ĐÊM CHỜ QUỲNH HÉ NỤ.

 

Em đừng cởi áo vô minh
Thiền sư
Thi sĩ
bất bình… hạ sơn

trong cuộc lữ cô đơn
Xin
muôn lượng kiếp
hoá thân tìm người
Sát na ấy,
ngỡ suốt đời
Đăm đăm diện bích
triệu lời vô ngôn
Em đừng xé bỏ càn khôn
Ngàn lau trắng vẫn cội nguồn băn khoăn
Em đừng vội nhé,
Quỳnh hương…

(T/B:
Thiền sư cởi áo che quỳnh
Nghe trong khuya khoắt…
trở mình,
hạt sương…)

Tôn Nữ Thu Dung

Về người bạn tôi quen .Văn, Thi Sĩ Phạm Hồng Ân

      

                                   

 

Chiều ngất lạnh thấu hồn luân lạc
Nâng chén sầu ta lại mời ta.
Lạnh.
buốt lạnh
động bao nỗi nhớ
Tháng tư nào khóc hận can qua!
(Chiều Nghiêng Chén – NL)

 

I.DUYÊN GẶP GỠ

Tính cờ một hôm vào trang Sáng Tạo, tôi đọc được một truyện tên Nét Xuân của tác giả Phạm Hồng Ân. Đọc xong, tôi vội đọc lại thêm lần nữa vì truyện hay quá, nhân bản quá! Tôi xin được tóm tắt như sau (xin tác giả cho phép) :

Một hôm, trên đường đi bộ, khi tới giao điểm giữa Harmony Grove và Hale, chúng tôi thấy dưới gốc khuynh diệp nhiều túi giấy đựng thức ăn nhơ nhớp, bên cạnh hàng chục chai bia và lon coca đã uống hết nước, nằm lăn lóc trên cỏ. Vợ tôi dừng lại, lấy chân đá vào chiếc lon, chợt reo lên.

– Ông ơi, mấy cái này mình lượm, đem về bán ve chai, có lý lắm nha! Nhất cử lưỡng tiện. Tích thiểu thành đa. Tăng thêm thu nhập gia đình, Ông không muốn sao?

Thế là mỗi buổi sáng, vợ tôi mang theo cái túi nhựa, phòng khi lượm được cái lon hay cái chai thì đựng vào đó. . Tôi quyết định tiến tới thùng rác, quyết định nhào vô khu plaza ở Valley Parkway, lùng sục tất cả các nơi chứa rác, đảo ngược mục tiêu ban đầu, lấy việc lượm ve chai là chính, còn chuyện đi bộ chỉ là phụ...

Vợ tôi thức dậy thật sớm, ra khỏi nhà trước tiếng chim kêu, mới hy vọng làm chủ được tất cả những vỏ lon chai trong các thùng rác ở plaza. Tờ mờ sáng, ngọn đèn ở parking lot chưa kịp tắt, vợ chồng tôi đã khăn gói ra đường. Con đường thênh thang, bụi sương còn mù mờ, chưa tan hẳn trong không gian đang trỗi sáng. Tôi đinh ninh, chỉ có vợ chồng tôi là người bộ hành đầu tiên trong ngày. Nhưng không, trước mặt tôi, cách khoảng vài chục thước, hai vợ chồng người Mỹ đang lêu khêu đi với một con chó to lớn. Vợ tôi buột miệng.

Ông có thấy hai người đi đằng trước không? Họ đang xách một túi nhựa lớn hơn túi của mình. Chắc họ cũng lượm ve chai?

Tôi dừng lại, cố gắng định thần, quan sát cho kỹ hơn.

– Họ đi mua thức ăn sáng về đó. Hai người này là người Mỹ, ăn mặc đàng hoàng, chẳng lẽ họ lượm ve chai?

Vợ tôi tấn công.

– Lượm ve chai, ai lượm không được? Ở đó mà phân biệt Mỹ hay không Mỹ?

….Nơi gốc khuynh diệp, dưới ánh mắt nhòa nhạt của tôi, vợ chồng người Mỹ khom lưng xuống cỏ, vừa lượm vừa bỏ vào túi lia lịa. Chỉ vài phút sau, cái túi nhựa căng lên thấy rõ, hai vợ chồng mới chịu kéo con chó bước đi. Lúc đó, bà vợ tôi vừa lò mò tới Harmony Grove. Bà đang đứng dưới gốc khuynh diệp, chấp hai tay sau đít, mặt bí xị chờ tôi đếm bước.

– Chắc đêm qua tụi trẻ nó tụ tập tại đây ăn nhậu. Tôi đoán, vỏ chai và vỏ lon nhiều lắm. Ái chà! hai vợ chồng thằng cha Mỹ “vớt” hết. Kỳ này, mình thua, trắng tay luôn.

Tôi dịu giọng.

– Hôm nay, bà ăn nói giống dân giang hồ thế ư? Của vào tay ai thì người đó hưởng. Ganh tỵ, tham lam làm gì cho thêm mệt…

Vợ tôi nóng nảy.

– Ngày mai ông phải thức cho sớm, sớm hơn bữa nay. Nhất định ra đường thật sớm. Ông cứ chậm như rùa thế này, thà dẹp tiệm, sướng hơn.

Sáng sau, chúng tôi thức sớm hơn nữa. Vợ chồng kéo nhau ra đường,ngoài đường, bóng đêm vẫn chờn vờn khắp nẻo, chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ bình minh sắp trỗi dậy. Nhưng hỡi ôi, đằng trước vợ chồng tôi cũng là bóng dáng của đôi vợ chồng người Mỹ và con chó bẹc-giê to lớn. Họ âm thầm đi và càng lúc càng bỏ chúng tôi một khoảng cách rất xa. Vợ tôi nhìn theo, ấm ức, trút bực tức vào tôi.

– Ông cứ lề mề, chậm chạp mãi. Bữa nay vợ chồng hắn lại đi trước. Đi sau, còn cái gì nữa đâu mà lượm

Khoảng hai mươi phút sau, tôi đã thấy bóng dáng vợ chồng người Mỹ và con chó bên gốc khuynh diệp. Họ bê một túi nhựa nặng trĩu trên tay, vừa bước lên vỉa hè, ung dung đi thẳng về phía chúng tôi. Dưới ánh đèn sáng choang của đại lộ số 9, vợ tôi hậm hực ngó chăm bẳm vào túi nhựa của ông Mỹ. Trời ơi! Bên trong lớp nhựa trong vắt của túi, chúng tôi chỉ thấy vô số những tấm giấy lau miệng nhơ nhớp, những bịt ny-lon nhàu nát, những hộp đựng thức ăn bẩn thỉu cùng hàng đống những thứ linh tinh dơ dáy khác. Chúng tôi chẳng thấy hình thù của bất cứ vỏ lon hay vỏ chai nào nằm chung trong đó.

Không kềm nổi ngạc nhiên, tôi gượng cười, chào hai vợ chồng người Mỹ.

– Chào ông bà. Ông bà khỏe không?

– Cám ơn. Chúng tôi rất khỏe. Sáng nào cũng đi bộ một vòng. Vui lắm.

Vợ tôi lại ngó túi nhựa trên tay ông Mỹ, tò mò.

– Ông đựng cái chi mà lềnh kềnh trong túi vậy?

– Ồ, đó là rác ông bà ạ! Sáng nào chúng tôi cũng đi bộ, thuận tay lượm rác luôn.

Tôi ngỡ ngàng, ngó vợ tôi. Bà đang cúi mặt xuống đất như muốn lẩn tránh ánh mắt của tôi. Để che đậy nỗi xấu hổ, tôi cố dịu giọng, ca ngợi.

– Có ông bà tình nguyện lượm rác như thế này, thành phố chắc chắn sạch. Dân ở đây sẽ biết ơn, nghĩ đến ông bà.

Ông Mỹ lắc đầu.

– Đây là thói quen của chúng tôi, từ xưa tới giờ. Nó như một cái thú, một sở thích. Đâu cần ai phải ghi công hay biết ơn.

Nghe đến đó, tôi chợt bối rối, nắm tay bà vợ lôi đi một hơi, sau khi cố lịch sự chào từ giã ông bà M.

Trong lúc người ta tự nguyện, quên đi lợi ích cá nhân, đem sức lực và tinh thần cống hiến cho xã hội – thì hai vợ chồng tôi chỉ lo chuyện riêng tư. Đã vậy còn muốn tranh chấp, tị hiềm với người ta nữa.(Nét Xuân – Phạm Hồng Ân)(1)

Chính truyện ngắn đầy nhân bản này đã đánh động tâm, thúc hối tôi phải tìm hiểu anh thêm. Vào trang Facebook anh, tôi giật mình, sững sờ khi gặp bài “Đọc Kiều, ở rừng Xuyên Mộc” Biết bao kỷ niệm vui buồn dâng trào trong tôi! Xin được ghi ra đây bài này:

 Đọc Kiều, ở rừng Xuyên Mộc
(kỷ niệm 250 năm ngày sinh Nguyễn Du)

ngồi buồn mở sách Nguyễn Du
chuyền nhau đọc giữa hoang vu núi rừng
thương Kiều nước mắt rưng rưng
tội cho phận gái cùng chung kiếp sầu
thương thi hào gánh nỗi đau
tuổi thanh niên sớm lao đao cuộc đời
thương ta góc bể chân trời
chưa tang bồng đã nằm phơi bụng tù
thương người bộ tịch lù khù
bán linh hồn quỷ ngồi tu trong chùa
thương em dưới cội tình xưa
khóa tim ta bởi lá bùa sở khanh
thương hồng nhan số mong manh
mệnh sao thoát lưới trời xanh khéo bày?
thương loài ma quái sơ khai
từ trong tiền sử về đây làm người
thương non sông rách tơi bời
mảnh rơi khắp biển mảnh rời khắp nơi.
ngồi buồn ta bói Kiều chơi
thân tàn ma dại mơ đời lên mây
cám ơn giữa cõi lưu đày
ta ôm Kiều nhớ thiên tài Nguyễn Du.

