non, mặc áo dài the đen và đội khăn đóng giống như y hệt như ba. Hắn trắng trẻo đẹp trai và tánh tình nghiêm nghị nên ba cưnghắn lắm. Tuy nhiên hắn cũng là một nguồn ganh tỵ lớn của tôi vì tôi cứ nghĩ là hắn tướt đoạt mất một phần quyền lực của tôi là con chim đầu đàn chỉ vì tôi là con gái. Tôi không mấy quan tâm khi lũ em tôi trách tôi hung dữ … Con chim đầu đàn mà, lâu lâu phải ra oai một chút.

Sau khi ba cúng giao thừa xong, lũ em tôi theo ba đốt pháo đì đẹt ngoài sân thì tôi đem con gà luộc xuống bếp. Tôi xé con gà ra, bóp với tiêu muối và rau răm xắt nhỏ. Bỏ bộ xương và ít thịt vào nấu thêm nồi cháo. Vài phút sau, tôi múc ra một tô nóng hổi, rắc chút tiêu; dĩa thịt gà cũng dọn trên tấm phản gổ. Mấy cha con bắt đầu ngồi nhậu nhẹt với nhau trong đêm trừ tịch, khi tiếng pháo nổ giòn dã trong sân nhà hàng xóm. Ngoài đường vắng vẻ không một bóng người, lũ chó sợ pháo, trốn dưới gậm giường thò mũi ra và thè lưỡi liếm mấy hạt cháo hoặc miếng xương rơi rớt. Đôi mắt ba xa xôi, giọng ba trầm trầm kể chuyện xưa cho các con nghe. Những thằng bé con no bụng, buồn ngủ nằm lăn quay bên cạnh ba. Ông lẳng lặng ẳm từng đứa vào giường…

Đầu mùa xuân Nha Trang trời thường âm u ảm đạm. Đôi khi buổi trưa nắng nhẹ mới về nhàn nhạt trên thành phố. Các cô gái trẻ cùng nhau xuất hiện nhởn nhơ dạo chơi trên đường, đến nhà thăm nhau hoặc khoe những tà áo lụa mới. Người lớn cũng bắt đầu đi chúc tết nhau, không ai muốn đi đạp đất nhà người khác, chỉ có các cụ già đạo mạo, có tài lộc mới đi chúc tết sớm để mang lại may mắn cho gia chủ. Lũ trẻ chúng tôi thường quanh quẩn trong nhà, nấp sau bếp, lắng nghe tiếng chó sủa, báo có khách thì đi pha trà cho ba đãi khách, dọn khay mứt và hạt dưa… thập thò chờ khách hoặc ba gọi ra chúc tết và nhận tiền lì xì…

Những ngày tết khi sống ở Nha Trang là những kỹ niệm rất vui trong thời thơ ấu của tôi.

Trong những năm trung học, tôi nhớ nhiều những buổi chiều cùng các bạn rủ nhau ra biển sau giờ tan học. Ngày cuối tuần chúng tôi cùng nhau đi picnic ở Hòn Chồng và bãi Dương. Hình ảnh các cô gái trẻ trong chiếc áo dài trắng bay theo gió là những hình ảnh tuyệt vời không bao giờ quên được. Tôi nhớ mãi những ngày đi học nhạc tại Thánh Tâm, cây đàn guitar gác trên tay lái xe đạp, đạp hết đường Nguyễn Hoàng ra Lê Thánh Tôn để đến trường, và những buổi tập đàn với ban nhạc của trường bán công Lê Quý Đôn là những ngày thần tiên trong tuổi trẻ của mình.

Đêm văn nghệ mừng xuân sao sáng đầy trời, sân trường tối đen, trên sân khấu ánh đèn sáng soi người ca sĩ  tên Phượng, chị đơn ca bài “dấu chân địa đàng”. Tiếng ca vang vọng nghìn trùng trong trí, trong tim tôi…” Ngựa buông vó, người đi chùng chân đã bao lần, một đời bỏ ngõ đêm hồng, ngoài trời còn dâng nước lên …mắt em”.

Vâng, nước đã dâng lên trong mắt tôi, tim tôi khi nhớ lại những hoài niệm về mùa xuân trong tuổi thơ của mình.

San Dimas – California cuối năm 2021

Tôn Nữ Thu Nga

Về đi em!

Về đi em! Về đi thôi!
Nhìn mây thiên cổ cuối trời còn bay
Rồi khi tàn cuộc chơi này
Chỉ là hạt bụi tan ngoài vô biên
Về đi thôi! Về nghe em!
Bỏ trần gian lại dặm nghìn phù vân
Bỏ tình bỏ bạn tri âm
Bỏ tôi ngồi giữa trăm năm cõi người
Về đi em mà lắng nghe
Tận trong tịch lặng bài thơ cuối cùng
Về đi em dù một lần
Là thiên thu gửi trong phần mộ tôi
Mai kia góc biển chân trời
Câu kinh tiếng mõ thay lời tiễn đưa

