giấc mơ cổ tích

reu

có những ngày vui trôi qua ngắn ngủi..
có những niềm buồn ở mãi quanh ta..
có tia mắt nhìn nhưng chưa dám nói
chợt có một hôm bỗng thấy mình già

có lúc muội mơ hóa mình trẻ nhỏ
chợt khóc, chợt cười, chợt hát hồn nhiên
có lúc muội mơ hóa thành cọng cỏ
cọng cỏ vô ưu khép nép quanh triền..

rồi có lúc muội mơ làm công chúa
nằm bên bìa rừng ngủ giấc mê say
trong giấc ngủ lung linh màu cổ tích
có chàng thợ săn lạc lối quên về…

RÊU

BIÊN CƯƠNG LÁ RƠI…THU HÀ EM ƠI !!!

phamhoainhan

Dân miền Tây 10 người thì hết… 11 người thuộc bài ca vọng cổ Võ Đông Sơ của soạn giả Viễn Châu:
Biên cương lá rơi, Thu Hà em ơi
Đường dài mịt mù em không tới nơi…

Trong 11 người ấy, ai cũng biết Võ Đông Sơ bị trúng tên mà chết, bởi câu vọng cổ đầu tiên trong bài là:
Trời ơi, bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn, nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu (ớ ơ ờ)… Hà!
Thế nhưng cũng trong số… 11 người ấy, chắc chỉ có 1 người biết Võ Đông Sơ con cái nhà ai!

Cũng phải thôi, vì nhân vật Võ Đông Sơ xuất hiện lần đầu tiên trong tiểu thuyết lịch sử Giọt máu chung tình của Tân Dân Tử từ năm 1926, cách đây gần cả thế kỷ. Tiểu thuyết này chuyển thể thành cải lương vài năm sau đó, nhưng bản vọng cổ thì mãi đến thập niên 1960 mới ra đời. Bản vọng cổ lâm ly này tập trung ở tình tiết Võ Đông Sơ sắp chết (và vô vọng cổ trước khi chết), chớ hổng phải là tiểu thuyết và cũng hổng phải tiểu sử Võ Đông Sơ nên thế hệ sau này chả biết chàng là con ai. Có người còn nghĩ chàng là… Tàu khựa, vì tên người yêu là Bạch Thu Hà, giống tên Tàu quá!

May sao, nhờ thời buổi Internet, có người sục sạo Gu-gồ, đọc lại tiểu thuyết Giọt máu chung tình và biết được Võ Đông Sơ không phải Tàu, mà là người Việt, con của một nhân vật lịch sử có thật hẳn hoi: Đó là Võ Tánh, một danh tướng triều Nguyễn, là cha, và mẹ là công chúa Ngọc Du!

Ai đọc qua sử Việt cũng đều biết Võ Tánh giữ thành Quy Nhơn và đã tuẫn tiết tại đây năm 1801. Võ Tánh là nhân vật có thật, vậy Võ Đông Sơ thì sao? Đến 99% rằng đây chỉ là nhân vật hư cấu của Tân Dân Tử, vì ngoài tiểu thuyết Giọt máu chung tình của ông không hề có bất kỳ tư liệu lịch sử nào nhắc đến con trai Võ Tánh là Võ Đông Sơ cả. Hơn nữa, tình tiết của tiều thuyết không có gì khớp với lịch sử vào thời kỳ đó (thời kỳ đầu triều Nguyễn).

Ấy, nhưng sau khi tìm ra tung tích Võ Đông Sơ rồi, nhiều bài viết trên mạng mặc nhiên cho rằng chàng là nhân vật có thiệt, và phăng ra nhiều tình tiết y như thiệt! Tỷ như ở Gò Công (là nơi Võ Tánh khởi nghiệp) nay còn đền thờ ông, người ta bèn kể chuyện rằng dạo ấy Võ Đông Sơ đã từ Quy Nhơn phi ngựa về Gò Công để tế cha giữa đêm trường ai oán! Người ta cũng căn cứ theo sử liệu rằng Võ Tánh sinh ra ở Trấn Biên và nói rằng ông sinh quán tại Biên Hòa. Hic, nghe qua tưởng là đúng, nhưng mà trật lất. Thủ phủ Trấn Biên đúng là Biên Hòa, nhưng hồi ấy Trấn Biên rộng lắm, bao trùm cả Bà Rịa – Vũng Tàu, và thật sự sinh quán của Võ Tánh là Bà Rịa chớ đâu phải Biên Hòa!
Tiếc rằng những suy diễn trật lất này nhờ công nghệ trích và sao chép trên mạng lan ra tùm lum và nhiều người cứ tưởng là đúng. Vậy là nhờ Internet ta tìm ra thông tin, và cũng nhờ đó ta làm thông tin đi lạc luôn!
Thôi, sai thì cũng chẳng chết ai (có chết chăng là Võ Đông Sơ, thì… đã chết rồi!). Sẵn mọi người chế biến quanh Võ Đông Sơ, Tui cũng góp phần xí-xọn một chút.
Võ Đông Sơ kêu Trời: Trời ơi! Bởi sa cơ giữa chiến truờng thọ tiễn nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu… Hà.
Kêu, nhưng mà vừa kêu vừa ca, nên ta gọi là kêu ca. Có phải Võ Đông Sơ đã kêu (ca) như vậy không?
Nếu Võ Đông Sơ là người Bắc thì chàng đã kêu như thế này:
Ối giời ơi! Bởi sa cơ giữa chiến truờng thọ tiễn nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu… Hà.
Võ Đông Sơ không phải người Bắc, nên không ca Ối giời ơi!, nhưng chàng đâu phải người Nam mà ca Trời ơi!
Theo tiểu thuyết Giọt máu chung tình, Võ Đông Sơ lớn lên ở Quy Nhơn, và khi cha mất chàng sống với chú ở Quy Nhơn, vậy ắt là chàng… nói giọng Bình Định! Người Bình Định phát âm chữ Trời ơi nửa giống Trầu quâu, nửa giống Trờ quơ… thôi thì ta tạm “phiên âm” thành Trầu quâu vậy.
Và như vậy ắt hẳn là Võ Đông Sơ đã ca như vầy:
Trầu quâu! Bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn, nên Dzõ Đông Sơ đành chia te dzĩnh dziễn Bạch Thu…ớ ơ ơ… Hèa!….
Dẫy nghen!

PHẠM HOÀI NHÂN

NGHIÊNG

khatiemly

Cờ nghiêng tướng sĩ xôn xao,
Ai nghiêng hôn trộm má đào của em?
Bầu nghiêng, lãng tử say mèm
Đèn nghiêng, mới biết màn đêm não nùng.
Gối nghiêng, quạnh quẽ cô phòng
Tóc nghiêng che khuất môi hồng giai nhân
Áo nghiêng rũ bụi phong trần,
Tuổi nghiêng tiếc một trời xuân năm nào
Ai nghiêng nhìn mắt ai trao
Cây nghiêng, lá đổ trăm màu tương tư

Chén nghiêng đợi rót rượu hờ,
Ta nghiêng một chốc, dại khờ trăm năm
Lá nghiêng hứng trận mưa dầm,
Đò nghiêng ta cứ tay cầm tay nhau.
Đàn nghiêng nức nở tơ sầu,
Nón nghiêng nên để qua cầu gió bay!
Chân nghiêng mỏi bước đường dài,
Tay nghiêng tìm một bờ vai ân tình.

Chiều nghiêng che má em xinh,
Bóng nghiêng tìm dáng băng trinh một thời,
Môi nghiêng tìm một bờ môi,
Sầu nghiêng, tìm được một lời nhớ nhung?
Má nghiêng tìm chút thẹn thùng,
Tình nghiêng, để lắm lạnh lùng cho em!
Anh nghiêng tìm chút hương duyên,
Em nghiêng, rớt chút dịu hiến cho anh

Đời nghiêng nặng kiếp phiêu linh,
Khói nghiêng hư ào bóng hình ngày xưa.
Duyên nghiêng tìm nụ hôn thừa,
Lời nghiêng một chút cho vừa lòng nhau.
Vôi nghiêng tìm một lá trầu,
Trầu nghiêng tìm một miếng cau mặn nồng.
Vợ nghiêng tìm ấm hơi chồng,
Chồng nghiêng tìm vợ tấm lòng thủy chung.
Thơ nghiêng, vần điệu não nùng,
Mây nghiêng che núi, nghìn trùng yêu thương.
Đá nghiêng, mấy tuổi đá buồn?
Lợi nghiêng chi lắm mà danh rẻ hời!

Rượu nghiêng tìm chút tình thôi,
Ta nghiêng lần nữa nên đời bơ vơ!


