ÁO TRẮNG

khuatdau


Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
.
Huy Cận

Chếc áo tôi muốn nói, nhìn xa tưởng đâu em gói mây trong áo, tới gần mới biết là hai phần gió thổi một phần mây.
Một phần mây thôi, nhưng cũng đủ làm choáng váng vì áo em trắng quá nhìn không ra.
Đó là chiếc áo đồng phục của nữ sinh. Người ký cái lệnh xinh tươi đó, trước khi là nhà mô phạm cũng đã là một nhà thơ. Không chừng còn là một họa sĩ nữa. Nhờ vậy, từ những ruộng đồng xa xôi đến những phố phường rộn rã, ngập tràn những làn mây trắng đẹp.
Nhà thơ Hoàng Trúc Ly một lần nằm mộng thấy nữ sinh đã phải buột miệng:
Ô hay con gái bay nhiều quá
Những cánh tay mềm như cánh chim!

Tưởng không còn hình ảnh nào bay bổng đẹp hơn được nữa.
Không chừng những khách du lịch, cả những chính khách ưa cái đẹp (và gái đẹp) như Clinton cũng nằm mộng như thế giữa ban ngày, khi thấy các em tan trường về.
Một chiếc áo đơn sơ, không cứ gì phải lụa Hà Đông để nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, cũng không lòe loẹt kiểu cọ, chỉ thuần một màu trắng tinh khôi, cùng với quần trắng, nón trắng. Nó bay bổng lên được, đương nhiên nhờ hai phần gió thổi, nhưng nhẹ đến thế, mềm đến thế vì nó được mặc bỡi những nàng con gái.
Tôi không chối cãi rằng, có một thời ngồi ở bến Thừa Phủ chỉ để nhìn những nữ sinh trong thành nội, đúng là mềm như cánh chim, ríu rít như chim, rủ nhau xuống đò cho kịp giờ vào lớp ở trường Đồng Khánh.
Thưở nọ, tôi là một anh học trò cả ngố chín năm kháng chiến ở đất Bình Định, được nhắc nhở rằng màu trắng là màu có lý lịch xấu. Địch đã từng dùng những mảnh gương soi ra hiệu cho máy bay bắn phá kho thóc, trường học. Các cô gái chỉ có một cái kẹp tóc thôi để làm dáng, cũng phải che cái lấp lánh đi, nếu không muốn bị kết tội là Việt gian! Còn nón trắng thì quét lọ nghẹ hay bùn! Nên chi tôi cứ đứng ngẩn ngơ suốt cả buổi mà trông vời, tuy rằng ở thành nội, đâu phải ai cũng là tiểu thư.
Với một làn áo trắng như mây đó, trông ai cũng đẹp, cũng thơm tho tinh khiết, là nét xinh rất chung của tuổi em tuy mới mười lăm mà đã lắm người thăm.
Thăm thì mặc họ, em vẫn cứ mộng bình thường. Em chưa mộng nhà lầu xe hơi, chưa mộng lấy chồng bác sĩ kỹ sư hay làm người yêu của sĩ quan trẻ tuổi đẹp giai.
Em chỉ mộng, mà mộng gì em cũng không biết nữa, có thể là bay lên như chim, có thể là lạc vào một hoang đảo, hay mộng thấy mình bất ngờ thành con giai để xem bọn họ nghĩ gì về con gái. Nói chung là mộng trắng trong như nhà thơ Huy Cận đã nói quá hay và quá đủ.
Chính vì mộng trắng trong nên em nào cũng hồn nhiên trong sáng. Hồn em như tủ mới, các ngăn đều trống thênh thang, chưa phải xếp đầy những lo toan chất chồng khi phải nghiêng vai gánh nặng tuổi đời. Các em bay lên là phải.
Nói về cái bay bổng, cái thướt tha, cái tinh khôi của chiếc áo nữ sinh, có lẽ một ngàn năm sau cũng vẫn có người còn nói. Tôi có nói thêm nữa cũng bằng thừa. Tôi muốn dành những dòng này để nói về một thoáng buồn.
Một thoáng là so với một ngàn năm sau, chứ với những ngày sau tháng tư đáng nguyền rủa, cũng khá là dài, nhất là với các cô bé mười lăm hay mười bảy.
Các cô được “rải phóng”, không còn phải mặc áo dài. Kẻ thắng cuộc “ní nuận” rằng, đi học chứ đâu phải đi ở tù mà phải mặc đồng phục!
“Thế thì cho chúng em xin mặc một ngày thứ hai thôi!”
“Đó là pháp lệnh! Mặc là để học và lao động chứ không phải để làm đẹp”
Không phải chỉ một vài em nài nĩ xin với thầy cô như thế, mà ít ra cũng đến cả triệu nữ sinh của bên thua cuộc, nếu cho các em khóc xả láng chắc cũng đủ nước để làm thủy điện!
Chưa bao giờ các em buồn như hôm chiếc áo trắng bị tuyên án tử. Nhiều em bỏ học nằm miết trên giường. Buổi sáng đầu tiên không đồng phục, các em thấy ngỡ ngàng xấu hổ, như thể vừa bị lột mất áo.
Cái lệnh đó cũng giống như vua Minh Mạng cấm quần không đáy!
Sau này, các em mới hiểu ra, chỉ có bốn tấc vải một năm, vừa đủ che những chỗ cần che, cấm là phải. Lúc đầu cất kỹ, lâu lâu lại đem ra ướm thử cho đỡ nhớ. Nhưng bao nhiêu áo mặc thường ngày, cứ mòn dần rồi rách te tua. Thì đành mua thuốc nhuộm, cắt hai tà may thêm được một chiếc. Rồi cũng thành giẻ rách!
Từ đó, các em không còn mộng trắng trong, mà đục ngầu vì bị đẩy lên kinh tế mới hay lênh đênh giữa trùng khơi vô định.
Đến nay, các nữ sinh ấy nếu không vùi thây trong rừng sâu hay nằm trong bụng cá, cũng đều ngấp nghé ở tuổi sáu mươi. Cũng đã là bà nội bà ngoại, nhưng kỷ niệm một thời áo trắng vừa đẹp vừa buồn ấy, không một ai quên được.

Giờ, dẫu sao cũng có cái ăn cái mặc, người ta lại ra pháp lệnh mới, đồng phục nữ sinh. Thế là chiếc áo trắng tưởng bị chôn vùi cùng chế độ cũ nay đội mồ sống dậy.
Nhưng nó không còn là mây dù màu cũng trắng. Nó chỉ có xác chứ không hồn, khi người mặc nó dù trời nóng hay lạnh cũng đều khoác thêm một chiếc áo lụng thụng có mũ trùm đầu, chân mang giày và mặt thì che khẩu trang kín mít. Ăn mặc như thế, còn tệ hơn là chim cánh cụt.
Đâu còn cảnh tung tăng, nói cười nhí nhảnh. Đâu còn tiếng guốc khua trên hè phố nghe động tận tim ai. Và đâu còn cảnh nữ sinh bay nhiều quá/ những cánh tay mềm như cánh chim.
Áo đã như thế nên mộng cũng không còn trắng trong. Chiếc tủ hồn em chật ních những ước mơ làm người mẫu chân dài, làm ca sĩ, lấy chồng đại gia, có tệ lắm cũng phải là một anh Đại Hàn nhà quê.
Thế thì áo trắng ơi, sống lại mà làm gì. Đã là mây thì xin mây cứ bay đi. Bạch vân thiên tải không du du!*
________________________________

Những chữ in nghiêng: tác giả thiếu chữ phải mượn đỡ các nhà thơ, chứ không phải cố ý cầm nhầm.

Bóng Sương

hoaikhanh

Ngày sương thành phố dâng mùa
Bóng thu chìm tịnh cánh thưa khởi vàng
Tôi hoài trên bước lang thang
Yêu em vô lượng mà man dại buồn
Tóc huyền đó lạnh như sương
Mắt huyền đó mộng bình thường không em
Mỗi đêm gió nhớ trăng tìm
Bãi sông triều dậy đi niềm chia phôi
Lòng anh chiếc bóng bên trời
Ôi con sông đó dài trôi lặng lờ
Tình anh cũng chỉ bơ vơ
Một dòng sông nhỏ mịt mờ bóng sương.

