bên đời hoạn nạn

 

dẫu biết sẽ một lần em nói thế
sớm muộn gì rồi cũng phải chia tay
cuộc sống đó là trăm dâu nghìn bể
nắng chưa vàng chiều đã rụng đầy tay

đường thì xa làm sao anh về kịp
bụi giăng đầy trong nỗi nhớ mênh mông
ừ có lẽ còn chăng là nuối tiếc
tạt vào anh nghìn đỉnh nhớ trơ dòng

mốt mai kia tình chắc sầu trăm ngã
vẫn hãy còn sót lại những âm xưa
em có thể đi theo đời cơm áo
hãy còn đây mây chớm mộng sang mùa

còn mình anh bên sóng đời hoạn nạn
chợt nhớ mình đã lỡ một lần yêu
chiều hôm đó hình như mây nhiều lắm
có một người về với bóng cô liêu…

nguyễn minh phúc

Một đám giỗ nhà giàu

 

 

1.

Mấy ngày trước, nhà trên của từ đường họ Phạm, nhất là ở khu vực ngay chính giữa là gian thờ tổ tiên, tất cả đều được quét dọn, lau chùi hết sức sạch sẽ, tươm tất. Phía trước gian thờ, cũng chính là mặt tiền nhà từ đường, đã lâu lắm rồi mới thấy cả ba bộ cửa bằng gỗ quí đồng loạt được mở hoác ra cho không khí, nắng gió bên ngoài được phép lùa vào, xua đuổi cái mùi ẩm mốc lưu niên của những thứ đồ nội thất cổ lỗ sĩ, nặng nề là bộ ván gõ cùng các thứ tủ, bàn, kệ thờ, hương án, tranh tứ bình, cặp liễng…

Theo thói tục phong kiến, trong ba bộ cửa lùn thấp, đầy vết mối mọt ấy, bộ cửa chính giữa, cứ như một tuyến phòng ngự cố định cho gian thờ đang nổi đèn nổi đóm sáng trưng giữa ban ngày kia, chỉ được mở hé và đóng lại lập tức khi có người lách mình vào để thắp nhang đãnh lễ hay bày dọn đồ cúng. Nên nhớ là dù ngày giỗ hay ngày thường, có tục lệ khô cứng là phụ nữ dù có vai vế trong gia tộc cũng không được bén mảng, vô ra nhà thờ bằng bộ cửa chính giữa này.

Ở vùng đất này, đầu óc “trọng nam khinh nữ” còn dày dạn hơn thế nữa. Như phía sau bộ cửa phía bên trái nhà từ đường họ Phạm, xưa nay vẫn có một cái bàn lớn chỉ dành riêng cho phái nam ngồi, theo đúng qui cách phương Đông “nam tả nữ hữu”. Khi có việc phải từ nhà dưới bước lên nhà thờ, như để bày biện mâm quả ở gian thờ hay phục vụ trà nước cho quí ông ngồi ở cái bàn VIP kia, đàn bà con gái trong nhà chỉ được phép ra, vào bằng bộ cửa phía bên phải mặt tiền, hay muốn đi tắt cho nhanh thì có thể dùng ngõ cửa hông vừa hẹp vừa thấp phía bên phải gian thờ, cũng là lối đi thông duy nhất giữa nhà trên với nhà dưới.         

Đang diễn ra là một đám giỗ nhà giàu khá náo nhiệt, đặc biệt ồn ả là đối với đám trung niên, thanh niên ngồi ở mâm nhà dưới. Chỉ cần quét nền nhà cho sạch đất cát, vài tờ báo cũ được trải ra, lót dưới những tô dĩa thức ăn, là lập tức đám con cháu các đời cấp dưới của cụ cố đã có thể biến bữa giỗ thành một bữa nhậu tưng bừng kéo dài. Đàn bà, con trẻ cứ ngồi chung hay bu sau lưng mấy ông một cách thoải mái.

Dĩ nhiên, cánh phụ nữ, nhất là những bà dâu, cô cháu dâu, phải thỉnh thoảng liếc chừng lên nhà trên. Cái bàn ăn bệ vệ, cao ráo dành cho các bậc trưởng thượng kia lúc nào cũng có vẻ trầm mặc, nặng nề nghi lễ và ít ỏi tiếng cười nói hào hứng. Ngày nay, có lẽ do số đàn ông lớn tuổi, có vai vế trong gia tộc đã chết đi nhiều hơn là do sự phai tàn của tục “trọng nam khinh nữ” phong kiến, mà trong mâm giỗ người lớn này đã được phép có mặt một, hai phụ nữ, đúng hơn là những bà già, ít ra là ngang hàng với ông Phạm Thao quá cố, chủ đời trước của nhà từ đường.

 

2.

Bữa nay, tại bàn VIP còn có mặt hai người đàn ông khoảng trên dưới 50 tuổi, hơi lạ mặt. Đúng ra, cũng không là ai xa lạ vì họ chính là cháu nội không được thừa nhận của cụ cố họ Phạm. Rõ hơn, cha của hai người này, chỉ được bà con gọi tạm mà thành chính danh luôn cho đến ngày chết là ông út Tú – một vai ‘út’ nào đó – do không chắc là có tờ khai sinh chính thức nào trích ra từ sổ bộ đời địa phương này đề tên họ đứa bé chính thức là Phạm Tú, do đây chỉ là con rơi của cụ cố họ Phạm mà thời sinh tiền, ông bá hộ đã ngó lơ, chỉ chu cấp cho có lệ mà không hề nhìn nhận. Phải chờ cho đám người già lần lượt qua đời, con cháu các đời sau của họ Phạm, mà có quyền lực nhất là cậu chủ nhà Phạm Khanh đang thủ từ đường, đã phóng khoáng, tiến bộ hơn khi tự ý giải tỏa cái thói buông bỏ máu mủ gia đình của ông cố mình mà bắt liên lạc, mời hai ông chú họ của mình về nhà từ đường.

Thắp nhang xong trước di ảnh ông nội mình, hai người chú chỉ ngồi một lát tại bàn nhà trên. Như không được thoải mái khi phải ngồi đối diện, chuyện trò nhạt nhẽo với những người thuộc dòng chính thất, tức được ghi tên rành rọt trong gia phả họ Phạm, hai con người cũng mang họ Phạm này cứ nghe ngóng, liếc nhìn xuống mâm nhà dưới. Sau cùng, lấy cớ cần nói chuyện làm ăn với cháu Phạm Khanh, hai người đã xin phép rời bàn, cầm ly đi xuống nhà dưới – phía ăn uống, vui đùa thoải mái, không câu nệ lời thưa tiếng gởi.

Chính Phạm Khanh, quản gia đương nhiệm nhà từ đường hương hỏa, cũng làm động tác rút lui này từ trước rồi. Do vai trò thủ từ đường, đương nhiên anh thuộc về mâm giỗ của các bậc già lão ăn trên ngồi trước, dù cho anh chưa tới 30 tuổi.

“Một, hai, ba, dô!”, “Dô đi chớ mấy ông!”, tiếng hò hét của đám đàn ông hòa lẫn tiếng trẻ con đùa giỡn chí chóe, tiếng mấy bà mắng yêu chồng và xuỵt đuổi chó, mèo đi chỗ khác… Những âm thanh náo nhiệt ấy làm người ta nhớ lại những bữa giỗ cụ cố trước kia, hồi còn rất sinh động, vui vẻ, ấm áp, khi mà những người sống trong nhà từ đường này còn nghèo mạt – nghèo mà đám giỗ lại đông vui hơn.

Hồi đó là những năm mới sau 30 tháng 4, ai nấy trong xóm làng đều nghèo hay trở nên nghèo nhưng số người già trong họ hay trong chòm xóm lân cận cũng chưa qua đời nhiều quá, khiến cho những người lớn tuổi nhưng vai vế thấp cứ đến dự đám giỗ là ngồi dưới đất với đám thanh niên. Đồ ăn thức uống vào những ngày giỗ nghèo ấy chỉ là một bữa cơm gia đình mở rộng, nghĩa là đạm bạc, xoàng xĩnh không khác ngày thường bao nhiêu. Nhưng số người say xỉn, quá đả lại nhiều hơn.

