GỌT LẠI TÔI XƯA

maithanhvinh

Gọt mòn
cái bóng đi xưa
gọt trăng dọi sợi
lưa thưa chỗ nằm
gọt thương nhớ
bởi trăm năm
ngồi ngân ngấn lệ
giọt đăm đắm sầu
gọt mùa tháng bảy mưa ngâu
một thời lúng liếng
còn đâu để tìm
ta về
gọt nắng vừa im
thềm xưa in bóng
ngày lim dim buồn…
làm sao gọt giọt mưa tuông
đành thôi
về giấu tiếng chuông phía trời….

MAI THANH VINH

Nếu chàng Trương Chi đẹp trai

laohuc

Anh thân,
Trong những cái lo hàng ngày như chuyện cơm áo, chuyện thường trú, tạm trú, chuyện hộ khẩu, chuyện hồi hương lập nghiệp, đi xây dựng vùng kinh tế mới, tôi lại thêm một cái lo nữa. Nhưng không sao, tôi sẽ viết, vì từ lâu tôi cũng muốn viết. Có nhiều thứ chất chứa trong đầu quá rồi!
Tôi bắt đầu bằng một truyện ký.
Khi anh biết tôi viết “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” anh cũng đã gửi trong thư vài hàng góp ý. Cảm ơn anh nhiều lắm. Tôi cũng định hạn chế cho mình là cái truyện ký này, chỉ nên viết từ hai trăm tới ba trăm trang.
Kéo dài, dài mãi thì cũng được đấy, vì tới bây giờ chàng vô sản Trương Chi vẫn còn quản lý cái tài sản của nàng “Tư sản phong kiến” Mị Nương, và cứ mỗi ngày lại lòi ra một cái xấu mới. Thành ra khó lòng mà làm một phát chấm hết truyện ký “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai”.
Khi bắt đầu vào truyện tôi nghĩ ngay tới ngày đầu mà ông Thừa tướng cho gọi Trương Chi vào để gặp Mị Nương. Tôi dám chắc rằng ông Thừa tướng không để cho chàng kịp sửa sang lại nhan sắc. Có thể lúc đó chàng đang mặc một bộ quần áo bẩn nhất, rách nhất. Có thể lúc đó, chàng vừa chèo xong một chuyến đò dọc đưa “khứa” vất vả, chưa kịp tắm rửa nên đen đủi hôi hám.
Ông Thừa tướng cáo già phải lựa lúc nào chàng bẩn nhất, xấu nhất, hôi nhất, tuy rằng lúc bình thường chàng đã bẩn, đã xấu, đã hôi. Đúng cái lúc đó cho chàng gặp Mị Nương. Người viết truyện là tôi thì cho cái ngày mà chàng vô sản Trương Chi gặp nàng Tiểu thư tư sản phong kiến Mị Nương là ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Bắt đầu câu chuyện là thế đấy, anh ạ.
Vậy tại sao ta lại gọi ngày 30 tháng Tư 1975 là ngày bại trận?
Ngày Thừa tướng cho Mị Nương gặp Trương Chi để được thấy hết cái xấu của chàng vô sản để rồi chê anh chàng hơi kỹ, là ngày thua của ông Thừa tướng cáo già hay sao?
Không, ngày đó ông ta thắng chứ, mà lại thắng lớn. Tiếng hát của chàng vô sản Trương Chi, từ đây không còn “ép phê” với cô Mị Nương nữa rồi.
Tôi đã được nghe một bà già ở Bến Tre nói những câu làm mình mát lòng, mát dạ. Bến Tre, quê hương Đồng Khởi đấy nhé. Bà ta nói oang oang không một chút sợ sệt tránh né:
“Các ông có biết không, ngày xưa tôi nuôi nhiều đứa lắm. Tôi rút nõ trái mít, khoét hết ruột rồi đổ gạo vô cho đầy, đậy cái nõ lại mang gạo đi nuôi chúng nó. Tôi dấu chúng nó dưới hầm kín. Nếu mà biết như thế này thì hồi trước gạo có dư tôi nuôi thêm vài ba con chó. Bây giờ có chuyện gì chúng nó trốn vào trong quần tôi, tôi cũng vén cái quần lên cho nó lộ cái mặt ra!”
Đại khái bà già Bến Tre nói những câu như vậy.
Ấy đấy, cái ngày 30/04/1975 đã làm thay đổi cả một hệ thống tư tưởng, suy nghĩ, hành động của một giai cấp được đặt lên đỉnh cao trung kiên, thì dù ai muốn nói thế nào cũng mặc, tôi vẫn cho ngày 30/04/1975 là ngày chúng ta đại thắng.
Chàng vô sản Trương Chi mọi người đều biết là giỏi về nghề hót. Chàng đã hót rất kỹ về ba cái chiến thắng. Chiến thắng Điện Biên. Chiến thắng Tết Mậu thân. Chiến tháng 30/04/1975. Một cái thực và hai cái hư, tạo nên cái hư hư thực thực để người ta dễ lầm, thật giả khó phân. Chiến thắng Điện biên là thực, vì dù sao, chín năm kháng chiến đánh Tây chưa lòi cái bộ mặt Quốc tế vô sản ra, chúng nó còn có được chính nghĩa. Như vậy thì chiến thắng Điện biên của 1954 không phải là của riêng giai cấp vô sản mà của toàn dân. Ai là người Việt Nam cũng có quyền chia phần hãnh diện. Nhưng hai cái chiến thắng giả tạo là chiến thắng Tết Mậu Thân và chiến thăn 30/04/1975.
Ôi cái Tết Mậu thân bỉ ổi đê hèn mà chúng mình đã chứng kiến, cái chiến thắng ấy mới thê thảm làm sao. Chúng nó đã lùa vào thành phố một đám con nít ngớ ngẩn, đường lối trong thành phố còn mù tịt, dù có cho phép đi thong thả dạo chơi thì cũng lạc đường như một lũ mán về thành, còn đánh đấm cái gì? Ông Tướng Trưởng đã gọi là nhử cọp vào nhà, đóng cửa lại mà thọi. Ấy thế mà cũng huyênh hoang là chiến thắng!