Có những điều làm tôi sững sờ chú ý đến bài thơ là Xuyên Mộc,  Kiều và “cùng chung kiếp sầu”

. V Xuyên Mộc (*): vùng đất đỏ mà tôi từng biết khi đến Tiểu khu Bà Rịa, trong chiến dịch giành dân lấn đất năm 1973, và các bạn tôi, trong đó có Phạm Hồng Ân, đã kinh qua những thời gian khủng khiếp trong cái gọi là ” Trại Cải Tạo”, hay “Đại Học Máu” như thi sĩ Hà Thúc Sinh đã gọi. Tại tiểu khu Bà Rịa,tôi đã có những  kỷ niệm tuyệt vời với bạn bè những buổi sáng sớm, bên ly cà phê nóng, trên tay “Tương tư thảo”, thả hồn vào bài hát tuyệt vời:  “Xin cảm ơn thành phố có em / Xin cảm ơn một máy tóc mềm / Mai xa lắt trên đồn biên giới / Còn một chút gì để nhớ để quên”(2)

. Về Truyện Kiều: Truyện thơ tuyệt vời của Nguyễn Du chúng tôi đã nhớ nằm lòng trong  những năm Trung học thời niên thiếu (trước 1975) và đã từng rơi lệ theo nỗi truân chuyên của Thúy Kiều:

“Trải qua những cuộc bể dâu / Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Vâng, những điều trông thấy thật sự rất đau đớn lòng cho các “Chàng Kiều” sau ngày “gãy súng, tan hàng”.

Kiều hả, những chìm nổi, truân chuyên “nhầm nhò gì” so với những “Chàng Kiều” thời đại chúng tôi:

– Nàng Kiều tan vỡ giấc mộng tình đầu, ngậm ngùi bán mình vào Thanh Lâu, còn kiếm được  vàng chuộc cha. “Chàng Kiều” tan vỡ giấc mộng bảo vệ và xây dựng một xã hội tự do, nhân bản; bị lừa ép vào “Thanh Lâu Cải Tạo” chẳng kiếm được gì ngoài xa cách cha mẹ, vợ con!

– Nàng Kiều ở Thanh lâu nhàn nhã, ăn no mặc ấm, nếu không nói ăn ngon mặc đẹp. Chàng Kiều “chém tre, đẵn gỗ trên ngàn”(**),  ăn đói, mặc rét; nếu không nói là trần truồng và ăn luôn cả thức ăn dính cứt (Hãy đọc các hồi ký về trại Cải Tạo nếu các bạn không tin)

– Nàng Kiều làm đĩ chỉ ô nhục về thể xác, Chàng Kiều “làm đĩ ” ô nhục cả tâm hồn! (Không dám nói những điều mình muốn nói, nói những điều mình không muốn nói, ca tụng những điều mình biết là sai trái, không phải là làm đĩ sao? Vì sợ, vì muốn bảo toàn sinh mạng, nên bắt buộc phải làm, nhưng dằn vặt không nguôi. Ai mà không vậy! ).  Đĩ thể xác và đĩ tâm hồn cái nào nhục hơn?!

Này nhé, các bạn thử đọc trích đoạn này:

“…Công việc chăn heo của bác già (cụ Tr/ tá nhà văn Thảo Trường trong trại Cải Tạo – NL chú thích) không được lâu vì bác phạm sai lầm nghiêm trọng. Một hôm vợ trại trưởng dắt một con lợn cái đến đội chăn nuôi xin heo nọc nhảy đực. Chuồng lợn có một con heo nọc rất lớn, thuộc giống tốt. Cô phó tiến sĩ bảo ông lão mở cửa chuồng cho con cái của trại trưởng phu nhơn vào. Hai người đàn bà cầm gậy đứng ngoài chuồng lùa con cái đến gần con nọc. Cũng chẳng cần phải đợi lâu, anh heo đực vốn đang sung sức lại thiếu cái lâu ngày, nó sấn sổ nhào tới gầm lên như cọp, hai chân trước chồm lên lưng lợn của trưởng trại phu nhơn khiến con cái ngã dúi dụi muốn bỏ chạy, hai người đàn bà dùng gậy ấn đầu con cái xuống bắt nó khuất phục, bà trại trưởng còn dịu dàng vỗ về con heo của mình:

– Ngoan đi con, chịu khó tí đi con.

Cô phó tiến sĩ thì thét người tù già:

– Anh vào hẳn trong chuồng phụ với con cái bắt nó phải quì xuống… chổng mông lên cho con đực nó dễ nhảy.

Nhớ đến lời căn dặn của “thằng em”, nó bảo phải chịu khó nhẫn nhục, nín thở qua sông, bác già vội vã trèo vào chuồng. Con heo nọc đang ngon trớn chợt thấy người thì nổi ghen, giận dữ kêu rống lên xông tới bác già, sợ quá người lại tháo chạy, phóng bay ra khỏi chuồng. Hú vía! Người đàn bà và cô phó tiến sĩ cười ngặt nghẽo:

– Anh thua con lợn à?

Bác già gật đầu:

– Thua! Tôi thua giống lợn!

…….

Bác già đóng cửa chuồng rồi đi xuống bếp nấu cám. Lát sau cô phó tiến sĩ xuống đưa cho bác tù già hai quả trứng gà, cô nói:

– Trứng bồi dưỡng. Anh coi “lô”, không được đi đâu nhá, tôi đi có tí việc một lát về, “ban” có tới báo cáo là tôi đi liên hệ rau lang cho lợn ở đội nông nghiệp.

Bác già báo cáo “rõ”.

Bác già thả hai quả trứng vào trong cái ca, bác chế đầy nước sôi, canh giờ cho vừa chín tròng trắng, bốc vài hạt muối, bác ăn hai trái trứng bồi dưỡng theo đúng kiến thức sách vở mà bác đã đọc xưa kia, để đạt được độ bổ béo nhất mà không có hại gì cho lá gan vốn đang rất yếu. Thiếu thốn nhiều ngày, cơ thể chứa toàn khoai sắn, vị giác lâu không được thứ gì kích thích, đưa trứng gà vào miệng, sao mà nó thơm, sao mà nó béo, sao mà nó ngậy, sao mà nó ngon? Đến thế! Cơ chứ? Hở Trời?

Công việc xong xuôi thì cán bộ về, cô đi thẳng xuống bếp:

– Anh cho lợn giống bồi dưỡng chưa?

– Báo cáo xong hết cả. Tôi phân phối cám nấu cho các chuồng như thường lệ.

– Thế còn hai quả trứng gà?

– Cám ơn cán bộ bồi dưỡng cho, tôi đã ăn…

Cô phó tiến sĩ nhảy dựng lên, hai chân cô dậm bành bạch trên nền sân đất đã quét sạch lá:

– Tôi biết ngay mà. Ra đi một lát tôi chột dạ sinh nghi, trở về không kịp, thế anh đã… nuốt vào bụng rồi à?

– Dạ, tôi tưởng cán bộ cho tôi.

Cô phó tiến sĩ nói như hét:

– Đưa anh để anh cho vào chậu cám con lợn giống, tiêu chuẩn bồi dưỡng của nó sau mỗi lần nhảy đực. Anh ăn tranh của nó là anh bóc lột nó. Các anh bóc lột nhân dân quen rồi, bây giờ lại bóc lột của lợn nữa!

Người tù binh già ngay đơ chết đứng, lắp bắp:

– Tôi tưởng cán bộ bồi dưỡng cho tôi.

Cô cán bộ lại thé thé:

– Nó nhảy, chứ anh có… làm gì đâu mà bồi dưỡng.

– Tôi… xin lỗi…

– Xin lỗi, tư sản các anh có cái trò xin lỗi, xin lỗi là xong à? Thế còn hai quả trứng? Vấn đề là hai quả trứng chứ không phải là xin lỗi.…”(Đá mục- Thảo Trường)(3)

Thấy chưa, sự ô nhục đánh đĩ của “Chàng Kiều”!

– Nàng Kiều, sau khi gặp Từ Hải, ra khỏi Thanh lâu, làm “Bà”, ân đền oán trả…cuối cùng rồi cũng đuợc tái hợp. Chàng Kiều ra khỏi “Thanh Lâu” được gì? Không phải là con người (Ngụy, không có quyền công dân), bị cô lập, nhiều khi vợ con ly tán, gia đình tan vỡ.v.v ..Ôi, biết bao cảnh sầu đời!

Cũng may nhờ “tụi Tư Bản giãy chết” đưa tay đón, nên không chết trước ngày thấy “Thiên Đường Cộng Sản”. Anh Phạm Hồng Ân là một trong những “Chàng Kiều” đã được Mỹ đón nhận cưu mang!

Bài thơ Kiều, Xuyên Mộc này, cùng truyện ngắn nhân bản trên thôi thúc tôi tìm hiểu rõ anh Phạm Hồng Ân thêm, mới vỡ lẻ tôi và anh gần như cùng quê và có nhiều điều trùng hợp.

. Về cùng chung kiếp sầu:

– Anh ở Cà Mau, tôi ở Đại Ngãi (Long Phú) rất gần nhau theo đường bờ biển. Đại Ngãi (Vàm Tấn), cũng như Cà Mau, là địa điểm nổi tiếng cho những người vượt thoát bằng đường biển. Nơi có Cù Lao Dung (dãi đất dài nổi lên giữa sông, bắt đầu từ Đại Ngãi chạy ra tận cửa biển Trần Đề, dài khoảng 20 cây số (10 – 12 miles) ngang độ 1/2 cây số ( 1/4 mile)), với “Thanh Lâu” nổi tiếng dành cho các sĩ quan “Ngụy” và những người vượt biên bị bắt. Cũng nơi này, bao người muốn vượt thoát đã bị đập đầu, chặt cổ, thây bị vùi dưới bãi bùn, do bàn tay của “chiến sĩ can cường” Công An Huyện tổ chức vượt biên giả, để lấy vàng của những người dân vô tội muốn ra đi để tìm nơi sống an lành. Đây cũng là nơi gia đình tôi “chém vè” chờ nửa đêm không trăng, lên chiếc ghe con đi sông dài khoảng 10 mét (30 ft), thả  theo giòng nước ròng trôi ra cửa biển để trốn chạy. (Nếu chạy máy, Công An biên phòng nghe tiếng động sẽ bắn xả không nương). Bảy ngày lang thang trên biển, rồi cũng tơi tả đến được đảo Bidong (Malaysia). Cũng may không đến nỗi ăn thịt người chết như những ghe đến đảo sau. Mô phật! Amen!

