dự báo

 

cược với thiên hà một lần
trong đời
nơi cơn gió nghìn năm treo mình thềm đá cũ
nhành dạ yến vẫn xanh màu đồng trinh
phủ dụ
Em, nói dùm tôi con mèo con có còn sưởi nắng mép hiên?
ở khoảng cách ba ngàn bảy trăm ngày mặt trời
tôi không thể hôn lên tiếng phong linh
nơi em ngồi vẽ hương huệ trắng
từng giọt khiết trinh
tràn qua nhũng mé ngày rũ bóng
ước chi được miết làn môi lên khoé nắng tươi ròng

cược một lần với thiên hà
trên chiều không gian kia
Em trôi theo tiếng hạc bên sông
con mèo nhỏ rũ lông, rũ tàn tích cũ
chòm Ngự Phu chuyến hành hương đau buốt
đốt đi khoảng cách mặt trời
tịnh tiến chiều alpha – omega tưởng tượng
Em gỡ nỗi buồn hong nắng bên hiên
tôi giặt giũ mình những ngày đã mất
nương cơn gió về chòm Lạp Hộ ở một ngày sắp là xa khuất

đêm thắp ngọn lạp đỏ
tối không gió không mưa không có sương mù
những quân bài tarot kể về chốn hư vô
cũng không kể được ngày em đến
thì hiện tại báo những mega byte sắp hết
dở dang đêm dị mộng chòng chành
trả lại em những ngày sắp đến.

Hoàng Phương Uy

HẠT CÁT TRƯỜNG SA

 

Tôi chưa một lần ghé đảo Trường Sa 
Chưa biết Bãi Phúc Nguyên bao nhiêu chỗ lồi, chỗ lõm
Bầy cá Chuồn bay qua có mang tin bão tới
Cát Quế Đường có trắng tựa cát Nha Trang.

Tôi chưa ghé thăm Đá Lát, Huyền Trân
Tìm tấm đá bia khắc tên Tư Chính
Ăn dưa hấu An Tiêm đỏ tươi mùa Tết đến
Tôi thuộc lòng câu “nhớ kẻ trồng cây”.

Tôi chưa một lần ghé Bãi Vũng Mây
Tìm lại nắm xương của bao người ngã xuống
Như những chiếc cọc tre bao quanh bờ ruộng
Cho Trường Sa mãi mãi được vun bồi.

Chưa thăm Bãi Phúc Tần lòng vẫn nhớ khôn nguôi
Nỗi nhớ lớn lên theo từng ngày lưu lạc
Từ dạo Trường Sa rơi dần vào tay giặc
Nỗi nhớ dâng cao thành ngọn sóng căm thù.

Đất nước tôi nghèo, chinh chiến đã bao thu
Một ngàn năm trong xích xiềng nô lệ
Chân tôi bước nghe niềm đau vô kể
Của ông cha trong tủi nhục căm hờn.

Một trăm năm giặc Pháp cướp quê hương
Mỗi gốc cao su một thây người yêu nước
Guinea, Réunion, những tử tù lê bước
Máu da vàng nhuộm đỏ đất Châu Phi.

Bao nhiêu năm đầy đọa, chia ly
Trong nghèo đói, nhân danh, lọc lừa Cộng Sản
Tuổi trẻ chúng tôi rơi vào cơn bão loạn
Hố thẳm quanh đời, lạc mất tuổi hoa niên.

Tổ quốc ơi, con còn quá ươn hèn
Không giữ được cho Người ngọn rau tấc đất
Đêm xứ lạ khuya bàng hoàng thức giấc
Nghe trong mắt mình có hạt cát Trường Sa.

Trần Trung Ðạo

Viva Las Vegas

 

Quán rượu Arizona Club tại Las Vegas (1904). (ảnh tài liệu)
Quán rượu Arizona Club tại Las Vegas (1904). (ảnh tài liệu)

Những tài liệu khảo cổ cho thấy bộ tộc da đỏ Paiute đã sống ở Las Vegas từ 700 năm sau Công Nguyên. Người Châu Âu đầu tiên khám phá ra Las Vegas là Rafael Rivera vào năm 1821, khi theo đoàn thương buôn của Antonio Armijo gồm 60 người Mễ Tây Cơ tìm cách mở một con đường giao thương trao đổi hàng hóa kéo dài từ New Mexico đến California gọi là Old Spanish Trail. Trong khi đoàn chính dừng lại cắm trại ăn mừng ngày Giáng Sinh, thì Rafael chệch hướng con đường mòn về phía Tây để tìm nguồn nước uống trong hoang mạc Mojave, 2 tuần sau Rafael đã tình cờ tìm ra dòng suối chảy giữa một thảm cỏ xanh, như một oasis nổi bật lên giữa hoang mạc khô cằn. Nhờ phát hiện ấy mà các giếng đào ngọt mát sau đó đã làm con đường buôn bán đi lại rộn ràng đến Los Angeles, nhất là trong thời gian đổ xô đi tìm vàng ở California đầu thế kỷ 18. Giữa năm 1830 và 1848 thì tên gọi Vegas đã có trên bản đồ nước Mỹ. Sau đó được gọi là Las Vegas, dựa theo tiếng Tây Ban Nha “Vegas” nghĩa là “The Meadows” (Cánh đồng cỏ). Tuy vậy phải đến 14 năm sau, nhờ công lao của một chính khách, sĩ quan, nhà thám hiểm tên là John C. Fremont (ông là người góp công lớn cho việc mở rộng lãnh thổ của nước Mỹ về phía Tây) đã mạo hiểm để vẽ bản đồ cho các hành trình khảo sát miền đất hoang dã. Ngày 3 tháng 5, 1844 Fremont đã tả lại trong nhật ký hành trình: “Sau một ngày trời rong ruổi 18 dặm, ở hướng Tây Bắc, chúng tôi cắm trại trong sương mù của một vùng lòng chảo lớn gọi là Las Vegas. Tên gọi người Tây Ban Nha mô tả cánh đồng cỏ đẫm nước xanh tươi. Trái ngược với cái khô khan của thảo nguyên, 2 dòng nước trong veo sâu chừng 4 hay 5 feet, nước suối chảy mạnh từ 2 nguồn suối lớn, vị thật sạch nhưng khá ấm, nhiệt độ chừng 71 – 73 độ F. Thật là nơi tắm rửa tiện lợi.” Đó chính là vị trí của thành phố Las Vegas hiện nay. Dựa theo báo cáo của Fremont, quốc hội đã cho in ra 20 ngàn bản đồ và phân phát đến mọi người từ miền Đông muốn di cư về miền Tây.

