CÓ CHI LẠ KHÔNG ANH?

daolam
trưa núi
có chi lạ không Anh?
mà răng
nhơ nhớ mãi trong lòng
nhớ tách cà phê đen
đăng đắng
nhớ tiếng gà trưa
khan gáy khan
mưa núi
có chi lạ không Anh?
có chớm thu sang
ướt vai mềm
mây tràn đáy cốc
hanh hao nhớ
khói lạc vàng tay
vương vướng thêm
nắng núi
có chi lạ không Anh?
mà răng
nghe ươn ướt vai gầy
có tiếng thông ngàn
reo trong gió
em sợ vô tình
ai nhớ ai!
phố núi
có chi lạ không Anh?
vẫn hồn thơ dại
mắt môi xanh
em lùa ký ức
gom thương nhớ
thả xuống lòng Anh
lành giấc lành

LẠ THÌ CÓ LẠ PHẢI KHÔNG ANH?
LÀ LẠ TRƯA NI MỘT CHỖ NGỒI
CÓ CHI LÀ LẠ TRÊN MẮT NHỚ
MỘT CHÚT CAY NỒNG MÔI MẮT MÔI

DaoLam

NHẮN NHỦ BUỒN

tranvannghia

Cho tôi nắm lấy tay người
Một lần thôi để cả đời nhớ nhau

Lối về bước nhỏ xanh xao
Gió hôm xưa lạnh thổi vào chiều nay

May còn hơi ấm quanh đây
Dỗ lòng tìm lại hương ngày sắp qua

Xin em giữ chút tình xa
Về bên đó chỉ mong là chớ quên

Cho tôi nắm lấy tay em
Một lần thôi sẽ mông mênh đợi chờ

Nếu buồn tìm đến giấc mơ

TRẦN VĂN NGHĨA

HOA VÀNG TRƯỚC NGÕ

vudinhhuy

Nhà em có hoa vàng trước ngõ.Tường thật là cao có dây leo kín rào .Nhà anh cuối con đường ngoại ô,vách thưa đèn dầu thắp,gió lùa vào từng cơn.Tuổi em cũng như hoa mới nở,vạn người thầm mong,được đưa đón chân em .Xót xa anh vẫn trắng tay hoài,sách đèn nợ chưa dứt,nên lận đận truân chuyên …

Cái con bé thật lạ,tối nào trước khi ngủ cũng hát với hò,mà nó cứ hát đi hát lại mỗi một bài không biết chán.Đêm nào nàng cũng nghe, riết rồi nàng thuộc lòng bài hát luôn.Nhiều lúc nàng bực mình, muốn mắng nó nhưng lại thôi .Con bé thật thà,dễ bảo lại chăm làm.Thời buổi này không dễ gì có người làm như vậy. Nàng thở dài, gập lại quyển truyện rồi đi vào phòng tắm.
Nàng nhìn lên trần nhà,đêm nay rồi cũng sẽ như mọi đêm,trằn trọc và trằn trọc.Đôi lúc nàng thèm được như nó,cái con bé người làm í, đặt lưng xuống là ngủ nên cái mặt nó lúc nào cũng tươi hơn hớn.Lại thêm một tiếng thở dài . Chưa bao giờ nàng cảm thấy cuộc sống vô vị như lúc này.
Ừ thì ngày xưa nhà nàng cũng có một giàn hoa,giàn hoa màu tím rơi rơi và lung linh trước ngõ.Ngày ấy cuộc sống nhẹ nhõm và vui lắm.Cái xóm quê nho nhỏ có hai dãy nhà đơn sơ đối diện, ở giữa là con đường đất nện, cỏ mọc xanh rì. Đi theo con đường này là chiếc cầu tre bắc ngang qua con sông nước trong vắt.Lũ con trai trong xóm cứ trần truồng từ trên cầu nhảy xuống.Hồi đó nàng mới bảy,tám tuổi gì đó. Nhưng nàng đã biết mắc cở ,đi qua cúi mặt rồi chạy một hơi bỏ lại phía sau tiếng cười chọc ghẹo .Nhà nàng bốn chị em gái,sân vườn lại rộng,nên bọn con gái trong xóm hay tụ tập.Trong các trò chơi, nàng thích nhất là trò nấu ăn.Cái lò,cái nồi bằng đất sét nho nhỏ,cả bọn phân công,đứa nấu cơm,đứa nấu canh,đứa thì à ơi ru búp bê ngủ.Cơm canh chín dọn ra,những đôi đũa,chén bát nhựa nhỏ bằng đồng xu.Mặt đứa nào cũng ám khói,vừa ăn vừa nhìn nhau cười.Lũ con trai thấy vui xin tham gia,nhưng bọn nàng dứt khoát không cho.Có một vài thằng thèm thuồng đi qua đi lại.Tội nghiệp nhất là hai anh em trai ở đối diện nhà nàng cũng bắt chước mua đồ hàng về tập nấu.Cơm sống,canh mặn.Bọn con gái nhìn qua lêu lêu.Hai anh em nhăn nhó mặt mũi dính lọ,vui ơi là vui.Sau này nàng thấy tội nên nói bọn con gái cho tham gia.Hai anh em hiền lắm,sai gì làm nấy không nhiều chuyện như bọn con gái.Con trai gì mà hay mắc cở,đôi mắt người nào cũng buồn buồn.Người anh tên là Luân,người em tên là Lạc.Ừ thì luân lạc.Nàng thở dài.Đôi khi cái tên cõng theo số phận con người.
Trời ơi,con gái trong xóm cả bầy,hai anh em không dòm ngó ai lại cùng để ý nàng.Mà nàng đẹp chứ bộ.Nhiều lần soi gương nàng thẹn thùng với bóng mình.Năm í nàng đã mười sáu,mười bảy gì rồi.Cái trò chơi nấu ăn dính lọ đã xa tít tắp.Bấy giờ mỗi lần gặp hai anh em nàng đâu dám nhìn, cứ cúi mặt mà đi.Đêm đêm người anh hay ngồi dưới hiên ôm đàn hát. Những bài hát có ca từ rất buồn và nhắn gửi.Nàng nghe và hiểu. Nàng khép mắt lại mơ màng ,hình như có một vị Hoàng tử đang quỳ xuống cầu hôn và đeo vào ngón tay nàng chiếc nhẫn xinh xắn lấp lánh.Những ca từ hàng đêm đều đặn ru nàng trôi vào giấc ngủ đầy mộng mị.Người em thì dạn dĩ hơn,thường qua nhà nàng chơi nhưng không dám nói năng gì.Thỉnh thoảng còn bày vẽ mang trái cây sang nhà cùng ăn với mấy chị em.Cô em út của nàng vừa ăn vừa chọc.
– Trái cây ngon ghê,em cám ơn anh Lạc dí chị Hai há.
Tội nghiệp anh chàng ,mắc cở mặt đỏ phừng phừng.
Rồi tất cả biến theo sương khói.Gia đình nàng chuyễn đi Sài gòn.Lần hẹn hò đầu tiên và cuối cùng của nàng với người anh ở bờ sông.Cái nắm tay và nụ hôn đầu đời phớt qua trên má làm nàng run rẫy.Đêm ấy có người thấy và méc lại với má nàng.Nàng bị một trận đòn khủng khiếp trong đời.Nàng khóc nhiều nhưng không van xin.Có một điều gì đó, đau đớn và xa xót hơn đòn roi vừa đến lại tan biến đi trong trái tim nhỏ bé của nàng.
Những ngày tháng trên đất lạ quê người nàng buồn và nhớ lắm.Cho đến khi người đàn ông trong đời nàng xuất hiện.Đó là một người đàn ông lớn hơn nàng mười lăm tuổi,đầy kinh nghiệm và biết chìu chuộng phụ nữ.Sau này nàng mới hiểu,có những cái ngỡ như là tình yêu nhưng không phải tình yêu.Rồi cái thai mỗi ngày mỗi lớn,rồi đám cưới vội vã.Người đàn ông đeo nhẫn cho nàng không phải là vị Hoàng tử có ánh mắt buồn và giọng hát xa xôi.Nàng bật khóc.
Chồng nàng là người đàn ông thành đạt,với bạn bè ông rất dễ dãi và hài hước.Nhưng với nàng ông lại khắt khe.Sự chênh lệch về tuổi tác cọng thêm tính cách gia trưởng, dần dần từng bước ông biến nàng thành con búp bê trong tủ kính.Nàng lặng lẽ thực hiện bổn phận làm vợ như một cái máy.Năm con gái nàng lên mười.Những giọt nước đã tràn ly.Cuộc hôn nhân giữa ông và nàng chính thức tan vỡ.
Nàng trở lại thăm quê,cái xóm nhỏ đã biến mất như trong chuyện cổ tích.Quê bây giờ đã là phố.Người bạn gái cũ kéo nàng về nhà.Bao nhiêu là chuyện thăm hỏi,trách móc .Hai chàng Hoàng tử của nàng đã định cư ở nước ngoài. Người anh thỉnh thoảng lại về nước hỏi thăm nàng và…chưa lấy vợ.
– Người bạn gái chép miệng.
– Chắc anh Luân có nợ kiếp trước với mày.Thôi bây giờ mày tính sao,để tao cho mày số điện thoại của ảnh ha.
– Nàng đưa mắt nhìn bâng quơ .
– Thôi bà ơi,tụi mình già hết rồi,đứa nào cũng gần năm mươi còn gì nữa.

– Lan ơi,con ngủ chưa.
– Dạ chưa,có chuyện gì hông cô.
– Con pha ly café sữa mang lên sân thượng cho cô nghen.
– Dạ.

– Con hát cho cô nghe,cái bài gì con hay hát đó Lan.
– Con hát vui thôi mà cô.
– Kệ nó,con hát lại cho cô nghe đi há.
– Dạ.
– Nhà em có hoa vàng trước ngõ,tường thật là cao,có dây leo kín rào.Nhà anh cuối con đường ngoại ô,vách thưa đèn dầu thắp,gió lùa vào từng cơn.Tuổi em cũng như hoa mới nở,vạn người thầm mong,được đưa đón chân em.Xót xa anh vẫn trắng tay hoài,sách đèn nợ chưa dứt,nên lận đận truân chuyên…..Chiều nao pháo bay đầy trước ngõ,tạ từ người yêu,dáng hoa đi lấy chồng…
– Thôi,bữa nay cô thấy con hát làm sao á.
– Con bé đưa tay lên miệng.
– Dạ, tại con buồn ngủ cô ơi.
– Vậy hả,thôi con xuống dưới ngủ đi.
– Dạ.
– Bóng tối và sự yên lặng phủ lên người nàng . Một lúc sau trên môi nàng nở nụ cười thẹn thùng.Nàng chậm rãi lấy chiếc điện thoại rồi bấm số,bàn tay run run, những con số đảo lộn…như mây trời.

VŨ ĐÌNH HUY

hát dạo bên trời

trandzalu

Ôm nửa vầng trăng lạnh
ta về bên trời cao
hát điên đời hiu quạnh
chống gậy nhìn mưa mau

Tuổi nay gần tam thập
sống lẻ như đá mòn
bằng hữu mù tăm tắp
tình nhân như dao đâm

Mấy năm rồi không gặp
hồn nứt nỗi âm thầm
nhất túy buồn thêm đậm
ca ngâm vời cỏ cây

Cũng chỉ màu khói sương
ngẫm nghĩ hoài hương đỏ
mắt mờ đường chiêm bao
ngắt một cành hoa nhỏ
nhớ thu biếc hôm nào
hồn ta chao chớn gió
nay biết về nơi đâu?