– Anh có người cha thân yêu đã mất, tôi cũng có người cha yêu đã mất trong ngục tù CS, qua cuộc đàn áp Tôn Giáo sau tháng 4 /1975.

– Anh có người anh Pham Hữu Nghĩa (nhà văn Hiền Giang) đã mất tích trên chiến trường Quảng Ngãi, trong những ngày cuối cùng tháng 4 /1975. Tôi có người anh, Trung úy HQ Nguyễn Văn Yên, vượt trại Cải Tạo ở Chi Lăng (Châu Đốc) mất tích tháng 01 /1976 vì không chấp nhận “Thiên Đường CS”

Đồng cảm dễ làm người gần lại với nhau. Chúng tôi đã trở thành bạn nhau.

  1. VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ PHẠM HỒNG ÂN

Hôm nay, tôi xin phép được ghi ra vài cảm nhận sơ sài của mình về thơ Phạm Hồng Ân.

Điều đầu tiên có thể xác định thơ anh là thơ hoài niệm, bùi ngùi nhớ về. Nhớ về gi? Quê hương với mẹ cha, anh em, với những mối tình thời trẻ… Quê hương với chiến tranh cùng với những hệ lụy của nó: Chiến Hữu, Bạn Bè, Rượu, Người Nữ…Và cuối cùng… Tù Tội, Ly Hương!

Thơ anh phản ánh chính nội tâm anh theo những thăng trầm của đời mình, của quê hương nhiễu nhương. Là nỗi cô đơn của thân phận người lưu xứ, với những đổi thay đen trắng, những buồn vui về thói đời…

Đây, chân dung tự vẽ của anh:

chân dung ta – một kẻ trôi sông
và lạc chợ từ khi thua trận
từ thuở thanh niên đã mang lận đận
mất cửa, tan nhà, vỡ mộng, bay mơ.
chân dung ta – một đứa làm thơ
lúc đi học hiền như cục bột
thơ bắt ta làm người thật tốt
lỡ yêu ai, dùng chữ để ngợi ca.
nghe theo thơ, ta hết sức thật thà
đem mộng đắp thành non thành núi
rồi có ngày mộng rơi như suối
chảy xuôi dòng ra cửa sông chơi.
ta hóa thân tên lính chọc trời
khuấy nước thách nghịch thù ngạo mạn
tánh cọc cằn nhưng vẫn còn lãng mạn
vẫn yêu thơ và cũng vẫn yêu em.

(chân dung )

 

III. THƠ PHẠM HỒNG ÂN

Trước tiên, xin cho tôi được ngõ vài lời: Tôi muốn dùng chính thơ anh để dựng lại cuộc đời của người bạn qua bao nỗi thăng trầm của cuộc thế, của quê hương buồn thảm. Đây chỉ là những cảm nhận, những đồng cảm, vì thấy hình như có cuộc đời mình trong đó, chứ không phải BÌNH THƠ,  xin các bạn hiểu cho!  Tôi không phải nhà PHÊ BÌNH và cũng không có khả năng đó.

Chúng ta bắt đầu bước vào thơ Phạm Hồng Ân. Hãy đọc bài thơ Thi Sĩ hoài niệm QUÊ HƯƠNG trong  “Tiếc Thương”:

Quê hương là điều đã mất
Là điều còn lại trong tim
Quê hương là điều rất thật
Là điều hàm súc thiêng liêng.

 

Quê hương là men rượu đắng
Cụng ly say khướt một đời
Quê hương là vành khăn trắng
Tháng tư che kín một thời.

 

Quê hương là người lính trận
Nằm đây xương cốt chưa tan
Quê hương là trang sử hận
Thiên thu thương tiếc vô vàn…

(Tiếc thương)

Anh viết về người CHA của mình trong bài thơ “Dâng hương hồn ba”. Người cha thân yêu  khoắc khoải đợi chờ đứa con trở về từ ngục tù “cải tạo”, và cuối cùng chắc chết trong vô vọng, thảm sầu, trong mong đợi con về. Khi người con về thì:

Tôi trở lại ngôi nhà xưa lặng lẽ
Nhin phù vân in bóng nước đôi bờ
Vẫn bến cũ con đò trôi quạnh quẽ
Vẫn góc trời nhàn nhạt khói bơ vơ

 

Vẫn con đường dẫn vào sân xanh cỏ
Bên hiên kia còn dăm chậu hoa tàn
Ba vĩnh viễn trở thành người thiên cổ
Bình hương tro nằm đựng xác thân tan

 

Ba để lại gốc bách tùng ngoài cổng
Cậy bao năm – tôi bao tuổi thăng trầm
Cây bao giờ cũng vươn cành hy vọng
Che đời tôi khỏi nắng dữ mưa thâm

 

Tôi trở lại ngôi nhà xưa dột nát
Bình trà thơm vỡ vụn nét hoa văn
Gốc bách tùng gục ven sân trụi lá
Dòng sông trong ô uế bụi nhân gian

(dâng hương hồn ba)

Con trở về ngôi nhà xưa dột nát
Bới tàn tro để tìm lại dư hương
Chỉ còn đây di ảnh ba nhòa nhạt
Ôi mất rồi một mái ấm yêu thương

(Trở về mái nhà xưa)

Nhà xưa dột nát, bách trụi hoa tàn, dòng sông ô uế…và buồn ơi “Bình hương tro nằm đựng xác thân tan”!

Bây giờ chúng ta hãy nghe tác giả nói về người MẸ:

Ngày xưa má dắt tôi về ngoại
Trên chuyến xe ngang mấy bến phà
Nhà ngoại lá vườn che kín mái
Đường trơn mây rắc bụi mưa qua.
Bữa cơm đạm bạc canh rau má
Mà thấy đau đau dáng ngoại còng
Ơi là rau thơm bình dị quá
Nhắc lòng tôi nghĩ tới quê hương.

Hôm nay nắng hạ trời ly xứ
Nhớ má, nấu canh rau má tươi
Ôi, lá rau người thân lữ thứ
Không làm canh ngọt vị quê tôi.

(Rau má)

Hoài niệm, bùi ngùi nhớ thương mẹ và quê hương: Rau má nơi đây cũng vẫn là rau ấy, nhưng vị sao không ngọt bằng canh rau mẹ nấu cho con!

Và đây, những lời buồn thương cho số phận chua cay của thằng EM thân mến, lâu rồi không gặp:

hằng chục năm anh không gặp mày
tưởng đời chiêu đãi kẻ hiền tài
tưởng mày đã lót tình thành tổ
nào biết giờ đây mây vẫn bay.

ôi non sông một dãy quê hương
anh đau thương đành phải tha phương
tội nghiệp mày như thân lá rụng
bám gốc mà sao lạ cội nguồn?

thương quá thằng em miền cuối Việt
dòng đời vẫn ngược chuyến trôi êm
vẫn đau giọt máu xưa oanh liệt
chảy ướt bờ môi sông núi đêm.

hằng chục năm cũng nỗi buồn này
cũng khuân quá khứ nặng lên vai
cũng nhớ thằng em môi ngậm thuốc
ngạo đời qua nét mặt chua cay.

(Gặp lại thằng em trên “phê bút”)

Thơ Phạm Hồng Ân cũng là thi ca của tình yêu. Hãy xem anh viết về những mối TÌNH:

mùa hạ cho tôi lá xanh thơ mộng
dù hiên trường thút thít cuộc chia tay
dù dáng em như một bầu rượu nóng
lãng mạn nhìn, hồn vội chợt muốn say.

 

em đứng dưới cội tình khoe áo mới
làm rụng rơi từng chiếc lá xanh xao
một chùm phượng chở thơ tôi vừa tới
ửng hồng trong tim giẫy gọi tên nhau.

(Phượng và em)

Sáu giờ chiều ta chờ em tan học
Hình thì buồn bóng thì rụng quanh đây
Ta thấy em về đường xa áo đổ
Thành phố nghiêng mưa tạt tóc bay dài.

(Lời xin lỗi những giọt nước mắt người tình)

Ối đẹp quá mối tình thời học trò, thời phượng đỏ!

thơ anh đứng bên trời mưa tầm tã
ghe em xuôi nước đổ ra sông
phù sa đó, tình anh như ngọn mạ
cắm sâu vào lòng đất, đợi đâm bông.

 

hạnh phúc là nụ hôn còn bỏ lửng
là đôi môi chưa đỏ dấu yêu thương
là đầu lưỡi tê vị tình chập chững
thèm cuồng điên mộng mị cõi thiên đường.

(Tạ ơn những mối tình)

Tình anh như ngọn mạ cắm sâu vào lòng đất… đợi đâm bông. Có ví von nào đẹp hơn?

Em về khua tiếng guốc đêm.
Dẫm trong ta triệu dấu êm tình đầu.
Chao ôi, đôi gót hồng đào.
Nghiêng nghiêng năm ngón đi vào tim ta.
Ðất nằm nhớ bước chân qua.
Nhớ con bướm lượn mù lòa đường bay.
Nhớ sao, áo lụa trang đài.
Thơm hương mật cúc, vườn ai, đầu mùa.

(Tám – Lục Bát)

“Chao ôi, đôi gót hồng đào, Nghiêng nghiêng năm ngón đi vào tim ta” Lời thơ đẹp và mượt mà biết bao nhiêu!

Nhất là những bài thơ viết về CHIẾN TRANH, về NGƯỜI LÍNH, và hệ lụy của nó đương nhiên là RƯỢU  và ĐÀN BÀ, TÌNH CHIẾN HỮU, chuyện trước sau, mất còn…phải không các bạn?