Kha Tiệm Ly

THI SĨ BÙI GIÁNG

tamnhien

IMG_0951

Không chỗ trú chẳng bến bờ
Vẫn bầu rượu với túi thơ dặm dài
Ngút mùa cuồng sĩ lai rai
Nghêu ngao vô sự hát bài Hoa Nghiêm

Có gì đâu phải đi tìm
Ba nghìn thế giới trong tim của mình
Tà tà giữa cuộc phiêu linh
Một hôm bất chợt thấy hình bóng xưa

Nên về cà rỡn bông đùa
Múa ca diệu dụng cùng mưa nắng cười
Miền hoan hỷ địa rong chơi
Khơi nguồn sáng tạo mở trời đất ra

Tâm Nhiên

KHÔNG THẤY NÚI

khuatdau

Hồi đó bọn tôi còn nhỏ tuổi lắm. Được bộ đội cho một miếng lương khô là cả một cái gì hết sức to tát. Nhà thằng Hành nằm sát lề đường, bộ đội thường ngang qua nên mới có cái may rơi rớt đó, chứ không phải đứa nào cũng được. Lương khô của Trung Quốc lốm đốm màu nâu, cứng như gỗ. Hành khoe ăn một miếng bảy ngảy không thấy đói. Nó cầm cái miếng lương khô chết tiệt đó nhơi nhơi trước mặt bọn tôi rồi le lưỡi liếm một cái, bảo là ngon hết sẩy. Nó liếm rồi dấu, dấu rồi lại liếm khiến bọn tôi muốn nổi điên. Có đứa tức quá nhào tới giựt đại, nhưng nó nhanh tay hơn dấu biến vào túi.
Thì đành phải kiếm thứ khác đổi vậy, đó là cái cách mà nó muốn bọn tôi phải hàng phục. Đổi xoài, nó nói ở đây ai mà thèm xoài. Đổi mía, nó chê mía cứng ăn gãy răng. Đổi dế than, nó bảo đồ ăn, ngu sao đổi dế. Sau cùng nó chịu đổi trứng gà luộc. Mỗi trứng được cắn một miếng. Trứng gà thì nó bóc ra tộng vào mồm như rắn nuốt nhái, không sứt mẻ một chút nào. Nhưng lương khô của nó thì dấu kín trong lòng bàn tay, như con rùa dấu kín trong mai chỉ thò ra một cái đầu bé xíu. Nó bấm chặt ngón cái để làm dấu, chưa cắn được đã bị nó giụt ra. Nó là cái thằng tham ăn số một.
Nó khôn bỏ mẹ, nhưng thằng Mạnh còn ranh ma hơn. Đến lượt mình, Mạnh cắn một phát vào tay, khiến nó hốt hoảng buông ra. Miếng lương khô quý như vàng của nó rơi đánh bộp xuống đất. Tôi nhanh tay hơn chụp được chạy tuốt vào nhà.Cả bọn bên ngoài liền tru tréo chửi rủa.Anh tôi từ trên cao, chộp xuống tay tôi như con chim cắt, lấy mất.Anh lật qua lật lại săm soi, đưa lên mũi ngửi khịt khịt, thè lưỡi liếm thử rồi nhăn mặt bảo: như cục cứt khô, có ngon lành gì đâu mà tụi bay giành. Kệ em, tôi dậm chân bành bạch, khóc đòi lại.
Thôi để tao chia cho, mỗi đứa nếm thử một chút của ngon vật lạ của mấy ông cộng sản cho biết mùi. Anh lấy dao và cả búa, kê lên ghế chặt bộp bộp như bổ củi. Mỗi đứa được anh chia một miếng chỉ bằng nửa cái móng tay, nhưng sung sướng còn hơn được cả lon đồ hộp của Mỹ. Đứa nào cũng ngửa cổ ra, trịnh trọng bỏ vào mồm như đón nhận bánh thánh của cha, rồi cứ thế mà ngậm chứ không dám nhai. Ngòn ngọt, măn mẳn, lại hơi beo béo, như bắp rang giã nhỏ trộn đậu phụng. Đúng là chẳng ra cái quái gì cả, nhưng là của bộ đôi nên đứa nào cũng gục gặt đầu khen ngon! Dĩ nhiên đến trưa đứa nào cũng tộng vào bụng bốn chén cơm đầy nhưng đều bảo có lương khô, no, chẳng cần ăn.
30/4 đúng vào dịp hè nên bọn tôi chẳng phải đi học. Chúng tôi suốt ngày đá banh, đuổi bắt nhau, hay đợi tối đến rủ rỉ kể chuyện ma trong vườn xoài. Phải nói là rừng xoài vì vườn nọ nối tiếp vườn kia, cả chục cây số, chỉ có xoài với xoài. Những cây xoài xanh đen như những cây dù khổng lồ, suốt ngày phủ kín mặt đất, không để rơi một giọt nắng nào.Nằm giữa hai hai ngọn núi lớn, hòn Bà ở phía đông quanh năm mây phủ, hòn Ông ở phía tây sừng sững đụng trời, ai ở mấy cái xã này, sáng mở mắt ra là đã nhìn thấy núi. Cái hẻm núi sâu dài kẹp giữa hai đường quốc lộ và xe lửa như một con mãng xà đen và một con rồng lửa cùng thi nhau chạy tới vịnh Cam Ranh.
Dường như đất ở đây chỉ dành để trồng xoài.Tuy mỗi năm chỉ có một mùa, nhưng nhà nào cũng có cả ngàn cây, nên thu nhập nhiều gấp mấy lần làm ruộng. Đến mùa xoài trổ bông, hàng triệu con ong kêu vù vù bay đi bay lại suốt ngày, rì rầm như tiếng tụng kinh. Ấy vậy mà có lúc người ta định phá hết để trồng lúa. Trên bảo xoài không phải là lương thực.Với lại thành lập hợp tác xã nông nghiệp chứ ai lại đi thành lập HTX xoài!
Đó là nói chuyện sau này, chứ hồi đó người ta chỉ lo trừ gian diệt ngụy, lùng sục những phần tử chống phá cách mạng, chứ hơi sức đâu mà nghĩ tới cây xoài. Mà những kẻ đáng bị đem ra bắn bỏ ấy thì chỉ có ngu mới đi trốn trên cây xoài. Cho nên cái âm u bí mật của rừng xoài, cái giang sơn không hổ báo này, chỉ có bọn tôi làm chủ mà thôi. Nhưng bà tôi nói, tụi bay phá vừa vừa thôi, đất này là của quỷ ma đó. Ý bà tôi muốn nói tụi tôi là học trò chỉ đứng hàng thứ ba. Thì thứ ba cũng oai ra phếch chớ bộ. Vừa rồi, người chết đầy đường đầy sá, bà nói tiếp,có ai cúng kiếng gì đâu, bọn họ biến thành những con ma đói. Ma gặp được những cây xoài có bóng mát là mừng lắm. Giữa nắng trưa họ lơ lửng trên cây. Những con ma có con nhỏ lại còn cột võng tòn teng đưa con, hát ru văng vẳng.
Trời ạ, nghe bà nói cứ như thật. Và dù cha tôi nói bà lẫn rồi, đừng có mà tin nhảm, nhưng bọn tôi vẫn cứ tin. Chẳng những thế lại còn thêu dệt thêm đủ thứ chuyện. Thằng Mạnh bảo tối nào ma cũng tới giếng nhà nó xách nước rửa chân, có khi còn cởi đồ ra tắm. Núp trong nhà nhìn ra, nó nói, tao thấy cái gàu tự dưng nhảy xuống giếng, múc đầy nước rồi nhảy lên. Sau đó nước đổ lênh láng, không rửa chân hay tắm là gì! Thằng Hành lại bảo thấy ma đứng dựa gốc cây, những con ma tóc dài chấm đất, tối nào cũng đứng đợi người yêu là những người lính biệt động mũ đỏ.
Tôi thì bảo có lần tao nghe ma thở, đôi lúc lại nghe ho khúc khắc. Ma ho và thở giữa ban ngày đó. Cả bọn bảo láo làm gì có ma giữa ban ngày. Tôi úp úp mở mở, bảo không tin thì thôi. Chỉ có mỗi mình tao biết là có một con ma sống lại. Chúng nó hỏi dồn ở đâu. Tôi nói, muốn biết ở đâu thì phải đổi cái gì chớ.Thế là cả bọn nhao nhao, đổi gì, đổi gì tao cũng đổi. Một con chó con nghe? Không thèm. Một trái lựu đạn nghe, cha tao còn dấu một trái để ném cá. Có mà đi tù. Cái xe hơi của tao, được không? Xe tí tẹo hồi mày một tuổi làm sao tao ngồi. Vậy biết đổi gì bây giờ, sao mày khó thế. Cả bọn mắng tôi dóc tổ, không thèm chơi.
Vườn xoài nhà bác Ba giáp vườn nhà tôi. Vườn rộng ngút ngàn chạy tận núi.Hơn 20 năm trước, bác từ Phù cát vào mua rẫy lập vườn cùng với cha tôi. Hồi đó chỉ toàn cát sỏi, rẻ rề. Chỉ vài cây vàng là có cả một vùng đất rộng bằng cả xóm. Nhưng hai người đã phải bỏ nhiều công sức, chịu đói chịu rét suốt mười năm mới có được cơ ngơi như ngày hôm nay. Khi tôi sinh ra, vườn xoài đã trĩu trái. Ngoài dầu khuynh diệp, mẹ tôi nói, tao và mầy đều dược ướp mùi xoài chín thơm ngạt mũi.
Cha tôi là người Diên Khánh, chẳng họ hàng gì với bác Ba, nhưng ở gần nhau, cùng trồng một thứ cây, và cùng nhờ nó mà sống được, nên coi nhau như anh em. Bác từ vùng chín năm kháng chiến vào nên nhiều người gọi đùa là ông Ba Việt cộng. Lâu dần thành tên. Bác cũng có khó chịu chút đỉnh, thực ra là sợ chính quyền cũ hiểu lầm, nhưng chính các ông ấp trưởng và đại diện xã, cứ một điều bác Ba VC, hai điều bác Ba VC một cách vui vẻ, nên Bác cũng đành chịu chết danh với cái tên bất đắc dĩ đó. Bác là người lặng lẽ, ít nói, nên giá như có vì thế mà bắt bác bỏ bót thì chắc bác cũng cắn răng mà chịu thôi. Bác thường ngửa mặt trông lên núi, u uất nói với cha tôi, cái vận hạn của đất nước còn tối tăm lắm, chưa thấy có chút gì sáng sủa. Cha tôi nói, núi hai bên che chắn hết mặt trời, sáng sủa cái nỗi nào. Thì đó, cái vận hạn của đất nước mình cũng bị kẹp giữa Nga và Mỹ như hai cái núi này mà thôi.