Rafael Rivera, người khám phá Las Vegas (1821)
Rafael Rivera, người khám phá Las Vegas (1821)

Đến năm 1855 thì vùng đất thuộc Mễ Tây Cơ này được sát nhập vào Mỹ. Người Mormon từ Utah đã đến định cư xây một thành trì bằng đất nung trộn cỏ gọi là Adobe, họ trồng trọt và đào mỏ chì ở chân núi Potosi, sau nhiều đợt tấn công của người thổ dân da đỏ, người Mormon phải bỏ đi. Đến năm 1890 khi con đường sắt Đông – Tây bắt đầu phát triển thì Las Vegas nơi có nguồn nước dồi dào được chọn làm phố xá trung chuyển cho các đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước. Tiểu bang Navada gia nhập liên quân Union vào năm 1864 trong cuộc nội chiến. Bắt đầu từ 1904, các đường hỏa xa The San Pedro, Los Angeles và Salt Lake thuộc công ty mẹ là Union Pacific hoàn thành xuyên qua phố, các cửa hàng quán xá, saloon và nhà cửa mọc lên nhanh chóng. (Nơi trạm xe lửa ngày nay là nơi duy nhất trên thế giới nằm trong sòng bài thuộc Plaza Hotel, ở góc đường Fremont và Downtown Las Vegas.)

Ngày 15 tháng 5, 1905 Thượng nghị sĩ Montana William Andrews Clark, người chủ của 3 công ty đường sắt San Pedro, Los Angeles và Salt Lake railroad đã bán đấu giá 1,200 lô đất trong một ngày. Những lô đất đó làm nên Las Vegas Strip lộng lẫy ngày nay. Và thế là thành phố Las Vegas ra đời năm 1909, từ một thành phố nhỏ heo hút, ngái ngủ giữa hoang mạc khô cằn không một bóng cây. Nhờ các dòng suối ngầm mà trạm dừng xe lửa đã thành nơi trú chân cho những người tiên phong về miền Viễn Tây. Uống một ly rượu, thả một con súc sắc cá độ, xòe một lá bài đen đỏ… trở thành niềm vui sau một chuyến đi dài bụi bặm vất vả. Những saloon mọc lên quanh phố cùng các con bạc hơn thua. Thế rồi bài bạc bị cấm trên toàn nước Mỹ. Tiểu bang Nevada trở thành nơi cuối cùng đóng cửa các sòng bài từ ngày 1 tháng 10, 1910. Một luật lệ nghiêm khắc, cấm ngay cả truyền thống cao-bồi tung một đồng xu sấp ngửa để thắng một ly rượu. Một phóng viên nhật báo ở Reno kể lại: “Cả quán xá yên tĩnh mãi mãi khi không có tiếng vòng ru-lết (roulette), không có tiếng con súc sắc (dice) và tiếng xóc bài.” Luật cấm “mãi mãi” đó chỉ được trong vòng 3 tuần. Chủ nhân và con độ cùng người chơi ham máu đen đỏ tìm cách chơi lén lút trong các phòng kín, với các ký hiệu mật mã, các quy ước ngầm… Lén lút bất hợp lệ như vậy cho đến 1931, cơ quan lập pháp Nevada đành phải chấp thuận một đạo luật được kiến nghị bởi Phil Tobin, một chủ trang trại. Ông ta nghĩ rằng đánh bài hợp pháp sẽ thu lại thuế cần thiết cho trường học. Lợi nhuận khổng lồ và các nhóm tội phạm có tổ chức đã manh mún mọc rễ lúc ấy trong hệ thống casino. Cũng thời gian ấy vào năm cuối của cuộc Đại khủng hoảng, đập Hoover Dam được xây dựng, công trình khổng lồ này đã cuốn hút hơn 5 ngàn công nhân đến vực Canyon chỉ cách thành phố hơn 30 dặm. Thành phố non trẻ này dường như không bị ảnh hưởng suy thoái trầm trọng như các nơi khác trong cuộc Đại khủng hoảng do có việc làm từ việc xây đập và ngành đường sắt. Trong số 5 ngàn công nhân đến xây đập toàn là nam giới, xa nhà từ khắp bốn phương. Và thế là bên cạnh những sòng bài có sự hiện diện hấp dẫn của các cô gái showgirl quyến rũ, các vui chơi giải trí hội hè… Dân số thành phố lúc ấy tăng lên 25 ngàn người. Đến năm 1936 khi Hoover Dam hoàn tất, nguồn thủy điện giá rẻ đã thắp sáng Las Vegas, nhất là Vegas Strip được xem như là con suối tráng lệ lấp lánh ánh đèn màu, tràn đầy hấp dẫn bởi các vận may và các vũ nữ mát rượi thịt da…