DSC00012

TRẦN DZẠ LỮ (1973)

LẬP THU

tranthienthi

không có chiếc lá vàng nào xào xạc
không có con nai vàng nào ngơ ngác
mà trời vẫn lập thu

lá cây hạnh ngân di thực vẫn xanh
chỉ có em cảm lạnh từ ngày hôm qua
còn nằm ho thổn thức

không có cuộc chia tay nào đủ lý do làm dáng
chủ nhật liu điu chẳng màng ra phố
ngồi đây buồn lất lây

mùa thu còn ít ỏi trong ký ức lưu dân
cứ rộ lên như là bệnh cúm
cổ họng ngứa dần dần

trời mù chẳng chờ trăng mờ với trăng lu
chẳng biết còn sống nổi đến ngày đưa nhau về Huế
mà xem cây ngô đồng

chẳng có chiếc lá vàng nào lót cho em nằm
thôi thì chờ anh trải chiếu
thiên hạ bất cộng tri thu

những con nai vàng đổ dồn xuống phố
mùa lá rụng cô phụ chờ thay áo
rạo rực cùng bà tưng

rót rượu hoàng hoa mà đổ xuống rừng
vàng mắt dõi tìm nhất diệp lạc
thôi thì
em đi đâu thì đi

trần thiên thị

iPad Ai Biết? 

luuthy

Vừa rồi tôi có đọc một bài báo, dĩ nhiên là báo mạng vì đã từ lâu lắm rồi tôi chưa bao giờ đọc báo in, chỉ khi nào cần mua xe, kiếm nhà hay cái việc đang làm sắp lung lay mới chạy đi mua tờ báo. Báo mua xong, giữ mấy trang việc làm, rao vặt, còn lại bao nhiêu ném hết vô thùng rác.

Bài báo trên mạng kể chuyện một bà cụ Việt Nam sắp ăn mừng sinh nhật thứ 70 được cô con gái hỏi mẹ muốn món quà gì cô sẽ mua tặng. Bà cụ 70 tuổi không cần chần chừ suy nghĩ, trả lời ngay: “Con mua cho mẹ cái iPad Ai Biết gì đó!”. Cô con gái tưởng mình nghe nhầm hỏi lại, thì bà cụ xác nhận đúng là cái iPad rồi còn sợ cô con gái không hiểu, bà mới giải thích cho cô con gái rõ: “Nó nhỏ nhỏ như cái netbook 10 inch này, nó vừa mỏng vừa tiện lợi không cần bàn phiếm bàn phiếc chi cho cồng kềnh này, nó nối mạng vô net chả cần dây với nhợ này, không cần chuột chiếc gì cho mất công này, chỉ dùng mấy ngón tay quét quét như vầy như vầy, banh ra kéo vô như ri như ri là xong”. Bà còn sợ cô con gái mua lộn, nhắc đi nhắc lại, iPad 2 iPad thế hệ thứ nhì, đừng có ham rẻ mà ôm cái iPad đời cũ về cho bà.

Cô con gái giật mình ngạc nhiên, từ không ngờ tới bán tín bán nghi rồi cuối cùng cũng phải tin. Cô vừa mừng vừa buồn. Mừng vì biết mẹ mình vẫn còn trẻ chưa già, mừng vì bà mẹ già ở nhà thui thủi một mình còn có cái thú tiêu khiển, không còn cô đơn cô độc. Buồn vì thấy mình tuy tuổi còn trẻ mà đã lạc hậu bao nhiêu năm nay, như ếch ngồi đáy giếng, giậm chân tại chỗ, không update up điếc, không chạy theo đúng nhịp đập thời đại khoa học kỹ thuật hiện đại tiên tiến bây giờ.

Đọc xong tôi mới đưa bài báo này cho anh bạn vừa mới vào làm, tay đang sắp xếp đồ nghề linh tinh lên bàn làm việc. Anh bạn để ngay ngắn cái iPad thế hệ thứ 2, cái iPod nghe nhạc ngay dưới tấm hình bà vợ và đứa con gái, cái iPhone thế hệ mới nhất , cái iPhone 4 lên bàn. Anh bạn đọc xong, phấn khích lại kể lể cái câu chuyện cũ mèm mà anh ta hay kể. Cái sôi nổi thời anh ta còn trẻ, cái thời anh đam mê hăm hở với cái máy computer đầu tiên trong đời. Cái máy Commodore VIC-20 rồi Commodore 64, gọn gàng nhỏ nhắn tiện lợi, không cần monitor, chỉ việc gắn thẳng vào cái TV. Hết Commodore 64 rồi lại tới Commodore 128. Anh kể say kể sưa cái thời trẻ đam mê hăm hở với cái món đồ chơi điện tử đầu tiên của mình.

Anh bạn quên mất một điều! Cái thời Commodore 64 của anh, anh còn rất trẻ, còn cái thời iPad 2 của bà cụ, bà cụ đã 70. Cái tuổi 70 là cái tuổi xế chiều, cái tuổi không còn sốc nổi, hăm hở, khoe khoang làm dáng như cái tuổi của anh thời Commodore 64.

Bà cụ có thật sự muốn cô con gái mua cho cái iPad 2 để làm dáng, để lòe người khác như cái bài báo khác cũng được đăng trên cái trang mạng nào đó hay chăng? Bài báo của một ký giả người nước ngoài phỏng vấn người Việt trong nước về điện thoại di động. Nhà báo thắc mắc không hiểu lý do tại sao nhiều người bỏ ra số tiền lớn sắm cho được cái điện thoại di động mới nhất, phải có cho bằng được trong tay cái iPhone. Cái điện thoại di động không những mắc tiền mà còn phải có đầy đủ tất cả chức năng, lên net, gửi email, chụp hình, coi TV, … Người viết hỏi người được phỏng vấn dùng điện thoại di động mắc tiền để làm gì và cách sử dụng ra sao thì người được phỏng vấn trả lời chỉ dùng để gọi nói chuyện và hoàn toàn không biết cách dùng những chức năng khác ra làm sao.

Bà cụ 70 tuổi với cái iPad 2 này có phải như vậy hay không? Có phải muốn cô con gái sắm cho cái iPad 2 để lòe bà con hàng xóm láng giềng?

Tôi không nghĩ là như vậy!

Tự dưng tôi tưởng tượng bà cụ phải là người miền Trung, cái miền Trung “đất cằn sỏi đá, bốn mùa hối hả, vất vả quanh năm, nhuộm màu nắng gió”, máu trộn nước mắt quyện lẫn với mồ hôi. Quê hương bà phải nằm ven theo bờ biển dài xinh đẹp. Bà cụ đích thị phải ở ngay tại Qui Nhơn.

Hơn 30 năm trước, khi bà cụ chưa là bà cụ như bây giờ, cái tuổi chưa tới 40 mà đã một thân một mình chăm lo cho đàn con nheo nhóc. Ông chồng vừa chết trận chưa được bao lâu thì đứa con gái út ngỗ nghịch, cứng đầu cứng cổ nhất nhà biệt tăm biệt tích. Cái nỗi buồn của bà nhân đôi, nhưng bà cố dằn tiếng khóc, dìm cái nấc, nghẹn ngào mà chăm lo cho những đứa con còn lại.

Đúng cái ngày giỗ đầu của chồng, người phát thư ghé nhà đưa cái thư bảo đảm cho bà ký nhận. Cái thư có dán con tem nước ngoài, run run xé cái thư ra đọc mà bà khóc nức nở, ướt nhòe cái lá thư hình như chữ cũng đã nhòe nhoẹt nước mắt. Cái lá thư của cô con gái út mất tích gửi về. Bà vừa đọc vừa khóc, xong để lá thư lên bàn thờ cho ông chồng đọc. Từ đó về sau, xấp thư càng ngày càng dày và cứ mỗi lần thắp nhang cho chồng, bà lại lấy lá thư đầu tiên ra đọc lại. Những tờ thư càng ngày càng mờ, những giọt nước mắt mới rơi xuống che lấp những giọt nước mắt cũ đã khô.

Hai năm trước cái ngày sinh nhật thứ 70, bà lại khóc thêm một lần nữa. Bà ôm mấy đứa con, mấy đứa cháu đưa tiễn từ giã bà ở phi trường. Bà khóc nức khóc nở. Khóc vì sắp gặp lại, sum họp với đứa con gái út, khóc vì lại phải xa mấy đứa con đàn cháu mà ngày ngày lúc nào cũng quây quẩn bên bà. Bà không muốn chọn lựa, bà cứ để mặc cho cuộc đời tự nó mà trôi. Đứa con út nơi xa chưa muốn trở về, mấy con chị đàn cháu ngoại của bà đâu có dễ gì mà được ra đi. Chỉ có bà là dễ dàng, thôi hãy cứ “để gió cuốn đi, để gió cuốn đi”. Gió Đông Bắc sẽ đưa bà tới gặp đứa con gái út, rồi gió sẽ đổi chiều, ngọn gió Nồm sẽ mang bà về lại gặp mấy đứa con gái khác. Cuộc đời bà bấy lâu nay, đâu có cái nào mà bà được toàn quyền chọn lựa!

Bà cụ gặp được đứa con gái út, lại ôm nhau mà khóc. Sao cuộc đời bà bao nhiêu năm không có một nụ cười! Gặp lại đứa con tưởng đâu không bao giờ gặp lại, sao không cười to lên, sao không hét lên, sao không nhảy múa vui mừng, hay sao không quỳ xuống mà cảm ơn Trời Phật, tạ ơn Thiên Chúa, mà chỉ biết ôm xiết đứa con gái út mà khóc ròng. Mấy đứa cháu ngoại nhìn mẹ và bà mà tròn xoe đôi mắt ngạc nhiên, “Hai người lớn đang làm cái trò gì đây? Chả funny tí nào hết! What the heck! What’s going on!”

Giờ bà lại nhớ quay nhớ quắt mấy con chị, mấy đứa cháu bên kia!

Bà phải làm sao đây?

Tôi thấy hình như môi bà có hơi hơi mỉm cười. Hình như mắt bà đã nhìn ra được cái ánh sáng le lói mong manh ở cuối cái đường hầm.

Tôi thấy mỗi buổi sáng, khi bà thức dậy, đứa con gái út và chàng rể cùng mấy đứa cháu ngoại đã rời nhà. Chỉ còn bà là một mình ở nhà. Bà vào bếp, hâm lại tô cháo nấu bằng Oatmeal cô con gái đã làm sẵn cho mẹ, xong mang tới bàn ăn.

Bà ngồi ngay ngắn, để tô cháo trước mặt, kê ngay ngắn cái iPad thế hệ thứ 2 cô con gái vừa mới mua tặng cho ngày sinh nhật thứ 70. Bà nhìn đồng hồ, chờ cho cây kim ngắn chỉ đúng con số 8, bà mở máy nối mạng. Bà tằng hắng lấy giọng, sửa lại thế ngồi, mặt nhìn thẳng vào màn hình cái iPad rồi bắt đầu nói chuyện: “Mấy đứa bắt đầu ăn chưa? Đang ăn món gì đó? Thằng Linh chừng nào mới về?”.

