HAWAII…THƠM MÙI ỔI CHÍN.

tonnuthudung

1

Hồ Ly luôn trở về vào tháng 7. Cô ngồi vắt vẻo trên cành ổi sẻ, những trái ổi bé bỏng nhỏ xíu mà ngọt ngào thơm ngát cả một khoảng trời . Hồ Ly mĩm cười khi nghe tiếng kinh nhịp nhàng vọng từ ngôi nhà gỗ ở lưng chừng đồi , nơi có một căn phòng sơn màu da cam đậm… Án ta pha, bà pha thuật đà ta pha đạt ma ta pha bà pha… Câu kệ mà Hồ Ly đã thuộc lòng. Từ ngày còn nhỏ , bà ngoại đã bắt Hồ Ly đọc CHƠN NGÔN TỊNH BA NGHIỆP để trấn yểm một con ma nào đó – nếu có – đang rình rập để bắt hồn bắt vía cô cháu gái yêu quý của bà … Bà ta ra mi, ma phạ đà ta, ma ha ta đạt ta bà phạ … Hồ Ly không hề hiểu những câu tiếng Phạn nhưng hình như đọc bằng tiếng Phạn thì thấy cổ kính linh thiêng và vô cùng êm ả … đủ sức trục xuất những cô hồn vất vưởng …
Nhưng bây giờ những câu kệ đó đâu có phải để dành cho những oan hồn uổng tử đã lăm le theo cô ngày mới lớn mà là dành cho cô, trấn yểm cô từ một người mà cô đã -yêu- cho -tới- chết …

Kym hay chở cô bằng chiếc xe đạp court trong những chiều tan học nếu cả hai trùng thời khóa biểu và cô trốn được tụi bạn thường cùng về chung xe bus của trường. Cô ngồi trước đòn giong , tóc cô bay ngược ra sau vướng vào mắt môi Kym để anh ngạc nhiên : Tóc Hồ Ly thơm ngát mùi ổi chín . Cô cười , luôn tựa người vào cánh tay Kym đầy nương tựa . Cô có thể cùng Kym đi đến tận chân trời góc biển , cuối đất cùng trời bằng chiếc xe đạp court này .. Từ trên con dốc Phượng Vĩ của ngọn đồi đại học , Kym thả dốc và hét lên trong gió lộng :
– Nhắm mắt lại , Hồ Ly … Nhắm mắt lại và bay…bay…bay…
Cô cười như nắc nẻ, chỉ cần biết Kym đang ở cạnh cô là cô không sợ bất cứ một điều gì …bất-cứ-một-điều-gì…
Một lần thầy viện trưởng lái xe hơi về muộn , đi sau , thầy đã hốt hoảng khi thấy chiếc xe đạp như bay trên đồi xuống , thầy giận giữ ngừng xe cuối dốc đứng chờ… Thoáng thấy xe thầy dừng lại , Kym cua vào con dốc khác … Hôm sau ,thầy gọi lên văn phòng mắng :
-Nếu chiều qua thầy bắt được hai đứa , thầy sẽ xáng mỗi đứa một bạt tai.

Một lần khác , nhân sinh nhật Hồ Ly , Kym đã mang tặng cô chiếc chuông đồng Kym lấy từ gác chuông của Nhà Vĩnh Biệt. Món quà được cô nâng niu cất giữ qua rất nhiều năm tháng… cô treo trên giàn Hoàng Anh vàng rực , để mỗi lần gió đi qua , tiếng chuông đong đưa vang lên như những tiếng vó ngưa về ngang đồi rung lục lạc. Cô không dám hé môi nói với ai Kym đã lấy nó từ đâu !

Những kỷ niệm sâu nặng đã níu cô và Kym bằng một sợi dây bền chắc nhất. Đứng trên đồi cao nhìn xuống mặt biển xanh thẳm dưới chân mình , Kym nói :
-Khi nào Hồ Ly bơi được một mình ra tới Hòn Tre thì lúc ấy anh sẽ dẫn Hồ Ly theo .
Nhưng lời hứa đó đã không bao giờ thành sự thật , Hồ Ly không bao giờ có thể bơi một mình ra đảo Hòn Tre… trừ mấy lần cùng Kym và chiếc áo phao màu cam rực rỡ , Hồ Ly đã bao lần ngừng lại , mõi rã rời , thả ngửa người trên mặt nước , và Kym , vừa dỗ vừa dọa , vừa đẩy vừa dìu để cuối cùng Hồ Ly cũng bơi tới Hòn Tre … rồi lại bơi về .
Kym đã không kịp chờ để dẫn Hồ Ly theo dù đó là điều anh luôn mong mõi…
Hồ Ly ra trường đi dạy ở một nơi tận cùng biên giới của tỉnh… Mỗi chiều lang thang trên con đèo ngập màu hoa Ngũ Sắc , tựa người vào tấm bảng địa danh , bên này là Phú Khánh , bên kia là Nghĩa Bình… Hồ Ly nhớ ơi là nhớ ngọn đồi Đại Học ngút ngàn một màu cỏ Chong Chong xanh rợn.

