TT NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐÃ TỪNG GIÚP GẠO CHO DÂN TỴ NẠN TÂY TẠNG TẠI ẤN ĐỘ?

trantrungdao

Vài tháng trước trên internet xuất hiện bài viết “Câu chuyện thật cảm động của đức ĐẠT LẠI LẠT MA nói về ĐỆ NHẤT VNCH” với nội dung chính: “Ngày 20.09.2013 khi người Việt tại Đức được vinh dự đón Đức Dalai Lama tại chùa Viên Giác, Ngài đã kể lại 1 câu chuyện thật cảm động. Những thập niên 50, Mao Trạch Đông xua quân vào Tây Tạng giết sư, đốt chùa và gây ra hằng hà xa số tội ác với dân tộc Tây Tạng hiền lành chịu đựng. Năm 1959 Đức Dalai Lama phải cùng dân tộc của Ngài từ bỏ quê hương lên đường tỵ nạn. TQ lúc bấy giờ như con hổ đói, họ dùng đủ mọi cách để truy lùng Ngài. Khoảng thời gian đó trên thế giới ít người biết và để ý đến tình hình xảy ra ở Tây Tạng, và cũng chẳng ai biết gì về 1 thanh niên với nụ cười thật nhân hậu đang dìu dắt dân tộc mình lánh nạn trước mũi súng bạo tàn của Mao Trạch Đông. Ấn Độ luôn có đụng độ với TQ về vấn đề biên giới, vi vậy họ không muốn làm tình hình căng thẳng thêm, nên cũng chẳng tha thiết giúp đỡ đoàn người tỵ nạn đến từ Tây Tạng. Tin tức về tình hình bi đát từ Tây Tạng chẳng được loan truyền, lại bị TQ cô lập thông tin toàn diện, nên thế giới chẳng ai biết đến mà quan tâm. Đoàn người tỵ nạn vì vậy thiếu thốn cơ cực đủ điều, tình hình lúc bấy giờ thật nghiệt ngã.

May thay ở vùng Đông Nam Á có 1 vị Tổng Thống cũng nhân đạo không kém. Ông từng biết thế nào là tỵ nạn CS, vì chính ông cũng đã mở rộng vòng tay đón tiếp và giúp đỡ hằng triệu đồng bào của ông chạy nạn CS từ Bắc vào Nam… Đó là cố TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng. Một miếng khi đói bằng một gói khi no, Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm đối với dân tộc của ông vào những ngày tháng khó khăn nhất”.

Vài hôm sau tôi nhận bài viết phản bác bài viết trên với cái tựa khá dài “ĐỨC DALAI LAMA, ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ MẶC CẢM TỘI LỖI CỦA NHÓM “HOÀI NGÔ”” của tác giả Nguyễn Kha. Tác giả dành khá nhiều công sức để tìm kiếm gần như tất cả các phương tiện truyền thông thông dụng, từ google cho đến các trang web Tây Tạng và nhất là nghe kỹ youtube thu lại buổi thuyết pháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở chùa Viên Giác.

Theo tác giả Nguyễn Kha, ngoài ba lần nhắc đến Việt Nam trong chiến tranh, trong toàn bộ buổi thuyết pháp “Đức Dalai Lama đã không còn đả động gì đến Việt Nam nữa. Nhất là Ngài HOÀN TOÀN KHÔNG NÓI MỘT TIẾNG “PRESIDENT DIEM” HAY MỘT TIẾNG “RICE DONATION” NÀO CẢ. Do đó, dĩ nhiên là không có câu chuyện hoang đường “Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm” đã “âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng.” như “Chị Hoa Lan” đã gian trá phịa ra”.

Một lần, bạn tôi, Luật sư Nguyễn Xuân Phước ở Dallas gọi để thảo luận về chuyện “TT Ngô Đình Diệm tặng gạo cho dân Tây Tạng” này. Tôi nói với anh, trên quan điểm chính trị và nhân đạo, tôi tin là có nhưng thú thật tôi không chứng minh được bằng tài liệu nào. Biết tôi sắp đi Đức, anh Phước dặn tôi để đích thân nhờ Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương trượng chùa Viên Giác, Hannover xác nhận dùm chuyện “hàng tấn gạo” này. Tôi hứa sẽ bạch với thầy.

Tôi đến Hannover chiều thứ Năm tuần trước. Lần đầu đến viếng chùa Viên Giác, nhưng về tình cảm, với tôi đây là chuyến trở về. Viên Giác Hannover không có bóng đa già và những mùa thu ngập lá như Viên Giác Hội An. Viên Giác Hannover không có thằng bé ngồi nhìn bóng trăng soi trên sân gạch mà nhớ đến mẹ mình trong những đêm rằm Vu Lan tháng Bảy như Viên Giác Hội An. Cây đa già đã chết, thằng bé đã đi xa nhưng ký ức của một phần đời cô đơn nhất vẫn còn nguyên vẹn trong tâm hồn nó.

Sau những chuyện riêng tư, thăm hỏi sức khỏe, tôi bạch với Hòa thượng Thích Như Điển trong thời gian Đức Đạt Lai Lạt Ma viếng thăm chùa Viên Giác hôm 20 tháng 9, 2013, khi ngài thuyết pháp, khi ngài trò chuyện, khi ngài nói trong chương trình, khi ngài thăm hỏi ngoài chương trình, có bao giờ Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc đến việc “TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng” không?

Hòa thượng Như Điển xác định “Không”.

Nhưng rồi hòa thượng nói tiếp, sau khi đọc bài viết chính hòa thượng cũng thắc mắc về chuyện “hàng tấn gạo” và bảo các đệ tử, trong đó có nhiều người tu học tại Ấn Độ truy cứu tài liệu để tìm xem nếu Việt Nam Cộng Hòa đã từng viện trợ gạo cho nhân dân Tây Tạng. Ngày 7 tháng 8 vừa qua, hòa thượng nhận được kết quả truy cứu.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã hai lần tặng gạo cho dân tỵ nạn Tây Tạng.

Tài liệu xác nhận Việt Nam Cộng Hòa đã có cứu trợ gạo cho dân tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn, và không chỉ cứu trợ “hàng tấn gạo”, vài chục ngàn tấn mà đã gởi hai lần tổng cộng một ngàn năm trăm tấn gạo qua trung gian chính phủ Ấn. Hòa thượng chuyển cho tôi nguyên văn tài liệu và cả đường link dẫn đến tài liệu. Ngài cũng khuyến khích tôi dịch các đoạn liên hệ đến Việt Nam để phổ biến cho công chúng. “Sự thật cần phải làm sáng tỏ”, thầy dặn tôi như thế.

Tôi thật có duyên với câu chuyện “hàng tấn gạo” này vì người đón gia đình tôi ở phi trường và cả nhà ga Berlin lại là chị Hoa Lan. Chúng tôi không biết nhau trước. Chị ở Berlin nên Hòa thượng Phương Trượng chùa Viên Giác nhờ chị đón chúng tôi ở phi trường, đưa sang nhà ga đi Hannover và đón chúng tôi khi về lại Berlin. Khi chị đón tôi ở nhà ga Berlin, trên đường về khách sạn, tôi hỏi có phải chính chị đã nghe đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng “TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng” hay không? Chị Hoa Lan trả lời “Không”. Chị Hoa Lan cũng không biết ai đã dùng tên chị để đưa vào bài viết. Vì tôi đã được hòa thượng xác nhận bằng tài liệu chính thức của chính phủ Ấn nên việc chị Hoa Lan có nói hay không, không còn là chuyện quan trọng.

Giá trị của tài liệu

Tài liệu do Hòa thượng Như Điển chuyển dày 116 trang do Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Sách và Quốc Hội Tây Tạng (Tibetan Parliamentary and Policy Research Centre) công bố năm 2006. Trung tâm đặt văn phòng tại H-10, 2nd Floor, Lajpat Nagar – III, New Delhi – 110024, INDIA. Đây là tổng kết các biên bản ghi lại các buổi phỏng vấn các lãnh đạo trong chính phủ Ấn Độ. Những người được phỏng vấn có Thủ tướng Shri Jawaharlal Nehru, Bộ Trưởng Ngoại Giao Shrimati Lakshmi Menon, Bộ trưởng Thương mại Shri D.P. Karmarkar, Thứ trưởng Ngoại Giao Shri A.K. Chanda, Bộ trưởng Thương Mại và Kỹ Nghệ Shri T.T. Krishnamachari và nhiều viên chức cao cấp khác có liên hệ đến tiến trình định cư người tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn từ năm 1952 đến năm 2005.

