TỰ KHÚC

vungocgiao

một.

ngày làm thân ngựa phố
đêm dấy mộng thiên đàng
chiều ngất ngư quán chợ
tiếng hí buồn mang mang

sá gì hạt bụi nhỏ
giữa mịt mờ nhân gian ..

hai.

dăm nốt nhạc , dăm chữ thơ dấm dớ
cũng theo ta – đi , quá nửa cuộc chơi !
vài thằng bạn , vài cuộc tình ấm ớ
đủ cho ta – phiêu hốt với đất trời !

vũ ngọc giao

THƯ GỞI CHO ÔNG ĐOÀN VĂN TOẠI

sonnghi

(qua bài Thổn Thức cho VN)

(Cần nói thêm, con trai của ông Đoàn văn Toại (ĐVT) lấy ca sĩ Trần Thu Hà, là cháu ruột của nhạc sĩ Trần Tiến. Một gia đình Bắc kỳ rặc cộng sản thông gia với gia đình Nam kỳ rặc ngây thơ về chính trị.)

Ngay từ những dòng chữ đầu, ông Toại đã phải thú nhận là hiện tượng 1 triệu người Bắc di cư vào Nam năm 1954 vẫn không lay chuyển được niềm tin của ông vào chủ nghĩa cộng sản. Cũng như những người miền Nam chân chất, họ không ngờ là những điều được nghe là bằng chứng sống, bằng chứng của máu và nước mắt. Họ vẫn cho là cường điệu, bi thảm hóa sự việc một cách lố bịch. Gia đình tôi cũng di cư. Ông cụ tôi bảo nói ra không ai hiểu cho. Nhưng chỉ có một điểm nho nhỏ mà dân chúng miền Nam không để ý. Đó là: nếu dân di cư nói dối, tại sao cả triệu người đều nói dối giống nhau. Làm sao mà tất cả mọi người đủ mọi thành phần, trí thức, thất học, nông dân, thợ thuyền, buôn thúng bán bưng, lại có thể kể lại rành mạch từng chi tiết giống nhau đến thế. Chỉ một điểm nhỏ thế thôi mà phải đợi đến những năm sau 75, dân miền Nam mới hiểu thấu đáo được hai chữ cộng sản.

Bây giờ nói đến bài viết của ông. Với tầm hiểu biết thô thiển, tôi nhận thấy một vài điều nực cười trong bài viết “Thổn Thức cho VN” của ông Toại.

1. Sau bao nhiêu năm, ông nhận thấy ông chọn lầm lý tưởng. Ông vượt biển, ở Mỹ, ung dung ngồi viết bài để tưởng nhớ quê hương. Vậy mà đặt bút xuống, ông vẫn gọi chế độ Thiệu là bù nhìn.

Trước hết phải định nghĩa hai chữ “bù nhìn” (puppet). Bù nhìn để chỉ một chính quyền (hay một người) cậy nhờ vào một chính quyền khác (hoặc người khác) mạnh hơn để sống còn, và phải luôn thi hành theo ý của họ. Theo định nghĩa đó, có thể ông Thiệu bù nhìn trên một vài phưong diện. Lấy ví dụ, Hiệp định (HĐ) Balê ký kết năm 1973. Ông Thiệu không hề muốn ký vào HĐ này, vì những điều kiện trong HĐ hoàn toàn bất lợi cho VNCH. Mỹ đã liên minh với Tàu để dựng lên HĐ Balê, hầu chống lại Liên sô và “ban” cho Tàu cái quyền “làm vua” ở Đông nam á. Ông Thiệu biết ký vào là tự mình giết mình. Nhưng ông không làm gì được. Ông Thiệu phải ký. Ông phải nghe lời Mỹ ký vào bản án tử hình chỉ vì mớ súng đạn dư thừa Mỹ đem bố thí cho miền Nam hằng năm. Mỹ ép, nếu không ký là không viện trợ. Và hậu quả thì ông biết rồi, chỉ cần 2 năm sau, Mỹ lật lọng hoàn toàn cắt viện trợ không thương tiếc, cho dù chỉ một viên đạn.

Hiểu bù nhìn theo nghĩa đó thì chính quyền Thiệu đôi lúc bị ép một cách oan uổng như thế. Bây giờ mời ông quay trở lại năm 1954 ở miền Bắc nhé. Bà Nguyễn thị Năm, một người giàu có từng giúp Việt minh rất nhiều. Nhiều cán bộ ăn dầm ở dề nhà bà, trong đó có ông Hồ. Bà có anh con trai là sĩ quan trong Quân đội Nhân dân, anh hùng trận Điện biên vừa thắng thực dân Pháp vẻ vang. Thế mà ông Hồ vẫn ký giấy lôi bà ra pháp trường để đấu tố. Tại sao ông Hồ lại độc ác và tàn nhẫn đến thế? Thưa cũng vì số súng đạn viện trợ của Tàu. Không đấu tố bà Năm thì Tàu không viện trợ nữa. Vì mớ súng đạn đó mà ông Hồ giết bà Năm, và hàng trăm nghìn cái chết oan khiên khác xảy ra trong suốt thời kỳ đấu tố mà thiết tưởng tôi không cần kể thêm nữa.

Tôi hỏi ông, thế thì chính quyền nào bù nhìn hơn? Và hơn 1 triệu người Bắc bỏ hết mồ mả cha ông di cư vào miền Nam năm 1954 mang theo những câu chuyện tàn ác thương tâm như thế “làm quà” cho dân chúng miền Nam. Thế mà ông và dân của ông bảo là bọn Bắc kỳ dối trá. Thật là nực cười, Bắc kỳ di cư thì ông không tin, còn Bắc kỳ việt cọng thì ông tin còn hơn tín đồ Thiên Chúa giáo tin vào Kinh thánh nữa.

2. Ông mở đầu bài viết với câu, “tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ” (hết trích). Với tất cả hệ quả do ông và những kẻ đồng thời với ông để lại cho nước VN như bây giờ mà ông chỉ buồn rầu thôi sao.

Ông đứng lên tranh đấu để đạp đổ một chính quyền (dưới mắt ông) không hoàn thiện. Ông tin rằng nước VN sẽ rạng rỡ hơn khi quyền hành nằm trong tay những người cộng sản. Thế mà khi tiền đồ của đất nước xoay chuyển sang một hướng khác không theo ý ông mong ước, ông lại vượt biên. Đúng ra, ông phải ở lại để “hưởng” những “thành quả” của ông chứ. Ông có gan chống đối bất công, thì ông cũng phải có can đảm để nhìn thẳng và hệ lụy do ông tạo ra chứ.

Hai chữ “cách mạng” quý lắm. Đi làm cách mạng với hoài bão xây dựng một đất nước hùng cường hơn, vững mạnh hơn. Tiếc thay, một số khoa bảng miền Nam như LS Nguyễn hữu Thọ, KTS Huỳnh tấn Phát, BS Dương Quỳnh Hoa, ông Trương như Tảng, ông Nguyễn công Hoan, và cả ông học nhiều hiểu rộng, bằng cấp đầy mình… thế mà vẫn không hiểu được 2 chữ “cộng sản”, trong khi những bằng chứng bày ra đầy trước mắt. Các ông giống như con đà điểu vùi đầu vào cát không muốn tìm hiểu sự thật, để rồi lúc cuối đời phải than lên, “tôi buồn rầu…” Thú thật, số vốn hiểu biết về chính trị của ông và những nhà khoa bảng miền Nam không bằng kinh nghiệm chính trị của một thanh niên miền Bắc. Đó là sự thật, ông ạ! Hy vọng ở tuổi này ông cũng nhận ra chân lý ngàn đời không thay đổi đó.

Ông và những “đồng chí” của ông quyết liệt phá bỏ một miền Nam tương đối vững mạnh, và hân hoan trao quyền cho những người cộng sản. Họ giống ông ở điểm cũng bất mãn với chế độ (như bà Dương Quỳnh Hoa) khi vận mệnh nước nhà rẽ sang một hướng khác với hướng mà ông (ngây thơ) đề nghị với nhà nước cộng sản. Nhưng họ khác ông ở điểm là họ vẫn ở lại trên quê hương để sống, để chứng kiến cảnh đổi đời. Một vài người trong nhóm của ông giờ này vẫn còn can đảm đứng lên (như thuở nào) để chống đối bất công đang xảy ra nhan nhản trên quê hương. Họ vẫn theo đuổi lý tưởng “cách mạng” của họ một cách trung thành. Trong một chừng mực nào đó, tôi vẫn còn phục những người này.

Còn ông, khi sự việc không xảy ra theo ước mơ của ông thì ông nhanh chân đào thoát bằng thuyền. Ông có nhận ra điểm nực cười đó không? Ông thẳng tay tàn phá một chế độ cưu mang ông, gia đình ông rồi đến hồi chung cuộc ông lại chạy trốn là thế nào? Trước 75, ông không bị động viên, ông rảnh rang ở hậu cứ, để rồi xúi giục sinh viên xuống đường chống đối chính quyền. Ông còn khoe đã đi thuyết trình ở các đại học Mỹ danh tiếng để tìm hậu thuẫn hầu phá đổ chính quyền VNCH cho bằng được. Sau 75, sự bất mãn khiến ông bỏ ngang con đường “cách mạng” của ông. Đường nào ông cũng sống được. Có bao giờ ông nghĩ ông đúng là kẻ cơ hội chủ nghĩa không? Sự nghiệp “cách mạng” của ông đã làm Mẹ VN sống dở chết dở. Đến lúc Mẹ nằm xuống, ông không dám về chịu tang, tạ tội với người Mẹ nhưng từ phương xa, ở Mỹ, có thì giờ rảnh rỗi, ngồi ở phòng khách, bên ly cà phê, ông ung dung ngồi viết “Thổn Thức cho VN” bày tỏ lòng thương tiếc người Mẹ đã khuất. Trong một chừng mực nào đó, tôi chê ông hèn.

Chọn lầm lý tưởng cho đời mình chỉ gây tại hại cho một cuộc đời. Chọn lầm lý tưởng để phục vụ cho một đảng phái chỉ gây tai hại cho một thế hệ. Nhưng chọn lầm lý tưởng – như ông – để phục vụ cho một chủ thuyết gây tai họa cho cả một dân tộc. Mãi mãi, ông và những nhà khoa bảng miền Nam chỉ là những hòn gạch lót đường cho những tay làm chính trị lão luyện hơn. Thân phận chính trị sa-lông của ông chỉ như chậu kiểng chưng ở phòng khách với vẻ cái mác phản chiến hào nhoáng bên ngoài. Tiếc thay, đến thời chung cuộc, chậu kiểng đã hoa tàn nhụy rữa nên chỉ đáng ném vào sọt rác. Xin lỗi, tôi nói ra hơi thừa, vì năm 1976, họ đã ném tất cả các ông vào sọt rác rồi.