Trên màn hình cái iPad, hiện lên cái bàn ăn với bao nhiêu người là người, lớn có nhỏ có đang xì xụp vừa ăn vừa nhao nhao giành nhau hướng về phía bà mà nói, cứ “Má… Má… Bà… Bà… Ngoại…Ngoại”.

Bà cụ yêu cầu cái iPad 2 cho ngày sinh nhật thứ 70 đơn giản chỉ là vậy. Bà không muốn khoe khoang, làm dáng ta đây. Bà chỉ muốn cái điều nhỏ nhoi nhất, cái điều riêng tư nhất. Bà muốn san sẻ tình cảm đồng đều cho cả hai bên. Cái giờ con cháu ở bên cạnh không có nhà bà dành cho mấy đứa bên kia, và cái giờ mấy đứa bên kia ngủ, bà dành cho đứa con gái út và mấy cháu bên này. Con cái đứa nào cũng như nhau, không trọng con cả hơn, không thương con út nhiều, không nâng niu chiều chuộng chỉ mấy đứa con thứ.

Tôi cứ tưởng tượng lý do bà cụ yêu cầu cái iPad 2 cho ngày sinh nhật thứ 70 phải là như vậy. Tôi chắc chắn phải là như vậy. Tôi có cố tìm cách hỏi cho được người viết bài để xác nhận là tôi đúng mà đành chịu, vì lâu ngày tôi không còn nhớ cái địa chỉ trang mạng có đăng cái bài này.

Còn bạn thì sao? Bạn thấy thế nào? Bạn có đồng ý với tôi không? Bạn thấy tôi tưởng tượng như vậy có hợp lý hợp tình hay không? Nếu như bạn tình cờ có gặp hay quen biết cô con gái của bà mẹ già 70 này, nhờ bạn hỏi thăm giùm tôi chút. Cảm ơn bạn thật nhiều.

Lưu Thy

ipad4

NHỮNG HÀNG GHẾ TRỐNG

dangkimcon

Cứ như thể có anh ngồi đâu đấy
Uống say từng ngày tháng lững lờ xưa
Để sóng gió trên lời ca run rẩy
Bồng bềnh em, nỗi nhớ cuộn bên bờ.

Có phải anh đang ngồi trước mặt
Mà lòng em không đến được bằng lời
Vâng , anh ngồi giữa những dòng nước mắt
Xuống ngàn trùng mặn ngọt, dấu yêu ơi.

Em vẫn hát trước những hàng ghế trống
Cho một người trong tim em nghe
Tiếng vỗ tay,em nghiêng mình chào mộng
Nghe buồn thiu giọt máu nửa đêm về

Thì cứ mặc nhạc xanh xao dạo đuổi
Triệu thanh âm không đầy tiếng yêu này
Hàng ghế trống, ánh đèn , bóng tối
Yêu dấu ơi, em lạnh quá, vòng tay

Em vẫn hát , đêm đêm em vẫn hát
Chút đợi mong, hạnh phúc đủ êm đềm
Khi ánh đèn cuối lời ca chợt tắt
Yêu dấu ơi, sao tối quá, hồn em…

ĐẶNG KIM CÔN

“GẤM” TRONG BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA

DSC00010

(Vài cảm nhận khi đọc “BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA” tiểu thuyết của nhà văn TRƯƠNG VĂN DÂN )
(cty vh Phuong Nam-Nxb Hội Nhà văn, 2011)