Nghe Ban Mê Thuột bị mất, bác có vẻ lo, suốt ngày cứ ôm đài. Cha tôi nói, đánh chiếm lại mấy hồi.Dưới đất có thiết giáp, trên có máy bay, ngoài khơi có hạm đội Mỹ, đánh một trận là xong ngay. Không dễ đâu! Không dễ đâu anh Năm à. Sao không dễ, cha tôi ực một phát, mặt đỏ gay. Không dễ thiệt mà, họ đánh đủ nơi đủ chỗ. Biết đâu họ đã đưa quân tới phục chỗ của mình rồi. Từ hai bên núi họ đánh ụp lại như kẹp cổ một con rắn, chạy đi đâu cho thoát! Bác cứ ngồi trầm tư trước mặt cha tôi, mồi không chịu gắp, rượu không buồn đưa lên miệng. Cha tôi giục, uống đi chớ anh Ba, cộng sản cũng là người như mình, họ vào đây thì mời họ uống rượu chớ việc gì mà lo. Bác nói, anh chưa biết đấy thôi, kinh hoàng lắm, sống không nổi đâu. Thì chết, cha tôi đã bắt đầu lè nhè. Đâu dễ mấy ai được chết dưới bàn tay cộng sản. Anh say rồi, bác nói, thôi vào nhà ngủ đi, tôi về.
Từ đó cho đến ngày chạy đi, bác không qua chơi với cha tôi nữa. Chỉ đến khi sắp lên xe, bác mới qua chào. Bác nói thôi ở lại mạnh giỏi. Cha tôi không biết nói gì, chỉ rơm rớm nước mắt.
Cứ tưởng bác đi là không trở lại. Bởi vì ngày đó người ta đồn Mỹ đã chia cho CS từ Phan Thiết trở ra. Bác nói vùng quốc gia dẫu sao cũng dễ thở hơn. Nhưng sau ngày 30 tháng tư ít hôm, lại thấy cả nhà bác buồn bã lộn về. Bác bảo cùng đường rồi, thôi về đây có chết cũng được. Tôi thương mấy cây xoài quá. Rồi sau đó công tác này nọ các thứ, cha tôi và bác cũng không còn rảnh rồi để mà ngồi lai rai dưới gốc xoài nữa. Cũng có thể bác hơi mắc cỡ với cha tôi, có khi là giận và sợ cha tôi vì đã quyết định ở lại. Mẹ tôi nói, chắc bác ấy tưởng mình là CS nằm vùng. Nằm vùng gì tui, nằm mùng với bà thì có, cha tôi cười lớn. Mẹ hứ cái cốc, phủi đít, đứng lên bỏ đi.
Chuyện nghe ma thở là như thế này. Lúc ở Sài Gòn chạy về, bác Ba mua hai con ngỗng trắng. Hai con ngỗng thấy trẻ con là cứ à oạc, à oạc tới rỉa vào chim đau thấy mẹ. Sợ rỉa đau nhưng vẫn cứ thích chọc. Bọn tôi tuột quần khỏi háng chìa chim trước ngỗng, đợi đến khi cái mỏ vàng vàng như cái kẹp lửa của nó xỉa tới là quay đít bỏ chạy. Năm ba đứa cùng hè nhau chọc phá, hai con ngỗng chỉ rượt đuổi một lúc rồi thôi. Nhưng chỉ một đứa là nónrượt tới bến.Tôi bị nó rượt một lần chạy ná thở. Lần đó hai con đuổi tôi chạy tới tận cuối vườn, sát bìa rừng vẫn chưa tha. Tôi phài chạy vòng vòng sau cái nhà tắm mới xây của bác Ba và liều mạng đá vào cổ chúng mới thoát được.
Đúng là mệt ná thở. Không ngờ bọn ngỗng gan lì và hung tợn quá. Hèn nào bác Ba nuôi chúng để giữ nhà. Chúng nó à oạc suốt đêm, chẳng bọn trộm nào dám vào.Lúc hết mệt, đứng dậy định về, tôi bỗng nghe có tiếng thở. Ban đầu, tôi tưởng tiếng thở của mình. Nhưng nghe kỹ thì không phải. Áp tai vào vách, dường như có tiếng thở từ bên trong. Tiếng thở yếu, đứt quãng.Nghe như tiếng thở của người già hay của người bệnh. Tôi liền đi quanh tìm cửa nhưng không thấy.Rõ ràng là gạch xây không trát hồ chứ không phải chất thành đống.Một cái nhà dài hai thước, ngang một thước, cao cũng chừng đó giống như một cái hộp.
Biết bao câu hỏi mọc lên như nấm trong đầu óc non dại của tôi. Rõ ràng là bác Ba mới xây cái nhà này, xây vội vàng và rất vụng. Chắc chắn đó không phải là nhà tắm vì bác đã có một nhà cầu và nhà tắm cạnh nhà tôi. Vậy thì xây làm chi, xây để dấu ai? Mà sao phải dấu, sao phải trốn? Ai ở nổi trong một cái nhà mồ như thế.Thật là hoang mang, nhưng tôi không dám nói cho ai biết. Một phần, tôi thích tự mình khám phá ra bí mật. Nếu tôi tìm ra được sự thật, chắc hẳn tụi bạn tôi phục sát đất. Phần nữa, tôi sợ chính quyền mới sẽ kéo quân du kích tới đập nát nó ra, lôi cổ ai đó ra bắn bỏ hay cho đi tù. Và như thế là tôi có tội với nhà bác Ba.
Suốt ngày tôi cứ dõi mắt sang cái nhà gạch bí ẩn đó. Có lúc tôi leo núp trên những cây xoài.Tôi hồi hộp đợi chờ một con người to lớn hay một con gấu đập vỡ gạch chui ra. Đêm, tôi vừa sợ vừa mong, thấy một con ma áo trắng, y như bà tôi nói người chết có lúc đội mồ sống dậy. Tôi đã định lân la hỏi chuyện bác gái, nhưng chính bác sang nói với mẹ đừng cho tôi chọc phá ngỗng nữa. Bác trai nghe nói về quê, các anh chị đi lên rẫy. Nhà bác lúc nào cũng cửa đóng, lá rụng ngập đầy vườn. Khi chiều xuống, khí núi và sương đêm lạnh buốt, lại thêm có con chim cú ở đâu mới tới, thả vào bóng tối những tiếng kêu như quỷ gọi hồn. Có cho kẹo tôi cũng không dám tới cái nhà mồ đó. . .
Tôi đã nản định bỏ cuộc, thì trong một buổi chạng vạng, thấy có người đến. Người ấy là bác Ba gái. Bác nhìn trước ngó sau, thập thò như kẻ trộm. Rồi bác ngồi xuống,vẹt đống lá xoài ra, gỡ mấy viên gạch sát đất để lộ một cái cửa nhỏ đủ đưa nước và thức ăn vào. Sau đó, bác bịt kín, vun lá xoài khô che lại như cũ. Bác đứng lên mang theo một cái bô đi vào nhà cầu.
Đúng là ông Ba Việt cộng. Nhưng sao Việt cộng tới ông không reo mừng, không nhảy ra giữ chức này chức nọ mà lại tự nhốt mình như thế. Tôi nói điều đó với anh Hai, anh lấy tay bịt miệng tôi lại, không nói gì. Hôm sau anh bảo tôi đứng canh, rồi chính anh cạy những viên gạch và luồn vào trong một tờ giấy và cây bút bi. Một lúc sau, anh lấy ra, lấp lại gạch, kéo lá xoài tủ lại rồi chạy như bay vào nhà. Tôi cũng bắt chước cách anh dọa tôi, vừa đuổi theo vừa dọa, không cho em coi, em mét ba. Anh lại bịt miệng tôi, đưa tờ giấy soi dưới ánh đèn cho tôi đọc. Giấy ghi chỉ có hai câu: Phải bác Ba đó không? Và: phải, im coi như không biết, cảm ơn! Anh giật tờ giấy châm vào lửa, nghiêm sắc mặt không phải đe mà ra lệnh: không được nói cho ai biết nghe chưa? Kể cả cha và mẹ.Tôi vừa run vừa dạ.
Và chuyện con ma sống lại ấy, bọn bạn hỏi một đôi lần, tôi bảo không phải ma, chỉ có một con chồn đào hang chui vào nhưng đã bắt được rồi.
Đến tuổi không còn sợ ma và cũng chẳng thích nghe chuyện ma nữa, cả bọn tản mác theo cha mẹ phát rẩy trồng thêm mì, cũng chẳng còn dư thì giờ mà lêu lổng trong vườn xoài và cũng quên mất cái nhà tù kỳ lạ đó. Tôi cũng vậy, mấy năm sau đi lính sang xứ chùa Tháp, chết chóc thật khủng khiếp. Biết bao chuyện người sống còn lạ lùng hơn chuyện ma. Được sống sót trở về đã là may. Chuyện bác Ba tự nhốt mình trong cái hộp ấy chỉ là chuyện nhỏ, tôi cũng quên mất.
Mãi đến khi tôi lấy vợ, sang mời bác Ba thì mới biết bác đã mất rồi. Bác mất trong cái nhà tù đặc biệt đó. Con trai bác gỡ từng viên gạch đem bác ra tắm rửa. Mẹ tôi nói bác gầy và khô như que củi. Bác đã sống trong đó suốt 15 năm. Từ xưa tới nay chưa có ai tự làm tù mình như thế. Có người bảo bác là dân Bình Định, chắc trước kia là gia đình địa chủ, sợ cộng sản quá hóa ra lẩn thẩn. Nhưng anh Thức, nói nhỏ vào tai tôi, không phải sợ mà là ghét.
Giờ tôi cũng đủ khôn để hiểu bác ghét ai. Ghét đến nỗi không muốn nhìn thấy núi. Và tôi cũng hiểu ra rằng, núi chỉ đẹp và đáng nhìn khi được tắm dưới ánh sáng mặt trời./.