Tôi khuyên ông đừng “thổn thức cho VN” nữa, nhưng hãy tự thổn thức lương tâm của chính ông. Ông viết bài tố khổ một chế độ cho ai hiểu đây? Nếu cho chúng tôi thì ông làm công việc hơi thừa vì chúng tôi đã hiểu hai chữ “cộng sản” từ lâu rồi. Từ năm nào nhỉ? À, cái năm chúng tôi di cư vào Nam đấy, năm mà các ông bảo chúng tôi là nói dối đấy.

Tôi khuyên ông đừng bao giờ viết “Thổn Thức cho VN” nữa. Và cũng đừng buồn rầu suông nhưng hãy tự đấm ngực ăn ăn tội tày trời ông và đám trí thức miền Nam đã phạm đối với tiền nhân, và với dân tộc.

Chào ông.

Thổn thức cho Việt Nam
Đoàn Văn Toại

Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.

Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam. Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng. Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi. Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này?

Kể từ năm 1945, năm tôi ra đời tại huyện Cái Vồn thuộc tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 160 km về hướng Nam, cho đến khi ngày tôi rời Việt Nam vào tháng 5/1978, tôi chưa từng một ngày vui hưởng hoà bình. Căn nhà gia đình tôi đã bị đốt 3 lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt cuộc đời niên thiếu, tôi đã phải theo cha mẹ di tản từ làng này sang làng khác để tránh tên bay đạn lạc. Cũng giống như những người Việt Nam yêu nước khác, cha mẹ tôi cũng tham gia kháng chiến chống Pháp. Khi tôi lớn lên, tôi lại tận mắt chứng kiến các nông dân đã bị các quan chức địa phương của chính quyền Sài Gòn áp bức ra sao, và họ đã phải chịu những cuộc oanh tạc tàn khốc của quân Pháp như thế nào. Tôi đã học trong lịch sử sự chiến đấu kiên cường của dân tộc chống lại ách đô hộ ngàn năm của giặc Tàu rồi đến các cuộc kháng chiến gian khổ chống ách thống trị trăm năm của giặc Tây. Với hành trang đó, tôi và các bạn đồng lứa đã lớn lên cũng với nỗi căm thù sự can thiệp của ngoại bang.

Vietnam, A portrait of its people at war

Khi các sinh viên Sài Gòn bầu tôi vào chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài Gòn vào năm 1969 và 1970, tôi đã tham gia vào các hoạt động đòi hoà bình khác nhau, đã lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chế độ Thiệu và sự dính líu của người Mỹ. Tôi đã ấn hành nguyệt san Tự Quyết, và đã làm một cuộc du hành đến California để thuyết trình về các hoạt động phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford vào tháng 1/1971. Vì các hoạt động đó, tôi đã bị bắt và tống giam nhiều lần dưới chế độ Thiệu.

Vào thời điểm ấy, tôi tin rằng tôi đang thi hành sứ mệnh hoà bình và độc lập cho đất nước tôi. Tôi cũng tin tưởng vào đề cương của MTDTGPMN, một tổ chức đang lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét các nhà lãnh đạo Sài Gòn, các người như Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Đặng Văn Quang ‒ những cựu chiến binh trong quân đội viễn chinh Pháp. Đó là những người được Pháp tuyển mộ vào năm 1940 để giúp chúng tiêu diệt các phần tử kháng chiến Việt Nam. Theo thời gian, họ đã vươn lên thành những nhà lãnh đạo, nhưng sự lãnh đạo của họ không thu được lòng dân. Và chính vì không có được ủng hộ của người dân, nên họ phải dựa vào các thế lực nước ngoài.

Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình.

Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ. Hơn thế nữa, tôi lại thấy choáng ngợp trước các thành tích hy sinh và tận tâm của các lãnh tụ cộng sản. Chẳng hạn, Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch Bắc Việt, đã bị nhốt đến 17 năm trong nhà tù của Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn trước bản đề cương chính trị được MTDTGPMN áp dụng, bao gồm chính sách hoà giải dân tộc, không hề có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết. Cuối cùng, tôi đã chịu ảnh hưởng của các phong trào tiến bộ khắp thế giới và các nhà đại trí thức phương Tây lúc ấy. Tôi đã có cảm tưởng rằng các lãnh đạo phong trào phản chiến ở Mỹ cuối thập niên 60 đầu 70 đã chia sẻ cùng niềm tin với tôi.

Niềm tin ấy càng được củng cố hơn sau khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973 và sự sụp đổ của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa năm sau đó. Khi cuộc giải phóng đã hoàn tất, tôi chính là người đã khuyên bảo bạn bè và thân nhân không nên di tản. “Tại sao các người lại bỏ đi?” tôi hỏi, “Tại sao các người lại sợ cộng sản?” Tôi chấp nhân một viễn cảnh khó khăn trong thời gian tái thiết quê hương nên đã quyết định ở lại và tiếp tục làm việc với tư cách một quản trị viên một chi nhánh của Ngân hàng Saì Gòn, nơi tôi đã làm việc hơn 4 năm, và là nơi tôi viết các báo cáo mật về tình hình kinh tế Nam Việt Nam cho MTDTGPMN (Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa động viên vì là con một trong gia đình. Tôi cũng không gia nhập Việt Cộng vì MTDTGPMN nghĩ rằng tôi sẽ phục vụ tốt hơn trong vai trò báo cáo tài chính từ ngân hàng).

Sau khi Sài Gòn thất thủ được nhiều ngày, MTDTGPMN thành lập chính quyền Cách mạng Lâm thời, mời tôi gia nhập một uỷ ban tài chính, một nhóm bao gồm các trí thức có nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền về các vấn đề kinh tế. Tôi hăng hái tham gia, chấp nhận mức cắt giảm lương đến 90%. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giúp thảo ra một kế hoạch nhằm tịch thu tất cả các tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam. Tôi cảm thấy sốc, và đề nghị chỉ nên thi hành điều đó với tài sản những người từng cộng tác với chính quyền cũ và với những người đã làm giàu nhờ chiến tranh, và sẽ phân phối lại theo một cách thức nào đó cho các người nghèo và nạn nhân chiến tranh không phân biệt thuộc phe nào. Đề nghị của tôi bị bác bỏ, dĩ nhiên.

Tôi đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng các quan chức địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu lầm ý định tốt của các lãnh đạo đảng cộng sản. Tôi đã tranh đấu với họ nhiều lần, vì hoàn toàn đặt niềm tin vào các tuyên bố của Hà Nội trước đây rằng “tình hình ở Nam Việt Nam rất đặc biệt và rất khác với tình hình miền Bắc Việt Nam”. Chỉ vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã tuyên bố “miền Nam cần có chính sách riêng của nó”. Sau cùng, tôi không thể tuân theo lệnh sắp đặt các cuộc tịch thu tài sản tư hữu, một kế hoạch vẫn đang được xúc tiến. Một kế hoạch như vậy không hề đáp ứng nguyện vọng của người dân Nam Việt Nam, và nó đi ngược với lương tâm của tôi. Tôi quyết định từ chức. Nhưng không ai được phép từ chức trong chế độ cộng sản.

Một ngụ ý bất tuân lệnh sẽ không được người cộng sản tha thứ. Khi tôi đưa đơn từ chức, người lãnh đạo uỷ ban tài chính đã cảnh cáo rằng hành động của tôi “sẽ bị xem là sự tuyên truyền nhằm kích động quần chúng, và rằng chúng ta không bao giờ cho phép điều đó xảy ra”. Nhiều ngày sau đó, trong khi tôi đang tham dự một buổi hoà nhạc tại Nhà Hát Lớn (trước đây là trụ sở Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, nơi mà tôi đã lãnh đạo các sinh viên chiếm giữ nhiều lần trước đây dưới chế độ Thiệu), tôi bị bắt. Không có sự truy tố cũng như không có lý do nào được đưa ra. Sau khi Sài Gòn thất thủ, rất nhiều nhà trí thức tiến bộ cũng như nhiều nhà lãnh đạo các phong trào phản chiến trước đây đều tin rằng chính quyền mới sẽ đem lại dân chủ và tự do thay cho sự thống trị của ngoại bang. Họ tin rằng chính quyền mới sẽ đeo đuổi các quyền lợi tốt nhất cho nhân dân. Sẽ giữ đúng lời hứa của chính họ về chính sách hoà giải dân tộc, không có sự trả thù. Phủi sạch những hứa hẹn, nhà cầmn quyền cộng sản đã bắt giam hàng trăm ngàn người ‒ không chỉ những người đã cộng tác với chế độ Thiệu mà cả những người khác, bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo và các cựu thành viên MTDTGPMN.

Việt Nam ngày nay trở thành một quốc gia không có luật pháp nào khác hơn là sự điều hành độc đoán của những kẻ đang nắm quyền lực. Không hề có cái gọi là dân quyền. Bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt mà không cần truy tố cũng như không cần xét xử. Và khi đã ở trong tù, các tù nhân đều được giáo dục rằng chính các thái độ, hành vi và sự “cải tạo tốt” là yếu tổ chủ chốt đễ xét xem liệu họ có thể được trả tự do hay không- không cần biết họ đã phạm tội gì. Vì vậy, các tù nhân thường là phải tuân lệnh tuyệt đối các quản giáo để hy vọng được thả sớm. Trong thực tế, họ không bao giờ biết được khi nào họ sẽ được thả – hay có thể bản án của họ sẽ được kéo dài thêm. Ở đất nước Việt Nam ngày nay có bao nhiêu tù chính trị? Không ai có thể biết được con số chính xác. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có khoảng từ 150.000 đến 200.000 chính trị phạm, người Việt tỵ nạn thì ước đoán con số đó là 1 triệu.

Hoàng Hữu Quýnh, một trí thức tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, hiệu trưởng một trường kỹ thuật tại Tp. HCM (trước đây là Sài Gòn), vừa mới bỏ trốn trong một chuyến đi tham quan các nước Châu Âu do nhà nước bảo trợ. Ông đã nói với báo chí Pháp, “Hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 700.000 tù nhân”. Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, một cựu thành viên trong Quốc hội thống nhất được bầu vào năm 1976, đã vượt biển thành công vào năm 1978, đã tuyên bố chính bản thân ông được biết về “300 trường hợp xử tử” chỉ nội trong tỉnh Phú Yên của ông.