HOÀI KHANH

KHOẢNG TRỐNG

maiviet

Vẫn còn trong lòng tôi ngày trinh nữ
Em xinh hơn một lượt trúc mai đào
Tôi thầm đứng bên kia đường ngửng mắt
Thấy nụ cười tràn mộng cả chiêm bao

Vẫn còn trên môi tôi lời muốn nói
Thuở bên người sao cứ mãi lặng thinh
Thời gian có trăm năm hoặc dài nữa
Cũng chờ em để ngỏ một mối tình

Chiều ngồi nhớ tháng giêng nơi vành nón
Dấu vai nào còn giữ chút vân tay
Hương bồ kết gợi thầm đôi môi cũ
Thương em mùa trăng hẹn ngõ thu phai

Tôi như đêm cứ qua ngày đoạn tháng
Chuyến tàu đi nhòa ướt mấy khung trời
Tiếng gà khuya nhắc chừng ai thức đợi
Nửa trăng gầy nằm lạnh bãi sông quê

Và dấu chân vẫn bước hoài phía trước
Đuổi theo em chiếc bóng khuất xa rồi
Ta cút bắt , nhưng lần nào cũng đến
Cõi không bờ tôi đứng một mình tôi

Nên bây giờ còn lại tháng ngày qua
Còn lại những bài thơ tình lỡ phận
Còn lại đêm tôi đi về khoảng trống
Nên tim mình sầu nặng phải không Vân ?


MAI VIỆT

Đường Về

nguyenythuan

Tôi khóa cửa tòa soạn. Bên trong, lũ bàn, ghế, giấy, bút ngổn ngang đã là thế giới khác. Tôi bước ra từ cửa một cuộc sống để đến một cuộc sống. Con đường William trước mặt. Tám đoạn đường cắt ngang. Từ đường Second đến Ninth là bốn lần đèn xanh, đỏ và bốn lần bảng stop. Tôi bắt đầu từ một cầu thang để đi xuống. Tôi chấm dứt bằng một cầu thang để đi lên. Tòa soạn và khu chúng cư. Khoảng giữa là một thế giới khác, một cuộc sống khác. Thế giới William và cuộc sống William.

Đôi dép nhật màu xanh, mòn gót phải đem từ Santa Ana lên vẫn được mang. Chẳng cần bỏ hay đổi. Tại sao phải là đôi giày da? Tại sao phải là áo vest với đuôi cà vạt lụa? Con đường William vẫn thiếu ánh điện trên vài đoạn đường và gái giang hồ, những thằng say còn tụm trên hè phố. Đôi giày da và bộ vest sẽ làm tôi mất một thế giới đang lồng trong thế giới hàng ngày. Tôi ngột ngạt và cần thở. Đâu có con điếm nào mặc áo dạ hội đứng đường đón khách, cũng đâu có thằng bụi đời nào thắt cà-vạt, ngồi bệt giữa đường tu rượu. Tại sao tôi phải vất đôi dép chưa đứt quai để thay bằng đôi giày da đi trên con đường này. Hơn nữa tôi đang cần một cuộc sống khác. Tôi cần. Tôi đang cần. Như đôi dép đang cần chạm vào mặt đường để đôi dép được là đôi dép. Không mang trong chân, hay gói trong bọc để ở một cửa hàng nào đó, hay đặt trên mặt thảm, hay vất vào thùng rác, hay… thì sẽ là cái gì? Đâu còn là đôi dép. Mớ cao su từ đâu đến, trộn màu xanh cùng những hóa chất nào đó được nấu, được đổ vào khuôn, được cắt thành hình. Rồi chờ chạm vào cuộc sống. Bao nhiêu đôi? Làm sao tôi biết được? Một triệu, hai chục triệu, ba trăm triệu, bốn tỷ…? Những con số để đếm. Những đôi dép giống nhau và khác nhau. Mà cần gì phải biết khi tôi hiểu đôi dép nhật của tôi đang sống trong khi còn nhiều đôi dép trong bọc không được sống. Dù cuộc sống chỉ là con đường William đầy gái điếm và những thằng bụi đời say rượu.

Tôi không yêu con đường này. Nhưng tôi thích đi bộ tại đây. Làm sao yêu được một con đường lạ. Lạ từ cái tên lạ đi. Dù đó là con đường nhỏ, hai bên có những tàng cây, nhà cửa thụt ra, thụt vào va ánh điện lúc có, lúc không. Nghĩa là con đường có những nét để thành một con đường tôi đã sống. Nha Trang. Nhưng vẫn lạ bởi trong tôi chỉ có các con đường đã mất. Hai Chùa. Hoàng Tử Cảnh. Nhà Thờ. Biệt Thự… Có gia đình. Có bạn bè. Có các quán cà phê. Có ấu thời… Nhưng tôi thích đi bộ trên con đường này. Những lý do như mất bằng lái xe bởi say rượu gây tai nạn. Hoặc đi bộ cho cơ thể tốt hơn sau một ngày làm việc theo lời chỉ dẫn của một tạp chí, một ông bác sĩ nào đó. Hay như lời thằng bạn học cùng lớp tại trường Võ Tánh, hiện đang làm bác sĩ tâm thần tại một dưỡng trí viện dọa. Mày phải vận động. Làm báo, viết lách, suốt ngày cắm đầu vào computer và mớ chữ trông mày ngơ ngơ như thằng điên. Có ngày khùng thật con ạ. Khùng và điên… Thêm vài lý do với chữ thích và chữ phải. Thích đi bộ và phải đi bộ. Tôi chọn chữ thích. Đâu có gì là phải trong tôi. Con tinh trùng đã bơi tự do trước khi kết hình. Tôi muốn kéo dài cuộc sống William sau những cuộc sống khác. Nhích từng bước trong cái mệt để nghe máu rân ran trong thân. Lắng nghe tiếng lép nhép của đế dép cao su chạm mặt đường giữa không gian vắng. Chín giờ tối đoạn đường đã chết. Chỉ có tiếng dép. Mỗi bước chân là một tiếng. Kéo dài trên mặt đường. Tôi nghe. Tôi nhận tiếng động của mặt đường và miếng cao su được gọi là dép chạm nhau. Truyền qua lòng bàn chân rồi tỏa rộng vào thân. Rõ từ lúc mũi dép đặt xuống, kéo lê thành vệt cho đến khi gót dép được nhắc lên. Mỗi bước là một tiếng. Những tiếng lép nhép kéo dài hết đoạn đường từ Second đến Third ngắn chừng năm mươi thước. Không một ánh đèn. Tối và tối. Tôi đi và tôi đang đi. Tiếng dép cao su kéo trên mặt đường và tiếng dép cao su đã kéo trên mặt đường. Tôi bắt đầu một cuộc sống.

Hết những căn nhà trồi ra, thụt vào của dãy phố Second và Third là một gốc cây lớn. Tàn cây tỏa rộng, kín một góc hè. Đoạn đường đã tối đến đây lại tối hơn. Cái cây đen mang hình thù kỳ lạ. Giống như cây nấm Hiroshima bị tô đen. Cây nấm năm bốn lăm thỉnh thoảng được nhắc lại cộng với những con số đứng trước cái được gọi là cái chết. Tại sao tôi lại dài dòng với những thứ cái được kể. Sự liên tưởng ngu xuẩn. Bây giờ là cuối năm. Tôi đang đứng tại một tiểu bang giàu có của một đất nước giàu có. Gốc cây có liên quan gì đến cây nấm năm bốn lăm? Gốc cây chỉ là gốc cây. Dù đó là gốc cây đầy bóng tối trên con đường đầy bóng tối. Và tôi đang đứng trong bóng tối nhìn về cột đèn đường cách khoảng 10 thước. Cột đèn của ngã tư đường Fourth và William.

Chữ don’t walk đỏ trên đèn báo hiệu. Từ đây đến đó khoảng mười thước. Mười thước là bốn mươi bước chân thường. Mười thước là sáu mươi bước chân dạo chơi. Tôi không trong cuộc sống thường. Tôi đang trong đời sống khác. Tôi không đi bốn mươi bước trong mười thước. Tôi cũng không đi dạo nhàn hạ. Tôi không cần đi sáu mươi bước trong mười thước. Tôi sẽ đi tám mươi bước nếu tôi thích. Tôi sẽ đi một trăm nếu tôi thích. Nhưng phải dài hơn sáu mươi bước. Tôi đang sống. Tôi dè xẻn cuộc sống William cho tôi. Thêm một bước là thêm một nấc thời gian. Tôi giữ cho tôi. Riêng tôi. Chỉ riêng tôi nên cây nấm năm bốn lăm không cần phải nhớ. Tôi ích kỷ bởi tôi đang yêu tôi.