Phỏng vấn Thủ tướng Nehru

Ngày 19 tháng 12 năm 1960, người phỏng vấn tên Shri Harihar Patel hỏi Thủ Tướng Shri Jawaharlal Nehru: “Thủ tướng vui lòng cho biết tên các quốc gia, cơ quan cứu trợ tư có liên hệ đến công việc cứu giúp và định cư người tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn và số lượng cũng như tên các trại do các cơ quan đó điều hành tại Ấn, Sikkim và Bhutan?”
Thủ tướng Shri Jawaharlal Nehru: “Các chính phủ Úc, Mỹ và Tân Tây Lan đã viện trợ 10 lakhs Rupees, 4,75,000 Rupees, 2,63,920 Rupees theo thứ tự để chính phủ Ấn chi dùng cho các chương trình tỵ nạn Tây Tạng. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng 1300 tấn gạo”.
Các cơ quan thiện nguyện tư cung cấp thức ăn, áo quần, thuốc men v.v. gồm có (1) Co-operative for American Relief Everywhere; (2) American Emergency Committee for Tibetan Refugees; (3) Catholic Relief Services in India; (4) National Christian Council of India; (5) World Veterans’ Federation; (6) Indian Red Cross Society; (7) Junior Chamber International; (8) The Buddhist Society of Thailand. Không có một trại tỵ nạn nào được đặt dưới sự điều hành bởi các cơ quan từ thiện ngoại quốc.”

Phỏng vấn Bộ Trưởng Ngoại Giao Shrimati Lakshmi Menon

Ngày 30 tháng Tư, 1962, người phỏng vấn tên Shri N. Sri Rama Reddy phỏng vấn Bộ Trưởng Ngoại Giao Ấn Shrimati Lakshmi Menon: “Thủ tưởng có vui lòng cho biết đúng hay không rằng Chính phủ Nam Việt Nam đã đề nghị tặng 200 tấn gạo để cứu giúp người tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn Độ”. Bộ trưởng Ngoại Giao Ấn Shrimati Lakshmi Menon đáp “Đúng vậy, thưa ông”.

Như vậy, việc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không chỉ một lần mà hai lần và cũng không chỉ vài ngàn mà hàng trăm ngàn tấn gạo là chuyện thật.

Người xác nhận nghĩa cử cao quý của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không phải là một viên chức cấp thấp chăm lo công việc cứu trợ hay một phóng viên báo chí góp nhặt tin tức đó đây mà chính từ lời phát ngôn trang trọng của cố Thủ Tướng Shri Jawaharlal Nehru, người có thẩm quyền cao nhất của chính phủ Ấn và cũng là nhà kiến trúc nên quốc gia dân chủ Ấn Độ hiện đại ngày nay.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng gạo cả hai lần đều qua trung gian của chính phủ Ấn và các trại tỵ nạn Tây Tạng ngày đó như Thủ Tướng Shri Jawaharlal Nehru xác nhận, đều đặt dưới quyền điều hành của các cơ quan xã hội Ấn nên đức Đạt Lai Lạt Ma có thể không biết.

Lý do không “hoang đường” mà rất đơn giản và dễ hiểu

Về mặt nhân đạo, việc cố Tổng thống Ngô Đình Diệm tặng gạo cho nhân dân Tây Tạng phát xuất từ tình người. TT Ngô Đình Diệm đâu cần phải vượt qua hàng rào tôn giáo như người viết bài gán ghép cho cố tổng thống. TT Ngô Đình Diệm cũng không phải “âm thầm” giúp đở chỉ vì ngài là “Tổng Thống Công Giáo” mà lại giúp đở “những người Phật Giáo Tây Tạng”. Đạo Công Giáo chẳng những không cấm cản mà còn khuyến khích con cái Chúa giúp đỡ những người khó khăn, đói khát, chịu đựng không cùng tôn giáo. Hình ảnh Mẹ Teresa sẽ mãi mãi như ánh trăng thương yêu soi sáng sông Hằng Hindu Ấn Độ. Hàng triệu người Việt tỵ nạn Cộng Sản sau 1975 đã vượt qua được chặng đường đầu đầy khó khăn phần lớn cũng nhờ vào bàn tay cứu giúp của những người không cùng tôn giáo.

Về mặt chính trị, cố Tổng thống Ngô Đình Diệm chắc chắn biết rằng Việt Nam Cộng Hòa và Tây Tạng có nhiều điểm giống nhau về hoàn cảnh lịch sử và địa lý chính trị. Hai dân tộc từng chịu đựng dưới ách thống trị của phong kiến Trung Hoa, hai quốc gia nhỏ chịu số phận vùng trái độn sát biên giới Trung Cộng, hai cuộc di dân tìm tự do trong đói khát, chịu đựng, viện trợ gạo, do đó, là một cách để thế giới thấy rằng Việt Nam Cộng Hòa luôn đứng về phía những người cùng chiến tuyến tự do. Tổng thống Ngô Đình Diệm không làm việc đó trong “âm thầm” mà đã chính thức thông báo cho Thủ tướng Ấn Độ Shri Jawaharlal Nehru biết và được thủ tướng vui mừng đón nhận.

‘Ngày nay rất nhiều quốc gia có cảm tình với Tây Tạng nhưng trong thời điểm 1960 chỉ vỏn vẹn bốn quốc gia, trong đó có Việt Nam Cộng Hòa đã đóng góp trực tiếp vào việc cứu trợ dân tỵ nạn Tây Tạng. Và trong số bốn quốc gia, Việt Nam Cộng Hòa có thể là nước nghèo nhất về của cải nhưng giàu hơn nhiều cường quốc về lòng nhân đạo.

Hai lý do đó chẳng “hoang đường” nhưng rất đơn giản và dễ hiểu mà vị lãnh đạo một quốc gia cùng số phận với Tây Tạng hẳn phải biết.
Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm có đức tính sống cao cả hơn và có một tâm hồn trong sáng hơn nhiều người đang “ca tụng” hay “vinh danh” ngài. Nếu biết kính trọng, hãy để ngài là cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, đừng cô lập ngài thành một vị “Tổng Thống Công Giáo”. Lịch sử để lại nhiều vết thương đau nhưng không có vết thương đau nào là của riêng Công Giáo hay Phật Giáo mà là vết thương đau của dân tộc.

Phản bác bài viết “Câu chuyện thật cảm động của đức ĐẠT LẠI LẠT MA nói về ĐỆ NHẤT VNCH”, tác giả của bài “ĐỨC DALAI LAMA, ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ MẶC CẢM TỘI LỖI CỦA NHÓM “HOÀI NGÔ” cũng chẳng xây dựng hay tích cực gì hơn. Thái độ hiềm khích, hằn học thể hiện ngay trong cách dùng từ, đặt tựa.

Không thể đánh giá một con người đã sống, một biến cố đã xảy ra hơn nửa thế kỷ bằng tiêu chuẩn ngày nay. Phương pháp đó thiếu đặc tính khách quan và lịch sử. Dân chủ là một tiến trình từ thấp đến cao, từ non trẻ đến trưởng thành chứ không phải là một sản phẩm được chế tạo theo một công thức, mẫu mực nhất định hay được nhập từ một quốc gia nào. Nền dân chủ Mỹ trả giá bằng sinh mạng của sáu trăm ngàn người lính hai miền trong năm năm nội chiến. Nền dân chủ Nam Hàn cũng phải chịu đựng ám sát, đảo chính, độc tài, tham nhũng trước khi trở thành một trong G20 của thế giới ngày nay.