Lê Văn Trung

CON TRAI BÁC THỢ MỘC

Khi chết tôi sẽ lên thiên đàng. Tôi tin chắc như thế. Bởi đã từ lâu, tôi không còn phạm tội. Lương tâm tôi yên ổn. Linh hồn tôi đã được tẩy rửa từ hôm ấy.
Vậy mà hôm nay cô ấy lại tìm đến tôi!
Tôi bảo cô ấy ngồi xuống bên gốc cây bạch dương trước nhà. Cô ấy thắc mắc sao không vào trong nhà. Trong nhà có còn ai nữa đâu mà sợ. Cô ấy thì thào. Cái giọng tẩm mật ong rót vào tai tôi, vị ngọt của chất giọng ấy đổ đầy lồng ngực tôi cái rạo rực ong óng. Tôi đặt đầu lưỡi giữa hai hàm răng. Chỉ cần cắn mạnh xuống, mọi chước cám dỗ sẽ tan đi, nhưng tôi chần chừ. Thôi thì cứ hãy ngồi ngoài này mà trò chuyện. Và tôi kể lại cho cô ấy câu chuyện ngày hôm ấy.
Hôm ấy.
Tôi phải nhanh chân nếu không sẽ không kịp. Phiên xử sẽ tiến hành khi mặt trời đứng bóng. Khi bóng cây trắc bá gom lại thành một vòng tròn là lúc người ta bắt đầu phiên xử, và nhanh chóng tiến hành cuộc hành hình. Tôi vội vã sửa soạn. Tôi chạy ra bờ con rạch sau nhà, tìm hòn đá. Cầm chắc hòn đá trong tay, tôi chạy vào nhà, đến bên chiếc giường làm bằng những thanh gỗ vênh vẹo kê trên những phiến đá gồ ghề to nhỏ không đều. Tôi đưa hòn đá cho vợ xem. Vợ vội lau nước mắt, nhướng mắt lên nhìn, rồi bảo Nhỏ quá, nhưng chắc cũng được. Tôi quay đầu bước đi, vợ gọi níu lại. Tiếng gọi của vợ chìm vào tiếng ọ oẹ của hài nhi. Con thứ nhì và duy nhất của vợ chồng tôi. Nó nằm trong cái rổ cói đặt trên giuờng, sát vách tường đất. Vợ sụt sùi bảo ghé sát đây tôi dặn câu này. Tôi ghé sát bên vợ. Mùi tóc ngai ngái thoang thoảng trong không gian. Vợ nhìn quanh như sợ ai trông thấy dù đang nằm trên chiếc giường gỗ cũ, trong căn phòng vắng vẻ. Rồi vợ thì thào. Nhớ ném ra ngoài nhé. Khổ thân nó. Đầu tôi lắc lư trên chiếc cổ khẳng khiu. Nhưng tôi hiểu. Mỗi lần có chuyện như thế, và vì ốm đau không tham dự được, lần nào vợ cũng nhìn quanh quất trước khi thì thầm câu dặn dò Nhớ ném ra ngoài nhé. Tôi quay lưng dợm bước, vợ lại gọi giật lại, “Có một thôi à?”
Tôi trả lời, không quay mặt lại, “Hai chứ.”
“Hòn kia đâu?”
“Ngoài sân,” tôi sẳng giọng. “Nói hoài mỗi câu ấy.”
“Không nhắc lỡ quên thì ai đeo gông thế cho ông?”
Nói xong vợ òa khóc. Trong cái âm thanh tức tưởi ấy, tôi nghe ra câu thở than đắng giọng, “Khổ thân nó!”
Tôi lê những bước nặng nề ra sân. Trời ong ong nắng. Tôi nhìn khoảng sân hẹp. Bóng cây bạch dương còn lệch khá nhiều về một bên. Như vậy là còn sớm. Khi bóng cây bạch dương trong sân nhà tụ lại thật tròn quanh gốc cây thì ở pháp đình bóng cây trắc bá cũng gom lại thật gọn trong sân pháp đình.
Và ấy là giờ hành quyết.
Tôi bước xuống sân, chiếc túi vải đeo trên vai. Hai hòn đá trong túi chạm nhau lạch cạch.
Bọn quan chức, lũ lâu la và đám thu thuế lao xao trò chuyện. Chúng gật gù, bá vai nhau và cười rộ lên từng chặp. Tôi chen chúc cùng đám đông đến trước chiếc bàn đá nơi những nhân viên kiểm tra số người tham dự ngồi với cuộn giấy da dê li ti những chữ. Tôi đưa tay đuổi ruồi, kiên nhẫn chờ đến phiên mình. Hàng người nhích đi từng chút một. Thoáng gió thoang thoảng quyện lên từ bờ hồ đem theo cái thoáng mát dịu dàng, mơn trớn. Tôi nhìn về phía ấy. Mặt hồ Galilee vạch một đường ngang xanh thẫm, lấp lánh ẩn hiện sau những nếp nhà nhấp nhô, cao thấp không đều.
Một đống những cuộn da dê vàng úa chồng lên nhau. Đám quan chức loay hoay bới, tìm. Mỗi khu xóm có một cuộn riêng ghi danh sách từng nhà, và số người trong nhà. Nhà tôi ngoài hai vợ chồng còn có đứa con vừa chưa đầy tháng.
“Vợ anh đâu?” Đến lượt tôi, viên quan hỏi.
Tôi nhanh nhảu, “Vợ tôi mới sinh con, không đi được.”
Gã thư lại quan quyền nhìn chăm chú những con chữ ngoằn ngoèo trên tấm da dê trải rộng trên mặt bàn đá.
“Sao lần nào cũng không đi được vậy?”
“Cô ấy ốm đau luôn.”
Tôi nói ra cái điều ám ảnh. Vợ tôi đau ốm thường xuyên. Bệnh tật gì mà cứ như ma ám. Có lần tôi định rước nhà Tiên Tri vẫn thường giảng trên bờ hồ ngoài kia nhờ ông chữa cho khỏi hẳn cái chứng hoại huyết độc địa ấy. Ông ấy đã từng làm cho kẻ mù sáng mắt. Và ông ấy cũng đã từng chữa cách gì đó cho em trai cái cô ở tận xóm trên sống lại. Nhưng tôi ngại, cái nhà ông Tiên Tri ấy luôn nói ra những điều ngược ngạo, dù đúng với tim đen lũ người chúng tôi, nhưng đã chói tai thì ai mà chịu được. Vì vậy mà tôi chần chừ, vì vậy mà tôi để vợ tôi ốm đau oặt oẹo mãi.
“Không đi được thì anh phải làm thay cho cô ấy.”
“Vâng, tôi sẽ làm thay cho cô ấy.”
“Hòn đá của cô ấy đâu?”
Tôi luồn tay vào bọc lấy ra hai cục đá xanh xám hầm hập nóng ra, đặt lên bàn. Tôi cố đặt nhẹ nhưng viên đá cũng gõ lên mặt đá một tiếng cạch thật to khiến tay thư lại trợn mắt nhìn tôi. Tôi cuống cuồng, “Thưa, hòn đá nặng quá, tôi lỡ tay.”
Gã cầm hòn đá của vợ tôi lên, nhìn chăm chú cái màu xám xanh như nhìn con vật lạ, rồi gã ngước nhìn tôi, “Đá nhỏ thế này không hợp lệ.”
“Vợ tôi mới sinh,” tôi lắp bắp, “Chân tay còn yếu ớt, không ném được hòn đá to.”
“Lại gian xảo rồi!”
“Không, tôi nói thật.”
Chuyện này tôi không giấu diếm chút nào. Vợ tôi mới sinh. Đứa con trai còn đỏ hỏn. Dạo này trẻ sơ sinh rủ nhau sài đẹn, và theo nhau chết. Con đầu lòng của chúng tôi cũng cùng số phận ấy hai năm trước. Nhà chỉ có hai vợ chồng, những ngày vợ ở cữ, cô em vợ tôi – dù đã có gia đình riêng – vẫn phải chạy đi chạy lại đỡ đần bà chị. Tôi, đàn ông biết xoay sở thế nào.
“Hòn đá nhỏ như đồ chơi trẻ con thế này,” gã nói. Hòn đá chuyển động nhịp nhàng trong lòng bàn tay gã.
“Nhỏ cô ấy mới ném được. To quá, ném không tới thì cũng vậy thôi.”
Tôi lý sự với gã. Từ trước đến giờ tôi chẳng lý sự với ai, nhất là với đám quan quyền và lính La Mã, nhưng lần này có kẻ nào đó trong sâu thẳm lòng tôi thúc dục tôi cãi lý.
Vậy mà gã cho qua.
“Được rồi, nhớ ném cho mạnh thay cho vợ anh.”
Dĩ nhiên tôi sẽ mạnh tay ném. Chuyện ném này tôi cũng đau, cái đau của gã đàn ông bị phản bội. Nhưng việc cần làm thì vẫn phải làm.
Bỏ hai hòn đá vào túi vải, đeo lên vai, tôi lủi thủi luồn lách ra phía sau chiếc bàn kiểm tra, vào sân pháp đình. Nắng vỡ trên đầu, tuôn chảy xuống vai, hừng hực.
Quanh tôi, thiên hạ chen lấn nhau, chuyện trò lao xao. Những hòn đá trong những cái rổ sâu lòng buộc bằng dây luộc đeo lủng lẳng trước bụng, sau lưng vài người. Bọn phi nhân tính. Mỗi người một hòn đá cũng đủ để biến phạm nhân thành một đống thịt bầy nhầy, lấy nhiều đá thế làm gì không biết.
Từ ngày có pháp lệnh của quan Tổng Trấn, đá ở bờ sông, đá ở ven hồ ngày càng khan hiếm. Đó là dấu hiệu không tốt. Đá bờ sông, bờ hồ khan hiếm có nghĩa là số phạm nhân ngày càng tăng vọt. Sau những buổi hành hình, người ta đổ dồn vào đống đá, xô đẩy bọn lính La Mã, nhặt nhạnh những hòn đá đem về. Chẳng để làm gì cả, chỉ để đó, chờ đến dịp hành hình kế tiếp.
Đám đông ồn ào cười nói trong sân pháp đình. Tôi nhìn gốc cây trắc bá giữa sân. Các phán quan lao xao trên bệ đá. Những cái lọng ngả nghiêng phủ bóng mát lên đầu đám quan lại. Những khuôn mặt căng tròn, những cái trán trơn bóng nhập nhòe, những mũi giáo, những thanh gươm loang loang trong nắng.
Cây trắc bá giữa sân pháp đình là nơi hành hình phạm nhân. Hôm nay sẽ là phiên xử người đàn bà ngoại tình. Người ta sẽ trói kẻ dâm phụ ấy dưới gốc cây. Một vòng tròn vây quanh gốc cây. Dân chúng sẽ bao quanh gốc cây ấy. Mỗi người sẽ ném hòn đá của mình vào phạm nhân rồi bước lui nhường chỗ cho người khác.
Hôm nay sẽ là phiên xử người đàn bà gian dối, người đàn bà ngoại tình. Người đàn bà ấy chẳng xa lạ gì với tôi, người đàn bà ấy cũng chẳng xa lạ gì với vợ tôi, vì vậy vợ tôi dặn tôi ném đá trật ra ngoài. Người đàn bà ấy đáng tội chết. Tôi xốc cái túi vải trên vai. Hai hòn đá chạm vào nhau lách cách. Tôi sẽ ném hòn đá nhỏ của vợ tôi vào đầu con đàn bà ấy để xóa đi hết những tình cảm lạc đường. Hòn đá to để dành cho hàm răng trắng muốt, vẫn nở ra những khóe cười đằm thắm, hòn đá ấy sẽ làm tóe máu đôi môi vẫn rải lên tôi những ẩm ướt, mượt mà suốt những buổi chiều dấm dúi bên nhau sau khoảnh vườn rậm lá, những ngày vợ tôi ốm đau, nằm mê mệt trên chiếc giường gỗ cũ.
Tiếng lao xao của đám đông kéo tôi về khoảng sân rực nắng của pháp đình.
Tôi ngước nhìn cây trắc bá trơ trọi giữa khoảng sân loang nắng. Người đàn bà ấy đâu sao chưa đem ra, sao chưa buộc chị ta vào cái thân cây lực lưỡng mấy vòng ôm. Bóng râm đã cuộn tròn quanh gốc cây. Mọi người nhốn nháo hỏi nhau rồi nghểnh cổ nhìn về phía ngôi pháp đình bề thế choán hẳn một khoảng trời biếc xanh.
Có tiếng lao xao ở một góc sân. Tôi nghểnh cổ nhìn về phía ấy. Ba người lính đang kéo lê một người đàn bà trên nền đất. Tim tôi thắt lại trong lồng ngực. Phạm nhân đây rồi. Từ khoảng cách khá xa tôi vẫn nhìn ra đôi con mắt xớn xác của người đàn bà. Đôi con mắt đen nhánh quen quá là quen. Đôi con mắt đã nhìn tôi đăm đắm những buổi chiều nắng nghiêng khóm cây vả sau vườn, khi vợ tôi nằm bệnh trên chiếc giường gỗ cũ, và làng mạc vắng hoe vì thiên hạ túa ra bờ hồ nghe người con trai bác thợ mộc, vị tiên tri trẻ tuổi rao giảng những điều chói tai, ngược ngạo. Tôi chưa ngồi với đám đông để nghe con trai bác thợ mộc rao giảng lần nào, nhưng nghe nói ông ta hay thẳng thắn chỉ trích những hành vi sai trái của quan lại, những cách hành xử hôn ám nhưng đã quen thuộc của con người, tôi cũng muốn ra bờ hồ ngồi nghe một lần cho biết.
Nhưng rồi vợ tôi ốm đau, rồi vợ tôi có thai, rồi vợ tôi sinh cháu nhỏ. Em gái của vợ tôi phải sang giúp. Những buổi chiều tôi nói dối vợ rằng tôi ra bờ hồ nghe vị tiên tri ấy nói những câu chuyện lạ lùng là lúc tôi quấn quýt bên người đàn bà ấy; cái người lúc này đang bị hai người lính xốc nách lôi đi.
Tôi lại xốc cái túi vải lên vai. Hai hòn đá chạm nhau lách cách. Hòn đá to là của tôi. Tôi sẽ ném thẳng tay bởi người đàn bà kia đã phản bội tôi. Hai hòn đá gõ vào lưng nhắc tôi nhớ lời vợ dặn. Nhớ ném ra ngoài nhé. Cô ấy dặn thế bởi cô ấy thương người đàn bà kia. Bởi người đàn bà kia là em gái cô ấy. Thương cho mấy cũng chẳng làm gì được. Luật lệ đã quy định rồi.
Lúc trước khi xử phạt tội nhân, những ai ghét điều xấu xa, tội lỗi thì ra sân pháp đình mà ném đá, nhưng tội nhân càng lúc càng nhiều, và số người tham dự ngày càng ít đi, những cuộc hành hình nhạt dần cái hào hứng, sôi nổi, quan Tổng Trấn ra lệnh bắt buộc mọi nhà phải tham gia và mỗi người lớn phải ném vào phạm nhân ít nhất là một hòn đá để chứng tỏ mình là người chính trực. Đám quan lại vẽ thêm ra những quy định về kích thước hòn đá. Hình phạt ấy khiến đá trở thành khan hiếm. Đám con buôn bắt đầu hùa nhau mở cửa tiệm bán đá cho những buổi hành hình.
Bọn lính mạnh tay đẩy người đàn bà ngã giúi giữa sân nắng. Phía trước chiếc bàn có lọng che của pháp quan.
Lại những tiếng lao xao, và ở góc sân, một người đàn ông râu tóc rậm rạp đi giữa hai người lính, tiến về phía chiếc bàn của pháp quan.
Tiếng thì thào dấy lên trong đám đông. Đấng Tiên Tri, Vị Thầy khả kính, Con Trai Bác Thợ Mộc đã đến. Tôi nhướng mắt nhìn. Đúng là con trai bác thợ mộc.
Hai người lính đẩy Con Trai Bác Thợ Mộc đến sát bên người đàn bà đang ngồi co ro dưới nắng, rồi lui ra phía sau những chiếc lọng rua vàng.
Người phán quan dõng dạc đọc cáo trạng. Cái giọng oang oang tan loãng vào không gian. Bản cáo trạng tuôn chảy từ miệng ông ta như nước suối ào ào tuôn ra từ vách đá.
“Mọi người đã sẵn sàng cả chưa?” Ông ta hét lớn.
Đám đông rầm rộ vung tay đáp trả một cách nôn nóng.
Vị phán quan gật gù mãn nguyện, rồi ông ta nhìn Con Trai Bác Thợ Mộc, hất hàm, “Thầy phán quyết thế nào?” Ông ta nhấn mạnh chữ “thầy” bằng cái âm thanh mỉa mai, châm chọc và đầy thách đố.
Con Trai Bác Thợ Mộc ngước nhìn mọi người rồi thong thả ngồi xuống. Một thoáng gió lạc lõng thổi lên từ mặt hồ làm những sợi tóc đen nâu rũ xuống trán ông ta. Những ngón tay gầy thuôn vạch trên sân cát.
Ông ấy viết gì thế? Thầy viết gì thế? Ngài viết gì thế? Mọi người lao xao hỏi nhau.
Tôi chờ bản án gắt gao. Vị tiên tri trẻ, con trai bác thợ mộc; người đến đây để chấn chỉnh lại cuộc sống và lương tâm nhân loại hẳn sẽ kêu án người đàn bà thật nặng. Người đàn bà tóc tai rũ rượi kia đã có chồng, vậy mà cô ta đã dám nói với tôi rằng cô ta muốn có tôi suốt đời bên cạnh cô ta. Rồi vướng vít thế nào mà lại bị bắt quả tang đang nhập nhằng với một tay thu thuế. Đấy là chỗ đau trong trái tim tôi.
Đó là lý do tôi chọn hòn đá thật to.
Vị phán quan đứng dậy, vuốt nhẹ hàm râu. Tên lính hầu vội vã dương cao cái lọng. Vị phán quan đủng đỉnh bước ra giữa sân, chỗ Con Trai Bác Thợ Mộc đang đứng và người đàn bà ngồi co ro bên cạnh.
Phán quan cúi xuống, lầm thầm đọc. Rồi ném cho Con Trai Bác Thợ Mộc một cái nhìn gươm giáo và lặng lẽ xoay lưng, nhanh chân bước lên những bậc tam cấp của pháp đình, và mất hút bên trong. Tên lính hầu cuống quýt chạy theo.
Ông ấy viết gì thế? Thầy viết gì thế? Ngài viết gì thế?
Ngàn cái miệng réo lên câu hỏi. Âm thanh rào rào như sóng dấy mặt hồ những ngày dông bão.
Người chỉ huy đám lính bước nhanh đến chỗ ngồi của Con Trai Bác Thợ Mộc.
Ông ta nhìn chăm chú những chữ ngoằn ngoèo trên cát. Và ông ta quay mặt ra đám đông dõng dạc đọc cái câu ông ta bắt gặp.
Mọi người đồng loạt ồ lên, rồi người ta tranh nhau nói. Rồi tiếng ồn ào lắng xuống.
Cuối cùng là cái im lặng chết người.
Cái câu mà người chỉ huy toán lính vừa đọc làm lồng ngực tôi thắt lại. Những ông già, những bà già vạch đám đông bỏ về. Những gã trung niên, những phụ nữ đứng tuổi lũ lượt xô đẩy nhau. Những hòn đá bỏ lại lổn nhổn trên sân cát.
Cái túi vải bỗng dưng nặng trĩu trên vai tôi.
Tôi nhớ những cái vuốt ve cháy xém thịt da. Người đàn bà kia đã bao nhiêu lần lộng lẫy chấp chới nhưng cũng vô cùng thăm thẳm vực sâu trong cõi tối lòng tôi. Cái túi vải kéo lệch một bên vai tôi. Hai hòn đá màu xanh xám tôi dự tính ném vào nụ cười, vào câu nói ngọt ngào, vào cái vuốt ve rát ngọt của người đàn bà hư đốn. Tôi tưởng chừng mình đang vác trên vai những núi non tội lỗi. Sẽ phải làm gì với người đàn bà bội bạc kia.
Đám đông thưa dần. Tôi hốt hoảng nhìn quanh. Cái im lặng chết người phủ chụp khoảng sân ngập nắng. Sân pháp đình chỉ còn trơ trọi Con Trai Bác Thợ Mộc và người đàn bà tội lỗi. Nắng đổ lửa khắp nơi. Tôi làm gì ở đây thế này. Sao tôi không tuông chạy ngay từ khi dòng chữ của Con Trai Bác Thợ Mộc được người chỉ huy toán lính cao giọng đọc cho đám đông nghe.
Người đàn bà ngước nhìn tôi. Và cái xớn xác quyện lên trong mắt nhìn. Tôi thành tượng đá. Hai núi đá đè nặng trên vai. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Tôi muốn hét lên như thế. Vị tiên tri trẻ tuổi nhìn tôi. Ánh mắt trùng trùng sự bao dung.
Tôi run rẩy tháo cái túi vải đeo vai xuống. Hai hòn đá nặng trĩu cánh tay. Tôi luống cuống dốc ngược cái túi. Hai hòn đá nặng nề lăn ra trên mặt cát.
Tôi muốn nói với vị tiên tri trẻ rằng thưa Thầy, con xứng đáng nhận cả hai hòn đá này và tất cả những hòn đá thiên hạ bỏ lại rải rác quanh đây. Nhưng tôi không thốt lên lời. Và cũng sức mạnh vô hình nào đó đẩy tôi xoay người bước đi. Một luồng gió nhẹ hiu hiu thổi, thả đến tai tôi giọng nói trầm của Con Trai Bác Thợ Mộc, “Hãy về và đừng phạm tội nữa.”
Tôi không biết nhờ gió đưa hay tại vị tiên tri cố tình muốn tôi nghe được câu nói ấy, nhưng tôi tin đó là lời dặn dò Ngài nói với tôi.
Và tôi lủi thủi ra về. Và từ đấy tôi thôi phạm tội. Tôi đã giữ mình trong sạch được – tính đến hôm nay là – sáu mươi mốt ngày.
Lời dặn dò Đấng Tiên Tri dành cho người đàn bà ấy. Cô em vợ, người tình của thằng tôi tội lỗi. Lời dặn dò ấy cũng dành cả cho tôi. Tôi còn nhớ. Và tôi tưởng cô ấy sẽ không bao giờ quên lời của Ngài.
Vậy mà hôm nay – vợ tôi mất chưa tròn một tuần trăng – cô ấy đã lại tìm đến tôi.

