CẬU UN “EM CHẢ! EM CHẢ!”

khuatdau

Ngay sau khi cái đám tang vĩ đại của ông bố vĩ đại trong giá rét vừa mới khô nước mắt, người kế tục phì đồn, qua thông cáo của bộ quốc phòng, đã ngạo mạn tuyên bố với cả thế giới rằng, sẽ không có gì thay đổi trong chính sách đối nội và đối ngoại của Triều Tiên. Và rằng, những nhà chính trị ngu dốt (Mỹ) và những kẻ bù nhìn (Hàn Quốc) đừng có mà mơ tưởng hão.
Như thế, có nghĩa rằng Triều Tiên vẫn vét cạn hết tài lực trong nước để chế tạo bom nguyên tử và hỏa tiễn có gắn đầu đạn hạt nhân, tiếp tục hù dọa hai anh nhà giàu hàng xóm là Hàn Quốc và Nhật Bản.
Đầu năm mới, sau khi đã được bầy đàn thuộc hạ thề sẽ đem tính mạng của mình, chiến đấu tới giọt máu cuối cùng để bảo vệ cái ngai vàng tân hình thức, đại tướng Kim Jong Un chưa một ngày vào lính đã tới xông đất sư đoàn thiết giáp, một trong những sư đoàn hùng mạnh (hay ảo tưởng hùng mạnh) trong đội quân đông nhất thế giới (1,2 triệu người).
Có thể nay mai, cậu sẽ noi gương các đồng chí Việt Nam anh hùng, đánh cho Mỹ cút, Hàn nhào để giải phóng miền Nam. Rồi đây, trên 50.000 người đăng ký thi tiếng Hàn, những ai không trúng tuyển làm cu ly cho tư bản Hàn Quốc có thể sang bắc Hàn làm cố vấn quân sự.
Với đám dân sắp chết đói vì làm việc đến 12 tiếng một ngày không lương cũng đừng có mà mơ giấc mơ đổi đời bằng cách vượt biên qua ngã Trung Quốc. Hàng chục vạn binh sĩ được điều động lên phía bắc, kết thành một bức tường Bá Linh kiểu mới với vũ khí được trang bị tận răng, được lệnh bắn bỏ bất cứ ai có ý đồ hay nghi ngờ có ý đồ đào thoát khỏi cái trại súc vật. Chẳng những bắn bỏ không thương tiếc mà còn cắt tem phiếu, đem ra đấu tố cả ba họ liên lụy! Nghĩa là cứ một người vượt biên sẽ có ít nhất 50 người nữa phải chết đói hay chết rét trong trại cải tạo.
Đúng là phong kiến định hướng xã hội chủ nghĩa có khác, một thái tử vừa mới lên nối ngôi liền hỗn láo với lân bang và hăm dọa dân chúng thay vì như trước kia, nhún nhường với lân quốc và ân xá tù nhân để lấy đức.
Khi Kim Jong Il còn tại thế, các nhà bình loạn Việt Nam thường gọi đùa là Chí Phèo! Nhưng nay, một Kim Jong Un chưa tới 30 tuổi mà bụng đã to như thùng nước lèo, mặt búng ra sữa, thì cậu út cầu tự của họ nhà Kim lại rất giống với thằng Phước “em chả, em chả” được nuông chiều rất mực của bà phó Đoan!
Thế là bà cô đại tướng phải chiều, ông dượng nhân vật số hai cũng phải chiều, bộ chính trị lại càng phải chiều.
Bởi vì xem ra, cái chức đại tướng 4 sao chẳng là cái đinh gì đối với cu cậu, nếu không được sờ vào các nút bấm hỏa tiễn có gắn đầu đạn hạt nhân. Có được cái bảng điều khiển trong tay, cậu sẽ bấm búa xua như bọn trẻ con chơi game.
Èng! Èng! Này Tokyo cháy!
Èng, Èng! Này Seoul cháy!
Èng, Èng! Kìa tàu sân bay Mỹ nó nổ tung!
Đã quá đã!
Nên chi, khi Kim Jong Il vừa ngỏm cù đeo, Obama mặc dù vừa mới thở phào nhẹ nhõm vì Bin Laden và Gadaphi bị giết, đã phải cuống lên bởi một thằng oắt con đang sở hữu trong tay vũ khí giết người hàng loạt! Thực ra, không chỉ có Mỹ, Hàn, Nhật mà còn có cả Nga, Tàu…đều sợ xanh mặt vì sự ngứa tay nghịch phá của cậu Un “em chả”!
Và, nếu nhìn những bức hình hiếm hoi của các nhân vật vây quanh, ta có thể thấy được nét mặt đau khổ như bị bệnh trĩ của bọn họ. Không phải đau vì Il chết mà vì mình có thể bị toi mạng bởi thằng nhóc còn chí phèo hơn cả bố này.
Tuy nhiên, những kẻ nghèo rớt mồng tơi như hai lúa Việt Nam mình thì chẳng việc gì phải sợ.
Tại sao ư? Tại vì những trái bom nguyên tử và những hỏa tiễn đó thực ra là của anh ba Tàu cho mượn để che dấu cái sự yếu đuối bất lực của bắc Hàn ( nếu ngon đã giải phóng nam Hàn từ khuya rồi). Đó là chưa kể, với một sư phụ chuyên làm đồ dỏm, thì chắc gì đó là đồ thiệt. Mà dẫu cho là đồ thiệt thì chắc gì con cháu Tào Tháo lại chịu giao ngòi nổ cho một thằng “em chả” mới lên ba đã đòi nghịch súng!
Thế giới sẽ không vì Kim Jong Un mà xảy ra thế chiến thứ ba. Thế giới chỉ có thể sẽ cười to hơn vì những trò “em chả” “em chả” và thương xót dân Triều Tiên hơn vì lại phải tiếp tục sống dưới một chế độ vừa hà khắc vừa khùng điên.
Cả vận mệnh của hai mươi bốn triệu người trao vào tay một thằng “em chả” như thế, thật đáng hổ thẹn.
Nếu không có Nga, Tàu chống lưng, nếu không có Libya (khi Gadaphi chưa chết), Cu Ba (để tang 3 ngày) liên danh ma quỷ…thì bắc Triều Tiên đã tự hòa nhập hòa tan từ lâu rồi trong một Hàn quốc giàu mạnh.
Nhưng, lại thêm một chữ nhưng sướng tái tê, cũng có thể sau khi uống hết những chai rượu Tây trong hầm và xem hết mấy chục ngàn bộ phim Mỹ của Kim Jong Il để lại, một sáng đẹp trời nào đó, bỗng Un bất ngờ đuổi hết cái đám ngu trung mà quay ngoắt 180 độ, bắt tay với Nam Hàn để thống nhất đất nước.
Biết đâu đó, thánh nhân nhiều khi đãi kẻ khù khờ!

