ANH CÓ VỀ KHÔNG…

quynhdo

Anh có về không, một chiều hoang
Rừng thông, mưa lạnh với lang thang
Vốc từng cơn nhớ chôn thật chặt
Để bóng người đi khỏi ngỡ ngàng

Anh có về không, tiếng ngâm thơ
Thiếu phụ bên song, dưới sương mờ
Tà áo sống, chết còn thêu đó
Anh phủ cho em áo tình ngơ

Anh có về không, chuông chùa ngân
Cửa Thiền rộng mở xóa dấu trần
Đứng dưới hàng hiên, nghe kinh kệ
Một chiều giông bão quyện ngang thân

Anh có về không một quán quen
Giọt đắng, giọt thương nhỏ môi mềm
Giọng hát liêu trai còn lay lắt
Xa em rồi, anh có thương thêm

Anh có về không, một chuyến tàu
Ngẩn ngơ hai đứa đứng nhìn nhau
Nước mắt chia ly còn mặn đắng
Mùa yêu xin hẹn những chuyến sau

Anh có cùng em về gác Thông
Một căn nhà nhỏ giữa hư không
Buông hết thương vay cùng nợ cũ
Sống với mây, trời, kiếp thong dong…

QUỲNH ĐỎ

xin đừng để lỡ…

npphan

tình cờ tôi gặp lại tôi
lửng lơ một kiếp luân hồi khói sương
nghe rằng mộng cũ hồi hương
giật mình chớp bể mưa nguồn thiên di

em từ độ rất sầu bi
trái tim vô lượng thầm thì nói thưa
một mai mưa gió cho vừa
cũng đành bỏ mặc mộng thừa điêu linh

cám ơn một chút yên bình
cô đơn tận tuyệt chỉ mình tôi hay
em về chút nắng cầm tay
xin đừng để lỡ một ngày có nhau

NP phan

Sau Nguyễn Bính Ngày Xưa, Dân Nghèo Thời Nay Cũng Viết Bài ‘Hành Phương Nam’

phamnga

Cách đây 71 năm, vào tháng 9/1943, Nguyễn Bính cùng Tô Hoài, Vũ Trọng Can rủ nhau làm chuyến “hành phương Nam”. Chính ra, cách nói “hành phương Nam” liên quan mật thiết đến một bài thơ tựa là ‘Bài hành phương Nam’, được Nguyễn Bính sáng tác cũng trong năm 1943. Đó là một bài thơ đầy phóng dật, chan chứa cảm thán từ cả hai chuyến nhà thơ vào Nam rong ruổi giang hồ…, do trước đó, vào khoảng năm 1939, Nguyễn Bính đã từng vào Sài Gòn, lê gót ở Chợ Quán, Đa Kao rồi về Biên Hòa, Mỹ Tho, Vĩnh Long.
Tương tự như thể loại ký sự, bút ký bên tản văn, ‘hành’ bên thi ca mang tính cách một hình thức phô diễn những suy nghĩ, cảm xúc của nhà thơ về một hoàn cảnh sống, một hành trình, cả là môt đào thoát về mặt tâm tưởng. Nếu xa xưa, thi ca Trung Quốc có bài ‘Tỳ bà hành’ nổi tiếng của Bạch Cư Dị thì Việt Nam cũng có các bài ‘Tống biệt hành’, ‘Can trường hành’, ‘Vọng nhân hành’ tuyệt hay của Thâm Tâm, và tất nhiên cả bài ‘Bài hành phương Nam’ với cái tựa thật nôm na, giàu ấn tượng của Nguyễn Bính.