Riêng mấy ông già thì có cùng một kiểu đi đám giỗ rất chân quê. Đó là cắp nách theo một chai rượu chứ không phải bánh trái, đèn đóm gì. Gia chủ có nhiệm vụ đặt chai rượu cúng ông lên bàn thờ cho người chủ chai rượu thắp nhang khấn vái chút đỉnh. Rồi chai rượu lập tức được hạ thổ, đem tiêu thụ ngay khi cây nhang còn chưa kịp tàn. Có điều là, như một mặc định không cần văn tự, phía gia đình làm giỗ cần phải ghi nhớ và phân biệt cho kỹ mọi loại chai cũ, chai mới, chai vuông, chai nhựa…, để trả vỏ chai đã cạn rượu cho đúng với người mang chai đến cúng.

Kết quả của một trận uống chung chạ đủ thứ rượu trắng hay rượu thuốc không rõ lai lịch – chỉ biết mỗi một điều là toàn rượu dõm, rượu rẻ tiền, chính xác là toàn rượu của đám bợm nghèo – là cả đám nhậu rất mau thấm rượu mà gục ngã, ói mữa, nằm lăn lóc khắp nơi trong nhà. Nhưng có hỗn loạn, trây trúa như thế thì cả chủ lẫn khách mới cùng hưởng thụ một đám giỗ vui hết biết, chủ khách gì cũng đều công nhận.

Ngày giờ này, bia lon và bia chai ê hề thì cũng coi như bữa giỗ vui, nhưng không đông đủ cho bằng những bữa giỗ nghèo với rượu đế dõm năm nào.

 

3.

Đã rõ đám giỗ cụ cố họ Phạm bữa nay cúng lớn, thịnh soạn bởi được thực hiện vào thời phất lên của nhánh con trai thứ của cụ cố là ông Phạm Thao, người vừa mất năm ngoái và quyền thủ từ đường trao lại cho con trai thứ là cậu Phạm Khanh. Đúng ra, người đáng lẽ kế thừa quyền thủ từ đường từ ông Phạm Thao phải là cậu con trưởng, nhưng cậu đã vượt biên lâu rồi, vào cái thời sa sút của cả dòng họ cũng như cả đất nước sau 30 tháng 4. Gần đây, do đã sinh sống ổn định ở Mỹ, cậu ta gởi về một số tiền khá lớn, bảo em mình tu sửa nhà từ đường và khỏi tiện tặn như trước kia, cứ làm giổ ông cố cho thật rình rang.

Khổ nổi, cũng vào lúc đám con ông Phạm Thao phất lên thì lại nổ ra cuộc tranh chấp đất hương hỏa họ Phạm với đám con của ba bà cô – chị ông Phạm Thao, những gia đình nheo nhóc với đủ thứ khó khăn, nợ nần. Thảm kịch đánh lộn đánh lạo, kiện thưa ra tòa giữa mấy nhánh anh em họ đã xảy ra bởi không bên nào biết kềm chế, khiến vào giỗ cụ cố năm nay, người của gia đình ba bà cô đều không qua dự, cũng không đem bánh trái qua cúng khi đánh tiếng rằng mỗi nhà cứ tự cúng ông, có bao nhiêu cúng bấy nhiêu là được hết thảy.

Trớ trêu là hai ngày sau giổ cụ cố lại có giỗ chồng cô Hai, tức dượng rể cậu Phạm Khanh, thì nhánh anh em Khanh cũng đáp lễ bằng cái cách trống không, lạnh nhạt y như vậy.

Tình cờ có một anh, cũng thuộc hàng cháu cụ cố họ Phạm, từ Sài Gòn về quê nhà dự giỗ, đã tự thấy phải có mặt ở cả hai bữa giỗ, một bên giàu và một bên nghèo. Ở cả hai chiếu nhậu đều là bà con dòng họ, anh ta lấy tư thế người ngoại cuộc, không hề có quyền lợi gì dính vào vụ tranh chấp đất đai, đã tìm cách nhắc lại chuyện xưa chuyện nay, nói gần nói xa về một sự giảng hòa, nhường nhịn qua lại. Nhưng cả hai phe đều giả điếc, lạnh lùng, thản nhiên ép anh ta uống tới tấp như một cách ngắt lời, bịt miệng. Chỉ được cái là mỗi phe đều biết kềm chế, đang đám giỗ thì ngừng chữi bới, ngưng nói xấu người vắng mặt.  Nhưng vẫn còn y nguyên đó cái tuyến thù hận, đối nghịch giữa hai dòng anh em họ.

Vậy mà, ở cái làng Kim Bông xanh mát vườn dừa này, vào thời niên thiếu của cả hai nhánh họ Phạm, họ đã từng cùng nhau sống những ngày tháng rất êm đềm, hòa thuận trong khuôn đất tổ tiên. Phải nói là hạnh phúc, chan chứa thương yêu, bát ngát tiếng cười, khi cả bọn trẻ, trai cũng như gái, cùng vui đùa, nghịch ngợm với nhau đủ trò. Như thi nhau leo bẻ dừa để cùng nhau uống đến no căng bụng cái thứ nước ngọt lành ấy. Như cùng tắm truồng, bơi đua dưới sông hay lén lấy ghe của ai đó chèo qua cái doi đất giữa sông để tìm hái đọt rau ráng. Đem thứ rau hoang dã này về, chúng chui vào bất cứ nhà đứa nào còn cơm nguội trong nồi. Cứ nhanh chóng luộc rau rồi chấm nước cá kho, cùng nhau vét sạch nồi cơm là tuyệt nhất trên đời.

Áo quần lôi thôi lếch thếch, mặt mũi đen đúa, ngờ nghệch, hồn nhiên thời đó của tất cả bọn chúng sao mà dễ thương lạ thường! Không đứa nào nói ra nhưng những kỷ niệm tuổi thơ rất sâu đậm ấy đã chiếm một chỗ ngọt ngào nhất trong ký ức lớn khôn của mỗi đứa.

Ngày giờ này, tóc trên đầu đã hoa râm, các gia đình đã sản sinh ra cả đống trẻ con, cũng đang cùng chơi đùa, nghịch phá y như cha, chú của chúng ngày trước. Nhưng cha mẹ chúng, những anh em họ hàng –  đời thứ tư của họ Phạm –  lại quay mặt với nhau, đánh nhau đổ máu đầu, kiện nhau ra tòa, đòi xâu xé đất hương hỏa dành để thờ phượng tổ tiên. Chỉ vì đất đang có giá.

Run rủi là ngay giữa mùa anh em máu mủ tương tàn lại có ngày giỗ cụ bá hộ họ Phạm mà các nhánh đều đồng loạt gọi là ngày cúng cơm ông cố, cụ cố.

Các bậc tổ tiên họ Phạm, hơn ai hết là cụ cố Phạm Đam – người đã để lại đất hương hỏa, người mới được con cháu, khách khứa kính cẩn nhắc tới trong ngày giỗ của chính cụ – có từ trên bàn thờ nhìn xuống, thấy vụ tranh chấp, xâu xé đất tổ giữa con cháu thì cũng bó tay, chỉ biết nhìn dương gian bằng cặp mắt lạnh lẽo, vô hồn mà thôi.

 

PHẠM NGA

Tháng Chín Mùa Thu

 

Tháng Chín.
mùa Thu mấp mé bờ
Con kinh nước đục
bóng trăng mơ
Vàng trên sóng nước
vàng trên lá
Sao trắng đầu ta
chút tuổi thừa?

Ta biết tuổi ta còn
mấy sợi
Thì lai rai vậy
với trăng khuya
Nhớ chàng Lý Bạch
ôm trăng chết
Một chút buồn
ai, hậu thế, chia?

Ta dại gì chia
cho Lý Bạch
Để thi sĩ mãi
kiếp cô đơn
Và ngâm mãi
khúc Thanh Bình Điệu
Dương Quý Phi cười
thấy đủ thương!