Việt Nam Cộng Hòa, sau hiệp định Geneva, từ một thường dân cho đến nguyên thủ quốc gia đều bắt đầu hành trình dân chủ đầy gai góc bằng hai bàn tay trắng, vừa học vừa hành trong máu và nước mắt. Không ai muốn nhưng đã để lại những hố sâu, những vết nứt trên đường đi của các thế hệ hôm nay. Một người Việt Nam có trách nhiệm, nếu không giúp lấp lại những cách ngăn, không giúp xoa dịu nỗi đau, không giúp bắt một nhịp cầu cảm thông thì cũng không nên đào sâu thêm hố hận thù, chia rẽ trong lòng một dân tộc đang quá khao khát thương yêu và đoàn kết.

Prague, chiều 26-8-2014
TRẦN TRUNG ĐẠO

DẤU… YÊU

vudinhhuy

Đôi bàn tay Công chúa
Ngón tháp bút tài hoa
Ta trôi vào cổ tích
Tay đan tay ngọc ngà

Bàn tay mềm lười lắm
Thôi để làm ý thơ
Thương rồi còn chảnh chọe
Ngắt cọng ngò giả lơ

Đường chỉ tay lờ mờ
Tính người hay thay đổi
Đường Tâm đạo nhánh lá
Yêu bao giờ mới thôi

Nửa thế giới..khóc rồi
Có phải mình ta đâu
Trời sinh ra nhan sắc
Chảnh từ chân lên đầu

Ơi bàn tay là lụa
Có tát cũng không đau
Cho ta xin cái dấu
Nhỡ mai mình lạc nhau

Mời Công chúa hạ thủ
Thiên tài quen..rối nhàu

Hay là
em tát đầu đình
Bàn tay thơm ngát
nhặt
tình
ta quên .

VŨ ĐÌNH HUY.

BÀI TẶNG THIÊN TÀI…

nguyenphuoctieudi

Thiên tài không thể làm thơ
Bởi vì buồn quá ,
phất phơ xuống đường
Ngắm hồ nước- nhớ chuồn chuồn
Ngắm tàn hoa – nhớ bướm vàng thuở xưa …
Thiên tài không thể làm ngơ
Khi con người cứ ỡm ờ nghĩa nhân…
Thiên tài đôi lúc phân vân
muốn trôi về cõi chập chùng…
…nhưng …
…thôi…

P/S:
Thiên tài không phải là TÔI
TÔI- THIÊN TAI – đến bên người TÔI thương…

Nguyễn Phước Tiểu Di

TIẾNG CHUÔNG NGÂN (PHẦN 1)

nguyenthingoclan

“ ..Nơi đó chỉ có những trái tim biết yêu thương và chia sẻ. Nơi không có lòng hận thù và đố kỵ.
Nơi chỉ có tiếng cười vỡ oà yêu thương, những ánh mắt trìu mến, những tấm lòng vị tha.  
Một thiên đàng cho những người yêu nhau đến được với nhau.

Rồi một ngày Hải Đường sẽ bay lên, bay xa. Mãi mãi…
Khép lại một số phần nghiệt ngã của đời ngườì.”
 

Mồng tám Tết
Tiếng chim ríu ra ríu rít trên cây hoa vàng trước hiên nhà. Khoảng sân rộng chạy dài ra đến lề đường phủ một màu vàng rực rỡ, còn tươi thắm. Những cánh hoa nhỏ li ti chồng lên nhau, chỗ dày chỗ mỏng như tấm thảm chòng chành.
Chiếc xe khách đang giảm tốc độ, chậm lại bên kia đường. Nơi có một đoạn ổ gà không sâu nhưng rộng. Đám bụi khói đằng sau xe cuộn lên cao.
Không gian vắng vẻ. Qua rồi những ngày Tết đông vui người qua lại. Nơi vùng quê này nhà cửa thưa thớt. Thỉnh thoảng mới có vài chiếc xe máy vụt qua.
Ngôi nhà Hải Đường nằm trên đoạn đường này, từ ngã ba vào khoảng năm cây số. Ở đây buồn hiu hắt. Nhắm mắt lại sẽ nghe được tiếng chim hót nơi xa xa, bên trong cánh đồng mía.
Hôm nay mồng tám Tết. Ngồi bó gối nhìn ra xa là cách chị thư giãn hằng ngày .
Không mấy khi Hải Đường được thả hồn theo những chiếc lá rơi. Một vài chiếc lá từ từ, lắc lư, lơi lả rơi xuống rồi lại cuốn ngược gió lên cao.

Chi nhớ lại ngày trước sân nhà Ba Mẹ cũng trồng một cây hoa vàng như vậy. Hoa rụng kín sân. Đó là thời gian chị còn trẻ, bước chân chưa e dè. Rồi trở thành một thiếu nữ duyên dáng xinh đẹp nhưng lại hay buồn.

Hải Đường nhìn theo chiếc lá cuốn ngược chị về quá khứ xa xôi rồi rơi trước thềm nhà.

Nắng chiều nhảy múa trên mặt sân bụi bặm. Ánh nắng cuối Thu xuyên qua tàn cây trứng cá, lắc lư theo cơn gió. Con đường quốc lộ xe cộ rủ nhau gầm rú trên mặt nhựa còn bốc mùi khen khét dầu mỡ. Mùi hăng hắc theo gió tạt vào tận căn nhà mái tôn thấp lè tè của mẹ con chị trú ngụ mấy năm qua. Thời tiết cuối Thu trên cao nguyên không mưa nhưng lạnh. Hơi lạnh cuốn theo sau những chiếc xe hòa lẫn với bụi bay thốc vào mũi một mùi khó chịu. Gió vẫn ràn rạt trên mái tôn, nhấp nhô như cánh buồm của chiếc thuyền mất lái.
Hải Đường đang vật lộn với đống bột nhão nhoẹt, hai tay dính chất bột dẽo mà lát nữa đây nó sẽ trở thành những chiếc bánh thơm ngon được trưng bày ở trước những cổng trường học. Chị đang làm những thứ bánh để đem bỏ mối khắp nơi.

Có tiếng chuông điện thoại đổ vang, liên hồi. Hải Đường ngần ngừ không muốn nghe bởi vì chị ít khi liên lạc với ai và cũng đã từ lâu lắm rồi chẳng còn ai nhớ về chị, gọi cho chị ngoài mấy đứa em thỉnh thoảng gọi hỏi thăm. Gần ba mươi năm sống khép kín, chôn vùi cả trái tim và tâm hồn trong sâu lắng. Đó là lý do Hải Đường không quan tâm đến tiếng chuông điện thoại lắm. Muốn nhấc cái ống nghe lên đối với chị khá công phu. Tay chị đang dính đầy chất bột dẻo.

Tiếng điện thoại reo vang lần nữa nhưng Hải Đường vẫn ngồi làm việc. Rồi tiếng chuông cũng tắt như đã mệt mỏi, chị vẫn thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra, tiếp tục nhồi đống bột làm bánh.
Rửa tay để chuẩn bị đổ bột vào khuôn đặt lên lò nướng. Chuông điện thoại vang lên lần thứ ba. Hải Đường nghĩ thầm : “Lạ! Ai vậy? Hay là mấy đứa em ở xa có chuyện gì chăng? ” Chị chùi tay vào khăn khô bên cạnh rồi bước đến bên điện thoại. Tiếng chuông lại tắt.
Đến tối, khi chuẩn bị dọn dẹp bếp nướng bánh, tiếng chuông điện thoại vang lần nữa. Hải Đường đứng gần bên nên cầm ống nghe.
– A lô !

-A lô!
– “…Tôi ước ao được nói với kỷ niệm của ngày xưa cũ rằng. Ánh mắt thương yêu và những ý nghĩ trầm mặc đã đưa tôi vào cõi thần tiên. Để tôi lạc bước trên những đường mây rộng thênh thang…”
– Tôi xin lỗi, ai vậy?
Im lặng rồi cúp máy. Hải Đường bần thần suy nghĩ không hiểu ai đã đọc đoạn văn nghe thật quen nhưng chị vẫn không nhớ ra. Chị quên đi với bao nhiêu công việc.
Nhưng thật ra chị không quên. Mấy ngày sau cũng vậy. Có cái gì đó như thúc giục, như mời gọi. Thật lạ lùng! Giọng nói trong điện thoại và đoạn văn ngắn đó nó cứ âm âm, vang mãi trong đầu chị bất cứ lúc nào.
Đoạn văn nghe quen lắm, không biết chị đã đọc nó ở đâu rồi thì phải. Còn giọng nói…
Suốt những ngày sau, không hiểu sao đôi khi ký ức cứ hiện về dần dần, dần dần…
Nó mơ hồ, mỏng manh như màn sương. Thực thực, mơ mơ cái quá khứ một thời của mình.
Nó ám ảnh. Ký ức bắt đầu trở về hành hạ chị.