John C. Fremont
John C. Fremont

Thế chiến thứ 2 bùng nổ đã làm đình trệ nhiều dự án lớn ở Las Vegas, tuy vậy căn cứ không quân Nellis đã đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh, là nơi huấn luyện các tay súng của chiến đấu cơ B-29. Trong khi ấy Tommy Hull một thương gia kinh nghiệm về khách sạn đã xây dựng một khách sạn có sòng bài đầu tiên El Rancho và thành công, ngày đêm nườm nượp khách. Kéo theo đó là hàng chục các khách sạn – sòng bài khác dọc theo quanh dải Las Vegas. Năm 1946 ông trùm Bugsy Siegel (được bảo bọc bởi các băng đảng miền Đông và trùm thuốc phiện từ Mexico) mở sòng bài Flamingo. Hàng chục siêu sao Hollywood đã đến dự lễ khai trương vào ngày Giáng Sinh. Siegel bị hạ sát vào năm 1947 nhưng ảnh hưởng và cái nhìn sâu xa của một tay trùm mafia đã nhen nhúm và hình thành nên một nền kỹ nghệ kinh doanh cờ bạc và giải trí mới. Sahara, The Sand, The New Frontier và The Riviera ra đời trong những năm 1950-1960. Tiền bạc chảy như nước vào Las Vegas từ các nguồn rửa tiền bất chánh, từ các nhà đầu tư hợp pháp, từ các nhà băng Wall Street, ngay cả nhà thờ đạo Mormon và cả các trường đại học danh tiếng…Năm 1954, 8 triệu du khách đổ xô vào Las Vegas. Nhất là từ khi các siêu sao ca nhạc như  Frank Sinatra, Dean Martin và Elvis Presley đến trình diễn. Các sòng bài và phố xá ngày nào cũng vui như Tết. Quanh năm hội hè, không màng cái nóng khô mùa hè, không màng cái rét run mùa đông.

Bugsy Siegel, sinh 28-2-1906, gốc Do Thái, sống tại Williamsburg, Brooklyn (New York). Làm giàu nhờ luật cấm rượu, trở thành trùm gangster khét tiếng. Bị hạ thủ ngày 20 tháng 6 năm 1947 tại nhà riêng.
Bugsy Siegel, sinh 28-2-1906, gốc Do Thái, sống tại Williamsburg, Brooklyn (New York). Làm giàu nhờ luật cấm rượu, trở thành trùm gangster khét tiếng. Bị hạ thủ ngày 20 tháng 6 năm 1947 tại nhà riêng.

Và kể từ đó các megaresort lần lượt mọc lên dọc theo dải Vegas với muôn hình vạn trạng, đủ mọi cấu trúc tân kỳ lẫn cổ điển, cả Á lẫn Âu, các khu giải trí khổng lồ với các show hoành tráng tuyệt hảo mà không nơi nào trên thế giới sánh bằng. Ở Las Vegas bạn có thể tìm thấy mọi thứ từ A đến Z, mọi niềm vui sẽ được phục vụ tận tình nếu bạn sẵn sàng chi. Câu slogan cửa miệng ở “thành phố tội lỗi” này là “Mọi chuyện xảy ra ở Vegas thì ở lại Vegas”. Như để khuyến khích bạn vui chơi mà không lo âu. Bạn có thể đến đây hưởng thụ như một siêu sao hay đến đây để chỉ thong thả dạo bước ngắm xem những công trình tráng lệ với một ngân sách khiêm tốn.

Có nhiều điều thú vị mà bạn không hề biết. Hầu hết các sòng bài casino đều không có treo đồng hồ và hiếm có cửa sổ, bạn không biết ngày hay là đêm, rằng sớm hay muộn ở casino. Thời gian sẽ là điều không cần biết khi bạn bước vào casino, bạn cứ an vui mà chơi không lo âu đến giờ giấc. Chơi cho đến khi cạn túi… Bạn không hề biết rằng các đường dẫn vào casino và khách sạn được sắp xếp cho du khách đến sàn bài thật nhanh, nơi mà đâu đâu cũng có các máy slot bỏ tiền trúng thưởng, rồi các âm thanh và ánh sáng nhấp nháy háo hức gọi mời. Nhưng đến khi bạn đi ra khỏi casino thì các lối đi vòng vèo và quanh co làm du khách chậm lại, ở các lối exit nọ người ta cũng để các máy chơi tiền xu, móc hầu bao của bạn đến cùng. Ngay cả khi bạn rời Las Vegas, phòng đợi ở phi trường hay trạm xe bus cũng có máy kéo. Bạn còn nghe đồn rằng các casino đã thôi miên hớp hồn và “thuốc” khách chơi bằng các hơi gas, các camera ngầm tỏa ra các phòng. Nhưng điều đó không có thật, dù bạn có thể bị hớp hồn bằng mấy cô chạy bàn phục vụ khêu gợi đến từng centimét.