Ta có ai cười
mai mốt nhỉ
Hay thơ vẫn ướt
tự trang đầu?
Lệ ai đã rót
cùng ta
để,

Một giọt nằm trong
Hố mắt sâu!
Trần Vấn Lệ

XIN LÀM NGƯỜI Ở TRỌ

 

anh hun khói xua thời gian trốn chạy 
ngồi thu lu bó gối đếm ngày qua
em giấu trời cổ xứ tím áo hoa
hương đồng nội lờn vờn trong trí nhớ

hoa điệp nở trên di hài quá khứ
con chim non men rừng cũ vạch tìm
bạch lạp tàn.hoa huệ trắng rũ im
ngày tha thiết hợp-ca-đồng-vọng-trổ

anh cúi xuống hôn vạt nâu đất nở
dấu ngựa xe lê lết đã bao mùa
tiếng ca ghì chặt cứng mỗi khoắt khuya
anh lơ láo trọ đời thêm ít bữa

này hàng quán.này rượu thơm.hoa rữa
này vỉa hè chộn rộn lúc tàn canh
góc chợ lập loè quảng cáo đỏ xanh
em đi vắng.hội hè chi mà đợi

em đi vắng.ly cafe cũng vội
thuốc mau cùn.sợi khói vội vàng bay
anh một mình ra phố ngẩn ngơ say
thiu thiu ngủ bên người xe náo nhiệt

em đi vắng.ngày dài thêm một chút
kéo nỗi buồn vụng đắm biết về đâu
sông ngược dòng.anh ngược nhớ vì nhau
em thật lạ.dững dưng như kẻ lạ

em.con bướm lạc vườn ngày gió cả
thu đung đưa chờ hoa cúc dẫn đường
gió gieo bờ chờ bồng bế qua sông
về một chỗ có tình phai chứng giám

anh đon đả viết một câu phúc hạnh
đưa nhau về một cõi chẳng trăm năm
như buổi chiều phiền muộn ngó ra sông
nắng day dứt cứ nuột nà bung lụa

anh day dứt nghiêng lòng về một phía
dẫu chần chừ.sông vẫn cứ phải trôi
chẳng đợi mùa.hoa vẫn phải mãn khai
như ta vậy.mỗi người về một chỗ

anh khắc khoải xin trần gian tí nữa
trọ một ngày.biết một bữa thương em

trọ một ngày.thêm nhiều bữa.nhớ thêm…

lê hát sơn.

12.09.217

mộ khúc

 

treo giấc ngủ lên trên cành đêm
thêm chiếc khăn choàng đen
ngày dịu dàng lên tiếng

vo tròn tiếng cười
ném vào giữa lằn ranh sinh tử
sững sờ giọng hát thoát thai

đóa hồng bị bỏ quên
đỏ thẫm một màu buồn
rưng rức khóc trong đêm nguyệt thực

bóng râm của hiện tại
đã che mất lối đi về của giấc mơ
như một minh chứng của sự xâm lăng

cơn bão đã tàn
cuộc vui khởi sự
nước mắt của sự lặng im đòi trả giá

uốn cong niềm vui làm cung
lấy nỗi buồn làm tên
tôi nhắm vào đích của cuộc hành trình

đã từ lâu
con sơn ca không còn hót nữa
bởi tiếng đồng vọng của suối nguồn đã tắt

những lằn roi định mệnh
quất vào đám đông
khi không còn một sự lựa chọn nào khác

khúc bi ca đã lặng
nhưng lời ai oán vẫn còn vọng trong hư vô
đợi ngày tiễn biệt

chỉ còn lại sự đợi chờ
khép nép bên niềm hy vọng mỏng manh
trong một đêm bầu trời đầy sao

NP phan

 

 

 

Barbara

 

Rappelle – toi Barbara
Il pleuvait sans cesse sur Brest ce jour – là
Et tu marchais souriante
Epanouie ravie ruisselante
Sous la pluie …
Rappelle – toi Rappelle – toi
quand même ce jour – là
N’oublié pas
Un homme sous un porche s’abritait
Et il a crié ton nom
Barbara


Jacques Prévert (Paroles)

Khi chiếc xe màu xanh vừa phóng qua mặt đường làm bắn tung nước lên áo anh cùng với tiếng cười nhọn và khô, anh chợt có cảm tưởng hạnh phúc của chính mình cũng đã bị ướt ngoi như một người đi dưới cơn mưa tầm tã.

Em có còn nhớ tảng đá xanh dưới chân cầu bắc qua sông Potomac, nơi mình đã ngồi nhìn dòng nước chảy vào một chiều mùa hè, khi xe chúng ta bị hỏng ở bức tường Cựu Chiến Binh Việt Nam trên đại lộ Constitution? Bây giờ chắc nơi đó con sông đã đóng băng và những chú chim, chẳng biết tên là gì, có lẽ đang đi nhởn nhơ trên mặt nước đã đông cứng? Có bao giờ, từ sở về mỗi chiều, em tấp vào con đường Hai Mươi Mốt, thả bộ qua sân cỏ, nơi các học sinh Mỹ chơi trò đá bóng, đến ngồi ở tảng đá kia nghe lại hơi thở điên cuồng của hai con người sau hơn mười năm trời mới gặp lại nhau?

Buổi sáng thức dậy, trước khi đi làm, em có phải lội tuyết ra sân, áo khoác, khăn quàng cổ, nón len, găng tay và một bình nước sôi đổ vào ổ khóa cửa xe đã bị đóng đá, cho máy nổ và chờ mọi thứ “tan ra”, defrost. Những chiều trên “xa lộ vòng đai” từ Hoa Thịnh Đốn trở về, xe em có bị nghẽn ở đường vào ngã Backlick? Và Cánh Đồng Mùa Xuân, Springfield, thành phố của em, đã ngập chưa cái màu trắng lạnh lùng của ông thần Băng Giá?.

Hôm qua ở đầu dây điện thoại viễn liên, anh nghe tiếng em nói chuyện với các bạn đồng nghiệp, giọng nhẹ nhàng và trơn tru như một người dân bản xứ. Còn anh, cái thứ tiếng Mỹ “ăn đong”, vừa nói vừa suy nghĩ, vừa ráp chữ, vừa tìm cách phát âm, giống như một người leo dốc với một cái bọc bự mang trên vai hì hà hì hục, mà chẳng giúp ai hiểu được mình nói gì. Nhưng cũng chẳng sao, anh đang sống giữa một cộng đồng Việt Nam, anh vẫn nói tiếng Việt y như hồi còn ở Sài gòn. Mặc dù căn nhà anh ở, một bên là gia đình Mỹ đen, một bên là dân Đại Hàn, phía trước là Mễ Tây Cơ, phía sau là Phi Luật Tân, anh vẫn cứ nói tiếng Việt như một người chưa hề ra khỏi đất nước. Có người bạn sống ở miền Đông Bắc trách anh sao chọn chi một chỗ ở như thế! Rồi con cái sẽ hư hết, sẽ học hành dốt nát, sẽ cao bồi du đãng, sẽ… Có thể tất cả những điều mà người bạn ấy nói đều đúng, nhưng… khi người ta đã mất quê hương thì nơi nào trên trái đất này còn có được chút màu sắc, mùi vị, văn hóa dân tộc mà chẳng lôi cuốn người ta. Anh đâu phải là một người kén cá chọn canh. Phải không?