Mối Tình Đầu

Hải Đường giã từ chuyến tàu tuổi thơ để bước sang một chuyến tàu khác. Chuyến tàu có màu xanh của trời và của ước mơ. Nó chở theo mối tình đầu và một định mệnh khắc nghiệt. (Xem “Chuyến Tàu Tuổi Thơ” cùng tác giả).
Thời mà trái tim bắt đầu đập nhanh hơn. Đó là những rung động tuổi mười lăm khi chị gặp anh. “Cậu bé”, người đã đánh cắp trái tim mình.
Là con gái lớn trong gia đình có chín anh chị em. Hải Đường  thứ hai nhưng lại là chị đầu nên nhiều việc trong nhà phải gánh vác cùng với Mẹ.
Ba chị đặt tên cho quán cà phê thơ mộng trước sân nhà là Hải Đường. Tên chị và tên quán là một. Nó gắn kết để rồi từ nơi đó đẩy đưa thận phận một cô gái hiền dịu, xinh đẹp chịu bao nhiêu nỗi đau. Một số phận dành cho Hải Đường.

Chủ quán, Ba chị là một quân nhân, sỹ quan tâm lý chiến. Ông có tâm hồn nghệ sĩ nên bài trí không gian  tuy nhỏ hẹp nhưng thân thiện với mọi người. Khách đến quán uống cà phê đa phần là sĩ quan  đang làm việc tại các Trung Tâm huấn luyện. Những người có học thức và… đa tình. Họ đến để nghe nhạc và chắc chắn không ít người đến đây để ngắm chị. Cô nữ sinh  mảnh mai nói giọng Huế.

Hải Đuòng chỉ là cô học trò lớp chín, khuôn mặt dễ thương nên có nhiều đôi mắt dõi theo. Cô biết điều đó khi mỗi lần đi học về, bước vô quán để vào trong nhà. Những ánh mắt đã làm cho cô hoảng sợ và lo âu. Hải Đường không biết làm cách nào để trốn tránh nên  cứ cúi mặt bước đi thật nhanh. Và rồi những ai đã nhìn, Hải Đường chẳng hề biết, chẳng cần quan tâm, bởi vì cô lúc đó chỉ là một con bé vô tư, còn nhảy nhót bước chân chim với một tâm hồn nhẹ nhàng chưa vướng bận điều gì. Tâm hồn cô trong veo như hạt sương mai.

Đến trường cũng không thiếu những cái nhìn đáng ngại. Mấy anh học lớp trên hay mấy bạn cùng lứa thỉnh thoảng như vô tình “tặng” cô những ánh măt thân mến, những cái nhìn mà lúc đó cô cho là bất an. Vì vậy Hải Đường luôn khép nép bên bạn gái của mình để mong được che chở, trốn tránh những cái nhìn kỳ lạ đó.

Hải Đường chỉ là con bé chưa kịp lớn. Yếu đuối, nhút nhát và luôn cần được sự che chở của bạn bè. Cô hồn nhiên, vô tư và không vướng bận gì đến mọi thứ chung quanh.

 Mẹ cô là người phụ nữ sống khép kín với mọi người, với ngoài xã hội nhưng trong gia đình bà là người vợ, người Mẹ mạnh mẽ trong mọi quyết định. Có lẽ vùng đất sinh ra bà được trời phú cho người phụ nữ có bản lĩnh như vậy. Mẹ khắt khe với con cái, nhất là với con gái như cô. Mẹ không muốn con gái vướng vào chuyện tình cảm quá sớm nhưng lại lo cho tương lai của con, muốn cho con mình lấy chồng sớm, được một người chồng có một địa vị xã hội và giàu có.

Mùa Thu 1971.
Mùa khai giảng mới bắt đầu, Hải Đường mười lăm tuổi.
Gặp lại bạn bè sau ba tháng hè nghỉ ngơi thật là vui. Mọi người ai cũng cảm thấy mình lớn hơn một tí, Hải Đường cũng vậy. Những ngày đầu vào lớp rộn ràng tiếng cười nói ,Thầy cô và học trò đều vui mừng ngày hội ngộ, bắt đầu một năm học mới.

Nhập học gần nửa tháng, bất ngờ trong một giờ học buổi sáng xuất hiện trước cửa lớp một thư sinh nhỏ nhắn, rụt rè bước vào, hai tay cầm mảnh giấy trình cho cô giáo xin vào lớp. Anh chàng học trò nhập học trễ này nói giọng lai Huế hơi run, dáng vẻ rụt rè, nhìn cô giáo rồi lại nhìn xuống lớp. Cô giáo dạy Vạn Vật là giáo sư hướng dẫn lớp 9/2 chúng tôi lúc đó dẫn “cậu bé” xuống ngồi vào dãy bàn học của đám nữ sinh, ngay sau lưng Hải Đường.

Đó phải chăng là sự sắp đặt của định mệnh. Cậu bé,( Hải Đường hay nghĩ về anh lúc ấy như vậy) im lặng trong suốt buổi học đầu tiên. Mọi người trong lớp không biết cậu này từ đâu đến và vì sao đến sau nửa tháng nhập học. Có lẽ ai cũng tò mò muốn biết, nhưng không ai hỏi cậu ấy một lời nào. Ngày còn đi học bọn con gái  thường xem các bạn trai cùng lớp ”thấp” hơn mình một bậc.  Cậu bé này ngày đầu tiên  bước vào lớp học không dám ngước mắt lên nhìn, đi đứng khép nép trước mặt bọn con gái. Đâu ngờ rằng trong con người ấy là một tâm hồn lãng mạn, nóng bỏng và thích nổi loạn.

Khi yêu nhau, những bức thư Hải Đường gởi cho anh thỉnh thoảng gọi anh là “cậu bé”. Anh không giận mà trái lại còn tỏ ra thích thú khi được gọi như vậy.

Thời gian này Hải Đường  không còn vui vẻ, vô tư như trước nữa. Những suy tư, âu lo và những bất an luôn tra tấn Hải Đường mỗi khi bước chân về nhà. Không phải vì cậu bé mới vào nhập học đó mà là bắt đầu những chuỗi sự kiện xảy ra. Đó là những suy nghĩ, lo lắng mà cô đang đối diện. Mẹ đang có ý định tìm cho cô một người chồng.

Một tối đang ngồi học bài, Hải Đường nghe được câu chuyện giữa Ba và Mẹ. Bà nói: “Mười lăm tuổi rồi, mình cứ việc đồng ý. Vài năm nữa chờ con nó lớn rồi cho họ cưới cũng được. Con gái lớn có nơi như vậy còn mong gì nữa chứ?” Im lặng một lát, tôi nghe Ba trả lời Mẹ: “Không được, con nó còn nhỏ, để cho nó học”. Tai cô như vang một tiếng sét.  Lơ mơ  cũng hiểu được Mẹ muốn Ba nhận lời xin cưới  của một ai đó mà Hải Đường chưa hề biết mặt. Sau này khi Ba và cô trò chuyện với nhau mới biết được đó là một ông thiếu úy hai mươi hai tuổi người SaiGon, đang làm việc tại quân trường Biệt Động Quân, tên Quyết.

Nhờ có Ba yêu thương, che chở mà Hải Đường thoát được sắp đặt đầu tiên của Mẹ. Cô muốn được đi học, được đến trường với bạn bè, được hồn nhiên chạy nhảy, vui đùa. Hải Đường thật sự còn nhỏ bé, chỉ là một đứa trẻ con thôi mà.
Quán cà phê  luôn đông khách, đông nhất là các sĩ quan trẻ của các quân trường nơi thị trấn nóng hừng hực nhỏ bé này. Họ đến đây từ mọi miền. Với Hải Đường lúc đó họ là những người lớn, học thức, chững chạc và từng trải. Dù ngây thơ nhưng cô cũng nhận biết được tình cảm họ dành cho mình. Trong những người này, có không ít người Hải Đường rất ngại chạm mặt vì những lời tán tỉnh “thô bạo”, mất lịch sự.  
Vô tình Hải Đường trở thành người lớn một cách bất đắc dĩ. Cô lạnh lùng, thờ ơ với tất cả những lời ong bướm, hờ hững với những ai gởi cho cô lá thư tỏ tình.