Tôi nhớ là phải ngoảnh mặt đi, ói mửa khi thấy xe xúc đất, xúc từng tảng xác chết đó đổ xuống một cái hố chôn tập thể ở đầu đường bay Tân Sơn Nhất. Vài ba tháng sau còn có những các chết thối rữa trên trần nhà. Cứ nghĩ tới là nguyền rủa. Thế mà là chiến thắng đấy. Anh Trương Chi đã hát sai điệu.
Rồi tới chiến thắng 30/04/1975. Đến bài hát này anh Trương Chi đã trình bày giọng ca vô sản lên tới cái mức trơ trẽn và trâng tráo nhất. Trong một bài Hồi ký kềnh càng của tên Đại úy Bùi Đức Nhung, tả chiến công tiến chiếm dinh Độc Lập, đã tả rằng trên đường đi hắn đã mấy lần nhảy từ xe Thiết giáp xuống hỏi thăm dân Sài Gòn đường đi tới dinh Độc Lập. Mẹ kiếp, đường đi còn chưa rõ thế mà vẫn khoác lác là sửa soạn kỹ, nào là tập lâu ngày bằng bản đồ với sa bàn. Chưa thấy đứa nào dối trá, láo xược bằng cái thằng vô sản Trương Chi.
Có chiến thắng là phải có xác chết. Bài ca mà chàng vô sản Trương Chi coi là sở trường của chàng “Nghề của chàng” là bài ca Buôn Xác Chết. Cái gì chứ xác chết mang đi buôn lời là cái chắc. Người ta đi buôn chỉ mong một vốn bốn lời, nhưng đi buôn xác chết thì chẳng mất vốn, mà lời lại quá kỹ, vậy thì muôn năm Bài Ca Xác Chết.
Chiến thắng Điện Biên… Ôi nhiều xác chết quá, tha hồ mà buôn. Kéo pháo qua núi qua đèo, một xu cơ giới không có thì ta ca lên “Dốc núi cao nhưng lòng người quyết tâm của ta còn cao hơn núi”. Một đám kéo pháo, một đám đun đít pháo một kéo một đẩy. Cứ thế mà nhúc nhích. Nhưng đến lưng chừng dốc thì phựt một phát, dây kéo pháo đứt. Chết mẹ mấy thằng đun đít pháo. Pháo thụt lùi. Mấy thằng ở hai bên, trong lúc phản ứng cấp thời, nhảy vội sang bên cạnh để cứu lấy mạng. Những thằng đứng giữa, nhảy về bên nào cũng kẹt, lại vướng mấy thằng đứng ngoài. Lúc nhảy được thì lại đụng vào bánh xe pháo nên bị cán lòi phèo, chì còn ngáp vài cái là thành ngay cái xác chết. A, có xác chết rồi! Phải ca lên bản “Bài ca buôn xác chết”.
Đồng chí nào đấy? A, đồng chí Tô Vĩnh Điện. Mấy anh nhà báo, nhà văn đâu? Làm ngay bài ca tụng người anh hùng “Lấy thân chèn pháo”. Phổ biến ngay tới các đơn vị, hành động anh hùng lấy thân chèn pháo, các đơn vị đang làm nhiệm vụ kéo pháo phải học tập ngay buổi tối hôm nay. Đồng chi Tô Vĩnh Điện, nhờ thành xác chết mà được bốc thơm hơi kỹ. Xong một Bài Ca Buôn Xác Chết.
Ô hô, bài ca buôn xác chết ấy, một phát tên mà bắn trúng tới vài ba con chim. Đồng chí Tô Vĩnh Điện có thành xác chết thì cũng khoái đến phải gật gù cái đầu. Các đồng chí lãnh tụ cũng khoái, vì đã che lấp được cái bất cẩn của mình. Chỉ cần một khúc gỗ chèn, nhích được tới đâu chèn ngay tới đó, thì dù cho dây có đứt cũng chẳng đến nỗi. Hơn nữa, dây nhợ ra sao phải kiểm soát chứ, để cho nửa chừng đứt gánh, trách nhiệm đó về ai?
Xác chết mà buôn được thì một phần thân thể mà chết đi cũng có thể mà buôn được. Đồng chí La Văn Cầu trong lúc xung phong, bị đạn, gãy một cánh tay, thấy cánh tay gãy lủng lẳng vướng víu, đồng chí vừa rút mã tấu, chặt phăng cái tay gẫy rồi tiếp tục xung phong. Bài ca Buôn Cánh Tay Chết ca lên nghe cũng hay hay. Đồng chí La Văn Cầu được yết kiến Hồ Chủ Tịch và được Bác tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Bài ca này khi được mang ra học tập tại lớp Học Tập Ba Ngày, mở ra sau này, đã được một anh đội Ngụy bổ túc thêm cho một đoạn.
Khi được yết kiến Bác, đồng chí La Văn Cầu cứ thắc mắc về cái Huân chương Kháng chiến hạng nhì. Đồng chí nói với Bác là nếu đồng chí chặt cả hai cánh tay thì đồng chí có bắt được cái hạng nhất không? Bác gật đầu. Ấy thế là đồng chí đã dũng cảm xuống ngay dưới bếp của Bác, vớ con dao phay chặt phăng cánh tay còn lại Cả lớp học tập ấy đã vỗ tay hoan hô đồng chí La Văn Cầu quá xá cỡ.
Nhưng khi ra khỏi lớp học anh Cai Dù Ngụy hỏi anh Đội Ngụy rằng làm sao mà đồng chí La Văn Cầu lại tự chặt được cánh tay còn lại, thì được trả lời bằng những tiếng cười hì hì xỏ lá…
Chiến thắng Tết Mậu Thân. Cái chiến thắng này thì nhiều xác chết thật đấy nhưng vì nó gấp quá, quen thuộc quá với dân Thành phố miền Nam, nên chàng vô sản Trương Chi không đủ can đảm trâng tráo trơ trẽn để mà ngồi xổm bài tiết ra những bài ca Buôn Xác Chết. Đành phải nhai lại cái xác chết Nguyễn Văn Trỗi. Nhưng cái xác chết này đã từng ngâm mình ở con sông dưới cầu Công Lý, tục gọi là Bến Tắm Ngựa, nên có vẻ hơi nặng mùi. Chiến thắng Tết Mậu Thân thành ra vắng Bài Ca Buôn Xác Chết.