Một người Pháp hay một người Đức, nói chung là một người Âu Châu, khi đến Mỹ họ đã có ngay một mẫu số chung là màu da và màu tóc, là chiều cao và sức nặng, là vóc dáng và tổ tiên trước của họ. Họ chỉ còn có cái trở ngại duy nhứt là ngôn ngữ. Bức tường ấy tuy vậy mà cũng không phải là khó leo. Còn chúng ta, những người Á Châu da vàng mũi tẹt, chiều cao thì khiêm tốn, sức nặng thì nhẹ nhàng, tóc đen nhánh, mắt nâu buồn… Chúng ta xa lạ biết bao với người bản xứ. Chúng ta có cố gắng lắm cũng chỉ là một thứ dân thiểu số nói tiếng Mỹ. Chúng ta là những người Mỹ nói rất ít tiếng Mỹ. Rồi ra con cái chúng ta, và cả chúng ta nữa, sẽ là những công dân Mỹ, tất nhiên. Nhưng bao lâu nữa để chúng ta là một người Mỹ như Mỹ? Liệu trong ba bốn thế hệ sau, pha trộn nhiều đợt, chồng này vợ nọ, vợ đó chồng kia? Ba bốn thế hệ nữa, như giờ đây người Nhật hay người Trung Hoa, đã có người làm tới dân biểu, nghị sĩ, bộ trưởng, thống đốc, giáo sư, bác học… nhưng họ vẫn là người Á Châu trong mọi sinh hoạt riêng tư và công cộng. Trong phong tục họ muốn trở về nguồn. Trong phong thái họ muốn được đồng hóa với Mỹ. Tuy vậy không người Mỹ nào nói những người “thiểu số” kia là Mỹ, còn người đồng hương cũng chẳng ai gọi họ là người đồng hương. Phần chúng ta, lúc đó chúng ta sẽ giống dân tộc nào trong những sắc dân của đất nước hợp chủng này?

Ôi, sao anh nói chi với em những điều tầm ruồng như thế!

Anh biết là anh đang nhớ em, nhớ đôi mắt nâu cười cợt, nhớ chiếc cổ cao như người trong tranh Modigliani, nhớ những sợi tóc mai mềm. Những sợi vắn sợi dài, sợi nhớ sợi yêu, mà có lần em đã nói với anh rằng “lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm.”

Giờ đây anh còn như nghe tiếng em nài nỉ anh giảm tốc độ khi xe bắt đầu vào xa lộ Hai Mươi Hai, chỗ rẽ của xa lộ Bốn Lẻ Năm.

Em có còn nhớ ngay tối hôm đó, khi chúng ta trở về Westminster, anh và em lại đến quán Nguyệt Cầm nghe tiếng hát khàn khàn giọng thổ của một người đàn bà mặc áo đen quyến rũ, và tiếng kèn não nuột của một người đàn ông trung niên. Ly cà phê đen của anh, ly sửa đậu nành của em, và sự tình của hai chúng ta! Ngọn đèn quá mờ không đủ sáng soi rõ khuôn mặt em, nhưng trí nhớ anh vẫn rực rỡ hình ảnh em. Ở đó, anh đã đốt liên tu hồ tận những điếu Pall Mall, và chôn vùi em trong một không gian ngập đầy thứ khói xám độc tố kia.

Hình như em đã khơi lại trong trí nhớ anh những ngày xưa Sàigòn, khi chúng ta vừa quen nhau. Lúc đó tình yêu ngọt ngào của chúng ta có cái gia vị đắng chua đậm đà của hơi lựu đạn cay. Đêm giới nghiêm đầu tiên của thành phố, chúng ta còn lái xe chạy trên đường Hiền Vương. Những quãng đường cấm đã bủa dây kẽm gai. Xe tuần tiễu đã vượt qua chúng mình khi hai đứa đang hôn nhau vội vàng cái hôn chia tay để sáng sớm hôm sau anh lại trở về đơn vị. Và những hàng me hai bên đường Gia Long đã làm chứng cho mối tình cuồng nhiệt của hai ta.

Không còn nữa, những bao cát làm ụ xây ở một góc ngã tư đường với những họng súng đen ngòm thò ra bốn phía. Cũng không còn nửa tiếng còi hụ khiếp hãi báo hiệu giờ giới nghiêm vào lúc nửa đêm. Chiếc xe hôm ấy đã ngừng ở một quán Snack Bar có tên là Ohio, thả em xuống góc đường Nguyễn Văn Giai – Phan Thanh Giản, và anh đã chạy bán sống chí chết trở về nhà, tốc độ của một chiếc xe đưa chết người, và con đường vắng lạnh của chiến tranh sao đầy hình ảnh em.

Giờ đây, mười năm sau, gặp lại nhau giữa mùa đông trong thủ đô của một đất nước lớn nhất, giàu nhất, thanh bình nhất thế giới, chúng ta xa lạ biết là bao nhiêu?

Tại sao?

Khi chiếc xe vượt qua mặt anh, nước ở lề đường bắn tung lên, tiếng thoát ra cùng sức gió, anh đã nghĩ đến em. Đến em, với tiếng cười đổ vỡ. Đến em, với một mối tình không lối thoát. Đến em, với tất cả lo âu và sợ hãi.

Tại sao không phải là một người nào khác ngồi bên cạnh anh trong rạp chớp bóng Edwards ở South Coast Plaza? Những ngón tay chúng ta đan quyện vào nhau vì biết rằng chốc nữa đây phải rời xa. Có thể sẽ là mãi mãi. Sự im lặng đau đớn đã chế ngự chúng ta nặng nề đến nỗi mỗi đứa giành nhau nói những lời vô nghĩa. “Out of Africa”, đó là một cuốn phim hay. Ở đoạn này em nói giống anh, ở đoạn kia em nói giống em. Và đoạn kết của cuốn phim là điều em ghét nhất. Em chê đạo diện và chê cả người viết truyện phim. Anh thích khung cảnh hùng vĩ của núi rừng Phi Châu. Anh khoái âm nhạc và âm thanh của cuốn phim. Lúc đó em đã hỏi anh có còn nhớ cuốn phim L’Insoumis ngày anh nghỉ phép từ Ban Mê Thuột trở về. Và cả hai đã chui vào một rạp hát tồi tàn ở Chợlớn? Tại sao nhân vật nữ, người luật sư lạnh lùng và lì lợm kia, có thể “phải lòng” người đàn ông đầy tội lỗi nọ ngay từ phút đầu gặp gỡ. Giữa ngã ba đường của một mối tình, hai người Pháp, một đàn ông, một đàn bà, yêu nhau trên đất Algérie và không ai biết sẽ phải quyết định như thế nào? Cũng như anh và em, hai người Việt trên đất Mỹ, chúng ta có biết quyết định gì đâu. Chúng ta như những chiếc lá trên mặt con sông vào mùa mưa lũ. “Thây kệ!” Em bảo vậy! Nhưng đó đâu phải là cách suy nghĩ thật của em? Em, người của lề thói, của dư luận, của tường kín và cổng cao… Chúng ta yêu nhau hay không yêu nhau? Không ai trong chúng ta trả lời được một cách dứt dạt câu hỏi ngắn ngủi và tầm thường kia?

Em nói mười năm trời ấy đã ăn cắp hết của em tuổi trẻ và cả thời con gái. Mười năm trời ấy đã thổi đi mất của anh những bụi phấn thông vàng ảo tưởng mà một người đàn ông như anh không thể không có. Chúng ta đang đứng trên một bờ biển và đang bị những con sóng quên lãng táp mòn hòn đá ký ức còn tụ dưới hai bàn chân hiện tại. Cũng giống như những người lái xe trên xa lộ, chúng ta chỉ đi tới, đi tới mãi, với một tốc độ cao được qui định, “không thể nhanh, cũng không thể quay lại đột ngột khi thấy người quen chạy ngược chiều bên kia đường.

Ở Sàigòn hồi đó, em nhớ không, mỗi khi anh đến thăm em trong dịp về phép, anh đâu dám bước chân vào nhà em, mà cứ phải ngồi ở cái quán “cóc” bên kia đường, uống những ly cà phê đen và đốt liên tu những điếu thuốc Pall Mall ngọt ngào mùi nho khô. Và hình như đã có lúc em cho anh “ăn thịt thỏ” vì bố em hôm đó đã đổi ý định không đi trường đua Phú Thọ như em đã nói với anh. Và những trận mưa tàn bạo dội ướt cả cái quán cà phê vỉa hè khiến anh cứ phải nán chờ em trong cơn tức tối. Ly cà phê thì loãng tràn những giọt nước mưa từ tấm “bạt” nhà binh đổ xuống, nhưng ý nghĩ anh sao lúc nào cũng đậm đặc hình ảnh em. Cái quán cóc ấy, sau mười năm, trước ngày anh lên đường rời bỏ quê hương, vẫn còn như ngày nào, chỉ có hai điều thay đổi: người chủ đã vượt biên và quán cóc ngày một tàn tạ hơn thôi.