1.
Hai ta lưu lạc phương Nam này,
Đã mấy mùa qua én nhạn bay.
Đó là hai câu mở bài Bài Hành Phương Nam của Nguyễn Bính. Ông làm bài thơ này năm 1943, đề rõ là làm tại Đakao (một khu phố nhỏ, xưa còn gọi là Đất Hộ, nay là phường Đa Kao thuộc Quận 1, TP HCM) tặng bạn mình là Văn Viễn khi nhà thơ chợt nhìn lại chuyện hai người tìm vào phương Nam. Để rồi:
Ngươi giam chí khí vòng cơm áo,
Ta trói thân vào lụy nước mây.
Vậy là vào thời ấy, chuyện họ vào đất Sài Gòn đã không hề là một chuyến du lịch nhàn hạ, phong lưu. Nào là ‘vòng cơm áo’ thiếu thốn đã kềm hãm chí khí làm việc lớn, nào là cứ sống hoang tưởng theo cảm xúc, theo ý thơ trong cảnh giới nước mây phiêu lãng thì phải chịu cái thực tế cơ cực trói buộc mãi. Nghĩa là một khi đã lưu lạc vào phương Nam thì nhóm văn nghệ sĩ Nguyễn Bính đã gặp phải những khó khăn không tránh khỏi. Tình cảnh này lại càng không phải là thắng lợi, thành công gì nếu như mục đích vào phương Nam của họ là đi làm ăn xa.
Nhưng giọng thơ hào sảng “Người ơi, buồn lắm mà không khóc / Mà vẫn cười qua chén rượu đầy!” cho thấy chính cái máu “chí nam nhi tại bốn phương”, thích phiêu bạt giang hồ đã là động cơ chính yếu thúc đẩy đôi bạn làm cuộc Nam tiến riêng tư của mình.
Sau này và cho đến ngày nay, lại có một số đông người từ phương Bắc, đất Trung, cũng quả quyết không kém nhóm Nguyễn Bính ít ỏi thời tiền chiến, cũng tìm về phương Nam. Chỉ có điều họ không dính líu gì đến thi ca, vì ngay từ lúc bỏ xứ ra đi, họ chỉ xác định duy nhất một điều: vào Nam kiếm sống. Chuyện con người phải tha phương cầu thực vốn đã có từ lâu đời trên khắp trái đất và tiếp diễn mãi qua các thời kỳ lịch sử.
2.
Thời thập niên 60, cũng là tiến vào phương Nam, như một làn sóng thầm lặng, liên lĩ, một số dân nghèo miền Trung đành phải rời bỏ mảnh quê hương “đất cày lên sỏi đá” làm không đủ ăn của họ, cộng thêm lý do chiến tranh loạn lạc, mà tìm vào đất Sài Gòn mưu sinh. Như nhóm dân Quảng Nam, Quảng Ngãi, đàn ông thường đạp xích lô và phụ nữ thì đi ở mướn (trước kia gọi là người ở, con sen; báo chí gọi đùa là mari-sến, liên-tử; nay lại gọi là ôshin). Chịu cực chịu khổ, ky cóp được ít tiền là họ gởi về quê giúp gia đình. Thời đó, đất “dễ làm ăn” này cũng không dễ hớp hồn người dân Quảng nặng tình hoài hương, nên thường ít có người trong nhóm họ có ý định ở lại lập nghiệp hẳn ở xứ người.
Đến thời sau ngày 30/4/75, tại VN đã có tới hai đợt di dân vĩ đại, ngược chiều nhau. Chiến tranh kết liễu, đến thế chỗ cho cả triệu người dân miền Nam di tản ra nước ngoài (đợt di dân thứ nhất) đã có một số người ở phía Bắc – hay ở gần hơn là từ những chiến khu, rừng rậm tây nguyên – gồm bộ đội, cán bộ, viên chức, công nhân cùng vào Nam với lý do nghiêm túc là công tác, tức kiểm kê, quản lý, phục hồi sản xuất… mọi thứ đất đai, nhà cửa, tài sản, cơ sở vật chất – kỹ thuật bị tiếp quản. Rồi một cách đương nhiên nhưng thầm lặng, những người thuộc gia đình, thân nhân xa gần của những người chính thức đi công tác này, tìm mọi cách đi ‘tư tác’ vào Nam luôn, với mục tiêu rất rõ ràng: kiếm sống ở Sài Gòn – vùng đất dù sao cũng còn mới mẻ, hứa hẹn giàu có, phát đạt.
Vậy là nối tiếp Bài hành phương Nam thời tiền chiến, cả hai nhóm công tác và ‘tư tác’ nói trên đã làm nên bài hành phương Nam thời hậu chiến (đợt di dân thứ hai) chẳng chút thi vị nhưng cũng rất hoành tráng. Dĩ nhiên cái đô thành hoa lệ ấy, vào những ngày mới giải phóng, ngoài những căn nhà vắng chủ thì cũng còn nhiều thứ “còn xài được lắm!”.
Những nhà lý luận thường sính dùng từ “qui luật” khi lý giải mọi vấn đề. Vậy thì ở đây, hiện tượng “hoàn toàn nằm ngoài qui hoạch Nhà nước” là người dân dắt díu nhau cùng rời bỏ một nơi chốn khó kiếm sống để đi đến một nơi khác dễ sống hơn, thì nhất định là có tính qui luật, đáng được tìm hiểu bằng tinh thần thông cảm. Hơn thế, người từ Bắc tìm vào Nam ‘tư tác’ ngay sau ngày 30-4 thì không phải ai cũng nghèo, cần đi “cải thiện” miếng ăn, mà trái lại, cũng có một số người, không biết bằng cách nào vẫn làm giàu được tại miền Bắc, đã đáp tàu đáp xe vào Sài Gòn với cứu cánh duy nhất là tìm cơ hội làm giàu thêm nữa.
Cũng liên quan đến miếng ăn và đất sống, dân Sài Gòn, tức người địa phương, thời ấy mới vỡ lẽ, hiểu ra cái ý nghĩa cùng công dụng cực kỳ lớn lao, lợi hại của cái hộ khẩu. Thì ra, bản ngã cùng nhân cách mỗi ‘hữu thể con nguời’ theo cái nghĩa cao siêu, vi diệu của triết học, siêu hình học được bên hành chính thô bạo giản lược thành chỉ còn là ‘khẩu’, tức cái miệng, chẳn qua là để cho dễ quản lý. Hộ khẩu chính là niềm mơ ước của dân Bắc với câu thời danh “(Không có) hộ khẩu là hậu khổ!”. Còn dân Nam, trước kia có để ý gì đến cái sổ gia đình của chế độ cũ, nay mới biết thế nào là ‘hậu khổ’ khi cần xin phép làm ăn, buôn bán, chữa bịnh, học hành, khai sinh, khai tử.v.v.., nhất là khi mới học tập cải tạo về.
3.
Rồi đến thời hai thập niên 70 – 80, đã được nhìn nhận là một thời kiệt quệ, bế tắc sau một thời gian bị cấm vận, sản xuất thì thấp kém nhưng lãng phí, mất mát thì nhiều vì quản lý thì kém cỏi, chỉ có tham nhũng là ngày càng khởi sắc. Đất Sài Gòn vẫn cứ là một bầu sữa “chùa” có sẵn đấy nhưng cũng phải hao cạn dần theo ngày tháng bởi đám con cái đông lên gấp bội. Sài Gòn mà còn hao gầy trơ xương vì thời bao cấp thì các vùng đô thị lớn khác, như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ… thì chịu gì thấu!
Thế là… lại tiến vào Nam, vào Sài Gòn. Có đủ mặt dân tứ xứ, từ miền Bắc, miền Trung đến miền Tây, miền cao nguyên. Cuối những năm 70 lại có một biến động xã hội rất trái ngang, bức bối. Đó là với chính sách giản dân, giảm mật độ dân cư ngày càng tăng ở đô thị, một số dân Sài Gòn cố cựu dù có hộ khẩu hay không cũng bị buộc rời khỏi nơi cư trú bấy lâu để đến các vùng kinh tế mới được vội vàng dựng lên ở những tỉnh xa. Trong khi đó, không ai ngăn được làn sóng dân nghèo miền Bắc, miền Trung… cứ thầm lén liên tục nhập vào thành phố một cách bất hợp pháp. Cũng không ai thống kê được các trường hợp được nhập hộ khẩu vào thành phố (đang phải giản dân) nhờ “nhứt thế, nhì thân” tức là thế lực và quan hệ thân thuộc. Lại là một kiểu di dân ngược chiều đầy cay đắng cho kẻ phải ra đi, không khác hồi mới giải phóng, chỉ khác là có qui mô nhỏ hơn thôi. Nhưng cũng may là chương trình kinh tế mới nhanh chóng phá sản, lưu dân gốc Sài Gòn lại tìm cách quay về – một cách chính đáng – cái nền nhà xưa ở xóm cũ của mình trong thành phố.
Đặc biệt là từ thời “đổi mới”, bắt đầu “mở cửa” về kinh tế (năm 1986), cho phép thông thoáng hơn trong làm ăn, buôn bán, đưa đến sự ra đời nhiều hơn những cơ sở sản xuất – xây dựng – dịch vụ tư nhân, hợp tác công – tư… tức công ăn việc làm nhiều hơn, người ta càng đổ dồn về các vùng đô thị phía Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng. Cần nói thêm là thành phố Sài Gòn ngày nay mở rộng, nở ra về phía biển (huyện Cần Giờ) và về phía biên giới Campuchia (huyện Củ Chi), nhưng hai vùng xa xôi mới được kết nạp cho hưởng ké danh giá ấy chẳng hề thu hút được dân từ phương xa đến. Chỉ có ở Sài Gòn là dễ làm ăn nhất. Do đó, dân tứ xứ cứ tập trung vô khu nội ô, miễn cưỡng lắm thì ra vùng ven, vùng ngoại ô đang phát triển với các quận mới thành lập như: quận Thủ Đức, quận 2, 7, 9 và 12.
4.
Đến thập niên 90, quan hệ kinh tế “mở cửa” càng nới rộng ra khỏi khu vực Đông Nam Á, khiến cho ở những quận ven, huyện ngoại thành nói trên nhanh chóng mọc lên thêm những nhà máy, xí nghiệp do ngoại quốc đầu tư. Danh từ “dân nhập cư có tay nghề” được chính thức sử dụng phổ biến trên báo chí và công văn hành chính để gọi tên con số hằng trăm ngàn người, đa số ở tuổi thanh niên, từ các tỉnh dồn về Sài Gòn, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân công của các nhà máy, công ty nước ngoài mà nhiều nhất là công nhân ngành may công nghiệp.
Còn người nhập cư không có tay nghề, chỉ có thể làm công việc chân tay lặt vặt, tạm gọi là lao động phổ thông, đồng thời không có tiền, không có vốn liếng thì sao? Cho đến ngày nay đã là đầu thế kỷ 21, bộ mặt của những con người nghèo khó ấy hầu như rất ít thay đổi theo thời gian, thời cuộc. Ở thời thế nào thì họ cũng là người nghèo, không tài sản, đất đai, đi tha phương cầu thực hầu như chỉ với hai bàn tay trắng.
Năm 80, gặp một nhóm dân từ Bắc vào Nam và tìm lên vùng Long Khánh làm đất thuê, dân địa phương phải lắc đầu khi nhìn thấy lưỡi cuốc tai tượng của họ quá lớn, gần gấp đôi lưỡi cuốc thường dùng trong vùng. Lưỡi cuốc lớn làm đất nhanh, nhiều hơn nhưng đồng thời tốn sức hơn. Đám người cùng khổ đã chấp nhận kiểu lao nhọc, cực khổ như thế vì không hề mơ màng như các nhà nghệ sĩ phiêu bạt giang hồ, họ dư biết là ở những vùng đất xa lạ, dù là đất hiếu khách đi nữa thì họ cũng phải bươn chải mới sống được vì luôn luôn có nhiều khó khăn chờ đón kẻ nhập cư. Hãy thử đi theo những bước chân kiếm sống rất đáng khâm phục của họ…
Có người Sài Gòn nhận xét rằng hiện nay, dân nhập cư đã lần hồi thay thế dân địa phương trong những nghề cần rất ít tiền vốn , đứng đầu là nghề bán hàng rong. Từ 3 – 4 giờ sáng, những người bán rau cải, tôm cá… bằng xe đạp rong ruổi trong hang cùng ngõ hẻm đã có mặt tại các chợ hàng bông – tức rau xanh, củ quả – bán sỉ ở các chợ Gò Vấp, Bà Chiểu. Hỏi thăm quê quán thì các chị bảo mình dân Hải Dương, Thái Bình. Vài anh đi bán rau cải bằng xe ba gác thì nói mình dân Hà Nam – thì ra là đồng hương với nhà thơ Nguyễn Bính. Một nhóm rất đông, toàn là thanh niên vùng Thanh Hoá thì rủ nhau vào nghề thợ hồ.
Lại gặp các chị chuyên đi mua ve chai cũng là dân Thanh Hóa. Nhìn từ sau lưng trông các chị rất giống nhau: từ chiếc nón lá, găng tay đen, khẩu trang cho đến cái gọng bằng gỗ gắn ở yên xe đạp để chở đồ ve chai. Một nhóm thanh niên khác làm nghề tẩm quất (đấm bóp) thì cùng quê Thái Bình. Họ cũng giống nhau lạ lùng, cứ như được đúc ra từ một cái khuôn chung, từ kiểu để tóc ngắn, kiểu áo bỏ vô thùng, cho đến kiểu ràng cặp-táp đồ nghề ở yên sau xe đạp đều y chang nhau.
Còn nữa. Trên đường phố, những tiếng rao bán những món hàng rong như bánh chưng, bánh giò, dừa tươi, rau cải, trái cây.v.v.. nghe toàn là giọng Bắc, không rõ thuộc tỉnh nào. Vậy dân Nam bộ bán hàng rong đâu rồi? Cũng còn, nhưng không “chuyên ngành hoá” và ‘đồng hương hoá” như dân nhập cư. Đó là bà già bán xôi, chị bán vé số, anh bán cây kiễng rẻ tiền, mấy anh thu gom rác.v.v.. Nghề chạy xe ôm thì chỉ có một ít dân miền Trung tham gia, phần lớn vẫn là dân Nam bộ mà không thấy dân nhập cư gốc Bắc. Lý do dễ hiểu là muốn chạy xe ôm thì phải có tiền sắm xe và rành đường xá, là hai điều chưa thể dễ dàng có nơi dân nghèo mới nhập cư.
Bước xuống từ xe đò, xe lửa, đặt bước chân bở ngở lên vỉa hè của thành phố lớn, dân nhập cư lập tức phải đối đầu ngay với rất nhiều khó khăn trước mắt tại quê người, như công việc làm ăn, chỗ ở, nơi học hành của con cái nếu như còn ráng ‘nách’ chúng theo, hay còn phải lo dành dụm gởi tiền về quê giúp gia đình. Họ phải đầu tắt mặt tối, cắm cúi làm ăn (làm nhiều mà ăn thì rất ít, ở cũng chật chội hết mức) 2 – 3 năm hay kéo dài nhiều năm hơn không chừng.
5.
Cuối cùng là chuyện một số dân nhập cư chọn “nghề” lang thang, xin ăn. Theo một thống kê vào năm 2004, trong một đợt thu gom dân ăn xin ở Sài Gòn, trong tổng số 3857 lượt người ăn xin bị giữ, có 2054 lượt người trong tuổi lao động. Ngành công an cho biết trong tổng số 446 người dân gốc các tỉnh đang sống lang thang ở Sài Gòn thì có đến 40 người (11.6%) đi xin ăn. Ở lứa tuổi thanh thiếu nhi, tình hình còn tệ hơn: trong số 8000 trẻ em lang thang, xin ăn trong thành phố có đến 82% là trẻ em gốc dân các tỉnh.
Một anh thợ hớt tóc, dân “Bắc kỳ 54” kể là, tại gần khu nhà thờ Xóm Mới Gò Vấp, có một gia đình dân nhập cư, nói giọng Bắc, đến thuê nhà ở lâu dài để làm nghề… xin ăn. Từ sáng sớm, già, trẻ, lớn, bé gì của gia đình ‘cái bang’ này cũng đều túa ra đường, chia nhau đến các địa bàn bên các quận nội thành để hành nghề một cách rất bài bản. Vài năm gần đây, báo chí đưa tin ở Sài Gòn có tình trạng một số cụ già và trẻ em dân nhập cư đi xin ăn hoặc bán kẹo cao su, tăm-pông ráy tai… là do những tay đầu nậu dấu mặt đứng ra tổ chức và chăn dắt.
Nghe những chuyện này, một cụ già người Bắc thẳng thắn cho biết rằng vào thời trước năm 54, ở làng quê của cụ (xin miễn nói chính xác là ở đâu), dân trong làng từ xa xưa đã có một cái lệ quái lạ là cứ hằng năm, vào thời gian nông nhàn, mùa vụ đã xong xuôi là cả làng kéo nhau đi ăn xin ở những vùng khác. Lý do không phải chỉ là việc kiếm sống quá khó khăn ở vùng quê này, mà còn vì một lý do thâm sâu, “tâm linh” khó tưởng tượng nổi: vị thần làng (Thành hoàng) ở đó vốn có một thời phải đi xin ăn để sống trước khi thành đạt danh phận và được triều đình phong sắc làm thần. Vậy dân làng đi ăn xin là làm một việc linh thiêng, bắt chước theo một phần “lý lịch” của thần làng. Không biết gia đình ‘cái bang’ nói ở trên có phải là hậu duệ của thần không nhỉ?
Cùng là chuyện bỏ xứ ra đi, cùng là thân phận lưu lạc giang hồ, nhà thơ Nguyễn Bính thời tiền chiến đã cảm khái sáng tác nên Bài hành phương Nam vang vọng mãi trong sự ngưỡng mộ của chúng ta, còn một số dân nghèo nhập cư, chịu thương chịu khó thời nay thì lại vô tình làm nên những bài Bài hành phương Nam thê thiết của riêng họ, trong đó – chua xót thay! – có khi thành biến khúc Hành… khất phương Nam.