Rồi tới chiến thắng 30/04/1975. Cái chiến thắng này thì lại khác hẳn, vì không có xác chết. Thì nào có đánh đấm cái mẹ gì đâu mà có xác chết? Ở cái chỗ nào cũng vậy, thường là sau khi kết thúc một trận chiến, lại bày ra một cảnh đổ vỡ tan hoang, nhiều khi không còn viên gạch nào nguyên vẹn. Nhưng mà ở đây không sứt mẻ, không sây sứt môt tí tẹo nào. Như vậy thì sao gọi là cuộc chiến đã kết thúc?
Đường số 1 không gãy một cây cầu! Mấy con đường xe cộ vẫn chạy phom phom, không môt khúc nào bị cắt đứt. Cả một thành phố Sàigòn chỉ đổ có cái cổng dinh Độc lập vì cái thằng lái xe thiết giáp loạng quạng, ra cái điều hách dịch phách lối, húc đánh rầm một phát. Nếu nó ngừng tại chỗ cho người ta mở cổng, rồi đi vào thơ thới hân hoan, thì Sài Gòn sẽ được tiếng là còn nguyên si, chưa rụng một cái sợi lông sợi tóc.
Ấy cũng chỉ vì không có xác chết mà Đại thắng mùa Xuân đâm ra táo bón bài ca Buôn Xác Chết. Nhưng chàng vô sản Trương Chi nổi danh về tài hót, đâu có chịu? Thì vẫn có cái xác chết nằm chình ình ra đấy thôi? Không còn xác chết nào để buôn, thì chúng buôn xác ông già. Nào, một, hai, ba, ta đồng ca:
Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng,
Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng (…)
Ngày chiến thắng ấy có huy hoàng hay không, thỉ tôi sẽ viết trong truyện ký “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai”. Tôi viết đã được một trăm trang. Có một điều lạ là càng viết thì đầu óc lại càng sáng tỏ ra nhiều vấn đề. Những ngày đầu tháng 5 của năm 1975, tôi cực kỳ oán hận những kẻ đã để tôi ở lại đây. Phương tiện của Cờ Hoa năm 1975, có thể nói gấp ngàn lần phương tiện của Tây năm 1954. Năm 1954, Tây còn mang đi được môt triệu người. Ấy vậy mà năm 1975… đạp lên nhau mà đi, bước lên xác nhau mà đi, con số chắc cũng chỉ tới trăm ngàn. Trong một lúc quá chán nản, tôi làm một bài thơ thân phận:
Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh
Một vàn cờ thua ngã chổng kềnh
Bạn đỏ thiết tha mà dứt bạn
Tình vàng phụ bạc vẫn theo tình.
Tương lai trước mặt sao mù mịt
Dĩ vãng sau lưng lại bấp bênh
Trở giấc sao mình thao thức mãi
Quanh mình bóng tối cứ mông mênh.
Rồi tiếp theo là mấy năm đi học cải tạo. Trong nhiều lúc chán đời chỉ muốn chết. Nhìn gần thì nhìn thấy mình và người chung quanh cứ mòn mỏi, cùn rỉ để rồi dần dần gục xuống. Nhìn xa thì thấy tương lai miền Nam đi tới chỗ diệt chủng. Những thằng đàn ông có khả năng đẻ đái thì bị nhốt hết trong trại học tập cải tạo, còn sót lại thằng nào ở bên ngoài, thì lại được khuyến khích bằng sự hạn chế sinh đẻ. Hơn nữa cái chính sách lương bổng thật tồi tệ. Cha mẹ không nuôi nổi con cái, con cái không nuôi nổi cha mẹ, anh em không nâng đỡ nổi nhau thì đẻ thêm làm cái gì?
Khi ra khỏi trại học tập cải tạo, gặp thằng Công tử con bà Cả Đọi. Hắn tả cảnh cực khổ của hắn và đọc cho tôi nghe bài Cực Tả:
Cửa đóng màn che đã mấy thu
Đời tàn ngõ hẹp sống như tù
Quẩn quanh họp lại thiền Đông Độ
Vào ra luyện mãi phép Tây Du
Rầu rĩ Giáng Tiên ngồi gãi háng
Nẫu nà Từ Thức đúng xoa khu
Ăn chỉ tương cà, chê thịt cá
Sống chẳng tu hành cũng quá tu.
Tôi lại càng buồn, mẹ kiếp! Đông độ với Tây du. Nước Mỹ với nước Tây thì cũng chán mớ đời. Tôi hoạ lại bài thơ ấy bằng bài Quân Tán, nghĩa là Tan hàng:
Quân tán còn chi xuất với thu
Thong dong thì cũng xác thân tù
Hữu tật cam đành câu bất dụng
Vô tài nên chịu tiếng nan du.
Những tuởng khoan hồng anh hạ bộ
Nào ngờ mắc bẫy chú Xuân Khu
Chung cuộc vài năm cầm cán cuốc.
Tu đọi, tu huyền ấy cũng tu.
oo0oo
Anh cứ nhớ rằng lúc nào anh em chúng mình làm thơ Đường, ấy là lúc buồn và cũng rất chán đời.
Nhưng từ lúc viết bài “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” thì tôi phấn khởi hẳn lên. Nghĩ tới ngày đầu tiên Mị Nương gặp Trương Chi là tôi nhớ tới cả một cuốn phim dĩ vãng của những ngày đầu tháng Năm lịch sử. Nàng Mị Nương và chàng Truơng Chi hẳn cũng đã xảy ra chuyện “Ngôn ngữ bất đồng”. Tôi cười một mình, nhớ tới mẩu đối thoại giữa cô bán thuốc lá ở trước cửa nhà và một anh bộ đội
– Bán cho tôi bao thuốc ná.
– Dạ anh mua thuốc nào?
– Không bán cho tôi bao thuốc ná?
– Dạ anh mua thuốc nào?
Tiếng gắt gỏng:
– Cái cô này nạ chửa. Người ta mua thuốc ná mà nại cứ hỏi người ta mua thuốc nào.
Giọng trả lời vẫn dịu dàng:
– Dạ thì tôi hỏi anh mua thuốc nào? Thuốc Ru by, thuốc Cáp tăng hay thuốc Bát tô?