Em hỏi cuối tuần này anh đi chơi đâu? Xuống San Diego thăm Sea World hay lên San Francisco nhìn cầu Golden Gate một chuyến? Sòng bài Las Vegas nổi tiếng cũng nên đến đó coi chơi cho biết sự tình. Cám ơn em, chắc chắn thế nào rồi anh cũng sẽ đi nhưng lúc này thì chưa được. Mặc dù đất nước này nhiều nơi hùng vĩ, chỗ nào cũng đáng đi qua một lần trước khi nhắm mắt. Bởi vì những sáng tinh sương, khi cả thành phố còn ngái ngủ, anh đã phải đi bỏ báo cho tờ Times, những trưa làm công cho một ông chủ Việt Nam “xếp sòng” cắt cỏ. Em nói dưới đó nhiều thú vui, nhiều nơi giải trí, chắc là tuần nào anh cũng sẽ mất ngủ và mệt mỏi. Mất ngủ và mệt mỏi là cái chắc. Nhưng, không phải do nhảy nhót và hoang phí thời gian. Chính là sự không yên tĩnh của trái tim đã làm anh trở nên như thế. Em đừng giận nếu anh nói rằng không phải vì trung thành với em mà anh không tới đó, càng không phải vì lương bổng nhỏ nhoi mà anh xa lánh. Không, đó không phải là lý do. Anh không thích đến chỉ vì không thích đến. Thế thôi. Em nghĩ là anh quá bi quan chăng? Hay em sẽ nghĩ là anh mặc cảm về sự nghèo khó? Cách nào cũng được. Anh là người luôn luôn dị ứng với mọi thứ lố bịch.

Em có thể tin những gì anh nói không?

Em còn nhớ chăng ngày nào ở Sàigòn, anh chở em trên chiếc Lambretta màu bạc, lang thang trên những con đường đất đỏ trong làng đại học Thủ Đức? Có phải đó là con đường đẹp đẽ nhất trong những tháng ngày đẹp đẽ nhất của hai ta? Còn nỗi xót xa của chúng mình lúc đó để đâu. Chiến tranh ăn mòn da thịt quê hương ta, ám ảnh cả giấc ngủ anh và chen vào cuộc tình không một ngày hòa bình của chúng mình?

Khi chiếc xe màu xanh đi ngang qua vũng nước, bắn ướt áo anh, cả mặt mũi anh, anh chợt hiểu rằng tình yêu chúng ta chẳng qua cũng chỉ là một sự tình cờ. Tình cờ hai ta gặp nhau. Ở đâu? Hình như là lần đầu tiên em theo các bạn trong trường đi thăm “chiến sĩ tiền đồn” và anh, người trung đội trưởng ngang tàng đã ngã xuống cái ngã êm ái khi bị viên đạn đầu tiên của mắt em bắn cái nhìn xuyên tâm anh. Phải rồi, chỉ là tình cờ thôi, tình cờ khi cả hai ta cùng kẹt xe dưới chân cầu Kiệu (em tan trường về, anh trên đường nghỉ phép). Tình cờ khi đèn đỏ giữ chúng ta ở một ngã tư đường. Tình cờ như khi anh cầm tay em… Nhưng giờ đây, mười năm sau, cả sự tình cờ ấy cũng chẳng còn với chúng ta nữa.

Em có biết không, vào những ngày đầu tháng Năm, Bảy Lăm, khi cả Sàigòn chìm trong một thứ âm thanh sôi sục hoảng loạn và đỏ thẫm một màu chết chóc, anh đã tìm đến em, nhưng em đã biệt tăm. Căn nhà vắng tanh, trống tuếch. Quán cà phê bên kia đường bỗng đông khách hơn xưa, nhưng tất cả những con người ngồi đó đều ngơ ngơ ngác ngác, chân trên mặt đất nhưng thần trí mãi tận nơi đâu. Anh cũng ngồi bon chen trên một chiếc ghế thấp giữa những người khách không quen nhưng rất gần gũi, bởi vì giờ đây tất cả đều cùng có một tên chung: “ngụy”. Anh “lính ngụy” ngồi đây, nhưng em “ngụy” đã bỏ đi tự lúc nào? Bao giờ chúng ta mới gặp lại nhau? Em biết cho câu hỏi ấy cách đây mười năm là một câu hỏi rất khó trả lời. Anh đã hiên ngang bước vào nhà em, đã xô cánh cửa căn phòng riêng của em. Và anh đã thấy gì? Trên bàn học, tấm ảnh chụp em đứng trước sân trường với áo dài trắng, nón lá được tháo ra khỏi khung kính và anh đọc thấy hai câu thơ chép tay bằng tiếng Việt, mà hình như em đã ghi là của Byron, anh không còn nhớ.

… Xin chia tay, và nếu là mãi mãi thêm một lần xin mãi mãi chia tay…

Có đúng là nhà thơ Byron viết như thế không? Có thể không phải là như thế. Cũng chẳng sao. Anh cần đọc lời nhắn gửi của em, chớ anh đâu cần sự chính xác của nguyên tác. Và anh tự hiểu là tấm ảnh ấy em đã viết cho anh, những dòng chữ kia là lời nhắn nhủ anh. Và em đã ký là Barbara. Phải, là Barbara và chỉ có riêng hai chúng ta mới hiểu được qui ước này. Qui ước ấy nay anh vẫn còn giữ, và chắc là em hiểu tại sao, phải không?

Đó là ngày đầu tiên anh quen em và em đã chép gửi tặng anh bài thơ của Jacques Prevert. Một bài thơ dài không dấu phẩy, chỉ có dấu chấm sau cùng. Một bài thơ mà anh sẽ phải nhớ mãi và anh đã nhớ mãi! Bởi vì nó rất gần với chúng ta, em đã nói vậy, phải không?

Oh Barbara Quelle connerie la guerre
Qu’es tu devenue maintenant
Sous cette pluie de fer
De feu d’acier de sang
Et celui qui te serrait dans ses bras
Amoureusement
Est il mort disparu ou bien encore vivant
Oh Barbara …

Em thấy chưa, đầu óc anh vẫn còn tỉnh táo chán, phải không?

Barbara, giờ này em đang làm gì?

Barbara, em có biết là cả thành phố đã bị sụp xuống trong lừa dối và sự ra đi của em đã nhận chìm anh trong đống tro tàn của những trối trăng? Anh đã ngồi trong căn phòng em rất lâu, thật lâu. Anh đã nằm trên chiếc giường đầy hơi hướm em và tưởng chừng như đang đắp lên người tấm thân nồng ấm của em; đã đốt những điếu Pall Mall dư thừa trong túi áo; đã uống đến say mèm những chai rượu của bố em còn để lại trong tủ kính; đã kéo tung tất cả hộc bàn của em ra để tìm xem biết đâu… may ra… có dòng chữ nào khác em gởi cho anh.

Không có chi hết ngoài sự bừa bộn em đã vứt lại. Chắc là em quá vội vã trước giờ ra đi nên không thể làm cách nào khác.

Barbara, kể từ giờ phút ấy đến lúc gặp lại em là mười năm. Thời gian ấy ngắn hay dài của một đời người? Nó đã uống cạn chưa trong anh cốc rượu nồng nàn của một người đàn ông tràn đầy sinh lực? Nó đã làm phai tàn chưa trong em tình yêu cuồng tín của một thiếu nữ vừa mới lớn? Những câu hỏi ấy theo đuổi anh, đến bao giờ mới chịu buông tha?