Cho đến một ngày cuối mùa đông
Sau đợt thi học kỳ I năm lớp chín, gần một tuần nữa là Tết âm lịch. Hải Đường ngồi học bài cạnh cửa sổ bên trong. Vừa học vừa trông quán giúp chị thu ngân ngồi quầy..
Bà mẹ bảo vậy chứ thật ra  có một ý khác. Muốn cho những ông khách đa tình thoải mái ngắm nhìn Hải Đường, nhờ vậy quán luôn được đông khách.
Vậy là hằng đêm, thay vì lên lầu ngồi học cho yên tĩnh, Hải Đường lại phải xuống “trình diễn” khuôn mặt mình bên khung cửa sổ cho mọi người ngắm nhìn. Chưa được mười sáu tuổi cô đã bị tra tấn bởi những cặp mắt đa tình và còn tệ hơn như vậy nữa.

Giữa nhà và quán có khoảng sân nhỏ. Một tối, bên gốc cây bông giấy cạnh cửa sổ cô ngồi học bài bỗng xuất hiện “cậu bé” đang ngồi uống cà phê cùng người bạn học chung lớp. “Cậu bé” ngồi quay lưng lại phía Hải Đường nhưng giọng nói thì không lẫn vào đâu được.

Lúc xong hết bài học định đứng dậy ra phụ chị ngồi quầy thu tiền của khách. Nhìn ra cửa sổ, cô thấy “cậu bé” đang đứng đó thật bất ngờ nhìn cô không chớp mắt, tay phải vịn song cửa, tay trái cầm một tấm thiệp chúc Tết, lóng ngóng đưa qua cửa sổ:
– Tặng Hải Đường. Chúc mừng năm mới nhé!
Hải Đường nhìn cậu bé, ngạc nhiên bối rối. Sự xuất hiện của anh thật bất ngờ và tấm thiệp cũng bất ngờ. Cô chưa bao giờ nhận của ai một tấm thiệp chúc Tết nào trừ bạn gái chung lớp. Không hiểu sao Hải Đường lại đưa tay ra đón nhận nó như một phản ứng tự nhiên không sắp đặt. Phải chăng là một định mệnh. Cái định mệnh oan nghiệt ấy đã buộc cô nhìn vào đôi mắt “cậu bé” . Im lặng, không nói lời cám ơn và cũng không hề nhoẻn miệng cười. “Cậu bé” hơi xấu hổ vì cái nhìn lạnh lùng, vẫn cố nở nụ cười mĩm nhưng có phần xa lạ, bất cần. Hải Đường  nhận tấm thiệp và vô tình nhận luôn nụ cười và ánh mắt của “cậu bé”.

Nụ cười của Mona Lisa đã theo suốt cuộc đời cô.

Nụ cười ấy không phải Hải Đường mới gặp lần đầu. Cô đã nhìn thấy nó bao nhiêu lần rồi, trong sân trường, trong lớp học và ngay cả trong quán nhà cô, dưới giàn hoa giấy đỏ. Không hiểu “cậu bé” là ai mà lại có nụ cười lạ lùng như vậy. Hải Đường ghét lắm nụ cười trẻ con ấy. Nó như thách thức, như chiếm đoạt nhưng lại có vẻ thản nhiên. Nó hời hợt nhưng quyến rũ. Không hiểu tại sao tối nay cô lại đưa tay nhận tấm thiệp chúc Tết và nhận cả nụ cười kia. Nó ám ảnh cô suốt mấy ngày sau đó, ngay cả trong giấc ngủ, khiến cho cô mất thăng bằng trong những giờ học. Đến trường cô lại như hớt hãi dõi đôi mắt tìm nụ cười ấy.

Hải Đường mang theo nụ cười của anh trong buồn vui của cuộc đời.  Những lúc đớn đau nhất, cô hay suy nghĩ và nhớ về nó như liều thuốc vực cô đứng dậy, tiếp hơi thở cho cô.
Ngày ấy cô vừa tròn mười lăm tuổi, và anh, mười lăm tuổi tám tháng.

“Cậu bé” không phải là người đầu tiên tặng thiệp cho Hải Đường nhưng là tấm thiệp đầu đời cô nhận từ một người con trai. Bởi một điều đơn giản, dù chỉ là một cô gái mới lớn, học lớp chín thôi nhưng có rất nhiều chàng trai vây quanh, tán tỉnh. Hải Đường không nghĩ là mình đẹp. Cho đến bây giờ cũng vậy. Cô luôn sợ nghĩ mình đẹp. Nó là tai hoạ gắn liền với đời cô.
Xứ sở xa lạ, chật hẹp nóng bức này quá đông người. Đàn ông ở đây đông như lá trong rừng. Cô nghĩ bọn họ chỉ muốn chọc ghẹo cho vui, chọc cho Hải Đường cười vì cô quá nghiêm trang và lạnh lùng. Hải Đường ghét bọn họ. Nhà cô lại có quán cà phê khá đông khách. Đó là điều kiện cho mấy chàng sĩ quan lui tới vừa uống cà phê, nghe nhạc và với nhiều người còn có mục đích khác nữa.
Nhưng không hiểu sao cô đã nhận tấm thiệp chúc tết của “cậu bé”?
Tấm thiệp thật đẹp, nhỏ nhắn và nổi bật một đóa hồng bằng vải nhung. Cánh hoa óng ánh, cành lá xanh mượt trông như thật. Hải Đường chưa bao giờ nhìn thấy ở đâu có tấm thiệp đẹp như vậy.  Bên trong tấm thiệp có hai mảnh giấy pelure xanh và trắng. Mảnh  màu xanh ghi lời chúc. Mảnh giấy màu trắng ghi sáu câu thơ. Lời thơ như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng. Nó làm cô xao xuyến không phải vì “cậu bé” mà vì chính những câu thơ lạ lùng như mời gọi. Cô không hiểu hay không nhận ra, đó là lời thơ tỏ tình dễ thương của anh.

 Áo em vẫn trắng như lòng trắng
Hay đã bắt đầu thương nhớ chưa

Em đã bắt đầu thương nhớ chưa
Hỡi người con gái tóc mây đùa

Ru ta từng thoáng cơn đời mộng
Mai buổi em về ai đón đưa.

NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

TELEPHONE

nguyentancu

Ở bên kia đầu dây là nỗi buồn
Tiếng cười vỡ ra như thủy tinh
Tiếng cười thay cho nước mắt
Em không thể làm gì hơn

Anh không thể làm gì hơn
Một cuộc trò chuyện bình thường
Bình thường như chúng ta không bao giờ xa nhau
Em không khóc- như thể không có chuyện gì để khóc

Em vẫn khỏe- vâng em vẫn khỏe
Em vẫn đẹp- vâng em vẫn đẹp
Em vẫn yêu anh- vâng em vẫn yêu
Em vẫn nhớ anh- vâng em vẫn nhớ

Ở bên kia đầu dây… thật xa
Một nửa vòng trái đất
Cuộc đàm thoại được tính bằng tiền
Bằng một ngày lương của em
Bằng nước mắt của em
Và tất cả bằng nỗi buồn của em
Một cuộc chuyện trò tẻ nhạt
Tẻ nhạt đến đau lòng
Như thể chúng ta chưa bao giờ xa nhau
Dù chỉ một ngày

Như thể chúng ta đang yêu nhau
Như thể chúng ta đang… giận nhau?
Một cuộc đàm thoại… buồn
Được tính bằng mười năm cách biệt
Bằng cả một đời người
Bằng cả sự chờ đợi khốn cùng
Và kinh khủng hơn- bằng cả sự lãng quên
Không bao giờ có thật.