Đọc cuốn tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của nhà văn Trương văn Dân, tôi chợt nhớ lại những ngày còn đi học, hồi đó hai câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã làm tôi khắc khoải bởi ý niệm của con người ý thức số phận của mình là do thiên mệnh:
“’Bắt phong trần phải phong trần’
‘Cho thanh cao mới được phần thanh cao” (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Tôi đồng cảm với nhà văn Trương văn Dân về sự giải bày, chia sẻ tình yêu thương, những trăn trở về sự sống và số phận con người trong xã hội công nghiệp hóa và toàn cầu hóa. Tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” gần như không có cốt truyện, chỉ kể về tình yêu giữa người phụ nữ tên Gấm và người đàn ông nhà báo với miên man dòng cảm xúc, những suy tư, trăn trở về mối hiểm họa trong xã hội hiện đại mà con người phải gánh chịu. Qua bút pháp độc thoại nội tâm có pha lẫn thể loại ký báo chí, ông khám phá hiện thực cuộc sống và nỗi bất hạnh, nỗi lo sợ của con người trong xã hội hiện đại “Nó là hệ quả của một nhịp sống hối hả phi nhân của thời đại, nguyên nhân chính là sự gian tham và tàn ác của con người” , lập luận và đưa ra những lý do vì sao con người cần phải sống theo tự nhiên, ông đã gởi vào đó một khát vọng sống và yêu mãnh liệt của con người qua nhân vật Gấm và người đàn ông của cô.
Từ những giằng xé trong tâm hồn của một nhà văn đầy lòng trắc ẩn, ông đã xây dựng một nhân vật điển hình cho lòng khát khao sống và khát khao yêu trong xã hội hiện đại. Họ đã yêu nhau thiết tha và mãnh liệt giữa cõi đời này: “Cám ơn em, vì nhờ có em mà anh hiểu được một tình yêu vừa thánh thiện vừa mê say trên cõi đời này là có thật. Tình yêu đó vừa nhẹ nhàng, vừa mãnh liệt, vì chúng mình đã yêu nhau trong ý thức, trong vô thức và cả trong tiềm thức….”. Nhưng tình yêu của họ phải trải qua nhiều nỗi đau trong một xã hội xấu xa đầy dối trá và số phận Gấm là hệ quả của sự tham lam, ích kỷ, tàn bạo và sống thiếu trách nhiệm của con người.
Gấm đã cô đơn với cuộc sống từ tuổi thơ cho đến khi bám víu vào hai cuộc hôn nhân, và bi kịch hơn là cô đơn ngay với chính mình từ cuộc hôn nhân lần thứ hai: “…Đêm đêm nằm bên tôi, chắc anh ta chưa bao giờ nghe tiếng trái tim tôi quặn thắt”. Đã qua hai cuộc hôn nhân mà Gấm vẫn chưa tìm cho mình một tình yêu đích thực. Với lối viết tả ít nhưng gợi nhiều, ông đã gợi cho người đọc những nỗi niềm trăn trở với “nỗi đau thân phận con người và khuynh hướng tàn ác hiện nay của thế giới”. Ông đã viết, lý giải những điều trông thấy và những dự cảm của mình xung quanh cuộc sống, tập hợp những sự kiện, miêu tả từng chi tiết những phát minh của con người với nền khoa học văn minh, tiến bộ. Nhưng mặt trái những tiến bộ khoa học là sự khủng hoảng, là nỗi lo sợ, của con người trong xã hội toàn cầu hóa, được ông viết với những dòng cảm xúc khắc khoải đầy khát vọng: “…Trên thực tế có nhiều đường sá nhưng chỉ để bảo đảm nhu cầu mặt tiền và bán đất chứ không vì giao thông. Thành phố phình to mà không gian bị bế tắc về cảnh quan, môi trường và sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ.
Trong không gian chật hẹp, tập tính của con người bị dồn nén đang bị biến tính, sống kiểu tranh cướp nhau. Con người không còn băn khoăn về việc buôn gian bán lận, lừa lọc người khác và có khi còn xem đó là nghệ thuật sống. Cuộc tranh sống khốc liệt biến con người thành ích kỷ và hung bạo”.
Dưới ngòi bút của một nhà văn đầy lòng nhân ái, ông nêu ra “Những vấn nạn của xã hội trước xu thế toàn cầu hóa” và ông đã chỉ ra một cách nhẹ nhàng mà đầy tính thuyết phục về sự vô nghĩa và phi lý của xã hội công nghiệp hóa và toàn cầu hóa. Ông nêu những thành tựu khoa học ngày càng văn minh, tiến bộ, cuộc sống vật chất ngày càng cao….đồng thời cũng chỉ rõ những nhu cầu ích kỷ, tham vọng của con người “con người thì tham lam mà trái đất thì cạn kiệt”, để thấy rõ môi trường sống đã trở thành mối hiểm họa tự hủy diệt mình: “Các người đang khai thác hành tinh này như thể là không hề có ngày mai. Các người đã bán rừng. Bán đất. Hết bán trên mặt thì các người đào xới dưới sâu để bán. Các người đang bán những gì có thể. Bán tất tần tật. Kẻ bán thể xác, kẻ bán linh hồn, bán mãi đến khi không còn gì để bán và thế giới này đang bị hủy hoại cả vật chất lẫn tinh thần”
Mà suy cho cùng, tham vọng con người cũng không thể tách rời cái ác. Ngày nay, thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh… ngày càng tăng, đạo đức ngày càng suy thoái cũng chỉ vì tham lam, ích kỷ, xâu xé lẫn nhau để tranh giành địa vị trong xã hội…. và ông đã đau xót cho nỗi bất hạnh này: “Tôi chợt nghĩ là Gấm đã sống đủ và đau khổ cũng đủ. Biết đâu trái tim mẫn cảm của nàng không chịu nổi sự trần tục ở đời, không thích ứng với những mưu ma chước quỷ của thời đại, nơi con người “hiện đại” đang tranh sống và xâu xé nhau như dã thú”. Cùng đau với nỗi đau của con người, nhưng không buông xuôi mà ông đã có một thái độ sống đúng đắn, biết cảm thông và bao dung, ông khuyên con người “đừng tự xiềng xích mình vào nỗi bất hạnh” mà“hãy vui mà sống” vì “Hạnh phúc thật ra chỉ có trong những điều nhỏ nhặt”. Ông quan niệm về hạnh phúc con người trong cuộc sống cần phải có nhiều thứ, ví như người giàu, có quá nhiều tiền bạc, của cải mà thiếu văn hóa sống thì sẽ trở thành người bất hạnh: “Nghèo thì khổ, điều đó dễ thấy, nhưng giàu mà thiếu văn hóa sống thì cuộc đời cũng chẳng khác gì đâu. Cái khác là nghèo, từ thiện có thể cho, còn bất hạnh thì không ai giúp được”. Tôi nghĩ ông là người chịu nhiều ảnh hưởng bởi triết lý Phật giáo, nên khi viết về lòng yêu thương, ông đã viết với tấm lòng bao dung và độ lượng: “Người ta nói rất nhiều về tình yêu, nhưng lại thương yêu nhau quá ít…”, “Mỗi người chúng ta đều có thể mang nhân quả, liên kết với nhau từ bao kiếp trước, hãy lấy tình thương mà bước qua những khổ đau và oán hận….”. Hay như ông tự hóa giải, trên tinh thần “vô ngã” hay “dĩ tĩnh chế động” mỗi khi tỏ ra không tôn trọng một ai:“…không cần to tiếng hay cãi cọ, nụ cười có thể làm cho người ta thấy đau hơn nhiều. Nó làm cho người ta cảm thấy mình không tồn tại hay tồn tại mà không có trọng lượng gì trong mắt ”.
Đọc “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, ta nhận ra ở ông là một sự cảm thông chia sẻ, một nỗi ngậm ngùi, một niềm khắc khoải bởi lẽ ông luôn nghĩ đến niềm vui và hạnh phúc của con người, chiến tranh đã đi qua, con người lại tiếp tục đối phó với những đau khổ và bất hạnh bởi lòng tham, sân, si… Dù bị đe dọa bởi hiểm họa môi trường sống, nhưng vì cuộc sinh tồn con người buộc phải lao vào mà không thấy những hệ lụy đằng sau đó. Tưởng rằng đã thoát ra khỏi nỗi sợ hãi của chiến tranh, đẫm máu vì bom đạn thì nay con người lại phải đối mặt với những hệ lụy từ những cạnh tranh, giành giật, tận thu tài nguyên, phá hủy môi trường… Nó đã trở thành mối hiểm họa và đã làm cho kẻ thì bệnh tật, sống lây lất, người thì dùng mọi cách lừa lọc để tìm đến đỉnh vinh quang, thể hiện cái tôi, cái ta trong xã hội. Tác giả đã vạch rõ bản chất của những mỹ từ, những “ngôn ngữ hồ đồ, đánh tráo khái niệm” nhằm “che đậy những tư tưởng xấu xa” trong xã hội.
Viết về thân phận con người trong xã hội hiện nay, ông đã viết về nỗi đau cùng với nỗi khát khao của con người trong tình yêu:” Nỗi tủi nhục và bẽ bàng cứ bám riết tôi. Qua hai đời chồng mà tôi chưa hề tham gia tích cực trong quan hệ đượm vị ái ân. Tôi chưa bao giờ trở thành kẻ đồng lõa trong trò chơi mê cuồng, hoan lạc. Thân thể tôi sau nhiều năm ngủ yên, bản năng tắt lịm như con thú ngủ đông tưởng sẽ chẳng bao giờ thức dậy. Đó là vết thương đau đớn và bí mật mà tôi tưởng mình sẽ phải gánh chịu cho đến cuối cuộc đời”. Khi biết cái chết gặm nhắm dần sự sống, ông đã khắc họa tâm trạng dằn vặt, đau đớn của Gấm với hình thức độc thoại nội tâm thật vô cùng sâu sắc: “Mỗi thời khắc trôi qua là con Gấm sống và tự giết chết một phần của chính mình. Những tế bào này chết, những tế bào khác sinh ra. Con Gấm thay đổi, tự bác bỏ, tự mâu thuẫn, tự hoài nghi giữa đúng và sai, giữa chân lý và sai lầm… và đó chính là sự trưởng thành, là sự hoà nhập vào hiện thực cuộc sống thiên hình vạn trạng”.
Những ngôn từ đầy mỹ ý để che giấu hành động độc ác, những thành tựu khoa học văn minh từ sự đồi bại có chủ tâm … chẳng mang lại cho con người một cuộc sống an toàn, hay một tình yêu đích thực. Con người luôn phải đón nhận bi kịch này đến bi kịch khác trong kiếp nhân sinh. Bi kịch lớn nhất lúc này của Gấm là nỗi sợ hãi và cô đơn, nhưng khi đứng ở giữa lằn ranh của sự sống và cái chết, đối diện với chính mình, tư tưởng Gấm không chịu buông thả số phận mình theo định mệnh mà cô đã ý thức được về sự tồn tại của mình và hình như mọi động, tĩnh của cuộc đời đã làm cho cô nhận thức được cái Tôi trong cô: “Chỉ có sự nhận thức rằng mọi chuyển biến đều không tránh khỏi là còn ở lại. Và tôi thả rơi cái Tôi của mình trong cảm giác tự xóa mà không đau đớn, sẵn sàng hòa nhập và chìm trong mênh mông. Từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy khói sương. Tất cả núi sông, thành quách, nhà cửa….dưới trần gian bổng thu nhỏ lại, dần dần biến mất.
Tất cả chỉ còn là khoảng không. Vô tận và mờ ảo.
Bản ngã, vô ngã sắp hòa vào đại ngã”.
Đây cũng là thế giới nội tâm của ông khi nhìn lại chính mình, là giá trị nhân văn sâu sắc về lẽ tử – sinh mà ông muốn gởi gắm vào đó. “Vậy có phải đã ngộ ra được lẽ tử sinh? Đã lý giải được cái giới hạn vươn lên cõi vô cùng? Đã thấy được vô biên trong hình người hữu hạn?” .
Nhân vật Gấm đã diễn xong vai diễn của mình ở sân khấu cuộc đời với những bi, hài kịch đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố, lạc, dục. Những thứ ánh sáng điện đèn nhiều màu sắc rực rỡ, chớp nháy như ánh hào quang rồi cũng tắt, Gấm rời vai diễn, rời khỏi sân khấu để lùi vào bóng tối của cuộc đời, có thể sau đó sẽ có một ít người nhớ đến Gấm với những vai diễn hoàn hảo, mang lại cho họ những khoảnh khắc buồn, vui trong chốc lát : “Áng mây trên bầu trời kia sẽ không còn nữa. Như tôi chưa từng hiện hữu. Tôi sẽ trả lại nước mắt khổ đau cho đời. Tôi sẽ vứt bỏ hết mọi lạc thú, mọi thói quen và vĩnh viễn rời bỏ cuộc sống. Có lẽ chỉ còn lại những điều mà tôi suy nghĩ, từng cảm xúc và để lại nỗi nhớ trong lòng một ít người còn nhớ đến tôi”.
Nhưng rồi Gấm đã nhận thức được những giai đoạn mà đời người phải trải qua: sinh, lão, bệnh, tử, cho nên cô cũng không còn hoảng loạn, lo lắng về căn bệnh quái ác và cái chết cận kề, Gấm bỗng trở nên lạc quan và yêu thiết tha cuộc sống này, yêu nữa người mình tìm thấy như yêu một tâm hồn đồng điệu. Khát vọng yêu của Gấm, của một cuộc đời đang bước những bước tận cùng của số phận đã được ông viết ở đỉnh cao của cảm xúc: “cả hai tận hưởng dư vị trái cấm trong cảm giác say sưa. Rả rời và buông thả. Hình hài quằn quại như đớn đau nhưng hoan lạc vươn lên đỉnh điểm”.
Còn viết về tình yêu, tình dục, ông đã viết bằng một cảm xúc mãnh liệt từ sự rung cảm của trái tim, làm cho văn chương ông toát lên một vẻ đẹp quyến rũ và hướng đến giá trị chân thiện mỹ: “…Chúng tôi thường thủ thỉ những lời yêu thương, đến khi ngôn ngữ không còn khả năng chuyển tải và diễn đạt thì chúng tôi lại nói với nhau bằng thứ ngôn từ đơn giản nhất. Ngôn ngữ của thân xác. Ôi, từ trước đến nay tôi chỉ cảm nhận tình yêu bằng một sự chung đụng, có khi đau xót hay day dứt đến bẽ bàng, thì đây là lần đầu tiên tôi chứng nghiệm được sự tuyệt vời của tình yêu. Bằng tất cả yêu thương và sự thèm khát trong người đàn bà bấy lâu nay kìm nén, gìn giữ, bằng tất cả sự sung mãn và phát triển đang độ phì nhiêu nhất… tôi cùng anh hòa nhịp trong vũ điệu ái tình. Đắm đuối dìu nhau lên đỉnh điểm khoái cảm tột cùng. Hai thân thể quấn quýt nhau trong thứ ánh sáng của ngày mới, mang đầy màu sắc vừa hoang dã, vừa linh thiêng của thưở hồng hoang”.
Bỗng nhiên tôi liên tưởng đến cái tên “Gấm” mà ông đặt cho người phụ nữ trong tác phẩm này. Gấm là một trong những loại vải quý hiếm, áo gấm ngày xưa được coi là biểu tượng của sự giàu sang, phú quý, sự thành đạt trong con đường học hành và công danh. Trong Hán sử có câu “Phú quý bất quy cố hương như cẩm y dạ hành” (có nghĩa là giàu sang mà không trở về quê thì cũng như mặc áo gấm đi đêm). “Gấm” trong “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, có lẽ đó là sự chắt lọc tất cả những cái tốt đẹp và thuần khiết nhất của con người từ thuở hồng hoang, nhưng thân phận Gấm cũng là thân phận con người “ Tôi là kết tinh của sự bất hạnh hay là người phụ nữ được yêu….”, cuộc đời Gấm cuối cùng rồi cũng bị xô đẩy vào con đường bế tắc của số phận.

Bằng những cung bậc cảm xúc khác nhau và với một lối viết rất riêng, ông đã cho người đọc nhận ra hệ quả tất yếu từ những tham vọng của con người và ông đã viết đến tận cùng của cảm xúc về lòng khát khao sống và khát khao yêu của con người: “Vì chết chỉ là mở đầu của sự tái sinh nên chúng tôi ước muốn sẽ cùng nhau quay lại cõi trần gian. Bởi với tình yêu ngút ngàn Gấm đã dành cho, thì giữa Bồng Lai của chư thần và cuộc sống trần tục với tôi, chắc nàng sẽ chẳng đắn đo chọn bước thứ hai”.
Có lẽ là người xa quê hương rất nhiều năm, ông lại là một nhà văn rất gần gũi với cuộc sống đời thường, với tấm lòng bao dung, ông đã hóa thân vào nhân vật Gấm để gửi gắm những suy tư, trăn trở về thế sự, về cuộc đời, về số phận và nỗi bất an của con người. Ông viết và lý giải những điều mắt thấy tai nghe, phản ảnh đời sống xã hội và thể hiện nhân sinh quan trong những ngày tháng trở về quê hương sau 40 năm sinh sống ở đất Ý và đặc biệt là ông đã sống hết mình cho tình yêu.
Nhưng Gấm là ai? là ai mà đã làm ông phải khắc khoải, suy tư…. với rất nhiều cảm xúc đan xen trong suốt hơn 400 trang sách. Phải chăng đó là cảm xúc của ông, của một tấm lòng nhân hậu, của một con người sống có trách nhiệm với đời, với người, khi nghĩ về thân phận và cuộc đời của con người vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh lại phải sống chung với những vấn nạn xã hội về xu thế toàn cầu hóa; về bản năng sinh tồn và sự hủy diệt con người; về những mầm hy vọng chưa kịp lóe lên rồi chợt tắt trong niềm tuyệt vọng; về cuộc đời giữa mơ và thực, giữa tử và sinh, giữa hạnh phúc và khổ đau, giữa tình yêu và nước mắt, giữa xảo trá, quỷ quyệt và lòng trung thực…. Nỗi đau của Gấm trong tác phẩm này cũng chính là nỗi đau của nhà văn Trương văn Dân và cũng là nỗi đau chung của nhân loại, vì vậy ông đã chiến đấu với nó như nhà văn Ấn Độ Suzanna Arundhati Roy, một cây bút tích cực tranh đấu cho human right đã viết: “Trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế và đồng nhất hoá về văn hoá như hiện nay, nhà văn phải dấn mình vào cuộc đấu tranh chống lại những biến động chính trị, kinh tế, xã hội không phải với tư cách một chiến binh chuyên nghiệp, mà là với tư cách một con người biết động lòng trắc ẩn vì chân, thiện, mỹ. Chiến đấu bằng ngòi bút là cách tốt nhất mà một nhà văn có thể làm” ( Trích trong bài “Nhà văn trước mặt trái của toàn cầu hóa” của Arundhati Roy, bản dịch của Ngô Vũ)
Cho dù “Bàn tay nhỏ dưới mưa” không che nổi phận đời, phận người, nhưng có thể vẫy gọi khắp mọi nơi bằng tình yêu thương, bằng tấm lòng từ, bi, hỷ xả, để mọi người cùng nhau chia sẻ yêu thương, để con người rủ bỏ bớt lòng tham lam, ích kỷ, để chúng ta có được một cuộc sống thân thiện, an yên, biết đón nhận lấy những bất trắc trong cuộc đời và nhất là biết tha thứ để mang lại hạnh phúc cho nhau:
“Hãy yêu nhau đi quên ngày u tối
Dù vẫn biết mai này xa lìa thế giới
Mặt đất đã cho ta những ngày vui với
Hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời” (Nhạc Trịnh Công Sơn)

Qui nhơn, ngày 03 tháng 9 năm 2014
Trần Kim Đức

THẢM SÁT TẠI SÂN VẬN ĐỘNG QUI NHƠN

vulinhchau

1- DIỄN TIẾN ĐÊM LỬA TRẠI.