Trước mặt tôi là chữ don’t walk đỏ nhấp nháy. Mỗi lúc như nhanh hơn. Khoảng bước chân thứ năm mươi mấy gì đó, lúc tôi đang còn trong bóng tối đèn bật chữ walk trắng với bóng đèn tròn, xanh bên trên. Tôi không vội trong bốn thước cuối. Tại sao tôi phải vội khi tôi đã vội quá nhiều?

Bây giờ chữ don’t walk đứng yên. Màu vàng của bóng tròn vụt tắt. Nhóe ánh đỏ. Don’t walk có nghĩa là đừng đi bộ, không được đi bộ, cấm đi bộ v.v… Đủ thứ để hiểu: không cho phép mà cứ băng ngang, lỡ bị xe đụng thì ráng chịu. Mạng sống được quí trọng tại xứ này nhưng luật cũng cần tôn trọng. Tôn trọng và quí trọng. Đâu ai cân thử để biết cái nào nặng hơn. Băng ngang khi đèn đỏ lỡ bị tông thì cái chết kéo thêm một vài phiên tòa thiếu người chết. Rồi xong. Tôi không muốn chết lãng. Tôi sẽ tôn trọng luật lệ của chiếc đèn đường nếu tôi không đang trên đường William. Nên don’t walk mặc kệ don’t walk. Tôi đâu có đi bộ. Tôi đang sống với đôi dép nhật mang trên chân. Don’t walk để cấm người đi bộ băng qua đường. Don’t walk đâu cấm người sống và đôi dép sống. Tôi không muốn ngưng cuộc sống này. Tôi cũng không muốn đôi dép của tôi không còn là đôi dép trên đoạn đường William. Tôi không muốn tôi không còn là tôi.

Tiếng thắng xe rít và tiếng bánh xe nghiến dài trên mặt đường nghe chói. Tôi quay sang trái. Ánh đèn pha lóa mắt. Một cái đầu thò khỏi cửa sổ xe.

– Fuck you!

Mỹ đen hay Mỹ trắng? Có thể là Mễ. Ánh đèn làm tôi không nhìn rõ khuôn mặt. Nhưng sao lại là fuck you mà không là mẹ mày hay đụ mẹ mày. Tiếng fuck you nghe lạ. Thằng người này đang sống trong cuộc sống khác. Chẳng dính gì đến tôi. Tôi không có nó. Nó không có tôi. Fuck you thì cứ fuck you. Đôi dép và tôi vẫn sống. I don’t care.

– Are you crazy?

Thằng người trong xe thò đầu ra gào lên. Tại sao nó la lớn thế? Tôi ngạc nhiên. Giữa cuộc sống William lại có một thằng la lớn tại đoạn đường này? Khúc đường để la lớn là khúc dưới kia. Ngay đầu đường Seventh, chỗ bức tường khai mùi nước đái. Đây là đường Fourth. Đoạn đường phải được im lặng để tiếng dép trên mặt đường rõ từng tiếng. Thằng người trong xe hẳn ngu. Hay một thằng điên. Are you crazy? Nó hỏi ai? Nó hỏi nó hộ tôi? Có thể. Nó đang hỏi nó hộ tôi. Tôi sẽ trả lời hộ nó cho nó. Nhưng cần gì phải trả lời. Nó đâu hiểu gì. Nó đâu biết trước mặt nó là cuộc sống William. Và đoạn đường Fourth cần yên lặng.

Tôi bỏ lại thằng người ngồi trong xe và chiếc xe của nó. Bây giờ đường đã được chiếu sáng bởi các bóng đèn nhưng tiếng dép thôi còn lép nhép. Mặt hè không được tráng xi măng. Tiếng dép quen thuộc thành đục, khàn khi chạm vào cát. Lớp cát được đổ làm sân của bốn căn nhà cất riêng. Tôi đang sống trước căn số hai. Một bụi bông giấy tỏa ra ngoài tường. Tôi thấy ánh đèn qua ô cửa sổ trắng. Căn nhà có người ở. Mấy người trong đó? Họ đang làm gì? Ăn tối? Coi truyền hình? Nói chuyện hay làm tình? Họ sẽ không cãi nhau. Sao tôi lại biết họ không cãi nhau? Tôi không biết. Tôi không hiểu nhưng tôi không thích họ cãi nhau. Tôi không thích họ cãi nhau trong một căn nhà đang sống. Đang tham dự vào cuộc sống William. Cãi nhau làm gì khi dăm phút nữa tôi sẽ gặp căn thứ tư, một căn nhà không sống mỗi đêm từ tám đến mười giờ. Tôi chỉ biết thế, bởi giờ về của tôi nằm trong khoảng thời gian này. Căn nhà tối, đen. Luôn tối, đen dù cũng có hàng rào bao quanh với bụi bông giấy nhô ra ngoài và trước sân trải cát. Căn nhà thứ tư không sống dù giống căn thứ hai. Tôi nghĩ thế. Căn nhà đã thế như tôi nghĩ. Bên cạnh những căn nhà là những nhà mồ. Bên những con người cũng có những xác người. Phải thế. Dù đó là William. Cuộc sống ngắn mà tôi đang dè xẻn. Để sống.

Quả nhiên căn nhà thứ tư không một ánh điện, không một tiếng động. Căn nhà chết trong bóng tối và yên lặng. Tôi đứng lại nhìn cái chết của căn nhà để thấy tôi đang sống. Sự cách biệt không còn là hàng rào với bụi bông giấy mà nằm trong trí. Tôi đang sống để nhìn cái chết. Tôi hạnh phúc bởi đang sống trước cái chết.

Đoạn đường Fifth bắt đầu bằng bảng stop. Cuối đoạn đường Fifth là một bảng stop. Xe ngưng lại, người lái ngó trước ngó sau, ngó phải ngó trái rồi mới chạy. Tôi thì không. Tôi không có xe. Tôi chỉ có đôi dép. Chẳng có bảng stop nào dành cho tôi và đôi dép. Luật không ghi điều cấm cho tôi và đôi dép. Luật chỉ ghi cho xe. Lần này lỡ bị xe đụng là có bồi thường. Có tiền trả nhà thương. Có tiền trả cho căn phòng trắng nào đó mà tôi sẽ nằm nếu được tung. Có đủ thứ quyền lợi do luật pháp định sẵn. Vẫn những bước chân tám mươi bước mười thước, tôi và đôi dép cùng hướng về bảng stop cuối đường.

Tôi dừng lại ở bước thứ hơn một trăm. Một trăm lẻ. Một trăm mười mấy. Hai mươi mấy gì đó. Tôi nghĩ thế và chắc thế. Tôi dừng lại ở bước thứ hơn một trăm khi hình ảnh một căn phòng bệnh viện về trong trí. Bốn bức tường trắng toát bao quanh. Bốn chiếc giường bốn góc. Bốn thằng lính, ba đơn vị với bốn thứ thương tích khác nhau. Nhưng bốn câu chửi thề lớn như nhau khi bốn cái bụng được xức dầu cù là bởi bàn tay của bốn phu nhân vào ủy lạo. Chẳng biết trò chơi xức dầu vào rốn mấy thằng què là sáng kiến của ai, nhưng chúng tôi hoàn toàn không chịu nổi. Tôi đã bực dọc vì đoạn sống này hệt như ba thằng bạn cùng phòng. Ba thằng bạn cùng phòng? Ba thằng bạn què giờ ở đâu. Cuộc chiến tàn nhẫn đã làm chúng tôi sống vội đến độ khi chia tay mà không kịp lấy địa chỉ của nhau. Bây giờ tụi nó có được sống với đôi dép như tôi không? Dù sao tôi cũng có hạnh phúc riêng. Hạnh phúc? Mẹ kiếp, bây giờ bị thằng nào húc ẩu thì sao? Tôi sẽ bị trói giữa bốn bức tường bệnh viện. Tôi sẽ tách rời cuộc sống mà tôi đang dè xẻn. Tôi không thích thế. Nên tám mươi hay hơn tám mươi bước của mười thước rút lại. Có thể ít hơn bốn mươi bước của mười thước. Tôi và đôi dép hối hả đến bảng stop. Tôi không muốn chết như căn nhà thứ tư.