Khi chiếc xe màu xanh chạy vụt qua, cán nát quả cà chua trên mặt đường, anh cảm thấy hạnh phúc mình cũng đã tan nát đập vỡ. Anh nhớ chiếc Porsche thể thao của em. Xe hai chỗ ngồi, dàn máy radio cassette tối tân, ống thuốc an thần trong hộc, lọ nước hoa Yves Saint Laurent mùi chanh tươi bên một cái giũa móng tay đặt dưới cần sang số….

Em hỏi chiếc xe “thổ tả” Datsun của anh đã vất ra nghĩa địa chưa, và em đã hôn anh tức thì để mắng một câu trấn áp kỳ quái: “Đồ ngu, đừng giận em, trời ạ! Em yêu anh!” Em nói chúng ta không cần dư luận và cũng lại chính em, em luôn luôn nói chúng ta nên tránh con đường này, nên né cái quán ăn kia.

Em là khu rừng của những cây cao su mâu thuẫn.

Em có còn nhớ tối hôm nào hai chúng ta uống ly expresso bên vỉa hè của Newport Beach? Trời mùa hè nóng, nhưng đêm ở Newport Beach sao mà lạnh như mùa đông. Bên kia bàn hai người nói tiếng Tây Ban Nha đang hôn nhau và em hỏi tại sao ta không thể làm như họ. Rồi khi anh ôm và hôn em, em bảo: “Đừng! Đừng anh!” Không! Có lẽ chúng ta không yêu nhau, chẳng qua chúng ta yêu cái hạnh phúc mong manh của mỗi chúng ta. Chúng ta chỉ là những người thợ săn vụng về bắn những viên đạn bộc phá vu vơ vào một con vật vô hình trong khu rừng lạ vào đêm ba mươi.

Khi anh lái xe trở về, trên con đường mang tên Tình Cờ, anh đã vượt qua đèn đỏ ở ngã tư Euclid, và anh đã lãnh một cái giấy phạt. Không, Hazard không chỉ có nghĩa là Tình Cờ, nó còn là May Rủi, là Nguy Hiểm. Có phải vì anh đã không chịu hiểu hai nghĩa sau của chữ Hazard mà anh bị cái ticket chăng? Ôi, vi phạm luật lệ lưu thông ở Mỹ là một điều thường như ăn cơm bữa, như tình yêu của chúng ta. Phải không? Người ta nói ở xứ này có hai điều đáng sợ, đó là cảnh sát và thuế vụ. Đúng. Nhưng theo anh, còn một cái đáng sợ hơn nữa đó là sự vô tình của con người. Ôi, sao con người ta lại có thể lạnh tanh, lạnh lùng, lạnh lẽo, lạnh cảm đến như thế!

Chắc em không còn nhớ cái đêm trên Thủ Đức, chúng ta đi quanh trong bóng tối ở ngã tư để tìm một quán nước mua cho em chai soda. Chai soda? Em còn nhớ không? Lần đầu tiên anh biết có một thứ thuốc trị bệnh nôn mửa là soda. Chuyến dạo chơi phải chấm dứt vì em quá mệt mỏi. Em đã ngả trên tay anh suốt dọc đường về và tay lái anh đã bị chao đi khi chúng ta qua xưởng xi măng Hà Tiên. Chúng ta đã thoát được cái chết trong đường tơ kẽ tóc, nhưng em có biết gì đâu. Nếu lúc ấy anh không giữ được tay lái và giả sử như xe bị mất đà tông vào một chiếc xe “be” chở gỗ từ Bù Gia Mập về, có lẽ chúng ta đã chết bằng hai cái chết khác nhau. Em chết mà không biết là mình đang chết. Còn anh, cái chết được nhìn thấy như một tia chớp trước khi cả bầu trời tối sầm lại. Anh chờ đợi thần chết và chờ đợi lưỡi hái của nó. Ôi ghê gớm biết là chừng nào giữa cái sống và cái chết, giữa cái ánh sáng mong manh sắp tắt và cái bóng tối rộng lớn như thiên la địa võng chụp phủ xuống anh trong giây phút định mệnh kia!

Barbara, đã mười năm qua rồi, người sĩ quan “trẻ tuổi và ngang tàng” của em, kẻ thoát chết trên trận Đông Hà, kẻ vượt qua được con đường hãi hùng số Bảy, kẻ vội vã chen nhau đi trên một chuyến bay có xác người nằm dưới bánh phi cơ, đã tìm đủ mọi cách để trở về với em và rốt cuộc chỉ nhìn thấy căn phòng trống trơn, với tấm ảnh đã tháo ra khỏi khung, hai câu thơ từ biệt và một cuộn băng cassette chỉ thu có mỗi bài Sombre Dimanche.

Barbara, nơi trú ngụ sau cùng của anh là em, nhưng sau khi anh hay qua đại lộ kinh hoàng của một cuộc chiếc tàn bạo, con thuyền trú ngụ ấy đã nhổ neo.

Barbara, tám năm trong các nhà giam dạy anh một điều là hãy yêu cuộc sống một cách mãnh liệt hơn cuộc sống vốn có. Hãy nhìn mọi sự bằng con mắt của lòng tha thứ và bao dung. Hãy cao hơn kẻ thù ta, phải luôn luôn cao hơn cả kẻ đã làm ta đau khổ. Hãy tôn trọng phẩm giá con người.

Có một nơi chứa đầy mâu thuẫn, đó là trái tim của chúng ta. Bởi vì trái đất này là một nơi chốn lạnh lẽo, và chúng ta yêu nhau là một cách làm cho trái đất ấm lên. Phải không?

Nguyễn Xuân Hoàng
Springfield 1986 – Santa Ana 1987

Nguyễn Bính – Yêu quá mất rồi

 

 

nguyen_binh_2

Thi sĩ Nguyễn Bính (1918-1966)

 

Những người sáng tác, và cả những nhạc công đều đồng ý với nhau: Kỹ thuật càng phức tạp, thì tính biểu cảm của tác phẩm càng bị giới hạn. Tư tưởng, tình cảm của người sáng tạo thì bát ngát mà cứ phải co cụm trong cái rọ của những khuôn này phép nọ, niêm với luật, vần với điệu… Vì thế, nẩy sinh ra những phá cách, phá thể. Thơ tự do ra đời có lẽ là do suy nghĩ ấy, và trường phái Hậu Hiện Đại với chủ trương: Mọi bảng cấm đều được hạ xuống, mọi ngôn từ đều bình đẳng, và nhóm Dada với khẩu hiệu ngộ nghĩnh: Những gì nghệ sĩ khạc nhổ ra đều là nghệ thuật.

Nguyễn Bính chỉ làm thơ lục bát và thất ngôn, và không những ông tuân thủ triệt để niêm luật của loại thơ này, ông còn làm khó chính ông bằng cách tự đan cho mình những cái rọ. Thử đọc một đoạn trong bài “Viếng Hồn Trinh Nữ”:

Có một chiếc xe màu trắng đục
Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi
Đem đi một chiếc quan tài trắng
Và những vòng hoa trắng lạnh người
Theo bước những người khăn áo trắng
Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi…

Nguyễn Bính ra lệnh cho chính ông: Mỗi câu đều phải dùng một từ trắng, và từ này khiến cho người đọc liên tưởng tới màu trắng của những bức tường bệnh viện, nhà xác, màu trắng của khăn liệm, màu trắng của những hàng thập tự trong nghĩa trang. Có thể nói đùa rằng đây là bài thơ không dành cho những người yếu bóng vía hoặc ghi chú: Thơ đọc vào lúc 0 giờ. Ta không biết người nằm trong áo quan là ai nhưng ta lại có cảm giác đau buồn như đang theo bước những người khăn áo trắng, đưa tiễn một người thân yêu của mình vào nơi an nghỉ sau cùng. Trong cái rọ chật hẹp như thế, Nguyễn Bính vẫn có thể tung tăng múa lượn như ở giữa một cánh đồng, hay như một cao thủ võ lâm dù bị trói nhưng vẫn thi triển được những tuyệt chiêu. Ông còn bắt mình đếm ngược:

Nhà em cách bốn ngọn đồi
Cách ba con suối cách đôi cánh rừng
Nhà em xa cách quá chừng
Em van anh đấy, anh đừng yêu em…

Em van anh đấy, anh đừng yêu em” câu này nếu đứng độc lập sẽ là một câu thơ rất “ỏn ẻn”, rất “sến” nhưng nằm trong ngữ cảnh của toàn bài, ta lại thấy nó như những tiếng đàn làm trẻ lại những tâm hồn đã già cỗi, đã khô cằn. Em nói anh đừng yêu em nhưng thật ra, em lại muốn anh hãy yêu em nhiều hơn, nhiều hơn nữa. Tiếng lòng em mời gọi.