KHUẤT ĐẨU

Vĩnh Biệt Nguyễn Xuân Hoàng

tranvanle

 

NXH BY NGUYEN BA KHANH

Thêm một người rời Nhà Dưỡng Lão
Tay không còn vịn nữa chiếc xe lăn
Không còn cần ai dìu đi từng bước chân
Con Hạc Vàng cõng người về chắc đã tới Trời Đâu Suất?

Tin Nguyễn Xuân Hoàng mất
Không gây ngạc nhiên mà sự thật là buồn
Mấy năm nay anh là thân chủ của Nhà Thương
Mấy năm nay anh nằm trên giường ngó mặt trời bên ngoài cửa sổ…

Và…vầng trăng khuyết, tròn, cũng làm anh nhớ
Anh nhìn trăng đầy vừa mới đó Trung Thu!
Anh đớn đau mấy cũng tươi cười
Khi bè bạn đến thăm đến hỏi…

Và…từ nay anh không còn nói
Thêm một lời từ tạ với ai…
Những người học trò luôn luôn nhớ Thầy
Người bạn trăm năm của đời anh đưa tay lau nước mắt…

Nhà Dưỡng Lão Mission De La Casa buổi trưa lất phất
Lá vàng bay Vĩnh Biệt Nguyễn Xuân Hoàng!
Hai hàng ghế ở nhà họa sĩ Nguyễn Đình Thuần (*)
Chúa Nhật này một cái để trống…

“Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng từng ngồi đây khi anh còn sống
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng vẫn ngồi đây khi anh không còn
Chúng ta còn nỗi buồn
Nỗi nhớ nỗi thương anh vô cùng vô tận!”