Kym dạy Thuận Hải , anh vượt biển theo ghe của gia đình người bạn. Anh để lại cho Hồ Ly một chồng giáo án , mấy xấp bài kiểm tra chưa kịp chấm ( Hồ Ly vừa khóc nức nở vừa chấm bài cho học trò anh để trường có thể báo cáo mọi thành tích cho kịp vào dịp tổng kết 6 tháng đầu năm…) và lời nhắn nhủ : Gặp lại nhau bên kia bờ đại dương … mà anh không hề nhớ rằng Hồ Ly không thể nào làm việc đó khi chỉ còn lại một mình … anh đã không hề nhớ !

Hồ Ly trở về nhà anh , vào phòng điên cuồng lục soạn… những tập thơ chép tay của Hồ Ly . những trang nhật ký của ngày thơ dại, những món quà đầy ắp thương yêu… con búp bê bị tắt tiếng anh chưa kịp sửa, quyển Bắt Trẻ Đồng Xanh Hồ Ly tặng anh nhân kỳ truy lãnh tháng lương đầu tiên của lần đầu đi dạy … một tủ sách toàn những chữ ký bay bướm của Hồ Ly bên cạnh chữ ký như một nét phác thảo của anh… Mẹ anh nói trong nước mắt :
-Con đem về làm kỷ niệm.
Hồ Ly bỏ dạy , bây giờ thực sự Hồ Ly mới cần được chiêu hồn , cô ngơ ngơ ngác ngác như cọng rong phiêu bạt từ suối róc rách ra đại dương thênh thang… Lời hẹn hò của anh , Hồ Ly mang theo suốt cả cuộc đời mình : Gặp lại nhau bên kia bờ đại dương…

2

Từ vùng hải phận quốc tế , chiếc ghe mang biển số KH… xô lệch không còn nhìn rõ nhỏ xíu như chiếc lá trôi dạt nhiều ngày… Hồ Ly nằm như ngủ … Nắng đã thiêu đốt cô như một bức tượng phủ một màu muối trắng … sáng lóa như một ánh hào quang..Chiếc áo cô mặc loang nhiều vệt máu đã trở màu nâu sẫm… Không có hoa , không có nến , chỉ có nỗi buồn và một mặt trời rạng rỡ giữa đại dương bao la…và mây…mây trắng ngợp trời .
Hồ Ly đi tìm Kym theo lời hò hẹn… Gặp lại nhau bên kia bờ đại dương … Ở một nơi có màu Phượng Vỹ đỏ rực như trên ngọn đồi đại học mang tên Phượng Vỹ ngày nào … Một nơi có mùi hương ổi chín nồng nàn của ngày thơ dại… Nơi ấy chỉ có thể là Hawaii… thiên đường nhiệt đới.

3
Hồ Ly lại trở về trong tháng 7 và ngồi vắt vẻo trên cành ổi giận hờn … Mùa Phượng đã tàn rồi nhưng hương ổi thì còn thơm ngát ngọt ngào ướp tóc Hồ Ly như ngày thơ dại … Cô đăm đăm nhìn căn phòng màu cam đậm rực rỡ như căn phòng cũ của cô ngày xưa … Từ căn phòng ấy vang ra những bài kệ quen thuộc nhằm xua đuổi Hồ Ly … Án ta pha , bà pha thuật đà ta pha đạt ma ta pha bà pha… bà ta ra mi, ma phạ đà ta, ma ha ta đạt ta bà phạ…
Hồ Ly treo chiếc chuông đồng ngày cũ lên cành ổi sẻ, gió đi qua , tiếng chuông đong đưa hát như tiếng chân ngựa chạy trên đồi… Hồ Ly nghe tiếng Kym nói với một người nào đó( mà Hồ Ly thề đến chết thêm mấy kiếp nữa cũng không thèm nhìn mặt) :
– Em , hôm nay gió quá , mấy chiếc chuông gió vang thật buồn như tiếng chuông gọi hồn ai …
CHUÔNG-GỌI-HỒN-AI…
Cuối cùng thì Kym cũng nói được một câu làm Hồ Ly nhoẽn cười… nụ cười không hề có chút hồ ly mà ngập tràn nước mắt !

tôn nữ thu dung

NGƯỜI XƯA

nguyenthy

 

 

Như một thiêng liêng Em đến trong đời tôi
Hỡi Em,
Quyền lực khai sinh và hủy diệt
Với rung động thuở đất trời trinh tuyết
Em ban cho loài người huyền nhiệm của tình yêu
Với đôi môi của định mệnh diệu kỳ
Em thánh hóa những nụ hôn nguyên thủy