Vào năm 1977, các quan chức Hà Nội khăng khăng rằng chỉ có 50.000 người bị bắt giữ vì có những hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Nhưng trong khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trên tờ Paris Match số ra ngày 22/9/1978, “Trong vòng 3 năm qua, tôi đã trả tự do cho hơn 1 triệu tù nhân từ các trại cải tạo.” Người ta có thể tự hỏi làm thế nào có thể thả 1 triệu tù nhân trong khi chỉ bắt giữ có 50.000!

Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.

Sau 2 tháng biệt giam, tôi được chuyển ra phòng giam lớn, một phòng giam 5m x 9m, tuỳ theo thời điểm được nhồi nhét từ 40 đến 100 tù nhân. Nơi đây chúng tôi phải thay phiên để được nằm xuống ngủ, và phần lớn các tù nhân trẻ và còn mạnh khoẻ phải chịu ngủ ngồi. Trong cái nóng hầm hập, chúng tôi cũng phải thay phiên để được hứng vài cơn gió mát của khí trời từ một lỗ thông gió chút xíu và cũng là cửa sổ duy nhất của phòng giam. Mỗi ngày tôi đều chứng kiến các bạn tù chết dưới chân tôi.

Vào tháng 3, 1976, khi một nhóm phóng viên phương Tây đến viếng thăm nhà tù của tôi, các quản giáo đà lùa các tù nhân đi và thay vào đó là các bộ đội miền Bắc. Trước cửa nhà tù, không còn thấy các hàng rào kẻm gai, không có tháp canh, chỉ có vài công an và một tấm bảng lớn chăng ngang cửa chính đề câu khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chỉ có những người đang bị giam và các quản giáo là biết cái gì thực sự ẩn giấu đằng sau những dấu hiệu đó. Và mọi tù nhân đều biết rằng nếu họ bị tình nghi đào thoát thì người bạn đồng tù và người thân của họ tại nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính họ.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số thực sự của những tù nhân bỏ mạng, nhưng chúng ta đã biết cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng, những người trong quá khứ chưa bao giờ cộng tác với Chính quyền Thiệu hay với người Mỹ: chẳng hạn, Thích Thiện Minh, nhà chiến lược cho các phong trào tranh đấu hoà bình của Phật tử tại Sài Gòn, một nhà đấu tranh phản chiến đã từng bị kết án 10 năm dưới chế độ Thiệu, sau cùng bị buộc phải thả ông vì sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và các nhà hoạt động phản chiến khắp thế giới. Đại Đức Thiện Minh đã chết trong tù 6 tháng sau khi ông bị bắt vào năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của Luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập tại Quốc hội dưới thời Tổng thống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết dưới bàn tay cộng sản vào năm 1976, mặc dù vào cuối tháng 4/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các phóng viên Pháp rằng ông vẫn còn sống mạnh khoẻ trong trại cải tạo. Một trong những tổn thất to lớn nhất là cái chết của triết gia nổi tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Tường, bạn đồng môn với Jean Paul Sartre thập niên 30 tại Paris, có lẽ là nhà trí thức hàng đầu tại Nam Việt Nam. Ông chết tại nhà tù Hàm Tân vào ngày 26/06/1980. Đây là những người bị bắt, cùng với rất nhiều những người khác trong nhóm những người Nam Việt Nam ưu tú và được trọng nể nhất, với mục đích ngăn ngừa bất cứ một sự chống đối nào với chế độ cộng sản.

Một số người Mỹ ủng hộ Hà Nội đã làm lơ hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã từng làm với vô số các thảm kịch đã xảy ra từ khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975. Rất có thể họ sẽ vẫn tiếp tục giữ im lặng nhằm lãng tránh một sự thật về Việt Nam nếu tiết lộ sẽ mang lại một nỗi vỡ mộng sâu xa đối với họ. Cay đắng thay nếu tự do và dân chủ vẫn là mục tiêu xứng đáng để chiến đấu tại Philippines, tại Chile, tại Nam Hàn hay tại Nam Phi, thì nó lại không xứng để bảo vệ tại các nước cộng sản như Việt Nam.

Mọi người đều nhớ đến vô số các cuộc biểu tình chống đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam và chống lại các tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số trong các người đã từng một thời nhiệt thành với các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền thì nay lại tỏ ra hết sức lãnh đạm khi cũng chính các nguyên tắc ấy đang bị chà đạp tại nước Việt Nam cộng sản. Chẳng hạn, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, vào tháng 5, 1979 đã từ chối ký vào một bức thư ngỏ gởi nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có chữ ký của nhiều nhà hoạt động phản chiến khác, kể cả Joan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chế độ Hà Nội. Kunstler nói “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền xã hội chủ nghĩa, dù đó là sự vi phạm nhân quyền”, và “toàn bộ chiến dịch này của Baez có thể là một âm mưu của CIA”. Câu nói này đã làm tôi nhớ lại lập luận mà chế độ Thiệu thường đưa ra làm lý do đàn áp các người đối lập, “Tất cả các hoạt động phản chiến và đối lập đều do cộng sản giựt dây”.

Còn có rất nhiều những huyền thoại về chế độ hiện hành tại Việt Nam mà người dân rất nên được soi sáng. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh đầu tiên là một người quốc gia và rằng đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều độc lập với Liên Sô. Tôi cũng là người tin như vậy trước khi cộng sản chiếm miền Nam.Nhưng rồi chân dung các nhà lãnh đạo Soviet nay được treo đầy các chung cư, trường học và các công sở trên khắp nước “Việt Nam độc lập”. Ngược lại, người ta chưa từng thấy chân dung bất cứ một nhà lãnh đạo Mỹ nào được treo ngay cả trong chế độ được gọi là bù nhìn của Tổng thống Thiệu. Mức độ lệ thuộc của chính quyền hiện hành vào các ông chủ Soviet được thể hiện rõ ràng nhất do thi sĩ nổi tiếng của cộng sản Việt Nam, Tố Hữu, thành viên Bộ Chính Trị và là Trưởng Ban Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có cơ hội được nghe người thi sĩ cao cấp này than khóc nhân cái chết của Stalin:

‘Xít-ta-lin! Xít-ta-lin,
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin
Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,
Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười’.
(Đời đời nhớ ông – Tố Hữu).

Thật là khó mà tưởng tượng những vần thơ như vậy lại được viết tại Việt Nam, một đất nước mang nặng truyền thống gia đình và bổn phận với con cái. Và bài thơ ấy vẫn đang chiếm một vị trí trang trọng trong ấn bản về thơ ca Việt Nam hiện đại được xuất bản tại Hà Nội.

Hơn thế nữa, Lê Duẩn , Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam, trong một bài diễn văn chính trị đọc trước Hội nghị khoáng đại của Quốc hội thống nhất năm 1976, “Cuộc cách mạng Việt Nam là để thực thi bổn phận và các cam kết quốc tế”, và vì vậy, trong lời lẽ của bản luận cương của đảng năm 1971 đã viết, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Soviet”. Sự vinh quang của một xã hội Soviet là mục tiêu chính yếu trong sách lược của đảng cộng sản Việt Nam.

Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà nước đã ngay tức khắc đóng cửa toàn bộ các nhà sách và rạp hát. Tất cả các sách vở được xuất bản trong chế độ cũ đều bị tịch thu hay đốt bỏ. Các tác phẩm văn hoá thuần tuý cũng không ngoại lệ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie. Ngay cả tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn chương đồi truỵ. Nhà nước thay thế những tác phẩm ấy bằng những tác phẩm văn chương nhằm nhồi sọ trẻ em và người lớn với ý tưởng chủ đạo, “Liên bang Soviet là thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.

Một lập luận khác của các nhà biện luận phương Tây có liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Một điều khoản của bản hiến pháp mới, được đưa ra vào năm nay, có nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẩn đã nhiều lần tuyên bố, “Chế độ của chúng ta triệu lần dân chủ hơn bất cứ chế độ nào trên thế giới”.

Ngược lại, trên thực tế, đã trình bày rõ sự thật qua một sự kiện mang tính báng bổ một ngôi chùa Phật giáo, trong vụ đó một người đàn bà khoả thân theo lệnh nhà nước đã tiến vào ngôi chùa trong giờ hành lễ. Khi Hoà thượng Thích Mẫn Giác, một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, lên tiếng phản đối, nhà nước đã nhân vụ này lên án Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, chính xác là vi phạm quyền tự do không tín ngưỡng. Hoà Thượng Thích Mẫn Giác, người đóng vai trò là cầu nối giữa Phật giáo và nhà nước cộng sản, đã phải vượt thoát Việt Nam bằng thuyền vào năm 1977 và nay đang định cư tại Los Angeles. Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệt vọng của họ. Khi Harrison Salisbury của tờ New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng 12, 1966, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nói với ông, “Sách lược tranh đấu của miền Nam được chỉ đạo từ miền Nam chứ không phải từ miền Bắc”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với Salisbury, “Không có ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội ác” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.

Vậy mà trong diễn văn đọc nhân lễ mừng chiến thắng vào ngày 19/05/1975, Lê Duẩn đã nói, “Đảng của chúng ta là một và là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu của cuộc cách mạng”.

Trong bản báo cáo chính trị đọc trước Quốc hội hợp nhất tại Hà Nội vào ngày 26/05/1976, Lê Duẩn nói, “Nhiệm vụ cách mạng chiến lược của đất nước ta trong thời kỳ mới là thống nhất tổ quốc và đưa toàn bộ đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, lên chủ nghĩa cộng sản”.

Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời do MTTGPMN thành lập đã bị xoá sổ, và toàn thể 2 miền Nam Bắc Việt Nam đều nằm dưới sự cai trị của những người cộng sản. Ngày nay,trong số 17 thành viên Bộ Chính trị và 134 Uỷ viên Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, không hề có người nào thuộc MTDTGPMN trước kia. Ngay cả Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch MT, chỉ nắm chức vụ Chủ tịch nhà nước, một chức vụ mang tính nghi lễ với nhiệm vụ đón tiếp khách nước ngoài và tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng ngay cả vị trí đó rồi sẽ bị xoá bỏ khi bàn hiến pháp mới ra đời.