Bốn câu này kết thúc một bài Điếu Văn làm đen lòng tờ giấy trắng
Trời xanh bao la mở cửa cho chim Hạc Vàng bay
Nguyễn Xuân Hoàng đã thật sự thành Người-Đi-Trên-Mây
Nhưng…Bụi Và Rác…(**) anh dọn cho đời chưa sạch!

(*) Nguyễn Xuân Hoàng từ San Jose về Orange County, thường ghé nhà họa sĩ Nguyễn Đình Thuần ở Santa Ana để gặp nhiều bạn bè.
(**) Nhan đề 2 trong số nhiều tác phẩm của Nguyễn Xuân Hòang.

Trần Vấn Lệ

MỘT NGÀY CỦA THÁNG CHÍN

tonnuthudung

Ta tìm thấy trong ta
Một niềm tin khánh kiệt
Đêm vô vọng sương nhòa
Óng ả niềm ly biệt

Ta tìm thấy trong ta
Tàn tro khuya khoắt lạnh
Tay chặn lời bi ca
Từ môi người trổ nhánh

Ta tìm thấy trong ta
Lửa tầng đầu địa ngục
Thiên đàng nào đã xa
Tiếc … không về kịp lúc

Ta tìm thấy trong ta
Giọt lệ mưa cuồng nộ
Đóa lưu ly khóc òa
Trong chập chờn giấc ngủ…

Tôn Nữ Thu Dung

BA KHÔNG

nguyenvi

Không nghe không thấy không cần hiểu
Phía trước đầy gai nhọn hầm sâu
Lầm lũi người đi không thể níu
Vô hồn như thể kẻ mộng du.

Tiếp sau vầng sáng là bóng tối
Chán chường đeo bám bước yêu thương
Thần mã cũng đến hồi vó mỏi
Lạnh lòng nghe tiếng vạc kêu sương.

Thêm vài giọt buồn vào ly đắng
Bõ bèn chi trong cuộc thua dài
Tình vơi có nghĩa tình sẽ cạn
Ố nhàu trang mộng cố dằng dai.

NGUYÊN VI

CHỖ ĐỨNG CỦA MẠC NGÔN?