Như giọt lệ thiên thu Em nhỏ xuống đời tôi
Hỡi Em,
Như cơn mưa nửa vời
Như tiếng khóc nát tan
Như nụ cười khô đắng
Và hỡi Em như ly rượu cuối cùng không cạn
Sầu một trường thành chất ngất giữa hồn say

NGUYỄN THỴ

TỪNG GIỌT HUẾ BUỒN (2)

daolam

Ta chỉ muốn mãi làm người ở lại
Gom hết sợi buồn sợi nhớ sợi thương
Ôm hết dòng Hương đục trong vô cớ
Thương hết phận người răng mãi đa đoan

Ta chỉ muốn mãi làm người ở lại
Hát buộc tình đưa , níu bước chân người
Nắng vàng phai.. trãi dài trên bến đợi
Vỹ Dạ buồn .. lá trúc biết chờ ai.??.

Ta chỉ muốn mãi làm người ở lại
Nón che nghiêng nên chẳng thấy Ta buồn
Như con Sông suốt đời thầm lặng chảy
Chờ tay ai thả xuống chút yêu thương ..

Ta vẫn mãi , mãi làm người ở lại
Nhặt hết ân tình ai thả xuống Sông
Cà Phê đắng , trà cay vàng nắng trãi
Lá lao xao vương víu chỗ ngồi buồn

Ta vẫn mãi , mãi làm người ở lại
Đợi ai về thắt dải lụa yêu thương
Người như thể con Sông kia chảy mãi
Sông , Sông ơi đừng quên hết cội nguồn ..

LÁ TRÚC CHE NGHIÊNG VÀNH NÓN ĐỢI
AI VỀ THẮT DẢI LỤA TRĂM NĂM

DaoLam

CẢM ƠN NƯỚC MỸ

trantrungdao

Trong cuộc sống đa đoan và nhiều thăng trầm, trắc trở của tôi, biết bao nhiêu kỷ niệm, biến cố đã trôi qua trong đời kể từ ngày tôi bám vào chiếc xe ba bánh, xa ngôi làng Mã Châu, xã Xuyên Châu, Quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam thân thuộc.
Những vui, buồn, hy vọng, tuyệt vọng đã đến và đi trong đời sống nhiều đến nỗi tôi không thể nào nhớ hết. Thế nhưng, tôi sẽ không bao giờ quên được những tháng ngày đầu tiên của tôi trên đất Mỹ.
Trong trí nhớ của tôi vẫn còn in đậm hình ảnh chiếc Boeing của hãng Northeast bay ngược chiều kim đồng hồ đưa chúng tôi từ Manila đến phi trường Chicago vào một ngày cuối tháng 11 năm 1981. Giọng người nữ tiếp viên hàng không êm ái cất lên lời tạm biệt. Tôi không hiểu hết nhưng đại khái biết rằng cô ta vừa chào mừng chúng tôi sắp đặt chân lên đất Mỹ. Tôi tự nhủ, “quãng đời lưu vong thật sự sắp bắt đầu”. Bên ngoài trời đẹp nhưng xa lạ.
Như lời bà hướng dẫn viên người Phi dặn dò trước khi lên máy bay, chúng tôi, tay cầm chặt chiếc túi đựng hồ sơ tỵ nạn có chữ ICM thật lớn, sắp một hàng dài dọc theo hành lang phòng đợi để khỏi bị lạc.

Người đầu tiên ra đón chúng tôi ở phi trường Chicago là một cô gái Việt trẻ đẹp, có lẽ còn là sinh viên và đang làm việc cho cơ quan thiện nguyện. Một ông Mỹ già đẩy đến cho cô ta một thùng áo quần và lặng lẽ bỏ đi. Theo lịch trình đã được ấn định trước, tại Chicago chúng tôi sẽ được cấp phát áo ấm mùa đông trước khi chuyển máy bay về địa điểm định cư cuối cùng trong hành trình tỵ nạn. Trạm cuối của tôi là Boston.Tôi biết và kính trọng thành phố Boston văn hóa lịch sử, qua nhiều môn học, nhưng chưa bao giờ nghĩ có một ngày sẽ là nơi tôi gửi gắm phần đời còn lại của mình.
Người con gái đẹp mà tôi không dám hỏi tên, phát cho mỗi người trong đoàn chúng tôi một chiếc áo ấm. Tất cả đều cùng một cỡ như nhau. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn chiếc áo ấm dày cộm rộng thùng thình hoàn toàn tương phản với bầu trời nắng chang chang bên ngoài.
Hiểu ý, với giọng Huế nhẹ nhàng, người đẹp dạy cho chúng tôi, những lưu dân đến từ vùng nhiệt đới, bài học đầu tiên về thời tiết nước Mỹ: “Ngó vậy mà không phải vậy đâu. Trời gạt mấy anh đấy. Ra ngoài không áo ấm vài phút là chết cóng”. Ngừng một chút, nàng cười tinh nghịch: “Ai không tin bước ra thử thì biết”. Nghe cô ta nói vui vui, tôi cũng định đáp lại bằng vài lời tán tỉnh nhưng chợt nhớ ra đây không phải là quán cà-phê trên đường Duy Tân cây dài bóng mát mà là thân phận hẩm hiu của một người tỵ nạn chân vừa chạm đất quê người, nên đành im lặng.