PHẠM NGA

Ở CÀ PHÊ BẢO TÀNG LÂM ĐỒNG

maiviet

Tặng HỒ VIỆT KHUÊ

Một chỗ ngồi với nắng
Có lòng tôi ban mai
Bên tách cà phê đắng
Cùng hương hoa đầu ngày

Làn gió nào đi qua
Trên môi người phố núi
Cho em lời tình ca
Hát ru đời rong ruổi

Sương mù đêm qua phố
Nghe lạnh về một phương
Chiều thu xưa Đà Lạt
Đâu rồi bờ môi thương

Sân Bảo Tàng mỗi sáng
Một góc ngồi nhỏ nhoi
Trong tôi vừa tan xuống
Giọt cà phê đơn côi

MAI VIỆT

CHO THƠ TÔI NÓI …

tonnuthudung

Cho thơ tôi nói những lời
Thương yêu trổ đóa giữa đời buồn tênh
Cho thơ tôi hát đầu ghềnh
Con chim bỏ núi hồn nhiên bay về
Cho thơ tôi tiếng thầm thì
Đưa chiêm bao đến trên mi dịu dàng
Cho thơ tôi chút bình an
Rơi êm như chiếc lá vàng chiều nay
Cho thơ tôi vẽ những ngày
Mùa hoa vườn cũ rụng đầy lối xưa
Cho thơ tôi nỗi mong chờ
Phố sương người có bất ngờ về thăm
Cho thơ tôi ước mơ thầm
Khói thơm như thể hương trầm nửa khuya
Cho thơ tôi được tìm về
Bước chân ngần ngại trên hè…nhẹ , êm…
Cho thơ tôi được tìm quên
Tiếng cười ai vọng trăm miền hư không
Cho thơ tôi đến tận cùng
Vẫn nghe lạnh lẽo một vầng trăng xanh
Cho thơ tôi chút ân tình
Nghe mưa thiên cổ trở mình quanh tôi
Cho thơ tôi gọi được người
Từ mù sương đến cuối trời hạ , thu…

tôn nữ thu dung

NẮNG HÀNG CAU

khuatdau

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
(Hàn Mặc Tử)

