GỌI TÌNH BÊN SÔNG

trandzalu

Có một lần nhớ quá
ra sông đứng gọi tình
tình xa, người hoá lạ
chiều mồ côi cánh chim…

Có một đời xưa quen
đã mù sa cổ tích
kỷ niệm sầu chia nhánh
Địa Ngục và Thiên Đàng

Rạng đông màu mắt em
sực nức hương buổi sớm
hoàng hôn túa trong anh
từ ngày chia biệt mộng

Qua sông hề sông rộng
soi bóng dài chiêm bao
biết tìm nhau nơi đâu
giữa mù khơi đời sống?

Có đôi lần đứng ngóng
ngày tình nhân chia lìa
vỗ đàn mà hát hỏng
nhớ sum vầy xưa kia…

Có nhiều lúc chơi vơi
hôn Cúc vàng thầm lặng
thương ơi tờ lụa mỏng
em biệt dạng bên trời.

TRẦN DZẠ LỮ

Thư ngỏ của ông Đinh Lâm Thanh gửi ĐỨC HỒNG Y Phạm Minh Mẫn

 E-mail PDF
   dinhlamthanh
Trọng kính Đức Hồng Y,
Sau Thánh Lễ ngày Chúa Nhật 15 tháng 6 năm 2008, giáo dân các cộng đoàn được phân phối báo Hiệp Thông số 276, cơ quan ngôn luận của cộng đồng công giáo Việt Nam tại Orange, California (USA). Trong phần tin tức, nổi bật nhất là thư ngỏ đề ngày 04.6.2008 của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn gởi cho đức cha chủ tịch UBGM đặc trách mục vụ giới trẻ, đức cha đặc trách Giáo Lý Đức Tin và đức cha giám mục Lạng Sơn. Nội dung bức thư đã gây nên nhiều phản ứng trong cộng đồng giáo dân, nhất là đối với những con chiên thường quan tâm đến vấn đề Việt Nam.Con là một người Công Giáo thuộc thành phần cầm bút và cũng là một phần tử nhỏ bé hoạt động tranh đấu cho dân quyền dân chủ của cộng đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại. Đọc xong bài báo con thấy ấm ức, đành mạo muội xin phép trình bày với Đức Hồng Y hai điểm quan trọng mà Ngài đã nhấn mạnh: Lá cờ biểu tượng và nền văn hóa dân tộc.1. Lá cờ biểu tượng.

Vấn đề thứ nhất, trong thư ngỏ Ngài đã đặt câu hỏi “Một lá cờ biểu tượng cho điều gì?”, rồi chính Ngài trả lời: “Có lúc lá cờ được coi là một biểu tượng cho một đất nước, lúc khác được coi là biểu tượng cho một chủ nghĩa, chủ nghĩa tư sản, chủ nghĩa Cộng Sản, chủ nghĩa Quốc Gia…có lúc chỉ biểu trưng cho thói đời mang tính đối kháng”.

Theo thiển ý của con, lá cờ nào cũng mang những màu sắc cũng như hình ảnh cá biệt bao gồm ý nghĩa địa phương, sắc tộc, bản chất, văn hóa, đường lối hoạt động, khuynh hướng chính trị của từng tổ chức, đoàn thể, đảng phái cũng như mỗi một quốc gia riêng biệt. Nếu Ngài cho rằng lá cờ có lúc chỉ biểu tượng cho thói đời mang tính đối kháng để ám chỉ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thì hình như đây chính là lời lẽ tuyên truyền mà chế độ Cộng Sản đã xử dụng để nhục mạ quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa ngày trước. Qua thư ngỏ, nếu Đức Hồng Y lặp lại nguyên văn câu nầy để miệt thị lá cờ thân yêu của nhân dân Việt Nam thì con thiết nghĩ rằng những hàng chữ trên không thể viết bởi một vị Hồng Y đáng kính. Trong phần mở đầu thư ngỏ, Ngài đã cho rằng lá cờ được coi là một biểu tượng cho một đất nước, một chủ nghĩa thì con cũng xin thưa với Ngài về hai lá cờ Đỏ Sao Vàng của đảng Cộng Sản và Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hòa:

– Đỏ Sao Vàng là cờ của đảng Cộng Sản Việt Nam, rập theo khuôn mẫu màu đỏ, búa liềm và sao vàng của hai quan thầy Cộng Sản Nga và Tàu, hoàn toàn không mang một biểu tượng đất nước cũng như tinh thần, bản chất, nòi giống của dân tộc Việt Nam. Màu đỏ tượng trưng cho đấu tranh giai cấp, cho hận thù sắt máu và một sao vàng chính là biểu tượng cho đảng Cộng Sản duy nhất của Việt Nam. Cờ Đỏ Sao Vàng xuất hiện ở đâu thì nghèo đói, khổ đau và tang thương chết chóc sẽ theo đến đó. Người dân Việt Nam không chấp nhận chế độ Cộng Sản, năm 1954 một triệu người đã rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn xuôi Nam tìm Tự Do và từ 30 tháng 4 năm 1975, hàng triệu dân quân miền Nam đã liều lĩnh đánh đổi mạng sống với biển cả để trốn chạy nanh vuốt Cộng Sản. Người Việt Quốc Gia hải ngoại không thể sống dưới chế độ mới thì dĩ nhiên không bao giờ chấp nhận cờ Đỏ Sao Vàng, vì đây chính là biểu tượng của đảng Cộng Sản, khi chúng đem búa liềm từ chủ nghĩa Mác-Lê về siết cổ bóp họng dân tộc Việt Nam. Con mạo muội xin hỏi Đức Hồng Y: Cờ Đỏ Sao Vàng biểu tượng cho ai? Cho độc đảng Cộng Sản sắt máu hay cho đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta?

– Người Việt Quốc Gia không chấp nhận chế độ Cộng Sản nhưng Tổ Quốc Quê Hương và đồng bào ruột thịt vẫn là nỗi trăn trở đêm ngày đối với những người đã bỏ xứ ra đi. Cờ Quốc Gia Vàng Ba Sọc Đỏ là tinh thần dân tộc, là tình người yêu thương, là kết hợp sức mạnh, là điểm tựa tranh đấu và là ước vọng ngày về… chứ không phải là biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng như lời vàng ngọc của một vị Hồng Y giáo chủ. Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại bảo vệ, nâng niu và tôn trọng lá cờ Quốc Gia vì đây chính là biểu tượng của một quốc gia Độc Lập Tự Do và của một dân tộc anh hùng đã được toàn thế giới tôn vinh. Màu Vàng là màu da của con Rồng cháu Tiên với một lịch sử oai hùng ngàn năm anh dũng chiến đấu chống ngoại xâm. Ba Sọc Đỏ là ba miền, ba giòng sông, ba giọng nói nhưng cùng chung một nguồn gốc, một giòng máu thì cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng chính thức của một sự kết hợp tuyệt diệu giữa lịch sử, giòng giống, đất nước, tình cảm và lý tưởng của dân tộc Việt Nam.

2. Nền văn hoá dân tộc.

Trong thư ngỏ, Đức Hồng Y kêu gọi tình huynh đệ giữa đồng bào để phát huy trên cơ sở một sắc tộc và một nền văn hóa dân tộc. Con xin hỏi, Ngài kêu gọi chế độ Cộng Sản hay cộng đồng Người Việt Quốc Gia?