NGUYỄN TẤN CỨ

NHÀNH HOA LAN ĐẤT

daolam

một nhành
hoa Lan đất
tim tím
chiều dịu êm
một bờ môi
nắng khát
lần tìm
cõi vô biên
vạch chi
thêm niềm nhớ
màu hoàng hôn
chắt chiu
thương chi
vùng cỏ mượt
trên đồi Cù
hắt hiu

MỘT NHÀNH HOA LAN ĐẤT
TIM TÍM CẢ CHIỀU TÔI
LÀM RĂNG MÀ QUÊN ĐƯỢC
PHỐ NÚI BUỒN…TÔI ƠI!

DAO LAM

ngày đông nhớ

dunga

1.

Cuối năm, trời se lạnh, dậy lên nỗi nhớ quê! Xứ Quảng được nói đến nhiều, rất nhiều, quá nhiều. Mà nhiều nhất có lẽ từ cái sự-tự-nói-về-mình của dân Quảng (xứ nhà báo cũng lắm, nhà văn cũng nhiều)! Thành ra, có viết thêm cái gì sau đây, cũng là muối bỏ biển thôi!

Nhớ lần tình cờ gặp anh bạn đồng xứ trên chuyến tàu. Nghe tôi đi viếng Thánh Địa La Vang, anh đã rất bất bình, ca bài ca vỡ… xứ cho tôi nghe liền: “Ủa,dân Quảng Nam sao lại đi La Vang, mình phải đi Thánh Địa Trà Kiệu chớ! Quê miềng mà!” Nói tình yêu quê hương cuồng nhiệt cũng đúng mà nói cục bộ địa phương cũng chẳng sai! Đố ai thuyết phục được người Quảng, cái gì của xứ Quảng mà đứng… hạng nhì! Gân cổ lên cãi liền, hehe, dân hay cãi mà!

2.
Rồi hai ông tâm sự nhau về… xứ Quảng! Nói tới nói lui một hồi, thấy hai ông Quảng này (hay suy rộng ra mọi người dân xứ Quảng) có những “sở thú”ăn uống sao mà trùng nhau quá đỗi!!!

Kho cá phải có nước cá kho. Ôi, cái thứ nước màu nâu quánh của đường thắng, thơm phức mùi cá, nồng cay của vị ớt vị tiêu, mặn mặn ngọt ngọt, khi chấm rau lang, rau muống… luộc đã tê ngon đầu lưỡi, còn khi chan vào tô cơm nguội buổi xế chiều lúc bụng réo thì tuyệt vời không biết đến chừng nào mà kể!

Nước mắm phải là mắm nguyên chất chỉ dằm ớt! Mọi thứ nước mắm chua ngọt,thậm chí giã thêm tỏi, đều không phải là món gốc Quảng Nam!

Mắm cá xứ Quảng là mắm cái! Cá cơm còn nguyên con, đã ngấu chín đỏ trong màu mắm nâu nâu! Gắp một con mắm, kèm lát chuối chát, miếng khế xanh, ngắt thêm mấy ngọn rau thơm nhỏ rí, chừng đó là món nhắm đưa cay tuyệt cú mèo kèm thêm một ly rượu đế trong những buổi chiều đông! Khi người ta lọc nước từ mắm cái làm ra mắm nêm, thì đã mất đi phần dân giã, để dùng cho các món “cao cấp” hơn: bò tái (bê thui), thịt heo luộc cuốn bánh tráng!

Còn cá ngừ, để ăn với bún, thì nấu với nhiều nước hơn. Vùng miền trong cũng nấu như vậy, gọi là nấu mẳn! Nhưng trong này, sản vật phong phú giàu có, người ta ít ăn cá ngừ. Dân tôi vốn nghèo gắn bó với con cá ngừ nhiều hơn! Mãi khi vào trong này, tôi mới biết nhiều đến cá thu, cá mú, cá ngân…chứ cả thời từ nhỏ lớn lên, cá biển lớn lớn chỉ biết con cá ngừ!

Bánh tráng thì vùng nào cũng có! Nhưng xứ Quảng người ta thích nướng bánh lên, rồi nhúng nước đi, để cuốn cá nục với rau muống chẻ. Mà không có gì,thì cuốn bánh tráng nước nhúng nước chay, chấm nước mắm, nước cá kho hấp dẫn không kém!

… Vậy đó, ông này nói ra, ông kia vỗ đùi khoái trá hưởng ứng, y như đi guốc trong bụng nhau! Hai bà vợ xứ khác, ngồi nháy nhau cười lắc đầu, trong bụng chắc cũng vừa thích thú vừa chán chường, tưởng chỉ có thằng cha chồng mình ăn uống lạ lùng như vậy, ai dè có một bầy!!!

3.
Lỡ nói, đành nói luôn cho nó vuông! Bánh mì là món phổ biến khắp nơi. Nhưng bánh mì xứ Quảng có mấy thứ này, chưa thấy đâu có.

Bánh mì kẹp bánh bột lọc! Bánh bột lọc này đúng tên theo tự điển là bánh tai vạc, xòe ra như cái tai bằng bột lọc trong suốt nổi rõ nhân tôm thịt đỏ au! Nặn miếng bột hình tròn mỏng mỏng, đặt nhân vào, gấp lại làm đôi, hai ngón tay nhân quanh viền cái miếng bột đã là hình bán nguyệt, hấp đi, thành cái tai vạc! (Bánh bột lọc thì dài, cũng bột lọc nhân tôm thịt, nhưng gói trong lá chuối).

Bánh mì gà, giờ cũng thất truyền. Ổ bánh mì to như cái nắm tay, tròn trùng trục, kẹp thịt gà xé sợi kiểu thịt chà bông, cộng đồ chua ngọt, tương ớt cay). Đây là món truyền thông thuở đi học trung học gặp ngày có 2 giờ học cuối(sáng) liền 2 giờ học đầu (chiều), xin mẹ ở lại trường buổi trưa, kèm theo ít tiền, ăn ổ mì gà và ly chanh muối!

Bánh mì que, to cỡ hai ngón tay, dài cỡ một gang, dòn rúm rùm rụm. Có gì mà không dòn, vì nhỏ quá, ổ bánh toàn là vỏ, đâu có ruột gì nữa! Phết patê và sốt masonaise rắc muối tiêu! Bánh mì này thấy có thấp thoáng gần đây ở Saigon!

4.
Trời lạnh, nhớ quê, mà nhớ toàn đồ ăn thức uống, chớ có nhớ cha mẹ gia đình bạn bè gì đâu ta! Thật ra là có chứ! Nhớ các món ăn là nhớ mẹ lui cui trong cái bếp nấu củi mịt mù khói ngày xưa! Nhớ món cá ngừ là nhớ những lúc ba đi làm về tối muôn, tạt qua chợ Cồn xách con cá mới từ bến cảng chuyển lên! Nhớ bánh tráng nướng nhúng nước là nhớ bạn bè những buổi chiều gặp nhau đúng giờ bụng đói!

Nỗi nhớ cứ bảng lảng như mây mù, da diết như sương lạnh, thao thức như cơn gió đông đang vờn thả ngoài trời, ngay lúc đúng ngọ, mà tịnh không thấy một tia nắng nhỏ!

DU NGÃ

về trong sa mù

reu

thương con nắng vỡ chiều nay
khép trinh nguyên, hạ mở ngày đón thu
chiều nay nghe một âm u
nghìn trùng về giữa sa mù mưa bay

thôi, về trả gió cho mây
quanh co đứng giữa chẳng hay trời chiều
thoáng buồn mấy nét đăm chiêu
áo tà nghiêng, bóng tịch liêu đổ dài

cho em mượn vạt tóc mây
giành khi hò hẹn chờ ngày nắng lên
xin cho sương khói bồng bềnh
đêm nằm diễm ảo tuổi tên một người…

RÊU

NÀY EM

npphan

này em, gió núi sương đồi
thiên thu bỗng chốc đoạt ngôi vô thường
lạc từ tám hướng mười phương
dấu chân vô ngã chưa tường trắng đen

này em, một chút hờn ghen
ta say túy lúy cái men phiêu bồng
đi từ có trở về không
có em vô lượng chờ mong hải hà

này em, còn đó mù sa
bàn tay phù ảo xòe ra muộn màng
giữa chừng trời đất mênh mang
có ta vô vọng rộn ràng thị phi.