Chừng mươi năm nữa thôi, khi những bà nội, bà ngọai, những cô dì không còn mời nhau những miếng trầu,cưới hỏi không quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau, khi mà những khu vườn được chia nhỏ bề ngang bốn thước để mọc lên những ngôi nhà ống, thì cây cau chỉ còn trong ca dao và thơ của Hàn Mặc Tử mà thôi.
Cây cau ở thôn Vĩ Dạ được các ông hoàng xứ Huế trồng thành hai hàng, khiến khách đi vào nhà tưởng như được gia nhân cung kính cầm lọng đứng che. Khi nó cao lên cùng năm tháng, vượt hẳn những xoài những mít, với thân thẳng, tàu lá xanh đen, các ông hoàng phong nhã lại tưởng đó là những cây bút lông khổng lồ đang viết những chữ đại tự lên nền trời xanh. Có bao nhiêu cây cau là có bấy nhiêu tháp bút tả thanh thiên.
Vườn cau của bà tôi, một bà già trầu đúng nghĩa, không có được cái ý cao sang và văn vẻ như thế. Nói theo kiểu bây giờ, nó đúng là một loài cây kinh tế. Chỉ một buồng cau được cắt tỉa gọn gàng, đặt trong rổ lót lá chuối tươi, bà đi ra chợ thong dong như đi chơi, khi trở về là có cả một chục cá nục hấp thơm phức, một gói bánh hỏi trắng muốt, nghĩa là có đủ quà sáng cho ông cháu tôi và thức ăn cho cả ngày. Rồi quanh năm, không thứ lá rụng nào hái được tiền như tàu cau. Bà tỉ mẩn ngồi tướt bỏ lá, rồi cột bốn hay năm tàu thành cây chổi quét nhà. Và cũng chỉ cần vài ba cây chổi, thêm một vài nải chuối là đủ cho bà ra chợ đổi lấy một miếng thịt sườn, vài cái bánh ú. Bẹ cau, bà kết thành gàu múc nước, cắt thành quạt mo cho cả nhà phe phẩy. Mo miểu (bẹ trong) thì dùng vắt cơm bữa trưa cho những ai đi xa không kịp về nhà.. Cơm xắt thành lát, đưa lên miệng nghe có mùi thơm của hương lúa, hương cau. Chỉ cần một ít muối đậu hay một con tôm rim là bữa cơm đã thấy ngon chi lạ.
Vườn cau của bà, với hơn một trăm cây được trồng từ ngày bà theo chồng, khi tôi lớn khôn, chúng đã vươn hết cả lên trời xanh. Chẳng có con mèo nào dám trèo lên tận ngọn để mà hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà. Chỉ có mỗi mình bà leo lên, mỗi mình bà biết cây nào ngon cây nào dở, biết buồng nào có thể đem ra chợ, nghĩa là không quá non cũng không quá già, quả cau bổ đôi phải mịn như sáp, phải dịu như mật, mới bắt mắt được người mua.
Cây cau đứng một mình đương nhiên không xinh bằng em đứng một mình. Nhưng đứng thành hàng trong vườn phải nói rừng bạch dương của Nga cũng thua xa. Không có loại cây nào vừa cao, vừa thẳng lại thanh nhã như thế. Chỉ có những cuộc thi hoa hậu quốc tế khi trình diễn áo tắm mới có được những hàng chân ngọc duỗi song song như những thân cau. Mà những đôi chân ấy phải được chiếu sáng bằng những ngọn đèn hàng ngàn nến mới có được vẻ đẹp đến sững sờ. Còn cau, thì chỉ cần ánh nắng thôi. Không phải nắng đổ lửa buổi trưa, cũng không phải nắng quái chiều hôm, mà là nắng mới mẻ tinh khôi, nắng mới lên của mặt trời vừa thức dậy.
Chết mê chết mệt với một nhà thơ là thứ nắng mới lên chiếu qua hàng cau ấy. Cái thứ nắng xiên ngang mặt đất chưa đủ sức nóng làm tan sương đêm, chỉ vừa đủ làm cho những thân cau già trở nên trẻ trung mịn màng. Nắng chưa lên tới ngọn cho nên lá vẫn còn đen ướt như những mái tóc vừa mới gội.
Thế thì, khi cô gái hỏi: sao anh không về thăm thôn Vĩ/ nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, là có ý trách anh sao không về mà xem em đẹp nhường này, em chân trắng tóc thề, em đang đợi anh trong vườn xanh như ngọc. Và vì vốn tính e lệ, thêm một chút điệu đà nên em sẽ vin cành trúc che ngang mặt để trốn anh đó. Áo em trắng quá nhìn không ra, chỉ là cái cớ dấu che nỗi đau của một người mang bệnh nan y, chứ thực ra chàng đã yêu nàng, yêu rất đậm đà qua hình ảnh nắng hàng cau nắng mới lên.
Những hàng cau, ôi những hàng cau, bây giờ cũng mọc thành hàng trên những dãi phân cách của các khu đô thị mới. Những cây cau ngoại nhập, to thù lù như những đứa trẻ béo phì cũng đứng song song đấy nhưng chẳng phải cầm lọng che cho xe cộ chạy qua, mà giống như những cây chổi chà dựng ngược với khói bụi mịt mù, không phải để làm sạch mà làm bẩn thêm nền trời. Và những cô, cả những bà chân ngắn và mập, có nhiều ngấn như chân bàn bida, diện quần ngắn tận háng để có ảo tưởng chân dài, không dùng lá trúc mà dùng khẩu trang để che mặt chữ nhật, thì dù Hàn Mặc Tử có sống lại cũng không làm nổi nửa câu gọi là thơ.
Mặt trời vẫn mọc, nhưng khi những cây cau thanh mảnh xinh đẹp như những cô gái vừa tắm dưới sông lên không còn nữa, thì nắng mới lên cũng không còn!
Lại tiếc đứt ruột!

Khuất Đẩu

ĐẦU HÀNG …

hochibuu

Em trung kỳ trọ trẹ hoài giọng nẫu
Mới quen nhau ta chịu khó lắng nghe
Lúc em giận nói nhanh như chim hót
Nghe kỹ rồi ta cũng phải im re..

“Mẹ tổ choa coái liêu đoài tình oái”
Vậy mà thương đứt ruột cái điệu nầy
Vậy mà vài hôm em không gọi lại
Lòng ta buồn như rừng lá thu phai..

Ta yêu chi cái người trung xứ nẫu
Mê làm chi mà khổ dữ vậy trời ?
Chắc là si nên mình hay lú lẩn
Dính chông rồi nên lòng nhớ không nguôi..

Ai bảo ta không phải là cao thủ
Nên bị liền mấy nhát kiếm em đâm
Ai bảo ta cứ suốt đời với rượu
Trong say sưa hứng nhát kiếm đâm nhầm

Ta không tỉnh vì là tên hiếu động
Hay say tình khi ánh mắt em trao
Chạy không khỏi dù trời cao lồng lộng
Thuyền chông chênh trong sóng mắt ba đào

Tội làm tướng mà giữ thành không chặt
Treo miễn chiến bài gió thổi lung lay
Em hiếu sát quyết bắt ta làm giặc
Ta mở cổng thành- quỳ xuống- bó tay…

HỒ CHÍ BỬU

Lời quê hương

trantrungdao

Xin đừng bỏ rơi tôi
Trong những ngày khốn khó
Nhọc nhằn vẫn còn đây
Niềm đau xưa còn đó

Người đi về hướng Ðông
Hồn tôi treo ngọn sóng
Trong đáy mộ mênh mông
Xác thân tôi lạnh cóng

Xin đừng bỏ rơi tôi
Trong giờ đang hấp hối
Tôi như ngọn đèn khuya
Lập lòe trong đêm tối

Người đi về hướng Tây
Hồn tôi mây viễn xứ
Máu rỉ dưới chân tôi
Gót chân đời lữ thứ

Xin đừng bỏ rơi tôi
Lời nguyền rơi nước mắt
Tôi như nhánh sông chia
Hai bờ đau ngăn cách

Người đi về hướng Nam
Tôi ngồi ôn quá khứ
Ôi thân thể của tôi
Ðang lõa lồ đau nhức

Xin đừng bỏ rơi tôi
Bao nhiêu rồi mất mát
Chưa thấy đủ hay sao
Những điêu tàn đổ nát

Xin đừng bỏ rơi tôi
Sao người bỏ rơi tôi
Xin đừng bỏ rơi tôi
Sao người bỏ rơi tôi.

TRẦN TRUNG ĐẠO

Apollo / David

nguyenythuan

“Bộ đội Hưng” là tên tôi gọi người đàn ông có giấc mơ trở thành một thứ Van Gogh tại Mỹ.

– Em đi theo diện ODP với gia đình. Bố là sĩ quan đi trước.