– Nếu lời kêu gọi nhắm vào chế độ Cộng Sản thì, theo thiển ý của con, có thể đúng một nửa. Nửa đúng, nếu kêu gọi nhắm vào nhà cầm quyền Hà Nội phải chấm dứt các thủ đoạn tráo trở, lập lờ hòa giải hòa hợp dân tộc và ngưng ngay các chương trình đánh phá cộng đồng người Việt hải ngoại, đồng thời phải sám hối ăn năn phần lỗi của mình để tiến tới giai đoạn có thể đối thoại với nhau. Nửa sai, là chế động Cộng Sản làm gì có nền văn hoá dân tộc cần để phát huy! Nhà cầm quyền Hà Nội đã đạp đổ, hủy diệt tận gốc nền văn hoá nhân bản để thay vào đó một nền văn hóa vô sản nhằm phục vụ riêng tư cho đảng Cộng Sản và chế độ hiện tại. Con nghĩ rằng chính Đức Hồng Y được đào tạo bởi nền văn hóa nhân bản tự do cũng như đã chứng kiến và hiểu được thế nào là một nền văn hóa vô sản sau khi Hà Nội xua quân vào chiếm miền Nam, thì xin Ngài đừng vô tình khuyên bảo con chiên theo chiều hướng tuyên truyền của Cộng Sản. Trên lãnh vực tôn giáo và bảo tồn văn hóa cổ truyền, con xin nhắc lại để Ngài nhớ, mới đây, Hà Nội đã ép buộc dân chúng quốc nội cũng như lừa bịp thế giới bằng cách đưa tượng Hồ Chí Minh vào chùa đặt ngồi ngang hàng với Đức Phật, tổ chức giỗ tổ Vua Hùng bằng hoa quả giả và thịt bánh thiu thối! Những hành động nầy có phải là thành tâm tôn trọng tín ngưỡng hay bôi bác truyền thống dân tộc? Nếu tình hình nầy vẫn tiếp tục, con xin hỏi Đức Hồng Y, với một giáo hội công giáo quốc doanh do Cộng Sản giật dây hiện nay, thì khi nào Hà Nội sẽ đem Hồ Chí Minh vào nhà thờ để cho con chiên đến quỳ lạy? Liệu Đức Hồng Y có đủ nghị lực, can đảm và sẵn sàng từ chối quyền lợi riêng tư để ngăn chận những việc làm đi ngược với tinh thần văn hóa nhân bản? Nếu bảo vệ văn hóa cổ truyền theo chiều hướng vô thần, đi theo con đường Cộng Sản vạch ra thì chính là hành động giết chết nền văn hóa dân tộc, thưa Đức Hồng Y đáng kính !

– Nếu lời kêu gọi tình huynh đệ nhắm vào cộng đồng người Việt hải ngoại, thì, kính thưa Đức Hồng Y, có lẽ Ngài đã sai vì người Quốc Gia không chống Tổ Quốc Quê Hương, không chống đồng bào ruột thịt mà luôn hướng về đất tổ, nghĩ đến anh em ở bên nhà đang khao khát nhân quyền, mong được dân chủ và ước mơ no ấm. Tình huynh đệ lúc nào cũng mặn nồng và người Việt nước ngoài sẵn sàng trở về đóng góp công sức với đồng bào quốc nội để xây dựng quê hương sau khi chế độ Cộng Sản sụp đổ. Ngoài ra nếu Đức Hồng Y lên tiếng kêu gọi người Việt Quốc Gia nước ngoài chú tâm đến việc bảo tồn văn hóa cổ truyền thì con nghĩ rằng Ngài không thấy hay cố ý không tìm hiểu những hoạt động của những người Việt nước ngoài. Kính thưa Đức Hồng Y, từ trên 33 năm nay, người Tị Nạn dù đã hội nhập vào xã hội mới nhưng lúc nào cũng ra sức bảo vệ và phát triển nền văn hóa cổ truyền Việt Nam mà Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ chính là động lực, là mục đích, là điểm tựa để người Việt Quốc Gia dù ở phương trời góc biển nào cũng hướng về một phía.