khuatdau</a

DSC09930

>DSC08683

Ông đứng ở đâu khi xe tăng tiến vào Thiên An môn? Ở đâu khi người sinh viên bé nhỏ đứng chặn trước đầu đoàn xe?
Ông đứng ở đâu khi quân Trung Quốc vũ trang đến tận răng tiến vào Tây Tạng? Ở đâu khi Đạt Lai Lạt Ma lên tiếng đòi tự do cho dân tộc mình?
Ông đứng ở đâu khi người Hán tàn sát dân tộc thiểu số Tân Cương?
Ông đứng ở đâu khi Lưu Hiểu Ba bị giam trong ngục tối và giải Nobel Hòa Bình phải trao cho một chiếc ghế?
Ông đứng ở đâu khi đồng bào ông lấy cớ bảo vệ chủ quyền quốc gia đi đốt phá, hôi của tất tần tật những gì made in Japan?
Và, trong cuộc chiến mà Đặng Tiểu Bình bảo dạy cho Việt Nam một bài học, thì ông đứng ở đâu khi bảo rằng đó là cuộc chiến vệ quốc?
Lại nữa, ông đứng ở đâu khi ông cho rằng nhà văn cần phải tự kiểm duyệt và bị kiểm duyệt?
Rõ ràng là ông đứng về phía đảng.
Và, đứng với một cái chân rất dài.
Còn một chân nữa, trong Phong Nhũ Phì Đồn, trong Cây Tỏi Nổi Giận,… thì đúng là ông đứng về phía nhân dân. Ngay cả trong Ma Chiến Hữu ông cũng nói tới nỗi khổ của những con ma lúc sống là những nông dân nghèo đói ngu dốt bị lùa qua biên giới trong chiến thuật biển người.
Nhưng đó là một chân rất ngắn.
Đọc những tác phẩm nói trên, nhiều người lầm tưởng ông là một người dũng cảm, dám phơi bày bộ mặt thật của một Trung Hoa xôi đậu thời Quốc Cộng, một Trung Hoa điên cuồng mê muội dưới thời Tứ Nhân Bang.
Thực ra, đó là những gì mà đảng của những kẻ sống sót sau cách mạng (vô) văn hóa, đứng đầu là Đặng Tiểu Bình và hiện giờ là Hồ Cẩm Đào cho phép nói. Cái thây ma chưa chôn ấy ông muốn nói, muốn viết, muốn chửi bao nhiêu cũng được miễn là đừng đụng tới cái hiện tại cùng hung cực ác của Trung Nam Hải.
Liệu ông có biết cái ác của thời Mao chỉ là ác với dân tộc mình, còn cái ác của thời hậu Mao là ác với cả nhân loại?
Ông không thấy một Trung Hoa hung hăng, ngang ngược đang mang thai một hậu duệ có cả gien của Tần Thủy Hoàng, Tào Tháo và cả Hitler để lại đưa nhân loại vào thế chiến thứ ba?
Tôi tin là ông thấy, ông nghe, ông biết nhưng ông im lặng như bút danh của ông. Mà im lặng trước cái ác tức là thỏa hiệp với nó.
Phải công nhận ông là một nhà văn có tài, mà cái tài đáng nể nhất là đi khập khiễng với một chân ngắn về phía nhân dân, một chân dài về phía đảng.
Ở Việt Nam, có một nhà thơ (!) hào hển khen ông rằng, viết mà được đảng tin (phó chủ tịch HNV), được dân mến (nhiều người đọc) và được địch yêu (trao Nobel) là rất đáng khâm phục. Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam, không chỉ có một con cừu mà có cả một bầy cừu!
Bây giờ, trên đỉnh cao chói lọi của một nhà văn được giải Nobel, tiếng nói của ông vang khắp thế giới. Ông có thể mở miệng mà không một thế lực nào dám bịt miệng, nhưng ông chỉ thỏ thẻ một cách yếu ớt như tiếng kêu be be của một con cừu rằng, thì là ông hy vọng (!) Lưu Hiểu Ba sẽ được sớm trả tự do.
Thật tội nghiệp cho ông! Một người đi cà thọt, chàng hảng, thì cái tự do* lủng lẳng dù giải Nobel có như một liều viagra, nó vẫn ỉu xìu buồn thiu mà thôi.
Vậy thì tôi ơi, đừng ngây thơ mà mơ mộng rằng, ông sẽ ngẩng cao đầu tuyên bố không nhận giải Nobel nếu nhà cầm quyền chưa thả Lưu Hiểu Ba!
Và, ông đứng đâu mặc ông, miễn là không còn đứng trong lòng tôi nữa là được rồi!

KHUẤT ĐẨU

Âm xưa

tranhodung

Người khắc nỗi buồn lên đá
Vàng bay quạnh gốc thông già
Người chép nỗi buồn lên giấy
Mai sau còn chút tàn phai

Người gửi nỗi buồn theo gió
Niềm xưa trĩu cánh hạc gầy
Người có khi nào qua đó
Đường xưa nay ngút ngàn xa

Bước chân ai về trước ngõ
Âm xưa buốt ngón tay ngà
Có chiếc lá vàng trong gió
Quay về tìm cội nguồn xa

Có tiếng chim nào đang hót
Hồn ai đậu trước hiên nhà ?

Trần Hồ Dũng. Washington. USA .