Tay bám vào cột của bảng stop, tôi thở dốc. Chân mỏi và đôi dép hình như cũng rã rời. May mà không có cái xe nào đụng. Tôi cần tiền, tôi cần nhiều tiền nhưng thứ tiền ăn vạ qua một văn phòng luật sư để bồi thường tai nạn tôi không ham. Tôi tránh điều cần một cách hạnh phúc. Hèn chăng? Nhát gan chăng? Tại sao không? Căn phòng số bốn ở chúng cư William nằm vẫn thích hơn là một cái phòng trắng.

Hai tiệm ăn nằm cạnh nhau. Một Tàu và một lai Tàu. Tôi biết, bởi có lần tôi nói chuyện với bà chủ lai Tàu trong một buổi sáng đến uống cà phê. Sao tôi lại nhắc điều này ở đây? Bà chủ đâu đẹp. Luống tuổi và mập. Lại có chồng. Mà lai Tàu hay Tàu chính gốc thì đã sao? Cũng là tiệm ăn và cùng nằm trên đường này. Tại sao tôi lại nhắc khi nhìn thấy tôi vừa thoát chết, đứng trước tiệm lai Tàu đã đóng cửa. Sao tôi không nghĩ đến một điều

gì khác khi biết tôi còn sống, đứng gần tiệm Tàu chính gốc còn mở cửa. Khách vẫn đông. Tôi thấy rõ từng cái miệng đang nhồm nhoàm nhai. Có những cọng mì được vớt cao, vắt vẻo trên đôi đũa khoắng lên. Tôi ngửi trong điều tôi thấy. Những tô mì giống nhau và khác nhau. Tôi đã ăn bao nhiêu tô để ngửi được mùi mì tôi thấy? Những hành động nhai, nuốt ngon lành hay ngán ngẩm đều được tôi nhận rõ trên mặt từng người. Tôi thấy tôi trong cái tôi đang nhìn. Cả ngán lẫn ngon. Cả ngẩm lẫn lành. Tôi thấy họ như đang thấy tôi từ một thế giới khác. Hai thế giới được ngăn bằng lớp kính trong có sơn hai chữ Tung Kee đỏ. Cũng trong lúc này họ có thấy tôi không? Họ có thấy họ trong cái nhìn của họ về tôi không? Hẳn phải có. Nhưng tại sao phải có khi tất cả cái mồm kia đang nhồm nhoàm nhai nuốt. Hay chỉ tôi thấy tôi trong họ vì tôi có đôi dép.

Lại một cột đèn với ba bóng tròn xanh, đỏ, vàng để vào con đường của gái điếm. Bóng tối vẫn trộn ánh đèn đường vài nơi trên hè phố, nhưnghông khí đã đượm mùi phấn son và mồ hôi đàn bà. Trước rạp chiếu phim sex là một tam cấp bẩn với đám người đứng, ngồi. Cao, thấp, nhấp nhô đủ kiểu tóc. Đen, trắng, vàng những màu da. Mập, ốm lẫn lộn trong cái nhìn. Những người con gái bày thân trước khi mua bán. Tôi đăm đăm vào những bầu ngực hở.

– Do you like me?

Có câu hỏi từ một người nào đó hướng về tôi. Đứng hay ngồi gì đó. Đen hay trắng gì đó. Đôi dép và tôi dừng lại trên một ô vuông của hàng gạch lát hè phố. Cảm giác thèm muốn chợt đến. Tại sao không khi tôi vẫn sống, dù giữa cuộc sống khác với cuộc sống thường? Cây nấm Hiroshima và 130.000 người chết có ảnh hưởng gì đến phút động tình của một con đực? Những tấm ảnh đen trắng chụp cảnh đổ nát với xác người, nhà sập, lửa, khói v.v… đâu rõ nét bằng những thân người bày trước mắt. Tôi đàn ông. Tôi khỏe mạnh. Tôi có tiền. Nhưng cây nấm cũ tôi không muốn nhớ sao cứ về trong trí. Lại rõ ràng từng con số. Những con số lạnh của cái gọi là cái chết.

– Do you like me?

Lại hỏi. Lần này tôi thấy rõ từ đâu. Một người con gái – hay đàn bà? – tóc hoe đỏ tiến về phía tôi. Chiếc váy ngắn, hở đến độ cây nấm Hiroshima biến mất. Tôi nhìn cô gái. Tôi nhìn tấm áp phích treo trên tường rạp chớp bóng. Cái mông của người đàn bà – hay cô gái? – trong tấm áp phích hấp dẫn hơn cô gái tóc đỏ trước mặt.

– Do you like me?

Lại hỏi. Tại sao lập lại mà không là một câu khác? Tóc tôi đen hay da tôi vàng? Ngôn ngữ mua bán cũng phải giới hạn trong vòng kỳ thị hay sao? Tôi thọc tay vào túi quần. Sự đụng chạm trong thân làm mặt tôi nóng bừng. Cảm giác căng, cứng bị nén dưới lớp tế bào được gọi là da được nhận rõ. Những ngón chân của tôi nhột nhạt, ấn mạnh, sâu trên lớp cao su mềm của đôi dép. Tôi muốn nói một câu gì đó nhưng không được. Đôi dép cũng bị dán chặt xuống hè đường. Lớp cao su dưới bàn chân tôi cũng đang bị nén đến độ nhăn nhúm, thảm hại.

Cô gái kéo vạt trước váy lên. Chiếc quần lót màu trắng, mỏng có thêu một đóa hướng dương lớn ở giữa. Tôi không muốn nhìn hoa trong váy đàn bà. Dù đó là hoa hướng dương. Và tại sao lại là hoa hướng dương mà không phải là hoa gì khác? Hay ngược lại, tại sao lại là hoa khác mà không phải là hoa hướng dương? Hướng dương và tôi đâu liên quan đến nhau. Nhất là hoa hướng dương trên một chiếc quần lót. Tôi không thích. Tôi không thích cái hoa lớn che phần da thịt cần được lộ.

Tôi muốn nói một câu gì đó nhưng vẫn không được. Người con gái thả chiếc váy xuống, nhoẻn cười. Tôi cũng cười. Nhưng hai bàn chân mang dép bắt đầu nhúc nhích. Người con gái thôi cười, ngạc nhiên. Tôi vẫn cười khi bắt đầu đi. Nụ cười của tôi không thành tiếng khi có những tiếng cười ré lên phía tam cấp. Tôi nghe một tiếng chửi thề từ người con gái có đóa hướng dương trên quần lót. Lại fuck you.

Tại sao tôi không nói được? Tại sao lại có đóa hoa trên quần lót? Tại sao hai bàn chân mang dép lại nhúc nhích? Tại sao cô gái và tôi cùng cười? Nếu tôi nói được một câu nào đó. Nếu không có đóa hoa trên quần lót. Nếu đôi dép đừng nhúc nhích. Nếu cô gái và tôi không cười. Tôi hình dung đến một mặt nệm bẩn thỉu. Chưa chắc. Có lẽ là nệm sau của một chiếc xe. Cũng chưa chắc. Có thể là bóng tối của một gốc cây nào đó như bóng của gốc cây trên đường Fourth. Lại gốc cây giống cái nấm Hiroshima. Sao đêm nay tôi lại nghĩ đến cái nấm nhiều thế? Mấy mươi năm rồi. Chuyện đã cũ còn gì phải nhắc. Lại nữa, cái nấm cũng có tuổi hơn tôi. Giữa tôi và cái nấm này có gì đâu. Chỉ là những tấm ảnh và các lời chú thích đã đọc. Ở đâu? Trong sử hay trong tự điển. Cũng có thể là truyện ký của một người sống sót sau khi cái nấm cuốn lên trời, viết lại với mục đích nào đó, có thể lớn hơn sự thật hay nhỏ hơn sự thật. Cũng có thể một người nào đó, chẳng liên quan đến cái nấm, gom những điều có sẵn về cái nấm để viết về cái nấm với những điều gì đó, có thể nhỏ hơn chữ chứng nhân cũng có thể lớn hơn chữ chứng nhân để làm chứng nhân cho cái nấm, qua sách vở. Cũng có thể một người nào có liên quan đến cái nấm… Lại cái nấm! Cái nấm. Cái nấm và cái nấm. Tôi buộc miệng chửi thề khi đến đường Eighth.