Ngôn ngữ bất đồng là thế đấy. Khu nhà tôi ở bên kia cầu chữ Y, nên sau ngày 30/04/1975, quanh nhà thật đông bộ đội. Cô nhỏ người làm nhà tôi đã biểu diễn một bộ mặt ngớ ngẩn khi một anh bộ đội tới hỏi mượn một cái bàn nà hay mượn một cái phễu. Tôi phải nhắc nó đưa anh ta mượn cái bàn ủi hay cái quặng, lúc đó nó mới à lên một tiếng tự nhiên.
Buổi sáng buổi chiều là những lúc nhàn rỗi của mấy anh bộ đội. Những anh chàng này ít đi chơi vì Sài Gòn đối với mấy chàng chẳng có gì hấp dẫn. Đường phố thì dài dằng dặc. Đi bộ thì mỏi chân. Vượt Trường Sơn thì được nhưng đi bộ trên đường phố Sài Gòn thì các chàng lại chê. Vài chàng may mắn gặp được người quen hay bà con họ hàng Di cư vào đây năm 1954 nhưng họ cũng chỉ cho ăn vài bữa cơm rồi cũng lơ là. Bởi vậy các chàng không còn thú vui gì chỉ ngồi xúm lại với nhau tán gẫu. Cái lối ngồi của mấy chàng cũng lạ. Chúng mình thì ngồi bệt xuống, đặt cái mông xuống hè cho nó thoải máì, thằng nào muốn sạch thì lót cái khăn mùi xoa hay tờ giấy báo. Nhưng mấy chàng thì ngồi ở cái thế mà chúng ta hay biểu diễn ở những lúc ta ở trong cầu tiêu. Cứ ngồi xổm như thế mà nói chuyện râm ran, cả mấy giờ đồng hồ. Sáng, trưa chiều lúc nào cũng có vài ba chàng hay đông hơn nữa ngồi ở đầu hè nói chuyện với nhau. Cứ ở tư thế “Ngồi nước lụt”. Đứa cháu gái lớn một hôm ngồi ngắm các anh chàng rồi bảo tôi:
– Sấm, sấm rồi bố ạ!
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
– Thế nào mà lại là sấm?
Thì bố vẫn giảng cho con nghe những bài thơ, những câu phong dao tục ngữ không có tác giả đọc lên tối nghĩa một chút, không chừng là sấm. Như câu “Hết quan tàn dân, thu quân bán ruộng”. Như câu …
– Rồi, rồi, nhưng cô định cho câu nào là sấm đây?
Con bé ra mặt nghiêm trang:
– Con nghĩ tới bài thơ con cóc “Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra. Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó. Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi”.
Mới đầu con cứ thắc mắc mãi về con cóc, không hiểu rằng con cóc ám chỉ cái gì. Bây giờ nhìn mấy đứa kia nó ngồi chồm hổm, mới thấy y như hệt con cóc. Bố thấy chúng nó có giống con cóc hay không?
Tôi không trả lời đứa con gái nhưng trong lòng như ngầm đồng ý. Cũng như tôi đã mắng chúng nó khi chúng nó trả lời những câu trêu chọc mấy chàng bộ đội bằng câu ca dao:
Khoai lang chấm muối ăn bùi
Lấy chồng bộ đội lấy cùi sướng hơn.
Tôi mắng nhưng trong lòng hả hê. Ừ, có thể là sấm thật đấy. Và bây giờ khi viết truyện ký “Khi chàng Trương Chi đẹp trai” tôi đã gọi ngày 30/04/1975 là ngày đại thắng.
Đã là ngày đại thắng thì chỉ nên luận công mà không luận tội. Người Mỹ đã tạo nên ngày 30/04/1975, cũng như ông Thừa tướng đã tạo nên ngày Mị nương gặp Trương Chi. Ôi, cả công lao tuyên truyền, cả một hệ thống tư tưởng từ Nam chí Bắc, xụp đổ thảm thương. Đi xe đò từ Bắc vào Nam, cứ tới Quảng Trị người dân miền Bắc yên trí là cái mông đít không còn bị hành hạ. Vào tới trong Sài Gòn nhiều kẻ đã ở lại, không muốn về, đấy là bây giờ còn kém trước quá xa.
Công của ông Thiệu sửa soạn cho ngày 30/04/1975 cũng quá lớn. Nhất là cái chương trình “Người cày có ruộng”. Mua lại ruộng đất của điền chủ, rồi phát không cho Nông dân mỗi người ba mẫu với bằng khoán cẩn thận, ông Thiệu đã bẻ gãy cái liềm trên lá cờ có cái liềm cây búa. Lại còn Ngân hàng Quốc gia Nông tín Cuộc cho nông dân vay tiền mua máy cày, máy bơm nước tới mùa thì trả. Không trả được thì khất lại. Cả một chính sách cải cách ruộng đất mà những anh chàng vô sản rất lấy làm hãnh diện, ấy thế là… đi đoong. Thâm độc hơn nữa là cái vụ cấy lúa Thần Nông. Cái thứ lúa ngắn này phải cần bón phân cho nhiều. Mà lại phải là phân hóa học nhập cảng. Thì có chi lạ. Muốn chóng lớn thì phải ăn nhiều. Thấy lúa ngắn ngày, mấy chàng “Cứ tưởng bở “mang ngay về Bắc làm giống, huênh hoang khoác lác quá xá, để rồi mấy năm mất mùa và cho tới nay phải trở lại cày cấy hai vụ Chiêm mùa…Thật là thâm quá mà độc cũng quá là độc.
Lại sắp tới ngày 30 tháng Tư.
Từ 1975 đến 1982, đối với mọi người kể cả tôi, cũng đã gọi là quá dài.
Mấy thằng Tây thất bại vì đã trở lại sớm quá. Chín năm kháng chiến chống Tây, chúng nó đã có thật đông chính nghĩa. Nhưng rồi sau chín năm? Và tới bây giờ Trương Chi đã thật sự xấu xí. Mặt nạ chính nghĩa rơi rớt tơi tả.
Anh nói với bằng hữu, làm gì đi chứ? Chia rẽ làm chi, tội nghiệp quá đi thôi! Đoàn kết không phải là tôi đi theo anh hay là anh đi theo tôi. Đoàn kết là phải dẹp bỏ hết mọi tị hiềm, xung khắc để cùng chung lo việc cấp bách trước mặt.
Rất thân chào Anh.