Đúng như lời cô gái Việt ở Chicago cảnh cáo, Boston chào đón tôi bằng những cơn bão tuyết triền miên suốt mùa đông dài rét buốt.

Đêm giao thừa của ngày Tết Việt Nam đầu tiên trên nước Mỹ, không có bánh chưng xanh, không có rượu nồng pháo nổ, không một lời chúc tụng ngoại trừ âm hưởng của những bông tuyết trắng bị gió đùa vào cửa sổ.Người anh lớn tuổi nhất trong nhà đang cặm cụi sửa soạn một bàn thờ nhỏ trong phòng khách để cúng ông bà. Bàn thờ đơn giản, chỉ một lon hương, hai cây đèn, một nải chuối và một bình hoa. Tôi và những người ở cùng nhà ra khỏi phòng, nghiêm trang đứng sau lưng anh. Anh khấn vái xong, chúng tôi, những kẻ không họ hàng, thân thuộc gì với nhau, cũng lần lượt mỗi người thắp một cây hương, cúi đầu vái ba vái. Không biết vái về đâu và cũng không biết từ phương Đông xa xôi, tổ tiên ông bà có nghe được lời cầu nguyện của những đứa con đang lạc loài trên đất khách.

Tôi thường gọi đất Mỹ nầy là đất tạm dung, trạm dừng chân của tôi và hàng triệu đồng bào tôi, trên quãng đường dài lưu lạc. Tôi trả thuế cho nước Mỹ căn cứ vào những lợi tức mà tôi thu nhập được. Đó không phải là một nghĩa vụ thiêng liêng theo kiểu “Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn đã đóng góp được gì cho đất nước” (Ask not what your country can do for you; ask what you can do for your country) của cố TT Kennedy. Nước Mỹ không phải là “country” của tôi. Tôi trả thuế nhưng đó không thể gọi là đóng góp. Đóng góp hàm ý nghĩa thiêng liêng, tự nguyện trong lúc trả thuế là một điều luật pháp bắt buộc tôi phải làm nhằm trang trải cho các khoản chi dùng công cộng.

Ngày tôi đưa tay tuyên thệ làm một người Mỹ vừa được công dân hóa sau năm năm thường trú, tôi cảm thấy buồn nhiều hơn vui, tủi thẹn nhiều hơn tự hào. Một tên Mỹ da vàng không quê hương, không tổ quốc, ngơ ngơ ngác ngác giữa quê người, có gì đáng để mừng vui.
Viên thư ký sở nhập tịch hỏi tôi theo thủ tục có muốn thay cái tên cúng cơm của tôi bằng tên Mỹ. Tôi lắc đầu. Nhiều người đã chọn đổi tên. Một số người làm như thế chỉ để dễ kiếm công ăn việc làm nhưng cũng một số khác để chứng tỏ mình biết hội nhập vào đời sống Mỹ. Việt Nam, với nhóm người sau, đã đồng nghĩa với một thời quá vãng.
Tự do, vâng, tôi may mắn tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Ngồi trên thềm tòa nhà lịch sử Fanueil Hall ở Boston sau giờ tuyên thệ tôi làm bốn câu thơ lục bát để kỷ niệm ngày thành công dân Mỹ:
Mặt mày hớn hở vui tươi
Sao lòng nghe thẹn làm người tự do
Của nầy là của trời cho
Của ta đánh mất không lo đi tìm.

Năm 1999, vợ chồng tôi quyết định dời sang một tiểu bang khác nếu công ăn việc làm thuận tiện hơn. Tôi được một công ty chuyên về Internet ở miền Tây Nam phỏng vấn bằng điện thoại. Kết quả rất khả quan. Họ hứa hẹn rất nhiều, từ việc giúp chúng tôi di chuyển cho đến việc tạm cư trong thời gian đầu. Quyết định rời khỏi tiểu bang Massachusetts, về mọi phương diện, vật chất cũng như tinh thần, là một quyết định lớn của gia đình tôi. Sau này tôi không rời tiểu bang mà chỉ dời sang thành phố khác cũng thuộc Massachusetts. Dù sao chúng tôi cũng quyết định bán căn nhà ở Dorchester cho một người quen.