Trong suốt 15 năn dậy học tại thành phố ven biển này, một kỉ niệm mà tôi không bao giờ quên, một cảnh tượng đã ám ảnh tôi suốt cuộc đời. Đó là vụ Việt Cộng ném lựu đạn giết chết một nữ giáo sư, hơn 10 học sinh và làm bị thương khoảng 100 em học sinh và nhiều người khác tại sân vận động Qui Nhơn đêm 9 tháng Giêng 1972.
Theo lệnh của Đại Tá tỉnh trưởng Nguyễn Văn Chức, một đêm lửa trại đã được tổ chức tai sân vận động thị xã, qui tụ các đoàn thể thanh niên như Hướng Đạo, Gia đình Phật tử, Thanh niên Hồng thập tự và học sinh của tất cả các trường trung học trong thị xã. Sân vận động đã được chiếu sáng bằng nhiều ngọn đèn pha cực mạnh. Một đống lửa lớn được đốt giữa sân, các chương trình văn nghệ sẽ được trình diễn tại đây. Học sinh và các đoàn thể thanh niên xếp hàng chung quanh đống lửa này. Đại Tá tỉnh trưởng ngồi trên khán đài của sân vận động. Nữ tu hiệu trưởng của trường chúng tôi và một nữ tu phụ tá cũng ngồi trên khán đài này cùng với các vị hiệu trưởng và các quan khách khác. Riêng tôi, như thường lệ, có nhiệm vụ trực tiếp hướng dẫn và ở bên cạnh các em nữ sinh của trường.
Các nữ sinh của trường Nữ trung học công lập Ngô chi Lan và các nữ sinh của trường Nữ trung học tư thục Trinh Vương chúng tôi được điều động làm hàng rào danh dự từ cổng sân vận động vào đến khán đài để nghênh đón Đại Tá Tỉnh Trưởng. Chập choạng tối, còi hụ rền vang, đoàn xe của Đại Tá Tỉnh Trưởng tới, ông và tất cả các chiến sĩ cận vệ đều được trang bị như là đang đi hành quân ngoài mặt trận, tất cả đều mặc áo giáp, đội nón sắt, súng M 16 lăm lăm trên tay, nòng súng chĩa thẳng lên trời.
Chung quanh đống lửa, nữ sinh trường chúng tôi được sắp xếp cạnh trường nữ trung học công lập. Về sườn phía đó thì yên tĩnh, nhưng sườn phía bên kia, cạnh một đơn vị con trai, thì xem ra có đôi điều không ổn, hơn nữa chúng tôi lại ở cuối gió, càng khuya, gió càng lớn, sợ tro than từ đống lửa làm cháy áo dài của các em. Nhất là vì chương trình văn nghệ cũng đã khá lâu, trời đã về khuya, hơn 9 giờ đêm rồi, chưa thấy con em về, sợ phụ huynh lo lắng, nên tôi quyết định dẫn tất cả các em ra xa chỗ trình diễn văn nghệ, bên cạnh một chùm đèn sáng sủa, xa khoảng 100 mét. Cho các em sắp hàng ngay ngắn và điểm danh xong, tôi liên lạc với trường để cho xe đến đón các em về. Vì phía sau các chùm đèn, ánh sáng không được đầy đủ, nên tôi đã sai hai em nữ sinh lên khán đài mời Bà Hiệu trưởng và nữ tu phụ tá xuống để cùng với tôi trông coi các em và chuẩn bị lên xe về trường luôn thể.

2- GIÂY PHÚT ĐỊNH MỆNH.

Trời về khuya đã bắt đầu trở lạnh, tôi ngồi trên chiếc Honda phì phèo hút thuốc. Loa phóng thanh loan báo đến mục Đại Tá Tỉnh Trưởng xuống sinh hoạt với học sinh cạnh đống lửa. Xướng ngôn viên cũng mời tất cả quan khách trên khán đài cùng tháp tùng Đại Tá. Rất may là hầu hết quan khách vẫn ngồi yên tại chỗ vì biết đó chỉ là lời mời lơi cho có lệ.
Tôi hút chưa tàn điếu thuốc thì em Nguyễn ngọc Tôn, đoàn trưởng đoàn Thanh niên Hồng Thập Tự từ trong vòng lửa vội vã chạy ra nói với tôi rằng Giáo sư Tạ quang Khanh, cố vấn của đoàn Thanh Niên Hồng Thập Tự, mời tôi vào để chụp một tấm hình kỉ niệm với ĐT/Tỉnh Trưởng. Tôi nhất định từ chối, vì tôi không thể bỏ các em nữ sinh để đi được, dù chỉ là vài phút. Không hiểu tại sao, lý lẽ đã rành rành như vậy mà em Tôn vẫn không chịu nghe, cứ chần chừ năn nỉ mãi – và chính những giây phút lấn lá này đã cứu mạng em. Đại Tá Tỉnh Trưởng đã bắt đầu hát, em mới chịu chạy mau về phía đống lửa.
Tôi còn nhớ rất rõ, đêm hôm ấy, Đại Tá một mình vừa đệm guitar vừa ca bản Làng Tôi.
Đại Tá đang say sưa hát: “Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh, có sông sâu lơ lửng lượn quanh, êm xuôi về nam. Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau, khóm tre…” thì một tiếng nổ chát chúa vang lên giữa đống lửa trại. Tiếng ca, tiếng đàn và vạn vật đều đột nhiên im vắng hoàn toàn. Theo phản xạ tự nhiên của một người lính, tôi lăn ngay xuống đất, rồi hét lớn như đang ra lệnh cho các Sinh Viên Sĩ Quan ngày trước, lúc tôi còn làm Sĩ quan cán bộ tại trường Bộ Binh Thủ Đức:
– Tất cả nằm xuống.
Các em nữ sinh thì vẫn đứng im, hàng ngũ vẫn chỉnh tề, có lẽ vì quá ngạc nhiên và cũng là lần đầu tiên trong đời nên các em chẳng biết phải phản ứng ra sao. Mấy phút sau mới hoàn hồn, ôm chặt lấy nhau mà run rẩy. Tôi thì nhớ lại, những lần trước đây tại Sài Gòn, Việt Cộng thường chờ cho các toán cấp cứu tới, rồi khai hỏa trái mìn thứ hai, nên lại hét lớn:
– Chắc là lựu đạn hay mìn định hướng. Coi chừng còn một trái nữa.
Nhưng chắc các em vẫn chẳng hiểu tôi đang nói gì, nên chỉ biết ôm nhau mà khóc. Bà Hiệu trưởng và mọi người cũng vừa hốt hoảng chạy tới. Tôi dẫn tất cả ra đường lớn bằng lối cổng sau để chạy bộ về trường vì cũng chỉ cách xa khoảng chừng mươi phút.