HOÀNG CHÍNH

THƯ GỬI KHÔNG ĐỊA CHỈ

Yêu dấu, hôm nay tôi muốn viết cho Em một lá thư, thay cho một bài thơ tình có ít nhiều vần điệu. Tôi sẽ không dán tem, bỏ vào một cái bì thư không đề địa chỉ, thả nó vào cái thùng thư nơi góc đường có nhiều người qua lại. Tôi không biết bằng cách nào Em sẽ nhận được thư tôi, nhưng hy vọng Em sẽ đọc. Vì tôi tin vào phép lạ, tin có những linh hồn vẫn có thể chuyện trò và yêu nhau đến say đắm qua không gian, dẫu chưa bao giờ thật sự nhìn sâu vào đôi mắt hay chạm vào da thịt của nhau.


Hai hôm trước nơi tôi ở có một trận bão tuyết nhỏ. Đến hôm nay tuyết vẫn không tan. Tôi đang ngồi nhìn ra khu vườn trắng xoá tuyết và tuyết, uống cafe và viết thư. Cây cối của tôi đang ngủ một giấc rất dài, 5 tháng nữa chúng mới thức dậy. Mùa đông nơi đây lạnh kinh hồn, nếu tôi không mặc đầy đủ áo ấm, áo khoác, mũ, giày ủng, găng tay mà ra ngoài trời chừng 1 tiếng đồng hồ thì chắc chắn sẽ bị viêm phổi, lâu hơn nữa thì máu trong cái thân thể mảnh dẻ của tôi sẽ đông cứng lại và tôi có thể chết. Nhưng sự lạnh lẽo của mùa đông đã rất quen thuộc với tôi, tôi đã ở cái xứ cận kề Bắc cực này trên 40 năm rồi. Tôi đã biết học về sự chịu đựng dẻo dai của cỏ.
Mà sự lạnh lẽo trong tâm hồn thì lại khác. Cỏ không dạy được cho tôi cách để tâm hồn vẫn luôn ấm áp dù không bao giờ có được một kẻ tri âm bên cạnh.

Yêu dấu ơi, tôi nghĩ là tôi đã làm việc quá nhiều, một đời. Tôi đã luôn luôn rất cố gắng, hệt như Em vậy. Cũng hệt như Em, tôi đã luôn luôn khao khát được làm Cha Mẹ mình vui, và tôi đã cố gắng làm điều đó bằng tất cả tất cả tất cả tình yêu thơ ngây của một đứa bé dành cho hai người nó yêu thương nhất trên cõi đời. Tôi đã là một đứa bé ít nói, hiền lành, ngoan ngoãn, luôn lủi thủi một mình với sách vở, cây bút và tờ giấy, không có ai chơi, không ai dắt cho đi chơi, không bao giờ đòi hỏi vòi vĩnh, và thường được Cha Mẹ và mọi người khen, nó hiền quá nhỉ, nó ngoan nhỉ, nó vẽ và viết chữ thật đẹp. Hạnh phúc của tôi những năm đầu cuộc đời chỉ là nụ cười của Cha Mẹ mình khi mỗi tháng thấy tôi mang về những cái bảng danh dự, năm nào cũng được lãnh cái phần thưởng lớn nhất, to và nặng, bọc trong những tấm giấy kính màu đỏ chói có thắt nơ.


Hệt như Em vậy. Chỉ khác là, có lẽ tôi đã biết khóc sớm hơn Em, nhiều hơn Em. Tôi chưa bao giờ bị Cha Mẹ rầy la hay đánh đập, họ rất yêu và hãnh diện về tôi, nhưng tôi lại rất hay khóc một mình. Vì sao có lẽ Em biết. Em là người nhìn xuyên thấu cả quá khứ lẫn hiện tại của tôi. Đúng là như vậy. Tôi sinh ra trong một gia đình rất nghèo, tuổi thơ tôi trải qua trong một căn nhà mái tole dột nát, vách ván chắp vá, nền nhà là cát, có nhiều chuột và gián, chỉ có một bộ đồ để mặc đi học, một bộ đồ để mặc ở nhà, và một đôi dép nhựa sứt quai buộc lại bằng sợi dây thép rỉ sét. Nhưng những điều đó không quan trọng gì lắm đối với tôi, mơ ước duy nhất của tôi lúc đó chỉ là có được vài tờ giấy trắng để viết hay vẽ lên đó mỗi ngày, tôi thèm chúng quay quắt, chỉ vài tờ giấy trắng thôi là tôi thấy mình đã ở trên thiên đường.