Bắt chước người xưa…quân mạc tiếu
Vui cười quên tuốt bóng chim bay
Đánh trận xong rồi về động liễu
Tìm nàng tiên dắt cõi thiên thai

(Tháng Tư Giữa Chiến Trường Long – Khốt)

Ngủ ở Hòn Thơm ta lụy mãi
Mùi khô ngai ngái vịnh Dương Đông
Có cô giáo đảo tay mềm mại
Rót rượu đưa ta đến cõi hồng

(Từ sông ra biển)

Buổi sáng buồn tình ta uống rượu
Hình như có nắng ở trên cao
Bạn bè ngồi ghế chưa đông đủ
Không lẽ mời em thế chỗ sao?

(uống rượu với duyến ở thạnh-phú-đông)

ĐÀN BÀ và RƯỢU hòa trộn nhau trong cuộc đời của LÍNH. Tửu Sắc mà (Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi / Dục ẩm tì bà mã thượng thôi / Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu / Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi –  Vương Hàn)

Đêm ngửa nghiêng con sóng bạc đầu
Gõ bầu rượu hát suốt canh thâu|
Bởi em như nhạc rơi trên đảo
Làm nhói tim ta buổi tiễn nhau

 

Rượu đầy ly nhấp nửa phương trời
Một nửa chờ em uống chung môi
Độc ẩm tang bồng hề đọc ẩm
Bến cũ say mèm giấc mộng trôi

(Độc ấm trên đảo)

CHIẾN HỮU càng đậm tình thêm qua chén RƯỢU

Gặp mi giữa chiến trường Long – Khốt
Bụi bám đầy râu, lộ nụ cười
Khói súng khét hơi người, mặc kệ
Khề khà ta vội cụng ly chơi.
Tàu ủi bãi nằm im kích giặc
Gò cao rải lính phục từng khoanh
Yên chí ngồi nhìn mưa trút thác
Rượu dư ta cạn suốt đêm tàn.

(Tháng Tư Giữa Chiến Trường Long – Khốt)

Tưởng đâu mày nát biển tan sông
Hồn đã bay theo men rượu đế
Tưởng đâu mày ngã ngựa rơi cương
Chân bước một hơi xa nghìn dặm.

Mày hãy ngồi đây chơi rượu đế
Nền đất, chiếu rơm, trời sáng trăng
Không ai ca sĩ, ta hò hét
Ðời vui đâu thể thiếu âm thanh.

(Mừng bạn)

Và cũng chính RƯỢU mới có thể làm vơi đi được nỗi buồn mất mát!

Hôm nay nhận được tin mi ngã
Trên đỉnh Cô -Tô nắng chói chang
Đù má, quân thù chơi xỏ lá
Rình mi bắn lén lúc dừng quân.
Tau ở đầu sông ôm vết nhức
Ực bình toong rượu khóc hu hu

(Tháng Tư Giữa Chiến Trường Long – Khốt)

Tôi đồng ý với thi sĩ Lê Mai Lĩnh: “Một điểm giống nhau giữa thi sĩ người lính NGUYỄN BẮC SƠN và người lính thi sĩ PHẠM HỒNG ÂN: Đó là những tiếng CHƯỞI THỀ RẤT LÍNH, RẤT LÃNG MẠN, RẤT DỄ THƯƠNG. Tiếng chưởi không làm ai giận, ghét, mà nó toát ra vẽ THẬT THÀ, CHÂN CHẤT, CỤC MỊCH”:

Đù má, quân thù chơi xỏ lá
Rình mi bắn lén lúc hành quân

(Tháng Tư Giữa Chiến Trường Long – Khốt)

Chinh chiến tạm quên đi thằng bạn
Mềm môi đù má cuộc đời chơi

(Uống rượu với duyến ở thạnh-phú-đông)

Vâng, tiếng CHƯỞI THỀ của người lính miền Nam rất độc đáo, rất dễ thương và…rất nhân bản, nhân hậu! Và cũng chính vì nhân bản nên mới là “Bên Thua Cuộc”. Nhớ lời một ông tướng CS đã nói với tướng VNCH Lê Minh Đảo rằng:  “Các ông thua, một phần, bởi vì các ông không dám bắn vào nhân dân”  (4)

Ba mươi tháng tư với bao đau thương đổ ập xuống với bao tan vỡ, chia lìa, mất mát…

Tháng tư chiến trường vang dội
Bão tố mờ mịt đất trời
Ta như bèo bọt rã rời
Lạc nhau giữa dòng nước chảy
Giặc về đồng khô cỏ cháy
Mẹ nằm còi cọc trơ xương
Em đành bán phấn buôn hương
Nuôi cha rừng sâu tù rạc
Tháng tư hoa trôi bèo giạt
Gặp nhau bên rào trại giam
Một vạt nắng rớt vội vàng
Trên mắt em hoe hoe đỏ
“Ái phi” ngày xưa còn đó
Trơ vơ tấm thân đã tàn

Tháng tư như lưỡi dao sắc
Bạo tàn cắt nát tim ta…

(Nhật ký tháng tư)

Xé tờ lịch cũ, tháng tư
Dường như lòng chợt nát nhừ dấu dao
Dường như sông nước ba đào
Từ âm hư bỗng ào ào bão giông
Xé tờ lịch cũ, khóc ròng
Nổi trôi vận nước triệu dòng lệ tang
Xé tờ lịch cũ tan hoang
Tháng tư, lịch sử bàng hoàng sang trang.

(Tháng tư, xé tờ lịch cũ)

Về cảnh đày đọa lao tù thì tôi đã nói ở phần trên qua bài thơ “Đọc Kiều, ở rừng Xuyên Mộc”, tôi chỉ xin ghi thêm vài hàng thơ anh ở đây.

Sáu năm tù ứ hự
Tau thành kẻ bất tri
Hàn nhân phong vị thú
Giận đời, tiếu hi hi!

Mười năm thề bỏ rượu
Gặp bạn bỗng hóa cuồng
Rượu như dòng nước lũ
Trào dâng – lệ tuôn tuôn.

(Sáu năm rồi cố xứ)

Thơ anh cũng phản ánh nỗi cô đơn của chính anh qua thân phận người lưu xứ, với bao đổi thay đen trắng, bao buồn vui về thói đời…

Ðêm Cali nhớ Sài Thành
Rượu Sài Thành nhớ bài hành phương xa
Hành phương xa nhớ trăng tà
Ôi, thân viễn xứ còn ta nhớ người
Xin nhau một chút môi cười
Ðể đưa vui giữa cuộc đời lao đao.

(Hai-Lục bát tình)

“Xin nhau một chút môi cười, Ðể đưa vui giữa cuộc đời “…lưu lạc! Được không khi lòng người đã đổi thay vì đồng tiền, vì danh vọng?

Những Dũng, những Hoàn, những Lê, những Cửu
Mỗi đứa một phương trôi nổi như mây
Từ lúc lui quan, tau thề bỏ rượu
Bỏ rượu…mới hay tau thất lạc bây.

Nhớ thời chiến tranh gặp nhau Mộc Hóa
Tan trận về kinh bữa mắm bữa chao
Uống ngụm nước sông chợt cười khoái trá
Hút hơi thuốc “chùa” để thấy thơm râu.

Nhớ bậu sang sông bậu về bến lạ
Một đứa thất tình, cả bọn như điên
Lít đế cưa đều chửi thề tá lả
Hận kẻ bạc tình: đứa ngã đứa nghiêng.

Nhớ lát mì khô trại giam Xuyên Mộc
Nuôi vạn tù binh phá núi trồng rau
Nhân phẩm thua xa cục đường tán mốc
Thằng đói nuôi thằng lỡ vận ốm đau.

Nhớ lúc ra tù đời lăn đời lóc
Ðứa bán cà rem, đứa đạp xe ôm
Gặp nhau đói meo choàng vai bật khóc
Nắm tay nhắc thầm: giữ chút danh thơm.

Bây giờ tụi bây cửa rộng nhà cao
Quên mất một thời quá khứ thương đau
Vỗ ngực xưng danh anh hùng mã thượng
Tửu hậu trà dư thóa mạ lẫn nhau.

(Tau thất lạc bây)

“Bây giờ tụi bây cửa rộng nhà cao Quên mất một thời quá khứ thương đau” và rồi “Tửu hậu trà dư thóa mạ lẫn nhau”. Ối thói đời, Thi sĩ cô đơn là cái chắc!

Cái sự đời chẳng khác cuộc chơi
Thằng mạt rệp như tau lại khơi khơi qua Mỹ
Nhớ bạn bè tìm tri âm tri kỷ
Đốt đuốc mười năm vẫn chỉ mình ta
Tau biết bây giờ tụi bây đỏ thịt thắm da
Uống sữa riết thân hóa thành kẻ lạ
Thằng nào cũng muốn làm cha thiên hạ
Nên kéo đời tư nhục mạ lẫn nhau
Tụi bây quên năm tháng thương đau
Quên đồng đội nằm chưa yên mồ mả
Một lần nữa…ta thêm lần quỵ ngã
Giống như lần thất trận ngày xưa.

(Thất trận)

Thôi thì “Rót ly sảng khoái. Ta cười với ta”. Ta lại mời ta!

Rượu dư. Ghế trống. Ðêm dài.
Bạn vơi. Tình cạn. Ðời đầy vết đau.
Ðếm mưa. Giọt trước. Giọt sau
Ðếm ta. Chợt nhớ bạc đầu sáu mươi.
Ừ thì…Mừng tiếp cuộc chơi
Rót ly sảng khoái. Ta cười với ta.
Rượu dư. Ghế đợi bạn già
Tình ngao du
Cõi ta bà nào xa?
Ở đây. Trơ trọi mình ta
Xuân sau. Xuân trước. Vẫn là xuân ta…

(lục tuần xuân)

Và cuối cùng “thắng cuộc / thua cuộc”. Được gì?!

Thắng chỉ để làm thằng nô bộc
Còn thua thì…lạc mất quê hương.