MƯA

mocmienthao

Đi,
về
giữa phố
điềm nhiên
Lặng
nghe
mưa
rót
nỗi niềm
vừa đan
Giọt nào rơi giữa truông ngàn
Giọt nào rớt giữa đa đoan phận người

Về,
ta
nhặt ánh trăng trôi
Gói vào thơ,
gửi cho người,
cho ta…

MỘC MIÊN THẢO

TIẾNG CÒI TÀU

buithanhxuan

Mưa rả rích. Bức vách trống trước hở sau không che đủ kín căn nhà ọp ẹp nằm cạnh đường tàu. Gió tạt hơi lanh vào thổi tung bức màn ngăn đôi bên này, bên kia căn phòng không lớn dành cho ba người. Chị và đứa con trai bốn tuổi một bên. Phần còn lại là của anh.
Chiếc võng treo ở chái bếp phía dưới. Qúa nửa khuya rồi nhưng anh vẫn nằm đong đưa, mắt lim dim không ngủ chờ đến giờ chở chị về. Như người ở trọ. Hằng ngày anh có nhiệm vụ chở đi bất cứ đâu chị yêu cầu. Trông họ như vợ chồng nhưng thực ra không phải vậy. Cũng không phải mèo mã gà đồng hay rổ rá cạp lại. Cũng không là già nhân ngãi, non vợ chồng. Chỉ là những con người khốn khổ tìm dựa vào nhau mà sống.
Còn phải hơn một tiếng nữa chị mới xong ca đêm nay. Chiếc võng kêu cọt kẹt. Âm thanh nghe buốt tim. Anh đếm từng tiếng rít giữa sợi giây và cái móc sắt.
Bốn trăm mười ba. Bốn trăm mười bốn….
Hai mươi tuổi, anh lên đường gia nhập quân đội tham chiến tại Campuchea khi đang học năm thứ ba đại học Bách khoa. Ba năm lăn lộn trên chiến trường, rừng núi là nhà. Thỉnh thoảng cùng vài đồng đội vào buôn làng chọc ghẹo mấy cô gái Thượng. Xuất ngũ trở về bỗng nhiên ngẫn ngẫn ngơ ngơ, nửa khôn nửa dại.
Đây là đêm thứ bao nhiêu trong hơn một ngàn đêm anh chờ chị..
Chiếc võng đong đưa. Năm trăm hai bảy. Năm trăm hai tám..
Chị là một goá phụ, lớn hơn anh hai tuổi. Chồng chị chết trong trại cải tạo bốn năm trước . Hai mươi sáu tuổi, chị bơ vơ tuyệt vọng nhưng đứa con thơ dại thúc giục chị phải sống, phải chiến đấu từng ngày cho con được tồn tại. Một thời tiểu thư kiêu sa chân yếu tay mềm biết làm sao. Khốn khổ đẩy chị ra đường bán cái mình có. Khách hàng của chị thường là đám đàn ông lái xe, Nhất là đám quá cảnh sang Lào. Bọn này lắm tiền nhưng ít học lại ưa huyênh hoang, khoác lác. Thời hoàng kim của đám ít chữ nhưng may mắn. May mắn của bọn chúng cũng là một phần may mắn của chị
Anh nửa dại nửa khôn nhưng được cái hiền lành. Lúc khôn nói chuyện như nhà hiền triết. Lúc dại lại gọi tên Y’ Hien, Y’ Lo, Y’ Lắc đố mà biết anh gọi ai. Rồi họ gặp nhau, anh có thêm công việc chạy thồ còn chị đỡ tốn một khoản tiền khá lớn cho việc đi lại.
Ngày tháng qua. Cứ tưởng mọi việc như thế nhưng không dễ cho hai con người cô đơn sống gần nhau
Tủ thuốc lá đặt bên đường là bình phong cho cái sự cần cù, chân chính của chị. Hằng ngày chị ngồi ở đó. Thỉnh thoảng anh lại thay mặt những khi chị cần phải đi. Chiều nay chị co ro trong chiếc áo lạnh bạc màu, ho sù sụ. Đứng bên cạnh có tên tài xế nói giọng Bắc bảo cần chị đêm nay..
Cót két! Cót két! Tiếng võng cứa vào tim. Anh lầm bầm “ Đ. mẹ! Đời sao khốn nạn thế.”
Ba năm rồi anh sống chung trong căn nhà cùng chị và đứa trẻ. Những đêm yên lành, anh bên này chị bên kia không nghĩ ngợi, không ham muốn. Anh thản nhiên như không nghe không thấy mỗi lúc chị tiếp những gã đàn ông nhơ nhớp trên chiếc giường của chị. Tấm màn phất phơ tuột ra phơi bày trước mắt anh đôi chân chị xoạc dài nửa trên nửa dưới. Tiếng rên xiết, thở hì hục của gã đàn ông bóp chặt lồng ngực anh.
Có khi anh nhìn thấy gã đàn ông ôm ghì lấy chị thật chặt, từ hôm trước đến hôm sau ở trên giường với hắn. Làm tình, rồi nghỉ nói chuyện, chuyện chán lại làm tình. Anh biết chị bải hoải, chỉ hắn là sung sướng thỏa mãn. Một đêm là bao nhiêu cuộc mưa gió. Chị cố làm hắn thỏa mãn để ngày mai không phải sống trong địa ngục.