Ngay câu đầu tôi đã thấy lời không thật. Nhưng có gì quan trọng? Giữa chúng tôi chẳng chút dính líu. Tiền bạc? Không. Liên hệ gia đình? Không. Tình cảm? Cũng không. Chỉ là hai người hàng xóm thỉnh thoảng gặp, trao đổi dăm chuyện. Thoảng có dư thời gian cũng chỉ tâm sự vớ vẩn. Tại sao phải dùng đến lời nói mất lòng.

– Mình sang trước theo diện thuyền nhân.

Tôi bỡn cợt bằng lối dùng chữ của Hưng. Anh không nhận ra, vẫn vui vẻ.

– Cả ông anh, bà chị đi bằng thuyền một lần?

Tôi thôi đùa. Tội nghiệp Hưng không thấy cái nghịch ngầm của người khác. Người đàn ông lớn lên tại một tỉnh nhỏ miền Bắc chưa sắm nổi vai trò của người miền Nam. Chỉ cần gặp lần đầu, nếu tinh ý, ai cũng có thể nhận ra vẻ lạc lõng của người nghệ sĩ này. Đi đôi với cách nói là thái độ của Hưng khi gặp người chung quanh. Khoảng cách vẫn còn lúc tiếp xúc với người đã tham dự vào chính quyền hay quân đội miền Nam. Mặc cảm khi gặp người sang trước. Sự thèm thuồng cuộc sống hợp pháp tại Mỹ… Tất cả đã tạo cho Hưng một nhân dáng khác với vai đang sắm. Tôi cố cư xử với Hưng bằng sự gần gũi, thân mật để tạo nên thứ tình cảm giữa hai người xa xứ.

Thật sự, đôi lúc tôi tự hỏi thân với Hưng để làm gì? Nhưng chưa bao giờ tìm được câu trả lời. Hầu hết những lý do đưa ra khi kết bạn đều không có. Thành thật? Hưng dối như cuội khi nói về bản thân và gia đình. Giúp đỡ? Tôi chẳng có gì cần. An ủi? Vợ chồng tôi vẫn hạnh phúc. Tâm sự? Tôi bắt đầu già và chỉ thích uống bia một mình. Đó là phần tôi. Còn phần Hưng cũng không có lý do để gần tôi. Tôi ích kỷ, nghĩ đến mình nhiều hơn người khác. Lũ em gái của tôi ở Mỹ đều có gia đình, đâu còn dư để Hưng tòm tèm… Nhiều lý do khác cũng được tôi đặt ra từ hai phía nhưng vẫn không tìm thấy câu trả lời. Đành tạm nhận điều đã nói là tình cảm của hai người xa xứ. Một lý do rất mong manh vì chung quanh – chỉ riêng San Jose – đã có chừng một trăm ngàn người Việt khác cùng xa xứ, nhưng tôi có thân với ai đâu? Nhưng thôi, dù mong manh vẫn là cái cớ để lý giải còn hơn lúc nào cũng tự hỏi tại sao về một chuyện đã có.

Cứ thế, chúng tôi trao đổi những chuyện vẩn vơ mà không ngờ đó là từng lớp sóng nhỏ mang phù sa đắp vào khoảng cách quá khứ. Ngày một gần. Khoảng bảy tháng sau, kể từ lúc dọn đến, Hưng đã thôi ngại như lúc mới biết tôi là một người lính cũ. Chúng tôi đã anh em. Tất nhiên tôi đóng vai “ông anh” và Hưng đóng vai “ông em”. Những mẩu chuyện bị rào đón từ từ mất để thay bằng sự cởi mở, thân mật. Ngay cả những câu đùa của tôi, dù biết, cũng không làm Hưng phật ý. Đôi lúc, chính anh cố tình sử dụng các chữ đặc chất bộ đội để cả hai cùng cười. Lớp vỏ của Hưng dần được tháo bỏ. Rồi đến lần ngồi với nhau trong sân nhà tôi.

– Lúc tham gia quân đội, ông anh thuộc lực lượng nào?

– Biệt Động Quân.

– Biệt Động Quân? Ở đơn vị chủ lực chắc ông anh tham dự nhiều trận ác liệt lắm… Đóng ở đâu thế?

– Bồng Sơn, Tam Quan. Liên đoàn sáu.

– Bình Định hả anh?

– Ờ!

– Em cũng ở Bình Định.

Hưng vô tình đắm vào câu chuyện. Tôi nhìn anh.

– Sư đoàn ba Sao Vàng?

Hưng cũng nhìn tôi. Ngập ngừng rồi gật đầu. Trong mắt có ánh dò xét. Tôi bật cười.

– Vậy là ngày xưa tụi mình choảng nhau.

Lây cái cười của tôi, Hưng cũng cười theo.

– Vâng.

Chúng tôi đã vượt qua lằn ranh của những người hàng xóm và lằn ranh vạch ra cho đất nước mấy mươi năm. Cũng như câu hỏi thân với Hưng để làm gì từ lúc nào không biết, đã được tôi quên lửng.

Tôi được biết giấc mơ họa sĩ của Hưng vào một sáng chủ nhật. Bấy giờ là mùa đông của San Jose. Trời nặng vì những đám mây đen. Hưng sang nhà tôi.

– Ông anh có rỗi không?

– Bộ đội Hưng cần gì? Vào đây làm ly cà phê đã.

– Cảm ơn anh, em uống rồi. Sang bên em một tị.

Tôi theo Hưng sang bên kia đường, đến cái nhà chứa xe được chữa lại của căn nhà trước mặt. Bên ngoài được giữ nguyên nhưng trong đã biến thành phòng vẽ của Hưng. Gọi là phòng kể cũng gượng vì chủ nhà đã hà tiện, cố ăn gian trong khoảng cho mướn. Trên ba tấm tường gỗ, lẫn với các bức tranh của Hưng là đủ thứ dụng cụ lau nhà, làm vườn được móc, đặt trên hàng kệ đóng sát vách. Sàn xi măng hẹp đầy đồ đạc. Mặt giường bừa bãi chăn gối. Cái bàn con xiêu vẹo. Hai cái đèn. Một máy truyền hình cũ nằm sát góc phòng có dăm ly nước chưa cạn đặt phía trên. Giá vẽ dựng giữa phòng với đống cọ, ống màu vung vãi chung quanh… Rất nghệ sĩ. Đó là ý nghĩ đầu khi tôi bước vào.

Nhưng tôi đã thất vọng trong ý nghĩ kế khi nhìn thấy các bức tranh. Đó là sự cóp nhặt từ những danh họa trên thế giới. Bóng dáng từng thiên tài ẩn hiện qua sự chắp vá vụng về. Tôi tìm thấy Venus của Botticelli sinh ra trong dáng xồ xề của một chị đàn bà quá tuổi, đứng õng ẹo trên cái vỏ sò treo cạnh người đàn bà quấn áo choàng lông của Rubens nhưng có khuôn mặt Á Đông.

– Mặt bằng hơi chật nên bừa bộn.

Tôi không để ý lời Hưng vì bận nhìn vào phần dưới thân thể của người đàn bà trong bức tranh đang vẽ, đặt trên giá. Cái rốn lồi. Ngấn bụng thõng. Vệt đen giữa hai mép thịt tòe như khe đất bị nứt hình tam giác hẹp góc. Người đàn bà trong thế nằm của Venus. Nhưng thay vì khép đùi với khoanh vải vàng che kín bụng dưới, lại mở hai chân để mọi thứ lộ ra xỗ xàng. Như gợi sự thèm muốn của người xem. Mà thèm thật. Trong bức tranh cóp lại của Guido Reni, tôi không để ý các chi tiết khác bằng cái tam giác hẹp góc giữa hai mép thịt.

– Ông anh thấy sao?

Tôi giật mình, nhìn Hưng. Dưới ánh điện, những lọn tóc khô cứng tua túa đâm lên, hắt bóng vào bức tranh đang treo trên tường giống đám cỏ đen bám vào thân người trong tranh. Lại một Venus. Lần này của Allori với tay phải đang duỗi để nắm tay Cupid. Nửa thân trên xoãi ra, giống như bức tranh đang treo tại viện bảo tàng Uffizi, nhưng nửa dưới thay vì khép hai chân, người mẫu của Hưng lại chàng hãng. Chân phải đưa lên làm Cupid đang giằng cây cung bị đá tung lên trời để háng mở rộng. Cửa mình vẽ tỉ mỉ. Hai mép thịt được xén gọn. Sắc hồng của da làm người xem bị kích thích. Tôi nhắc Hưng về thế nằm trong bức tranh có tên “Venus và Cupid”.