 

III. KẾT

Để kết bài “cảm nhận” này, tôi xin được dẫn ra đây lời tâm sự của chính Thì Sĩ Phạm Hồng Ân:

“Goethe viết : ” Những thi nhân cận đại đã hòa quá nhiều nước lã vào mực.” (Modern poets mix too much water with their ink.).Tôi không đến đỗi kiêu căng đổ nước lã vào ngòi bút, làm nhợt nhạt đi nét đẹp của thi ca. Tôi làm thơ với tất cả tấm lòng, trái tim. Chữ nghĩa đẫm ướt từ máu, từ nước mắt của nỗi đau nhân thế, và của chính mình. Hãy để thơ tôi tự do, bay bổng theo ý thích ngôn ngữ

Có ai làm thơ mà không có một lần cô đơn bao giờ? Có ai lên đỉnh cao, dù đỉnh “hy vọng” hay “tuyệt vọng” mà không cảm thấy lẻ loi bao giờ? Tôi ở trạng thái đó trong thời làm thơ với bạn học, trong thời quá vãng của cuộc chiến, trong thời bị bỏ rơi, bị hành hạ nơi lao tù…

Trong “cái cô đơn” còn có “cái mạo hiểm” gắn bó. Thời Tản Đà, ông đã từng thốt “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Biết vậy, gần năm mươi năm qua, tôi vẫn lì lợm nhào lộn trong thế giới văn chương rẻ rúng đó. Thê thảm hơn, THƠ là loại văn chương ít người đọc nhất, cũng không phải là một nghề mưu sinh, thế mà nó vận vào thân như mệnh số trong gần suốt một đời người. Như vậy, có phải mạo hiểm chăng? Trong “chốn hạ giới” này, TRI KỶ TRI ÂM dễ có mấy ai? Tôi cứ lì lợm nhào lộn trong thế giới chữ nghĩa của mình.

Thơ là ngôn ngữ tuyệt đỉnh của văn chương. Nó chuyên chở tình yêu. Bộc trực, hào khí. Thử thách sự thủy chung. Ngạo nghễ trong ngục tù. Nó xót đau niềm vong quốc. Dày vò kiếp tha hương, Nó tiếp cái hùng tráng thiên cổ…ngậm ngùi cho tới nghìn sau.

Tôi muốn viết về những điều này, hơn mấy chục năm qua, nhưng… khi viết lên, lại chẳng phô bày được điều gì. Thơ tôi chỉ là những mảnh vụn của sỏi đá, là giọt nước của ao tù, là tia nắng mỏng manh cuối ngày, là viên đạn lép trong nông súng đã ri, là thư ngôn ngữ bất lực của một thế hệ chịu lắm đọa đày.

Trong nỗi tột cùng thất vọng đó, may mắn thay, tôi còn ghi lại được dăm kỷ niệm ngọc ngà, vài hình ảnh vàng son đã qua…bằng một rung cảm chân thật của thi ca,

Xin bạn hãy thân tình xem tập thơ này là một thứ tiêu khiển trong giây phút nhàn nhã, tựa như bạn nhấp một chén trà hay chiêu một cóc rượu cùng bằng hữu cố trí ” (PHẠM HỒNG ÂN)

Sau cùng, xin được vài lời cùng Thi Sĩ: Thi hào Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh ký có hai câu cuối:

Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Chẳng hiểu rồi ba trăm năm nữa,
Thiên hạ còn ai khóc Tố Như ?(Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Ba trăm năm sau (thiên cổ) ai là người hiểu , khóc cho Nguyễn Du.

Phạm Hồng Ăn có một thi tập “Thiên Cổ Bùi Ngùi”, thơ hoài niệm, bùi ngùi thương về chuyện xưa , chuyện quê hương của thời “dâu bể”. Ý của tác giả chắc cũng mong cho người sau này, khi đọc lại, sẽ bùi ngùi khóc thương. Khóc thương gì?

Khóc thương theo những áng thơ và… cũng khóc thương cho AI làm ra nó!

Chẳng hiểu rồi ba trăm năm nữa,
Thiên hạ còn AI khóc AI đây?

Phải không Thi Sĩ?

 

Nguyên Lạc        (4/ 2017)

—————————————————————————————————————–

Ghi chú:

(*): Xuyên Mộc là một huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, khoảng 642,18 km², phía đông giáp huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận; phía tây giáp huyện Châu Đức và Đất Đỏ; phía nam giáp biển Đông, phía bắc giáp huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.(Wikipedia)

(**) Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn

Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai!

Miệng ăn măng trúc, măng mai

Phúc âm chiều

 

Nghe từ bờ bãi tịch liêu
Vang lời kinh nguyện trong chiều tàn phai
Tôi gom khói sóng sông dài
Gửi vào hư ảo mưa đau phận người

 

Chìm dần vào bóng kinh thư
Một tôi . một nửa đời hư lặng thầm
Còn đây hiu hắt nhang trầm
Khói cay niềm nhớ sương bầm nỗi đau

 

Em về từ mộng ngàn sau
Bờ sông sóng vỗ tình nhàu cõi tôi
Giữa trần gian đắng phai phôi
Tôi ngồi nhìn bóng mình tôi, thở dài

 

Nghe chiều và những sớm mai
Cuốn trôi đi những hình hài qua đây
Còn trong nỗi nhớ vơi đầy
Phúc âm em gửi chạm ngày phù du…

 

Nguyễn Minh Phúc

 

Vào Quán Gió Trưa

ĐỌC ĐỐT LỬA NGHE SƯ ĐÀN CỦA NGUYỄN XUÂN THIỆP

Cách đây khoảng 10 năm, tôi nhặt được đâu đó tập truyện và những đoản văn của Lâm Chương. Sách được xuất bản tại Mỹ, nhưng photocopy tại Việt Nam. Sau trận phần thư và đưa một số nhà văn đi cải tạo, thì việc lưu truyền một tác phẩm từ một người tù cải tạo là cực kỳ nguy khốn. Nhớ trước đây, Hoàng Hưng chỉ giữ một bản chép tay tập thơ của Hoàng Cầm mà phải bị tù đến mấy năm. Thì ai đó xem xong rồi xóa dấu vết bằng cách thải vào đống ve chai cũng là chuyện thường ngày.

Chính trong tập truyện nhàu nhò bị kết tội là phản động ấy, tôi đã đọc được bài thơ rất dị thường của Nguyễn Xuân Thiệp. Lâm Chương kể:” Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp có bài Đốt lửa nghe sư đàn. Đọc lên cứ nghe rờn rợn. …mùa đông rét mướt, áo quần không đủ che thân…lạnh quá không ngủ được, tù ngồi hơ tay bên đống lửa…”

Bài thơ ấy mà chỉ cần một câu lọt đến tai ban quản giáo là coi như tác giả sẽ được cọng thêm nhiều năm trong con số năm đã cao chất ngất của mình! Đó là chưa nói tới hình phạt cùm chân tức thời, e rằng đã vùi thây đâu đó bên bờ suối.

Bài thơ mở đầu bằng những chữ khô cứng, dù đứng cạnh nhau thành câu sáu, bảy chữ nhưng vẫn rạc rời như những đốt xương vỡ vụn vừa bốc lên từ mộ sâu:

đốt lửa. chừng như người qua khe
mùa đông. tím. những nương mưa
đốt lửa bên trong lán suối
mưa.mưa trên con đường núi
có ai tìm vầng trăng mọc khuya
rét.đói.sầu miên. đất.đá.gỗ
đầm sấu hoang.lau thắp.bến chờ

Bạn hãy nhìn cho kỹ những dấu chấm ở hai câu cuối. Những dấu chấm bé nhỏ, lặng lẽ, đã biến những từ và cụm từ trở thành mồ côi, nếu không muốn nói là bị giam cứng trong ngục tù. Có thể tin rằng đó là thân phận của những người tù, dù biết nhau nhưng không dám nhìn nhau. Trước 75 những người viết văn và làm thơ ai chẳng biết Tô Thùy Yên nổi tiếng với những bài thơ tự do, vậy mà, mãi sau này khi ra tù Lâm Chương mới biết cũng là một trong những người “rét.đói.sầu miên” ngồi nghe sư đàn.

Đốt lửa được lập lại hai lần, nhưng những câu thơ vẫn lạnh ngắt, vì mưa. mưa. mưa…mưa đến nỗi mùa đông tím. Chữ tím ở đây không lãng mạn như màu tím hoa sim của Hữu Loan, mà là tím tái (vì đói và lạnh) và tím gan tím ruột (vì uất hận). Đói.rét.sầu miên…nhưng lạ lùng làm sao, những người tù miền nam vẫn thao thức “tìm vầng trăng mọc khuya”. Đó là chút lãng mạn rất người vẫn còn sót lại của những kẻ bị cướp tất cả, bị đày đọa xuống tận cùng của cái ác!

Chính vì vậy mà tiếng đàn của nhà sư mặt ốm bỗng rộ lên vừa hư ảo vừa thắm thiết lạ thường. Nửa như tiếng của quỷ ma, nửa như tiếng của tù thổn thức.

sư ngồi đàn như cây trăm năm

…cây đàn gỗ xưa như mặt trăng

…năm ngón tay gầy như chim ưng
bật dây.rỏ máu.hoàng hôn rừng
gọi những mùa đi không trở lại
đàn qua.tiếng buồn trong lau sậy
gió thu đưa võng. ai chờ ai

Nhà sư này là ai vậy? Có phải nhà sư ở Hàn Sơn Tự, không đánh chuông mà lại gảy đàn? Không. Nhà sư này cũng là một người tù!

kể từ sư rũ áo đi đày
cái tâm mây nổi. trăng thiền đạo
cuồn cuộn trường giang sóng lục đầu

Một nhà sư thoát tục đến như vậy mà muốn sống đành phải:

đầm cỏ nước in thân cò vạc
bắt cua.vồ nhái. ngày qua ngày

Để rồi:

đêm đêm ôm đàn trong xó tối.

Người đàn “bật dây.rỏ máu” còn người nghe thì sao?

người nghe đàn khơi đỏ lửa khuya
tóc râu tiền kiếp đầm hơi mưa

Bảy chữ câu sau vẽ nên hình hài vừa bi vừa tráng của những người tù. Giống như ba ngàn tân khách tóc dựng ngược khi nghe Kinh Kha hát “tráng sĩ hề nhất khứ bất phục phản!”