Lão Húc

 

(Dương Hùng Cường là một trong những nhà văn nổi tiếng ở Sai Gòn qua những bút hiệu như Dê Húc Càn, Lão Húc, Lão Dương, v.v. Ông có ba tác phẩm đã xuất bản là Lính thành phố, Buồn vui phi trường, Vĩnh biệt Phượng)

ĐOẢN KHÚC 1 VÀ 2

vudinhhuy

1
Có người đập vỡ Hồ cầm
Nhặt lên rồi hỏi dấu trầm hay thăng
Rót đêm rồi thả dưới trăng
Nhặt lên rồi hỏi dấu thăng hay trầm.

2
Hay em nhặt mảnh gương rơi
Kiều soi đánh vỡ trận cười nghiêng đêm
Hay ta tự cõi nhân duyên
Chống gươm ngửa mặt trận tiền khói bay
Hay mưa…
đùa cợt cơn say.

VŨ ĐÌNH HUY

 

Có Gì Trong Hiu Quạnh

authiphucan

từ đâu người ghé bước
về từ cõi nào xa
có gì trong hiu quạnh
ghé ngồi chung đời ta

một lần tim chới với
cơn mê nào rụng rơi
ta một lần đắm đuối
người hơi thở buông lơi

để mùa thu ướt lá
giọt nào mưa sụt sùi
giọt nào lên thu vắng
từng giọt buồn khôn nguôi

ta hỏi người có lạnh
xa xôi ấy về không
có gì trong hiu quạnh
mà đêm nầy mênh mông…

Âu thị Phục An

GIAO MÙA

mocmienthao

 

Chút mưa,
chút nắng
đồng xa
Lặng
nghe
mùa chuyển
như là
tiếng rơi
Thu
nằm
vắt vẻo
bên trời
Hạ
còn
lưu luyến,
bồi hồi
chưa qua

Tiếng
giao mùa,
văng vẳng
xa
Về,
ta
gom lại
vẽ
tà áo… Thu.

MỘC MIÊN THẢO

ĐÊM HOA ĐĂNG THÁNG BẢY

tonnuthudung

Bên bờ chiêm bao tôi choàng tỉnh giấc
Thấy bóng trăng soi xanh biếc trên vai
Nghe chừng đâu đây tiếng người trong vắt
Theo gió liêu trai câu hát Nam Ai…
(Hoàng Ngọc- Tuấn)

Vườn cỏ nằm chờ nắng, xanh đến ngút ngàn trong chiều hanh hao, những cây Ngô đồng cao loáng thoáng màu hoa phơn phớt tím… Tiếng chim về ríu ra ríu rít trên cành đào, cành ổi. Mùi ổi chín thơm phức trong chiều muộn, Vân Anh nhón chân cắn trái ổi trên cành làm xao xác bầy bướm hoang vỗ cánh bay lên, tiếng Vân Anh cười giòn tan một mình trong gió… Vân Anh là tên của một nàng tiên bị đọa trong câu chuyện “Ngọc đến Lam Kiều “, tôi không phải là chàng thư sinh trong truyện nhưng tôi vẫn điên cuồng yêu hậu duệ của nàng tiên xưa… Đôi mắt đen tròn của Vân Anh lấp láy qua vòm lá thấp:
– Hát cho Vân Anh nghe đi Tấn.
– Mỗi bài là một ly cà phê ở Vỹ Dạ xưa!
Vân Anh bĩu môi, như một trái dâu chua chua ngọt ngọt:
– Đủ 10 bài Vân Anh dẫn đi một lần luôn há.. Uống 10 ly cho tiện.
Tôi so dây… Những bài Vân Anh thích… Đêm mùa trăng úa làm vỡ hồn ta… Vân Anh đến ngồi cạnh tôi, tựa đầu vào bậc đá rêu xanh, đôi mắt Vân Anh khép hờ, đôi mi nhốt cả một trời thương nhớ… Chúng tôi đã lớn lên cùng nhau và cùng chung một cội nguồn. Ba Vân Anh và mẹ tôi là anh em ruột. Mẹ tôi thường than thở: “Các cô Tôn nữ thường bị vướng vào một lời nguyền trong tình yêu.” Ngày trước khi ông cao vào cung dạy học đã được một nàng công chúa đem lòng yêu dấu… không thể dành giật tình yêu với một nàng công chúa, bà cao đành ôm hận rời kinh thành, về quê lập một cảnh chùa tu tập với một lời nguyền đắng cay nào đó dành cho các hậu duệ trong dòng dõi của nàng công chúa đó…
Từ bao giờ tiếng chuông chùa Tịnh Giác công phu chiều, sáng vẫn còn lênh đênh hoài trên dòng sông Như Ý. Sông thì ở trước mặt nhà êm đềm sóng vỗ, các cô Tôn nữ phòng Lạng Giang không bao giờ dám xuống tắm sông nếu không mang một chiếc vòng bạc nơi cổ chân làm phép.Lời nguyền của bà cao đã vận vào các cô Tôn nữ cho đến muôn đời… Nhưng Vân Anh không mang vòng bạc. Cô mang một sợi dây vàng lục lạc dưới chân để mỗi bước đi leng keng như có nhạc, mẹ Vân Anh không tin điều đó, vì nếu lời nguyền đã đủ trăm năm thì hận thù nào mà còn đậm sâu đến vậy?

Tháng Bảy mùa Vu Lan, xứ Huế chìm mù mịt trong mưa không dứt… Tháng Bảy nước nhảy lên bờ. Vân Anh rủ:
– Mình tới Vỹ Dạ Xưa uống cà phê đi Tấn.
Tôi nói:
– Nước ngập qua Đập Đá rồi, sao đi được.
Vân Anh cười:
– Chèo thuyền đi chơi. Có người lớn ở nhà đâu mà la mình.
Suốt đời tôi không thể từ chối Vân Anh điều gì… một con chuồn chuồn ớt cô đòi bắt cho bằng được ngày xưa, một đóa hoa lạ vườn nhà ai cô thích, một bài thơ cho báo tường của lớp… Tất cả tôi đều làm vừa lòng cô để được nghe thấy tiếng cười giòn tan như trái ổi.
Nước đã mấp mé bậc thềm cao nhất, Vân Anh chèo thuyền vào vườn:
– Thấy thương Tấn dễ sợ chưa? Sợ Tấn lội nước ướt tội…
Cô rất dễ thương những khi vừa ý nhưng nếu thử làm phật lòng cô thì trời ơi là địa ngục.

Chiếc thuyền nan chòng chành như chiếc lá, mùa mưa, thuyền là phương tiện để chúng tôi đi chơi trong những ngày lễ lụt. Thuyền cập vào bến của Vỹ Dạ Xưa, Quỳnh Hương nằm kề bên cạnh… Vân Anh co ro trong chiếc ghế bành, môi tím ngắt… Một bình trà nóng và hai ly cà phê sữa đá… thói quen kỳ lạ của Vân Anh và tôi dần dần nhiễm độc. Tôi ủ hai tay Vân Anh trong tay mình với khoảng cách là một mặt bàn đá trắng với một chiếc lọ pha lê cắm một đóa hồng vàng độc nhất
– Vân Anh đừng lấy chồng, Tấn cũng không lấy vợ, tụi mình cứ yêu nhau hoài như vầy nghe Vân Anh.
Vân Anh nhìn tôi:
– Tấn ngố ơi là ngố. Tụi mình không thể yêu nhau, tụi mình là anh em cô cậu ruột.
– Nhưng Tấn yêu Vân Anh đến chết được.
Vân Anh rút tay về, búng vào mũi tôi, miệng cười mà đôi mắt thì buồn ảo não, cô thầm thì:
-Vân Anh cũng vậy, Tấn ơi… nhưng tháng Chạp này Vân Anh phải lấy chồng rồi.Tấn phải quên Vân Anh đi!
Vân Anh cầm đóa hồng vàng trên tay, suýt soa đau vì chiếc gai nhọn hoắc:
– Tối rồi, mình về thôi Tấn.
Chiếc thuyền đi ngang Đập Đá, mưa bỗng dưng nặng hạt với những cơn sấm chớp… Vân Anh ôm chặt tôi:
– Vân Anh lạnh quá Tấn ơi.
Chiếc thuyền bé nhỏ xoay như chiếc lá giữa dòng sông chảy xiết không nhìn thấy bến bờ, đêm mịt mù mưa gió… Tiếng Vân Anh thảng thốt:
-Vân Anh không có chiếc vòng bạc nào cả Tấn ơi, Vân Anh sợ lắm.
Tôi buông tay chèo, ôm lấy Vân Anh và mặc cho chiếc thuyền bé nhỏ tự bơi trên dòng sông định mệnh…