Tôi đã ngạc nhiên vì những con người của hai đoạn đường ít khi đứng cạnh nhau. Tại nơi khác thì bên cạnh bọn say rượu, cần sa, bụi đời là dăm cô gái điếm. Hay ngược lại. Nhưng trong đời sống William thì ít thấy. Trước rạp chiếu phim sex thường toàn là đàn bà và trước hai cái bar tôi chỉ thấy những gã đàn ông say ma túy và rượu. Kỳ thật. Con đường này không như những nơi khác. Hai đoạn đường như dành riêng cho hai loại người. Chẳng ai làm phiền ai. Nếu cần nhau thì sang tìm như một lần trao đổi. Rồi đâu về đấy. Ranh giới được vạch bằng hai ngọn đèn có ba bóng tròn xanh, đỏ, vàng tại hai đầu đường. Luật chỉ còn những chữ walk và don’t walk. Walk là đi. Don’t walk là đừng đi. Từ đoạn đường gái điếm đến đoạn đường ma túy và rượu có các khoảng được đi và cấm đi. Như cuộc sống thường đã định. Tôi và đôi dép đang băng ngang qua với chữ walk màu trắng.

Amadeux là tên cái bar thứ nhất. Nghe đủ biết có những thằng Mễ say rượu kiểu cải lương Mỹ đang ngồi bên trong. Tôi nghe tiếng nhạc lẫn tiếng người vọng ra. Âm thanh lớn, vang cả góc đường. Một bản nhạc Rock từ năm bảy mươi với ban nhạc đã chết một người. Tôi đã nghe và đã thuộc. Bản nhạc quen đến độ tôi nhớ lại nét mặt và cử chỉ của người ca sĩ đã hát trong một phim chiếu tại rạp Tân Tân, Nha Trang. Tôi đứng lại, nhẩm hát theo. Một thói quen mỗi khi nghe bài hát này. Và luôn liên tưởng đến những ngày còn đi học. Nhưng hôm nay thì không. Tôi vẫn nhẩm hát theo nhưng trí trống rỗng. Trống rỗng như tia mắt của người đàn ông da đen đang nhìn tôi. Một người đàn ông da đen có mái tóc trắng. Hắn tựa lưng vào tường, đầu ngoẻo qua một bên, miệng ư ử hát bài hát tôi đang nhẩm theo. Đôi mắt trắng nhiều hơn đen nhìn tôi lờ đờ. Hắn đang tìm về quá khứ như tôi đã làm những lần trước khi nghe bài hát này? Ý nghĩ này làm tôi khó chịu khi thấy tôi trong hắn. Những lần tìm về quá khứ đều lờ đờ, ngơ ngơ như vậy sao? Tôi đã thế bao nhiêu lần khi nghe? Không thể nhớ nổi. Đâu ai nỡ đếm những lần tìm về kỷ niệm như đếm tiền? Khoảng khắc đó tôi vẫn chờ từng dịp gặp lại. Nhưng đêm nay thì không.

Tránh nhìn mình trong đôi mắt người da đen tóc trắng, tôi bỏ đi. Hè đường nối liền hai cái bar la liệt bọn say đứng, ngồi. Những tiếng âm ư, những cử chỉ dật dờ của bầy hình nộm say thoạt nhìn thì giống nhau nhưng để ý thì khác. Chẳng ai giống ai dù tất cả đều say. Gã bên phải tôi ư ử một bài dân ca Mỹ, miệng trễ với âm ow… ow… của chữ cow…boy… kéo dài. Trong trí gã hẳn đang có tiếng nhạc ngựa với đám bụi bốc phía sau. Gã bên trái tôi ngồi bệt xuống đường. Một tay cầm lon bia loại lớn đưa qua, đưa lại. Các ngón tay của bàn tay còn lại búng vào thành lon chậm rãi. Những tiếng lách chách vang lên làm tôi hình dung màu vàng óng của bia còn – phải còn quá nửa trong lon – gây cho tôi cảm giác nhờn nhợn. Cái nhờn nhợn khi bắt đầu say mà rượu còn đầy trong ly. Gã này đã uống không nổi. Lon bia không còn là sự mê thích mà đã thành mối nợ cho gã. Uống tiếp hay vất bỏ? Câu hỏi đáng giá támmươi chín cents được đặt ra không nằm trên giá trị tiền mà nằm trong chất nước vàng óng. Tôi đã hỏi như gã hỏi hôm nay.

Tôi băng ngang đường William, bỏ lại bức tường với hai gã say bên phải, bên trái tôi và những gã say bên phải, bên trái của hai gã. Thói quen băng ngang đường khi qua khỏi bức tường này đã thành nếp. Chẳng bao giờ tôi đi đến cái bar thứ nhì tại cuối đoạn đường. Cuộc sống William ngắn nên chỉ cần, chỉ đủ cho tôi nhìn cảnh say của bar Amadeux. Tôi còn nhiều bước chân phải đi trong khoảng hai mươi thước còn lại để đến đường Ninth.

Đêm nay tôi sẽ nhịn đói. Tôi đi ngang quán Hương Lan, cái quán food to go quen thuộc mỗi đêm vẫn ghé mua thức ăn, như chưa hề biết nó. Qua cửa kính tôi thấy cô con thứ hai của bà chủ tiệm đang nhìn tôi. Cô ta sẽ nghĩ gì khi thấy người khách quen không vào? Tôi no? Tôi đã ăn một chỗ khác? Tôi hết tiền? Mà tại sao cô ta phải nghĩ về tôi chứ? Sự hiện hữu của tôi đâu quan trọng đến độ người khác phải nghĩ về mình. Nhưng cô ta đang tại đây có quan trọng hay không mà tôi lại nghĩ về cô ta? Tôi bật cười. Tôi đã nghĩ về người con gái này nhiều hơn ý nghĩ cô ta sẽ nghĩ gì về tôi.

Đêm nay tôi sẽ nhịn đói. Tôi không no. Tôi không ăn tại quán khác. Tôi còn tiền. Quán Hương Lan chưa đóng cửa. Nhưng tôi thích thế. Có thể tôi sẽ uống rượu hay hút cần sa. Để làm gì? Tôi không biết.

Còn ba bước cuối là đến cầu thang dẫn lên phòng. Tôi và đôi dép đứng yên ngần ngại. Cuộc sống William sắp sửa tách rời. Tôi sẽ bước vào cuộc sống của căn phòng thuê. Sự ngán ngẩm chợt đến. Tôi nhìn lại đoạn đường đã đi. Dù dè xẻn đến đâu thì cũng hết. Mỗi nấc thời gian vẫn có giá trị nhất định của nó. Tôi không nhìn đoạn đường đã đi nữa. Tôi nhìn về phía đường Tenth. Tại đó sẽ có gì nếu tôi đi tiếp? Nếu tôi không thuê phòng ở chúng cư này để dừng tại đây thì sau đường Tenth sẽ là gì. Tôi chưa đến. Tôi sẽ không bao giờ đến. Cuộc sống William của tôi phải được ngắt ngang đây. Kéo dài thêm sẽ là đời sống thường. Tôi tiếc nhưng tôi thích thế. Và tôi đã làm, đã ngăn con đường William bằng đoạn đường William. Như đã sống, đã ngăn giữa cuộc sống bình thường bằng cuộc sống William.

Hết bước cuối cùng để đến cầu thang. Tôi không còn thấy tôi nữa.


Nguyễn Ý Thuần

CỘNG SẢN NGHĨ SAO VỀ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM?

Trong những năm qua, tôi đã có nói cho anh em biết một số nhận định của các lãnh tụ cộng sản khi được tin về vụ Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị đảo chánh và sát hại. Các lãnh tụ Việt Cọng Miền Nam, như Nguyễn Hữu Thọ, hoặc Miền Bắc, như Võ Nguyên Giáp, và cả ông Hồ Chí Minh, đều có nhận định về biến cố này.

Hôm nay, tôi nhắc lại những nhận xét đó, và thêm vào đó, tôi xin kể thêm vài chuyện mà chính tai tôi đã được nghe, đặc biệt là nhận định của Ông Hồ Chí Minh, từ miệng một người đã được nghe chính Ông Hồ nói. Có biết những chuyện này mới có chất liệu để trả lời cho những người lập luận rằng “giết Ông Diệm là một điều cần để trừ hậu vận”. Nhưng nay thì rõ ràng rằng đó là lỗi lầm tầy trời của một số nhân vật, quân sự và dân sự, đối với dân tộc Việt Nam, không những đối với hai triệu người đã phải bỏ quê hương đi tìm nơi an thân, mà ngay cả mấy chục triệu người Miền Nam đang phải sống trong ô nhục, đàn áp, đói rách, mà chế độ cộng sản đã áp đặt lên họ.