NP phan

Bên trong vũng nước còn thấy cả bầu trời.

daothithanhtuyen

– Em sống thế nào?
– Cũng ổn. Người ta sống được, mình sống được.
– Trông em vẫn còn trẻ và đẹp lắm!
– Cám ơn anh.
– Có vẻ sau mười năm gặp lại những câu hỏi và trả lời đi vào ngõ cụt, nhỉ?
– Đấy là anh nghĩ thế thôi. Anh cứ hỏi, em sẽ trả lời, cam đoan đảm bảo sự thật ở mức giới hạn cho phép công bố.
– Con trai em sao rồi?
– Bảy năm trước, bố cháu bảo lãnh ra nước ngoài. Cháu học giỏi, đang làm tiến sĩ. Ở xứ người vậy là ổn. Tuy nhiên, hiện tại biết vậy, sao lường được chuyện gì sẽ xảy ra ngày mai?
– Em sống một mình?
– Vâng, ban đầu khá chông chênh, nhưng giờ quen rồi anh ạ.
– Em vẫn ở nhà cũ?
– Sau khi cháu đi em chuyển về một căn hộ chung cư. Nhà đó quá rộng cho một người.
– Ngày xưa đến nhà em, anh thích nhất giàn hoa giấy hai màu trắng, đỏ trước nhà và ban công đầy nắng, nhìn lên chói mắt bởi hoa vàng. Bây giờ chắc mọi thứ đã khác.
– Em không về đó lâu rồi nên không biết. Em không thích quay lại chốn cũ, nhất là nơi quá nhiều kỷ niệm có thể làm mình bị trầy xước, hay đau đớn bởi khơi lại vết thương đã lành.
– Anh hiểu.
– Anh thế nào?
– Năm sau đó anh lập gia đình. Cô ấy cũng một lần đò. Con anh, con em, không có con chúng ta. Cô ấy biết điều, con cái hai bên cũng ổn. Anh không có gì phải than phiền về cô ấy hay cuộc sống chung. Biết đủ là đủ, biết bình yên thì nó sẽ bình yên. Tuy nhiên, thỉnh thoảng anh vẫn tự hỏi không hiểu tại sao chuyện mình tan vỡ khi mọi thứ gần như đã vượt qua. Nó như vết dao cứa vào tim anh một vết thật sâu, anh cố thít chặt lại, ngăn không cho rỉ máu và tìm mọi cách để quên. Nhưng thật khó!
– Em cứ tưởng vợ chồng anh trở lại với nhau?
– Bát nước đã đổ đi rồi. Thật ra, không có em can dự vào phần đời anh giai đoạn ấy thì vợ chồng anh cũng phải chia tay thôi. Cuộc đồng hành đã quá mệt mỏi, cả hai người.
– Hồi đó anh thường bảo, anh là một cuốn sách đầy lỗi chính tả mà công việc của em luôn phải tra từ điển. Có những lỗi rất nhỏ nhặt đã làm khác đi ý nghĩa của đoạn văn, gây hiểu lầm đáng tiếc. Đôi lúc chỉ cần quên đánh một dấu hỏi hay chấm xuống dòng, cuộc đời đã khác. Em không ân hận khi quyết định ra đi. Dù sao cũng có quãng thời gian chúng ta rất vui vẻ, hạnh phúc.
– Anh lại suy nghĩ mình cố bước nhưng luôn chậm hơn em một nhịp.
– Còn nhớ, anh nói với em rằng cuộc đời anh là chuỗi dài kiếm tìm, cái đẹp, hạnh phúc, tình yêu, cái mới trong sáng tạo nghệ thuật… có chia tay em, anh cũng sẽ tiếp tục tìm kiếm. Khi ấy, em còn quá trẻ để hiểu ước vọng là vô cùng và đời người hữu hạn, cơ hội như trò đánh bạc rủi may với số phận. Sau, em nhận ra rằng, tình yêu với em như con thuyền loanh quanh trên sông rạch, vượt ghềnh thác lô xô thì được nhưng chạm đến cửa biển sẽ choáng ngợp ngay. Em không đủ can đảm chèo tiếp ra khơi. Và cũng từ đó, em cảm giác mình vô cảm nhiều thứ, không chỉ tình yêu. Em khắt khe với mình hơn mà không phải ân hận vò xé vì những lỗi lầm trong quá khứ. Tuổi ấy mà em thấy mình già đi, và cả mệt mỏi để bắt đầu lại. Đôi lúc em nghĩ, hay mình bị trừng phạt? Có nỗi ám ảnh mơ hồ nào đó khiến em không còn tự tin. Nỗi sợ hãi hết kiếp này mình sẽ phải như vậy ư? Cuối cùng, mọi thứ nguôi dần, thời gian đã sát trùng tổn thương, băng bó và làm dịu những vết đau. Con người tồn tại bởi chưa được phép đặt dấu chấm hết.
– Đàn ông yếu đuối hơn phụ nữ. Họ khao khát kiếm tìm cho dù vô vọng thì vẫn phải có điểm dừng. Và, điều trớ trêu hay mâu thuẫn của cuộc đời là có dừng lại thì họ vẫn thích khám phá dù chỉ trong suy nghĩ. Anh là một trong những người như vậy!
– Bởi thế sẽ bế tắc nếu chúng ta càng lúc càng lún sâu. Bất cứ chuyện gì và bao giờ cũng vậy, thoát ra được là tốt rồi. Em không quan tâm đến duyên hay nợ. Mọi thứ trên đời đều có nguyên nhân và kết quả. Cái gì cũng có kết thúc, kể cả hôn nhân là kết thúc của tình yêu. Suy cho cùng, giải thoát nào cũng nhẹ nhõm và con người (trong cuộc) sẽ tốt đẹp hơn.
– Anh thì nghĩ đến số phận nhiều hơn, không loại trừ kết quả suy ra từ tính cách. Tuy nhiên, đi qua nhiều năm tháng trong cuộc đời, con người ta càng nhìn thấu cái gọi là sắp đặt và an bài để rồi thấm thía và tự nhủ, cuộc sống luôn diễn ra đúng theo quy luật của nó. Ngược lại sẽ không tồn tại. Như việc anh và em, có thể chúng ta cố tình đi ngược lại, phá vỡ quy ước để hy vọng mọi thứ kết thúc tốt đẹp ít ra là trong suy nghĩ của chúng ta khi ấy mà không biết rằng, đã bỏ lỡ nhiều năm tháng quý báu.
– Anh đừng làm em phải động não. Khi em hiểu thế nào là bình yên và giông tố đồng thời em cũng nhận ra lòng mình nguội lạnh, suy nghĩ cũng chậm. Điều kỳ diệu của thời gian là từng ngày đối diện với chính mình em thấu rõ tiếng lòng, không chỉ chân thật mà còn có cả lừa dối. Em đặt ra nhiều giả thiết về ảo tưởng và thực tế, và tự chứng minh bài toán đó. Em không coi trọng đáp số đúng hay sai mà chỉ chú ý đến phương pháp giải và tính toán được – mất. Ngày một, ngày hai, đến khi mọi thứ tịnh lại và thật sự thanh thản.
– Quả tình, trong giai đoạn ấy đôi lúc anh cảm giác như con thú bị thương. Dù anh bình tĩnh nhận ra rằng, không phải việc em từ bỏ anh khiến anh bị tổn thương, mãi sau anh mới hiểu đó là trạng thái bình thường của một người bị mất thăng bằng. Chính thái độ phản kháng, vùng vằng hay chán chường, tuyệt vọng là điều kiện cần và đủ làm nên sự cân bằng sau đó. Nếu không có những tác dụng ngược về tâm lý như vậy, anh e rằng mình khó qua khỏi!
– Giai đoạn em rơi vào trạng thái tuyệt vọng và bế tắc, có lúc em cảm tưởng xuống đáy vực sâu. Em thất vọng về mình và đâm ra oán trách anh, oán trách hoàn cảnh. Sau, em hiểu, như ngày xưa mẹ em luôn bảo, trong bất kỳ mọi chuyện, nếu bình tĩnh phân tích nguyên nhân, sẽ biết oán trách mình trước. Kinh nghiệm cuộc đời luôn đúc kết được từ việc biết tự trách này. Không phải mặc cảm mà để mạnh mẽ hơn tiến về phía trước. Bây giờ em bằng lòng với những gì mình có và em thấy mình sống tốt. Đến nỗi, đôi khi ngoái nhìn quá khứ em bỗng rùng mình tại sao lại có thể như vậy. Nhưng, suy cho cùng đời ai chẳng vấp ngã? Có trải mới có nghiệm. Những cú ngã luôn làm cho con người ta lớn hơn, biết suy nghĩ và già dặn đi. Đó cũng là lẽ thường tình mà, phải không?