3- VIỆC TẢI THƯƠNG

Tôi trở lại, nổ máy xe Honda, phóng về phía đống lửa. Một cảnh tượng hãi hùng mà suốt đời, tôi không bao giờ quên, không bao giờ phai nhạt khỏi trí nhớ. Người chết và bị thương đã xếp thành một vòng tròn chung quanh đống lửa, tròn trịa giống hệt như là bất cứ buổi lửa trại thông thường nào khác còn đang trong lúc sinh hoạt. Đại đa số thương vong là các em nhỏ thuộc các đoàn Ấu Sinh và Sói con của Gia đình Phật tử, Hồng Thập Tự và Hướng đạo. Lý do là vì các em đã được ưu tiên xếp hàng ở vòng trong, chung quanh đống lửa để coi văn nghệ cho rõ. Hơn nữa, đây là trái lựu đạn M 26, loại lựu đạn có tới 3,600 mảnh nhỏ, mỗi mảnh chỉ lớn hơn đầu que tăm, được chế tạo với chủ đích sát thương nhân mạng tối đa. Với vòng người dầy đặc chung quanh đống lửa như vậy, coi như tất cả mọi miểng của trái lựu đạn này đều đã ghim trúng thân xác con người. Số thương vong là các em nhỏ còn cao hơn nữa là vì đúng vào lúc đó, TV tạm ngưng chương trình cải lương để đọc tin tức và bình luận, nên một số các em nhỏ cư ngụ chung quanh sân vận động, nhất là tại khu thương phế binh cạnh đường Võ Tánh, nghe loa phóng thanh loan báo Đại Tá Tỉnh Trưởng sắp xuống đàn hát giúp vui, các em đã chạy ùa vào sân rồi len lỏi sát tới vòng lửa để coi cho rõ. Hầu hết các cháu bé này cũng đều đã chết hoặc bị thương nặng vì ở quá gần trái lựu đạn.
Khi tôi tới nơi, ngoài số người chết và tiếng rên la kêu cứu của các người bị thương đang nằm la liệt chung quanh đống lửa, sân vận động hoàn toàn trống vắng. Vì quá sức kinh hoàng, nên tất cả những ai còn khỏe mạnh đều đã thoát chạy đi hết. Tuy nhiên cả sân vẫn được chiếu sáng đầy đủ như trước, các chùm đèn pha vẫn hoạt động bình thường vì mỗi chùm đều có một máy phát điện riêng. Thấy xe tôi trờ tới, mọi người nhao nhao kêu xin tôi cứu chữa. Một số các em trai còn khỏe mạnh đã nhào lên, bám chặt phía sau xe Honda của tôi. Tôi chẳng biết phải xử trí ra sao, lại sợ mọi người khác sẻ ùa lên bám kín lấy chiếc xe, nên tôi đã rồ máy, tính chở các em thẳng tới bệnh viện. Ra tới ngã tư đường phố, tôi chợt nghĩ rằng chở như thế này, các em yếu sức sẽ rớt xuống đường mà chết, nên tôi ngừng lại, đậu xe giữa đường, một chiếc xe jeep nhà binh trờ tới, tôi chặn lại và nói vắn tắt:
– Nổ trong sân vận động, chết nhiều lắm, chở dùm các em này đến bệnh viện.
Mấy người lính trên xe chưa kịp trả lời thì các em bị thương đã nhào lên xe và người tài xế rồ ga phóng đi.
Thấy có kết quả, tôi vẫn đứng im chỗ cũ, chặn mọi chiếc xe qua lại, hầu hết là xe nhà binh. Tôi nói vắn tắt như trước và yêu cầu họ vào trong sân vận động cứu người. Hầu như tất cả đều hưởng ứng. Nhiều em Hướng Đạo và Phật tử, Hồng Thập Tự vừa chạy thoát từ sân vận động ra còn đang lảng vảng gần đó, thấy vậy cũng xuống đường phụ với tôi. Em Tôn cũng xuất hiện. Tôi nghĩ tới Giáo Sư Tạ quang Khanh nên bảo Tôn vào ngay sân vận động tìm thầy Khanh và các đoàn viên Hồng Thập Tự bị thương rồi chở tất cả tới thẳng Nhà thương Thánh Gia, vì tôi biết anh Khanh rất thân với các dì phước người Mỹ tại đây.
Ngoài Nhà thương Thánh gia, thị xã lúc đó còn có ba bệnh viện lớn khác là Dân Y viện, Quân Y viện và bệnh viện dã chiến của quân đội Mỹ. Đặc biệt, quân y viện của Mỹ này đã đóng góp một phần rất quan trong trong việc làm giảm bớt số người tử vong. Vì vào thời gian đó, Bộ binh của Mỹ không còn trực tiếp tham chiến nữa, nên số thương binh ở bệnh viện gần như không có, trong khi các Bác sĩ và phương tiên cấp cứu vẫn còn đầy đủ. Do vậy, tuy số người bị thương là trên 100, nhưng chỉ có trên 10 người chết, gồm một giáo chức và khoảng 10 em học sinh.
Chừng 15 phút sau, tiếng còi xe cứu thương gầm rú từ mọi phía bắt đầu ùa tới sân vận động. Hầu hết các xe đã vào cứu người do chúng tôi hướng dẫn lúc trước, đều cũng đã trở đi trở lại nhiều lần. Quân cảnh, cảnh sát, nhân dân tự vệ, cùng các lực lượng an ninh bắt đầu xuất hiện mỗi lúc một đông.
Tôi nổ máy xe, chạy vọt về nhà, chỉ cách đó vài block đường, ngừng xe ngoài cửa rồi hét lớn vào nhà:
– Nổ tại sân vận động, chết nhiều lắm, anh không sao, trường mình cũng không sao. Anh phải đi cứu người đây. Khuya lắm mới về.
Tôi lại quay vội ra sân vận động. Nhưng nhân viên công lực đã chặn mọi ngả đường, không cho ai qua lại. Dòng xe cứu thương, kể cả của quân đội Mỹ, đã từ khắp nơi ùa tới, hụ còi và chiếu đèn sáng rực suốt con đường Võ Tánh là đường chính dẫn tới các bệnh viện. Dân chúng hiếu kì và phụ huynh học sinh vây kín chung quanh ngã tư trước sân vận động và dọc theo đường Võ Tánh. Tôi biết rằng dù có vào trong lúc này cũng chẳng giúp được việc gì, nên cũng chỉ biết bồn chồn đứng nhìn như mọi người.
Sau này chúng tôi mới biết, vì sau khi bị thương, trung bình các em đã phải chờ đợi khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ mới được cứu chữa, nên hầu hết các em đã chết vì mất máu. Đường bộ từ sân vận động đến các bệnh viên xa khoảng từ 15 tới 20 phút lái xe. Hơn nữa, lúc đó mọi người đều hốt hoảng và hoang mang cực độ, vào thời gian này, phương tiện liên lạc còn rất thiếu thốn hạn chế, việc chuyên chở nạn nhân tới các bệnh viện hầu hết lại là tự phát, không thể điều hợp chỉ huy thống nhất được. Do đó, phần lớn nạn nhân đều đã được chở tới Dân Y Viện, nằm sắp lớp dọc theo hành lang. Các xe chở người vì thấy ngoài sân vận động, số nạn nhân còn quá đông, nên cho các người bị thương xuống hành lang xong là lại vội vã vọt trở ra ngay. Vì vậy, phòng cấp cứu của Dân Y Viện đã trở tay không kịp. Một số khá đông các em khác đã may mắn thoát chết vì được chở thẳng tới Nhà thương Thánh gia, Quân Y viện, nhất là Bệnh viện dã chiến của Mỹ. Khi được Dân Y viện kêu cứu, ba bệnh viện kia đã tới tiếp tay, chở bớt nạn nhân về cứu chữa, nên số tử vong đã giảm đi rất nhiều. Tôi biết gia đình anh chị Liên, nhờ có chiếc xe Jeep riêng, nhà lại ở gần ngay sân vận động, nên hai vợ chồng đã phóng tới Dân y viện, tìm kiếm trong đống xác người dọc theo hành lang, một số đông vẫn còn đang hấp hối, cả nửa giờ sau mới gặp được cháu bé và đã lanh trí chở ngay cháu sang Quân Y viện nên đã cứu kịp.
Rất nhiều người khác không được may mắn như vậy, vì vào thời gian đó, điện thoại tư gia cũng gần như chưa có, đại đa số phụ huynh, nếu nhà không ở gần sân vận động, đều không thể hay biết để đến Dân y viện tiếp tay cứu chữa con em kịp lúc như anh chị Liên.
Trong số những người không may đó có cô Yến, giám học trường Nữ Trung Học công lập, cô cũng là phu nhân của thầy Tạ quang Khanh. Khi Đại Tá Tỉnh Trưởng xuống sinh hoạt bên đống lửa, cô Yến ngồi phía trước, vì trời rất lạnh, nên cô Tùng, một nữ Giáo sư cùng trường, ngồi phía sau, cô Tùng đã ôm chặt cô Yến để hai người cùng ấm. Khi lựu đạn nổ, cô Yến đã che chắn cho cô Tùng hoàn toàn, cô Yến tử thương, cô Tùng chỉ bị thương nhẹ ở miệng. Trong lúc hoang mang cực độ, tôi đã không nghĩ tới cô Yến, chỉ nhắc các em chở Thầy Khanh xuống Bệnh viện Thánh Gia, nên người ta đã chở cô Yến tới Dân Y viện và cô cũng đã chết vì mất máu.
Riêng thầy Khanh, theo lời em Tôn kể lại, thầy bị rất nhiều mảnh ghim vào bụng, khi các bác sĩ hút nước tiểu ra và thấy không có máu, họ đã cùng reo lên, vì nếu có máu, tức là đã bị lủng bọng đái thì sẽ vô phương cứu chữa. GS Khanh đã bình phục sau khoảng vài tuần lễ, nhưng vấn đề gai góc nhất cho mọi người là làm cách nào để ông đón nhận về tin cái chết của chị Yến một cách không quá ngỡ ngàng đau khổ, nhất là ba đứa con của họ đều còn rất nhỏ dại và chị Yến lại đang mang bầu đứa con thứ tư…
Đại Tá Tỉnh Trưởng đã lên truyền hình vào tối ngày hôm sau để trấn an đồng bào, ông cho biết chỉ bị vài vết thương nhẹ. Mọi người đều biết là Đại Tá và các người trong đoàn tùy tùng đã thoát chết là nhờ mặc áo giáp và đội nón sắt, nhưng rất có thể chính ông thì lại nghĩ khác. Tối ngày hôm trước, khi ra nghênh đón Đại Tá tại cổng sân vận động, tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy một vị sĩ quan cận vệ của Đại Tá trịnh trọng mang theo một thanh trường đao lớn bằng gỗ, có cán dài, thanh đại đao đã được sơn son thiếp vàng láng bóng, loại mà chúng ta thường thấy trưng bày trước cửa chính của các đền miếu. Vị sĩ quan cận vệ này đã rất nghiêm chỉnh giơ cao thanh đại đao để dẫn đầu phái đoàn vào sân vận động. Tôi nghĩ bụng, chắc là Đại Tá sẽ dùng thanh đại đao này để làm phần thưởng cho trường nào trình diễn văn nghệ xuất sắc nhất. Nhưng sau khi Đại Tá thoát chết thì danh tiếng của thanh trường đao linh thiêng này mới được loan truyền và mọi người mới biết đó là bùa hộ mạng mà Đức Thánh Trần đã ban cho Đại Tá!

4 – PHE TA GIẾT PHE TA?

Vụ tàn sát các em học sinh tại sân vận động Qui Nhơn này cũng là một tội ác rất ghê tởm dã man của Việt Cộng, dã man và tàn bạo hơn hẳn vụ chúng pháo kích vào sân trường tiểu học sát hại các em học sinh tại Cai Lậy, man rợ và tàn ác không thua gì trong tết Mậu Thân tại Huế. Tại vì trong vụ tàn sát tại Qui Nhơn này, tuy số nạn nhân ít hơn ở Huế rất nhiều, nhưng vì Việt Cộng đã cố tình giết hại các em học sinh ngây thơ và hoàn toàn vô tội, đa số là các cháu còn rất bé nhỏ. Những em chết đi đã đành, nhưng còn rất nhiều em sống sót đã phải mang thương tật suốt đời. Đáng thương nhất là các em nữ sinh, vì miểng lựu đạn, vì than củi và đất đá văng trúng, nhiều em đã bị mù cả hai con mắt suốt đời. Người em trai của Nguyễn Ngọc Tôn bị nhiều mảnh lựu đạn ghim vào háng, cho đến nay em vẫn chưa có gia đình.
Nhưng, một chuyện khác cũng rất đáng đau buồn, đó là hành động tội ác dã man này của VC đã rất ít được đồng bào Miền Nam biết tới, báo chí tại Sài Gòn và ngay cả các cơ quan truyền thông của chính phủ, của quân đội và cả Bộ Quốc Gia Giáo Dục cũng rất ít đề cập tới biến cố đau thương đứt ruột này. Lý do là vì, không biết xuất phát từ đâu, chính thức hay tin đồn, vô tình hay cố ý, mà dân chúng trong thị xã và trong tỉnh, cũng như báo chí và các cơ quan truyền thông ở trung ương đều nhận được và hầu hết đều tin rằng vụ việc này là do tham nhũng gây ra, nghĩa là do nội bộ của người quốc gia chúng ta thanh toán lẫn nhau.

5 – BẮT ĐƯỢC THỦ PHẠM.