– Mở cửa cho Vân Anh, Vân Anh lạnh Tấn ơi!
Tôi mở toang mọi cánh cửa trong nhà, trời không mưa như ngày ấy… Chỉ một vầng trăng lạnh lẽo xanh nhợt nhạt… Vân Anh lạnh, Tấn ơi, Vân Anh lạnh… Tiếng gõ cửa loạn cuồng trong gió… gió như những tiếng chân ngựa chạy cuồng điên về một phương vô định, tiếng Vân Anh thảng thốt gọi tôi hoài mỗi khi đêm tới, đôi mắt Vân Anh hoảng hốt đầy tuyệt vọng… Tấn đây, Vân Anh đừng sợ… Tấn luôn bên cạnh Vân Anh…
Vân Anh dựa bên vai tôi, đôi môi không còn tím tái mà phơn phớt hồng xinh xắn, đôi mắt ngước nhìn nũng nịu dễ thương: “Nhớ mở cửa cho Vân Anh về nghe Tấn, đừng xua đuổi Vân Anh… “
Vân Anh ngồi trên bậc thềm rêu mượt: “Tấn hát Từ em thôi là nguyệt đi Tấn”
Vân Anh cười giòn tan như trái ổi: “Tấn ngố ơi là ngố…”
Vân Anh áo trắng chạy đuổi đàn bướm hoang trong vườn…
Vân Anh nằm giữa một vùng cỏ xanh thơm ngát…
Vân Anh nhẹ nhàng với bước chân leng keng lục lạc…
Mỗi đêm Vân Anh lại về cùng tôi ôn lại những ngày xưa cũ và khi tiếng chuông chùa Tịnh Giác công phu buổi sớm, đôi mắt Vân Anh thật buồn, cô trôi như khói sương về một nơi nào vô định và lời cô vang vang trong gió “Nhớ để cửa cho Vân Anh về nghe Tấn, đừng xua đuổi Vân Anh”…

Những đêm hoa đăng tháng bảy, tôi ôm đàn ngồi hát trên thềm đá lạnh, có Vân Anh tóc mây bay dài trong gió… Dòng sông lấp lánh hoa đăng, mỗi ngọn đèn là một linh hồn lưu lạc, lãng đãng đi tìm một chốn nương thân… Tôi chỉ là anh chàng thư sinh ôm đàn đến giữa đời lênh đênh trôi dài theo câu hát… Kiếp này xin là người hát rong… Để cho tình yêu lên tiếng… Để cho trái tim vội vã… Không còn cháy trong đêm hoa đăng…

Những đêm hoa đăng tháng bảy, tôi lang thang tìm đến bến Lam Kiều, nơi nàng tiên Vân Anh còn nợ tôi một lời hẹn trăm năm chưa trả kịp. Tôi gọi tên Vân Anh… Vân Anh lồng lộng trong gió đêm, trong bóng tối, trong nghìn trùng hư vô…

TÔN.NỮ THU.DUNG

MỖI SÁNG MAI MỞ CỬA, TA CHÀO NGÀY MỚI

tranthoainguyen

Mỗi sáng mai mở cửa,ta chào ngày mới
Ôi mỗi ngày! Ngày Đặc Biệt cõi nhân gian!
Nghe chim hót,ngắm hoa lay,có chi vội!
Ta bình tâm hít thở tận nhụy hương đời.

Mỗi sáng mai! Mở hồn vui cùng cây lá
Máu xương reo theo chân bước dưới mặt trời
Trần gian đó bữa ta về như kẻ lạ,
Cầm tay người,lòng lưu luyến mãi người ơi!

Trời đất rộng mênh mông mây gió lộng
Sóng sắc hoa lừng vĩnh cửu mang mang
Ta chợt đến rồi đi như huyễn mộng
Khoảnh khắc đời tươi rồi nắng tắt phai tàn!

Đời nồng ấm có vòng tay anh em bè bạn
Khoảnh khắc nói cười rồi chỉ là thoáng chiêm bao!
Ta xin sống với cả lòng thương yêu vô hạn
Cùng ngày xanh nắng gió đêm vàng trăng sao!

Ta xin sống hồn nhiên trong từng hơi thở
Đặt trái tim mình trong lòng vũ trụ hòa ca.
Trần gian hỡi! Ta ôm ghì thương nhớ
Cát bụi nhiệm màu từng dấu bước em qua!

Từ đỉnh núi cao đến biển sâu thăm thẳm
Hạt cát vàng lấp lánh khắp cõi uyên linh.
Hôn giọt nắng ta nghe lòng mình xanh thắm
Người yêu ơi! Màu năm tháng mãi xanh tình.

Chào ngày mới! Nụ cười xuân say ha hả,
Ngó bốn bên hoa lá ong bướm rập rờn.
Ta sống trôi giữa tình yêu rừng biển lạ
Mở cửa hồn vui trong tịnh độ thong dong!