Ngày ấy tôi khóc nhiều hơn những đứa trẻ khác vì nhà tôi ở một nơi hoang vu gần chân núi. Nơi những tiếng bom nổ, tiếng đạn bắn thường xảy ra vào đêm khuya. Rất thường xuyên, cứ hễ 1, 2 giờ sáng là Cha tôi hốt hoảng lay tôi dậy, “Dậy mau, chạy xuống hầm, con!”. Cha tôi đã xúc cát bỏ vào những cái bao, cột kỹ, lót đầy những bao cát ấy chung quanh một cái hầm cạn. Cha nói, “Nằm sát xuống, sát xuống đất, con! Không được ngước đầu lên! Kẻo đạn lạc!”. Tôi nghe tiếng bom nổ ầm ầm, lúc nhanh lúc chậm, lúc ngưng, tôi không hiểu gì hết, chỉ thấy kinh hoàng và thấy sự lo sợ buồn bã mỏi mệt trong mắt của Cha của Mẹ. Vào buổi sáng tôi sẽ chạy ra đường ngơ ngác nhìn người ta khiêng những xác người đầy máu đi ngang qua, nghe những tiếng la khóc, kể lể… Sao lại tội nghiệp quá vậy? Tại sao? Tôi lại khóc.

Vài năm sau khi gia đình chuyển đến ở một khu vực đông đúc nhiều người ở hơn, đa số là dân lao động, tôi lại khóc nhiều hơn. Tôi nhìn thấy tận mắt cảnh người chồng đổ xăng đốt vợ cháy như một ngọn đuốc, tiếng người vợ kêu la quằn quại, hai cánh tay quơ quào, và rồi cả thân người đổ gục xuống. Tôi nhìn sững sờ, bàn chân người đàn bà bị đốt đang dãy dụa một lần cuối, rồi bất động. Tôi chạy quanh, nước mắt đầy mặt mũi, tôi khóc.
Tôi cũng thường xuyên thấy người đàn ông hàng xóm trói đứa con trai nhỏ bằng dây thừng, treo nó lên xà nhà và dùng cây gỗ đánh đập nó như đánh một con vật. Tôi nghe nó khóc la thảm thiết. Tôi nghe tiếng mẹ nó van xin. Tôi đứng bên này nhìn qua, rươm rướm nước mắt.

Tôi thấy những đứa bé gái mới mười, mười một tuổi phải đi làm công việc nặng nhọc để kiếm miếng ăn, tôi thấy chúng bị chủ chưởi mắng, đánh đập…Tôi nghe tiếng một đứa con gái mười hai tuổi thỉnh thoảng khóc lóc kêu la vào lúc nửa khuya, “Đau quá ba ơi! Con đau quá ba ơi! Tha cho con ! Ba ơi!”. Ngày hôm sau tôi nhìn khuôn mặt xanh xao của đứa con gái và những vết bầm trên mặt, trên cổ trên cánh tay nó, sự im lặng lầm lì của nó, tôi hiểu chuyện gì xảy ra, và tôi khóc nghẹn ngào, nghẹn ngào…

Và nhiều nữa. Tất cả những điều nghe và thấy này làm hai con mắt tôi luôn luôn đo đỏ, ươn ướt, có khi nhoà nhoẹt lệ. Mẹ tôi thường nhìn tôi vừa ngạc nhiên vừa xót xa, “Răng cứ khóc hoài rứa? Răng con lạ rứa? Có ai đánh đập hay la rầy chi con đâu? Chi lạ rứa?!”.Khi lớn hơn tí nữa, tôi bắt đầu làm nhiều bài thơ rất buồn. Những người bạn của tôi bảo, “Sao đa cảm quá!” . Đa số các bạn tôi đều thật vui vẻ và vô tư.

Yêu dấu, có thể cả hai chúng ta đều là người đa cảm. Chúng ta đã sống rất lương thiện, hãnh tiến và nhiều lý tưởng suốt một thời tuổi trẻ. Chúng ta mơ ước làm một điều gì đó để khiến cho cuộc sống chung quanh tươi đẹp hơn. Riêng tôi, đã có vài lần không còn muốn mơ ước về điều đó nữa. Tôi nhận ra sự nhỏ bé, cực kỳ nhỏ bé cuả tôi, nhỏ như hạt cát. Tôi nghĩ Thượng đế đang làm công việc trừng phạt của ngài, tôi không có quyền hạn gì để xin ngài khoan dung cho những tội lỗi cuả loài người. Tôi không có cái chìa khoá để mở cánh cửa địa ngục.

Bây giờ tôi chỉ muốn nằm dài bên cạnh Em thôi, trong một căn phòng có cửa sổ lớn, có gió mát. Chúng ta sẽ nằm nghe nhạc, hết bài này đến bài khác. Tôi muốn nhắm mắt và lắng nghe hơi ấm từ thân thể Em lan toả qua tôi. Tôi muốn sờ chạm vào làn da Em, trên mặt, vai, hoặc cổ, để cảm thấy sự mềm mại của nó. Khi hai làn da chạm vào nhau, những xúc cảm sẽ đồng loạt thức dậy, như cây cối thức dậy sau mùa đông. Đó là sự gần gũi cuối cùng, cái vòng tròn được khép lại của hai tâm hồn muốn hoà làm một. Hay là buông bỏ tất cả, chúng ta ôm nhau vỗ về như hai đứa bé mồ côi, Chúng ta vỗ nhè nhẹ lưng nhau và ru, và thầm thì, “Ngủ đi, ngủ đi…”Dường như tôi đã cố gắng tồn tại trong cái thế giới này để được một lần gặp Em, kẻ nhìn thấy tất cả những giọt lệ và nụ cười của tôi. Tôi đã trải qua bao lần chết đi sống lại, để được nhìn thấy Em, người sẽ nghiêm trang nhìn tôi và nói, “Tôi biết hết, tôi thấy hết, tôi hiểu hết! Chúng ta nói cùng một thứ ngôn ngữ.”

Tôi có cảm tưởng Em đã và đang nhìn tôi qua một tấm gương trong suốt. Chúng ta không chạm vào nhau, vì tấm gương chắn ngay ở giữa. Nhưng Em nhìn thấy tất cả tôi, và tôi nhìn thấy tất cả Em. Tôi nhìn thấy Em ngã xuống, không chỉ một lần. Tôi thấy Em cố gắng đứng lên rất nhanh, những sợi gân máu Em căng lên vì sự nỗ lực. Em giống như một kẻ đang chạy đua và phải chạy đến đích. Em tiếp tục chạy, hết tốc lực. Nhưng tôi thấy nước mắt Em khóc, từ bên trong trái tim. Tôi thấy Em đã đến đích, vượt qua lằn vạch, và đứng ngay đó, ngơ ngác nhìn quanh, không thật sự nghe thấy gì cả, những tiếng hò reo, những lời khen tụng. Em đứng đó, hoàn toàn một mình, lạc lõng, như đang đứng trong một giấc mộng, trong đó không có ai, chỉ có mỗi mình Em.
Tôi thấy Em chảy nước mắt. Tôi cũng biết hết, hiểu hết về Em, tôi có thể hiểu ngôn ngữ Em nói. Tôi và Em bắt được tần số của nhau.

Tôi đã đứng ngồi không yên khi nhìn thấy Em khóc. Chẳng phải chỉ là những giọt lệ, mà còn cả tiếng nấc, nức nở, nức nở. Em đã cố gắng để đạt tới, để trao tặng những gì đẹp nhất, ngời sáng nhất của Em, nhưng người nhận không còn nữa. Không còn ai hiểu Em nữa, không còn ai yêu Em nữa, không còn ai chia sẻ những thành quả đạt được cuả Em nưã. Người ta khen tặng, có thành thật, có đãi bôi, nhưng trong lòng thì đầy những sự ganh tỵ, thậm chí cả tức giận và đau đớn khi ở gần Em. Ai cho phép Em đẹp rạng ngời đến như vậy? Ai cho phép Em thánh thiện đến như vậy? Ai cho phép Em tài giỏi và tài hoa đến như vậy? Ai cho phép Em làm được những điều mà tất cả mọi người không thể làm được? Ai cho phép mắt Em sáng rực và nụ cười Em thật hiền hoà bao dung? Em từ hành tinh nào tới vậy? Em là một sinh vật lạ không nên có mặt trên trái đất này.

Nhưng tôi lại đang nhớ Em quay quắt. Mắt tôi cứ đỏ mãi, lệ cứ rưng quanh tròng mắt. Sao tôi lại cứ sợ hãi và lo lắng. Tôi không tìm ra lý do tại sao. Tôi có điên không? Tôi vẫn đang làm việc, đi đứng bình thường mà. Sao tôi lại cứ nhớ đôi mắt mở to nhìn xuyên thẳng vào mọi thứ cuả Em, nhớ nụ cười e lệ của Em, nhớ sự ngây thơ trẻ con của Em bị giấu kín trong mấy lớp vỏ bọc kiên cố. Sao tôi lại cứ ước ao Em đang hạnh phúc hơn?

Trái tim tôi đang hoạt động một cách bất thường. Em có sẽ giết tôi chết bằng thứ tình cảm kỳ lạ này không? Đôi khi tôi nhìn, qua tấm gương trong suốt, đôi mắt nhìn như xoáy và hút của Em, và rùng mình, muốn quay đi. Nhưng tôi đã biết mình không bao giờ có thể, bởi đó là Định Mệnh.
Tôi sẽ đi bỏ thư đây. Và để trống phần địa chỉ người nhận.
(19.01.2022)
TRÂN SA

TRĂM NĂM ĐỂ ĐỢI

  • Tôi quan niệm tội lỗi thường bị tạo ra từ những tâm hồn yếu đuối hay bệnh hoạn. Vì thế, tội lỗi nhiều khi cần được tha thứ và chữa trị chứ không phải là trừng phạt

    Hoàng hôn trên đồi luôn xuống chậm, nắng tháng chạp cứ nhợt nhạt dần rồi biến mất đâu đó, chỉ để lại một vầng sáng ở cuối chân trời… bức tượng Nàng Tiên Cá ở  góc vườn bắt đầu óng ánh một màu xanh tím buồn ảm đạm từ ánh đèn Solar phát sáng.
    Khung cửa sổ mở ra trong đêm, đôi mắt Y đắm đuối nhìn tác phẩm cuối cùng của mình với một niềm hạnh phúc vô biên! Y luôn bắt tôi nghe nhiều lần một câu chuyện cũ, một câu chuyện tôi đã thuộc lòng, nhưng mỗi lần nghe đều cảm thấy bất an.