Tôi kể lại sau đây những tường thuật của báo chí và học giả, mà tôi đã có dịp nhắc đến trong bài điểm sách “The Year of the Hare” của Giáo Sư Francis Xavier Winters năm 1999 cho tạp chí Ấn Độ “World Affairs”: ” Một quan điểm mới về vụ đảo chánh tháng 11, 1963: Ngô Đình Diệm không phải là kẻ tác quái mà là một nạn nhân của thực dân”

(Bài này đã được dịch ra tiếng Việt, in ra và phát cho người dư. Lễ Tưởng Niệm Tổng Thống năm 1999).

Tôi xin trích lại mấy đoạn sau đây:

“Khi đuợc tin ông Diệm bị lật đổ, Hồ Chí Minh nói với ký giả cộng sản danh tiếng, Wilfrid Burchett: “Tôi không thể ngờ rằng tụi Mỹ ngu đến thế “.

“Khi tướng Võ Nguyên Giáp và những đồng chí còn sống sót của ông gặp Ông McNamara ở Hà Nội tháng 11 năm 1995, họ nói rằng: “Chính sách Kennedy ở Việt Nam sai lầm hết chỗ nói. Ngô Đình Diệm là một người có tinh thần quốc gia, không khi nào ông chịu để cho người Mỹ dành quyền điều khiển chiến tranh, và sự người Mỹ dành quyền đã đưa người Mỹ đến thất bại đắt giá. Cho nên, kết quả của cuộc đảo chánh lật đổ ông Diệm năm 1963 là sự kết thúc sớm [sự hiện diện] Hoa Kỳ ở Việt Nam, một điều đáng làm cho người ta ngạc nhiên”

“Và đài phát thanh Hà Nội nói: “Do sự lật đổ Ngô Đình Diệm và em ông là Ngô Đình Nhu, tụi đế quốc Mỹ đã tự mình hủy diệt những cơ sở chính trị mà họ đã mất biết bao nhiêu năm để xây dựng”

“Về phía các lãnh tu. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì họ không ngờ là họ lại may mắn như thế. Nguyễn Hữu Thọ nói với báo Nhân Dân: “Sự lật đổ Diệm là một món quà mà Trời ban cho chúng tôi.”

Và Phó Chủ Tịch Trần Nam Trung nói: “Tụi Mỹ quyết định đổi ngựa giữa dòng. Chúng sẽ không khi nào tìm được một người hữu hiệu hơn Diệm.”

Trên đây là chuyện báo chí và học giả ngoại quốc kể lại. Bây giờ tôi xin kể ba chuyện mà chính tôi đã được tai nghe mắt thấy từ những người trong cuộc. Những chuyện này vừa có một giá trị nhân chứng, vừa có một giá trị lớn về lịch sử, và đối với chúng ta, những người kính mến Tổng Thống, nó làm cho ta hãnh diện là “Diemiste” (Năm 1955, ở quảng trường Trocadéro, Paris, một người Pháp mắng tôi là “espèce de Diemiste”, khi vượt xe tôi, vì ông ta cho rằng tôi đã cản đường xe ông, và tôi rất lấy làm hãnh diện bị mắng như vậy…).

1/ Trong những năm trước 1963, trong số kỷ giả Mỹ ở Sài Gòn có ông Keyes Beech, đặc phái viên của báo Chicago Tribune, một nhà báo rất được kính nể. Năm 1963 ông này không vào hùa với đám ký giả chống Tổng Thống. Sau 1963, ông vẫn được ở lại Saì Gòn, và ông vẫn thân thiện với tôi. Ông thỉnh thoảng mời tôi đến nhà ông ấy ở gần Bộ Ngoại Giao ăn cơm. Một hôm, trong những chuyện ông kể tôi nghe có chuyện sau đây. Ông nói: “You know, on the afternoon of the day President Diem was overthrown, I was in a bar in Pnom-Penh. Sitting next to me was Wilfrid Burchett. We were not friends. But on hearing the news about President Diem’s death, he turned to me and said: “It’s unbelievable! They have killed the only man with the ideas and the organization that can stop us”. (“Thật là không thể tin được: chúng nó đã giết chết người duy nhất có tư tưởng và tổ chức có thể chận chúng tôi”).

Burchett không nói rõ “chúng nó và “chúng tôi” là ai, nhưng ta cũng có thể thấy rõ là “chúng nó” là phe chống cộng , và “chúng tôi” là phe cộng sản.

2/ Lúc trẻ, trước năm 1945, ở Huế, tôi quen bà Hồ Thị Mộng Chi. Bà này là con Cụ Thượng Thơ Hồ Đắc Khải, cháu gọi Bác sĩ Tôn Thất Tùng là cậu, và vợ Bác sĩ Đặng Văn Hồ. Bác sĩ Tùng là bà con và hàng xóm, ở cách nhà tôi hai nhà, và Bà Chi ở sít nhà Bác sĩ Tùng. Bà lại là bạn thân của Ông Tạ Quang Bửu, thầy tôi. Nên chúng tôi qua lại thường, và tôi coi bà ấy như là chị, và bà ấy cũng đối xử với tôi như em mình. Sau 1945, bà Chi đem con đi Pháp, ở Paris cho chúng đi học. Lúc đó tôi du học ở London. Muà hè nào cũng có về Paris chơi và ở nhà bà ấy, có khi ở cả tháng. Nhưng sau 1954, bà tỏ ra thân với phía Bắc Việt, có lẽ vì Bác sĩ Tùng và ông Bửu ở phiá đó, cũng có thể vì Bác sĩ Hồ, lúc đó là Thiếu tá Quân Y trong quân đội Việt Nam, mà lại thêm có vợ bé. Tôi thì cộng tác với Tổng Thống Diệm. Vì vậy mà tôi không đi lại với gia đình Bà Chi nữa. Sau 1960 , và nhất là sau 1968, thì “chiến tuyến” lại càng rõ ràng hơn nữa, vì Bà Chi làm bí thơ cho Bà Nguyễn Thị Bình. Hai người con bà ấy cũng “anti-Saigon” rất hăng, và khi “phe ta” thắng trận năm 1975 thì mẹ con đều dắt nhau về Việt Nam thăm viếng ngay. Qua bạn bè, đặc biệt là anh Bửu Kỉnh (nay đã mất), một người bạn thân của gia đình bà Chi, mà cũng thân tôi, tôi được biết như trên, nên sau 1975, tôi vẫn giữ thái độ “kính nhi viễn chi”. Nhưng một hôm, vào khoảng năm 1978, nhân dịp ghé Paris, gặp anh Bửu Kỉnh, anh ấy bảo: ” Sao toa không đến thăm Chị Chi”. Tôi trả lời: “Sức mấy! Chắc chi Chị ấy tiếp tui mà đến!” Anh Kỉnh lại nói: “Đến đi! Chị hỏi thăm toa đó!” Tôi ngạc nhiên. Anh Kỉnh lại nói thêm: “Nay, thay đổi rồi!”. Tôi nghĩ: “À, như rứa!”. Và một hai hôm sau, tôi điện thoại đến bà Chi. Bà trả lời rất vui vẻ, xem như chẳng có gì xảy ra giữa chị ấy và tôi từ 1954 cả, và bảo tôi đến chơi. Chị lại nói thêm là Chị sẽ làm “purée de pomme de terre” cho tôi ăn. Xin nói đó là món ăn mà trước 1954 bà ấy thường cho tôi ăn. Bà làm rất ngon, và tôi rất thích. Trong buổi tái ngộ, nói chuyện lông bông luôn mấy giờ đồng hồ. Tôi ngồi nghe nhiều hơn là nói, và nghe ba mẹ con đua nhau đả kích Việt Cộng kịch liệt! Tôi sửng sốt. Tôi không dám hỏi tại sao, nhưng chỉ đoán, nhờ bà Chi nói “tụi nó tệ lắm”, và nhờ anh Bửu Kỉnh cho biết trước đó là trong chuyến về Việt Nam bà không được Việt Cọng tiếp đón niềm nở, vì nó thắng rồi nên không cần đến bà nữa. Bà thì lại tưởng rằng vì bà là người có công, nhất là đã giúp cộng sản trong việc tuyên truyền (con đại thần Triều Nguyễn mà lại đứng về phe cách mạng, bí thơ Bà Nguyễn Thi. Bình, ở ngay Paris, trong một cuộc đàm phán hệ trọng). Người con thì có thổ lộ là “tụi nó dốt quá” (nó nói rằng Mã Lai không phải là quốc gia độc lập, còn Lê Đức Thọ, được anh ta dẫn đi coi thành tựu kinh tế kỹ nghệ Pháp lúc viếng thăm Paris thì cho rằng “chẳng có gì đáng để ý”)!! Nhưng điều đáng ghi nhất là giây phút chót của cuộc tái ngộ. Lúc đó cũng gần 12 giờ khuya. Bà Chi đưa tôi ra cửa, và cùng tôi đi mấy bước ra giữa phố, lúc đó vắng. Tôi không hề đề cập gì đến ông Diệm trong cuộc gặp gỡ, nhưng trước khi chia tay bà ta nói: “Nghĩ kỹ lại, chỉ có Ông Diệm là hơn hết!”.