Las Vegas (1978)
Las Vegas (1978)

Bạn cứ ngỡ rằng mọi du khách đến đây để đánh bài, nhưng thật ra trong con số 41 triệu du khách năm ngoái đến đây, có hơn 5 triệu người đến để tham dự các cuộc triển lãm hội chợ. Bạn cứ ngỡ rằng mọi cư dân ở Las Vegas hẳn ở trong thành phố và đánh bài nhiều lắm, trong khi thật sự con số hơn 2 triệu dân sống ngoài thành phố và ít khi ghé casino, họ chỉ làm việc ở đó. Bạn cứ nghĩ rằng không bao giờ thắng chủ sòng, nhưng thật sự thì đã có rất nhiều người trúng độc đắc như cô chạy bàn Cynthia Jay-Brennan trúng $34.9 triệu ở Desert Inn tháng 3, 2000; một người ẩn danh 25 tuổi kéo máy Megabucks trúng $39.7 triệu ở Excalibur, hay một người nữa bỏ 6 đô và trúng $2.7 triệu ở máy Megabucks tại Aria năm 2011… Những ai mê ăn uống thì các buffet ở nơi này thật là lý tưởng. Có đủ các món ăn đặc sản từ khắp nơi trên thế giới và giá cả thì thật là tuyệt rẻ. Thông thường sẽ có 2 bữa buffet miễn phí khi đặt phòng khách sạn. Một nét hấp dẫn của Las Vegas là bạn có thể uống bia rượu thoải mái ở casino, gọi một chai beer mát lạnh miễn phí và chỉ cần tip cô phục vụ mang váy ngắn đến ngon mắt. Dù thật ra cũng tùy vào nơi nào và thức uống gì. Nổi bật nhất của Las Vegas là bạn có thể đến đây làm đám cưới và được cấp giấy hôn thú với kiểu cách của Elvis Presley hào nhoáng trong các chapel nhỏ xinh hay trong các drive-in chớp nhoáng của tình yêu thời đại kỹ thuật số. Bạn cứ ngỡ Las Vegas là “thành phố tội lỗi” vì “mua hương bán phấn” là hợp pháp, trong khi thật ra chỉ có hợp lệ ở các ranch nằm khoảng 60 dặm ngoài thành phố.

Từ một hoang mạc Mojave có dân cư thưa thớt, Las Vegas trở thành thành phố lớn với dân số khoảng 2 triệu vào năm 2010. Cứ vài năm ghé chơi Vegas bạn sẽ thấy thành phố khác hẳn, nhiều megaresort, nhiều siêu khách sạn lộng lẫy với các kiến trúc, các khu giải trí tuyệt vời, các khu shopping mall sang trọng quý phái. Các hệ thống hạ tầng cơ sở, lối đi bộ, cầu vượt, xe điện, metro… Tất cả được xây dựng tinh xảo và tiện lợi, nối các hệ thống khách sạn với nhau như những lâu đài thần tiên. Las Vegas là thiên đường mua sắm, mọi cái luôn luôn làm đẹp và gọi mời đến mức hoàn hảo. Du khách sẵn sàng bỏ tiền ra mà không hề tiếc nuối. Bởi sự đầu tư hàng tỷ đô la và mọi thiết kế đều làm hài lòng những du khách khó tính. Và những kỷ niệm đẹp thì luôn vô giá.

Ngày xuân, kể lại chuyện cũ về một thành phố lộng lẫy ánh sáng hội hè và tràn ngập niềm vui, có thể gọi là nơi vui nhất thế giới. “From the ashes of his campfire have sprung cities.” (Từ tro tàn trong đám lửa trại của ông đã sáng bùng lên thành phố.) Đó là dòng chữ khắc trên mộ bia của Fremont đã nói lên lịch sử vinh quang ấy. Nơi Downtown của Las Vegas bạn sẽ đắm mình dưới muôn triệu ánh sáng laser và lightshow sáng hàng giờ trên vòm trời cùng muôn vàn âm thanh ảo diệu mê hồn. Con đường Fremont mang tên người đã đưa Las Vegas lên bản đồ nước Mỹ, thành phố sáng nhất về đêm trên thế giới mà bạn có thể thấy từ không gian.

Ngày xuân, bao giờ cũng mong điều tốt đẹp và may mắn đến trong năm. Hãy đến Las Vegas đón xuân và thử vận may. Hãy cứ vui chơi vì “Cái gì xảy ra ở Vegas, ở lại với Vegas.” Nếu thắng, bạn sẽ mang về tài lộc hân hoan. Và nếu bạn thua, sẽ không ai biết hết. Mà chắc chắn bạn không thua. Vì bạn sẽ mang về những hình ảnh kỷ niệm, những âm thanh rộn rã của casino và các show trình diễn khó quên trong đời.