    Y là một họa sĩ trẻ, như mọi người trẻ tuổi khác, tạo một chút tiếng tăm chẳng dễ dàng gì, nhất là khi sự giáo dục nghiêm khắc và đạo đức của gia đình không thể cho mình bất chấp mọi thứ để có chút tiếng tăm!
    Y ra trường, thất nghiệp… nghe lời khuyên của người bạn thân, Y mở một phòng tranh trên con đường ra biển… những bức tranh của Y thật buồn, thật đẹp , thật khó hiểu nên chẳng ai mua dù trong một thời gian dài người bạn đã bỏ công, bỏ vốn marketing không hề mệt mỏi… khách du lịch thì cứ đến ngắm nghía, chụp hình rồi đi.

    Một ngày, người bạn đem đến phòng tranh một cô gái xinh xắn, dễ thương:
    – Đây là Mermaid, cô ấy sẽ giúp Y chăm sóc phòng tranh.
    Y đã quá chán nản vì phải đi tới đi lui, giải thích tường tận ý tưởng, nội dung, hình thức cho nhiều người khi họ tạt ngang dù chỉ để chụp hình chứ không hề có ý định mua tranh nên trút cái gánh nặng này qua Mermaid.
    Mermaid tóc dài vàng đậm, hơi xơ xác, dáng mảnh khảnh hoang dã, da ngăm ngăm màu mật như các cô gái vùng bán nhiệt đới. Khi đã khá thân, Y biết cô có nguồn gốc từ  vùng Argentina và cô đã có gần 10 năm đóng vai Nàng Tiên Cá trong một công viên nước nổi tiếng của tiểu bang California. Công việc của cô chỉ là ngồi trong chiếc vỏ sò lớn giữa một ốc đảo nhân tạo để du khách chụp hình. Công việc đơn điệu và buồn chán!

    Nếu khi sinh ra đời, Thượng Đế đã sắp đặt cho mỗi sinh mệnh một số phận thì số phận của cô mãi mãi là một nàng tiên cá. Cô lạc lòng đi theo tiếng gọi của một chàng Hoàng tử trong ảo vọng của những làn khói Marijuana ma mị của những đêm quay cuồng trong quán rượu. Ban ngày chàng Hoàng tử của cô hiện nguyên hình là một gã lang thang cho thuê ván trượt trên bãi biển. Cô bỏ việc dù nó ổn định và dễ dàng nhất trong những công việc cô có thể lựa chọn! Người bạn của Y vốn là một Mục sư, luôn muốn làm cho đến nơi đến chốn những việc mà bạn nghĩ là tốt đẹp, đã nhặt Mermaid khi cô đang say ma tuý bên góc nhà thờ, bệ rạc như một con búp bê rách nát mà đứa bé chơi chán ném đi, mang cô vào trại cai nghiện sau đó tạo cho cô một việc làm tử tế là đưa cô đến giúp Y và người bạn đã rất hài lòng vì sự hợp tác thật tốt đẹp này.

    Qua những lời giới thiệu và giải thích bay bổng đầy hoang tưởng từ Mermaid hoặc bởi cái vẻ man dại của cô, những bức tranh âm u của Y biến thành huyền thoại của các vị thần linh để chúng trở nên những bức tranh có  giá trị trong giới hội họa và có giá cao trên thị trường mua bán! Đã có những bài báo viết về phòng tranh Y&M, đã có những nhà báo đến phỏng vấn chàng họa sĩ trẻ và nàng Digan xinh đẹp. Điều may mắn đó đồng thời cũng đem đến một niềm bất hạnh. Chàng Hoàng tử của Mermaid xuất hiện trước phòng tranh vào một trưa nắng loá. Đứng ngược nắng, chàng còn rực rỡ hơn cả vầng sáng chiếu trên mái tóc vàng như một ánh hào quang. Y thấy trái tim mình hẫng đi vài nhịp. Có những cái đẹp không thể cứu rỗi thế giới mà ngược lại, nó làm băng hoại những gì đẹp đẽ nhất. Có những cái đẹp làm trái tim tan nát buồn đau. Có những cái đẹp xui người ta phạm tội. 
    Đêm rất muộn, bên những ly pha lê lóng lánh màu rượu đỏ, chàng Hoàng tử cầm bàn tay lạnh tái tê của Mermaid, thì thầm:
    – Cô bạn nhỏ, tôi không thể dối lòng… tôi xin lỗi.
    Đôi mắt màu hổ phách man dại của Mermaid cũng ánh màu rượu đỏ:
    – Tôi biết điều ấy, nhưng sao lại chọn Y?
    – Tôi không hề chọn, tình yêu đâu phải là một món hàng để so đo tính toán!
    Và Y, tiếng vọng từ thẳm sâu ký ức đau đớn nghẹn ngào… 
    hãy mang đi hồn tôi
    một hồn đầy bóng tối
    một hồn đầy hương phai 
    một hồn đầy gió nổi… ( Du Tử Lê)
    Mermaid trót mang định mệnh của một nàng tiên cá nên cô đã nghẹn ngào buông tay trôi dạt về biển khơi vào một ngày bão tố điên cuồng ở Vịnh Tampa.
    Người bạn Mục sư ngao ngán thở dài : “tôi không cổ suý cho những hành vi suy đồi của đạo đức, tôi không muốn nhìn thấy những tội lỗi của trần  gian, nhưng con người thật yếu đuối, họ dễ vấp ngã để rồi gục ngã trước những hệ lụy gập ghềnh. Với Mermaid tôi không nghĩ rằng linh hồn cô đời đời sa địa ngục, cô sẽ bay lơ lững giữa các tầng trời trong 300 năm chờ đợi một người yêu cô hơn bản thân họ như lời nguyền của những nàng tiên trong cổ tích để rồi cô sẽ trở lại làm người tử tế!…”
     Còn tôi, người kể chuyện, vốn là một con người vô tín ngưỡng, chỉ tin vào những điều có thật đang diễn ra trong cuộc sống, có khi viên mãn, có khi chua xót đau buồn. Tôi quan niệm tội lỗi thường bị tạo ra từ những tâm hồn yếu đuối hay bệnh hoạn. Vì thế, tội lỗi nhiều khi cần được tha thứ và chữa trị chứ không phải là trừng phạt! Nên tôi luôn thực tế để kéo mọi sự, mọi điều vào trật tự vốn phải có của nó:
    – Y này, bạn đã yêu Mermaid hay yêu chàng Hoàng tử?
    Y nhìn tôi, nhẹ nhàng trả lời với một vẻ xót thương:
    – Bạn thì biết quái gì về tình yêu! Muốn nói về một tình yêu đích thực  bạn phải có cả trăm năm để đợi…

    Tôn Nữ Thu Dung

MƯA PHÙN MỖI TẾT

Em đi đầu trần không nón lá,
Mưa phùn trên tóc, gió bay em!
Có ai đứng núp sau bờ giậu,
nói với lòng:  Thương Nhớ Chớ Quên!

Em đi mùa Xuân, bay theo người,
Chắc em biết chớ?  Thấy em vui?
Chỉ buồn:  con bướm không theo được,
Em một mình!  Em Không Có Đôi!

Hồi đó, hồi xưa, còn nhỏ quá,
Chỉ nghe tim đập lạ không ngờ:
Kìa ai mưa Tết, đầu không nón
Tóc gió bay cùng những sợi mưa!

Hồi đó, bây giờ…biển biển xa,
Biết mưa dịp Tết ở quê nhà…
Ai thương bờ giậu xanh hồi nhỏ,
Mai hết mưa nhìn lén nhé, hoa…

Hoa có hương là hương Xuân hồng
Mưa phùn không chỉ một bên sông!
Người đi nửa bước đầu không nón
Nửa bước làm ai vạn nhớ nhung!

Trần Vấn Lệ

  Dẫu lìa ngó ý



Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
(Nguyễn Du)

Nhà thơ ngụ ngôn người Pháp La Fontaine đã nói một câu rất hay về tình bạn: “Tình yêu thật sự đã hiếm; tình bạn thật sự còn hiếm hơn ”.

Cát Đằng, tên một loài hoa leo có màu xanh pha tím, mỏng mảnh. Bạn tôi cũng dịu dàng, mềm mại, quý phái như hoa.

Chúng tôi thân nhau từ thuở nhỏ, lúc còn học trường tiểu học Đoàn Thị Điểm trong Thành Nội. Hai đứa cứ thế lớn dần lên, lần lượt qua bên kia sông Hương học Đồng Khánh rồi Văn Khoa…

Nhà Cát Đằng nằm ở một góc nhỏ trên đường Mai Thúc Loan. Căn nhà cổ xưa như cuộc sống quan cách của gia đình. Ba Cát Đằng làm công chức cao cấp của Ty Ngân khố Thành phố. Ông đặt cho con những cái tên thật đẹp của các loài hoa : Cát Đằng, Đỗ Quyên, Hoàng Lan…Mấy chị em sống khép kín như những con ốc trong bốn bức tường rêu.

Tôi, tên bình thường : An Nhiên, gia cảnh cũng “thường thường bậc trung”, tóc cắt kiểu Demi Garçon, tính tình đôi lúc ương bướng. Vậy mà chúng tôi thương nhau vô cùng. Chỉ có tôi dám bước qua hai cánh cổng sắt luôn khép kín trong tiếng sủa của con Berger để rủ Cát Đằng đi học. Cũng chỉ có tôi chiếm được lòng tin của ba mạ Cát Đằng. Hai bác nghiêm nghị nhưng coi tôi như con. Hình như hai bác xem tôi là một lá chắn bảo vệ cho cô con gái yếu ớt của mình.

Chúng tôi đã có một thời thơ ấu thật đẹp và hồn nhiên. Những chiều mùa hạ dắt nhau vô con đường bên hông Đại Nội gần cà phê mụ Tôn, nhặt bông phượng đỏ về làm bướm. Những sáng mùa đông sương mù lạnh buốt chở nhau qua cầu Phú Xuân, gió hung hăng như muốn quật hai đứa xuống sông. Những đêm cùng học bài thi, em gái Đỗ Quyên đem vào phòng cho hai chị chén chè hạt sen long nhãn mát rượi. Mạ Cát Đằng thường cười bảo tôi “Phải chi An Nhiên là con trai, bác gả Cát Đằng cho cháu.”