Có người hỏi nhạc sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn rằng, ngoài âm nhạc ra ông có lưu tâm đến những bộ môn nghệ thuật nào khác không, ông trả lời đại ý: “Nếu chỉ lưu tâm đến nhạc không thôi thì cái nhạc ấy không thể nào bốc lên cao được, cứ loẹt quẹt mãi ở tầng trệt.” Thật vậy, nếu một người chơi nhạc F. Chopin hoặc F. Tarrega mà không bằng tâm hồn của một nhà thơ thì sẽ chơi không đạt, không ra được cái hồn của tác phẩm. Chưa ai nghe Nguyễn Bính nói gì về hội họa, nhưng hãy xem một bức tranh của ông:

Có lần tôi thấy một mẹ già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng in bóng xuống sân ga …

Đoạn thơ không nói gì đến thời gian, nhưng ta lại thấy lúc đó trời vừa tối, sân ga vắng vừa lên đèn, ánh đèn hắt bóng người mẹ gầy gò xuống sân ga, đôi mắt già nua nhìn theo con tàu khuất ở cuối chân trời…

Và một bức tranh khác:

Sao đêm còn có đêm quên mọc
Anh chẳng đêm nào không nhớ em…
 *

Trời đêm như một tấm nhung đen gắn những hạt sao lấp lánh, trong cái huyền ảo đó, tình nhân đang nhớ tình nhân… Tình và Cảnh hòa quyện với nhau rất kỳ diệu. Trong thơ Nguyễn Bính, những hình tượng như thế nhiều lắm. Nhan nhản. Nguyễn Bính không vẽ tranh bằng cọ, và có lẽ ông cũng không am hiểu gì về hội họa, nhưng chắc chắn, ông phải có cái Tâm của một họa sĩ thì mới có thể vẽ được những bức tranh bằng chữ gây xúc động lòng người đến vậy. Những bức tranh này đôi khi nó lại chuyển động như trong một đoạn phim:

Hôm qua trên bến dưới đò
Nhìn nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
Anh đi đấy, anh về đâu
Cánh buồm nâu cánh buồm nâu cánh buồm…

Người sành văn chương thì cho rằng câu cuối cùng là tài hoa, là xuất thần, nhưng người đang mang trong lòng nỗi niềm thì chỉ thấy một cánh buồm đang nhỏ dần… nhỏ dần trên sóng, nhỏ dần rồi mất hút…Cánh buồm mang đi cả một quãng đời tươi đẹp, quãng đời ta sống bên nhau. Có nhà phê bình cho rằng chỉ với bốn câu lục bát, Nguyễn Bính đã lay động được hồn người, khác với những bài thơ ngồn ngộn những chữ mà chẳng có tác dụng gì (Nguyễn Hưng Quốc).

Có người thoáng đọc Nguyễn Bính vội vã đưa ra nhận xét “Thơ như thế này thì có gì…” (Hoài Thanh – Thi nhân hiện đại). Điều này đúng. Nhìn vào một ly thủy tinh đầy nước lọc: Không có gì thật. Không đường, không muối, không phẩm màu, không vi trùng, vi khuẩn, không tạp chất, nhưng để có được một ly nước như thế, kẻ làm ra nó đã phải tốn không biết bao nhiêu công sức để xử lý, để thanh lọc. Và điều lạ lùng, cái loại nước trong veo, trong vắt không men rượu ấy lại làm ta say, làm ta vui buồn. Đọc lại một đoạn thơ quen thuộc, ai cũng biết:

Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi…!

Chắc chắn là những ai lần đầu đọc bốn câu thơ này cũng phải cười, không cười ra tiếng cũng phải cười mỉm hay cười thầm. Nàng thì lượt là nhung lụa như tiểu thư con quan tể tướng. Còn mình, một gã trai làng áo rách vai, quần có hai miếng vá, làm gì mà không khổ! Đấy là những câu thơ vui, còn những câu thơ làm người ta buồn thì vô kể:

Rồi có đêm mưa nơi quán trọ
Đầu tôi lại gối cánh tay tôi
 *

Quán trọ không phải là nhà, cánh tay tôi chứ không phải cánh tay người tình, mưa đêm thì ray rứt…

Trong bài thơ “Lỡ Bước Sang Ngang”, Nguyễn Bính vào vai một người chị dặn dò em gái trước khi đi lấy chồng:

Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường đắng cay…

Đã có người phê bình: “Thơ này chỉ có đàn bà mới thích”. Nhưng thông tin dưới đây chứng tỏ là nhận định ấy sai lầm:

Vào thập niên 40 (không nhớ năm nào) Thủ tướng chính phủ Nam Kỳ Tự Trị Nguyễn văn Thinh ra thông báo: “Ai mời gọi được Nguyễn Bính, tác giả Lỡ Bước Sang Ngang về với Quốc Gia sẽ được thưởng 1000 đồng.” Rồi máy bay lượn trên bầu trời Kiên Giang, vùng Nguyễn Bính đang sống rải truyền đơn kêu gọi ông, nhưng ông vẫn gia nhập mặt trận Việt Minh chống Pháp. Khi ông gia nhập, tướng Trần Văn Trà căn dặn thuộc hạ phải đối xử với ông thật chu đáo. Nguyễn Bính không những chinh phục đàn bà mà cả đàn ông, kể cả đàn ông thủ tướng và đàn ông tướng lãnh. Với lại, chỉ chinh phục đàn bà không thôi thì đã chinh phục được nửa thế giới rồi còn gì. Có đàn ông nào mà lại không thích chinh phục đàn bà?

Sau khi tập kết ra Bắc, Nguyễn Bính vẫn làm thơ, nhưng hình như ông không có “năng khiếu” về cái loại thơ làm theo “lệnh trên” nên những gì ông viết ra đều rất miễn cưỡng.

Cách đây nhiều thập niên, ở miền Nam Việt Nam có phong trào thơ Thiền. Một nhà thơ muốn được xem là hiện đại, trong thơ anh ta buộc phải có chất Thiền. Vì thế, những người làm thơ đều nhồi nhét cho kỳ được những thuật ngữ Phật giáo Thiền tông vào thơ của mình, cho dù, đôi khi cả tác giả lẫn độc giả đều không hiểu những thuật ngữ Phật giáo cho lắm. Đến khi phong trào thơ Thiền tàn lụi, các nhà thơ này cũng biến mất, biến không tăm tích. Còn người nặng tâm huyết với văn học nước nhà thì kêu lên cay đắng: Những mùa văn học mất trắng. (Nguyễn Hưng Quốc) Tiếp theo phong trào thơ Thiền là phong trào thơ Tráng Sĩ (tạm gọi như thế vì không biết gọi là gì). Hình như những người theo phong trào này chỉ mong sao cho tác phẩm của mình được trở thành bản sao của bài thơ “Hồ Trường”. Vì thế, trong thơ của họ đầy rẫy những từ: Uống Rượu, Múa Gươm, Kinh Kha, Sông Dịch … Tiếc một điều là sau khi đã cạn mấy Hồ Trường rồi chẳng có tráng sĩ nào dám qua sông cả.