Kính thưa Đức Hồng Y, con là người phàm ít học, ngu si đần độn nhưng xin được phép hỏi Ngài: Thánh giá mà Thiên Chúa đặt lên vai Đức Hồng Y với trách nhiệm giáo chủ giáo hội Công Giáo dưới một chế độ Cộng Sản vô thần, Ngài để thánh giá ở đâu khi dùng lời tuyên truyền của Cộng Sản để răn dạy con chiên của Ngài tại hải ngoại, là một tập thể người Việt đang tranh đấu cho tự do nhân quyền, dân chủ và tự do tôn giáo tại quê nhà? Có lẽ thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa đã quyến rũ hết tất cả các vị lãnh đạo tôn giáo trong nước? Nếu vậy, người Công Giáo Việt Nam ngày nay không còn hy vọng tìm được những vị chủ chăn can đảm bảo vệ đức tin, sẵn sàng tử vì đạo như các bậc Thánh dưới triều nhà Nguyễn trước kia. Con nghĩ rằng, trong tình thế khó xử của một nhà lãnh đạo tôn giáo như Đức Hồng Y, bị chế độ Cộng Sản kềm kẹp ngày đêm, thì xin Ngài hãy giữ im lặng. Người Công Giáo hải ngoại sẽ hiểu và kính phục sức chịu đựng cũng như sự chống đối ngầm của Đức Hồng Y giáo chủ. Nhưng buồn thay, qua bức thư ngỏ, những lời vàng ngọc của Ngài chính là nguyên nhân tạo một cái hố ngăn cách giữa giáo hội trong nước với cộng đoàn người Công Giáo hải ngoại. Con nghĩ rằng có thể rồi đây con chiên chân chính sẽ tìm cách xa dần Giáo Hội. Ngoài ra các hành động cũng như những lời tuyên bố của các vị chủ chăn từ Việt Nam trong các dịp vừa qua làm con lo sợ một ngày nào đó, niềm tin của người Công Giáo sẽ hướng thẳng về với Thiên Chúa và không còn thông qua trung gian của các vị chủ chăn nữa !

Con kính mong Đức Hồng Y lấy lòng độ lượng tha thứ những lời phạm thượng của con như một hành động phi thường của Đức Thánh Cha Jean Paul II trước đây, Ngài đã vào tận khám đường để tha tội và chúc lành cho kẻ đã dùng súng ám sát Ngài.

Đinh Lâm Thanh

RỒI, SẼ TAN CHẢY NHƯ TUYẾT

chuthuynguyen

ngày héo
phơi hằng hà kỳ vọng
thèm chút nắng thơm
thứ nắng lụa ở sân sau

trách làm gì
những bước chân lẻo đẻo
chạy vòng quanh một mặt trời
sà xuống gần
mốc thếch
tôi gặp em
và thế là bình minh

lâu rồi
nằm nhớ biển như vẫn bên mình
quanh tiếng sóng
khúc bi ai
và sóng biếc chít khăn tang

muốn vẽ vời
khi mặt hồ lặng trang
bỗng kinh động
sóng ngầm
lũ chim giật mình
chim bay

ngồi lại một mình
mùa đông ngoài kia đã héo rủ
nghe chao dao
lời trang sử ông cha
về một ngày
trời quang mây tạnh

người con gái
với bầu ngực thật thanh tân
ngồi gần
tai ta như nghe rõ mồn một
từng giọt của sự sống
đang chảy rần rật trong nàng
và thiết nghĩ
chẳng nên mơ mộng đến cùng đích làm gì

khi nhan sắc dẫu diễm tuyệt ấy
đến một ngày
rồi sẽ tan chảy như tuyết …

CHU THỤY NGUYÊN

NẮNG MƯA VỘI VẢ QUA ĐỜI

authiphucan

đan nhau mười ngón phiêu bồng
tiếng yêu thầm thì gối mộng
hơi thở gì như gió lộng
lòng say bướm ơi lòng say

đêm trôi rèm buông cửa khép
nhốt nhau giết nhau tình sầu
chia nhau nửa đời cho hết
để mai không tiếc tình nhau

tháng năm quẩn quanh chăn gối
bên hiên thời gian không trôi
mốt mai đành chia hai lối
nắng mưa vội vả qua đời…

âu thị phục an

KHÔNG ĐỀ.