Anh đau thắt lồng ngực. Sờ xuống bụng dưới của mình, cười miễn cưỡng.
Anh trở mình trên võng, đạp chân vào vách. Chiếc võng lại đong đưa. Sao thế này? Đã bao lần anh mất ngủ lúc phải đợi chị về. Anh thương chị. Người phụ nữ mãnh mai, yếu đuối này buộc phải làm cái việc nhơ bẩn đáng khinh. Anh giận chị. Từ lâu anh đã khuyên chị bỏ nghề để anh đi làm nuôi chị và đứa trẻ. Chị bảo không muốn sống bám vào anh.
Mưa vẫn rơi đều đều, chậm rãi. Anh đang ngấu nghiến nỗi đau. Tiếng võng rít gắt gỏng như tiếng còi xe.
Nhưng rồi anh cũng chẳng làm được việc gì để giúp đỡ ngoài cái việc hằng ngày chở chị đi đến nơi nào đó. Nơi có gã đàn ông xa lạ giày xéo thân xác chị. Anh giận chị, không rõ nguyên nhân vì sao. Nhưng rõ ràng chuyện của chị như thế xảy ra hằng ngày là hiển nhiên. Anh thù hận những gã đàn ông ấy. Căm ghét chúng, những tên nằm đè trên bụng chị. Anh hình dung và ghê sợ chị còn phải chịu trận những kiểu hành hạ đòi hỏi quá đáng. Có phải đó là nhiệm vụ, là con đường duy nhất để tồn tại cho mỗi ngày qua đi.
Tiếng còi tàu thét lên trong đêm mưa. A! tiếng còi của chuyến tàu thứ tư vừa chạy qua đây. Gần đến giờ phải đi chở chị về.
Thôi được rồi, thưởng thức đi đã. Nỗi đau thân phận đâu có ngọt ngào.
Không có một tia hy vọng cho cả ba người, anh cũng cố tin và trân trọng vào những đồng tiền chị kiếm được mang về là lương thiện. Những món ăn đạm bạc hằng ngày có một mùi hấp dẫn như trên bàn tiệc nhà giàu sang trọng.
Ba ngàn hai trăm bốn bảy. Ba ngàn hai trăm bốn tám…
Tiếng cót két phát ra giữa sợi dây và chiếc móc sắt đều đều cứa ngọt trái tim anh. Mười lăm phút nữa anh sẽ bật dậy đi chở chị về.
Người ta nói tình yêu là thứ gì đó không thể giải thích được. Nhiều tối anh lại đong đưa trên chiếc võng rồi khóc, rồi cười. Tình cảm anh dành cho chị nó không rõ ràng như những thứ chị mang về. Nhưng có thứ gì đó đang vỡ trong lồng ngực khi anh nhớ lại đôi mắt đọng đầy nước mắt của chị sau đêm bị người đàn ông hành hạ vì không làm cho hắn thoả mãn. Trong mắt chị không hề có một hận thù nào mà chỉ toàn nỗi đau.
Ba ngàn ba trăm mười lăm. Ba ngàn ba trăm mười sáu..
Tiếng cót két nhỏ dần rồi im bặt. Anh lịm dần trong giấc ngủ mê
Cuộc đời sao quá bất công. Anh đã phí tuổi trẻ của mình trong những năm lăn lộn trong núi rừng. Không biết mình đã hi sinh giảng đường đại học cho cái gì. Dưới làn tên mũi đạn anh trở về hình hài nguyên vẹn nhưng lại mất đi nhiều thứ. Những thứ bình thường của một con người anh cũng chẳng còn được bao nhiêu. Đáng lẽ anh đã có một gia đình êm ấm, một người vợ xinh đẹp và một địa vị xã hội chứ không phải cái thân phận sống bám vào người phụ nữ làm đĩ. À, mà không! Chị là một con đĩ có học thức, có lương tri hơn khối con mẹ đỏng đãnh phết sơn, trong đầu đặc sệt những tính toán đời thường. Một con đĩ bất đắc dĩ như chị hơn khối mẹ khoác lác trí tuệ nhưng không biết mình đang nói gì. Những ngôn từ cao siêu phát ra từ những cái mồm thối tha, bẩn thỉu.
Với chi, anh biết cuộc chiến đã lùi xa và sự khủng khiếp để lại của nó là điều chị không thể hình dung và tưởng tượng ra trước đây. Điều đang xảy ra với chị bây giờ nó kinh khủng hơn vết thương lở loét bởi chiến tranh. Không có máu đổ, không băng bó nhưng lại đau đớn hơn ngàn vết cắt. Nó không là cơn sốt nhưng nóng rát. Không là cái rét nhưng tê dại. Nó là sự đánh mất nhân phẩm, giá tri. Nó tạo nên sự hỗn loạn, hoang mang của người thua cuộc chịu khuất phục bởi những kẻ cao ngạo đôi khi đến tàn độc của người chiến thắng. Chiến tranh chưa hẳn đã tàn độc. Con người là nhân tố tạo nên điều này.