KHUẤT ĐẨU

MỘT THOÁNG TÌNH

tranvannghia

Bởi đời lạc mất nhau
Nửa đêm về bật khóc
Nhớ cơn mưa hôm nào
Lênh đênh mùi hương tóc

Lỡ đánh mất dọc đường
Chút tình riêng thở dốc
Ngửa mặt ngóng tinh sương
Phố buồn xanh rêu mốc

Người xa hút bóng chim
Lưng trời cơn gió thấp
Nghe lãng đãng quanh thềm
Rưng rưng giàn hoa khóc

Nơi đó với mùa xưa
Quanh em đầy nhan sắc
Bao đeo đuổi ghẹo tình
Thấy trần gian lây lất

Cõng nỗi buồn trên vai
Đời phập phù lơ láo
Chợt vấp ngã mệt nhoài
Mơ vầng trăng mười sáu

TRẦN VĂN NGHĨA

NHẶT

hoangvancham
Người về nhặt vội mùa hoa
Không nhau cúi mặt từ xa nghìn trùng.
Chia nhau chút đợi tận cùng
Người đem góp lại thêm nồng nàn xưa.
Nhặt chiều phai với giọt mưa
Đong đầy hương củ thu vừa đi qua
Mùa hoa em níu phôi pha
Buồn dâng mắt đỏ chia xa ngậm ngùi.
Nhặt riêng em một bờ vui
Chia lòng sau trước lấp vùi niềm đau
Thương ai vẻ bóng ngàn lau
Người xa khuất nẽo giữa màu hoàng hôn.