Trương Như Tảng
Nguồn: A Vietcong Memoir

Hãy nghe lời của ông Trương Như Tảng, một những người sáng lập MT, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, vừa mới đây cũng là một thuyền nhân vượt biển. Ông Tảng trốn thoát khỏi Việt Nam vào tháng 12, 1979 và hiện nay sống tại Paris. Ông đã nói với các phóng viên về kinh nghiệm của ông trong cuộc họp báo gần đây vào tháng 5, 1980. 12 năm trước, ông nói, khi ông bị bỏ tù dưới chế độ Thiệu vì các hoạt động thân cộng của mình, cha của ông đã đến thăm ông. Ông cụ đã hỏi ông, “Tại sao con lại dứt bỏ tất cả ‒ một công việc tốt, một gia đình sung túc ‒ để gia nhập cộng sản? Con không biết rằng cộng sản rồi sẽ phản bội con và sẽ thủ tiêu con, và khi con thật sự hiểu ra thì đã quá muộn?” Tảng, một nhà trí thức, đã trả lời cha “Tốt hơn là cha nên im lặng và chấp nhận sự hy sinh một trong các đứa con của cha cho nền dân chủ và độc lập của đất nước”.

Sau cuộc Tổng Công kích Tết Mậu thân 1968, Tảng được trao đổi với 3 Đại tá tù binh chiến tranh Mỹ, và sau đó ông biến mất vào rừng với MT. Ông đã viếng thăm nhiều nước cộng sản và các nước thế giới thứ 3 để kêu gọi sự ủng hộ dành cho MT trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã nói trong cuộc họp báo. “Tôi đã biết MT là một tổ chức do cộng sản chi phối và tôi đã quá ngây thơ khi cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta sẽ dặt quyền lợi quốc gia lên trên ý thức hệ và đặt quyền lợi nhân dân Việt Nam lên trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân Việt Nam và tôi đã sai lầm”.

Trương Như Tảng đã kể về kinh nghiệm của ông về phương sách các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị,“Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”.

Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.

Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.

Khi tôi còn trong tù, Mai Chí Thọ, một Uỷ viên Trung ương đảng, đã nói chuyện trước một nhóm tù nhân chính trị chọn lọc. Ông ta đã nói với chúng tôi, “Hồ Chí Minh có thể là một quỷ dữ, Nixon có thể là một vĩ nhân. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã chiến thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là một tên sát nhân và người Mỹ là những kẻ xâm lược”. Ông ta đã kết luận, “Yếu tổ chủ chốt là làm thế nào kiểm soát người dân và ý tưởng của họ. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lê mới có thể làm được như vậy. Không ai trong các anh đã từng biết đến một sự kháng cự nào đối với chế độ cộng sản, bởi vậy không nên nghĩ đến điều đó nữa. Hãy quên chuyện đó đi? Giữa các anh ‒ những nhà trí thức ưu tú ‒ và tôi, tôi đã nói với các anh sự thật”.

Và quả là ông ta đã nói sự thật. Từ năm 1978, khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Lào, xâm lấn Kampuchea và tấn công Thailand, trong khi đó Liên Sô xâm lăng Afghanistan. Trong mỗi một sự kiện đó, người cộng sản vẫn tự phác hoạ chân dung của họ một cách ly kỳ, là những người giải phóng, người cứu rỗi, người bảo vệ chống lại các lực lượng xâm lăng nước ngoài. Và trong mỗi sự kiện, dư luận thế giới vẫn tương đối êm dịu.

Nhưng ở Việt Nam, người dân vẫn thường nhắc nhau, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Một trong những người Nam Việt Nam theo cộng sản, ông Nguyễn Văn Tăng, bị tù 15 năm dưới thời Pháp, 8 năm dưới thời Diệm, 6 năm dưới thời Thiệu, và hiện nay vẫn còn đang nằm tù, đã nói với tôi, “Muốn hiểu người cộng sản, trước nhất phải sống với cộng sản”. Vào một buổi chiểu mưa rơi tại nhà tù Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, ông đã nói với tôi, ‘Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước”. Đó là giấc mơ của một người đàn ông 60 tuổi đã gởi trọn tuổi thanh xuân vào việc ra vào nhà tù để chiến đấu cho tự do và độc lập của đất nước. Giờ này, có lẽ ông đã chết trong tù hay có thể đã bị nhà nước của nhân dân hành quyết.

Ước mơ của nhân dân Việt Nam là một cuộc cách mạng thực sự, họ không muốn chủ nghĩa cộng sản. Mức độ đo lường sự chán ghét cộng sản là việc hàng ngàn người đã từ bỏ sự ràng buộc lịch sử của họ với đất mẹ. Dưới thời thực dân Pháp, trải qua bao năm dài chiến tranh, ngay cả trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 có đến 2 triệu người chết đói, người Việt Nam vẫn không đành đoạn rời bỏ quê hương, mảnh đất có mồ mả ông cha. Các cuộc đổ xô ra đi tỵ nạn là bằng chứng trực tiếp của sự kinh hoàng với chế độ hiện nay. Hãy nghe lời một người tỵ nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MT và là thành viên Quốc hội thống nhất được bầu năm 1976, “Chế độ hiện nay là chế độ phi nhân và áp bức nhất mà nước Việt Nam từng được biết đến”. Ông Hoan trốn thoát bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ chức vụ của ông trong Quốc hội cộng sản. “Quốc hội”, ông tuyên bố, “là một bù nhìn, các thành viên ở đó chỉ biết nói dạ, không bao giờ biết nói không”.

Giữa các thuyền nhân sống sót, bao gồm cả những người bị hải tặc hảm hiếp và những người chịu nhiều cực nhục trong các trại tỵ nạn, không hề có người nào hối tiếc đã tìm cách trốn khỏi chế độ hiện nay. Tôi tuyệt đối tin rằng sự thật về Việt Nam sẽ dần dần hiện rõ. Nó có sẵn cho những ai muốn tìm hiểu về nó. Như Solzhenitsyn đã từng nói, “Sự thật cũng nặng nề như là thế giới vậy”. Và Việt Nam là một bài học về sự thật.

SƠN NGHỊ

XƯA…

tonnuthudung

Xưa,
nâng niu tôi tặng em
đóa quỳnh hương
nụ hồng vàng
đài thủy trúc
mỉm cười
nhưng em không nhận …

Đêm nay ,
vô tình giấc mộng
sắc màu những đóa hoa xưa
níu chặt tôi
bằng những sợi linh hồn…

Mai kia,
nhạt nhòa ảo vọng
em có quay về
đừng hỏi nữa
chuyện ngàn xưa…

(thiên thu,
đồi cao gió lộng
con bướm vàng
vỗ cánh
giữa hư vô…)

Tôn Nữ Thu Dung

Ở NƠI KHÔNG CÓ GIÓ THỔI QUA

tranhodung

Ở nơi không có gió thổi qua .
Những cánh bướm không còn chao lượn .
Những cánh hoa ủ rũ
Ngọn cỏ hắt hiu .

Ở nơi không có gió thổi qua
Không còn tiếng chim hót
Mây ngừng trôi

Không còn nghe tiếng ru hời của mẹ
gương mặt trẻ thơ
Bỗng trở nên già cỗi

Ở nơi không có gió thổi qua
Không còn hoa cỏ mùa xuân
Không còn tiếng ve mùa hạ
Chỉ còn mùa thu trút lá
trơ lại mùa đông
Em bé nức nở
Cô gái xuân thì thổn thức
mẹ già cúi mặt
rưng rưng nguyện cầu

Những cánh bướm
Những cánh hoa
lá cỏ

Hãy đợi !
và đừng vội lìa đời

Ở phía chân trời
tia chớp
báo hiệu
cơn giông

Gió sẽ trở lại !

Mặt trời sẽ mọc !
và gió
sẽ mang đến niềm vui
cho bướm ,hoa , lá cỏ

Bé thơ ơi
Em gái ơi
Thôi đừng khóc

Gió sẽ trở lại !
mang về hương sắc mùa xuân
đem lại nụ cười
cho bé thơ , em gái

Từ vực sâu
Hoa , cỏ sẽ vươn lên
Đón ánh mặt trời
Reo vui với gió

Gió cũng sẽ lau khô
những dòng nước mắt
đã chảy ngược rất lâu
vào trong lòng Mẹ

TRẦN HỒ DŨNG

Đất Và Nước

nguyenmonggiac

Nắng đổ xuống hai dãy phố xô lệch và bụi bặm. Xe cộ nối đuôi, ì ạch gầm gừ tiến lên vài tấc rồi phanh khựng lại. Mấy chiếc Honda lách ngang lách dọc, mon men tiến về phía trước, nhưng đành chịu thua trước đám đông ù lì, làm ngơ. Người đổ xô ra đường, ngơ ngác, dò hỏi… Cửa tiệm vàng khép vội hai cánh cửa sắt, chủ nhân đứng trong thế phòng vệ. Bụi và khói xăng mù, khét, khó thở. Tiếng họ hục hặc và tiếng xe rồ ga sợ tắt máy dang dở. Tiếng còi đục và nghẹn hú vang, nhưng xe cộ vẫn mắc nghẽn.
Mọi người nhìn dồn về phía núi lở. Trên ấy vẫn bình thường. Trời thì xanh thật xanh. Nơi sườn đá hoen màu tím sẫm, mấy hàng dây điện giăng ngang qua mặt lộ, chênh chếch về phía tân cảng. Dãy nhà cất sát theo dọc núi loang lỗ dấu đạn, khép nép sợ bóng nắng. Vẫn bình yên. Vẫn ngoan ngoãn, vẫn ẩn nhẫn. Vẫn quen như từ bao giờ : đời sống tỉnh lẻ thu mình để sống bình yên qua bao nhiêu cuộc đổi thay, thay đổi. Con đường sắt vẫn song song đồng hành. Bánh xe những chuyến tàu chở vật liệu xây cất cho hãng RMK lăn hai lần mỗi ngày không đủ làm bóng mặt đất. Đường tàu vẫn song song. Chưa lệch một chiếc ốc, hoặc cong nghiêng trên một hố mìn.