Vĩnh Nguyên, tên thằng con trai sáu tuổi của chị cứ quấn lấy anh. Nó mừng rỡ gọi Ba khi anh đi đâu trở về. Có lẽ nó giống cha bởi nó có khuôn mặt không giống chị. Thằng bé đẹp như thiên thần, đáng yêu quá.
Anh bắt đầu nhớ mỗi khi chị vắng nhà. Chẳng biết vì sao anh lại nhớ người phụ nữ một con làm đĩ này. Chỉ biết rằng sau một lần cãi vã anh nhận ra rằng mình đã yêu chị nhưng lại không đủ can đảm tôn vinh cái hạnh phúc mà mình có thể với đến được. Một điểm sáng le lói thúc giục anh bước tới giành giật lại chị từ phía những người đàn ông khốn kiếp kia. Anh đã không đủ can đảm làm điều này để giành giật chị khỏi những bàn tay bẩn thỉu, đê tiện ấy
Phải quay về. Phải trở lại. Anh cần có một gia đình êm ấm. Chị cần có anh chở che và quên đi những tháng ngày cơ cực không được làm người tử tế.
Tiếng còi tàu thét vang!
Tiếng kẻng đánh thức trong doanh trại quân đội bên kia đường khiến anh choàng tỉnh. Tiếng vội vã của bánh sắt siết trên đường ray. Năm giờ sáng trời vẫn tối đen. Anh giật mình, hối hận vì đã lỡ ngủ quên, bật người đứng dậy, xô mạnh cánh cửa bước ra ngoài.
Có tiếng rên yếu ớt bên cạnh bụi cây dâm bụt trước nhà. Chị đang nằm vật dưới sân nền ẩm ướt, bàn tay nắm chặt nhánh cây đến bật gãy. Anh hốt hoảng chạy về phía chị, bế thốc thân hình mềm nhũn. Trong ánh đèn đường loang loáng dưới mưa anh nhận ra vết bầm trên khuôn mặt tái xanh. Ôm chặt chị vào lòng anh chạy như điên, băng qua hai ngã tư đến trạm xá. Anh gào lên khi hơi lạnh từ thân thể chị thấm vào cơ thể mình.
Chị bất động và có cái gì như đang vỡ, tan dần khi anh ôm chị bước qua cánh cửa trạm xá.
Mọi thứ lịm tắt. Nước mắt anh chảy trên khuôn mặt tái xanh và đôi mắt chưa kịp khép lại của chị.