khuatdau

Bà tôi kể: Ngày xưa, trên bến sông của làng, có một con đỉa to như chiếc thuyền. Bao nhiêu trâu bò xuống uống nước, đều bị nó hút cạn máu, chưa kịp lên tới bờ đã chết.
Dân làng dùng sào dài cột câu liêm, giáo mác, đánh đuổi. Nhưng nó dai như đỉa, chẳng thấm vào đâu.
Các thầy phù thủy cao tay ấn đến đọc thần chú, dùng roi dâu quất lên mình, cũng chẳng ăn thua.
Nó chỉ chịu đi với một điều kiện: phải đưa một cô gái trinh cho nó, làm vợ.
Các hương chức sau một ngày cãi nhau đều gật đầu mà rằng: là con rể của làng, chắc là nó không phá nữa. Nhưng cái khó là ai chịu làm vợ nó đây. Gái nhà giàu, thì nhất định là không rồi. Chỉ có gái nhà nghèo, nhưng các cô thường đi cấy đi gặt, không con gì bọn họ ghét bằng con đỉa. Thà lấy chằn tinh còn hơn.
May sao có một cô gái mồ côi chịu lấy nó.
Ngày cô đi lấy đỉa làm chồng, cà làng ra đưa tiễn tận bến sông, ai cũng khóc.
Cô chèo một chiếc thuyền con đến bên con đỉa. Cô nói: “dù thiếp là người, chàng là con vật, nhưng dầu sao cũng là nghĩa phu thê. Xin mời chàng một miếng trầu thay cho chén rượu hợp cẩn”.
Con đỉa vui vẻ ăn miếng trầu. Chưa kịp nuốt, nó đã lăn ra chết.
Thế là cô cứu được cả làng.

Lời bàn thêm của cháu nội:

Bà ơi, cô gái đó thật gan dạ. Lúc cô chèo thuyền qua sông, hình ảnh ấy còn bi tráng hơn cả Kinh Kha khi qua sông Dịch. Cô cũng rất thông minh khi biết rằng tuy con quái vật to như chiếc thuyền, nhưng bản chất của nó vẫn là đỉa. Mà đỉa thì muôn đời vẫn sợ vôi.
Giờ đây trên biển đông có một con đỉa khổng lồ to như cái giàn khoan. Nó cũng đang quậy phá, không cho ngư dân kiếm con cá con tôm.
Chỉ cần cho nó ăn một miếng trầu quệt đầy vôi là xong ngay. Tiếc rằng, cái đám hương chức thời @ này, chỉ biết vừa run vừa la mà không đủ dũng cảm để nhét vôi vào họng nó.
Thế là thua xa một cô gái mồ côi phải không, thưa bà?!

Khuất Đẩu
O8/7/2014

DỐC NẮNG MONG MANH

tranvannghia

Bên chiều dốc vắng xanh xao
Rơi bao bụi nhớ nghiêng vào mắt ai
Thả đời nằm giữa thu phai
Nghe tình như bóng mưa ngoài thiên thu

Lối qua rát lạnh sa mù
Nhặt khô chiếc lá tìm hư ảnh về
Chập chờn nở trắng quỳnh xưa
Đợi mong đắng hớp rượu khuya vô hồn

Dấu người mỏng mảnh như sương
Xòe tay hong nắng cung đường rất xa

TRẦN VĂN NGHĨA

TÌNH SI

khatiemly
Ta đếm lỡ làng theo bước đi,
Hoa ai rơi trải bước em về.
Để tình ta chết theo hoa ấy,
Đành mượn thơ sầu khóc biệt ly.
Bởi chẳng là màu hoa phượng đỏ,
Nên tô không thắm má môi duyên.
Cũng không quên tiếng yêu ngày đó,
Nên mượn gió về hôn tóc em!
Lỡ rớt yêu thương vào đáy chén,
Lung linh hình bóng một giai nhân,
Câu Quan Họ làm nhũn lòng đất sét,
Từ tóc mây che nửa mặt thiên thần.!
Quán đời nay bỗng dưng xa lạ,
Vết hằn sâu mãi bước gian truân.
Rót chén, sầu nghiêng theo mái lá,
Nhớ người, nên rượu cũng bâng khuâng?
Rượu thiếu men tình nên hóa nhạt,
Từ thiên thần vút cánh bay cao.
Cát về mang nỗi buồn sa mạc,
Ôm mối tình si tự lúc nào?
KHA TIỆM LY