SEAN BẢO

*Viva Las Vegas” Dựa theo tên bài hát do Elvis Presley trình bày trong phim cùng tên năm 1963.

——————-

với cây đàn guitar cũ

 

đàn ơi hát khúc gì đi
thanh âm vỡ nát thầm thì nhớ mong
dây buông chùng tựa tơ lòng
nửa sương khói quyện nửa hoàng hôn trôi

đàn ơi hát tiếng gì thôi
với mây dâu bể với trời phù vân
hay là chỉ một âm câm
sáng treo niềm nhớ chiều bầm nỗi đau

nầy đàn còn dưới mộ sâu
một vầng trăng úa xanh màu tháng năm
chờ ai gãy một cung trầm
khúc cầu Tư Mã trăng đầm đìa rơi

giờ đây gió mỏng mưa vời
phách sênh rã nhịp sương trôi dặt dìu
gửi người một tiếng đàn kêu
thiên thu chìm dưới bóng chiều hư không……

nguyễn minh phúc

Người đi qua đời tôi

 

Người đi qua đời tôi
Trong những chiều đông sầu
Mưa mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời
Mây mù lên mấy biển
Người đi qua đời tôi
Hồn lưng mùa rét mướt
Đường bay đầy lá mùa
Vàng xưa đầy dấu chân
Lòng vắng như ngày tháng
Đen tối vùng lãng quên

Người đi qua đời tôi
Chiều ầm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương
Tiếng hát nào hơ nóng

Người đi qua đời tôi
Nghe những lời linh hồn
Phi lao dài tiếng ru
Êm ái lòng hối tiếc
Trên lối về nghĩa trang
Trong mộ phần tối đen

Người đi qua đời tôi
Không nhớ gì sao người
Em đi qua đời anh
Không nhớ gì sao em

Trần Dạ Từ

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc thành nhạc phẩm Người đi qua đời tôi.

Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm từ trần

Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, tác giả “Gọi Người Yêu Dấu,” vừa qua đời tại San Jose, miền Bắc California, vào sáng thứ hai 24 tháng 7 năm 2017, hưởng thọ 87 tuổi.
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sinh ngày 30 tháng 6 năm 1930 tại Nam Định. Ông gia nhập quân đội năm 1951, theo học khóa 1 Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định, cấp bậc cuối cùng là Trung tá, Huấn luyện viên Tiếp vận, Trường Chỉ huy & Tham mưu Đà Lạt- Long Bình, quân đội VNCH.
Sau năm 1975, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm bị tập trung cải tạo suốt 13 năm. Cuối năm 1990, ông cùng gia đình sang Hoa Kỳ theo diện cựu tù nhân chính trị. Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, trong những năm gần đây, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm đã thực hiện các CD “Tôn Vinh Ca” và 2 CD: “Mùa xuân Thung lũng Hoa vàng” và “Dòng sông đứng lại” (cộng tác với nhạc sĩ Phạm Anh Dũng).
Năm 2002, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm được thành phố Santa Clara, California, tuyên dương và trao giải thưởng đặc biệt dành cho những nghệ sĩ cao niên đã phục vụ nghệ thuật trên 50 năm, đã tạo thành tích ở Việt Nam và tiếp tục sau khi định cư ở Hoa Kỳ.
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm qua đời vì bệnh ung thư máu sau một thời gian dài chữa trị.

Image may contain: 1 person, playing a musical instrument

Vũ Đức Nghiêm và “Gọi người yêu dấu”
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sinh 1930 tạI làng Hoàng Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định trong một gia đình tin kính Chúa. Ông đã say mê âm nhạc từ nhỏ và bắt đầu sáng tác ca khúc vào năm 17 tuổi. Ông kể về bước đầu đến với âm nhạc: “Tôi đến với âm nhạc từ lúc còn rất nhỏ. Năm 10 tuổi, mẹ tôi đã mua cây đàn violon nhỏ xíu cho tôi. Tôi đã hát ở các ca đoàn của Hội thánh Tin Lành Hà Nội. Sau đó, tôi tự học và sáng tác những bản nhạc đầu tay…”. Năm 1951, ông nhập ngũ, học Khóa 1 Trường Sĩ quan trừ bị Nam Định, ở trong quân ngũ suốt mấy chục năm, làm huấn luyện viên ở Trường Chỉ huy và Tham mưu tại Đà Lạt (Những kỷ niệm với thành phố Đà Lạt đã được ghi lại qua những câu hát của nhạc phẩm “Mùa thu thành phố sương mù”: http://cothommagazine.com/…/MuaThuThanhPhoSuongMu-NguyenThu…)