Nhưng bên nầy con đường sắt bụi bay mù và trời đổ lửa. Nóng nực. Khói khét lẹt. Xe rú ga và nhấn còi. Người lao xao bu quanh…
Tránh xe. Tránh xe. Người ta làm ngơ. Cái gì vậy bà ? Thằng nhỏ… Chưa trả lời hết câu, bà ta chen thêm tới chút nữa. Có người nhễ nhại mồ hôi chui từ trong ra. Gì vậy ông ? Trời ơi, hết chỗ nói. Sao mà ác nhơn ác đức vậy chớ. Mà cái gì ác đức ? – Tụi nó bắn thằng nhỏ chết tươi. Ai bắn ? Tránh xe. Tránh xe. Còi xe mười bánh át tiếng trả lời. Người đàn ông hả miệng khoa tay trong khi tiếp tục lấn ra ngoái. Sao bà biết nó học trò ? – Trời, thì cái quần xanh, cái áo trắng. Quyển sách Anh văn với tập vở đó kìa. Có ai đi báo cảnh sát chưa ? Như đậu đen. Sao cái gì như đậu đen ? Ruồi bu trên đống não, khiếp, thôi tao không dám ăn chè nữa. Dóc tổ. Mầy mà chừa ăn hàng. Lâu chưa ? Không ai đỡ nó xuống, để treo tội nghiệp thằng nhỏ. Cái gì vậy bà con cô bác ? Vô mà coi. Cái gì ? Không tin sao, tay nó còn kẹp điếu thuốc. Con nít đời giờ hút thuốc tràn đìa coi cái gì, vô duyên. Mô Phật, con người ta chết mà cha nội còn nói cà rỡn. Chắc chiều nó có giờ Anh văn hở mầy ? Chưa chắc. Tao thấy có quyển English for today màu vàng. Ngã cách sao mà quần móc chặt vào cây sắt vậy ? Mẹ nó người miệt Bình Thới. Mỹ đen hay Mỹ trắng ? Hổng biết, không phải Đại Hàn. Xe có sao trắng rõ ràng.
Nóng bức. Khói khét lẹt. Xe rú ga và nhấn còi. Người ta lao xao. Trong cái hỗn mang vô trật tự ấy, Nguyễn trở thành hòn sỏi. Đã có kẻ đạp lên chân, suýt ngã. Đằng sau đẩy tới, đằng trước xô lui. Thân thể đu đưa, nghiêng ngã, cứ tự nhiên lắc lư mà chuyển dần tới trước. Qua quá trạm xăng, người thưa hơn, mọi việc trở nên thứ tự. Trân liếng thoắng hỏi : Mầy nhìn thấy xác chưa ?
– Chưa, đứa nào vậy ?
– Thằng bé học lớp sáu trường mình.
– Nhưng sao mà chết ?
– Mỹ bắn.
– Sao vậy ?
– Ai biết được. Mấy người ở ngả ba bảo tụi nó bị mất cắp, nghi ngờ mấy đứa nhỏ nên bắn đại cho hả giận.
– Nhưng mấy đứa nhỏ làm gì cho tụi nó nghi ?
– Làm gì đâu ? Ba bốn đứa đi học sớm ngồi trên hàng rào tán dóc. Thằng nhỏ bị bay cả chóp não, ngã liền. Quần dính trên cây móc sắt đó nên treo lủng lẳng.
***
Kiểng đánh báo hiệu vào lớp. Đám học trò nhỏ lơ láo, ôm sách vở chạy ùa vào trong, mắt còn nhìn ngoái lại. Một nhóm nhỏ vờ như không nghe thấy tiếng kiểng, bu quanh hai đứa ở trần, mặt mày thất sắc. May cho mầy, phước lớn dữ a. Mầy ngồi sát bên nó không ? – Sát chớ. Tụi tao đang nói chuyện mà. Máu nó văng đỏ cả áo tao. Giặt không kỹ, chiều má mầy la chết. Ngu, quá ngu. Má nó nghe chuyện thì mừng hết lớn chớ la gì. Quăng áo đi mầy. Dính máu người là có ma rồi.
Kiểng đánh lần nữa, gấp gấp thôi thúc. Mấy cậu nhỏ chạy vào phòng học. Học sinh các lớp 10 và lớp 11 vẫn lơ lửng ngập ngừng. Giám thị và giáo sư vẫn đứng ở hành lang nhìn ra cổng. Bên ngoài, tụi thằng Lý, Sum, Vĩnh, Sự vừa vô vừa bàn tán. Nguyễn nhập bọn và lên phía văn phòng.
Ông giám thị hỏi hờ hững :
– Chưa vào lớp cho rồi mấy em ?
Sự đáp :
– Tụi nó không chịu vào, đứng canh xác.
Thầy Linh hỏi :
– Cảnh sát đã lên chưa ? Có ai lập biên bản không ?
Thầy Vũ hỏi ông giám thị :
– Sao, bây giờ cứ dạy hay cho tụi nó nghỉ ? Xôn xao quá dạy dỗ gì được.
Ông giám thị nhìn ra cổng, trả lời mau :
– Nhờ mấy thầy cho học sinh vô lớp dạy như thường. Sợ ở ngoài ồn ào.
Cả bọn học sinh nhao nhao phản đối :
– Học sao được thầy. Tụi nó bắn chết bạn mình, xác còn nằm đó. Học sao được.
Nói vậy, nhưng cả lớp vẫn lửng thững lên cầu thang. Số học sinh ở ngoài cổng vội vã chạy nhập bọn.
Chỉ còn khoảng vài chục người trong phòng 11. Vĩnh xuống xin thầy Vũ cho học sinh vài phút bàn riêng chuyện nội bộ. Trân ra cổng gọi nốt số còn lại vào lớp. Lý băn khoăn hỏi :
– Tụi bay định làm gì vậy ? Nguyễn đáp :
– Để anh em đông đủ hãy hay. Phải làm một cáin gì. Không thể chịu được. Đây đâu phải là lần đầu.
Sum vẫn ngồi yên, mắt lạc thần :
– Nước mẹ gì. Rồi chả đi đến đâu hết.
Vĩnh dưới cầu thang chạy nhanh lên, reo :
– Thầy Vũ đồng ý rồi. Nào, anh em.
Vĩnh nhảy lên bục cao, giọng sang sảng :
Có ai can đảm học nữa không ? Hô chung dưới cuối lớp : Không có ai còn chịu đựng nổi cảnh này nữa. Thằng nhỏ chết tức tưởi như vậy, mình còn lòng dạ nào ngồi học. Thằng nhỏ sẽ khinh mình là bất nghĩa. Đồng bào khinh mình là bọn bất nhân. Tụi Mỹ khinh mình là bọn hèn nhát, bạn bị bắn chết mà còn cố gằm đầu vào sách. Ai có can đảm hãy đọc bài lên coi :
Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu, cái kiếp không hoa lẩm cẩm, con hồn xuân mộng gâng khuâng.
Cả lớp cười ồ. Không khí náo nhiệt, vui vẻ. Nguyễn hỏi :
– Đồng ý. Phải làm cái gì. Nhưng làm cái gì ? Làm thế nào ?
Trân lúc bấy giờ cùng một số bạn bè lớp 10 ùa lên, la to :
– Biểu tình. Xuống đường anh em ơi.
Phòng học trở nên nhốn nháo khác thường. Bốn năm người cùng nhảy lên bục, và người nào cũng gào to những câu không ai nghe rõ. Vĩnh mặt đỏ bừng, xô tất cả xuống, hét lớn :
– Im hết. Cho tôi nói. Biểu tình, đồng ý. Nhưng chiều này học sinh trường mình học ít quá, mấy lớp nhỏ không có giờ. Nên phải kêu gọi các trường khác hưởng ứng. Anh em đồng ý không ? ( Đồng ý. Chí lý. Đồng ý là cái chắc ). Cảm ơn anh em. Bây giờ nghe tôi phân công : Trân, có xe Honda, chạy xuông chợ mau vải và sơn kẽ khẩu hiệu. Thằng Nguyễn, cô hái mơ của thầy Vũ ( cả lớp cười ) làm Nguyễn Trãi thảo hịch ( đồng ý ) Sum thì xuống vận động các lớp 8 và 9 tham gia biểu tình.
Sum la lớn : Không, ồn ào. Ê, thằng Sum rét rồi. Thỏ. Sum nhảy lên bục, đứng ngay trước mặt Vĩnh, mở nút cổ áo và xăn tay :
– Đứa nào nói tao thỏ, nói lại thử tao nghe ( Lao xao rồi im lặng ) Tao không ngán đứa nào hết. Tụi bay là đồ con nít. Tao là huynh trưởng Phật tử, đã bị bắt chung với thầy Vi và Thụ kỳ Phật giáo tranh đấu năm 1966. Tao đã bị đập dập mũi, bị đưa lên Pleime quan sát chiến trường. Tao trải qua hết. Chịu nhiều đòn rồi. Thất vọng nhiều rồi. Tao sợ lời tụi bay khích sao ? Tao không làm, vì biết chẳng đi đến đâu. Làm cái gì vô ích, tao không làm.
Lửa hơi hạ. Vĩnh lúng túng. Nguyễn nói :
– Chưa làm đã bảo là không ích. Chờ đến lúc nào mới làm ? Không được gì, thì cũng được một tiếng chuông gióng. Còn hơn là bặm môi nín lặng.
Lửa lại bừng. Đúng. Đồng ý. Xuống đường gấp. Sum bỏ ra. Vĩnh lại tiếp :
– Thôi, ai muốn về thì về.
Lý dợm đứng dậy. Tiếng Vĩnh lại sang sảng :
– Nhưng tôi tin anh em ở đây không ai là kẻ hèn nhát.
Lý lại ngồi im.
Nên tôi phân công tiếp. Lớp 8, 9 khỏi cần vận động chắc sẽ tham gia khi mình giăng cờ, biểu ngữ ra trước lớp. Sự, đem kháng thư thằng Nguyễn thảo đến các trường cho ban đại diện. Được không hay từ chối như thằng Sum ?
– Cũng được. Lý cương quyết đứng dậy :
– Để tôi lãnh công tác đó. Tôi có xe Honda.
Vĩnh hơi lúng túng, nhưng nói bừa :
– Thôi giao cho cả hai cậu. Miễn đừng nhân cơ hội bỏ về.
Trân vào nhanh như lúc ra đi, ôm vải và sơn. Cả lớp ùa ra hành lang, tranh nhau viết biểu ngữ. Trân khoe :
– Tao lách qua lách lại một chút đã trở về. Xin tiền thầy giám thị đó. Hôm nay vui quá xá.
Tiếng cãi vả về nội dung câu khẩu hiệu át tiếng Trân. Lon sơn đen đổ vươn vãi trên nền xi măng. Nguyễn từ bên phòng 12 cầm tờ giấy vở chạy đến, hét to :
– Xong rồi. Đây, anh em im đi. Để tôi đọc to, ai đồng ý thì ký tên vào :
Học sinh trường trung học… kính gửi tất cả học sinh công tư toàn quốc.
Hồi 14 giờ chiều ngày 7-12, một học sinh lớp 6 trường chúng tôi tên Nguyễn văn Minh, 12 tuổi, trong khi đang ngồi trước cổng trường chờ giờ học, vô cớ bị một lính Mỹ dùng súng M16 bắn chết. Thi thể nằm ngay trước mặt chúng tôi, óc vọt ra ngoài, khiến chúng tôi vừa vô cùng thương xót vừa vô cùng phẫn nộ.
Hằng ngày, một số đông lính Mỹ vô kỷ luật đã phá phách tài sản đồng bào, đập vỡ kính xe, chọc ghẹo bộ hành… Nhưng lần này, cái chết của một học sinh nhỏ tuổi vô tội đã khiến chúng tôi không còn có thể giữ mãi im lặng.
Toàn thể học sinh trung học… cực lực tố cáo tội ác kể trên của một quân nhân Hoa kỳ, một nước vẫn thường tự hào về truyền thống tôn trọng phẩm giá con người và trật tự xã hội. Toàn thể học sinh trung học … cương quyết đòi hỏi chính phủ Việt Nam Cộng hòa trừng trị đích đáng kẻ gây tội ác.
Chúng tôi kêu gọi sự hưởng ứng nồng nhiệt của các bạn, để đòi hỏi chính đáng của chúng tôi được chính phủ lưu ý, để người bạn đã khuất của chúng tôi không thẹn là một học sinh VN, và để tất cả chúng ta còn hãnh diện là người có liêm sỉ không khuất phục trước tội ác.
Khá lắm. Cả đám ồ lên. Nguyễn nhắc lại :
– Ký nhanh vào cho hai thằng Lý Sự đem đi. Nhớ đề rõ tên.
Có tiếng phản đối :
– Cần gì đề tên.
– Ký đại diện được rồi.
Nguyễn hỏi :
– Sợ hả.
– Đ M Thằng này chuyên nói móc. Mầy ký trước đi.
Tờ giấy chuyền qua trả lại. Vĩnh bực mình sừng sộ :
– Chuyện gì tụi bây sợ dữ vậy. Thằng Nguyễn viết tự nhiên nó ký rồi. Đưa tao ký thử có chết không.
Sự và Lý lãnh sứ điệp ra đi. Số còn lại theo Vĩnh và Nguyễn hò hét mang khẩu hiệu ra đường. Xác chết hạ xuống, đặt trên cái xe mui trần. Bốn đứa mang biểu ngữ chăng ngang đường cái chận hết xe cộ lưu thông. Chiếc xe xác qua phố phường đổ nắng. Cuộc biểu tình bắt đầu. Mười phút sau, cổng trường đóng, chỉ còn đám ruồi bu đen trên vũng óc và máu đặc.
***
Hơi xác chết làm lạnh xương sống và nóng hai thái dương. Cuộc xuống đường quấy động thành phố lên cơn sốt.
Trên hiên trường, chỉ còn cụ già, Nguyễn và thầy Vũ. Xác Minh nằm co quắp trên cái bảng đen đặt trên hai bàn học, phủ bằng cái mền cũ. Chỏm tóc bết máu ló ra phía trên còn phía dưới lòi hai bàn chân xanh đá và ốm o.