Đêm cuối trong căn nhà cũ, lần đầu tiên tôi khám phá ra rằng nước Mỹ với tôi không phải là đất tạm dung. Cảm giác đêm cuối cùng, cách đây gần 20 năm khi tôi xa Sài Gòn, đã trở lại với tôi lần nữa. Tôi sắp sửa rời xa một căn nhà, một nơi chốn thân thương. Căn nhà trên đường Thornley Street là nhà của tôi, Dorchester là thôn xóm của tôi và Boston là thành phố của tôi. Nước Mỹ đã cho tôi nhiều hơn tôi trả lại cho nước Mỹ.Ân huệ mà đất nước nầy đã cho tôi không phải chỉ là tự do nhưng còn là cơ hội và hy vọng, những điều tôi đã không tìm thấy trên quê hương ruột thịt của mình. Hy vọng không phải là giấc mơ huyền ảo mà là một điều có thực và là chất sống cần thiết để nuôi dưỡng một con người phải không ngừng tranh đấu để sống còn như tôi. Nước Mỹ gắn bó với cuộc đời tôi nhiều hơn tôi gắn bó với nước Mỹ.
Đêm cuối trong căn nhà cũ, lần đầu tiên, tôi nghĩ về đất nước đã cưu mang tôi trong suốt gần 20 năm nhiều thay đổi của đời tôi với một tấm lòng biết ơn và trân trọng chân thành.
Đêm cuối trong căn nhà cũ, tôi nằm nhớ lại bàn tay người lính hải quân Mỹ của chiến hạm USS White Plains vói xuống để nhấc thân hình ốm o, đói khát của tôi lên khỏi chiếc cầu dây đong đưa bên thành tàu. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương.
Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ, tôi mới sực nhớ ra rằng, tôi chưa bao giờ nói một tiếng cảm ơn những thủy thủ đã cứu vớt tôi trong đêm hãi hùng trên biển Đông năm ấy. Lẽ ra, ít nhất mỗi năm một lần, tôi nên gởi một tấm thiệp Giáng Sinh kèm theo lời cảm ơn về địa chỉ của chiến hạm USS White Plains ở bộ Hải Quân Mỹ. Tôi tệ đến nỗi một việc làm đơn giản như thế mà bao nhiêu năm qua tôi vẫn chưa làm được.
Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ tôi nằm ôn lại một khoảng đời 20 năm, từ hai bàn tay trắng đến khi có được một gia đình êm ấm. Nỗ lực của chính tôi không thể nào thành đạt nếu không có những cơ hội đã được mở ra từ xã hội Mỹ. Nước Mỹ là vùng đất của cơ hội và mọi người đều có quyền có một American Dream.
Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ, tôi nghĩ về con đường Dorchester mà tôi mỗi ngày mấy bận đi qua. Giống như đường Santa Clara ở San Jose, Bolsa ở Nam California, Colonial ở Orlando, đường Dorchester là xương sống của xóm Dorchester chúng tôi. Bao nhiêu người đã ăn nên làm ra cũng nhờ vào con đường nầy, mặc dù không phải ai cũng biết ơn nó, không phải ai cũng nhớ tới nguồn gốc của chính mình, không phải ai cũng nhớ đến những ngày đầu tiên đi sắp hàng mua từng vỉ cánh gà, từng gói mì ăn liền bằng Food Stamps trong cái rét căm căm của miền Đông Bắc.

Trên con đường đó mỗi buổi sáng tôi đã gặp hàng trăm em bé Việt Nam sắp hàng ở góc đường chờ xe bus đưa đến trường. Những chiếc xe bus màu vàng nối đuôi nhau đưa các em đến tương lai huy hoàng của nước Mỹ. Nói như cựu tổng thống Bill Clinton, các em là chiếc cầu của tương lai hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Các em may mắn quá. May mắn lớn nhất không phải chỉ vì các em được làm công dân của một cường quốc nhưng quan trọng hơn, các em không phải sống trong những ngày cháo rau khoai sắn như hàng triệu đứa trẻ cùng thế hệ các em bên kia bờ trái đất. Các em sẽ không bao giờ hiểu thế nào là “kế hoạch nhỏ”, “trồng cây, trồng người”. Các em sẽ lớn lên, vươn lên trong cuộc đời một cách hiên ngang, không sợ hãi.

Nhà văn Trần Hoài Thư đến Boston nhiều lần và cũng đã yêu mến một cách say mê con đường Dorchester như chính tôi đã và đang yêu mến. Anh Trần Hoài Thư có lần viết về thành phố Boston: “Con đường Dorchester qua những tiệm ăn, tạp hóa Việt Nam. Và một khu Việt. Và những gương mặt da vàng. Và những lời trao đổi bằng tiếng mẹ đẻ vang trên bãi đậu xe. Đời sống vẫn bận rộn. Cõi lòng vẫn quay quắt. Nhớ nhung vẫn bão bùng. Bạn hữu mấy thằng trôi thất tán. Mấy thằng đợi một chuyến đò ngang…Cái mẫu số chung ấy là mẫu số của bất cứ người tị nạn nào trong chúng ta…Cám ơn Boston với những con tim kỳ diệu. Nếu không có những con tim này, tôi nghĩ, chắc chắn sẽ không có Trần Trung Đạo”.
Đêm cuối trong căn nhà cũ, tôi biết rằng mình không chỉ có một quê hương. Ngoài quê hương Quảng Nam Đà Nẵng ở Việt Nam, tôi còn có một quê hương khác, quê hương Boston trên nước Mỹ này.