Tiếng đàn khiến họ “bỗng thấy sân nhà cây sứ gãy/ năm cửa ô quan ngấn lệ mờ/ những nẻo chiều sương người rách rưới/những mái nhà mưa xoi nắng rọi/ lọ rơi.sành vỡ.lục cục âm…”

Khi tiếng đàn của nhà sư mặt ốm khiến “ gỗ nổi.đá lăn.trâu bứt gốc/hồn u. mả tối./rạng tiếng Ngư Dương thơ quỷ đọc…”

Nhưng khi tiếng đàn dứt, hãy còn nghe “tiếng đàn trôi trong hương lá xanh” và trông thấy tiếng “đàn ngân. cánh chim soi trên đầm” Thanh bình làm sao! Bát ngát làm sao! Những người tù quên “đói.rét.sầu miên” quên những ngày dài ô nhục, tưởng chừng “mặt đất vừa qua cơn mộng dữ” để mơ thấy “từ trong động ấy giờ trăng mọc/ ánh trăng chảy vàng trăm cửa sông”.

Nhà sư mặt ốm kia dù “bắt cua.vồ nhái” qua tiếng đàn như “mưa thu rơi trong trăng” đã giải thoát cho chính mình và liễu ngộ được cái chúng sinh tù tội đang ngập chìm trong khổ đau cùng tột.

Bài thơ chẳng những dị thường về ý mà còn dị thường về những hình ảnh. “tím những nương mưa”, “cây đàn gỗ xưa như mặt trăng. gốc cây cháy như đầu thiên cổ. huyễn huyễn củi tàn màu kinh xưa”.

Và rất nhiều câu thơ đẹp:

cái tâm mây nổi trăng thiền đạo
cuồn cuộn trường giang sóng lục đầu
sư ngồi đàn như cây trăm năm
hơi đàn trôi trong hương lá xanh
ánh trăng chảy vàng trăm cửa sông…

Thử nghe lại tiếng đàn trong những áng thơ cổ. Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu: “đàn kêu tích tịch tình tang/ai đem công chúa lên thang mà về” Tiếng đàn kể công chẳng có chút gì là mã thượng. Với Nguyễn Du, ba lần Kiều đàn là ba tâm trạng khác nhau. Lần đầu khiến Kim Trọng phải “khi vò chín khúc khi chau đôi mày”. Lần thứ hai trước Thúc Sinh thì “bốn dây như khóc như than/ khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng”. Lần thứ ba với Hồ Tôn Hiến: “một cung gió thảm mưa sầu/bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay”. Đúng là : “rằng hay thì thực là hay/ nghe ra xưa cũ mượn vay thế nào!”

Trong khi, tiếng đàn của nhà sư trong đêm đốt lửa tuy có mượn của Nguyễn Du mấy chữ “bật dây.rỏ máu”, nhưng so  những câu “tiếng khoan như gió thoảng ngoài/ tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa” với “dạo đàn.mưa thu rơi trong trăng/ tiếng mau. chim bay qua mùa đông” thì thực hoàn toàn khác xa, nếu không muốn nói mới lạ hơn, hay hơn. Còn như “ve ngâm vượn hót nào tày” mà so với “đàn ánh thép xanh gươm phạt trúc/gỗ nổi.đá lăn.trâu bứt gốc/hồn u mả tối đây là đây/rạng tiếng Ngư Dương thơ quỷ đọc”, nếu cụ Nguyễn Du có sống lại cũng phải khen Nguyễn Xuân Thiệp là tài.

Có một tiếng đàn được coi là hay nhất cổ kim, ấy là tiếng tì bà trên bến Tầm Dương của một kỹ nữ về già phải kết duyên cùng khách thương. Tiếng đàn ấy làm cho Tư mã Giang châu phải lệ đầm áo xanh vì cảm phận mình đi vào nơi đất trích. Nhưng đó là một bối cảnh hết sức lãng mạn, có ánh trăng, có hơi thu và nhất là tiếng đàn của một kỹ nữ đẹp tuy không còn trẻ. Tiếng đàn ấy đương nhiên là mênh mang bát ngát.

Còn nhà sư rũ áo đi tù, cùng với những người tù đói rét, trong đêm tối đốt lửa, bối cảnh hoàn toàn khác, có thể nói là cực kỳ trái ngược. Chính vì vậy mà tiếng đàn ấy không chỉ nói lên một phận người mà hàng vạn người, rộng hơn là tiếng kêu đứt ruột của mấy chục triệu người miền Nam.

Lâm Chương bảo: “ Nguyễn Xuân Thiệp thai nghén và làm bài thơ này từ năm 1977 đến 1988. Mười một năm ròng rã, dốc hết tâm huyết cho một bài thơ đầy nội lực”. Chỉ một bài này thôi cũng đủ phơi bày hết cả cái Nhân, cái Bi, cái Trí và cái Dũng của Nguyễn.

Xin được ngã mũ kính chào*
10/4/2017
KHUẤT ĐẨU

*Đốt Lửa Nghe Sư Đàn

đốt lửa chừng nghe người qua khe
mùa đông tím những nương mưa
đốt lửa bên trong lán suối
mưa.mưa trên con đường núi
có ai tìm vầng trăng mọc khuya
rét.đói.sầu miên.đất.đá.gỗ
đầm sấu hoang.lau thắp.bến chờ

lửa đã cháy.cháy trên củi ướt
tù ngồi hơ tay nghe cổ tích
chuyện Huyền Trang đi thỉnh kinh
bỗng trong đêm rộ tiếng ai đàn
lửa củi soi nhà sư mặt ốm
kể từ sư rũ áo đi đày
cái tâm mây nổi.trăng thiền đạo
cuồn cuộn trường giang sóng lục đầu
đầm cỏ nước in thân cò vạc
bắt cua.vồ nhái.ngày qua ngày
đêm đêm ôm đàn trong xó tối

năm ngón tay gầy. tiếng thổ cầm
sư ngồi đàn như cây trăm năm
lửa cháy xèo xèo nùi nhựa ngái
khói tỏa mù khe.màu cỏ rối
dạo đàn.mưa thu rơi trong trăng
tiếng mau.chim bay qua mùa đông
đàn ánh thép xanh.gươm phạt trúc
gỗ nổi.đá lăn.trâu bứt gốc
hồn u.mả tối.đây là đây
rạng tiếng Ngư Dương thơ quỷ đọc
lán sâu.bếp ảo.lửa đào lay

cây đàn gỗ xưa như mặt trăng
năm ngón tay gầy như chim ưng
bật dây.rỏ máu.hoàng hôn rừng
gọi những mùa đi không trở lại
đàn qua.tiếng buồn trong lau sậy
gió thu đưa võng.ai chờ ai
đêm cẩm khê.đàn trong u độc

người nghe đàn khơi đỏ lửa khuya
tóc râu tiền kiếp đầm hơi mưa
bỗng thấy sân nhà cây sứ gãy
năm cửa ô quan ngấn lệ mờ
những nẻo chiều sương người rách rưới
những mái nhà mưa xoi nắng rọi
lọ rơi.sành vỡ.lục cục âm
khuya rồi.ai đẽo gỗ huỳnh đàn
ửng sắc hoa gầy trên áo quan

sư bỗng ngừng đàn.nhìn đống lửa
gốc cây cháy như đầu thiên cổ
huyễn huyễn củi tàn màu kinh xưa
mặt đất chừng qua cơn mộng dữ
nên ngón tay gầy như ngó sen
hơi đàn trôi trong hương lá xanh
đàn ngân.cánh chim soi trên đầm
mùa hoa mơ nở trắng non ngàn
từ trong động ấy giờ trăng mọc
ánh trăng chảy vàng trăm cửa sông

bếp rụi.lửa riu.âm đàn dứt
trăng lên rồi.hổ xuống cẩm khê

NGUYỄN XUÂN THIỆP

 

TA CÙNG NGƯƠI MẶC ÁO NHÀ BINH

 

Bốn mươi hai năm ta cô độc
Biết nhà ngươi đã chết lâu rồi
Hôm tiểu đoàn rút về Xuân Lộc
Một trời mây trắng phủ khăn sô

Bi đông rượu ta mời ngươi uống
Lang thang chi khắp núi – khắp rừng
Đù má ! Hỏi ngươi sao ta sống
Để hết cuộc đời mất quê hương ?

Chiêm bao ta thấy ngươi buồn lắm
Lúc nghe tuyên bố lệnh quy hàng
Xương máu anh em chưa hề cạn
Tổng Thống ơi !
Sao ngài bức tử cả đoàn quân ?

Ta khóc thủ đô treo cờ rũ
Còn ngươi gạt lệ nhớ Sài Gòn
Vận nước thăng trầm theo lịch sử
Ta thương hoài Hòn Ngọc Viển Đông

Cố xứ ư ? Chiều nay cố xứ
Lòng đau nhỏ xuống bốn mùa đau
Ngươi ở bên ta hồn là khói
Bầu bạn sớm hôm lúc bạc đầu

Bốn mươi hai năm cười ô nhục
Ta cứ mơ hoài tuổi xuân xanh
Dẫu cho sương muối giăng đầy tóc
Ta cùng ngươi mặc áo nhà binh

Ta cùng ngươi lên đường ra trận
Vẳng nghe hào khí tiếng kèn đồng
“ Anh hùng tử khí hùng bất tử “
Trọn tình Tổ quốc với non sông

LINH PHƯƠNG

Nói Chuyện Với Phạm Công Thiện

Người vào tịnh thất sống ba năm
Cất tiếng không lời để nói năng
Buổi sáng thinh không chiều tới chậm
Tiền kiếp chen vô cạnh chỗ nằm

Ta muốn cùng người một tối nay
Đầu sông uống rượu cuối sông say
Người trên sườn núi, ta từ biển
Tự giấc mơ nào đã tới đây?