– Em biết, nhưng người đặt vẽ họ muốn nằm kiểu này.

Ra thế! Người đàn bà muốn vẽ theo ý để khoe cái cửa mình đã cắt dẻo thịt thừa. Bao nhiêu tiền? Trí tôi lẩn vẩn các mẩu quảng cáo trên những tờ báo thương mại trong vùng. Hưng lui hui tìm trong chồng sách, rồi reo lên, rút ra một cuốn sách khổ lớn, dầy. Nude of Art. Ba chữ vàng nhũ in trên nền bìa là các bức tranh nổi tiếng được xếp thành ô. Tôi cầm sách, lật vài trang.

– Cuốn này khá đủ. Em mua cho người thuê vẽ chọn.

– Bức tranh nào cậu thích nhất?

Lái qua chuyện khác, tôi gấp sách và đặt lên mặt ghế bên cạnh. Hưng kéo một cuộn vải từ góc phòng. Phủi qua bụi rồi cẩn thận tháo các vòng dây gai. Bức tranh được trải rộng. Lại một thân thể trần truồng. Các vệt nâu vàng được phết trên lưng người đàn bà nằm xoay mặt vào trong, giữa đám chăn màn do Van Gogh vẽ, được Hưng dựng lại.

– Ai thế?

Tôi tò mò. Hưng ngần ngừ.

– Thoa.

Rồi nói thêm về người đàn bà.

Cũng một thế nằm hơi giống với tranh mẫu, Thoa xoãi trên giường. Chung quanh có những đồ trang trí kiểu Hy Lạp – một mốt thường thấy của người Việt tại San Jose – trông quê mùa và có vẻ dôn dốt với các lớp màn phủ và hai cái cột thấp. Đôi mông lớn, tròn trịa đập vào mắt tôi. Thoa là một khuôn mặt nổi và có thế giá tại đây. Nhìn mông cô ta cũng thú. Nhất là trong thế nằm này. Bức tranh của Hưng gợi dục hơn tranh của Van Gogh.

Tôi chợt hiểu khi Hưng bắt đầu câu chuyện con lạc đà chui qua lỗ kim.

Bỏ lại quê hương với những gì đang có, Hưng theo người đàn bà hơn tuổi làm chuyến phiêu lưu cho giấc mơ họa sĩ và tình yêu. Tuy hơn tuổi, nhưng Thoa đẹp và khá giả. Điều này càng hấp dẫn hơn khi đó là người đàn bà độc thân, trở về từ Mỹ. Qua sự quen biết giữa hai gia đình, chỉ cần gặp lần đầu, cả hai đều tìm thấy sự cần thiết của người trước mặt. Với Thoa là thân thể khỏe mạnh của Hưng. Con cái rạo rực, chồm lên đòi sống. Với Hưng, ngoài các điều Thoa có còn nước Mỹ đầy hứa hẹn. Hưng biến thành một thứ doanh nhân đến tham khảo thị trường. Một chuyến đi hợp pháp để Hưng trở thành bất hợp pháp khi hết hạn tạm trú tại thiên đường với các đồng dollar vừa cạn.

Nhưng phía sau sự thèm khát của Thoa là khoảng trống. Khi hết những ngày hạnh phúc, Thoa hất Hưng ra khỏi cửa như đã hất những người đàn ông đến trước. Hưng ngơ ngác giữa đám bạn chưa kịp thân. Trong tay vỏn vẹn cái valy và bức tranh vẽ Thoa dở dang.

Hưng thở dài khi dứt chuyện.

– Em chẳng ngờ…

– Rồi lúc đầu cậu sống thế nào?

– May cho em, có một người quen với gia đình đứng ra hỗ trợ để thuê xưởng vẽ này. Nhờ người mối lái, em vẽ tranh đặt. Lúc đầu hơi thiếu, gia đình phải giúp thêm nhưng bây giờ khả quan hơn. Người này giới thiệu người kia. Chỉ tiếc không được vẽ theo ý mình.

Tôi không cười nổi khi nghe hai tiếng xưởng vẽ được dùng. Tội nghiệp Hưng đã bỏ những điều đã có để tìm giấc mơ khó đến. Gia đình không còn là nơi để về khi những bức tranh vẫn vẽ theo các cách thế gợi dục. Điểm thoát cuối cùng của Hưng chỉ còn hai cách là tài năng hay phép lạ. Tài năng? Tương lai không biết sao, nhưng hiện tại Hưng không thể thành công khi chắp nhặt từng mẩu thân thể đàn bà từ các bức danh họa. Còn phép lạ? Tôi ngán ngẩm nghĩ đến thời gian dài đã sống tại đây. Hầu như không một phép lạ nào, trừ việc trúng số, xảy ra cho người xa xứ ngoài những giọt mồ hôi đổ xuống. Nhưng ngay cả việc muốn đổ mồ hôi cũng đòi hỏi một tờ giấy hợp pháp mới có quyền làm. Hoàn cảnh của Hưng thật đáng ngại. Anh phải kéo dài cuộc sống bất hợp pháp và lây lất này đến bao giờ? Nước Mỹ chưa hẳn là thiên đường.

Hưng nhìn bức tranh, vuốt ve lên mặt vải.

– Cũng may còn bức tranh.

– Cậu yêu Van Gogh?

– Vâng. Em nghe nói tại viện bảo tàng Amsterdam có nhiều tranh Van Gogh.

Tôi kể về một thành phố có những tòa nhà đủ màu nằm sát bờ nước. Tại đó có viện bảo tàng Van Gogh, nơi có những con người đến từ khắp nơi trên thế giới, ngơ ngẩn ngồi trên băng ghế, miệt mài chi tiêu thời gian trước các bức tranh với giấc mơ như Hưng.

– Em mong có ngày được đến đấy.

Hưng thèm thuồng nói. Tôi cắt ngang chuyện về tranh để tránh điều không muốn nói và lái sang thú vui xác thịt tại Amsterdam. Cửa hàng sex hợp pháp như các cửa hàng khác. Món hàng thịt người được bày biện sau khung kính giống mọi món hàng khác. Rõ và tự nhiên với thân thể đàn bà được phơi trong các mảnh vải thưa hoặc trần truồng. Những gì cần che giấu tại các nơi khác được trưng ra tại đây. Lõa thể đứng sát cửa hoặc ngồi trên ghế với tấm voan mỏng vắt hờ hững trên bụng. Kín và hở. Phơi bày và che giấu chiếu lệ. Những thân người được đánh dấu bằng chữ số. Tôi đã chọn một con số trùng với ngày sinh của mình, khi vợ tôi mải mê ngắm các viên kim cương nổi tiếng của thế giới được trưng bày tại một xưởng làm nữ trang.

– Thích quá ông anh nhỉ.

– Thích thì thích, nhưng nhìn vào tập ảnh dầy khó chọn lắm. Hoa cả mắt vì chẳng ai giống ai. Mỗi người một kiểu, một màu, một vẻ… Chỉ muốn được ôm hết nhưng sức mình không kham nổi.

– Đắt không anh?

Hưng hỏi thêm. Tôi nói một con số và liên tưởng đến người con gái đã gặp trong thoáng chốc. Trừ mái tóc, tất cả được cạo cẩn thận, trơn, sạch như miếng thịt bày tại siêu thị.

Hưng bật cười thích thú rồi chép miệng.

– Thích thật! Ông anh sướng thật. Gặp tay em chỉ cần đứng ngoài nhìn là đủ hết ngày.

Câu chuyện sa đà thêm. Tôi vui miệng kể và lúc đó hoàn toàn không nhận thấy Hưng có vẻ thích nghe chuyện các cô gái bán thân nhiều hơn hỏi về tranh Van Gogh.