Trần Trung Đạo

TÔI VẪN NGHE THA THIẾT TIẾNG CÒI TÀU

hacthanhhoa

Cơn mưa chiều đến từ một sân ga
Mang theo tiếng còi tàu sũng nước
Và khi trăng vừa xanh như chiếc lá
Tiếng còi tàu đánh thức những vì sao
Tiếng còi tàu dài và dẹp trong hầm sâu
Cứ tấm tức rồi òa lên khóc
Bầu trời đen như đáy vực
Tiếng kêu con tàu có nghĩa gì đâu..
Mặc con tàu kêu giữa ban ngày
Núi và biển vẫn không hề đổi sắc
Cô đơn như tiếng kêu con tàu
Âm u như tiếng kêu con tàu
Cứ len lỏi giữa trập trùng vách đá
Con tàu đi quên dừng lại mỗi ga
Đèn đánh cá ngoài khơi như thành phố nổi
Ảo ảnh một nơi mà tôi sẽ tới
Nói gì với tôi tiếng kêu của những chiếc cầu già
Những dòng sông khô phơi bày cát đá
Tiếng còi tàu đi vào trong mơ
Không đủ sức bay cao
Từng chiếc từng chiếc bong bóng vỡ
Chiều nay tôi đứng trước nhà
Nghe tiếng còi tàu vang trong mây xa
Như hư như thực
Những đêm giật mình thức giấc
Tôi vẫn nghe tha thiết tiếng còi tàu.

HẠC THÀNH HOA

BẠI TƯỚNG CA

vudinhhuy

Ôi cái bức dư đồ tơi tả
Ta lấy gì sính lễ em đây
Ngẫm người xưa thế mà tốt số
Vẫn kề em đến tận phút giây
Chiều Lương Sơn trùng trùng thế trận
Bại tướng nhấp môi nuối dấu hài
Thả khúc tiêu xé toang Thiên Địa
Mang một lời tạ lỗi đến ai.