HOÀNG VĂN CHẨM

Về Nguồn

nguyenmonggiac

Mở tivi định xem qua chương trình cải lương tối thứ bảy để quên nỗi bực dọc ở cơ quan, đồng chí thủ trưởng ban tuyển sinh đại học gặp ngay mục dự báo thời tiết. Khi hình bản đồ chữ S vừa hiện lên khung Tivi, xướng ngôn viên đã đọc bằng giọng đều đều ngái ngủ:
“Dự báo thời tiết cho đêm nay và ngày mai: Trời nhiều mây, buổi sáng có mưa lớn, trưa và chiều có thể có bão. Tin khí tượng cho tàu chạy ven biển: Khu vực thành phố Hồ Chí Minh và đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo: Tầm nhìn xa không quá 1 cây số, biển động đến động mạnh. Gió cấp 6 cấp 7, có nơi cấp 8… ”
Ông lặng người vì lo âu… Cô xướng ngôn viên đã dự báo đúng thời tiết của cơ quan ông. Nếu mỗi cơ quan có mùa xuân và mùa đông riêng cho mình, thì ban tuyển sinh đang ở mùa đông buồn. Làm việc tất bật, gần như vật lộn với đống hồ sơ mà không tìm được chút ánh sáng le lói ở cuối đường hầm. Kỳ họp tổng kết công tác nào cũng bị đem ra kiểm điểm, chỉ trích. Cán bộ nhân viên đem cả cơm chiều vào ăn tại cơ quan để làm thâu đêm, mắt người nào cũng thâm quầng, thế mà việc đâu vẫn ì ra đấy. Điện thoại từ các trường đại học giục. Điện thoại từ trường trung học chuyên nghiệp hối. Phải làm thế nào gởi gấp cho họ bản tổng kết về thành phần lý lịch để kịp niêm yết danh sách trúng tuyển. Đại học bách khoa trễ hạn ba ngày. Y khoa 7 ngày. Sư phạm 11 ngày. Đại học tổng hợp 6 ngày. Ban tổ chức thành ủy đích thân xuống kiểm tra. Trên hối, dưới thúc, chẳng khác nào đe búa cứ nhè vào cái thân gầy của đồng chí thủ trưởng mà đập cho dẹp. Ông có xin thêm bên công an Thành một số chuyên viên đến giúp đỡ. Nhưng họ chỉ làm công việc đổ thêm dầu vào lửa, thứ lửa đã đủ nóng để đốt cháy sự nghiệp toàn thể nhân viên cán bộ ban tuyển sinh. Bằng đôi mắt nhà nghề, sau khi đọc qua các bản lý lịch của học sinh nộp đơn thi vào các đại học, các chuyên viên đã lập bản báo cáo thật bi quan. Đại loại họ phân chia các lý lịch ấy làm hai hạng:
Hạng thứ nhất gồm những bản lý lịch mù mờ cần phải được xác minh trước khi thu nhận ứng viên đó vào đại học. Không phải những bản lý lịch giả hoặc có tẩy xóa. Cũng có khuôn dấu đỏ và chữ ký của ủy viên thường trực hoặc chủ tịch phường xã ký đàng hoàng. Nhưng vì người phụ trách không nắm hồ sơ chính trị của nhân dân ở trong địa phương mình, nên lý lịch có nhiều điểm đáng ngờ. Chẳng hạn trên bản lý lịch do chính đương sự viết, phường xã chỉ ghi: “Chứng thực theo lời khai của đương sự”. Thử hỏi có đương sự nào dại dột đến nỗi khai tuột những điều xấu hoặc bất lợi của mình ra giấy trắng mực đen? Hoặc có nơi viết: “Đương sự hiện có hộ khẩu thường trú tại phường 19 chúng tôi”. Thừa! Rất thừa đến nỗi hóa ra lẩm cẩm! Có ai dám cấp sơ yếu lý lịch cho người không có hộ khẩu thường trú? Đã thế, ủy viên thư ký phường xã, vì không có trình độ chuyên môn, nên bỏ qua một số chi tiết thật quan trọng, không đòi hỏi đương sự xác minh trước khi đóng dấu ký tên. Có cậu khai cha làm cán bộ ở cơ quan X. Loại cán bộ nào? Từ A (nghĩa là từ ngoài bắc ) vừa được chuyển công tác vào nam, hay từ R (nghĩa là từ chiến khu) về thành? Thậm chí những người ở vùng tạm chiếm (không ai rõ thời Mỹ ngụy có gây tội ác nào không) vừa được tuyển làm công nhân viên là nhân viên cấp thấp của guồng máy kềm kẹp chính quyền Sài gòn cũng vẫn xưng là cán bộ. Tin vào những lời khai đó khác nào tin lời Thị Mầu! Có cô khai mẹ đang công tác tại Mặt Trận Tổ Quốc quận Y. Mặt trận à? Cái tiệm chạp phô chuyên trưng bày hàng mẫu đầy đủ thượng vàng hạ cám ấy, từ kẻ chuyên làm nghề tôn giáo cho đến tên sĩ quan ngụy vừa học tập cải tạo về nằm chờ vượt biên, mẹ đương sự thuộc dạng hàng kiểu nào? Công tác gì? Công tác trốn núp dưới cái dù Mặt trận để đỡ bị công an phường khóm lưu ý hay dịch vớ vẩn vài ba trang tài liệu chữ Anh chữ Pháp để vất vào xó? Anh chị em ruột đều là công nhân viên nhà nước ư? 99% công nhân viên tại thành phố đều là người được Cách mạng lưu dụng. Ân huệ nhà nước đến mức đó là tận cùng rồi, còn thừa chút nào đâu để san sẻ cho anh em! Cha đương sự đã chết xin khỏi cần khai nghề nghiệp địa chỉ? Sao lại khỏi cần? Tại sao chết? Chết bệnh? Hay hy sinh vì tổ quốc? Hay vì là ác ôn nên phải đền tội? Nói chung các bản lý lịch do ủy ban nhân dân phường xã chứng thực đều không rõ ràng, mà không rõ ràng tức là khả nghi.
Hạng thứ hai gồm những bán lý lịch do chính công an địa phương chứng ký. Loại này tránh được các điều mù mờ thường gặp ở loại thứ nhất, nhưng nhận xét và đề nghị ghi bên dưới đặt ban tuyển sinh vào thế ngặt nghèo. Cô Trần thị Dung có mẹ là Huyền Tôn Nữ Thu Trang và cha là Trần Bá Cảnh thời Pháp thuộc làm cai khố đỏ. Ỷ cha mình đã chết bệnh từ 1944, cô Dung chừa trống chỗ khai nghề nghiệp và địa chỉ hiện tại của thân phụ. Trưởng ban công an phường 17 quận 6 đích thân ghi thêm bằng nét chữ xấu “cai khố đỏ” vào ô nghề nghiệp, và “chưa kịp trả nợ nhân dân ” vào ô địa chỉ. Bên dưới tờ lý lịch có lời nhận xét: “Con của thực dân phong kiến, đề nghị cho đi cải tạo lao động”. Gia đình vừa có con em đi lính ngụy vừa có người theo cách mạng như hầu hết gia đình miền nam ư? Phê ngay: “Nửa nạc nửa mỡ. Gia đình thuộc thành phần lưng chừng”. Một ứng viên hãnh diện khoe có anh đã từng tham gia tranh đấu trong phong trào sinh viên thành thị và từng bị Mỹ ngụy cầm tù. Nhưng qua đôi mắt nhà nghề, trưởng ban công an xã liền hỏi trên giấy khai sơ yếu lý lịch: “Trong tù có phản bội đầu hàng địch không? Cần xác minh trước khi thu nhận”. Tóm lại, trong hạng thứ nhì, hầu hết ứng viên đều trở thành kẻ thù của nhân dân, hoặc có thể đã là kẻ thù, kẻ phản bội.
Chỉ còn một số ít học sinh con em cán bộ từ Bắc vào hoặc từ bưng biền ra là có lý lịch rõ ràng, trong sạch. Số này lại quá ít, không đủ số định tuyển cho các đại học. Làm thế nào bây giờ? Bươi đống lý lịch kỹ chừng nào, công việc chậm chạp phiền phức chừng nấy. Mà không bươi không được. Đồng chí thủ trưởng nghĩ nát óc, vấn kế đủ mọi nơi mà chưa tìm được lối thoát.
Sáng hôm qua bị điện thoại thúc quá, ông định làm liều. Cho tốt hết. Rồi đề nghị suốt thời gian theo học, hiệu trưởng các trường dần dần cho xác minh lý lịch và loại những kẻ gian dối, man khai. Chưa kịp làm ẩu thì chiều hôm qua, Thành ủy đã gọi lên lưu ý tình trạng học sinh đại học bỏ trường vượt biên hoặc đã tốt nghiệp lại bỏ cơ quan ra bán chợ trời ngày một đông. Đồng chí bí thư gay gắt bảo: “Các đồng chí lo tuyển sinh tức là làm cái phần chọn giống. Phần quan trọng nhất đấy. Tương lai đất nước, tiền đồ của dân tộc nằm gọn trong tay các đồng chí. Các đồng chí làm ăn thế nào mà kết quả đáng ngại đến như vậy? Phải xem xét lại từ đầu. Từ đầu nghe chưa? Các đồng chí có hiểu tôi nói “từ đầu” nghĩa là gì chưa? Không. Không phải từ ban đầu! Từ “cái đầu” của các đồng chí đấy! Lập trường các đồng chí đã chao đảo chưa, phải rà lại cho kỹ. Nếu lập trường cách mạng vững, mắt các đồng chí sẽ sáng. Không có con em kẻ địch nào lọt vào đại học được đâu”.
Ðúng là một bản dự đoán thời tiết xấu cho cơ quan ông: “Tầm nhìn không xa quá 1 cây số”cho nên thế nào chiếc thuyền ông đang lái cũng gặp “gió cấp 7, cấp 8 “. Mưa lạnh, bão lớn sắp vùi dập sự nghiệp của ông sao?
Tối hôm ấy, Tivi chiếu lại tuồng “Thái hậu Dương Vân Nga “. Thái hậu Thanh Nga đã bị bọn cướp tống tiền bắn gục trên chiếc xe nhà ở đường Ngô Tùng Châu nên thái hậu Bạch Tuyết ra đóng thế. Tài tử đẹp, phông cảnh tráng lệ đắt giá, giọng ca điêu luyện! Nhưng vì mải lo nên đồng chí thủ trưởng chỉ xem lơ mơ. Ông khâm phục tài ba của các nghệ sĩ cải lương miền Nam tuy trong thâm tâm vẫn lợn cợn mối ác cảm với cô đào Bạch Tuyết. Một nhân viên lưu dụng của ông có mách rằng có lần Bạch Tuyết đã đội mũ lính GI xâm lược lên đầu để chụp hình đăng trên tờ Stars and Stripes. Tại sao lại chụp hình chung với lũ đế quốc, lại còn đội mũ mãng để quảng cáo cho chúng! Nhất định chúng đã chua thế này dưới bức ảnh: “Nghệ sĩ cải lương ưu tú nhất VN chào mừng các chàng GI”. Tại sao một đoàn ca kịch cải lương quốc doanh như đoàn Trần Hữu Trang lại thu dụng Bạch Tuyết? Tại sao Sở Văn hóa Thông Tin lại cho phép Bạch Tuyết lên Tivi? Lập trường của họ chao đảo rồi chăng? Những câu hỏi ấy khiến ông xem cải lương mất thú. Cuối cùng, ông chỉ khâm phục mỗi một mình tác giả kịch bản là Trúc Đường. Tài thật! Biến một người đàn bà lăng loàn may mắn được bọn sử quan phong kiến bỏ qua không hỏi tội ngoại tình thành một người phụ nữ ái quốc thức thời! Giới viết lách lách tài thật! Dẻo và khéo quá! Việc khó đến thế họ còn làm đưọc, còn ông? Ông nhớ đến bốn câu thơ của Bác:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Dời núi và lấp biển
Quyết chí cũng làm nên.
Việc ông đâu có khó? Bác đã thì thầm nhắc ông: Vì lòng không bền và chưa quyết chí nên ông lo âu đấy thôi! Vả lại cách mạng là sự nghiệp chung. Tại sao ông không tham khảo ý kiến các cơ quan bạn, như Viện Qui Hoạch, như Phòng tổ chức Thành ủy. Phải rồi. Ông có một người bạn thân hiện làm Viện trưởng Viện Qui Hoạch. Ông lú lẫn quá. Tại sao không hỏi ý kiến ông ấy. Tìm được giải pháp tốt, đồng chí thủ trưởng yên tâm đi ngủ. Lần đầu tiên từ 8 tháng về làm thủ trưởng ban tuyển sinh, ông ngủ ngon giấc.
***
Đúng một tuần sau cũng vào tối thứ bảy, đồng chí viện trưởng viện qui hoạch trung ương bồn chồn đi ra đi vô căn phòng rộng 20 mét vuông của mình ở đường Lý Nam Đế. Không khí nóng bức. Bên ngoài mây đen thấp xuống đe dọa những bóng đèn lù mù. Khi trời bắt đầu đổ mưa và gió dữ, ông phải đóng kín cửa lớn cửa sổ lại, và ngồi ở cái bàn con cạnh giường ngủ của vợ. Bên kia tấm màn vải hoa đã bị ố vài nơi vì mưa dột, ba đứa con ông đã ngủ say. Vợ ông có ý chờ xem tuồng chèo cổ thường chiếu trên Tivi vào mỗi tối thứ bảy, nhưng khi nghe loan báo có thay đổi chương trình vào phút chót do “sự cố kỹ thuật”, bà lật tờ Phụ Nữ Việt Nam xem qua loa rồi cũng ngủ nốt. Chỉ còn một mình đồng chí viện trưởng thức khuya. Bạn bè ông kháo nhau rằng vở kịch “Erostrate kẻ đốt đền” do Đoàn kịch nói trung ương trình diễn hay lắm, thâm lắm, nên ông rán chờ xem cho biết. Không phải ông bồn chồn chờ xem kịch. Ông không ái mộ nghệ thuật đến độ ấy. Ông chỉ muốn tìm cách nào đó để tạm quên chốc lát các điều phiền phức khó khăn ở viện.
Lúc vặn nút Tivi, ông gặp đúng mục Dự báo thời tiết “Trời ít mây. Buổi sáng có mưa vài nơi, buổi chiều trời nắng tốt. Tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển. Vịnh Bắc bộ: Tầm nhìn xa khoảng 10 cây số. Biển hơi động đến động. Gió cấp 2, cấp 3. Có nơi cấp 4… ”
Đồng chí viện trưởng hơi vui vui, gật gù nói một mình: “Bọn khí tượng thủy văn làm việc tiến bộ đấy chứ. Không bù với lúc trước lúc nào cũng dọa mưa với bão”.
Ông cảm thấy phấn chấn, quên hẳn vở kịch Liên Xô Người đốt đền và trở lại bàn làm việc. Ngọn néon 4 tất đêm nay như sáng hơn các đêm trước. Ông di di đầu bút bi vào miệng giấy thấm chuẩn bị ghi lại các đề nghị của mình thì điện cúp. Cúp thì cúp, cần gì. Lòng ta hồ hởi, chí ta bền, đèn dầu hỏa hay đèn néon ta vẫn làm việc được. Ông vừa húyt sáo vừa thắp cây đèn bão hiệu Minh Hoa của Trung Quốc.
Ngọn đèn vừa đủ soi sáng bao nhiêu vấn đề nan giải đang trải ra trước mặt ông. Phải làm sao đây? Không phải ông đã quên béng cái chìa khóa thần kỳ có thể mở tất cả mọi cánh cửa đóng: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phút huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng văn hóa tư tưởng, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt”. Ông nhìn quanh, lo ngại nhìn về phía vợ, rồi nói thầm: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!” Biết từ bao nhiêu năm nay, nhưng tại sao bao nhiêu chuyện cực nhọc hóc búa cứ đùn về cho viện ông? Tại sao năng suất đã không tăng còn giảm dần theo mức độ đáng ngại? Tại sao ở các hợp tác xã nông nghiệp, xã viên, và cả đảng ủy địa phương a tòng với nhau lén “khoán chui” đi ngược với chính sách nhà nước mà lúa nghĩa vụ đạt yêu cầu hơn các nơi theo đúng chính sách? Tại sao các kế hoạch thủy lợi ở các tỉnh phía nam đều vỡ, nhiều con kinh cấp l, cấp 2 tốn bao nhiêu công của đào lên lại phải lấp xuống? Tại sao đã ra chỉ thị dẹp bỏ các trạm thu thuế mọc như nấm trên đường quốc lộ mà trong chuyến vào nam vừa rồi, ông vẫn thấy mỗi tỉnh vẫn có luật thuế khóa riêng, giá cả nơi này chênh lệch quá xa với nơi khác? Tại sao đất hoang còn bỏ mặc cho cỏ lát cây dại mà dân thành thị vẫn sống bám vào chợ trời? Làm thế nào chận đứng nạn lãn công đang tràn lan khắp các cơ quan nhà nước và xí nghiệp quốc doanh? Làm thế nào chấm dứt hiện tượng xuất não nguy hiểm do phong trào vượt biên ồ ạt? Làm thế nào bài trừ tận gốc nạn tham nhũng? Làm thế nào hạ thấp số trại giam và tù nhân đang tăng vọt khắp nơi? Tại sao? Tại sao? Làm thế nào? Làm thế nào? Tại sao? Làm thế nào? Ông hốt hoảng hỏi liên tiếp và hãi hùng như tử tội hãi hùng nhìn chiếc máy chém. Ngọn đèn lụn dần trước mặt ông. Hết dầu rồi! Ông châm thêm dầu, và phải chờ khá lâu mới đủ ánh sáng đọc tiếp các đề nghị do viện qui hoạch địa phương và chuyên ngành gửi về. Tập công văn đề nghị dầy cộm, ông biết trước không cách nào mình đọc xuể. Phải tìm ra chiếc chìa khóa đơn giản và cụ thể hơn mới mong giải quyết được. Làm sao đây? Tìm ở đâu? Theo thói quen, mỗi lúc thối chí, ông ngước lên đọc bốn câu thơ của Bác do chính ông viết dán trước bàn làm việc:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Dời núi và lấp biển
Quyết chí cũng làm nên.
Phía trên cao, Bác đang mỉm cười khuyến khích ông. Cảm thấy yên tâm, ông lại moi óc tìm chìa khóa thần. Lúc đang lơ mơ suy nghĩ, mắt ông vô tình lướt qua lá thư của Tân, bạn cũ của ông, hiện làm thủ trưởng Ban tuyển sinh ở thành phố mang tên Bác. Ông đã đọc lá thư đó hồi sáng, đọc xong thấy khó chịu vì bạn ông lại nhờ ông trả lời những câu hỏi chính ông không trả lời được. “Tại sao như thế? Phải làm gì? Anh ở trung ương nắm vững đường lối chính sách (nhất là ở cơ quan có tầm nhìn chiến lược) mong anh giúp tôi. Phải nói đúng hơn là giúp chúng ta, giúp thế hệ thứ 4, thứ 4.5, thứ 5 để con cháu chúng ta có thể nối tiếp gìn giử thành quả cách mạng mà thế hệ tiên phong mở đường của Bác, thế hệ thứ hai của các chiến sĩ kháng chiến chống thực dân, thế hệ thứ ba chống Mỹ cứu nước đã đổ bao nhiêu máu xương mới đạt được”.