CÔ GÁI Ở NGÃ BA ĐỒNG LÁT

buithanhxuan

1
Ông bạn đặt ly rượu xuống bàn, khà một tiếng, khuôn mặt đăm chiêu như triết gia : “ Kể cũng lạ, ông ạ. Chuyện ngỡ như đã quên đi, bay theo gió mấy chục năm rồi nhưng nó lại trở về như mơ. Tôi kể cho ông nghe câu chuyện này. Tin hay không tuỳ ông. Chuyện cô gái ở nhà ga Đồng Lát.
2
Hai mươi tuổi, chín tháng quân trường tôi may mắn về Đặc khu Cam Ranh. Đại đội của tôi đóng ngay tại nhà ga Đồng Lát. Địa danh này ông nghe lạ quá phải không? Cái thứ lính Hải quân chỉ biết chui xuống dưới hầm máy, lâu lâu mới leo bờ một lần như ông thì biết mẹ gì trên đời này có đủ thứ thú vị. Lão đại đội trưởng giao cho tôi nắm trung đội một, đẩy lão thương sỹ già xuống làm phó. Đêm dẫn quân vô rừng, ngày về nằm lăn lóc hết nhà này đến nhà khác. Nơi đây là xứ đạo. Cả làng Đồng Lát đâu ngoài Quãng Bình kéo vào đây lập nghiệp năm năm tư, họ làm ruộng là chính.
Ga Đồng Lát lỡ loét như bị ăn bom, trống trước trống sau, chẳng có cái cửa nào. Khi tôi đến nhà ga vẫn hoạt động bình thường mặc dù chẳng có nhân viên đường sắt làm việc ở đây. Tàu đến, khách xuống vội vã rồi hàng người lũ lượt lên trước khi tàu chạy. Nếu không có cái chợ chồm hỗm ven đường trước ga thì nó trông giống cái miếu hoang hơn.
Vậy mà trong cái tưởng như là miếu hoang ấy lại có người ở mới lạ. Hai chị em cô gái mồ côi. Đến bây giờ tôi cũng không biết họ lưu lạc từ đâu về. Không tiện hỏi. Cậu con trai mười ba và cô chị mười lăm tuổi. Cả hai chị em cùng buôn bán lặt vặt trước ga nhưng vẫn tiếp tục cắp sách đến trường. Họ sống kham khổ, ít nói , rất ngại tiếp xúc với người khác ngoại trừ những lúc bán hàng. Cô gái tên Hương, có đôi mắt to và nước da trắng mịn. Trông xinh đẹp, mỹ miều như tiểu thư con nhà danh giá chứ không phải nghèo hèn sống tạm nhà ga. Lão đai đội trưởng của tôi rất nghiêm khắc, cấm tất cả lính dưới quyền bén mãng đến chọc ghẹo, trừ tôi. Được giao nhiệm vụ bảo vệ và dạy kèm cho hai chị em cô gái. Không biết ông ta có ý gì mà lại giao cho tôi nhiệm vụ cao cả đó. Công việc lắm “thằng “ trong đại đội thèm muốn . Thật là một vinh dự.
Cô gái xinh đẹp mỗi ngày ít nhất một tiếng đồng hồ được tôi kèm cho học. Chàng trai hai mươi tuổi làm sao không rung động trước cô gái mười lăm có đôi mắt to trong veo, tròn xoe thỉnh thoảng ngước nhìn. Trái tim tôi xốn xang nhưng em lại còn nhỏ bé quá. Ngày tháng trôi qua đều đặn và rồi tôi mê mẫn đôi mắt, mái tóc dài của em. Mùi xà phòng rẻ tiền nhưng với tôi nó là mùi hương tuyệt diệu.
Vậy mà..
Chưa tròn năm tôi được điều đi học khoá Phân chi khu, xong khoá học về nhận nhiệm vụ tại S. H, cách Đồng Lát ba mươi cây số. Đi lại rất khó khăn nhưng hằng tuần tôi vẫn thường về thăm chị em Hương. Gặp em, tôi hỏi thăm đủ thứ chuyện nhưng điều cần nói lại không thốt nên lời. Hương cũng tỏ ra quyến luyến và đôi mắt u buồn khi tôi từ biệt. Có lần tôi đã nhìn thấy mắt em đỏ hoe khi chuẩn bị về đơn vị vậy mà thằng đàn ông như tôi vẫn không nói được lời nào. Tệ thật. Mặc dù không còn là ông thầy và người bảo vệ bất đắc dĩ cho chị em Hương nữa nhưng tôi cứ mãi dại dột đóng vai ông thầy nghiêm túc, không dám ngỏ lời yêu.
Chiến tranh khốc liệt hơn.