VŨ ĐÌNH HUY

ĐẤT BUỒN

Hovietkhue

Cơm trưa xong, Hai Qui kềnh bụng đánh một giấc mê mệt rồi nướng qua nướng lại trên bộ ván hầm hập cong vênh bởi nắng xế rang nóng căn nhà tôn thấp nhỏ. Mấy lần lão toan dậy nhưng lại ườn xác vì không biết thức để làm gì. Cả năm nay tay chân lão co rút dần, các bắp thịt nhão nhoét, xương cốt rời rã. Lão như món đồ phế thải đang mục ruỗng.
Nắng xộc vào mắt, Hai Qui mới lạng quạng ra sau nhà, kéo gàu nước giếng lên rửa mặt. Vừa ngậm họng nước, lão vội phun toẹt. Ngày qua, nước càng mặn chát. Nước không nhiễm mặn mới là chuyện lạ khi đồng làng năm hai vụ lúa một vụ màu biến thành ao đìa chứa nước biển, rồi nước thủy lợi không đủ, người ta khoan sâu tận địa ngục để đêm ngày hút nước ngầm pha với nước biển cho thích hợp với con tôm sú. Nước ngọt tầng ngầm cạn kiệt, nước biển chỉ cách cánh đồng một dãy động cát âm thầm len lỏi trong từng thớ đất. Vào một sớm mai, cả làng chưng hửng khi ngậm họng nước mặn chát trong chiếc gàu kéo lên từ giếng thơi. Từ đó, cả làng phải mua nước ngọt chở từ nơi khác về để ăn uống, tưới tắm.
Hai Qui ngắt một trái ớt chín đỏ rực trong chậu kiểng đút qua kẽ nan chiếc lồng tre cho con nhồng. Con nhồng nhảy loi choi, chửi thề mừng món ăn khoái khẩu: “Đu ma”. Hai tiếng này con nhồng học được từ đám nhỏ xóm Mới mà Hai Qui dọn về ở gần ba năm nay. Hai Qui khóa cửa nhà, thói quen lão mới học được. Ngày còn ở trên miếng đất sát chân ruộng lúa, căn nhà tre lá của gia đình lão gió lộng trăng thanh mấy khi kín cửa. Mỗi trưa chập chờn mê mệt giấc ngủ nhớp nháp mồ hôi, lão lại nhớ chiếc võng gai toòng teng giữa hai thân dừa với hương đất đai căng đầy buồng phổi. Con nhồng trong chiếc lồng treo bên hiên nhà lâu lâu lại nhắc lão “bác Hai dậy đi, tối rồi”, hay “anh Long, chị Phụng học về”. Long và Phụng là hai đứa con chưa ra riêng. Hai Qui nghĩ mình phận rùa suốt đời mang chiếc mai nặng nề cực khổ nên đặt tên con là rồng là chim hy vọng đời con sẽ bay bổng giàu sang.
– Giàu sang đâu không thấy, bây giờ thằng Long chạy xe ôm, còn con Phụng làm công nhân may tuốt ở Sài Gòn.
Hai Qui lầm bầm, men theo các ranh vườn đi về hướng cánh đồng.
Căn nhà giữa đồng của Hai Qui trở thành nơi bà con tụ tập để nghe giải thích chủ trương chuyển đổi cây trồng vật nuôi trên cánh đồng làng Vạn Phước.
– Vì sự nghiệp phát triển kinh tế của một xã có bề dầy thành tích cách mạng, chúng ta phải biết hy sinh chút quyền lợi riêng tư của mình bằng cách giao ruộng lúa cho người có điều kiện nuôi tôm.
Chủ nhiệm hợp tác xã rao giảng.
Nhưng những người nông dân cố cựu hoá thân của hạt lúa củ khoai từ đời ông sơ bà sẩm ngoan cố không chịu giao đất nên ngày kia đích thân chủ tịch huyện phải xuống gặp dân. Chủ tịch đanh thép :
– Con tôm cho siêu lợi nhuận. Một ký lúa bán hai ngàn đồng. Một ký tôm bán một trăm ngàn đồng. Một ký tôm bằng năm mươi ký lúa. Vậy nuôi tôm hay trồng lúa?
Trong lúc các lão nông còn tranh cãi thì chủ tịch đánh bài ngửa :
– Nói thiệt với bà con, nghị quyết đã nói cánh đồng này chuyển lúa thành tôm, bà con không đồng ý là…chống chủ trương.
Chủ tịch và bà con về lâu rồi mà cái đầu chỉ biết tính toán phân-giống-sâu rầy của Hai Qui còn ong ong câu nói lặp đi lặp lại của chủ tịch “Một ký tôm bằng năm mươi ký lúa”. Đào đìa nuôi mấy sào tôm cần vốn liếng vài trăm triệu thì nông dân Vạn Phước đào đâu ra tiền? Đành ngậm ngùi từ biệt ruộng đồng thôi!
Hai Qui ngồi bệt trên đám cỏ xác xơ, bần thần nhìn ao đìa, gò bãi ngổn ngang. Qua mấy vụ tôm thất bại, các chủ đìa bỏ đất hoang hóa. Mấy đứa trẻ không dừng tay đào lấy cắp ống nhựa dẫn nước mặn từ biển vào chôn sâu dưới đất, chúng quá quen thuộc hình ảnh lão già nhàn tản hút thuốc nhìn trời mây.
Mỗi chiều, Hai Qui lại lẩn thẩn ra đồng. Mái nhà, cây dừa, giếng nước của lão giờ chỉ là cái đáy ao nứt nẻ phơi lớp sình trắng bọt muối. Lúc nhận hơn năm mươi triệu tiền đền bù, lão an ủi không phải tất cả là ruộng của mình, coi như trả lại cho làng nước vì ông bà nội lão để lại cho ba má lão chỉ có hai sào ruộng, ba má lão móc máy được thêm một sào ruộng và đám đất trồng hoa màu cho con. Ngày làng Vạn Phước thành lập hợp tác xã, hộ xã viên được chia bình quân mỗi khẩu một sào mốt ruộng. Hộ xã viên Hai Qui có sáu khẩu, lúc đó hai đứa gái lớn chưa lấy chồng, tính ra được nhận sáu sào sáu ruộng nhưng mới có ba sào nên được nhận thêm ba sào sáu ruộng nữa. Sáu mươi tuổi, Hai Qui mới được cầm số tiền lớn vậy nhưng tiêu mau hết quá. Mua miếng đất, cất nhà: hai mươi triệu. Mua cái xe máy cho thằng Long: mười triệu. Con Phụng học may: ba triệu. Vợ lão lận lưng mua đầu chợ bán cuối chợ: năm triệu …
Hai Qui đang lo lắng không tiền cưới vợ cho thằng Long thì một đứa cháu hớt hãi báo tin Long bị đâm chết tại bến xe. Lão chạy xiên quàng băng ao đìa về nhà, vợ lão ôm xác con gào rú :
– Em con thất nghiệp…Nó nói em con làm đĩ cũng được, con đánh nó chi…!
Mãi sau Hai Qui mới hiểu, Long đánh bạn chạy xe ôm vì thằng này nói Phụng bán bia ôm ở Sài Gòn rồi chữa bụng thè lè, đang thuê nhà ở dưới tỉnh chờ ngày sinh con.
Nhà đông người khiến con nhồng sợ hãi, hét toáng: “Một ký tôm. Năm mươi ký lúa”. Hai Qui nhảy ba bước, giựt cái lồng quăng mạnh vô tường. Con nhồng đập cánh loạn xạ, cố lách đầu qua mấy nan tre gãy, gào the thé: “ Một ký tôm. Năm mươi ký lúa. Một ký tôm…tôm…tôm! Đu ma! …” ./.