Rắc rối đây! Phiền nhỉ! Ông bạn xa thật láu cá! Dùng dao to búa lớn đế ràng buộc anh em, chơi độc thật!
Ðồng chí viện trưởng gạt hết xấp công văn sang một bên, đoc kỹ lá thư của ông Tân lần nữa. Đọc nửa chừng, ông reo lên:
A! Chìa khóa đây rồi! Sao ta lú lẫn thế! Chính Bác đã dạy: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Không lo đào tạo con người mới thì làm sao xây dựng thiên đường mới ngay trên quá đất này? Gợi ý của Ban tuyển sinh thành phố mang tên Bác thật đáng chú ý. Phải đặt vấn đề này lên ưu tiên hàng đầu.
Mừng quá, ông chạy đến lay vợ dậy. Bà vừa đi công tác ở nông trường bò giống Ba Vì trở về quá mệt nên nằm co quắp ngủ say, nước dãi nhểu cả ra mép. Viện trưởng thấy thế ngủ của vợ dễ thương, vệt nước dãi trở thành dấu hiệu của niềm vô tư thanh thản. Vợ ông càu nhàu gì đó trong miệng, rồi dụi mắt ngồi dậy. Ðồng chí viện trưởng lay vợ bảo:
– Mình ơi mình. Dậy tôi nói chuyện này hay lắm.
Vợ ông ngáp dài rồi hỏi:
– Cái gì thế? Có nhà ai cháy hở?
– Không! Tôi vừa tìm ra cái chìa khóa để giải quyết trọn vẹn bao nhiêu khó khăn trên toàn quốc. Mình thử nghĩ mà xem. Chỉ lấy đơn giản một trường hợp nhỏ: Làm sao cho các xã viên chịu sản xuất chứ không bỏ đi buôn chợ trời?
Bà vợ ngáp một cái thật dài nữa, rồi nói:
– Dễ quá. Có thế cũng gọi người ta dậy!
– Dễ à! Mình đáp đi.
Bà vợ bực mình ngồi ngay người nghiêm mặt hỏi chồng:
– Ðược. Nhưng trước hết mình trả lời tôi mấy câu hỏi ngắn thôi. Mình có thích ăn ngon không?
– Có. Ai lại chả thế.
– Mình có thích mặc đẹp không?
– Dĩ nhiên là có, nhưng…
– Khỏi cần thêm “nhưng, tại vì, tuy thế”. Mình có thích ngủ trên cái giường êm và ấm không?
– Có chứ, nếu…
– Khỏi cần “nếu”. Mình có thích ở biệt thự, có xe riêng không?
– Thì coi như có đi, dù rằng…
– Thôi đủ rồi. Trời sinh sao thì để vậy. Có ông thánh như Bác nhưng đời còn có nhiều người không phải thánh. Tại bắt mọi người làm thánh cả nên mới rắc rối.
– Lập trường em để đâu mà…
– Em có lập trường riêng dựa theo kinh nghiệm quan sát ở Viện nghiên cứu chăn nuôi. Trâu bò không có tư tưởng nhưng cách sống của nó cũng có “chính sách” đấy chứ.
– Mình nói gì tôi chẳng hiểu.
-Thôi em hỏi gọn lại: Anh tìm ra được cái chìa khóa gì nào?
Đồng chí viện trưởng hí hửng đọc câu danh ngôn của Bác, cho đó là chìa khóa mở tung cửa khó khăn của ông bạn Ban tuyển sinh.
Vợ ông trề môi hỏi:
– Nhưng muốn có toàn con người mới để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải làm sao?
Viện trường bí, lí nhí lặp đi lặp lại:
– Muốn có con người mới… muốn có con người xã hội chủ nghĩa… muốn có con người cộng sản thuần khiết… thì ta… thì ta…
Vợ ông bật cười:
– Thì hãy bắt chước cách em vẫn làm lâu nay!
– Cách gì?
– Cách dùng tinh đông viên để lai giống. Trâu Mura Ấn Ðộ, bò sữa Liên Xô, heo Cuba mình chỉ xin có vài con, thế mà hiện nay khắp các nông trường chăn nuôi, đếm không xuể.
Viện trưởng hồ nghi rụt rè hỏi:
– Trâu bò làm thế được, chứ con người…
– Con người thì sao? Vẫn là một loại sinh vật như trâu bò thôi. Em nghe nói hồi xưa bọn quốc xã Đức muốn các bà vợ lính ở quê nhà vẫn tiếp tục sinh ra những chú quốc xã tí hon để nối nghiệp cha anh, cũng đã dùng cách gửi các lọ tinh khí từ mặt trận về. Bây giờ khoa học tiến bộ, dùng tinh đông viên tiện hơn.
– Nhưng anh Tân khổ sở về chuyện khác cơ. Chuyện xét lý lịch để tuyển các học sinh ưu tú và vững lập trường vào đại học.
Bà vợ đáp ngay:
– Thì giải pháp của em cũng giải quyết được. Ta dùng tinh khí của những người cộng sản chân chính đã kinh qua thử thách, thì lý lịch bên cha tất phải tốt. Việc còn lại là lựa chọn những bà mẹ “ba đảm đang”, những “chiến sĩ gái kiên cường”.
Gợi ý của bà vợ mới mẻ quá, táo bạo quá, khiến viện trưởng sững sờ. Ông ngồi chết lặng hồi lâu. Điều khó nghĩ cho ông, là đề nghị ấy vừa quá hợp lý, vừa không hề trái với các nguyên tắc bất khoan nhượng của chủ trương chính sách như : “chuyên chính vô sản”, như “phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Nó lại phù hợp với cuộc cách mạng then chốt là cách mạng khoa học kỹ thuật. Suy nghĩ hồi lâu, ông đành phải gật gù:
– Mình cũng có lý. Thôi ngủ đi. Mai tôi thử trình phương án đó lên cấp trên xem sao.
***
Do ngẫu nhiên, thứ ngẫu nhiên Marx bàn rất chu đáo trong duy vật sử quan, bộ chính trị họp khẩn cấp vào tối thứ bảy. Trong khi chờ đợi các đồng chí đến muộn, những người đến sớm mở tivi xem chương trình đặc biệt cuối tuần. Ngẫu nhiên lịch sử lại khiến mọi người gặp đúng mục dự báo thời tiết. Cô xướng ngôn viên có giọng ngọt ngào êm ái đọc chậm:
“Dự báo thời tiết cho đêm nay và ngày mai: khu vực Hà nội trời quang đãng, buổi sáng có mưa phùn lấm tấm, chiều nắng đẹp tuyệt vời. Tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển: Vịnh Bắc bộ: Tầm nhìn xa trên 10 cây số. Biển hoàn toàn lặng, gió nhẹ cấp 1, có nơi cấp 2… ”
Ðồng chí tổng bí thư bật cười khen:
– Sau mấy kỳ kiểm điểm, chúng nó có khá đấy chứ.
Câu chuyện sau đó nổ như bắp rang. Khác với tưởng tượng của quần chúng lao động vẫn nghĩ cung cách họp hành ở cấp cao giống như kiểu cung đình phong kiến, ở đây không khí hoàn toàn thoải mái thân mật. Cách sống và làm việc giản dị của Bác Hồ đã trở thành mẫu mực cho lớp học trò kế nghiệp Bác. Do đó phòng họp là phòng khách ấm cúng của đồng chí tổng bí thư, người nào thích ngồi ở đâu, ngồi thế nào tùy ý. “Tài liệu hồ sơ đặt trên bàn nước, lót dưới cái gạt tàn thuốc làm bằng vỏ máy bay B52, vất trên đống báo Nhân Dân, kẹp trong tạp chí Cộng Sản hoặc nằm trên ghế piano gỗ bóng màu huyết dụ. Ngoài hai đồng chí thư ký của ban bí thư ăn mặc nghiêm chỉnh luôn luôn giữ thái độ cung kính lễ phép, tất cả mọi người đều ăn mặc xuề xòa, áo sơ mi ngắn tay bỏ ngoài quần, chân mang dép Nhật. Các đồng chí lãnh đạo đều mạnh khỏe nên tuy ngoài trời mưa giông gió giật, khí hậu rét căm căm, mỗi người chỉ quấn sơ một chiếc phu-la len mỏng. Cách xưng hô thân mật gọi nhau bằng thứ hai thứ ba y theo lối ăn nói của một gia đình nông dân miệt vườn Nam bộ. Chẳng hạn không ai cung kính “Thưa đồng chí tổng bí thư”. Chỉ nói thật gọn: “Thưa anh Ba”. Thế thôi! Cấp lớn xưng tôi gọi chú. Cấp nhỏ hơn xưng em gọi anh.
Các ban bí thư và đặc trách bắt đầu báo cáo tình hình chung. Ngoại vụ có vấn đề bình thường hóa quan hệ với Mỹ và các kế hoạch hợp tác toàn diện với Liên Xô anh em. Tổng công đoàn có vấn đề giải thích hiện tượng “công đoàn gọi là Ðoàn kết” ở Ba lan và tiên đoán các hệ lụy của nó. Nội vụ có vấn đề tìm kinh phí phát triển các trại giam và bù đắp lương thực lạm chi cho số phạm nhân gia tăng. Nông nghiệp đề nghị thông qua phương án khoán cây lúa xuống đến từng hộ để cứu vấn nạn khan hiếm ngũ cốc. Công nghiệp cũng xin khoán sản phẩm và trả lương theo thành quả sản xuất được. Vì được bàn cãi nhiều lần nên các vấn đề tưởng như hóc búa ấy được cho qua giữa những tiếng cười, ngụm trà ngon và tiếng nhai kẹo lạc rôm rốp. Gần khuya mà chưa có ai thấy lý do vì sao “anh Ba” triệu tập cuộc họp toàn Bộ chính trị thật khẩn cấp này. Mọi người chờ, chờ, chờ… Ðến khi anh Ba nhắc khéo hai đồng chí thư ký nên về ngủ để bảo vệ sức khỏe, mọi người mới biết giờ phút nghiêm trọng của lịch sử dân tộc đã đến.
Chờ cho hai đồng chí thư ký ra về xong, đồng chí tổng bí thư mới thân mật mời mọi người kéo ghế lại gần, rồi nói:
– Vấn đề này vừa quan trọng vừa ngộ nghĩnh, theo lối nhìn của từng anh em. Tôi thì không xem nhẹ nó chút nào, nên mới có cuộc họp này. Tôi phải bàn kín với anh em trước, rồi mới cho họp mở rộng sau. Việc tuy chung mà riêng vì liên quan đến sức khỏe và ý chí, tâm tình từng người, riêng mà hóa chung vì có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Chẳng những thế hệ thứ 4, thứ 4.5 như anh em thường nói đùa, mà có thể kéo dài đến thế hệ thứ 10, thứ 20. Để anh em được về nghỉ sớm, tôi đọc ngay phương án của Viện Qui Hoạch.
Anh Ba đọc xong, rất nhiều người ngẩn ngơ không hiểu mình đang nghĩ gì, sắp nên nói gì. Lâu về sau, có người thì thào:
– Họ đề nghị thật như thế ư?
Người thì hỏi:
– Họ nghiêm chỉnh đấy chứ?
Người thì hàng hai dò đường:
– Kể ra cũng không có gì sai chính sách lắm!
Ðồng chí tổng bí thư nói:
– Tôi đã đọc kỹ các sách kinh điển, và quả thật nhận thấy phương án không đi ngược với học thuyết Mác Lê. Nhìn theo đôi mắt duy vật biện chứng, nó còn phù hợp với đòi hỏi của lịch sử là đằng khác. Vấn đề chính là anh em ta có dám thực hiện hay không. Tôi tin rằng khi đồng chí Lénine đọc xong bộ Tư bản luận của đồng chí Karl Marx, đồng chí Lénine cũng ở cùng tâm trạng của chúng ta đêm nay. Dám hay không dám, đó là vấn đề.
Anh Ba nói xong nhìn quanh khắp mọi người. Chẳng hiểu do buồn ngủ, do lạnh, hoặc do hoang mang trước phương án táo bạo, mà mọi người đều ngồi co ro, hai vai so lại trong chiếc áo mỏng, dáng ủ rũ như những cụ già về chiều. Anh Ba chợt nhớ mọi người đều đã già, nhỏ nhất cũng trên 60, có người đi quá cái tuổi “cổ lai hi” từ lâu lắm. Một người vừa ho húng hắng vừa phều phào hỏi:
– Họ đề nghị làm thí điểm như thế nào?
Anh Ba lật qua nhiều tờ giấy, đến tờ cuối mới đáp:
– Có đây. Họ ghi vào phần phụ bản. Dĩ nhiên những người cha lý tưởng phải là các bậc cách mạng lão thành đã kinh qua nhiều thử thách, và có sức khỏe dồi dào.
Người vừa hỏi quên giữ ý, ngây thơ nói:
– Sức khỏe của chúng ta, của anh em ta, tôi sợ…
Anh Ba lừ mắt hỏi lại:
– Sức khỏe chúng ta thế nào? Chủ Tịch Mao trên 70 còn bơi nổi qua sông Dương Tử. Chẳng những bơi nổi, mà còn bơi nhanh hơn cả bọn trai tráng nữa. Ðáng lý chúng ta cũng phải làm cái gì tương tự như vậy. Đây cũng là một thử thách về ý chí cách mạng, đồng chí nhớ cho!
Từ lúc anh Ba gọi anh em bằng hai tiếng “đồng chí”, không khí trong phòng trang trọng nghiêm túc hẳn lên. Phương án được thông qua nhanh chóng. Dáng ngồi, cách nói của từng người trở nên trẻ trung, vững chãi, hùng hồn. Vấn đề còn lại là tìm những người cha lý tưởng cho thế hệ sau thế hệ thứ tư hiện tại. Người thứ nhất đề nghị giao cho các đồng chí tỉnh ủy viên. Ý kiến bị bác bỏ vì như vậy cuộc thử nghiệm sẽ mở rộng trên qui mô cả nước. Liệu dư luận quần chúng chưa tiến bộ, guồng máy chiến tranh tâm lý của bọn phản động, óc hẹp hòi bảo thủ của giới tu sĩ, và dư luận thế giới có để yên cho không? Trung Nam Hải, Hoa Thịnh Đốn, Rangoon, Kuala Lampur, Singapore, Jakarta, Manila, Roma, và có thể cả Mat-cơ-va nữa, sẽ nghĩ thế nào? Người thứ nhì nâng lên cấp trung ương ủy viên. Vẫn còn nhiều quá, thế nào cũng có lời ong tiếng ve. Dĩ nhiên làm kẻ khai phá bao giờ cũng đơn độc và thường bị đàm tiếu. Nhưng quan hệ ngoại giao hiện đang bất lợi không cho phép quá liều lĩnh. Ý kiến thứ ba đề nghị thu hẹp vào ban bí thư. Bàn qua tán lại cuối cùng chỉ còn một lối thoát độc nhất: “đã đứng mũi phải chịu sào”, đã đủ ý chí chiến thắng những cuộc thử thách đối đầu với bao nhiêu tên đế quốc sừng sỏ đủ màu đủ cỡ từ Nhật, Tàu, Tây, Mỹ cho đến bọn bành trướng Trung Nam Hải hiện nay, thì phải dư ý chí chiến thắng cái thứ thử thách cỏn con này.
Chân lý cách mạng quá đơn giản. Mọi người tuy trong lòng phần bực, phần lo, phần tức cười, nhưng ngoài mặt ai ai cũng tỏ ra lạc quan tự tín. Đồng chí tổng bí thư nhìn lên ảnh Bác, giọng bâng khuâng:
– Tiếc quá, nếu Bác còn sống với anh em chúng ta…
Những người còn lại đã từng nghĩ như đồng chí tổng bí thư, nhưng không đủ thế để nói ra một điều dường như bất kính, bấy giờ được dịp phụ họa:
– Ừ nhỉ! Giá Bác còn sống!
– Phải rồi. Được có Bác thì…
Rồi nghĩ đến sự yếu đuối chùn bước trước thử thách, không hẹn họ cùng hướng về phía bức sơn mài mầu đen có khảm xa cừ bốn câu thơ quí giá:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Dời núi và lấp biển
Quyết chí cũng làm nên.
Họ ra về lúc đã quá khuya. Xe của từng người có gắn máy sưởi ấm nhưng ai nấy đều lạnh run. Một phần khí hậu Hà nội không đúng như bản tin thời tiết đọc trên tivi, một phần do họ cứ lo âu vu vơ.
***
Phương án thử nghiệm được thực hiện đúng như đề nghị của Viện Qui Hoạch. Phòng tinh đông viên thuộc Viện nghiên cứu chăn nuôi trung ương được bí mật giao thêm một công tác mới. Hội Phụ Nữ Trung Uơng khẩn cấp họp kín để tranh cãi bình bầu 14 bà mẹ lý tưởng. Ở đây, hội phụ nữ đã gặp quá nhiều khó khăn khách quan. Luật sinh vật học dám ở ngoài biện chứng pháp nên không cho phép những chiến sĩ gái luống tuổi từng kinh qua nhiều thử thách có thể thụ thai, nên bắt buộc phải lựa chọn các phụ nữ dưới bốn mươi tuổi. Họ thuộc thế hệ thứ ba, thế hệ chống Mỹ cứu nước. Một số khá lớn từng sống nhiều năm trong rừng để làm hết đường mòn Hồ chí Minh bên Trường sơn tây lại đến Trường sơn đông, nên bị sốt rét kinh niên, tức là không hội đủ tiêu chuẩn sức khoẻ. Số xinh đẹp khoẻ mạnh lại bị mang tiếng lập trường chao đảo không dám xung phong đi B. Số ốm o vì từng bị tra tấn trong nhà tù Mỹ ngụy. Số quá to béo vì làm việc lâu năm ở cửa hàng thương nghiệp hoặc nhà hàng ăn uống quốc doanh. Số quá trẻ để có thành tích nghĩa là có lý lịch tốt. Số quá già để đủ sữa nuôi con.
Kình cãi gấu ó nhau mãi, cuối cùng Hội phụ nữ đã phải nhờ đến máy tính điện toán. Lựa cho được 14 người mẹ khó thật.Máy vừa lựa xong, một trở ngại mới lại xuất hiện: 7 trong số 14 người phụ nữ may mắn đã đăng ký ứng tuyển khi chưa hỏi ý kiến chồng. Gia đình suýt có cơ tan vỡ nếu 7 ban thư ký công đoàn không vội vã đến gặp 7 ông chồng cổ hủ để vừa giải thích, vừa đe doạ,.,vừa vuốt ve. Sức người hợp với sức máy cuối cùng đã hoàn thành sứ mệnh chu đáo.
Bộ Y tế phối hợp với Hội Bảo vệ bà mẹ và trẻ em chuẩn bị đầy đủ các phương tiện thăm thai, bảo vệ thai, đỡ đẻ, nuôi trẻ sơ sinh. Bộ Giáo dục chuẩn bị mở các lớp đặc biệt dành cho trẻ em xuất sắc. Một Ủy ban đặc biệt được thành lập để phối hợp công tác, theo dõi đôn đốc phần vụ các ngành ban cho nhịp nhàng và có hiệu quả cao nhất. Tóm lại, mọi sự đều sẵn sàng đến mức tối hảo, tối tối hảo.
Viện nghiên cứu chăn nuôi cử 14 chuyên viện xuất sắc nhất của Phòng tinh đông viên đến Hà nội lãnh công tác đặc biệt. Trước đó, họ được dự một khoá học tập chính trị 21 ngày, mỗi ngày được hưởng phụ cấp bồi dưỡng 50 đồng. Ăn ở tại khách sạn dành cho khách quốc tế. Đi lại có xe con của Bộ nội vụ. Họ phải tuyên thệ giữ bí mật trước khi nhận công tác.
Phương án sơ khởi của Viện qui hoạch chỉ có hai trang giấy đánh máy hàng đôi cỡ 21 x 27. Nhưng sau khi triển khai đầy đủ phương án gốc, tập tài liệu dày đến 200 trang đặc cỡ chữ nhỏ.
Tuy nhiên phương án chi tiết này quên một điểm then chốt: đó là quyết tâm của các đồng chí lãnh đạo trong Bộ Chính trị. Sau cuộc họp khẩn tối thứ bảy hôm đó, về đến nhà, các vị mới thấy mình vừa chấp nhận một cuộc thử thách kỳ cục. Kể cả đồng chí tổng bí thư. Nhưng ai là người đầu tiên dám thú nhận mình không còn đầy đủ sinh lực để tiếp tục hi sinh cho cách mạng? Ai? Mao Trạch Đông còn dám bơi qua sông Dương Tử giữa ban ngày trước mắt hàng triệu triệu người. Còn mình? Chỉ gắng sức một tí ở chỗ không có ai trông thấy, mà hiệu quả tuyên truyền chẳng kém gì hành động ngoạn mục của họ Mao, tại sao không dám làm?
Phải làm, tuy vẫn thấy kỳ cục, đó là vấn đề.
Cho nên có vị bèn nhờ anh tài xế lái xe riêng cho mình. Có vị đi nhờ anh cần vụ. Anh cần vụ không hiểu gì ráo vẫn thấy kỳ, đi nhờ lại những chỗ làm ăn ơn nghĩa lâu nay với anh, như cửa hàng trưởng cửa hàng lương thực đặc biệt, như trưởng phòng thương nghiệp, anh phụ trách vật tư, thủ kho xăng dầu, công an kinh tế…nghĩa là các chức sắc cấp trung nắm trong tay rất nhiều tiền, và có trong óc rất nhiều kế móc ngoặc bọn cửa quyền để thủ lợi.
Kết quả cuộc thử nghiệm ra sao?
Chính xác lắm. Và các bạn đọc đừng ngạc nhiên khi thấy sang thế hệ thứ 4.5, thứ 5, thứ 6…những người kế nghiệp thực sự nắm quyền lãnh đạo đất nước là anh tài xế cán bộ thương nghiệp, cán bộ vật tư xăng dầu, công an kinh tế…
Cha truyền con nối theo huyết thống mà.