Cho tới một buổi chiều, khoảng chừng hơn kém một tháng sau, trong khi các anh em Địa Phương Quân đang làm nhiệm vụ tại một cánh đồng trống vắng thuộc một vùng đất hoàn toàn mất an ninh gần chân núi tại quận Phù Cát. Trời đã về chiều, nhưng toán quân này lại thấy một cậu học sinh trung học, với áo sơ mi trắng có bảng tên một ngôi trường tại thị xã Qui Nhơn, đang vội vã đi nhanh về hướng chân núi. Dĩ nhiên cậu học sinh này đã bị chặn lại ngay, cậu ta đã tỏ ra rất lúng túng run sợ, khiến các anh em Địa Phương Quân càng thêm nghi ngờ và đã giải giao cậu ta về cho cơ quan an ninh ngay. Và thật là bất ngờ, trước nỗi sửng sốt của mọi người, cậu ta đã thú nhận chính mình là người đã ném trái lựu đạn ghê tởm trong đêm hôm đó tại sân vận động Qui Nhơn, sợ lộ tông tích nên Việt Cộng đã sắp xếp cho cậu chạy trốn lên núi. Người trực tiếp chỉ đạo cậu là cô gái giúp việc tại quán cà phê Kinh Bắc cạnh rạp hát Kim Khánh (Hình trong Attachment: các nữ sinh Trinh Vương đang diễn hành ngang qua trước tiệm Cà phê nói trên). Cô gái này đã hứa hẹn, nếu hoàn thành tốt công tác, đêm hôm đó anh ta sẽ được cá nhân cô này tưởng thưởng và thỏa mãn mọi điều anh ta yêu cầu …
Một thời gian ngắn sau đó, chính quyền đã thiết lập một phiên tòa công khai để xét xử thủ phạm, dân chúng đã tới dự khán rất đông. Trước các lời khai báo thành thật và thái độ ăn năn đau khổ của thủ phạm, ít có ai còn thắc mắc nghi ngờ điều gì. Nhưng lúc đó, có lẽ vì niềm đau thương đã được vơi bớt, lòng căm thù oán hận cũng đã nguôi ngoai đi nhiều. Và có lẽ chính các cơ quan truyền thông cũng không muốn nói đi nói lại, không muốn tiền hậu bất nhất. Cho nên tội ác ghê tởm này của Việt Cộng đã từ từ rồi hoàn toàn chìm vào quên lãng. Hơn nữa, chi tiết về việc bắt được thủ phạm cũng có vẻ hơi bất bình thường, nên một số người vẫn còn bán tín bán nghi, vẫn cho rằng có chuyện sắp xếp dàn dựng. Riêng tôi, ngoài những điều mắt thấy tai nghe tại hiện trường, trực giác và lương tâm còn cho tôi biết, chỉ có những con người không tim không óc, những con người tôn thờ chủ thuyết “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”, “Giết lầm còn hơn tha lầm” … mới có đủ can đảm, mới đủ gan dạ để tung một trái lựu đạn M 26 vào giữa một đám trẻ con như vậy.
Thủ phạm nhất định phải là một tên Cộng Sản.
Hiện nay, rất nhiều nạn nhân hay những người trực tiếp liên hệ và hiểu biết tường tận về biến cố trên, ngay cả những người đã từng lỡ dại ở cùng phe với thủ phạm nữa, rất nhiều người hiện đang sinh sống ở ngoại quốc. Xin đừng để tội ác ghê tởm, man rợ này hoàn toàn rơi vào quên lãng, hãy lên tiếng, hãy bổ sung thêm các chi tiết còn thiếu sót, để tội ác này cũng được ghi vào sử sách, như vụ thảm sát tết Mậu Thân tại Huế.
Xin hãy tiếp tay, giúp cho bài tường thuật này được phổ biến sâu rộng khắp nơi.

6 – TÔI CÓ SỐ HÊN.

Bài này được trích trong cuốn bút ký Trường Sơn Trường Hận, nói về chuyến đi thập tử nhất sinh của vợ chồng tôi dọc theo Xa Lộ Hồ chí Minh. Nếu đã đọc qua cuốn sách, hẳn quí vị đã thấy rằng kẻ viết bài này, đã luôn luôn gặp được rất nhiều may mắn, trong suốt cuộc đời, tôi đã nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, kể cả có lần bị kẻ gian ác thuê người sát hại. Nhưng trong cái đêm định mệnh tại sân vận động Qui Nhơn đó, Thần Hộ Mạng không những đã cứu sống tôi, mà còn che chở cả cho những người chung quanh tôi nữa. Chúng tôi là ngôi trường duy nhất trong thị xã đã được hoàn toàn bình yên vô sự, không những tất cả các em nữ sinh của trường đều đã không hề hấn gì, đều đã thoát chết, mà ngay cả nữ tu hiệu trưởng và dì phước phụ tá, nếu còn ngồi lại trên khán đài, rất có thể chính họ hay Giáo sư Khanh đã mời họ xuống cạnh đống lửa, rất khó lòng thoát được thương vong. Riêng em Tôn, hiện đang ở Garland, Texas, nếu không ra mời tôi, chắc em cũng ở đâu đó bên cạnh Thầy Khanh và cũng đã lãnh đủ. Mời tôi không được, em vừa chạy về tới vòng ngoài, phía sau lưng khán giả thì lựu đạn nổ, chỉ sớm hơn một vài tích tắc nữa, hầu như chắc chắn là em cũng đã bị trọng thương hay đã chết, vì thế nào em cũng vào gặp GS Khanh ngay để nói lại việc tôi từ chối vào chụp hình. Nhưng một người em trai của Tôn trong đoàn Ấu Sinh HTT đã bị nhiều mảnh lựu đạn ghim vào hạ bộ, tuy thoát chết nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy lập gia đình.

7 – VIỆT CỘNG TỰ THÚ.

Hàng năm, tại miền nam California, Hội Ái hữu cựu học sinh các trường Trung học Qui Nhơn đều có một ngày họp mặt và đều xuất bản một tờ Đặc San, có tên là Đặc San Liên Trường, năm nay, để góp mặt, tôi đã gửi tới bài tường thuật trên đây.
Đã bảo rằng số tôi luôn luôn gặp nhiều may mắn mà. Tôi vừa gửi bài tới Ban biên tập thì liền nhận được một bài báo của Việt Cộng do anh Tạ Chí Thân gửi tới. Khi gọi phone để báo tin này, Tạ Chí Thân đã nói như sau:
“… khi về lại Qui Nhơn, đọc được bài báo này của VC, máu em đã sôi lên, vì em cũng có mặt trong cái đêm rùng rợn đó… chúng em cũng đang sửa soạn viết về chuyện này…”
Xin trích nguyên văn từ tờ báo Cộng Sản đó, tờ “Quốc học Qui Nhơn”, trang 193, 194 và 196 để quí vị, nhất là những người đã có mặt trong cái đêm hãi hùng đó, thấy được những kẻ thù của Dân tộc, của Nhân loại và của chúng ta, vẫn luôn luôn đáng khinh bỉ, đáng phỉ nhổ đến như thế nào:
“ … Huỳnh thị Ngọc — một nữ thanh niên cơ sở cách mạng Nội Thị Qui Nhơn, kiên cường, dũng cảm và mưu trí — được tổ chức phân công đặc trách bám sát cuộc nổi dậy từ đầu để lãnh đạo… Ngồi chưa kịp nóng ghế, tỉnh trưởng Chức đã bày ra cái trò tổ chức một “đêm không ngủ” tại sân vận động Qui Nhơn cho toàn thể giáo chức và học sinh hòng ru ngủ họ. Nhận được tin này, Huỳnh thị Ngọc thấy lóe lên một tia sáng, “cơ hội đến rồi, phải chớp ngay lấy để đánh một trận phủ đầu cho chúng nó biết dân Bình Định là thế nào”. Cuộc hội ý chớp nhoáng giữa Ngọc, với bốn anh em trường trung học Cường Để: Lợi, Danh, Xuân, Sinh đã diễn ra ngay sáng hôm đó. Tất cả nhất trí phải đánh! Cách đánh và võ khí được bàn bạc cặn kẽ, được sắp xếp và phân công cụ thể, chu đáo. Hẹn nhau 3 giờ chiều hội ý lại để rà soát lại lần cuối cùng.
Gần 7 giờ tối, tất cả đều đủ mặt ở điểm hẹn. Theo tinh thần tự nguyện xung phong lúc sáng, bí thư Lợi sẽ mang lựu đạn vào sân vận động vì chân Lợi bị tật, địch ít nghi ngờ. Nhưng trước khi Lợi vào phải bố trí một người mang kiềm sắt bỏ trong túi quần vào trước thử xem địch có lục soát kiểm tra không. Kết quả vẫn trót lọt được. Đúng 7 giờ tối, xe quân sự địch đã bắt đầu dàn sẵn đầy chung quanh sân vận động. Chị Lê thị Nhỏ gánh hàng rong ngang qua chỗ hẹn, mật giao võ khí cho Nguyễn thị Duy Ân để chuyển lại cho Lợi và Danh. Trên chiếc xe Honda ở một góc bên ngoài đường, Xuân và Sinh sẵn sàng đón Lợi và Danh khi chạy ra tẩu thoát. Huỳnh thị Ngọc điểm trang thanh lịch, mặc áo dài như một cô giáo, quàng tay một cô giáo trẻ khác vượt qua cửa lớn sân vận động, vừa đi vừa nói chuyện. Ngọc rảo bước, đổ dồn đôi mắt, tìm thấy được chỗ xếp hàng của mấy chi đoàn, đủ cả, trong đó có chi đoàn Trần văn Ơn. Tất cả bọn họ đã nhìn thấy nhau và tỏ ra hớn hở phấn chấn. Cái khó là cả lũ chỉ huy chóp bu ngụy đều ngồi trên cao, giáo viên và học sinh ngồi dưới thấp, nếu ném lựu đạn, dễ cho địch phát hiện và không chắc đã ném đúng đối tượng là tên tỉnh trưởng Chức. Ngọc đến sát bên Lợi, nói vào tai: “Nó đã tổ chức một đêm không ngủ thì mình cũng thức trắng một đêm đợi thời cơ đến”.
Hơn 7 giờ rưỡi tối, đại tá tỉnh trưởng Chức xuất hiện trên bậc cao. Lũ quan quân hộ vệ vây quanh. Bên dưới sân vận động hàng mấy ngàn học sinh, giáo chức im lặng lắng nghe. Khoảng hơn 9 giờ đêm, cảm thấy có phần yên tĩnh, tỉnh trưởng Chức khệ nệ xuống đài, đi thẳng ra giữa sân vận động, kéo theo cả đoàn vệ sĩ nối đuôi nhau. Học sinh phấn khởi reo mừng, tung hoa giấy đón chào. Vô tình Chức tiến bước đến trước mặt tổ Trần văn Ơn thì hoa giấy càng tung lên gấp bội đến choáng cả mắt. Lợi rút nhanh chốt lựu đạn rồi ném thẳng vào đích. Lựu đạn vừa lóe xì khói, tên vệ sĩ – thiếu úy Linh – áp mạnh xô Chức ngã xuống rồi nằm chồm lên phủ gọn cả người tỉnh trưởng vào lòng. Một tiếng nổ “oàng” chát chúa! Cảnh ong vỡ tổ ầm ầm, mạnh ai nấy chạy ra đường lớn thoát thân.
Kết quả 7 địch chết tại chỗ trong đó có một tỉnh phó và thiếu úy vệ sĩ Linh, 4 tên trọng thương trong đó có tỉnh trưởng Chức…
Theo lời kể của đồng chí Huỳnh thị Ngọc. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. M.Đ”. -(Hết trích)-(Xin coi phóng ảnh bài báo nói trên trong Attachment)

8 – VIỆT CỘNG NÓI LÁO.