Sau năm 1975, vì mang cấp bậc trung tá, ông đi học tập cải tạo suốt 13 năm ở các trại Long Giao, trại Suối Máu (Tân Hiệp), trại Yên Bái ở Hoàng Liên Sơn, trại Văn Bàn ở Lào Cai, trại Xuân Phước, mãi đến cuối năm 1990 mới sang Mỹ định cư theo diện H.O.
Dòng nhạc Vũ Đức Nghiêm có thể được chia làm 4 thể loại tương ứng với 4 giai đoạn khác nhau trong cuộc đời ông:
1. Quân hành ca: Các ca khúc viết lúc còn trẻ khi còn ở trong quân đội.
2. Tình ca: Các ca khúc viết ở tuổi trưởng thành.
3. Ngục tù ca: Các ca khúc viết trong 13 năm học tập cải tạo trong trại tù
4.Tôn vinh ca: Các ca khúc viết từ khi được trả tự do cho đến nay.
Trong thời gian ở trong trại tù, ông sáng tác ca khúc “Đóa hồng cho người yêu dấu” để tặng cho người vợ đã không quản khó nhọc đi thăm nuôi ông và hết lòng chăm sóc con cái và ca khúc “Muôn trùng xa em” ghi lại hình ảnh người vợ từ giã ông trong trại tù để về nhà. Vào thời gian này, ông cũng sáng tác nhiều bản thánh ca như: “Tôi ước mơ là viên than hồng”, “Vững bước đi trên khổ đau” hay “Khi tôi quỳ bên chân Chúa” với những câu hát như:
“Khi tôi quỳ bên chân Chúa,
Hồn bay thánh thoát về chốn cao vời.
Dâng lên Ngài lòng tan vỡ,
Nghẹn ngào cay đắng lầm lỡ trong đời…”

Thế nhưng ca khúc nổi tiếng nhất của Vũ Đức Nghiêm là bản tình ca “Gọi người yêu dấu” viết ở Đà Lạt vào tháng 11 năm 1969, lúc vừa chia tay người yêu như lời kể của ông: “Tôi viết ‘Gọi người yêu dấu’ vào năm 1969 trong một cuộc phiêu lưu tình cảm”. Điều hết sức tình cờ là nữ ca sĩ Thanh Lan lên Đà Lạt chơi, đã gặp Vũ Đức Nghiêm và hỏi ông có viết ca khúc nào mới không. Ông đã đưa cho Thanh Lan ca khúc “Gọi người yêu dấu” và tháng giêng năm 1970, cô đã trình bày lần đầu tiên bản tình ca này trên Đài Truyền hình Việt Nam. Khán giả rất yêu thích ca khúc trữ tình chậm buồn theo điệu Boston này:

“Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương.
Người yêu dấu ơi, sao lòng se sắt đầy vơi?
Người yêu dấu ơi, thu về tim vẫn đơn côi.
Người yêu dấu ơi, khi ngàn sao đêm lấp lánh.
Tâm hồn bâng khuâng, nhớ ngày vui đã qua nhanh.
Thương đôi mắt sao trời lung linh.
Thương yêu ngón tay ngà xinh xinh.
Thương yêu dáng vai gầy thanh thanh.
Thương yêu vòng tay ghi xiết ân tình
Thương yêu dáng em buồn bơ vơ.
Thương yêu nét môi cười ngây thơ.
Thương yêu tóc buông lơi dịu dàng…
Thương em mong manh như một cành lan.
Gọi người yêu dấu xa vời.
Mà lòng lưu luyến bồi hồi.
Ngày biệt ly đành nhớ nhau thôi khi chiều nhẹ rơi…
Gọi người yêu dấu muôn đời.
Nghẹn ngào không nói thành lời.
Tình yêu xưa ngày tháng phai phôi biết bao giờ nguôi…”

Ca khúc “Gọi người yêu dấu” với giọng ca Thanh Lan:
https://youtu.be/RmqeE7Z0heg
Ca khúc “Gọi người yêu dấu” với giọng ca Ngọc Lan: https://youtu.be/lRrZLPe8L9w
Ca khúc “Gọi người yêu dấu” với giọng ca Thanh Hà: https://nhac.vn/goi-nguoi-yeu-dau-thanh-ha-solm34L
Ca khúc “Gọi người yêu dấu” với giọng ca Vũ Khanh: https://youtu.be/P-lEKUIAf0U

Huỳnh Duy Lộc

THANH XUÂN

 

Chợt tiếng buồn xưa động bóng cây
Người đi chưa dạt dấu chân bày
Bàn tay nằm đó không ngày tháng
Tình ái xin về với cỏ may

Rồi lá mùa xanh cũng đỏ dần
Còn đây niềm hối tiếc thanh xuân
Giấc mơ choàng dậy tan hình bóng
Và nỗi tàn phai gõ một lần

Kỷ niệm sầu như tiếng thở dài
Khuya chìm trong tiếng khóc tương lai
Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối
Tôi mất thời gian lỡ nụ cười

Đời sống ôi buồn như cỏ khô
Này anh em cũng tợ sương mù
Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ

NHÃ CA

ĐÊM QUA SÔNG NHỚ NGUYỄN DU

 

lời lận đận đang đùn theo mỗi bước
đêm dạt mù như những giọt trăng châu
người oán hận nào tài hoa buổi trước
nước trăm nguồn ai biết được nông sâu

sương với muối nở bao vầng thạch bích
trời quê hương chìm với đất quê hương
thân gió bụi vẫn xoáy mòn đất trích
người qua đây sao nghẹn tiếng con đường

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

NHÀ TÙ : CHƯƠNG 20

 