*****
Ba mươi năm sau
Anh bây giờ là một doanh nhân thành đạt, đã có một gia đình hạnh phúc cùng người vợ thuỷ chung cùng hai con trai. Con trai đầu Trần Vĩnh Nguyên là kỹ sư xây dựng đi du học ở Pháp về, còn cậu em đang là sinh viên kiến trúc tại Singapore.
Ngôi nhà bên đường ray tàu lửa đã được sửa sang lại nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc cũ. Giữa nhà có bàn thờ của chị. Vợ chồng anh hằng ngày về nhang khói cho chị. Di ảnh người phụ nữ vẫn luôn nở nụ cười duyên dáng, đôi mắt long lanh ẩn sau cặp kiếng cận nhìn vợ chồng anh như muốn gởi gắm điều chị chưa làm được cho con mình.
Đôi khi lúc gần sáng anh một mình chạy xe về thắp nhang cho chị. Nghe tiếng bánh sắt siết trên đường ray lòng anh đau đớn lắm. Anh nhìn chân dung chị trên bàn thờ, vẫn mĩm cười không oán trách.
Tiếng còi tàu u u vang lên trong đêm gần sáng nhắc nhở anh tháng ngày khốc liệt đã qua. Nó vang mãi như bản giao hưởng dài vô tận.
Quên được không?
Thời gian trôi nhanh đi một khoảng dài trong đời người, anh vẫn khắc khoải đợi tiếng còi tàu. Nó mênh mang, day dứt năm này qua năm khác.
Làm sao quên !
Đà Nẵng 17/08/2014
Bùi Thanh Xuân

KINH KHA

linhphuong

( Cảm xúc từ những lời thơ comment của TNTD cho LP )
Em ở bên kia trời Mỹ quốc
Nhìn mây bay ngàn dặm quê nhà
Quê nhà mất biệt ngày thua cuộc
Sông Dịch ngậm ngùi nhớ Kinh Kha

Kinh Kha đã chết từ lâu lắm
Trong trại giam tù bảy mươi lăm
Mai mốt em về ngang cố quận
Xin đốt dùm ta nén hương lòng

Xin đốt dùm ta câu thề cũ
Lần ra mặt trận lỡ hẹn hò
Lấy chồng rồi sao em vẫn giữ
Tờ thư ta và những bài thơ ?

Kinh Kha đã chết từ lâu lắm
Nhẫn tâm em cắt sợi tơ hồng
Đừng khóc đời ta nhiều lận đận
Có gì đâu chuyện mấy chục năm

Có gì đâu một thời bom đạn
Lụy tình ta sương gió phong trần
Lụy tình ta cái thằng ngạo mạn
Đứt ruột em trèo lên xe bông

Đứt ruột he he ta cười ngất
Hôm qua sông mây khói mịt mù
« Thái tử Đan chặt tay người ngọc
Uống rượu tặng ta áo hồ cừu «

Hồ cừu hề đi không trở lại
Hành thích Tần vương cũng chẳng xong
Kinh Kha đã chết từ lâu lắm
Trả nợ người-trả nợ núi sông

Em ở bên kia trời Mỹ quốc
Ta ở bên này nước Việt Nam
Xa nhau hơn nửa vòng trái đất
Oán hận chi ta kẻ phụ tình ?