3/ Chuyện thứ ba là một chuyện về kiên nhẫn, hay có thể nói là lì lợm. Từ năm 1963 tôi hằng nghĩ rằng Ông Hồ Chí Minh phải có chia sẻ với những người trong Đảng một nhận định gì về cuộc đảo chánh. Nhưng sưu tầm tài liệu, hết năm này qua năm khác, không thấy có một nhận định nào của Ông Hồ. Tất nhiên, điều đáng làm nhất là hỏi những người gần gũi Ông Hồ. Nhưng họ là người “phía bên kia”, và họ lại ở Hà Nội. Làm được việc này hầu như là vô hy vọng. Nhưng, may thay, tôi đã làm được. Trong thời gian gần đây tôi may mắn gặp một người từ Hà Nội, mà tôi quen khá thân trước năm 1954. Và cũng rất may, người này là một người hiếm có đã được chính tai mình nghe Ông Hồ nhận định về vụ đảo chánh 1963. Người này tuyệt đối cấm tôi tiết lộ tên trong khi y còn sống, vì đây là một “bí mật thâm cung”, nên tôi chỉ gọi y là “Cán bộ X”. Cán bộ X đã kể cho tôi nghe câu chuyện như sau:

Y là một người có mặt tại Phủ Chủ Tịch ở Hà Nội ngày xảy ra đảo chánh ở Sài Gòn. Y thuộc một nhóm được Ông Hồ cho gặp chiều ngày 2/11/1963. Khi vào Phủ Chủ Tịch thì Ông Hồ đang bận tiếp một phái đoàn gì đó. Y phải đợi ngoài hành lang. Đang đợi thì thấy có người mang một bao thơ vào cho Ông Hồ. Nhìn vào, thấy Ông mở thơ ra đọc, xong, không nói gì, bỏ thơ vào túi, rồi tiếp tục tiếp khách. Một lúc sau, khách đi rồi, Ông cho gọi nhóm của Cán bộ X vào, và nói: “Lúc nãy người ta báo cho Bác biết là Ông Diệm vừa bị lật đổ. Ông Diệm là kẻ địch thủ ghê gớm nhứt của Bác. Nay Ông đã bị loại rồi, thì chiến thắng chắc chắn sẽ về ta rồi.”

Lịch sử Miền Nam Việt Nam từ 1963 đến 1975 có thể thâu gọn trong câu nói đó, và những người tự nhận là thuộc về Đệ Nhứt Cộng Hoà nên nhắc nhủ những cá nhân, hay đoàn thể, đã nhúng tay vào việc lật đổ và hạ sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên suy niệm về câu nói đó và trách nhiệm của mình về những gì đã xảy ra từ 1963 đến nay.

Tôn Thất Thiện
Ottawa,

Vĩnh Biệt Kiên Giang

tranvanle

Hoa tím hái cài lên áo trắng.
Chào anh, chào vĩnh biệt Kiên Giang –
người thơ sống giữa hai lằn đạn…
chừ ngủ ngàn năm giữa Nước Non!

Kiên Giang, chỗ đất nhiều thi sĩ,
anh một người thơ rất đỗi thơ,
hơn nữa – anh còn ca vọng cổ,
ai ai cũng nhớ chuyện Phà Ca!

Hoa trắng anh cài lên áo tím,
những cô nữ sinh xinh một thời.
Mỗi một lời thơ là núm ruột
hóa thành bom đạn nổ muôn nơi!

Hoa trắng đã thành hoa tím than,
hái cài anh đó, anh Kiên Giang!
Áo sơ mi trắng anh đang mặc
rồi khói trầm hương sẽ nhuốm vàng…

Tôi ở quê người được tin buồn:
“Kiên Giang Thi Sĩ Đã Không Còn!”.
Những lời ai điếu thương không hết,
đành để vào đây chữ Nhớ Thương!

TRẦN VẤN LỆ

TRONG MỊT MỜ KÝ ỨC

tonnuthudung

Ký ức sâu đậm nhất còn lại sau rất nhiều năm là hình ảnh con bé áo nỉ đỏ chạy ào tới , ôm choàng sau lưng một người đàn ông mặc quốc phục, reo mừng ( trước bao nhiêu đôi mắt ngạc nhiên của nhiều người lớn chung quanh) : Ba về , Ba về …để rồi bàng hoàng khi không đánh hơi được cái mùi quen thuộc. Con bé sững sờ buông tay ra, ngỡ ngàng kinh ngạc òa lên khóc khi người đàn ông quay lại hoàn toàn xa lạ : TỔNG THỐNG.
Tổng Thống đặt tay lên đầu con bé , nhẹ nhàng lay lay cái đuôi tóc bím ngắn ngủn :
-Răng mà khóc rứa hè , Ba con mô rồi ?
Ba , cũng mặc quốc phục , khăn đóng , áo dài đen , quần trắng bước tới , ôm con bé vào lòng :
– Con nói đi , con kính chào Tổng Thống.
và chỉ lên tấm hình treo trên tường trong phòng khánh tiết…Người đàn ông trong hình hiền lành nhìn con bé , con bé nhìn dòng chữ trên tường bập bẹ đánh vần : NGÔ TỔNG THỐNG MUÔN NĂM … Lúc ấy con bé vừa 4 tuổi

CAM00789

1
Quận Lệ Trung thời ấy lớn rộng và vô cùng hoang vắng… Người Thượng đông hơn người Kinh… Ba là quận trưởng , nắm toàn quyền SINH mà không hề SÁT.Con bé nhớ những gùi sim được mang đến tận nhà, những nhánh Phong Lan đẫm sương rừng còn trên thân gỗ đặt trong sân quận mà chẳng biết ai cho. Con bé nhớ những dấu chân cọp đêm đêm về ngang để bầy berger run rẩy khóc trong chuồng, con bé nhớ tiếng vượn hú thê thiết những trưa rừng trở gió …
Nhưng trên cả nỗi nhớ, trên cả nỗi sợ, trên cả niềm vui, trên cả nỗi buồn là những lần con bé theo ba đi vào các buôn làng… Con bé ngồi giữa các chú lính Thượng đen nhẽm và khen khét mùi rừng, mùi nắng… trên xe Jeep hoặc xe Dodge…cũng có khi trên bành voi hay trên lưng ngựa ( Con bé tha thiết nhớ Y Kraap, người cận vệ tín cẩn của Ba, người đã nắm tay Ba trong phút giây sinh ly tử biệt đã thét lên tiếng rừng và vuốt mắt cho Ba…Y Kraap đã lựa từng hạt trứng kiến non mượt, trắng tinh cho con bé ăn, Y Kraap cho con bé ngồi lên cổ đi lòng vòng trong sân quận khi con bé nổi cơn khóc nhè không ai dỗ được… Một con bé nhỏ xíu, luôn mặt một bộ áo liền quần bằng nỉ đỏ, một chú lính Thượng đen nhẻm, cao nhòng, đóng khố, miệng ngậm một ống vố bằng đồng mà không dám đốt lửa vì sợ con bé nghỉ chơi … Y Kraap đã thay Ba,  chỉ lên trời  dặn dò các chú Đại Diện Xã cứ thấy trăng tròn là phải về Quận họp …)
Y Kraap dễ thương mà cũng là một hung thần để con bé chẳng có bạn bè nào ngoài con chó Chichi.