Cuối tháng ba năm bảy lăm, CamRanh như muốn vỡ tung vì dân ngoài Trung theo các chiến hạm đổ tràn ngập phố phường. Đơn vị được lệnh di tản. Tôi về đặc khu xem tình hình như thế nào. Ở đây vắng vẻ như đình làng. Bên kia đường có chiếc xe jeep, không ngần ngại, tôi leo lên phóng thẳng về Đồng Lát tìm hai chị em Hương. Làng xóm vắng vẽ, còn một ít nhà ở lại. Bọn họ tháo chạy theo đoàn người vào Nam. Khi tôi đến Hương đang ôm mặt khóc, chỉ kịp bảo em gói ghém vài thứ rồi quay ngược ra quốc lộ
Hằng trăm ngàn người rồng rắn trên đường. Đoàn xe chạy trong đêm. Thỉnh thoảng trên núi dội pháo về, nét mặt ai cũng hốt hoảng, bấn loạn nhảy ào xuống lề đường. Chốc lát yên ắng lại lên xe đi tiếp. Cứ thế hai ngày một đêm đoàn người gồm cả dân và lính mới đến được ngã ba Bình Tuy. Đường ngang qua Long Khánh bị chặn rồi. Có người nói bị đắp ụ, gài mìn không cho xe qua. Vậy là cả đoàn đồn lại ngay ngã ba, tạo áp lực lên tiểu khu Bình Tuy. Trên núi pháo xuống, Bình Tuy nã pháo lên, người bị thương, người chết nằm lăn lóc trên đường.
Hình như có sự điều đình giữa tiểu khu trưởng Bình Tuy và đạị diện đoàn di tản. Chúng tôi được phép vào thị xã để đi ghe thuyền về Sài gòn bằng đường biển nhưng với điều kiện tất cả quân nhân phải bỏ lại vũ khí. Đoàn người như đàn bò hằng ngàn con đang di chuyển trong rừng Châu Phi, chen lấn, vứt bỏ tất cả những gì có trên người trừ bộ áo quần.
Trong đám hỗn mang ấy, tôi vẫn nắm chặt tay Hương và cậu em trai từ từ theo đám người đùn đẩy phía sau, lồm cồm phía trước bò qua hàng rào kiểm soát. Xô đẩy, hoảng loạn, gào thét, tiếng súng chiu chíu trên đầu. Tay tôi nắm không chăt tay em nữa. Bàn tay lơi dần. Có tiếng gọi thét nhói tim của Hương ở phía sau hoà vào tiếng thét của khẩu đại liên trên xe thiết giáp M113 khạc đạn. Tội bị đoàn người đẩy qua hàng rào. Hương mất hút trong đám người lỗn ngỗn bò bên kia.
Hớt hãi chạy tìm khắp nơi nhưng rồi tôi vẫn không tìm được em.
Bao nhiêu năm qua tôi luôn ân hận, ray rứt sao mình nỡ đánh rơi tình yêu đầu đời bên kia hàng rào kẽm gai sắt nhọn ấy. Kể từ lúc đó chưa bao giờ tôi đươc thanh thản và tha thứ cho mình mãi đến khi tôi gặp lại Hương
Cách đây hơn năm năm tôi đã gặp lại cô ấy đấy. Ông tin không? Ngay tại thành phố của mình. Chuyện cứ tưởng như mơ.
Không phải chúng tôi đi tìm nhau mà là định mệnh. Cái định mệnh vừa ngọt vừa đắng.
Buổi chiều, dọc bờ sông đông kín người, Chẳng có chiếc ghế trống nào. Tôi đứng tựa lan can cầu nhìn thiên hạ đi lại. Hôm nay hơi khác thường vì có nhiều lính Mỹ trong quân phục Hải quân trên chiến hạm vừa ghé thăm. Nhìn khuôn mặt họ rạng rỡ, đi từng tốp vài ba người, chuyện trò với nhau. Tôi nghe lõm bõm được vài ý. Đại khái khen thành phố này nhỏ nhưng xinh đẹp như cô gái mới lớn.
Một phụ nữ mặc bộ quân phục trắng đi cùng một sỹ quan Mỹ chậm rãi như đi dạo mát. Cũng hơi lạ, tôi chưa thấy người nữ quân nhân mỹ nào bao giờ. Mà cô ấy lại là người Châu á. Tôi nhìn cô ấy và cô ấy nhìn tôi. Bất chợt cô dừng bước, chăm chăm vào mặt tôi. Đôi mắt cô to tròn trông quen lắm. Đuôi mắt có vài nếp nhăn hiện lên sự tò mò ngạc nhiên, rồi khựng lại. Người phụ nữ cứ mãi nhìn tôi như vậy rất lâu, khuôn mặt thất thần, giọng run run nói bằng tiếng Viêt : “Xin lỗi, có phải anh Nguyên không?” Người tôi run lên bần bật, hai tay nắm chặt lan can cầu. Hơn năm mươi tuổi rồi nhưng lúc ấy tôi như cậu con trai mới lớn. Tim đập thình thịch liên hồi, miệng lắp bắp : “ Hương..” Cái lưỡi tôi nó chận ngang cổ họng mất rồi, không thêm được tiếng nào nữa.
Trời ơi! Hương của tôi đây sao? Trước mặt tôi bây giờ là một trung tá hải quân của quân đội Hoa Kỳ. Lạ thật! Kỳ diệu thật!