Sau ngày 30 Tháng Tư, cùng với mốt mặc quần hở rốn, nữ sĩ viết truyện tình dục, một mốt thơ khác lại bắt đầu. Phong trào này không biết gọi là gì. Đương đại? Hiện đại? Hậu hiện đại? Các nhà thơ của phong trào này lại nỗ lực đưa vào tác phẩm của mình những thuật ngữ cùa ngành giải phẫu. Nhưng bây giờ, những từ ngữ ấy đã trở nên những sáo ngữ, đã mòn vẹt. Loại văn thơ này đã tàn mùa. Có người còn cho rằng đọc những câu thơ, câu văn có những từ này nghe còn sến, còn lạc hậu hơn cả những câu: Ngắt nụ hoa vàng biết mình đã yêu… Em đi trong mưa… mưa rơi…mưa ướt đôi vai gầy…vv… Chúng đã chung số phận với những bài thơ Thiền, thơ Tráng Sĩ: Bị Đào Thải.

Lại một mùa văn học mất trắng nữa chăng?

Nguyễn Bính cũng theo mốt. Mốt ấy là: Chỉ dùng những từ thuần Việt, ngôn ngữ đặc thù của giới quê mùa, bình dân. Khó lòng mà tìm thấy trong thơ ông những từ hàn lâm, kinh viện. Nhưng không phải cứ đi theo con đường này là sẽ thành công đâu. Nhiều người đã bị loại ra khỏi cuộc chơi lắm rồi, may mà còn sót lại được vài người như Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, nhưng thành quả của các vị này cũng rất giới hạn. Nguyễn Bính vượt trội hẳn bởi vì tác phẩm của ông nhiều mầu sắc, khả năng chiếm lĩnh, chinh phục người đọc của ông rất cao. Tóm tắt: Ông là người có tài, có thực tài. Cách sử dụng ngôn ngữ bình dân của Nguyễn Bính như thế nào? Như thế này:

Lòng Mẹ

Gái nhớn ai không phải lấy chồng
Can gì mà khóc, nín đi không?
Nín đi mặc áo ra chào họ,
Rõ quý con tôi, các chị trông!

Ương ương, dở dở quá đi thôi,
Cô có còn thương đến chúng tôi,
Thì đứng lên nào, lau nước mắt,
Mình cô làm khổ mấy mươi người

Này áo đồng lầm, quần lĩnh tía
Này gương, này lược, này hoa tai
Muốn gì tôi sắm cho cô đủ
Nào đã thua ai, đã kém ai?

Ruộng tôi cày cấy, dâu tôi hái,
Nuôi dạy em cô tôi đảm đương
Nhà cửa tôi coi, nợ tôi giả
Tôi còn mạnh chán, khiến cô thương?!

Đưa con ra đến cửa buồng thôi,
Mẹ phải xa con khổ mấy mươi
Con ạ, đêm nay mình mẹ khóc,
Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi…

Suốt bài thơ chỉ là một tràng kể lể của một bà già nhà quê lắm miệng mồm, không liên quan gì đến thơ phú cả. Thế mà nó lại làm cho người ta cảm động với những câu: Nhà cửa tôi coi, nợ tôi giả. Nợ nần nhiều lắm, nhưng mà mẹ vẫn cố chạy ngược chạy xuôi cho con manh quần tấm áo, đôi hoa tai trong ngày cưới để được bằng chị bằng em. Và đoạn sau cùng làm ta thấm thía nỗi đau của người mẹ khi nhìn đứa con mình đứt ruột đẻ ra đi làm con người khác, không biết nơi nó đến đục trong, sướng khổ thế nào. Thật ra, chỉ có những người dân hoặc những người đã sống nhiều năm ở miền Đồng Bằng Bắc Bộ mới hiểu được trọn vẹn cái hay của bài thơ và tài năng của tác giả, một tiếng thơ đứng vững trên thi đàn hơn 70 năm.

Suy cho cùng, dù thành công hay thất bại, lưu danh hậu thế hay rơi vào quên lãng cũng chỉ vì lòng yêu thơ quá đấy thôi. Yêu lắm…

Thế nghĩa là yêu quá mất rồi! **

 

 

Nguyễn Quang Tấn

* Viết theo trí nhớ, nên có thể sai một vài từ.

** Thế nghĩa là ghen quá đấy thôi / Thế nghĩa là yêu quá mất rồi. (Ghen)

NHỮNG ÂM THANH TAN VỠ

(Tặng ĐH)
1.
từng cánh mây rụng . hoảng hốt
ai nghe thấy tôi không?
im lặng.
tiếng đập cánh buồn bã của bầy mối non
làm run rẩy bức tường đêm.
những nốt nhạc soi mình vào câu từ dang dở
bài hát về cuộc hành hương của đàn rắn đuôi chuông
lạc đường trên sa mạc.
ai nghe thấy tôi không?
im lặng.
gã nhạc sỹ lang thang tựa đầu vào chiếc đàn
lắng nhịp thở mưa
những nhánh hoa khuya giật mình
làn hương nhợt nhạt đơm trên những bàn tay gió
lẻn vào giấc mơ những kẻ không nhà
dưới gầm cầu
bầy chuột nằm nhớ về những đóa sao xanh.
2.
tôi bay qua những hải cảng không tàu
bắt gặp những nàng mỹ nhân ngư ngồi trên mỏm đá
ánh trăng vàng lười biếng chiếu vào từng đôi mắt
nỗi cô đơn chảy tràn mặt biển
tôi dừng lại trên tiếng hát du dương
lắng nghe trái tim mình rung lên muôn sợi tơ đồng cảm
tiếng quẫy mình của đàn cá kiếm
làm vụn vỡ vầng trăng
tiếng hát bặt câm
những nàng mỹ nhân ngư vùi thân vào sóng
tôi hóa làm con tàu
giữa hải cảng. bơ vơ.

 

Trương Đình Phượng

Khi Em Mười Sáu 

Cho tôi xin nửa bóng trăng ngoài
Với nửa mùa thu trong mắt ai
Lá rụng bao nhiêu hè phố cũ
Sao nghe lòng rưng rưng nhớ người

Đêm biếc cành soan, thơm giấc mơ
Đầu hiên hoa trắng nở bao giờ
Em mười sáu tuổi trăng mười sáu
Áo lụa phơi buồn sân gió xưa

Tôi dối lòng tôi đêm sắp tàn
Đêm tàn để lạnh giấc mơ em
Để bàn tay gối sầu trên ngực
Và gió thu đầy trong mắt trăng

Tôi dối lòng tôi trăng sắp mờ
Trăng mờ em sẽ thấy bơ vơ
Sẽ thương cho những con đường cũ
Và nhớ bao nhiêu lối hẹn hò

Nhưng hẳn là em không nhớ đâu
Giấc mơ còn mát ánh trăng sầu
Hoa còn thơm tuổi đời trên má
Mùi áo còn say muôn kiếp sau

Lòng nhớ lòng thương lòng ngại ngùng
Bây giờ tôi cách núi xa sông
Bài thơ từ thủa trăng mười sáu
Mười sáu trăng chờ em biết không

Tôi dối lòng tôi bao nhiêu lần
Bao nhiêu lần trăng vẫn là trăng
Lòng nhớ lòng thương lòng sắp khóc
Đêm chưa tàn đâu đừng nói năng.

Hoa và trái đêm nay đây thức dậy
Ôi mộng đời em hiểu chữ xuân-xanh
Con đường đó đêm này đây trở lại
Cùng gió mưa phùn buốt cánh tay anh …

 

Trần Dạ Từ

Mùa Vu Lan, Nghĩ Về Mẹ Và Quê Hương

 

Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe “thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là người mẹ” Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.
Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyệt đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc.
Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoác chiếc mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đợi ngày về của đứa con mải mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gũi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.
Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
*
Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về
*
Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương
*
Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao với
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
*
Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
*
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ đơn giản và dể hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đó là nơi tôi đã sống 8 năm.
Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay với của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.
Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”
Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao” Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu”
Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về, nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.
Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.
Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cặp vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng. Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.
Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.
Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía Nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.
Tôi kính yêu mẹ. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.
Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.
Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.
Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình” Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi” Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai” Lớn lên tôi sẽ làm gì” Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh” Những người du kích bên kia sông là ai” Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.
Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.
Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.
Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.
Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.
Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.
Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi, dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.
Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình. Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.
Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng. Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.
Trần Trung Đạo