Dưới bóng tường im, giữa nhạc không
Đời đang phía trước bỗng mung lung
Thơ như hữu thể mà vô thể
Có cũng xong, mà không cũng xong

Sáng dậy ta nhìn tục lụỵ ta
Những đi không tới, đến không ngờ
Xóa luôn thì dứt, nhưng tâm thức:
Kinh Pháp Hoa nào dậy cách xa?…

Trong chín ngàn âm có hải triều
Còn thêm một kiếp nữa phiêu lưu
Này người bỏ sóng sang thuyền tĩnh
Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu

Nguyên Sa

THÁNG TƯ: GỌI TÊN CUỘC CHIẾN

“>

Ngày 23 tháng 3, 2017, Giáo sư Drew Gilpin Faust, Viện trưởng Viện Đại Học Harvard viếng thăm Đại học Fulbright Việt Nam. Nhân dịp này bà đọc một diễn văn tại Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn. Phần khá dài của diễn văn, bà dành để nói về Chiến tranh Việt Nam, nội chiến Hoa Kỳ và hòa giải Nam Bắc Mỹ.
Trong suốt diễn văn bà Drew Faust không hề nhắc đến sự chịu đựng của người dân miền Nam Việt Nam hay nhắc đến Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), chính phủ đại diện cho hơn một nửa dân số Việt Nam ngày đó
Người viết không nghĩ bà dè dặt hay không muốn làm buồn lòng quốc gia chủ nhà. Nhưng giống như một số khá đông các trí thức Mỹ trước đây, sau 44 năm từ khi các đơn vị trực tiếp chiến đấu Mỹ rút khỏi Việt Nam vào tháng Ba năm 1973, bà vẫn chưa nhìn sâu được vào bản chất của cuộc Chiến tranh Việt Nam.Việt Nam trong diễn văn của bà Drew Faust là Cộng Sản Việt Nam.
Bà Drew Faust không hiểu được trên con đường Việt Nam đầy máu nhuộm chạy dài suốt 158 năm, từ khi viên đại bác của  Rigault de Genouilly bắn vào Sơn Chà, Đà Nẵng sáng ngày 1 tháng 9, 1859 cho tới hôm nay, nhiều triệu người Việt đã hy sinh vì độc lập tự do dân tộc. Đảng CS là một nhóm rất nhỏ, và chỉ ra đời vào tháng 3, 1930. Cộng Sản thắng chỉ vì họ có mục đích thống trị rõ ràng, dứt khoát, kiên trì và bất chấp mọi phương tiện để hoàn thành mục tiêu đã vạch ra.
Bà Drew Faust là người học nhiều, hiểu rộng. Chắc chắn điều đó đúng. Nhưng nghe một câu chuyện và cảm thông với những nạn nhân trong câu chuyện là một chuyện khác. Ngôn ngữ không diễn tả được hết nỗi đau và đôi mắt thường không thấy được những vỡ nát bên trong một vết thương.

 Là một sử gia, bà biết lịch sử được viết bởi kẻ cưỡng đoạt không phải là chính sử. Chính sử vẫn còn sống, vẫn chảy nhưng chỉ được hiểu bằng nhận thức khách quan, tinh tế, chia sẻ với những tầng lớp người đang chịu đựng thay vì đứng về phía giới cầm quyền cai trị.
Một ví dụ về chính sử. Năm 1949 tại Trung Cộng, trong cuộc bỏ phiếu bầu chức vụ Chủ tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Mao tin tưởng tuyệt đối 547 đại biểu sẽ bỏ phiếu cho ông ta. Không, chỉ có 546 người bỏ phiếu thuận, nhà nghiên cứu triết học Zhang Dongsun bỏ phiếu chống lại Mao. Zhang Dongsun bị đày đọa và chết trong tù nhưng lịch sử Trung Hoa ngày sau sẽ nhớ đến ông như một người viết chính sử Trung Hoa.
Việt Nam cũng thế. Chính sử vẫn đang được viết không phải từ những người đang đón tiếp bà mà bằng những người đang ngồi trong tù, đang bị hành hạ, đày ải, trấn áp dưới nhiều hình thức. Khát vọng độc lập, tự do, từ những ngày đầu tháng 9, 1859 ở Cẩm Lệ, Quảng Nam, nơi máu của Đô Thống Lê Đình Lý chảy xuống để bảo vệ thành Đà Nẵng cho đến hôm nay, vẫn cùng một dòng và chưa hề gián đoạn.
Nhân dịp tháng Tư năm 2017, người viết xin phân tích một số định nghĩa về nội dung của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Bài này tổng hợp một số bài ngắn của người viết đã phổ biến trên Facebook trước đây.

Chiến tranh Việt Nam là Chiến tranh Ủy nhiệm (Proxy War)?

 Chiến tranh ủy nhiệm (Proxy War) là cuộc chiến tranh mà các quốc gia bên ngoài, thường là cường quốc, không tham gia trực tiếp cuộc chiến nhưng qua hình thức cung cấp võ khí, tài chánh cho các phe cánh, lực lượng trong quốc gia đó đánh nhau vì quyền lợi riêng của các phe nhóm này nhưng cũng tương hợp với quyền lợi của nước bên ngoài.

Chiến tranh đang diễn ra tại Syria thường được báo chí gọi là chiến tranh ủy nhiệm.  Mỹ, Nga, Iran, Thổ, Anh, Pháp, Saudi Arabia và Qatar góp phần tàn phá Syria khi yểm trợ cho các phe nhóm, nhiều khi bất cần hành vi khủng bố của các phe nhóm này, để tranh giành ảnh hưởng và tài nguyên của vùng Trung Đông.
Không ít báo chí quốc tế và nhà nghiên cứu Chiến tranh Lạnh gọi chiến tranh Việt Nam trước khi Mỹ đổ bộ vào tháng Năm, 1965, là chiến tranh ủy nhiệm, trong đó Trung Cộng, Liên Xô một bên, Mỹ và đồng minh một bên.

Định nghĩa chiến tranh Việt Nam là chiến tranh ủy nhiệm chỉ đúng khi nhìn cuộc chiến từ quan điểm đế quốc dù là Mỹ, Liên Xô hay Trung Cộng chứ không phải từ vết thương, từ vị trí của nạn nhân buộc phải chiến đấu để sống còn như dân và quân miền Nam Việt Nam.
Như có lần người viết dẫn chứng, một người lính nghĩa quân gác chiếc cầu ở đầu làng để mấy anh du kích khỏi về giựt sập cũng là một biểu hiện hùng hồn của lý tưởng tự do và chủ quyền. Chiếc cầu là huyết mạch kinh tế của làng, là trục giao thông chính của làng, là vẻ đẹp của làng, và bảo vệ chiếc cầu là nhiệm vụ sống còn mà người lính nghĩa quân phải làm cho bằng được.
Không ai “ủy nhiệm” anh lính Nghĩa Quân cả. Anh không bảo vệ chiếc cầu giùm cho Mỹ mà cho chính anh và bà con trong thôn xóm của anh. Lý tưởng tự do của một dân tộc dù thiêng liêng to lớn bao nhiêu cũng bắt nguồn từ những hình ảnh nhỏ nhoi nhưng đầy ý nghĩa đó.
Trong phần lớn chiều dài của cuộc chiến, quyền lợi của Mỹ ở Đông Nam Á và quyền lợi của VNCH tương hợp. VNCH đã nhận hầu hết viện trợ quân sự của Mỹ kể cả nhân lực nhưng không đánh thuê cho Mỹ như CS tuyên truyền.
Sau Thông Cáo Chung Thượng Hải năm 1972 và Hiệp Định Paris năm 1973, chính sách của Mỹ tại Đông Nam Á thay đổi, quyền lợi VNCH và Mỹ do đó không còn tương hợp nữa. Mỹ rút quân và cắt giảm viện trợ quân sự quá chênh lệch so với nguồn viện trợ quân sự CSVN nhận từ Liên Xô, Trung Cộng và phong trào CS Quốc Tế.
Cho dù cạn kiệt nguồn cung cấp, quân và dân VNCH vẫn chiến đấu và hy sinh cho tự do của họ, không phải chỉ sau Hiệp định Paris 1973, không phải đến ngày 30-4-1975 mà cả sau 30-4-1975, hôm nay và cho đến khi chế độ CS còn hiện diện tại Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam là Nội chiến (Civil War)?

Nhiều người chỉ nhìn vào mái tóc, màu da, khuôn mặt, chủng tộc, dòng máu và kết luận chiến tranh Việt Nam là nội chiến. Thật ra, mái tóc, màu da, khuôn mặt, dòng máu chỉ là hình thức.
Thế nào là nội chiến?
Theo các định nghĩa chính trị học, Nội chiến (Civil War) là cuộc chiến tranh giữa hai thành phần có tổ chức trong cùng một quốc gia vốn trước đó thống nhất, mục đích của một bên là chiếm đoạt bên kia để hoàn thành ý định chinh phục lãnh thổ hay thay đổi chính sách nhưng không thay đổi thể chế.
Theo định nghĩa này, chiến tranh Nam-Bắc Mỹ là nội chiến, hoặc xung đột võ trang giữa chính phủ da trắng và Nghị Hội Toàn Quốc Nam Phi (African National Congress) gọi tắt là ANC chống chính sách Phân biệt Chủng tộc tại Nam Phi là nội chiến.
Bắc Mỹ dưới sự lãnh đạo của TT Abraham Lincoln thắng cuộc nội chiến Mỹ nhưng chỉ thay đổi chính sách nô lệ, trong lúc cơ chế chính trị và chính phủ cấp tiểu bang gần như không thay đổi nhiều.
Tại Nam Phi cũng vậy. Sau cuộc đấu tranh dài dưới nhiều hình thức, cuối cùng ANC đã thắng nhưng cũng chỉ hủy bỏ chính sách Phân Biệt Chủng Tộc (Apartheid) tại Nam Phi nhưng không xóa bỏ chế độ Cộng Hòa hay nền kinh tế thị trường. Không chỉ cựu Tổng thống de Klerk trở thành cố vấn của TT Nelson Madela mà nhiều viên chức trong chính phủ của de Klerk, các tư lịnh quân binh chủng, lực lượng cảnh sát quốc gia đều tiếp tục nhiệm vụ của họ.

Sau Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam Cộng Hòa không có ý định chiếm đoạt lãnh thổ miền Bắc hay lật đổ cơ chế CS miền Bắc. Chính phủ và nhân dân VNCH hoàn toàn không muốn chiến tranh. Sau một trăm năm chịu đựng không biết bao nhiêu đau khổ dưới ách thực dân, mục đích trước mắt của nhân dân miền Nam là có được cơm no, áo ấm, có được cuộc sống tự do và xây dựng miền Nam thành một nước cộng hòa hiện đại.
Giấc mơ tươi đẹp của nhân dân miền Nam đã bị ý thức hệ CS với vũ khí của Liên Xô, Trung Cộng tàn phá vào buổi sáng 30-4-1975.