Tuổi dậy thì hồn nhiên và mơ mộng. Cát Đằng đẹp, nhiều người tán. Tan học về bao nhiêu cái đuôi theo, mãi cho đến cửa Hiển Nhơn mới chịu lui gót. Tôi như garde corps cho bạn. Những chàng sinh viên mê Cát Đằng, nhờ tôi làm chim xanh kèm theo nhiều món quà hậu hĩnh, trong số có cả con của một ông Trưởng Ty đang theo học trường Y. Nhưng tôi từ chối. Không ai hiểu bạn hơn tôi. Cát Đằng tâm sự : “Sao mình thấy ông nào cũng nhẵn nhụi như Mã Giám Sinh. Ngó phát ớn!”. Người hùng trong tâm tưởng Cát Đằng phải bụi bụi như tài tử Charles Bronson, đêu đểu với bộ ria giống nụ cười của Clark Gable hoặc chí ít cũng phải lãng tử như Gregogy Peck trên chiếc Vespa cổ chở nàng công chúa Audrey Hepburn chạy khắp thành Rome trong Vacances Romaines… Thâm tâm tôi thấy bạn mình quá lãng mạn. Biết tìm đâu ra người lý tưởng trong môi trường phố thị này?

Ấy thế mà một hôm thật bất ngờ, “người hùng” của bạn đã xuất hiện. Đó là một buổi sáng “đầy sương thu và gió lạnh” như trong văn Thanh Tịnh, đoàn Sinh Viên Sỹ Quan trường VBQGVN về Huế vào Đại Học Văn Khoa tuyển quân. Phải công nhận sự có mặt của họ như một hiện tượng trong sân trường xưa nay toàn áo dài, chemise , quần tây. Trong trang phục worsted thật đẹp, thật hào hùng mặt anh nào cũng sáng láng thông minh. Họ trình bày thật ấn tượng về ngôi trường quân sự ở Đà Lạt ngang ngửa với Saint Cyr của Pháp, West Point của Mỹ. Đứng bên những chàng trai Văn Khoa “trói gà không chặt”, trông các anh cao to và đường đường khí thế. Nhìn qua cạnh mình, tôi thấy Cát Đằng như trên mây. Nàng say sưa dán mắt vào anh SVSQ đang giới thiệu chương trình đào tạo. Anh nói giọng Bắc pha chút Huế. Khi chàng ta đi từng bàn phát những tờ ảnh về ngôi trường cho sinh viên nam, Cát Đằng cũng nhoài người qua xin một tờ. Một thoáng ngạc nhiên nhưng người SVSQ vẫn lịch sự trao tận tay nàng. Mắt hai người gặp nhau. Một cái gì đó thật lạ lần đầu tiên tôi thấy xuất hiện ở cô bạn mình. Má nàng ửng hồng , ánh mắt long lanh, môi mọng ướt mềm…Chuông reo giờ ra chơi, hai người còn trao đổi với nhau suốt cả mười lăm phút bên hành lang Morin.

Ra về, tôi bảo Cát Đằng “Mình thấy hình như có Coup de Foudre”. Nàng yên lặng do dự một chút rồi bảo tôi : -“An Nhiên ơi, bạn có thương mình không?”. Tôi ngạc nhiên : – “Tui không thương bạn thì thương ai?” – “Vậy thì chiều ni bạn xin mạ cho tui qua chơi nhà bạn hí! ” “- Được thôi mà”

Buổi chiều , tôi ngồi chờ bạn trên chiếc xích đu dưới giàn bông giấy. Nàng xuất hiện trong chiếc áo mousseline màu xanh trứng sáo, quần tây đen. Trông Cát Đằng xinh xắn làm sao. Hèn gì con ông Trưởng Ty mê nàng như điếu đổ. Ngồi nói chuyện với tôi mà mắt nàng nhìn ra cổng như ngóng trông ai…Và bốn giờ chiều. Một bóng người trước cửa. Anh chàng Sinh viên Võ bị hồi sáng…Cô nàng thông minh thật, lấy địa chỉ nhà tôi làm nơi gặp gỡ.

Tôi không tin lắm vào duyên tiền định. Xưa nay, ba mạ vẫn hay nói tôi là kẻ cứng lòng. Nhưng với cô bạn thân Cát Đằng thì tôi nghĩ đó là một mối nhân duyên mà tôi là người góp phần dung túng, ủng hộ. Cô bạn tôi không phải là type người “ yêu cuồng sống vội”. Xưa nay nàng chưa hề cười với ai một nụ. Con nhà gia thế, kín cổng cao tường. Điều gì đã làm cho nàng dám vượt qua khuôn phép gia đình và xứ Huế vốn dễ tiếng tăm?

Chàng sinh viên sỹ quan ấy tên H. đang theo học năm thứ ba trường Võ bị. Anh gốc Bắc, di cư vào Nam năm 54, chọn Huế làm quê hương thứ hai. Anh sống cùng mẹ và chị gái bên Bến Ngự. Anh hơn chúng tôi năm tuổi, trước đây từng học MPC rồi mới quyết định tòng quân. Đợt tuyển quân này là một cơ hội cho anh về thăm mẹ và số phận đưa đẩy để hai người gặp nhau.

Anh H. hiền, tính điềm đạm. Tôi chắc bạn tôi không chọn nhầm. Hai người có một tuần để hiểu nhau. Tôi nhiều lần qua nhà Cát Đằng xin cho bạn đi học nhóm, đi thảo luận… để rồi sau đó chở nàng lên đồi Thiên An, chùa Từ Hiếu hẹn hò. Trong khi hai người trò chuyện, tôi lặng lẽ đi dạo dưới những hàng thông hoặc ngồi đọc sách bên hồ Thủy Tiên để rồi sung sướng ngắm nhìn bạn sáng ngời trong hạnh phúc. Tình yêu làm người ta đẹp ra. Anh H. đưa chúng tôi về thăm gia đình. Căn nhà nhỏ nép mình trong một khu vườn sum suê cây trái.Tiếng chim sâu kêu lách chách. Bà mẹ hiền lành mừng rỡ đón bạn của con; người chị gái tên Hương thương em vô hạn, chăm anh từng ly từng tý. Tôi mừng cho Cát Đằng.

Anh H. trở về Đà Lạt tiếp tục khóa huấn luyện. Nhà tôi trở thành địa chỉ cho hai người trao đổi thư từ. Những bức thư đều đặn hàng tuần. Cát Đằng có một cái hộp bánh CHOCOLATE hình chữ nhật .Đọc xong thư bạn cất vào đó và nhờ tôi giữ hộ. Cuộc tình vẫn nằm trong bí mật với gia đình và bạn bè. Không ai biết ngoài tôi.

Gần cuối năm 1971, sau khi đọc xong lá thư có cái insigne rồng vàng ôm kiếm thiêng, Cát Đằng có vẻ suy tư. Bạn ngồi trầm ngâm trên chiếc xích đu trắng nhìn mông lung. Tôi mở lời : “Răng đó? Giận nhau hả?”. –“Không, có chi mô”. Lần này, bạn cầm lá thư về chắc để đêm nghiền ngẩm.

Con đường đến giảng đường sáng hôm sau như dài ra với sự yên lặng của Cát Đằng. Giờ English Grammar bạn dường như không nghe lời thầy John Schaffer giảng. Lúc ra chơi, đứng ở khung cửa sổ nhìn xuống đường Lê Lợi, Cát Đằng đưa bức thư cho tôi : “An Nhiên đọc đi !”.Tôi liếc nhanh qua bức thư với những lời yêu thương nồng thắm nhớ nhung chất ngất, hơi đỏ mặt vì thấy mình xâm phạm chuyện riêng tư của bạn. A, đây rồi. Cái lý do làm bạn tôi trăn trở hai ngày nay. Anh H. muốn bạn tôi có mặt trong đêm Lễ trao nhẫn truyền thống của SVSQ năm 3 trường Võ Bị. Là răng? Cát Đằng đi Đà Lạt ư ? Tôi không thể hình dung được chuyện này. Không được. Chuyện quá nghiêm trọng với con gái Huế, nhất là với bạn tôi, một người chưa hề bước chân qua đèo Hải Vân.

Ánh mắt của Cát Đằng tha thiết: “ An Nhiên giúp mình đi. Năn nỉ mà. Cam đoan không có chi xảy ra. Mình đi ba ngày. Chỉ bạn mới có thể giúp mình…”. Điều gì khiến một người con gái dịu dàng như Cát Đằng nẫy ra quyết định liều lĩnh thế ? Cái này gọi là sức mạnh của tình yêu đấy ư ? Xưa nay tôi vốn dị ứng với thứ tiểu thuyết lãng mạn của Quỳnh Dao và hoàn toàn không tin vào nhan đề một cuốn truyện của Lệ Hằng “Chết cho tình yêu”. Không, không đựơc.

Hai đứa không nói chuyện với nhau suốt ba ngày. Nhưng cái vẻ ủ dột của Cát Đằng làm tôi thương xót. Anh H. cũng gởi cho tôi một bức thư ngắn. Anh bảo chính vì xem Cát Đằng là người trăm năm nên anh muốn nàng có mặt trong buổi lễ trang trọng và ý nghĩa này. Anh chịu trách nhiệm về chuyến đi. Lòng tôi mềm ra. Tình yêu xét cho cùng cũng có cái lý của nó. Tôi trở thành kẻ đồng lõa trong cuộc hành trình của bạn.

Vậy là tôi sang nhà xin ba mạ Cát Đằng cho hai đứa vào Đà Nẵng ăn cưới bà chị họ. Mạ bạn tỏ ra e ngại như tất cả những bà mẹ người Huế. Nhưng ba bạn thoáng hơn, hình như ông đang vui vì mới trúng một cú affaire. Hơn nữa, chơi với Cát Đằng hơn mười mấy năm, gia đình bạn tin tưởng tôi tuyệt đối.

Ba của bạn đích thân chở chúng tôi ra bến xe. Ông không thể ngờ rằng khi tới Đà Nẵng, việc đầu tiên của chúng tôi là đến ngay Air Việt Nam trên đường Độc Lập. Và chuyến bay DC six đưa Cát Đằng lên thành phố cao nguyên lúc hai giờ chiều để tôi ở lại với cõi lòng như lửa đốt.