Xin có vài nhận xét về bài báo nói trên:
“7 địch chết tại chỗ, trong đó có một tỉnh phó và thiếu úy vệ sĩ Linh”. Ai ở Qui Nhơn vào thời gian đó thì cũng đều biết là bài báo nói láo về hai người chết là tỉnh phó và thiếu úy Linh. Như đã nói, Đại Tá tỉnh trưởng và đoàn tùy tùng đều mặc áo giáp và đội nón sắt nên miểng lựu đạn M 26 không thể xuyên vào đầu và các cơ phận trọng yếu để gây tử thương. Hơn nữa, tất cả những người đã học quân sự, khi thấy lựu đạn xẹt lửa sắp nổ, đều sẽ phản xạ nằm xuống, chỉ có các em học sinh, các cháu nhỏ mới nhỏm dậy để chạy, hay là cứ “nai vàng ngơ ngác”, cứ trố mắt ra nhìn như các em nữ sinh trường chúng tôi và như cô Yến, cô Tùng… nên mới lãnh trọn. (Tối 19/2/2006, Tạ chí Thân đã gặp Thiếu Tướng Nguyễn văn Chức để kiểm chứng các chi tiết trong bài tường thuật trên, nhân dịp này cựu Đại Tá Tỉnh Trưởng Bình Định cũng cho biết các lời lẽ trong bài báo nói trên của Việt Cộng là hoàn toàn bịa đặt. ).
Ngoài GS Khanh, ông chủ nhà sách Việt Long, không biết loay hoay làm sao, hay là cũng bỏ chạy, mà lại đưa nguyên cả hai cái mông về phía trái lựu đạn, nên đã bị rất nhiều mảnh ghim vào hai mông, tuy vậy, vì không có miểng nào trúng vào chỗ hiểm, nên ông cũng được cứu sống. Trong buổi họp mặt ngày 16/4/2006 vừa qua của các cựu nữ sinh trường Nữ trung học công lập Qui Nhơn, ngôi trường mà bà xã tôi theo học, vợ chồng tôi đã được bà Hiệu trưởng Vương Thúy Nga cho biết là ông Phó thị trưởng Bùi xuân Thích đã xuống cạnh đống lửa cùng với Đại Tá Tỉnh Trưởng và đã bị thương nhẹ. Còn Ông phó tỉnh trưởng Nguyễn Hữu Độ, hiện đang ở San Jose, trong một cuộc điện đàm mới đây, tác gỉa đã được cho biết ông đã không có mặt trong đêm lửa trại đó. Lý do là vì đêm văn nghệ này được tổ chức dành cho học sinh các trường trong thị xã nên là phần việc của ông Phó Thị trưởng Bùi Xuân Thích, chứ không liên quan tới ông, vì ông là Phó Tỉnh trưởng. Nhưng nghe nói, chính việc này đã gây cho Ông phó tỉnh Nguyễn Hữu Độ rất nhiều phiền phức và đã khiến cho giả thuyết tham nhũng là thủ phạm càng được nhiều người bán tín bán nghi hơn.
Tuy vậy, lựu đạn M26 với 3,600 miểng, nổ giữa mấy ngàn học sinh và giáo chức, như bài báo đã tả, mà lại chỉ làm chết và bị thương toàn … địch thôi. Việt cộng tài thật!
Tôi cũng dẫn cả trường ra về trước, nhưng không hề bị nghi ngờ, vì Qui Nhơn là một Thị xã nhỏ, mọi người đã biết rất rõ lập trường chính trị của nhau. Hơn nữa chúng tôi là một tư thục nên không dính dáng gì tới công qũy. Theo Cô Vương Thúy Nga cho biết, cô cũng có mặt tại sân vận động trong đêm hôm đó, nhưng vì trường đã có cô Yến, với chức vụ Giám học đại diện, nên cô Nga chỉ đứng dự khán bên ngoài. Nhưng sau đó cô đã trực tiếp tham gia vào việc tiếp cứu các em bị thương vong. Cô khoác bên ngoài một chiếc áo măng tô bằng vải dầy, chiếc áo đã ướt đẫm máu tươi của các học sinh bị nạn. Biến cố này bất ngờ trở thành một đề tài nóng bỏng trong cuộc họp mặt, mọi người đều ngậm ngùi thương nhớ bạn bè và thầy cô xấu số.
Huỳnh thị Ngọc, người trực tiếp chỉ huy vụ tàn sát này, theo bài báo cũng là người đã lãnh đạo các cuộc xuống đường biểu tình của học sinh Qui Nhơn mấy năm trước đó, trong cái đêm ghê tởm này, Huỳnh thị Ngọc đã giả dạng là một cô giáo trẻ, lọt hẳn vào sân vận động và đã ở sát một bên để trực tiếp chỉ huy Võ tấn Lợi. Trái lựu đạn cũng được di chuyển rất công phu, từ bà gánh hàng rong Lê thị Nhỏ, qua tay Nguyễn thị Duy Ân, rồi mới tới tay Võ tấn Lợi là người đã rút chốt rồi ném vào Đại Tá Tỉnh trưởng đang đứng giữa mấy ngàn giáo chức và học sinh. Sức công phá và khả năng sát thương của trái lựu đạn M 26 cũng đã được Việt Cộng hiểu biết rất rõ vì “Cách đánh và võ khí đã được bàn bạc cặn kẽ” như trong bài báo của VC đã ghi. Như vậy, cuộc tàn sát này là do Thị Ủy Việt Cộng tại Qui Nhơn chủ mưu và trực tiếp chỉ huy, chứ không phải chỉ là do một học sinh mới lớn, nhẹ dạ, mê gái như đã được loan truyền ngày trước.
Vì chiến công này mà Huỳnh thị Ngọc được phong là Anh Hùng Lực Lượng Võ Trang Nhân Dân. Bảo sao nhà văn Dương Thu Hương đã chả gọi cuộc chiến tranh của cái Lực lượng võ trang nhân dân đó là một cuộc chiến tranh ngu dốt và nhơ bẩn nhất trong lịch sử dân tộc. Máu của Tạ Chí Thân đã sôi lên, không phải chỉ vì ghê tởm, mà còn vì khinh bỉ nữa. Mọi người đã có mặt tại Sân vận động Qui Nhơn trong cái đêm hôm đó, khi đọc bài báo trên đây, cũng sẽ đều khinh bỉ và ghê tởm như vậy.
Cùng lúc với bài báo trên, tôi cũng nhận được nhiều lời thăm hỏi rằng sao sắp sửa lên đồi Rose Hills nằm đắp cỏ rồi, sắp sửa “six feet under” rồi mà vẫn còn hăng hái giống như là “ngũ thập niên tiền” vậy? Xin thưa thế này, sau cái ngày 30/4 oan nghiệt đó, chả thấy có chi là vững bền dài lâu cả. Càng gần đất xa trời, càng thấy rằng trên thế gian này cũng chả có chi là đời đời bền vững, chả có chi tồn tại muôn năm cả, hùng mạnh ghê gớm như Hitler, tàn bạo như Stalin và “đỉnh cao trí tuệ loài người” như Lénine rồi cũng tan thành mây khói… Cho nên mới ngộ ra rằng, thôi thì cứ chung thuỷ với những cái mà mình đã tôn thờ từ trước cho nó chắc ăn, chính trường, chiến trường và cả … tình trường cũng vậy.
Với lại, đúng như lời Tạ Chí Thân và bạn bè anh đã nói, cũng sợ nó…hèn người đi nữa.
Nhìn gần, khi viết lại, khi phổ biến hay là cho đăng tải câu truyện này là chúng ta đang chống Cộng, nhưng đối với các thế hệ con cháu, thì chúng ta đang làm công tác viết Sử, Sử của Qui Nhơn, Sử của Bình Định, Sử của Việt Nam. Sử thì phải trung thực vô tư, không được vị nể và nhất là không được sợ làm mất lòng những người đương thời. Trong tương lai rất gần, chắc chắn một xã hội thực sự Tự Do Dân Chủ sẽ hiện diện trên quê hương chúng ta, khi đó lịch sử dân tộc từ năm 1945 trở về sau, sẽ được viết lại hoàn toàn. Cung cấp những dữ kiện trung thực khách quan và chính xác, do mắt thấy tai nghe, là bổn phận của tất cả chúng ta, của thế hệ chúng ta, đối với con cháu đời sau.
Khi nói chuyện với đồng nghiệp Nguyễn Hữu Thời về vấn đề này, chúng tôi có nhắc tới việc Nữ tướng Bùi thị Xuân và con gái bị voi giầy. Thái độ can trường quả cảm của Bà và tình cảnh đáng thương của người con gái bé nhỏ ngây thơ tại pháp trường đã được giáo sĩ De La Bissachère ghi lại. Nhờ vậy mà thái độ hiên ngang và kiên cường bất khuất của vị nữ anh hùng này, nhất là bụng dạ hẹp hòi tiểu nhân của Gia Long mới được lưu truyền cho hậu thế muôn đời.
Do vậy, ghi chép lại một cách trung thực những điều mắt thấy tai nghe là trách nhiệm của chúng ta với lịch sử, với con cháu đời sau.
Riêng về tội ác của chúng tại sân vận động Qui Nhơn đêm mồng 9 tháng Giêng, 1972, chúng ta đã may mắn nắm được chính những lời thú tội của chúng. Xin hãy tiếp tay phổ biến và lưu giữ những dữ kiên này vào trong các kho sử liệu để cho con cháu đời sau được biết. Nếu quí vị cần một phó bản toàn bộ nội dung bài báo của Việt Cộng nói trên, tờ Quốc Học Qui Nhơn, xuất bản tại Qui Nhơn ngày 15-9-1996, xin vui lòng liên lạc với Tạ Chí Thân (antwheels@hotmail.com).
Cũng xin được nói thêm về con số thương vong của biến cố nói trên. Mặc dầu đã cố gắng tiếp súc với các giới chức cao cấp trong chính quyền, các giáo chức đồng nghiệp, các cựu học sinh… nhưng không có ai còn nhớ hay biết được con số chính xác, kể cả ngay chính tác giả bài viết này nữa. Lý do là vì trước một biến cố tang thương khủng khiếp như vậy, mọi người không ai để tâm tìm biết con số chính xác làm gì, chỉ biết chết và bị thương hàng trăm là đủ. Hơn nữa, lúc đó, Qui Nhơn có 4 bệnh viện, các em được chở tới và chết tại đó sẽ được thân nhân lẳng lặng mang về quê quán chôn cất, đâu có ai nghĩ đến chuyện khai báo với chính quyền làm gì. Những người bị thương cũng thế. Ngay cả về phía chính quyền, thì lúc đó cũng không có cơ quan nào đặc trách về việc tổng kết con số nạn nhân … và nhất là tin đồn tham nhũng là thủ phạm, lại càng khiến cho Ty thông tin, Đài truyền thanh, truyền hình, ngại ngùng trong việc ghi nhận con số chính xác…
Chính vì các lý do đó mà con số thương vong nêu lên đã không được đồng nhất, riêng bà Tạ Hạnh Đức là chị ruột của Giáo Sư Tạ Quang Khanh thì cho biết con số các em học sinh bị chết là 14. Một điều chắc chắn, mà tất cả mọi người đã cư ngụ trong Thị Xã Qui Nhơn vào thời gian đó đều biết rất rõ ràng, là trong số những người tử vong, không có một viên chức chính quyền hay quân đội nào cả, ngoài cô giáo Đặng thị Bạch Yến, tất cả các người bị chết đều là học sinh.

G.S VŨ LINH CHÂU