Mỗi sớm mai mở cửa,ta chào ngày mới
Ôi mỗi ngày! Ngày Đặc Biệt nhất! Ta yêu.
Trong cát bụi ngân vang điềm linh thánh mách gọi

Sự sống thiêng liêng ta hít thở sớm chiều!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

BÀI THƠ HỒN PHÁCH

letrungtin

Mà thôi, nói nữa làm gì
Đời người
Vậy đó
Cứ đi
Sẽ về…
Sẽ bừng tỉnh, sẽ hôn mê
Sẽ thôi yêu ghét
Sẽ mê muội dài
(Rồi khi)
Bay lên,
Nhìn xuống hình hài
Khẽ buông một tiếng thở dài sầu nghiêng
Và, trong một phút mê điên
Hoá thân trung ấm, lạc miền trầm luân…

LÊ TRUNG TÍN

CHIỀU NAY, TÔI NGHE NHỮNG TÀN PHAI

nguyenngocgia

(Khánh Ly và kỷ niệm)

Với túi tiền nho nhỏ, cứ ngỡ, lâu lâu, mình hãy tự cho phép “xài sang” một lúc nào đó, khi Khánh Ly về hát. Ít nhất đối với giọng ca một thời của “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”. Đợi từ năm kia, tới năm ngoái và rồi năm nay…
Đành mượn lời Nhật Trường – “thôi em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé…” – mà diễn đạt tâm trạng “Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên” – như Trịnh Công Sơn thốt lên. Dù biết “Em” là cho tất cả. “Em” không phải “sở hữu” riêng ai. Nhưng “Em” nói, đến với nhau là cùng tìm về kỷ niệm.
Do đó, sự trở về của Khánh Ly như một hành khách kịp bắt chuyến tàu cuối cùng trên sân ga. Chuyến tàu, nếu không phải mua nhầm vé, chắc người soát vé ngủ gục, nên mặc hành khách lạc tuyến, khi ga đến đầu tiên – sau gần 40 năm xa xứ – không phải Sài Gòn. Cũng không phải Đà Lạt hay Huế, dù tài công tiếp tục đưa người lữ khách rong ruổi lần thứ hai.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Sài Gòn, không còn gợi lên những “chiều nội trú bâng khuâng”. Lâu lắm rồi. “Con đường Duy Tân cây dài bóng mát” đã xa vời vợi. Thay vào đó là những vỉa hè luộm thuộm với quán nhậu và tiệm cafe. Chen lẫn vài ngân hàng cùng hiệu kính và cả tiệm… rửa xe. Ừ, có cả một quán ăn kèm hát với nhau của Cẩm Vân. Con đường “duy cái mới”, bây giờ, thế đó (!).Những góc phố ngày xưa chỉ còn lại ánh chiều tà ảm đạm, tô đậm ngón tay vàng khói thuốc, cho những ai muốn tìm về dĩ vãng.

Dường như chẳng còn gì hấp dẫn hay quyến rũ và gợi nhớ? Nhưng ngày xưa, Khánh Ly hát cho “Người Già và Em Bé”, cho cả dân “Du Mục” với “đàn bò vào thành phố réo buồn tiếng hạt chuông”, chứ đâu chỉ “chiều nay còn mưa, sao em không lại…” hay ân cần ôm lấy “vai em gầy guộc nhỏ như cánh vạc về chốn xa xôi”? Không, Khánh Ly không chỉ kiêu sa như thế. Không cần đài các như vậy. Giản dị hơn nhiều…

Sài Gòn quen lắm nhưng không còn “Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi!

Người Sài Gòn, không xứng đáng, dù chỉ được phép mua vé “tàu ghế cứng toa hạng hai” để nghe, để nhìn và để ngẫm ngợi những gì Khánh Ly muốn tìm về kỷ niệm (?). Một chút gì phả ra nhạt nhòa từ ánh màu bạc bẽo! Nó hắt xuống phố Sài Gòn lấp lóa màu đen hắc ín, trong không khí nóng hực của ngày hè.

Người Sài Gòn nhớ Khánh Ly từ những gì mộc mạc mà rướm máu, hơn là những bóng bẩy và chải chuốt như người Hà Nội xem thấy. Một không gian có vẻ sang trọng nhưng khô và giả. Giả mà như…thật, từ những “bông hoa sống đời”, người ta bán ngoài chợ hay trong các shop để trang trí, làm cảnh cho ngày tết, dịp lễ mà không cần mất công nhiều lắm…

Kỷ niệm, khi gọi tên, nó nên khởi đi từ nơi người ta gắn với tột đỉnh vinh quang và cả nỗi niềm ly biệt. Cả êm mượt như nhung và sóng gió dập vùi. Nước mắt hòa trong thảng thốt trên từng bước chân tháo chạy trong rối bời. Và chia lìa những gì sâu lắng tận đáy tim, in đậm trên từng hàng rào dâm bụt loang lổ. Tan nhanh như từng hạt mưa bong bóng, hòa lẫn “muối mặn” chảy từ khóe mắt. Tất cả nối nhau chảy vô…ống cống. Từ ngày đó – 30/4/1975.

Thế là hết. Dù trẻ lắm, dù mơ hồ, những chao đảo trong tâm khảm vẫn còn nguyên với nỗi sợ hãi lớn dần theo ngày tháng của những năm xưa. Hiển hiện, không thể né tránh. Từ đó, ngụp lặn và đào bới trong… “đống bản nhạc” – như một đống rác buộc dọn dẹp. Lén lút và vụng trộm để tìm mọi cách “tẩu tán” tài sản của chính mình, dù trong mắt “người cách mạng”, chúng nó là thứ cặn bã, lai căng và… phản động! Một thời của văn hóa nghệ thuật Sài Gòn bỗng chết… ngắc!

Đấy là một trong những điều người Sài Gòn nhớ nhất, trong ngày tháng rầm rập bước chân các anh “giải phóng quân” dộng ầm ầm trên những con đường Sài Gòn thơ mộng.

Chốc chốc, gió thốc những bản nhạc bay tán loạn rồi đậu lại trên vỉa hè với vẻ u hoài và xơ xác. Nhiều người thẫn thờ “Để Gió Cuốn Đi” từng bản nhạc như mảnh giấy gói bánh mì. Văn hóa Sài Gòn tuyệt diệt. Tôi biết điều đó, khi từng trang giấy với năm dòng kẻ và những hồn thơ trong đó – được trình bày công phu và trân trọng, thẩm mỹ và đậm cá tính nhạc sĩ sáng tác – đầy dấu chân người qua kẻ lại, chấp chới như cánh bướm rách tả tơi.

Khánh Ly ra đi như hàng triệu người rời bỏ Sài Gòn và miền Nam. Người ở lại chỉ biết nhìn. Lầm lũi và co quắp trong những cơn mưa chiều nặng hạt, mơ về “Những Ngày Xưa Thân Ái” hồn nhiên. Tất cả chỉ còn lại “Như Giấc Chiêm Bao” ngọt ngào. Giấc chiêm bao của đời thực. Dường như định mệnh an bài.

Nói cho ngay, “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” trở thành chân lý, khi bóng dáng khập khiễng những lời nhạc đầy ắp chất thơ, còn chỗ nào để bày biện tốt hơn trong nhà hát lớn Hà Nội đầy màu sắc lấp lánh? Với áo quần thơm tho và những bó hoa sặc sỡ. Rỗng. Sáo. Và như những hạt ngọc trai nhân tạo xứng đáng với cái giá của nó.