Ba đêm tôi ăn không ngon, ngủ không yên ở nhà bà chị. Tôi chắp hai tay cầu nguyện Chúa, Phật và tất cả các đấng siêu nhiên cho chuyến đi thuận buồm xuôi gió. Tôi hơi ân hận vì đã lạc lòng trước những giọt nước mắt của bạn. Có chuyện gì xảy ra với Cát Đằng chắc tôi không sống nổi…

Và chiều thứ hai tôi đã oà khóc tức tưởi khi thấy bạn bước ra từ chiếc Bus của Hàng không Việt Nam.

Nhưng quả thật, chưa bao giờ tôi thấy bạn xinh như vậy. Mặt Cát Đằng hớn hở như trăng rằm, môi cười rất tươi. Nàng ôm choàng lấy tôi, hôn lên má : – “Cám ơn An Nhiên. Chúng mình cám ơn bạn vô cùng”. Những giận hờn trong tôi đều tan biến.

Trên chuyến xe ra Huế, Cát Đằng tíu tít kể cho tôi bao nhiêu chuyện . Thành phố hoa, những con dốc mù sương, chuyến xe ngựa vòng quanh bờ hồ Xuân Hương và một tấm ảnh đầy ấn tượng. Dưới ánh đèn huy hoàng có hàng chữ Lễ trao nhẫn với hai cái dấu như hai vương miện, bên một cái nhẫn to được trang trí cách điệu lộng lẫy, bạn tôi âu yếm lồng vào tay anh H. chiếc nhẫn Võ Bị. Họ như đôi tân lang và tân nương trong ngày cưới. Mãi mãi đây là một bí mật chỉ riêng ba người biết…

Thi thoảng chúng tôi qua Bến Ngự thăm nhà anh H. Mẹ anh coi Cát Đằng như con dâu tương lai. Bà kể về tuổi thơ vất vả của anh từ khi di cư vào Nam, về lúc cha anh mất , về người con trai cả tên Hùng phải lưu lạc vào Bình Dương kiếm sống. Có những đoạn xúc động, bà rươm rướm nước mắt. Cát Đằng ngồi kế bên bóp nhẹ tay bà. Một hình ảnh dễ thương làm sao. Bà còn dạy cho bạn tôi cách chế biến những món ăn mà con trai thích như canh cua rau đay, bún chả…

Cuối năm 1972 anh H. ra trường. Anh có mười ngày phép trước khi về trình diện tại Sư đoàn 9 Bộ binh có biệt danh “ Mũi tên thép”, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn đóng ở Vĩnh Long,Tư lệnh là Chuẩn Tướng Trần Bá Di. Chiến trường miền Trung đang sôi động với chiến dịch tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Đêm đêm tiếng đại bác ì ầm từ phía Bắc vọng về. Thành phố Huế tràn ngập màu áo lính rằn ri. Cát Đằng có vẻ yên tâm với sự chọn lựa này dù hai người có xa nhau về không gian. Mười ngày, tôi phải ra sức bao biện cho bạn để họ có những giây phút hạnh phúc.

Rồi cũng đến lúc chia ly. Chúng tôi tiễn anh vào Nam. Hình ảnh cuối cùng trong mắt tôi là cảnh chàng thiếu úy trẻ trai cầm chặt tay người yêu nói những lời từ biệt : “Em cười đi. Cát Đằng cười đi cho anh yên tâm. Anh sẽ về với em và sẽ thưa chuyện với ba mẹ”. Bạn tôi cười mà nước mắt hoen mi.

Như muốn làm Cát Đằng yên tâm, thư anh H. gởi về liên tục. Anh đóng quân ở Cao Lãnh. Anh làm Đại đội trưởng một đại đội trực thuộc Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 14. Anh nói về một vùng đất trù phú, những người dân miền Nam hồn nhiên, những đồng ruộng bạt ngàn, những cánh đồng chó ngáp… Anh ít kể chuyện chiến trường, chắc để người yêu bớt lo.

Nhà ông Trưởng Ty muốn dạm ngỏ Cát Đằng trước khi con trai đi du học. Cô bạn tôi nói với ba mạ “Con chưa muốn lấy chồng” nhưng sau đó cô gặp riêng chàng trai và bảo “Tôi có người yêu rồi. Anh đừng mất công” .Tội nghiệp anh chàng cứ đứng ngẩn tò te.

Cứ thế, những lá thư nối hai niềm vui. Cát Đằng mơ màng dự trù với tôi về tương lai. Một ngôi nhà với ngọn lửa ấm và những đứa con ngoan sẽ ra đời. Ước mơ trong tầm tay với. Tôi chia sẻ hạnh phúc với bạn bằng nụ cười bao dung.

Buổi chiều hai đứa ngồi trước sân hóng gió thì một cánh chim sâu sa xuống trước mặt. Bạn tôi nâng nó lên, âu yếm vuốt ve “Tội nghiệp mày chưa. Chị nuôi em nhé!”. Mạ Cát Đằng đi từ nhà sau lên hốt hoảng: “Chim sa cá nhảy. Ăn nói bậy bạ”. Rồi bà lấy một nắm gạo muối tung ra sân. Bạn tôi le lưỡi “Mạ sao mê tín dị đoan. Thả con chim thấy tội bắt chết!”

Huế tháng chín. Mùa thu. Những trái thanh trà da đã rám vàng. Tôi chở Cát Đằng lên Nguyệt Biều chọn những trái thật ngon về cúng Rằm tháng Tám. Bạn không quên lựa một cặp thật đẹp để biếu mẹ anh H. chưng bàn thờ. Hai đứa ngồi thòng chân xuống dòng nước sông Hương trên bến đò Giã Viên. Trời thật đẹp. Nắng vàng như mật . Gió hiu hiu. Cát Đằng thở dài “Phải chi có anh H ”. Tôi nguẩy vai “Rồi sẽ có ”.

Rẽ vào căn nhà dốc Bến Ngự. Cô bạn nhanh nhẹn nhảy chân sáo trên lối đi quen thuộc. Nhà vắng ngắt. Mùi hương trầm thoang thoảng trên bàn thờ . Chị Hương ngồi lặng trên ghế, nước mắt chảy quanh. Bạn tôi hốt hoảng: “Có chuyện chi rứa chị ? Mẹ mô rồi? ”. Chị Hương òa khóc: “ Mẹ với anh Hùng đi Vĩnh Long. Em ơi, thằng H.”…. Cát Đằng quỵ xuống đất.Tôi và chị Hương đỡ vội lên. Mặt bạn tái xanh, hơi thở ngắn như không còn sức sống. Tôi rót cho bạn một ly nước lọc rồi hỏi han chi tiết. Chị Hương kể cho tôi nghe trong tiếng sụt sịt. Anh Hùng từ Bình Dương gọi ra báo tin anh H. bị thương nặng trong cuộc hành quân vào mật khu ở quận Mỹ An, vùng Đồng Tháp Mười . Mẹ chị đang trên đường vào, chưa biết chi thêm.Trong bóng chiều chạng vạng, ba chị em ngồi yên lặng. Không ai đủ sức đưa tay bật ngọn đèn điện. Chao ôi! Tuần trước tôi vừa đưa thư cho bạn. Anh đang đóng quân ở Đồng Tháp. Anh kể cho bạn nghe về Gò Công – quê hương của bà Từ Dũ mẹ vua Tự Đức; về cam Cái Bè; về mận Trung Lương …Thượng đế ác nghiệt vậy sao? Anh vừa tròn 26 tuổi, ra trường mới chín tháng…

Không biết bằng cách nào tôi đã đưa được Cát Đằng về đến nhà. Bạn ngồi sau tôi xiêu vẹo như một cái xác không hồn. Tôi nói với bác gái bạn bị trúng gió rồi đưa bạn vào phòng. Chân tay bạn lạnh ngắt. Đêm ấy tôi xin ở lại, thi thoảng lắng nghe tiếng rên rỉ đau đớn của Cát Đằng. Mọi ngôn ngữ trong giây phút này đều bất lực!

Nhưng nỗi bất hạnh không chỉ ngang chừng đó.Trong khi Cát Đằng định thưa thật với ba mạ để xin phép vào Vĩnh Long thì mươi hôm sau, mẹ anh H. nhắn ra anh H. không chỉ bị thương nặng mà còn mất tích. Cầm bằng như anh đã chết.Thôi còn mong chi nữa. Lần này thì bạn tôi quỵ ngã hoàn toàn. Nỗi đau ẩn giấu tận trong tim biến bạn thành một bóng ma câm lặng. Bác gái cứ căn vặn tôi hai đứa có chuyện chi không. Làm sao tôi dám trả lời. Thôi cứ đế bác tối tối thắp nhang ngoài cổng ngõ cầu cho con gái yêu đừng mắc “bệnh đàng dưới ”.

Phải sau ba tháng mẹ anh H. mới ra Huế. Bà sút gần bốn kí và hốc hác hẳn đi. Bà ôm lấy Cát Đằng khóc nghẹn “Con ơi! Bác không có duyên làm mẹ con rồi !”. Cát Đằng òa lên nức nở. Thôi cứ để bạn khóc cho nhẹ lòng.Tôi thật đau xót khi thấy đêm đêm bạn lôi tấm ảnh hai người trao nhẫn ra ngắm nghía.

Không hiểu sao nhà anh H. không lập bàn thờ. Có lẽ niềm tin của người mẹ cho rằng con mình chưa chết. Vâng, mất tích chưa hẳn là chết. Mắt anh sáng, tai anh to vậy mà. Chắc bác vẫn hy vọng một phép mầu nào đó chăng? Căn nhà đóng kín cửa. Mẹ anh H. vắng nhà luôn. Chị Hương bảo bà vào Bình Dương chơi với cháu nội cho đỡ buồn. Khu vườn rộng thui thủi một mình chị. Mỗi lần ghé thăm, nhìn Cát Đằng, chị lại bệu bạo “ Số em sao khổ thế H. ơi !”

Những đợt trao trả tù binh hai bên ở Lộc Ninh, Quảng Trị làm cho Cát Đằng hi vọng. Biết đâu anh sẽ trở về. Anh chỉ bị thương thôi mà. Bạn chăm chú theo dõi trên những tờ báo Tiền Tuyến, Sóng Thần… Nhưng tháng ngày qua. Niềm hi vọng hầu như đã thành tuyệt vọng. Bất chấp hiệp định Paris, chiến sự ngày càng ác liệt. Máy bay cứu thương liên tục hạ xuống bệnh viện Mang Cá trong Thành Nội…

Rồi Huế nháo nhác, tan tác…Rồi đất nước tang thương…

Ba Cát Đằng đi “cải tạo” vì bị xếp vào loại “ Ngụy quyền”. Bạn tôi bước xuống cuộc đời.