Tôi còn gặp lại em một nữa vào ngày hôm sau. Hương kể đã ra đi như thế nào. Trước khi từ giã em có một đề nghị. Và tôi từ chối lời đề nghị của Hương…
Nè, ông đừng có mà cười vào tôi.
Thôi, kể ông nghe vậy đủ rồi. Nhìn mặt ông nghệch ra là tôi biết ông không tin. Đừng nhìn tôi mà cười mỉa. Đôi mắt nheo nheo dễ ghét quá! Có phải ông nghĩ tôi bịa phải không? Cái ngữ như tôi gần bốn mươi năm lên bờ xuống ruộng, làm không đủ nuôi vợ con mà dám nhận bà trung tá quân đội Hoa Kỳ làm người quen. Chắn chắn là ông nghĩ như vậy rồi. Thôi được! Đến khi nào ông cho chuyện tôi kể là thật thì phần sau ông suy diễn ra sao , tuỳ ông. Mẹ kiếp! Trông bản mặt ông ghét quá.
Uống đi! Cứ xem như tôi đang mơ mộng viễn vông đi. Chết moẹ! Trời sụp tối rồi. Mụ vợ sai đi mua bó rau muống về luộc, kể chuyện ông nghe, quên moẹ nó. Thôi tôi về. Nhớ trả tiền bửa nhậu nhé.
3
Tôi và Nguyên là đôi bạn khá thân. Nó hiền lành. Nếu trong trận chiến đấu cuối cùng nó không bị mãnh đạn ghim vào đầu có lẽ đời nó sẽ khá hơn. Lúc lên cơn nó thường cười, nhảy múa như con nít, không chọc phá, chửi bới ai.
Nguyên yêu sách hơn mọi thứ trên đời.
Đôi lần tôi gạ gẫm Nguyên kể tiếp câu chuyện nhưng nó nhất định không. Tôi tin Chuyện cô gái ở ngã ba Đồng Lát là có thật
10/06/2014

CẠN

quynhdo

Tình trần, ôi, cát bụi, phù du
Giọt đắng ngày qua, trái tim mù
Gặm nhấm cơn đau, từng giây phút
Uống đi, cho hết, những ưu tư

Ta yêu anh, còn duyên kiếp trước
Bởi kiếp này đã cạn nhớ thương
Khúc hát ngày nào chôn xuống đất
Xé nát tim ta, khúc đoạn trường

Chén rượu tình, một lần uống cạn
Giọt vắn, giọt dài, lúc ly tan
Ngoảnh lại làm chi, tình oan trái
Nụ cười cay đắng, đón ngày sang

Nước mắt, đừng rơi hoài hoang phí
Nén lại chờ đến lúc chôn thân
Sẽ khóc cho đời bùng cơn bão
Cuốn sạch thương vay, chốn bụi trần

QUỲNH ĐỎ