Nhưng kỷ niệm, cứ ngỡ, là nơi không phải chỗ mình bỏ chạy cùng với nước mắt, vào năm 1954, bé xíu. Nó phải là nơi cưu mang, bước ra khỏi “tàu há mồm” với cái thở phào năm xưa? Nó phải là nơi gắn bó, thành danh, làm nên tên tuổi và nuôi nấng giọng hát của mình chứ?

Nếu gọi tên “non nớt” khi “Mơ Về Nơi Xa Lắm”, nó có một chút gì kệch cỡm, bởi e rằng lứa tuổi “gió heo may đã về” trở nên chọc ghẹo giới trẻ mất.

Giọng hát của “Nữ Hoàng Chân Đất” bây giờ thích hợp với đôi giày cao gót – dù chông chênh nhiều.

Thời gian quả khắc nghiệt. Như một viên đá mài, chà xát trên dây thanh đới người ca sĩ. Giọng ca Khánh Ly đục hơn và rè hẳn như dây số 1 guitar, lâu ngày bong tróc dần, sau những miệt mài nâng phím lòng, xoa dịu nỗi đau đời dân Việt “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu/Một trăm năm đô hộ giặc Tây/Hai mươi năm nội chiến từng ngày…”.
Làn hơi ngày nào gây nghiện cho khán giả, giờ đã ám đầy khói. Những sợi khói bay lên từ “Tàn Tro” năm cũ. Đứt quãng và mệt nhọc. Đuối sức không chỉ từ thần thời gian cản bước mà còn thiếu hẳn sự tự nhiên trong cách ngắt câu và kiểu lấy hơi nặng nề như “người phu quét đường” thở dốc với chiếc xe kéo, cùng một chút khò khè từ buồng phổi nhiều năm không thể thiếu thuốc lá? Âu cũng là lẽ thường.Giọng ca tái tê và rạn vỡ, bây giờ không còn. Không chỉ là rì rầm như “đại bác đêm đêm dội về thành phố” mà Khánh Ly nì non “Hát Trên Những Xác Người” thay cho những bà mẹ, những người cha hóa điên bên xác con thơ của trận Mậu Thân năm nào… Nhiều lắm…

“Tình cũ không rủ cũng tới”, bây giờ sai mất rồi. Một chút hoài niệm chen lẫn bối rối, khó diễn tả cùng tâm trạng… cụt hứng, khi chờ một kỷ niệm tìm về. Vả chăng, nếu có, người Sài Gòn cũng không thích ngắm nghía giọng ca Khánh Ly với vẻ sang trọng nhưng cứng đơ và đạo mạo, được khoác lên khá khiêng cưỡng như tại Hà Nội. Vốn dĩ người Sài Gòn cũ, dù sành điệu nhưng không sính ngoại với “đặc danh”: “diva”.

Sài Gòn và cả Việt Nam, bây giờ có thứ gì mà không cần đến tiền? Giờ, lộ thiên chơ vơ, trái tim như cục than đen xì bất động; khe khẽ đập và hổn hển thở theo… hai trăm triệu của Phó Đức Phương. “Áo Lụa Hà Đông” bị xé rách toạc trước mắt người… làm văn hóa. Văn hóa gì đây? À! Văn hóa từ “tâm hồn treo ngược ở cành cây” của Sóng Hồng đây mà!

Biết đâu, chuyến trở về thứ hai, với Sài Gòn là bến đợi, chiếc áo dài vàng hoa cúc, không bị phết những nhát cọ “một màu đen đen, một màu trắng trắng, chiều hoang vắng chiếc xe tang đi thật vội vàng”! Trên chuyến xe đó, bên “quần tang áo chế”, người ca sĩ năm nào lê bước chầm chậm để hát nốt những ca từ “Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu”.

Nghe những tàn phai

Khi nhắc về “đền đài âm nhạc”, dù quý phái hay bình dân; dù thính phòng hay nhạc nhẹ; dù chắt lọc ngôn từ hay bình dị câu hát, nó vẫn phải dành hết cho thân phận con người – Con Người Việt Nam hôm nay.

Đó không thể gọi là “đền đài” [1], bởi nó chỉ xứng với tên gọi trang trí như những phông màn làm buổi diễn cho những thanh âm rè đục như “Nghe Những Tàn Phai” cất lên trong lòng chế độ. Sao lại chọn Khánh Ly vào lúc này – như một sự giễu cợt cuối cùng mà người cộng sản vốn thích đùa dai?

Bất kỳ giá trị nào được làm từ dĩ vãng đều trở nên vô nghĩa, nếu người ta không biết hiện tại xuất phát từ đó đang ra sao và làm sao xoay xở nó trong tương lai – tương lai rất gần, đang đến. Một nỗi bế tắc mang bóng dáng “âm nhạc”, khi cầu viện đến cái tên “Khánh Ly”. Tựa như chiếc vợt cũ rách, cố vớt tạm lòng dân – đang rã mục. Thế thôi. Bởi dòng nhạc Trịnh Công Sơn đã là dĩ vãng, không còn được giới trẻ quan tâm nhiều lắm.

“Đồ cổ” chỉ có giá trị khi mang tính lịch sử và truyền lại tinh thần văn hóa vô giá cho con cháu đời sau. Chỉ tiếc, chính tư tưởng thực dụng đến bẽ bàng của người cộng sản gieo rắc bao năm qua, làm cho giới trẻ không khoái… “đồ cổ”!

Vả lại “môi trường văn hóa” Việt Nam ô nhiễm đến mức ngột ngạt, người ta làm sao có thể ngồi ngân nga hay ngẫm ngợi những câu hát đậm “chất thiền” và đầy tính bao dung của Trịnh Công Sơn nữa?

Người cộng sản hãy cố xoa tay và hít sâu lồng ngực với một cái thở mạnh, hắt ra cho buồng phổi thêm chút oxygen mà tiếp tục sống và hy vọng…

Dù sao, những phút cuối dọn dẹp mặt bằng sân khấu, hạ màn đang đến. Và ở đó, thấp thoáng nhiều “cặp mắt đỏ quạch” dáo dác tìm bằng được “visa EB-5″ [2] cho cuộc tháo chạy an toàn, đến Mỹ. Sắp đến rồi…

Bình minh chuẩn bị ló dạng. Chắc chắn là như thế, cho người dân Việt Nam, không phải cho ai khác.

NGUYỄN NGỌC GIÀ,
Việt Nam 10/08/2014