Trong trường vắng, tuy cổng để mở. Mấy người lạ đứng ngoài hàng rào e sợ nhìn vào, rồi bỏ đi. Cách khoảng vài phút, một chiếc Honda rú ga leo qua cổng trường dốc, phanh gắt trước hiên. Hai ba học sinh vào, nhìn tò mò, rồi im lặng lên yên rú ga trở về phố. Thân nhân em bé đã lo mua đồ liệm chỉ còn ông ngoại yếu ớt ở lại bên xác cháu.
Từ hơn một giờ đồng hồ, hai thầy trò ngồi bên xác chết, im lặng không nói. thỉnh thoảng Nguyễn lấy cây đập mạnh lên bảng đen, xua mấy con ruồi vo ve. Thầy Vũ nắn lại mấy ngón chân xác chết cho khỏi co quắp nhưng vô vọng. Lần đầu hai thầy trò đối diện với dự lạnh lẽo mênh mông của nỗi chết, tâm hồn rã rời. Thầy Vũ lên tiếng trước :
– Các em làm có kết quả lắm. Tỉnh hội giáo giới, hội đồng tỉnh đã lên tiếng bằng tuyên cáo hôm qua. Nghiêm nghị lên án. Đồng thanh kiến nghị. Cương quyết yêu cầu. Cả thành phố đã sôi lên rồi. Tối hôm qua, giáo sư trong trường cũng đã ra bản tuyên cáo nầy.
Thầy Vũ đưa cho Nguyễn đọc :
Chúng tôi, giáo chức trường trung học … vô cùng xúc động khi nghe tin một học sinh lớp sáu trường … bị một quân nhân Hoa kỳ vô cớ bắn chết lúc 14 giờ ngày 7-12-70. Đây không phải là lần đầu tiên một số quân nhân Hoa kỳ vô kỷ luật đã xem thường mạng sống của luông dân VN. Vì vậy, chúng tôi tán thành mục tiêu tranh đấu của học sinh trong ngày 7-12-70 nhằm lên án hành động dã man của một số quân nhân Hoa kỳ. Đồng thanh quyết nghị :
1) Yêu cầu chính quyền địa phương bày tỏ thái độ hành động sát nhân nầy.
2) Yêu cầu giới chức thẩm quyền tức khắc truy tố thủ phạm và công bố bản án cho toàn thể đồng bào biết.
3) Yêu cầu chính quyền áp dụng mọi biện pháp để những quân nhân Hoa kỳ vô kỷ luật chấm dứt mọi hành động xem thường tính mệnh và tài sản lương dân V.N.
Tuy nhiên chúng tôi cũng không chấp nhận những hành động đáng tiếc có phương hại đến tài sản và trật tự chung.
Nguyễn mỉm cười khi đọc xong. Thầy Vũ hỏi :
– Sao em cười ?
– Dạ vì các thầy cẩn thận quá. Trong kháng thư, em viết :
Hằng ngày, một số đông lính Mỹ vô kỷ luật đã phá phách tài sản của đồng bào. Tụi bạn đòi bỏ chữ VÔ KỶ LUẬT vì như vậy là có ý bào chữa cho thanh danh quân đội Mỹ. Em bảo không nên vơ đũa cả nắm. Bây giờ, đọc tuyên ngôn của các thầy, em mới thấy mình còn sơ hở.
– Em đã trải qua những biến động tâm cảm nào vậy Nguyễn ? Em nói như một ông già.
– Bây giờ em lớn bằng tuổi em, cộng tuổi một buổi chiều dài nhận rõ mặt anh em, và 12 tuổi xác chết. Thầy tha lỗi, có phải các thầy định phân biệt hai loại đồng bào. Các thầy bảo : Này nhé, chúng tôi nói rõ nhé, chúng tôi long trọng xác nhận trước quí vị, là chúng tôi chỉ phản đối sự xem thường mạng sống của lương dân, còn đối với bọn cộng sản, bọn sống với cộng sản, bà con thân thuộc với cộng sản, nộp thuế tải thương cho cộng sản, thì, xin các ông tùy ý.
– Em tàn nhẫn. Có lẽ em khó hiểu nổi tâm trạng lớp người trước. Tâm hồn thầy như một mặt ao, giấu dưới bóng tre già. Viên sỏi vô tình nào rơi xuống cũng gợn những vòng xao động. Cực nhất là đối diện tra hỏi mình. Biến cố hôm qua là viên sỏi ấy.
Vĩnh và một người bạn lạ đèo Honda vào trường. Mặt mày hớn hở và sạm nắng. Dựng vội chiếc xe trên cát lún, Vĩnh chạy về phía thầy Vũ.
– Chúng em đã quấy động cả xứ. Thầy coi mấy số báo ở Sài gòn :
Đứng trước cổng trường chờ giờ học bị Mỹ kiều bắn vỡ sọ. Học sinh khiêng xác đồng môn diễn hành khắp phố.
Đoàn biểu tình võ trang gậy gộc gạch đá, đòi đập phá các cơ sở quân sự Hoa kỳ ở thị xã. Quân Mỹ cấm trại 100%.
Sinh hoạt tê liệt. Tình hình nghiêm trọng. Biểu tình tiếp diễn dữ dội. Nhiều xe Mỹ bị đốt. Cảnh sát dã chiến được tăng cường từ Sài gòn ra.
Theo tin bổn báo đặc phái viên gửi về, mặc dầu cảnh sát dã chiến bắn hàng trăm lựu đạn cay để giải tán biểu tình, nhưng nhiều quân xa đồng minh đã bị học sinh biểu tình đốt cháy, những người Mỹ và Đại Hàn ngồi trên xe bị ném đá dữ dội.
Một khách sạn bị đập phá. Trực thăng được huy động để di tản lính Mỹ lánh nạn. Tổng hội sinh viên Sài gòn phát động tuần lễ chịu tang.
Thầy Vũ trả mấy tờ báo, hướng về phía Vĩnh:
– Các em thành công trên tro tàn và gạch vụn. Nhưng có chắc thành công không ?
Người bạn lạ của Vĩnh cướp lời :
– Chắc chắn. Không phải chúng em tranh đấu cho một mình xác chết nầy.
Nguyễn gay gắt hỏi :
– Có phải ý mầy không Vĩnh ? Từ đêm qua, tụi bây chở xác thằng Minh về bỏ nằm đây. Không có lấy một nén hương. Không nói với tang gia lấy một lời an ủi. Tụi bây đèo nhau trên Honda, đến, nhìn, chạy xuống phố hò hét, rồi khi thấy hào khí hạ, lại trở lên nhìn lấy hứng.
– Mày xuyên tạc. Thằng Minh chỉ là một cá nhân. Từ hôm qua đến nay, mình đòi cái gì ? Đâu phải đòi phép tiên cho thằng Minh sống lại. Nói chết, yên phận nó. Nhưng mình làm thế nào để nhờ nó không có một ao chết tức tưởi thêm. Muốn thế phải làm gì ? ( Vĩnh hướng về phía thầy Vũ ) các thầy trách tụi em bạo động. Em đọc kỹ tuyên cáo của các thầy. Các thầy chỉ tán thành mục tiêu tranh đấu của tụi em, và không chấp nhận những hành động đáng tiếc có phương hại tài sản và trật tự chung. Thưa các thầy cực lực lên án, đồng thanh quyết nghị, nhưng cuối cùng nhỏ nhẹ yêu cầu. Các thầy có thể thành công, nhưng tụi em ? Xin yết kiến Đại tá tỉnh trưởng. Rất tiếc. Đại tá bận. Xin yết kiến ông cố vấn : Sorry. Xin gặp ông phó : Chú muốn gì ? Thỉnh nguyện thư hả ? Họa hoằn lắm cái chết thằng Minh mới được đăng nơi trang ba, trong mục Xe Cán Chó.
Nguyễn không kém giận dữ :
– Mày hãy lấy gương mà soi. Dám nói thẳng đi. Mày say mê hò hét hay nhiệt tình với bạn ? Bây giờ lo liệu xác thằng Minh sao đây ? Hãy tìm cách giúp đỡ thân nhân khâm liệm tống táng.
Người bạn Vĩnh lên tiếng, rắn rỏi :
– Không chôn cất gì hết. Để đó. Chôn xong là xẹp hết.
Nguyễn trừng trừng nhìn người bạn Vĩnh :
– Cái xác đã bắt đầu bay mùi. Ai xa lạ với ngôi trường này không có quyền chen vào việc tẩm liệm một học sinh trường nầy. Chúng ta tranh đấu vì lý tưởng tuổi trẻ, không phải bọn buôn xác. Vĩnh, tao biết rõ mày sửa năm sinh sau khi thi hỏng Tú tài. Có cứng hãy đứng đầu gió. Mầy phải để yên xác chết. Để yên cho thằng bé về Trời.
Vĩnh thoạt bậm môi, rồi xuôi tay bỏ ra phía để xe. Ngoài đường, còi hụ uất nghẹn và loa phóng thanh tuyên bố giới nghiêm Hai bốn trên hai bốn.
***
Xe tang đi trong mưa rả rích và gió buốt. Trên chiếc GMC quan tài của Minh nằm dọc theo lòng xe. Chỉ có ông ngoại, người cậu và một bà dì được cảnh sát thông báo và đón đi đưa tang. Bên này có Vĩnh, Nguyễn, Sum, Trân và thầy Vũ. Xe quân cảnh mở đường, tiếp đến xe Đại tá tỉnh trưởng, xe tang và sau chót xe cảnh sát dã chiến. Mặt trời chưa mọc. Phố xá nằm chết trong giới nghiêm. Tiếng động cơ gầm gừ át tiếng gió thổi và giọng khóc nỉ non. Ra khỏi ngả ba, xe dẫn đầu rú ga. Xe cảnh sát ở sau hụ còi. Chiếc GMC lại gầm gừ rồi đột nhiên lao mạnh. Mọi người ngồi hai bên quan tài suýt ngã, cây nến trên nắp quan tài gẫy đổ tắt lịm, ông ngoại Minh định cúi xuống thắp lại nhưng xe dằn mạnh khiến ông cụ sợ sệt bíu hai tay vào thành xe.
Xe dừng ở một nghĩa địa ngoại ô. Toán cảnh sát dã chiến và quân cảnh nhảy xuống đến vây quanh xe tang. Tất cả xúm nhau khiêng quan tài ra gần huyệt. Ông tỉnh trưởng, ông chủ tịch hội đồng tỉnh, viên cố vấn trưởng đến gần, chia buồn lần cuối với tang gia. Mưa vẫn rơi rả rích. Gió vẫn thổi bay tạt hàm râu trắng của ông ngoại. Ông tỉnh trưởng đăm chiêu. Nét mặt cố vấn thành kính, mắt hư không. Khi hạ huyệt, ông tỉnh trưởng hỏi :
– Cậu nào đọc điếu văn ?
Vĩnh định tách khỏi đám nhưng rụt rè do dự, đưa mắt nhìn Lý. Lý nhìn thầy Vũ. Thầy Vũ chưa biết chỉ ai, chợt thấy Nguyễn lấy tay che mặt. Thầy nói :
– Thưa Đại tá, có em Nguyễn, đại diện học sinh đọc điếu văn. Qua phút bối rối, Nguyễn tiến đến trước huyệt. Anh bắt đầu nói, một mình :
Minh em,
Anh biết nói gì bây giờ.
Anh chưa biết mặt mũi em.
Anh chưa biết cha mẹ em.
Anh chưa thấy khu vườn lá xanh và mái nhà nhỏ nơi em chào đời.
Anh chưa thấy con đường làng dẫn em ra ngôi trường đầu tiên để bập bẹ mấy tiếng A B C làm vốn liếng tìm hiểu nét đẹp cuộc đời.
Anh chưa tưởng tượng nổi cảm tưởng của em, khi ngỡ ngàng bước chân vào trường trung học, hí hửng trả lời My name ia Minh khi cô giáo hỏi What’s your name ?
Anh chỉ biết em, nằm treo trên đó, óc đổ trên trang sách, tay víu vào đất mẹ.
Anh chỉ biết em, nằm queo trên sàn xe, lang thang dạo chơi khắp phố phường ngập ngụa tiếng la ó phẩn nộ lẫn tiếng hò reo tở mở.
Anh chỉ biết em, khi em đã thành đề tài trên đầu môi chót lưỡi.
Nghĩa là anh biết em quá trễ, khi em vĩnh viễn xa đất mẹ xa sách Anh văn, xa mái tranh và cánh đồng, xa mẹ cha cô dì chú bác…
Minh, tất cả mọi người thương tiếc em.
Nguyễn trở về chỗ cũ. Mọi người không ai nói với ai lời nào, lẳng lặng vốc đất ném xuống huyệt rồi trở về xe. Thầy Vũ nắm tay Nguyễn. Nguyễn nói nhỏ :
– Thưa thầy.
– Gì hở Nguyễn ?
– Hôm qua, thầy bảo tâm hồn thầy như mặt ao dấu dưới khóm tre già ?
– Ừ, rồi sao ?
– Thầy còn may mắn hơn em. Viên sỏi vô tình nào đó còn làm thầy xao xuyến. Ánh trăng lọt qua khe lá còn làm mặt nước gợn sóng vui. Còn em, đầu óc rỗng không như mộ huyệt. Biết bao nắm đất ném xuống, do những người chí tình. Tâm hồn em vẫn trơ trơ.
– Nguyễn, em không giống các bạn rồi ! Hãy xem tất cả, tất cả như cơn mưa rào, làn gió thoảng, chút nắng rớt. Đừng để cho rã rời, hoài nghi.
Nguyễn không trả lời. Thầy Vũ không nói thêm. Xe lại chạy trở về phố trong gió lạnh.
Nguyễn Mộng Giác