Tôi bắt đầu suy nghĩ về những chiếc còng made in USA mà người Mỹ bỏ lại quê hương tôi. Người Mỹ chạy trốn vội vàng không kịp di tản còng khoá hay người Mỹ cố tình tặng còng khoá made in USA cho Cộng sản? Tại sao sự khai phóng tự do, dân chủ cần thiết còng, khoá, khiên, ma-trắc, lựu đạn khói nhỉ? Câu hỏi tôi tự đặt ra rồi tôi tự trả lời bằng bài thơ tù:

Nhân danh chủ nghĩa tư bản
nước Mỹ chế tạo còng
và viện trợ cho những tên độc tài ở Sài Gòn
để bảo vệ tự do dân chủ
và xây dựng hạnh phúc con người nước nhỏ

Nhân danh tự do dân chủ
thi sĩ chống đối chế độ độc tài
và bị còng nhãn hiệu USA siết chặt tay
tống vào ngục

Nhân danh chủ nghĩa vô sản
Liên Xô giải phóng Việt Nam
tiêu diệt ảnh hưởng chủ nghĩa tư bản tan hoang
nhưng vẫn sử dụng hàng triệu chiếc còng
mà Mỹ quên di tản

Nhân danh quyền sống
và không nhân danh gì cả
thi sĩ phản kháng và bất động
đều bị Liên Xô dùng còng Mỹ siết chặt tay
tống vào ngục

Tôi nằm tù sáu năm
tìm hoài chưa thấy một định nghĩa chính xác
về cái còng ở thời đại của chúng ta

Chúng ta có nhiều cái nếu sau nhiều lần can thiệp của Tây phương trên đất nước chúng ta.

Nếu người Anh không can thiệp vấn đề Việt Nam, không dâng hiến cơ hội và khích lệ người Pháp trở lại gây chiến tranh 10 năm tạo thanh thế và chính nghĩa cho Cộng sản, lịch sử đã như thế nào? Chắc chắn, Cộng sản đã bị quốc gia nghiền nát. Người Pháp đã vội quên thân phận bị trị của mình, vội quên những giọt nước mắt mừng rỡ giải phóng dân tộc thoát ách phát-xít Đức để cố tình dẫm bước chân thống trị lên nỗi mừng rỡ độc lập của Việt Nam. Khác hẳn thực dân Pháp của thế kỷ trước, người Pháp năm 1946 là người Pháp vừa trải qua sự nhục nhằn mất nước, vừa trải qua cuộc kháng chiến chống xâm lăng hào hùng. Họ đem cái hào hùng đó xâm lăng nước ta. Tinh thần và tác phong của người Pháp dân chủ xâm lăng còn thô bạo gấp ngàn lần tinh thần và tác phong của người Pháp thực dân xâm lăng. Đó chính là dịp may ngàn năm một thuở để Cộng sản phát tín hiệu đoàn kết dân tộc rồi đẩy dân tộc lên tuyến đầu. Năm năm sau, đảng phái quốc gia bị tiêu diệt dần mòn. Năm năm sau nữa, Cộng sản chế ngự và chuyên chế. Cái tham vọng mù loà của người Pháp đã nuôi dưỡng Cộng sản khôn lớn bằng máu xương và nước mắt dân tộc Việt Nam.

Nếu người Mỹ không can thiệp vấn đề Việt Nam từ 1954, lịch sử đã như thế nào? Họ đến, họ làm đảo tung đạo lý Việt Nam, họ mang chiến tranh, ngục tù, còng xích họ viện trợ bọn độc tài bù nhìn, họ phá hủy, họ nuôi dưỡng Cộng sản rồi họ bỏ đi. Cái còn lại là gì? Là Cộng sản. Là ngục tù và còng xích made in USA. Bất cứ nơi nào người Mỹ can thiệp, mọi diễn biến sẽ giống hệt Việt Nam. Bọn cầy cáo tay sai ôm hàng tỷ đô-la cuốn gói về nước chủ. Dân chúng ở lại quằn quại, rên xiết. Nguyễn Văn Thiệu đó. Cao Văn Viên đó. Trần Thiện Khiêm đó. Marcos đó. Câu ca dao dưới đây diễn tả thật đúng tâm sự bẽ bàng của dân tộc Việt Nam.

Mỹ đưa Khiêm Thiệu đi rồi
Dân ta ở lại chịu đời đắng cay.

Thời đại chúng ta, cách mạng làm bằng phương tiện Mỹ. Lãnh tụ cách mạng chết vì âm mưu Mỹ. Chiến tranh bởi súng đạn Mỹ. Mất nước do… thiếu viện trợ Mỹ. Thế mà vẫn còn đứa ngu xuẩn trưng bằng cớ Mỹ nuốt lời hứa. Nước mình mình không lo, lo ăn cắp máu lính, lo ăn cướp xương dân, đem cái kiến thức tiến sĩ tôi đòi mà đổ vạ ông Nixon. Lại lắm kẻ mê muội cố bám lấv lòng trắc ẩn chẳng bao giờ có của Mỹ để mưu đồ giải phóng dân tộc. Xây dựng hạnh phúc giống nòi ở Caliíornia, ở Paris chẳng khác chi xây lâu đài trên cát. Bởi vì chưa nhìn còng made in USA còng tay người quốc gia chống Cộng tống vào tù Cộng sản.