Sau khi VNCH bị cưỡng chiếm, đảng CSVN không phải chỉ thay đổi về chính sách như trường hợp Mỹ hay Nam Phi mà thay đổi toàn bộ cơ chế. Nói theo lý luận CS đó là sự thay đổi tận gốc rễ từ thượng tầng kiến trúc chính trị đến hạ tầng cơ sở kinh tế bằng các phương pháp dã man không thua kém Mao, Stalin.
Do đó, gọi chiến tranh Việt Nam là nội chiến chỉ đúng về hình thức, nội dung vẫn là chiến tranh của các chính phủ và nhân dân miền Nam chống ý thức hệ CS xâm lược.

Chiến tranh Việt Nam là “Chiến tranh chống Mỹ Cứu Nước”?

 

Stalin, trong buổi họp với Mao và Hồ Chí Minh tại Moscow giữa tháng Hai, 1950 đã phó thác sinh mạng CSVN vào tay Trung Cộng. Theo William J. Duiker trong Ho Chi Minh: A Life, Stalin nói với Hồ Chí Minh tại Moscow “Từ bây giờ về sau, các đồng chí có thể tin tưởng vào sự giúp đỡ của Liên Xô, đặc biệt hiện nay sau thời kỳ chiến tranh, thặng dư của chúng tôi còn rất nhiều, và chúng tôi sẽ chuyển đến các đồng chí qua ngả Trung Quốc. Tuy nhiên vì điều kiện thiên nhiên, chính yếu vẫn là Trung Quốc sẽ giúp đỡ các đồng chí. Những gì Trung Quốc thiếu chúng tôi sẽ cung cấp.” Sau đó tới phiên Mao, y cũng lần nữa xác định với Hồ “Bất cứ những gì Trung Quốc có mà Viêt Nam cần, chúng tôi sẽ cung cấp.”

Theo Trương Quảng Hoa trong Hồi ký của những người trong cuộc, Hồ Chí Minh thưa với Mao trên xe lửa từ Liên Xô về Trung Cộng “Mao Chủ tịch, Stalin không chuẩn bị viện trợ trực tiếp cho chúng tôi, cũng không ký hiệp ước với chúng tôi, cuộc chiến tranh chống Pháp từ nay về sau chỉ có thể dựa vào viện trợ của Trung Quốc.”

CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng, không chỉ phương tiện chiến tranh, kinh tế, quốc phòng, hệ ý thức, cơ sở lý luận mà cả cách nói, cách ăn mặc, cách chào hỏi.  Mao gần như đơn phương quyết định mọi hoạt động quân sự của Việt Minh kể cả việc chọn ngày, chọn tháng cần phải chiếm Điện Biên Phủ.

Sau xung đột Eo Biển Đài Loan, và trầm trọng hơn, sau chiến tranh Triều Tiên với gần 400 ngàn quân Trung Cộng bị giết, trong số đó có Mao Ngạn Anh (Mao Anying), con trai trưởng và gần gũi nhất của Mao, từ đó kẻ thù lớn nhất của Mao Trạch Đông là Mỹ. Mao chỉ thị toàn bộ bộ máy tuyên truyền tại Trung Cộng phải chống Mỹ bằng mọi giá. Chống Mỹ từ xa, chống Mỹ ở gần, chống Mỹ trong lý luận, chống Mỹ trong thực tế, chống Mỹ khi có mặt Mỹ và chống Mỹ khi không có mặt Mỹ.

Tuân lệnh Mao, trong Hội nghị Lần thứ Sáu của Trung ương Đảng CSVN từ ngày 15 đến 17 tháng 7 năm 1954, Hồ Chí Minh và Bộ chính trị đảng CSVN đã nghĩ đến chuyện đánh Mỹ: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ.”

Khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” được thai nghén từ quan điểm và thời điểm này.

Nhưng “nước” trong khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” phải hiểu là nước Tàu chứ không phải nước Việt, lý do trong thời điểm này chưa có một người lính hay một cố vấn Mỹ nào ở Việt Nam. Hôm đó, ngay cả Hiệp định Geneva 1954 cũng còn chưa ký.

Với chỉ thị của Mao và kiên trì với mục đích CS hóa Việt Nam đề ra từ 1930, vào tháng 5, 1959, Ban Chấp hành Trung ương đảng Lao Động sau khi biết rằng việc chiếm miền Nam bằng phương tiện chính trị không thành, đã quyết định đánh chiếm miền Nam bằng võ lực dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” như Hồ Chí Minh đã nói. Gần hết đồng bào miền Bắc bị đảng lừa vào cuộc chiến “giải phóng dân tộc” và hàng triệu người đã uống phải viên thuốc độc bọc đường “chống Mỹ cứu nước” nên bỏ thây trên khắp hai miền.

Lý luận chính phủ VNCH không thực thi “thống nhất đất nước” theo tinh thần Hiệp định Geneva chỉ là cái cớ tuyên truyền.

Thực tế chính trị thế giới của giai đoạn sau Thế Chiến thứ Hai là thực tế phân cực và sự chọn lựa của thời đại là chọn lựa giữa ý thức hệ Quốc gia và Cộng sản. Không chỉ các quốc gia bị phân chia như Nam Hàn, Tây Đức mà cả các quốc gia không bị phân chia như Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ v.v… cũng chọn thế đứng dân chủ Tây Phương để làm bàn đạp phát triển đất nước.

Giả sử, nếu có bầu cử để “thống nhất đất nước” và đảng CS thua, liệu họ sẽ giải nhiệm các cấp chính trị viên và sáp nhập vào quân đội quốc gia, giải tán bộ máy công an chìm nổi, đóng cửa các cơ quan tuyên truyền, từ chức khỏi tất cả chức vụ điều hành đất nước?  Trừ phi mặt trời mọc ở hướng tây và lặn ở hướng đông điều đó không bao giờ xảy ra.

 “Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng…”

Câu ca dao quen thuộc mà ai cũng biết. Đó là chưa kể đến mây xám, mây đen, mây hồng, mây tím trong thơ và nhạc. Nhưng mây màu gì?  Mây thực sự chỉ là màu trắng. Màu mây thay đổi do ánh nắng mặt trời tùy theo mỗi khoảnh khắc trong ngày.

Cuộc chiến Việt Nam cũng vậy. Tên gọi của cuộc chiến khác nhau tùy theo quan điểm, góc nhìn, quyền lợi và mục đích, nhưng với nhân dân miền Nam Việt Nam, đó chỉ là cuộc chiến tự vệ của những người Việt yêu tự do dân chủ chống lại ý thức hệ CS độc tài toàn trị xâm lược.

Không thấy rõ bản chất xâm lược của ý thức hệ CS sẽ khó có thể chọn con đường đúng để phục hưng Việt Nam.

Trần Trung Đạo

 

 

ai nhớ ngàn năm một ngón tay?

tháng tư tôi đến rừng chưa khóc
mưa vẫn chờ tôi ở cuối khuya
có môi chưa nói lời gian dối
và mắt chưa buồn như mộ bia

tháng tư nao nức chiều quên tắt
chim bảo cây cành hãy lắng nghe
bước chân ai dưới tàng phong úa
mà tiếng giầy rơi như suối reo|

tháng tư khao khát, đêm vô tận
tôi với người riêng một góc trời
làm sao em biết trăng không lạnh
và cánh chim nào không bỏ tôi?
tháng tư hư ảo người đâu biết
cảnh tượng hồn tôi : một khán đài
với bao chiêng, trống, bao cờ xí
tôi đón em về tự biển khơi

tháng tư xe ngựa về ngang phố
đôi mắt nào treo mỗi góc đường
đêm ai tóc phủ mềm nhung lụa
tôi với người chung một bến sông

tháng tư nắng ủ hoa công chúa
riêng đóa hoàng lan trong mắt tôi
làm sao em biết khi xa bạn
tôi cũng như chiều : tôi mồ côi?

tháng tư chăn gối nồng son phấn
đêm với ngày trong một tấm gương
thịt xương đã trộn, như sông núi
tôi với người, ai mang vết thương?

tháng tư rồi sẽ không ai nhớ
rừng sẽ vì tôi nức nở hoài
mắt ai rồi sẽ như bia mộ
ngựa có về qua cũng thiếu đôi!

tháng tư người nhắc làm chi nữa
cảnh tượng hồn tôi đã miếu thờ
trống, chiêng, cờ xí như cơn mộng
mưa đã chờ tôi. mưa…đã…mưa

mai kia sống với vầng trăng ấy
người có còn thương một bóng cây?
góc phố đèn treo đôi mắt bão
ai nhớ ngàn năm một ngón tay?

DU TỬ LÊ

Tháng tư

 

Tháng tư nhớ chết màu hương cũ
nhớ chuyến tàu di tản chớm khuya
em mắt quầng thâm buồn ủ rũ
anh bám be tàu .Con sóng  kia

Tháng tư từ đó mưa không ướt
đất dưới chân đen đến lạnh lòng
nghe khúc hùng ca mà khát nước
triều dâng sa mạc vẫn khô ran

Tháng tư buồn đứt đuôi nòng nọc
tiếng ngụy găm đau mỗi ngọn đèn
lòng chợt già như người đứng tuổi
chờ người thắng cuộc gọi kêu tên

Tháng tư  đạp chiếc xe đầm cũ
ngơ ngác hồi lâu trước cổng trường
một lớp đỏ người trương áo mũ
một lớp âm trầm trước đại dương

Tháng tư mới đó mà xa biệt
những hận và vui đã lộn phèo
nỗi nhớ  chảy tràn  qua giới hạn
lòng xưa cũ ấy quá rong rêu

Tháng tư về lại không quay lại
quay lại làm sao được nỗi mình
em đã nghìn năm chìm sóng biếc
hồn người chết ức có siêu sinh ?

NGUYỄN HÀN CHUNG