CHIỀU ƠI! ÁO ĐỎ CỦA LÒNG TÔI!

tranvanle

Áo đỏ…chiều xanh, áo đỏ bay…
Có người con gái tuổi thơ ngây
quên mình áo đỏ đi đùa bướm,
con bướm vàng bên áo đỏ ai.

Đôi lúc tôi thương về quá khứ,
thuở tôi Thầy Giáo em Học Trò,
một hôm thơ thẩn đi trong phố,
áo đỏ em vờn như giấc mơ…

Ôi em bữa đó em người lớn…
mà nét thơ ngây thì vẫn còn.
Thầy mặc quần jean sơ mi trắng
lặng nhìn con bướm lượn trong sương!

Phải chi là bướm! Sao không là?
Tôi nghĩ tuổi mình không cách xa…
nhưng giậu mồng tơi không thể vượt
làm sao hái trộm một bông hoa?

Em áo đỏ bay thành phố đỏ,
tháng Giêng Đà Lạt đỏ hoa hồng.
Ôi chao cô bé sao mà đẹp,
ai đó mới vừa nói dửng dưng!

Áo đỏ…chiều xanh Mỹ chẳng ngờ,
nhiều năm tái ngộ thực hay mơ?
Bên tôi, áo đỏ em vừa nắm
một vạt hình như vạt hững hờ…

Áo đỏ chiều ơi em hỡi chiều…
Ngại ngùng không dám gọi em yêu,
vẫn là em vẫn như…hồi đó,
em không thuộc bài thương bao nhiêu!

Áo đỏ…chia tay ở xứ người!
Chiều ơi áo đỏ của lòng tôi!
Chỉ còn thơ trẻ thơ-khờ-dại,
dăm bảy câu ồ, nhỉ…cũng vui!

TRẦN VẤN LỆ

TÌNH CÁT

khatiemly

“Câu quan họ làm nhũn lòng đất sét
Từ tóc mây che nửa mặt tiên thần” KTL

Chẳng phải con đò neo bến nước,
Mà bao lần tiễn khách sang sông.
Đắng cay nêm vị đời chua chát,
Nên chút heo may cũng lạnh lùng.

Và từ đó ta làm thân hạt cát,
Mặc gió đời vùi dập biết bao phen.
Mượn sức gió vút lên trời cao ngất,
Mơ thành mưa ve vuốt má môi em.

Nhặt từng chiếc lá vàng rơi rụng,
Để vá quàng một khối hồn đau.
Lại ôm ấp thêm mảnh tình vô vọng,
Nên đời ta toàn rượu nhạt, thơ sầu!

Từ muôn kiếp ta là thân hạt cát,
Mượn gió đời tim một cõi phiêu diêu.
Rồi lốc xoáy lại cuốn về sa mạc,
Nên ngàn đời không tìm được hương yêu!

Em muôn thuở vẫn là hoa thơm ngát,
Ta như bình sành mượn chút hơi men.
Còn ta mãi vẫn là thân hạt cát,
Mượn gió đời hôn trộm gót chân em!