Suy nghĩ về còng Mỹ bỏ lại tặng Cộng sản, tôi đâm ra ngao ngán và bi quan. Người giầu có thể thương người nghèo, nhưng nước lớn không đời nào tử tế với nước nhỏ. Sự phũ phàng là, chúng ta đang sống ở kỷ nguyên nước nhỏ không được phép quyết định thân phận mình. Tinh thần quốc gia cực đoan trở thành không tưởng. Tôi bế tắc. Tôi bế tắc vì tôi mệt mỏí, rã rượi. Giữa tháng 12-1977, Hoàng Mạnh Hùng và tôi được lệnh “chuẩn bị tư trang khẩn trương”

– Mình đi lao động chăng? Hùng hỏi.,

– Càng hay. Tôi thèm khí trời. Tôi nói.

Tính ra tôi đã trọ ở khách sạn quốc doanh Đề Lao Gia Định ngót 18 tháng, cổ nhân phán: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Nếu vậy tôi đã ở đề lao 540 ngàn năm. Có nên so sánh một ngày tù của cổ nhân và một ngày tù Cộng sản để nhân thêm số năm không nhỉ? Có nhiều tù nhân và nhiều chuyện đáng nhớ tôi lại quên. Có nhiều tù nhân và nhiều chuyện đáng quên tôi lại nhớ. “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên”. Và tôi đã quên hết khi viết về đề lao Gia Định. Những chuyện đáng quên ấy không làm tôi khôn lớn.

– Hoàng Mạnh Hùng!

– Có.

– Vũ Mộng Long!

– Có.

– Xong chưa?

– Rồi.

Cai ngục mở cửa. Các bạn tù 4C-2 chúc chúng tôi thượng lộ bình an. Tôi đeo cái túi đựng phân bón đã khâu hai cái quai trên lưng, tay xách giỏ ni-lông chứa các chai hũ nước mắm, thịt kho, cá kho…, tay xách cái bị cói chứa mì vụn, bột đậu xanh, bột sữa, đường… Tôi không giống bất cứ ai ở xã hội loài người. Tôi là tù nhân của chủ nghĩa Cộng sản, đỉnh cao của trí tuệ nhân loại. Tôi vừa nhận tôi là tù nhân? Sai. Chủ nghĩa Cộng sản không có nhà tù. Tôi là sinh viên nội trú của Đại Học Đề Lao Gia Định. Năm ngoái, tôi học ở Đại Học sở Công An Thành Phố. Tốt nghiệp chứng chi Vỡ Lòng Cay Đắng, tôi ghi danh học Thống Khổ Nhập Môn 18 tháng. Tốt nghiệp chứng chỉ Thống Khổ Nhập Môn tôi ghi danh học tiếp Thương Đau Chín Rấm. Lát nữa tôi mới biết Đại Học nào nhận tôi, Bây giờ, các giáo sư Đề Lao Gia Định bảo tôi xếp hàng chung với các sinh viên khác. Tôi thấy Nguyễn Mạnh Côn, Đằng Giao, Đặng Hải San, Phạm Quang Khai, Đỗ Văn Lựu và vô số bằng hữu các phòng học cũ. Như Phong học dốt bị đúp ở lại Đại Học Đề Lao.

Giáo sư Quản Giáo cầm danh sách đọc tên chúng tôi. Sợ chúng tôi ham vui nhẩy xuống xe đi lạc, giáo sư còng hai sinh viên một còng số 8 made in USA, tay phải sinh viên này dính sát tay trái sinh viên kia và ra lệnh cho chúng tôi lên xe. Xe trùm vải bố kín mít. Tôi giã từ Đại Học Đề Lao Gia Định với bao nuối tiếc. Giã từ các vị giáo sư Chấp Pháp khả kính. Gíã từ các vị giáo sư Quản Giáo khả ái. Giã tử lò bánh mì nung nấu cuộc đời. Tôi đi đây. Tôi đi học một mình chẳng cần “mẹ tôi nắm tay tôi dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp.” Ấy quên, giã từ Viện trưởng Hai Phận bất hủ và những cái ống cắm mỏ dầu hỏa ở Tiền Hải.

Nhưng mà xe bít bùng tối tăm, tôi không thể vẫy tay chào tạm biệt ai. Một giọng nói đùa nghịch hỏi vu vơ:

– Tu tủ tù tu đố mấy thằng tù?

Tôi bàng hoàng. Thì ra tôi đích thị tù nhân…

 

TỊNH KHẨU NHƯ BÌNH

 

 

“Tịnh khẩu như bình” hề! Quá đã
Nghe không mắc cỡ, giận kiệm lời
Cắt ruột kê tình cho chẵn cặp
Chiếu đơn một chiếc, đũa một đôi

Ngửa mặt đếm bàng bao nhiêu lá
Cúi nhìn bồi lở xót nông sâu
Lốc cốc mõ Kiều xoi chín ngực
Một góc Tiên Điền vạn thuở đau

Chu cha! Lá rụng không về cội
Đóng cửa, chong đèn hỏi lại ta
Bờ bãi tấp phận người trôi ngược
Trăm năm hun hút bóng quê nhà

Ngày hết đời tàn theo áo giấy
Hơn thua, còn mất một tờ mây
Gác bút, dỗ lòng đôi chén rượu
Đông Đoài lác đác khói sương bay…

Nguyễn Tam Phù Sa