Hết mùa thu San Jose, Hưng bắt đầu nói đến những bế tắc. Đêm của Hưng vẫn chắp vá, pha trộn đường nét của các thiên tài. Ngày của Hưng trôi từng giờ, chập chờn trong giấc ngủ mệt. Những vệt màu trên khung vải đã chớm mùi nhàm chán của sự lập lại. Như một người thợ làm việc hàng ngày. Bỏ quê hương, Hưng đâu muốn làm một con kiến nhẫn nại, tha mồi theo từng động tác quen thuộc. Hay đâu ngờ phải chờ từng người đàn bà quá thì, thõng thện vú đùi đến phơi bày thân xác để kiếm sống.

Không tránh được và phí hoài sinh lực trong những buổi vẽ tranh, Hưng thú thật với tôi là đang làm công việc của một anh điếm đực. Hầu hết những người thuê Hưng đều sẵn sàng cho không. Hoặc tệ hơn, thuê vẽ chỉ là một cái cớ để họ tìm đến Hưng mà không phải e ngại khi tìm một địa chỉ đen, hay làm một chuyến du lịch dành cho phụ nữ tại Thái Lan. Họ truyền tai chuyện Hưng như một khám phá mới. Rồi những bức tranh thuê vẽ cũng không còn cần thiết. Những người đàn bà nằm, ngồi trong dáng Aphrodite chỉ muốn được thỏa mãn mà không cần biết mình đang sắm vai nào. Con của Zeus và Dione hay đã hóa thân trên vỏ sò, từ hạt giống của Uranus? Sao cũng được. Họ ngắm, chọn các kiểu nằm, ngồi trong cuốn Nude of Art chiếu lệ. Đặt vẽ như một cách tìm thú vui mang vẻ lãng mạn, trưởng giả để khai thác sinh lực của người đàn ông to xác, khỏe mạnh.

Cho đến lúc Hưng chỉ còn bữa trưa nấu vội gói mì. Chút sinh lực còn lại, bùng lên lần cuối cạn dần. Các bức tranh lõa lồ, khiêu dâm không còn là cái mốt cho những người đàn bà dư tiền tìm đến. Chung quanh đã có những loại người khác để thay Hưng mà họ không mất thời gian đóng vai Venus. Khung vải bỏ trống cạnh những ống màu khô. Hưng bị cuốn vào áo cơm khi nguồn tiền từ Việt Nam bị cắt. Mơ ước của ngày đầu đã nhạt. Chỉ còn âu lo trước mặt. Hưng lao đao bám vào đời sống Mỹ, chờ ngày đổ xuống.

Tôi không dám gợi ý Hưng trở về quê hương nhưng đã kể lại cảnh khó khăn của những ngày vừa hết cuộc chiến. Đủ loại nghề lạ đã được làm nhưng trong tôi giấc mơ không bao giờ mất. Tôi đã nhọc nhằn để làm việc cần thiết nhất là kiếm sống trong khi chờ cơ hội ra đi. Phải sống trước đã. Và trong những lúc tuyệt vọng, tôi luôn tìm thấy một cánh cửa nào đó được mở. Như ánh mắt Hoa – cô gái buôn hương – khi dắt tôi về túp lều lụp xụp nằm sát đường xe lửa để nương thân. Như sự ngạc nhiên tại khoảng đường lầy giữa khu kinh tế mới Dương Minh Châu và Trảng Bàng, khi được hai người bộ đội gác đường – thay vì bắt giữ – đã giúp tôi đẩy chiếc xe đạp thồ than qua vũng bùn ngập ngang đầu gối; xong, còn dặn không nên đi trên tuyến này trước nửa đêm. Như các đồng bạc nhăn nhúm nằm trong chiếc mũ tai bèo cũ, được bố thí từ những người xa lạ khi đang ăn mày tại ga xe lửa Sài Gòn… Quá khứ chắp vá lại trong từng lần nói chuyện chỉ mong Hưng thấy cảnh sống hiện tại vẫn còn những con đường rộng hơn các lối tôi đã qua.

Song song là chuyện những người Mễ cũng sống bất hợp pháp như Hưng. Cũng ngọng nghịu khi nói chuyện với người bản xứ. Họ nhọc nhằn đẩy xe bán hàng rong, trải tấm bạt để cóp nhặt từng đồng từ các món đồ vất đi tại chợ trời. Tất cả đều bắt đầu từ số không để hôm nay, đã có những con người tuy chưa thành một thứ Van Gogh, nhưng ít nhất cũng có đời sống bình thường trên mảnh đất này.

– Cậu nên ngưng lại.

– Vâng, em cũng nghĩ thế. Nhưng sẽ bắt đầu cách nào?

Chúng tôi ngồi trong khoảng sân trước nhà sau cơn mưa xuân. Những hạt nắng vàng bám trên cảnh vật làm cái nhìn vui hơn. Không khí thoáng, nhẹ để con người có hơi thở sâu. Trước mặt tôi là con đường nhỏ nối liền với đường chính, ngắt từ ngã ba và uốn theo hai hàng cây có từng căn nhà chen vào. Bên kia đường, nơi Hưng ở, nửa cuộn cửa cuốn của cái nhà chứa xe đang mở. Từ chỗ tôi ngồi, đồ vật bên trong ẩn hiện vào các vết đen, tối. Người nghệ sĩ này đã tiêu thời gian trong khoảng hẹp đó với sự bế tắc và bị ăn mòn từng ngày, khi ánh sáng vẫn rực chung quanh.

– Sao cậu không nghĩ đến một cách buôn bán nào đó? Chợ trời chẳng hạn.

– Bán gì hả anh?

– Có gì bán đó, tùy theo hàng mình mua. Tuần bốn ngày, còn lại ba ngày cậu vẫn có thể theo đuổi điều mơ ước. Chẳng có ai kiểm soát, chẳng cần phải xin giấy phép. Đã nhiều người cùng hoàn cảnh với cậu đang sống bằng cách đó.

– Nhưng em không được lái ô tô.

Hưng nói khi tôi nhớ đến Số – người lính cùng đơn vị – cũng sống tại đây hơn ba mươi năm, vẫn còn giữ tình thân của những người đã chia nhau các phút sống chết và nhất là đang sống cạnh chợ trời nhỏ San Jose. Một nơi chốn Hưng có thể bắt đầu kiếm sống bằng khoảng đi bộ ngắn. Tôi gợi ý và nhắc đến Số. Hưng suy nghĩ rồi ngập ngừng.

– Anh Số thế nào hả anh? Nhỡ anh ấy biết em là…. Còn vốn nữa, liệu có nhiều không anh?

– Chẳng bao nhiêu, cậu đừng lo. Chỉ cần chịu khó lang thang các nơi bán garage sale hay dậy sớm đón mua hàng và đứng phơi nắng để bán hàng. Số là người tốt, dễ gần gũi. Bộ đội Hưng yên tâm, ngày xưa Số đã cứu tôi thoát chết một lần. Mảnh đạn 57 ly SKZ còn nằm trong vai tôi có thể từ một cái bấm cò của cậu.

Tôi thêm câu đùa để Hưng khỏi mặc cảm và lo lắng. Hưng bật cười theo và tự nhiên, dưới nắng xuân, tôi tìm thấy niềm vui như lúc thoạt bước vào cái xưởng vẽ được chữa lại từ một nhà chứa xe.

Hai tuần sau khi đưa Hưng đến nhà Số để tạm trú, tôi bận việc tại nước ngoài. Trên chuyến bay British Airways, chập chờn trong các giấc ngủ ngắn, tôi nhớ lại những ngày vừa hết cuộc chiến. Hệt như Hưng bây giờ. Anh sẽ bắt đầu bằng những giọt mồ hôi tại xứ lạ. Nhưng liệu Hưng có giữ được giấc mơ để quên những giấc ngủ ngày đã làm hai mắt trĩu nặng? Tôi bước xuống phi trường Heathrow với hy vọng Hưng sẽ “thành công” trong nghề bán chợ trời trước khi quay lại với khung vải.

Sau chín tháng, tôi trở về San Jose và đến chợ trời nhỏ vào một chủ nhật. Trong cái lạnh của ngày chớm đông, tôi đã thích thú tìm thấy Hưng trong cái áo Biệt Động Quân rằn ri như tôi đã mặc. Trước mặt Hưng là tấm bạt bày các thứ đồ hổ lốn. Hưng đang tiếp một người đàn bà tóc vàng. Từ xa, qua cung cách của của hai người, tôi thấy Hưng có vẻ đã quen với ngôn ngữ bản xứ. Khuôn mặt Hưng đầy lại, khỏe với nước da rám.