KHA TIỆM LY

NGÀN NĂM MÂY TRẮNG

phudu

Gió cứ cuốn mây bay tới trước – mây từng tảng, từng tảng trắng phau như sốp đựng nước đá của mẹ – tới mãi tận chỗ kia, chỗ rất xa nơi dường chân trời bị lấp bởi sương mù của biển cả, chỗ rất xa khỏi nơi nó ngồi – dưới bãi cát của sườn dốc phía tây trang trại Mây Viễn Xứ…Nhưng có phải gió cuốn mây bay đâu nhỉ? Nó nghe người ta nói là mây bay. Ừ, thì mây tự bay đi đó chớ! Ngàn năm mây trắng vẫn còn bay, nó nhớ một nhà thơ người lớn nào đó đã làm một câu thơ như thế. Nó cũng thích làm thơ, ờ, mẹ nó thường nói nó có tâm hồn thi sĩ nên mới nói được nhiều câu nghe “thơ thơ”, có điều bài thơ nó làm hồi năm ngoái vẫn còn được giấu kín trong ngăn kéo, không dám để hở ra cho mẹ nó biết. Bài thơ nghe cũng có vẻ quái quái kỳ kỳ nên nó ngại mẹ đọc thấy. “Tôi ôm mặt trời trước mặt, bước ra cuộc đời thênh thang, vẫn còn một điều rạo rực, níu tôi dừng lại bên đàng.”
Nó đã bước qua tuổi mười sáu, ngày sinh nhật của nó mới được mẹ nó và chú Khánh tổ chức hôm kia ở ngoài hàng hiên rộng đẹp đẽ của trang trại. Nó biết mẹ và chú Khánh đang yêu nhau. Hai người đang cố gắng để giữ gìn trước mặt nó, nhưng đồng thời kín đáo để nó biết là hai người đang yêu nhau. Ờ thì chú và mẹ cứ yêu nhau. Có sao đâu kìa? Mẹ nó sinh nó ra trong cơn ngặt nghèo quẫn bách và ba nó chưa từng nhìn thấy nó sinh ra như thế nào đã vội bỏ đi theo một người đàn bà khác. Nó không thể và không muốn tưởng tượng ra ba nó là một người đàn ông như thế nào. Đời mẹ thật âu sầu khốn khổ. Nó vẫn luôn mong cho mẹ dược hạnh phúc. Lúc nào nó cũng thấy mẹ buồn lo, tư lự. Nó mới lên một tuổi, mẹ đã dúi nó vào tay bà ngoại lo chăm sóc để lao vào cuộc mưu sinh kiếm sống cho ba miệng ăn. Thợ phụ hồ, lao công nhà máy đường, phụ bưng bê cho tiệm phở, quán cà phê, và sau cùng, mới tám tháng nay, được chú Khánh đưa về trang trại phụ giúp việc chăn nuôi. Dạo sau này khuôn mặt mẹ đã lấy lại nét tươi nhuận của một thiếu phụ đã tứ tuần mà còn mặn mà nhan sắc. Má mẹ hồng hơn, mặt mẹ đỏ hơn, và đôi mắt mẹ lúc nào cũng long lanh như đôi mắt con búp bê Barbie ở phòng khách của chú Khánh. Nó vẫn luôn mong cho mẹ được sung sướng và yên bình. Nó sợ khuôn mặt mẹ sầm tối lo âu mỗi khi chạy tiền đóng học phí cho nó. Nó sợ phải nhìn thấy khuôn mặt mẹ hốc hác tiều tụy mỗi khi ở chỗ làm quay về nhà. Nó sợ phải thấy cảnh mẹ nhẫn nhục co rúm người trong một góc nhà tồi tàn và chịu dựng những cơn mắng chửi lỗ mãng thô tục của bọn người cho vay trả góp. Nó sợ phải nhìn thấy cặp mắt hoảng hốt lẫn buồn bã của mẹ khi bà ngoại nằm trong nhà thương không đủ tiền lo thuốc thang viện phí.
Chú Khánh là một người tốt, phải, một người đàn ông tốt. Hình như chú đã tình cờ quen mẹ trong quán cà phê Gió khi mẹ đang phục vụ bưng bê ở đó. Điều gì đã khiến hai người đến với nhau thì nó không biết. Nhưng nó biết tình yêu đang làm thay đổi cuộc sống của mẹ – va cả cuộc sống của nó nữa. Thường ngày, kể từ khi hai mẹ con nó về sống ở trang trại này, chú Khánh cố nói chuyện với nó như với một người bạn ít tuổi hơn chứ không ra vẻ bề trên cũng không ra vẻ cầu xin điều gì ở nó. Chú nói năng ôn tồn, chậm rãi, thỉnh thoảng chêm vào một câu nói vui khiến nó phải bật cười. Chú cư xử chừng mực và thường chú ý lắng nghe nó nói, nhưng nó ít khi muốn nói ra những gì mà nó nghĩ. Dù sao vẫn còn có một quãng cách như thế nào đó giữa nó và chú Khánh. Có lẽ vì bản tính nó vốn lầm lì, ít nói. Nó dễ khiến mẹ và chú Khánh nghĩ nó đang bực dọc hay buồn bã vì có một người đàn ông xa lạ đang chen ngang vào cuộc sống của mẹ và nó. Không, nó đâu phải nghĩ như vậy. Chỉ vì nó không biết phải nói gì, nói như thế nào để tỏ lộ cho hai người biết là nó rất vui khi thấy mẹ nó đang vui, nó rất ao ước mẹ nó được sống bình yên và hạnh phúc.
“Ngồi làm thơ hay sao vậy, Mây?”
Nó quay đầu lại. Mẹ nó đang lửng thửng đi lên sườn dốc. Tóc mẹ bay phất phơ trong gió chiều. Ồ, mẹ có mái tóc đem mượt tuyệt vời làm sao! Mẹ bận bộ đồ màu tím hoa cà có những bông vàng lấm tấm. Mẹ như tiên nữ trong các giấc mơ của nó. Đẹp thanh tú nhưng có chút gì đó u uẩn.
“Mẹ ơi, mẹ mua cho con cuốn Danh nhân Thế giới được không mẹ?Họ vừa giới thiệu trên truyền hình đó mẹ.”
“Ờ, để mai đi phố mẹ mua cho con,”mẹ đưa tay vuốt mớ tóc phủ lòa xòa trên trán nó. Mẹ nhìn vào mắt nó, nhưng đôi mắt mẹ sao có vẻ mông lung. “Mây à, mẹ có chuyện này muốn nói với con…Mẹ muốn nói…”
“Dạ…” nó vươn hai tay ra nắm lấy bàn tay trái của mẹ. Bàn tay mẹ không đeo nhẫn. Chiếc nhẫn cưới mẹ đã đưa bà ngoại đem bán ngay sau khi mẹ sinh ra nó được vài ngày. Mẹ nhìn xa xôi ra phía bãi cỏ nơi những con bò sữa mập mạnh đang lười biếng nhai lại dưới bóng chiều dần tắt.
“Ừ,” mẹ quay lại nhìn, vuốt tóc nó lần nữa. “Ừ, thôi, con à. Cũng không có gì đâu. Để khi nào con rảnh rỗi mẹ con mình sẽ nói chuyện sau nhé.”
“Mẹ muốn nói gì với con thì cứ nói đi, mẹ à. Con…”
“Mẹ thấy là mẹ đang quấy rầy con không đúng lúc. Hình như con đang ngồi viết cái gì đó phải không nào?”
“Đâu có. Con viết linh tinh thôi. Chẳng có gì quan trọng đâu mẹ. Con…”
“Được rồi. Con cứ ngồi viết cho thoải mái đi. Để mẹ tạt qua bên chuồng số ba coi thử anh Sáu sửa lại các máng ăn như thế nào cái đã. Mẹ muốn…”
Mẹ nó nhổm dậy nhưng nó nắm tay kéo mẹ nó lại. Nó nhìn chăm vào khuôn mặt thanh tú của mẹ. Vầng trán cao này đã hằn bao nhiêu vết đau thương khổ ải suốt từ lúc sinh nó ra. Bao giờ cho vầng trán của mẹ thoát khỏi những vết nhăn phiền lụy của cuộc đời dâu biển? Bao giờ?
“Mẹ ơi, sao mẹ và chú Khánh không lấy nhau đi?”
Mẹ thảng thốt nhìn nó. Đôi mắt mẹ thật đẹp, tròn và đen láy. Mẹ từ từ ngồi xuống, dịu dàng hỏi, “Mây, con đang nói gì vậy?”
Nó ngồi thẳng người lên, hai tay nắm lấy hai bàn tay mẹ.
“Mẹ, con biết tại tính con ít nói nên mẹ có thể đã…mẹ và chú Khánh có thể đã không hiểu con. Con rất vui khi thấy mẹ gặp được chú Khánh. Chú ấy là người tốt và chú ấy yêu thương mẹ – yêu thương con nữa. Con luôn ao ước mẹ được sống hạnh phúc và yên ổn. Vậy mẹ và chú Khánh hãy lấy nhau đi. Con sẽ rất vui khi xảy ra điều ấy.”
Mây từng tảng lớn đang bay trên bầu trời đỏ thẩm. Mẹ ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào đầu nó, khẽ khàng nói,”Cậu con trai thi sĩ của mẹ. Con biết con đang nói gì không đấy, nhóc?”
“Dạ biết. Con đang nói về mây đó mẹ.”
“Nói về gì cơ?”
“Về mây. Mây trắng trên trời kìa.”
Mẹ nó xê người ra xa một chút, nhìn nó chăm chăm. Nó đưa tay ra, khóat khoát mấy cái.
“Mây cứ lang thang vô định mải. Nhưng mây đâu có tự bay đi hở mẹ? Gió thổi mây bay đi hở mẹ? Sao mẹ lại đặt tên cho con là Mây? Mây cứ bay đi, bay đi không hề trở lại. Mẹ đã sống một đời vì con, khổ sở suốt đời vì con. Bây giờ Ngoại đã mất rồi, chỉ còn hai mẹ con mình. Ồ, con không muốn mẹ cứ phải phiêu dạt mải vì con. Mẹ đang có chú Khánh. Con đang nói về cuộc đời của con người đó mẹ. Cuộc đời của con người cần phải có tình yêu phải không mẹ? Con biết mẹ và chú Khánh đang yêu nhau. Nhưng mẹ và chú Khánh còn ngại ở con chớ gì? Con không sao đâu mẹ. Ngược lại con còn vui nữa kìa. Mẹ vui bao nhiêu thì con vui bấy nhiêu mà mẹ.”
Mẹ nắm tay nó đi xuống dốc, về phía căn chuồng số ba, ở bên trái trang trại Mây Viễn Xứ, nơi anh Sáu đang lui cui sửa các máng ăn và chú Khánh đang lấy tay chỉ trỏ gì đó về phía cổng phụ của chuồng bò.
Màu đỏ của hoàng hôn đang nhạt dần, chuyển từ từ sang màu tối xám, nhưng mây không còn bay thành từng tảng nữa mà đang dồn cuộn lại ở phía chân trời tây. Ừ nhỉ, ngàn năm mây trắng vẫn còn bay…vẫn còn bay…

PHÙ DU

TIẾNG Ạ VÀO ĐỜI!

nguyenngoctho

Non sông
tiếng ạ vào đời
thanh âm dịu ngọt
thắm lời đắng cay!
trực nhìn
thấu tận xưa- nay
nghe vang thực- mộng
rơi đầy lối xưa
Ạ! tình nghĩa,
cội gió mưa
Ạ! sông biển,
cạn sớm trưa bên lều
Ạ! đất trời, cõi tịch liêu
hoa xuân nở nụ
nắng chiều chợt phai!

NGUYỄN NGỌC THƠ