***

Cô gõ dấu chấm hỏi, bấm save, đóng tập tin rồi đẩy ghế đứng lên bước đến bên cửa sổ nhìn xuống đường. Cây phượng đầu phố vẫn còn vài chùm hoa đỏ, tự tin khẳng định quyền lực tối thượng của thời gian. Không hiểu sao, mùa hè đã hết nhưng hoa phượng vẫn còn tươi. Năm ngoái, cô thấy nó thắm mãi qua mùa đông và gần Tết Nguyên đán mới rụng hết. Bây giờ, nhiều thứ cứ như đi ngược quy định thời khóa biểu của tạo hóa. Đã giữa thu rồi mà vẫn tồn tại cùng lúc trên cây phượng những chùm hoa tươi rói in nổi trên nền lá xanh và trái khô màu đen lắc lỉu dày đặc; hay, các loại trái cây đặc quyền của mùa hè như xoài, chôm chôm, nhãn, mít… vẫn có quanh năm, những thứ chỉ mùa đông mới chín vẫn có thể tìm thấy suốt bốn mùa như thách thức bánh xe thời gian. Có những điều bất thường riết rồi thấy bình thường.

Phía xa, đàn chim bồ câu bay ào từ bên này sang bên kia và tụm lại chen chúc trên một góc mái ngói một ngôi nhà. Vài con lẻ đàn xê dịch chậm trên bức tường sân thượng nhà khác. Lại có mấy con đứng bám trên đường dây điện ngúc ngắc rỉa lông. Dòng xe dưới đường vẫn cuộn trôi không ngừng. Gió lùa lũ lá vàng lông lốc từ trên vỉa hè xuống lòng đường rồi cuốn mất vào dòng chảy tất bật. Cô chưa bao giờ thấy con phố ngớt xe, cho dù ở đầu đường kia đèn ngã tư bật đỏ và dày đặc người, xe bị dồn cục lại trong tâm trạng nôn nóng chờ thoát đi thì phía khác vẫn có dòng xe ào tới theo quy định được rẽ phải khi đèn đỏ. Vài gánh hàng rong di chuyển chậm, tiếng rao yếu ớt chìm lỉm trong tiếng còi và xe. Dưới một gốc cây bàng, hai người chạy xe ôm lật đi lật lại tờ báo rồi huơ tay “chém gió”, vẻ như họ đang lôi những dòng chữ chi chít trên mặt báo tham gia vào sinh hoạt đường phố. Có hai người đàn ông bên kia đường dừng lại, ngoắc tay cùng tiếng kêu “xe ôm” thật to khiến họ vội vàng đẩy xe đi bỏ lại những chiếc lá vàng bị bước chân và bánh xe cán qua, méo xệch trông rất thảm hại. Một cô gái mặc đầm ngắn màu đỏ, tay che dù, chân giày cao gót nhón nhén bước qua vũng nước khiến cô chợt nhận ra bên trong vũng nước có cả một bầu trời rộng rãi. Mọi thứ trên đời đều có hướng mở. Cô đang viết phần nhẹ nhàng nhất của kịch bản phim truyền hình nhiều tập sau những chìm nổi cuộc đời của năm, bảy phận người. Mười năm và nhiều năm sau nữa con người có nhận ra lỗi lầm và soi lại mình thì vẫn chưa phải quá dài cho một đời người. Có lẽ cô sẽ gợi ý với đạo diễn cảnh này hai người gặp lại nhau trong một resort bên bờ biển. Đại dương mênh mông nhưng rộng lượng và bao dung, phóng khoáng nhưng gần gũi và tin cậy. Sau bão giông luôn là bình yên. Cầu vồng xuất hiện sau mưa và ngay sau đó nắng sẽ rất đẹp. Người đàn bà và đàn ông được gì sau những thăng, trầm? Nhân vật của cô tiếp tục gây sóng gió nữa không hay đã ngộ ra mọi điều? Tất cả tùy thuộc vào cô. Cô vẫn đang do dự giữa một cái kết có hậu hay nên kéo rê vài tình tiết nữa. Và liệu, kịch bản mà cô xây dựng có là bài học kinh nghiệm cho cả cô bây giờ?

Cô hình dung cô và anh gặp lại nhau. Anh sẽ nói gì với cô và cô sẽ nói gì với anh hay giữa hai người chỉ có khoảng lặng kéo dài tưởng chừng như vô tận? Cô có thể tưởng tượng và sắp đặt nhiều hoàn cảnh rồi nhẹ nhàng gõ máy tính, và chỉ cần bôi đen, delete là xong một tình huống nan giải. Thế nhưng, cô biết, với cô vẫn là một bài toán hóc búa, có cách giải cho đáp số đúng nhưng không phải cách giải hay và nhất thiết buộc con người phải rập khuôn theo.

Mắt cô dừng lại ở vũng nước. Bóng hàng cây xô nghiêng cụng đầu vào mái phố. Lũ dây điện bám dính vào trụ đèn làm thành một nút thắt màu đen to tướng, không hình thù. Những chiếc xe máy tới lui lộn ngược. Bầu trời với từng đám mây loang ra như những quầng nước ngoằn ngoèo in trên mặt kính. Cảm giác chật chội và bức bối tự dưng ập đến khiến cô ngộp thở. Cô nhớ đến giấc mơ tối qua. Cô thấy cô đi ngang qua một vũng nước. Bên trong vũng nước chật chội bầu trời mới thênh thang làm sao. Vừa đi vừa nhìn vào vũng nước cô thấy chóng mặt, trượt chân, rơi tõm xuống và bay trong trạng thái không trọng lượng. Ban đầu cô thấy mình bay về phía trước với ý nghĩ sẽ có một điểm dừng và ai đó đang chờ cô. Tuy nhiên, được một lúc, cô thấy mình bị mất thăng bằng, cô nhìn ngược xuôi, tới lui và rồi cô chao đảo. Có gì đó trì níu. Cuối cùng cô quay không biết bao nhiêu vòng tròn và chới với rớt xuống. Đứng lại trên mặt đất, dù còn chênh chao cô vẫn xác định được rất rõ, bên trong vũng nước có bầu trời màu tối xám. Rồi tất cả hóa thành màu đen. Cô thấy lạnh, rất lạnh. Mọi thứ chấm dứt khi có bàn tay nóng ấm đặt lên vai cô, tiếp đó vòng tay ôm lấy bờ vai cô. Cô ngả đầu về phía sau, cảm giác dễ chịu như người đi mưa lạnh về đến nhà được uống một tách trà gừng nóng và thơm. Thế nhưng chỉ thoáng qua, khi cô nhắm mắt lại cũng là lúc cô… tỉnh giấc!

Có tiếng động khô khốc dưới đường vọng lên. Hai chiếc xe máy chúi vào nhau ngã kềnh. Bốn cái mũ bảo hiểm ngọ ngoạy, nhấp nhô cao thấp một lúc rồi đứng lên chia đi thành hai ngả. Một cuộc va chạm không gây nên tranh cãi và ùn tắc giao thông là điều vô cùng hiếm thấy. Chuyện bình thường vậy mà sao cô lại thấy nó bất thường? Cô đóng cánh cửa lùa. Âm thanh dưới đường ngưng bặt. Cô đến tủ lạnh và rót một ly nước. Mắt cô dừng lại ở bức tranh trên tường. Một màu xanh mênh mang của biển, của mây trời, có bờ cát trắng chạy dài cùng hàng cây nghiêng trong gió, xa xa thấp thoáng mấy cánh buồm.

Tự dưng cô thèm được thả mình trong làn nước xanh mát và êm ái.

Đã lâu lắm rồi cô chưa nhìn thấy biển.

ĐÀO THỊ THANH TUYỀN

(Truyện đã in báo Thanh Niên)