Nguyễn Mộng Giác

PHỐ MƯA BAY

nguyendangtrinh

em vẫy mùa thu đến
vàng dấu hài thơ ngây
lạ hương trầm tháng chín
phố thơm chiều mưa bay

xinh xinh rèm mi biếc
chúm chím nét môi cong
có chút gì thân thiết
có chút gì như không

em nghiêng chi vành nón
cho héo đóa trăng mơ
ta nghe lòng thắc thỏm
một thoáng buồn vu vơ

chìa bàn tay vàng ngón
níu em vào trang thơ
ước gì em bé mãi
cô học trò hồn nhiên

chớp mắt thời con gái
như cánh gió qua hiên
còn nửa tình khúc cũ
ta hát nốt chiều nay
………..
áo em nhòa cuối phố
tóc vương đầy mưa bay…

nguyễn đăng trình

BÓNG – HÌNH

vinhhien

tôi hoang mang dứng giữa đàng
bên đông là biển, bên nam là trời
tôi loi ngoi giữa vực đời
thẳm sâu là tuệ, lăn trôi là thần
tôi hàm hồ níu xác thân
nẻo xa là mộng, nẻo gần là mơ
tôi long rong suốt mọi mùa
du ca hát vọng bên bờ tử sinh
tôi hoài tôi mãi lênh đênh
đường xa bắt bóng tìm hình lang thang.

VĨNH HIỀN