Trải một tấm nilon ở góc chân cầu Trường Tiền, Cát Đằng đi bán chợ trời. Cô tiểu thư con nhà quyền quý ấy bây giờ phải bươn chải với gánh nặng áo cơm của cả gia đình. Bạn bán từng cái áo nhà binh cho người đi lao động, vài cái loon Guigoz tiện cho người đi thăm nuôi, những chiếc áo dài cũ của vợ các sỹ quan một thuở huy hoàng, gói thuốc lá Tam Đảo nặng mùi khét lẹt cho đến cái chén kiểu, ly tách sang trọng một thời vang bóng…Nhìn bạn đếm từng hào tiền Bắc sau buổi chợ, tôi chảy nước mắt. Nhưng một nửa đất nước đều như thế, biết làm sao.

Thỉnh thoảng nhờ em gái Hoàng Lan coi hàng, chúng tôi lên Thiên An quét lá thông về làm chất đốt. Củi cũng phải mua bằng tem phiếu mà gia đình chúng tôi làm gì có đặc quyền đặc lợi ấy. Sau khi nhét đầy lá vào hai bao tải, chúng tôi ngồi dựa gốc cây nghỉ mệt. Cát Đằng âu sầu đưa mắt nhìn chung quanh.Tôi biết trong đầu bạn đang nghĩ về những kỷ niệm xưa. Cũng nơi này, ngày ấy có một cặp tình nhân thật đẹp đang nắm tay nhau đi dưới rặng thông. Cảnh đấy người đây nhưng một người đà khuất bóng. Tôi không dám gợi lên điều gì với bạn. Mọi chuyện cứ như là một giấc mơ nhưng mỗi sáng mai thức dậy lại phải đối mặt với sự thật kinh hoàng.

Thành phố tăm tối hẳn đi. Mới 8 giờ tối điện đã cúp. Những chiếc Honda đổi chỗ cho giai cấp cán bộ. Huế xuất hiện xe đạp thồ. Những khuôn mặt đau khổ nhếch nhác. Những câu ca dao hiện đại được thầm thì chuyền miệng. Những bài hát được chế biến bi hài. Người ta nhắc lại câu nói mười bốn chữ bất hủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. “Rồi cứ thế ni mãi răng???” Mạ tôi ngữa mặt than trời rồi chặt hết những cây mai vàng thay vào mấy luống khoai lang cứu đói!

Bốn năm sau, ba Cát Đằng chết trong tù vì sức tàn lực kiệt. Mạ bạn khô nước mắt đi thăm mộ chồng ngoài Thanh Hóa. Một mô đất trơ trọi trong rừng được đánh dấu bằng viên đá xanh lớn. Còn đâu người đàn ông khả kính trụ cột gia đình. Tóc bà bạc trắng. Cái lúm đồng tiền xưa kia đã trở thành ngoặc đơn rồi ngoặc kép.

Từ nước ngoài người con trai yêu Cát Đằng ngày đó xuất hiện như một vị cứu tinh. Anh ta gởi về giúp gia đình bạn những xấp vải, những gói thuốc tây, những đồng đô la được khéo léo nhét trong hộp sữa… Tất cả chỉ nhằm một mục đích chinh phục tình yêu của người con gái Huế mà anh ta say đắm. Mạ bạn tha thiết khẩn nài “Con ơi! Thằng đó nó tốt, lại hiền lành, con nhà trí thức. Lấy hắn con cũng sướng mà các em cũng đỡ khổ. Với lý lịch này thì nhà mình không ngóc đầu lên được . Con chỉ có nước lấy anh xe thồ hoặc ông nông dân mà thôi” . Bạn tôi gục mặt vào hai bàn tay khóc nghẹn. Phải chăng bạn đang nghĩ đến một Thúy Kiều hiện đại?

Tôi khuyên Cát Đằng : Mọi chuyện đã trở thành quá khứ. Anh H. mất rồi. Đã gần 7 năm. Bạn đâu phải là kẻ phụ tình. Trong hoàn cảnh này đôi khi phải thực tế. Bạn yên lặng gật đầu.

Mọi chuyện được thu xếp nhanh chóng. Bà mẹ chú rể từ nước ngoài trở về. Một vài lễ nghi cần thiết trong buổi giao thời. Và xúc tiến giấy tờ bảo lãnh.

Tôi đưa Cát Đằng lên thăm chị Hương lần cuối. May sao lại gặp mẹ anh H. từ Bình Dương trở về. Bác bảo có thể bác sẽ vào trong đó ở hẳn. Bác ôm vai bạn tôi: “Bác mừng cho con. Biết tin này ở đâu đó chắc H. vui lắm”. Trên bàn thờ vẫn chưa có ảnh của anh. Ghê gớm thay lòng tin của người mẹ. Bạn tôi xin phép được lạy trước bàn thờ ba lạy và nhét vào túi mẹ anh H. chút vốn liếng còm cỏi. Nước mắt người mẹ ứa ra tràn trề. Bà khẽ kêu “ H. ơi! ”.

Trước khi xuất cảnh, Cát Đằng đến nhà tôi ngủ lại một đêm. Bạn đem theo cái hộp bánh CHOCOLATE chứa những bức thư của hai người, tấm ảnh trao nhẫn được đặt lên trên. Cát Đằng bảo tôi “An Nhiên là một chứng nhân quan trọng trong mối tình lớn của mình. Mình không thể mang theo kỉ vật quý giá này. Bạn giữ giúp mình cho đến lúc nào còn có thể ”. Tôi cất vào tủ sách, lòng ngậm ngùi thương bạn.

Thời gian qua, Cát Đằng đã có một gia đình êm ấm. Ông chồng thành đạt, hai con một trai một gái xinh xắn. Cả hai đang định cư ở thành phố Denver, tiểu bang Colorado. Tôi mừng cho bạn. Cuối cùng, một cô gái ngoan hiền như bạn tôi nhất định phải được sung sướng. Qua những cuộc trò chuyện từ nước ngoài, tôi tránh gợi chuyện ngày xưa.

Tôi cũng đã có gia đình. Một ông chồng do bàn tay số mệnh sắp đặt. Một ông chồng yêu vợ thương con nhưng vô tâm. Tôi cũng chẳng bao giờ hé môi về chuyện bạn mình…

Ngày mai, gia đình tôi sẽ vào Nam lập nghiệp. Mở tủ sách, tôi cầm cái hộp bánh cũ. Những bức thư nhuốm màu thời gian nhưng tấm ảnh vẫn còn rất rõ. Ôi! Nụ cười hạnh phúc của cả hai người.

Tôi không thể đem chúng theo. Đốt thì tôi không nỡ. Suy đi tính lại, tôi quyết định đem lên nhà chị Hương, nhờ chị đặt trên bàn thờ anh H. Không còn gì để hy vọng về anh nữa rồi.

Căn nhà vẫn như xưa dù thời gian có làm nó già và cũ kỹ hơn. Tiếng chim sâu vẫn kêu lách chách trên những vòm cây xanh. Tôi dựng chiếc xe vào gốc ngọc lan, lòng bùi ngùi. Kỷ niệm ngày xưa ùa về trong ký ức. Một chiếc xe lăn trên hàng hiên. Tôi trách mình đã lâu không thăm mẹ anh. Cuộc sống bận rộn với cơm áo, gạo tiền làm mình trở thành người có lỗi.

Tôi tự nhiên đẩy cửa vào phòng khách khép hờ. Một người đàn ông nằm trên ghế sofa, tay cầm cuốn sách, chiếc chăn mỏng đắp ngang thân, phía bên dưới là một… khoảng trống. Anh ngước nhìn lên. Có phải tôi đang mơ? Đôi mắt ấy, gương mặt ấy… Đúng là anh H. Anh cất tiếng “An Nhiên đấy ư em? ”. Tôi bàng hoàng, ngơ ngẩn.

Vâng, anh H. Anh bị thương nặng nhưng không chết. Trong cuộc hành quân của Tiếu đoàn vào mật khu Đồng Tháp Mười, đại đội của anh sa vào ổ phục kích. Môt mảnh B40 đã bay vào lưng anh, chạm ngay cột sống. Anh được đưa về quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Bác sỹ cho biết mảnh đạn đã làm đứt dây thần kinh tủy sống dẫn đến khả năng bại liệt suốt đời. Trong cái đau đớn tận cùng của thể xác, anh vẫn nghĩ đến Cát Đằng. Không thể gắn số phận bất hạnh của mình đối với người yêu, anh cắn chặt răng bảo mẹ báo tin với Cát Đằng là mình bị mất tích. Và người mẹ đã làm theo lời anh…

Từ Cần Thơ, anh được chuyển vể Tổng y viện Cộng Hòa. Các bác sỹ và y tá tận tâm chăm sóc anh. Vết thương bên ngoài tạm ổn, anh sang Trung tâm phục hồi chức năng. Mẹ già theo sát anh từng bước. Đó là lý do khiến bà bảo với Cát Đằng mình vào Nam sống với người anh cả.

Sau ngày 30 tháng 4, tất cả thương binh nặng nhẹ đều bị tống ra đường. Anh về Bình Dương nương tựa nhà anh Hùng. Vết thương không còn được quân y viện chăm sóc, lâu ngày bị hoại tử và hai chân anh bị tháo khớp tới háng. Mẹ già mất, Cát Đằng đã đi xa, anh quyết định về Huế sống phần đời còn lại bên người chị gái thương yêu. Gần mười mấy năm nay anh sống nhờ vào sự cưu mang, đùm bọc của các khóa Võ Bị ở nước ngoài, những chiến hữu cùng đơn vị và một số anh em còn kẹt lại ở quê nhà… Cao quý thay tình nghĩa đồng môn của những chàng trai cùng trường Mẹ! Anh cũng tự ôn kiến thức để dịch thuật, để luyện thi cho các học sinh nghèo vào Đại học. Cụôc sống không đến nỗi thấy mình là người vô dụng.

Cầm xấp thư và tấm hình, anh H. trầm ngâm bảo tôi: “Anh cám ơn An Nhiên. Cố vật đã tìm về cố chủ. Cứ để cho Cát Đằng nghĩ rằng anh đã chết. Đó chính là tình yêu của anh giành cho cô ấy”.

Anh nâng chiếc nhẫn có viên hồng ngọc trên ngón tay áp út, âu yếm hôn vào nó. Chiếc nhẫn năm xưa, Cát Đằng đã lồng vào tay anh trong đêm Lễ trao nhẫn trước phạn xá trường VBQGVN.

Một cơn gió lạnh thoảng qua. Mùa Đông đã về trên thành phố.  

HƯƠNG THỦY