Tôi vỗ vai Hưng khi người đàn bà bước đi với cái túi nhựa trên tay.

– Sao? Thế nào?

Hưng giật mình quay lại.

– Giời ơi! Ông anh đã về!

– Quen rồi chứ? Buôn bán thế nào?

Tôi mỉm cười, hỏi thêm. Hưng vui vẻ.

– Quen rồi ông anh ạ. Em bán cũng khá vì cứ có lời là bán… À…

Hưng bỏ ngang câu và thọc tay vào túi trong, phía trên ngực áo khoác, lôi ra một cái phong bì. Bằng hai tay, rất lễ phép, Hưng đưa tôi.

– Ông anh cho em gửi.

– Gì thế? À…

Tôi nhớ đến món tiền nhỏ – vài trăm dollars – đã đưa Hưng làm vốn lúc đầu và đón lấy cái phong bì được dán kín bằng hai vệt băng keo dán chéo phía sau. Mặt phong bì nhăn nhúm, lợn cợn các dấu tay bẩn làm tôi xúc động. Hưng đã để riêng món tiền này từ lâu và chờ ngày tôi về. Anh vẫn giữ thế đứng của một người đã cầm súng chiến đấu. Sòng phẳng với cái nhìn thẳng về phía trước.

Lại một người khách đến. Lần này Hưng bập bẹ trả lời. Đã thích thú tôi lại càng thích thú hơn khi nghe các câu nói bằng tiếng Mễ của hai người. Mỹ rồi lại Mễ. Hưng đã bỏ giấc ngủ ngày để khoác áo, tự nhiên đẩy cửa bước ra ngoài từ sáng sớm. Một lớp áo dù chưa nhuần nhuyễn lắm nhưng đủ để anh chịu được cái lạnh của mùa đông đang đến. Hệt như chiếc áo lạnh Biệt Động Quân đang được mặc tự nhiên giữa dòng sống xứ người.

Tôi bắt tay từ giã để Hưng tiếp khách. Nhưng vừa đi dăm bước đã có tiếng Hưng gọi theo.

– Ông anh chiều xuống nhà anh Số nhé.

Tôi quay lại.

– Mấy giờ?

– Bảy, tám giờ gì cũng được. Chúng em sẽ chờ!

Tôi gật đầu và lúc bảy giờ tối được thấy chiếc xe kéo hàng của Hưng. Đó là chiếc xe tự chế theo kiểu xe lôi ở miền Nam, người đạp ngồi phía trước nhưng chỗ ngồi của khách thì thay bằng thùng xe chứa hàng. Trên đó, các món hàng đủ loại được xếp.

– Chịu cậu thật! Chế lúc nào?

– Em với anh Số “phát minh” ra cái xe này, nhưng chỉ dùng được ở đường trong để đến cổng sau chợ trời. Cũng đỡ mệt lắm anh ạ. Anh Số bảo không được đi đường ngoài, police sẽ bắt.

– Chịu khó thêm thời gian nữa. Tôi nghĩ cậu sẽ xin được bằng lái xe tạm theo luật mới.

– Vâng, em có nghe chuyện này.

Tôi theo Hưng vào nhà để bắt đầu cuộc rượu. Nếu đứng ngoài, nghe những câu chuyện được kể ra giữa tiếng cười của ba người đang về già, không ai ngờ ngày xưa chúng tôi đã chỉa súng vào nhau tại chiến trường Bình Định. Từng địa danh đầy máu và nước mắt được nhắc với các kỷ niệm, kinh nghiệm đã trải một cách bình thường. Bồng Sơn, Tam Quan, Phù Cũ, Phù Cát, đồi Hai Vú, Gia An… Chúng tôi nhắc lại trong đêm xứ lạ như kể cho nhau những chuyện cổ tích. Các thứ lý tưởng trở thành vô nghĩa. Những người lính chỉ là những người bình thường như tất cả mọi người, điểm khác biệt là hành động dám nhìn thẳng, sòng phẳng với mình và kẻ bắn mình.

Cuối cuộc rượu, câu chuyện được lái sang đời sống tại đây. Tôi nhớ đến giấc mơ của Hưng.

– Bộ đội Hưng còn vẽ chứ?

– Vâng. Ông anh vào đây với em.

Hưng vui vẻ kéo tôi đứng dậy. Vòng qua cánh cửa hẹp dẫn đến nhà để xe của Số, trí tôi hiện lên những thân đàn bà trên khung vải. Nhưng không, trên ba tấm tường gỗ không có một Venus nào. Chỉ là cảnh những con người đang kiếm sống tại chợ trời nhỏ San Jose. Tôi tìm thấy một người đàn bà đang ngồi trước sạp hàng loe hoe vài chiếc áo cũ, nét mặt mệt mỏi được treo cạnh một người đàn ông Mễ đang ôm đàn, cười méo mó với chiếc nón lật ngửa trước mặt. Bỏ giá vẽ đang dở dang những vết màu của cảnh một đám đông đang bận rộn, trải bạt, bày biện hàng sửa soạn buôn bán, tôi đến cạnh Hưng.

– Cậu bắt đầu lại từ lúc nào?

– Mấy tháng rồi ông anh ạ. Bỏ trống ba ngày trong tuần cũng phí. Ông anh thấy được không?

Tôi không trả lời khi niềm vui chợt đến. Hưng đã tìm lại giấc mơ trong cảnh sống của người chung quanh. Đâu cần với tay lên cao để tìm những dáng người huyền thoại. Thất bại hay thành công? Có gì là quan trọng? Ít nhất, Hưng cũng tìm thấy những viên đá do chính mình đẽo gọt để đặt xuống con đường đang đi.

Chúng tôi ra ngoài sân để hút thuốc. Dưới ánh sáng của ngọn đèn gắn trên tường, phía trước thùng hàng của Hưng, chiếc xe đạp có hai cái càng trông giống chiếc xe đạp thồ than của tôi năm nào. Niềm vui trong tôi chợt mất và thay bằng nỗi xót xa khi nhớ lại buổi chiều đứng trước pho tượng “Apollo / David” của Michelagelo, trong viện bảo tàng Bargello. Bấy giờ tôi cố gắng như bao người đã đứng trước pho tượng để đoán đây là Apollo hay David. Nhưng câu trả lời chẳng bao giờ có. Sự thật đã chia hai để lý luận, để tranh cãi gần năm trăm năm hệt như dân tộc tôi, sau cuộc chiến vẫn còn có những điểm chưa phân định.

Apollo hay David? Hưng hay tôi? Chúng tôi lẫn vào nhau trong các giấc mơ, các vai trò và đứng yên một chỗ. Bỏ mặc thế giới đổi thay từ lá cờ đầu tiên cắm trên mặt trăng hơn nửa thế kỷ trước, đến hôm nay đã đem về trái đất các mảnh vụn của hỏa tinh.

Mấy mươi năm, chúng tôi chỉ làm được một điều duy nhất là đổi chỗ cho nhau.

NGUYỄN Ý THUẦN

BẢY MÀU MƯA HUẾ

phuongxichlo

Anh dắt em về cơn mưa đầu hạ
Mưa đỏ bên đường hay ánh phượng soi?
Tóc em ướt mềm như từng ngọn lá
Chiếc nón bài thơ em để mô rồi?

Anh dắt em về ngang qua cầu Mới
Mưa đen trên trời, mưa tím dưới sông
Áo trắng em chừ như tranh lập thể
Ai đã tô lên những mảng mưa hồng?

Anh dắt em về ngang qua Đại Nội
Con đường tình yêu chạy dọc Hoàng thành
Những đám rêu xưa giật mình tỉnh giấc
Đắm hồn mình trong những giọt mưa xanh.

Anh dắt em về nhà xưa vườn cũ
Những đóa mưa vàng lấp lánh trên hoa
Chia tay trước nhà em vào với mạ
Riêng anh lang thang mưa trắng nhạt nhòa.

PHƯƠNG XÍCH LÔ