HỒ VIỆT KHUÊ

NGÀY VẪN BƯỚC ĐI

luthanhkien

Chiều ra đứng bên dòng sông mà hát
Mênh mông chiều , chiều gió lộng bay lên
Những hồi ức cũng như chiều lộng gió
Mênh mông buồn , làm tiếng hát buồn thêm.

Có một sáng chạy quẩn quanh trên biển
Những con chim quạnh quẽ cúi đầu nhìn
Trong đôi mắt chim, nụ cười yên tĩnh
Lặng như chiều tà , sâu hút như đêm

Có một đêm đối đầu cùng hoang mạc
Nghe thì thầm những hạt cát thiên thu
Gió thổi rối sợi tóc dài bát ngát
Thổi hồn người về tịch lặng xa xưa

Có một khi tôi không làm gì cả
Đứng, ngồi, đi, hay chỉ khẽ cười buồn
Có một khi tôi dịu dàng như lá
Rơi, và rơi vào một cõi bâng khuâng

Có bao giờ em về thăm tôi nữa
Để cho sông và biển , cát và chiều
Cũng như đêm thì thầm lời tan vỡ
Để cho người thôi khắc khoải vì yêu

Ngày đứng dậy , ngày bước đi, trôi mãi
Và giòng đời , và vô tận, và người
Và em ơi, ngọn nến buồn còn lại
Riêng một góc trời , một góc mà thôi…

LỮ THÀNH KIẾN

Hôm Nay Em Mặc Áo Xanh

tranvanle

Em lại thay rồi màu áo! Màu gì, em vẫn là em, vẫn màu mà anh thấy quen, chưa hề có màu nào lạ…Vì em, em là tất cả. tình anh dồn cho một người! Vì anh chỉ gọi Em Ơi, chỉ có một lời tha thiết

Anh biết là em đã biết. tình anh như thế, suốt đời…giống như là mây, mây trôi, cuối cùng đậu trên đầu núi, biển nào cũng từ con suối, cuối cùng là mưa xuống rừng (có thể mây từ biển Đông. bay tìm con còng đi lạc, bay tìm nắng reo tiếng hát. à ơi em-của-lòng-anh!).

Hôm nay em mặc áo xanh, màu của vầng trăng đầu tháng. Ngày mai em mặc áo trắng, thơm lừng mùi dạ lý hương…Có thể áo em gió vờn. khi tóc em cầm lược chải. Có thể áo em nhìn lại: một màu muôn thuở thời gian. Nghĩa là có tím có vàng, có khi nhạt nhòa sương khói…

Một mai mình về thăm Ngoại, em mặc áo bà ba nhen. Thường áo bà ba màu đen. để hồng em thêm đôi má. Ngoại, dù không còn thấy nữa…thì em mãi mãi Quê Hương. Em mặc áo gì cũng thương, thương như là Ba thương Mạ, chiều chiều Ba nhìn sắc lá, Ba hôn Mạ kìa em ơi…

Anh nói gì em cũng cười, đẹp sao là môi em mọng. Cả biển trăng tình gợn sóng, cả biển trăng tình của ta! Em ơi có một nụ hoa. đang vì em mà hoa nở, có con bướm vàng quanh đó, áo em xanh biếc trời xanh! Ôi em yêu quý của anh, em mặc màu gì cũng đẹp, anh từ chàng trai khép nép bỗng dưng hóa một đại bàng!

Trần Vấn Lệ

TƯỞNG NIỆM

tranhodung

Ơi những anh em còn sống sót
Sẻ chia nước mắt đắng cay này
Biết bao đồng đội không về nữa
Thân vùi trong đất Mẹ lạnh căm

Tên rồi cũng nát theo bia đá
Chỉ còn sương khói lạnh mồ hoang
Nhớ thương ngày cũ ! Ôi đồng đội
Rựơu rót đêm nay tưới mộ người !

Xin hãy về đây cùng uống cạn
Nỗi buồn thất trận , lạc quê hương
Cùng dòng máu đỏ , da vàng cả
Mà sao thù hận cứ mang mang ?

Ôi những anh linh xưa bất khuất
Gối đầu trong đất , khóc quê nhà !
Nào những linh hồn đồng đội cũ
Hãy về đây uống cạn chén sầu

Thắp nén hương lòng, ta rót rượu
Rượu buồn như máu chiến trường xưa

TRẦN HỒ DŨNG