Trong các buổi lễ hội mừng cơm mới, cầu an hay cầu mưa, con bé được bôi máu trâu đầy mặt, con bé được đeo trên cổ , trên tay, dưới chân những vòng đồng, vòng bạc và cả những chuỗi cườm ngũ sắc lẫn những nanh heo rừng và vuốt cọp để cầu phúc… có phải vì vậy mà suốt đời con bé cứ tự hào mình được sự chở che của các thần linh.
Con bé sợ hãi co rúm cả người trong tiếng chiêng cồng huyên náo … nhưng đôi mắt trấn an của ba lẫn Y Kraap làm con bé yên tâm… và thật sự , những tiếng trống âm u hoang dã của đại ngàn đã ám ảnh suốt đời con bé… Những chuyến đi như vậy làm Mẹ xót xa đau, nhưng công việc của Ba là thế… thu-phục-nhân-tâm… Ba luôn đem con bé theo để chứng tỏ một điều Ba đến với họ bằng chân tình bè bạn… Ba diễn thuyết rất hay bằng tiếng Jarai, tiếng Bahnar, tiếng Rhade… Các già làng yêu quý Ba, đồng ý cho vẽ lên những dãy nhà dài những lá cờ vàng ba sọc đỏ… biểu tượng của ba giòng sông Hồng Hà, Hương Giang, Cửu Long cùng chung một mẹ… biểu tượng của ba miền Nam, Trung, Bắc…
Lá cờ của vinh quang và nước mắt !
( Lớn hơn một chút, con bé mới biết rõ thêm về chuyện đó. Ba đã thành công khi thuyết phục rất nhiều buôn làng dời về khu trù mật)
Con bé từng được lên chiếc xe hoa diễn hành ngày lễ Hai Bà Trưng, đứng giữa Ba và Bác Phó Beo đi vòng quanh thị xã , qua rạp ciné Diệp Kính, qua trường Minh Đức, qua biệt thự Mây Ngàn trước khi đến Tỉnh đường đón hai cô Trưng Trắc và Trưng Nhị.
2
Trước khi về Việt Nam chấp chính, Tổng Thống đã sống trong nhà bác Phủ ở Paris vì những mối thâm tình từ những ngày còn ở Huế. Tổng Thống hỏi Bác Phủ :
– Anh có muốn về với tui không ?
Bác Phủ lắc đầu, Bác từ Việt Nam lưu vong qua Pháp khi đã chán chê thời cuộc và nghĩ rằng mình sức cùng lực kiệt không còn giúp được gì cho đất nước. Bác mở một tiệm ăn nổi tiếng ở Paris… nhưng vẫn không tránh được những nghiệt ngã đời thường… Tuy Bác từ chối tham dự chính trường nhưng dòng máu ngoại giao của giòng họ vẫn di truyền mạnh mẽ trong huyết quản để như một bản sao tội nghiệp, vài chục năm sau một nhà ngoại giao lại xuất hiện đình đám trên chính trường dù trong gia đình không ai mong muốn: Chị N.
Con bé không hề muốn nhắc và cũng không biết nhiều lắm ngoài những ký ức tuổi thơ về những thâm cung bí sử của gia đình… nhưng giòng họ này có khác gì với những giòng họ của trăm năm cô đơn??? Khi chị N. bước vào lịch sử( dù chính sử hay tà sử ) thì Ba, các Bác, các Chú, anh P. ngậm đắng nuốt cay bước chân vào các trại tù hay lạc lõng lưu vong như một lời nguyền đã tạc !!!
Những tài hoa bạc mệnh…
Những nỗi buồn chiến tranh…
Những tương tàn lịch sử…
Con bé lớn lên cùng những ám ảnh buồn đau ( Như lời Mẹ thảng thốt với Ba – khi trong những cơn mơ hàng đêm con bé cứ co rúm người lại hét thất thanh : Con sợ , con sợ… – Sự nghiệp của anh đã giết chết con bé mất rồi !)
Và rất nhiều năm sau, trong những lần thất bại, trong những nỗi buồn phiền, trong những niềm tuyệt vong… Con bé lại úp mặt vào hai tay, nghe âm u tiếng trống dồn dập từ đại ngàn sâu thẳm để thấy mình bơ vơ vô cùng tận…

Như hôm nay
Ngày 2/11.
Ngày Tổng Thống vị quốc vong thân bởi những tên đồ tể .
“ Chúng tôi không thể để ông Diệm sống vì ông được người dân cả nước quý mến…” ( Dương Văn Minh. Theo M. Higginns : Our Vietnam Nightmare)
Con bé( nay đã là người lớn ) hỏi thầm trong hồn: Để lên đỉnh Golgotha cần phải tốn bao nhiêu máu và nước mắt ???

TÔN NỮ THU DUNG

BÀI THƠ CỎ DẠI

có ngày nào mặt trời không mọc
và núi sông quên không nhớ nhau
anh ngồi đợi nghìn xanh xuống thấp
thất lạc lá chiều trên vũng chiêm bao

khói huyền bay từ mờ mờ vô thủy
mê hương trầm thơm mấy ngón vô chung
anh ngồi đợi bên nhịp cầu dĩ vãng
con nước xuôi về trỗ nhánh vô cùng

có ngày nào mặt trời không lặn
ta không là ý nghĩ len nhau
ngày rực rỡ nên tình sầu rực rỡ
nhánh tương tư từ trong ngực đâm chồi

anh ngồi đợi bài thơ cỏ dại
đốt hoàng hôn thắp một bình minh
yêu dấu ạ, là ngày quên hay nhớ
khi mai này mình bỏ lại sau lưng

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Tháng Mười Một

tranvanle

Tháng Mười Một có nhiều ngày để nhớ, mà nhớ nhất là ngày Lễ Tạ Ơn. Gia đình nào cũng chờ đợi cháu con “về thăm Mẹ Cha Ông Bà Nội Ngoại”.

Mẹ Cha Ông Bà Nội Ngoại, biết phận mình, không bao giờ dám hỏi: “Con cháu mình liệu chúng có về không?”. Những người già thường đứng tựa bên song, nhìn như ngắm những đóa hoa sắp nở…

Trời sinh ra con người, Trời sinh luôn nỗi nhớ – chẳng hạn như tôi, bây giờ, đang nhớ thời gian. Tôi mới có bài thơ nói về những đồi hoa vàng…là tôi nhớ biết bao nhiêu Đà Lạt!

Hoa quỳ nở đúng vào tháng Mười Một. Trường tôi dạy ngày xưa, chung quanh hoa quỳ, vàng ôi vàng nhuộm những gót chân đi. Tôi muốn nói với học trò một điều gì mà thôi không nói…

Tháng Mười Một hai mươi lăm năm quê người tôi đợi Lễ Tạ Ơn để tôi nói tiếng lòng: “Tôi sẽ về hỡi Núi hỡi Sông! Tôi không quên đâu thuở-tôi-bồng-cây-súng!”.

Mười lăm năm trước hai mươi lăm năm, tôi thất vọng. Hai mươi lăm năm nay tôi sống ngậm ngùi. Bốn mươi năm trời tôi không có ngày vui. Thơ-Nước-Mắt chảy dài, “Xin Lỗi Bạn!”

Mẹ Cha tôi, lâu rồi, quá vãng. Chỉ Núi Sông còn đợi tôi về! Ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ sắp kề, nhìn cảnh người ta vui…mà sao tôi muốn khóc?

Người xưa nói “Đa Thọ là Đa Nhục”, tôi soi gương tôi thấy tôi già, Nước Non thì ở cuối trời xa, mồ mả Mẹ Cha, bạn bè…chân mây trắng xóa!

Nếu tôi về bây giờ, nhìn chi cũng lạ! Nếu tôi về bây giờ, tơi tả, ai thương? Hỡi ơi tôi! Chiếc lá bên đường…tắp vào đâu những bia mồ trận mạc?

Tháng Mười Một đang tới, sắp là tháng Chạp – “quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải bất phục hồi?”. Bạn nghe thơ Lý Bạch đi, phần tôi đã nghẹn lời. Tổ Quốc! Quê Hương! Hỡi ơi những người trong mộng…

Trần Vấn Lệ

Bọ ngựa

nguyendinhbon

Ông chọn quán cà phê đó vì nhìn thấy cái hàng rào gỗ sơn trắng viền quanh mặt tiền. Có lần cô đã nói “Em thích những căn nhà có hàng rào gỗ”. Ông gọi cho cô, nghe ông nói tên đường, cô trả lời “Em không biết con đường đó”. Ông phì cười “Đường ra sân bay mà không biết sao? Em quẹo phải, quán cà phê2D”.

Ông ngồi ở một cái bàn sát hàng rào, gần cổng. Quán đầy bóng cây, ánh đèn không sáng lắm và thưa khách. Có một chùm hoa bò cạp vàng đang nở lẫn vào những trái châu đủ màu nhưng nhiều nhất vẫn là những giò phong lan, được treo khá lộn xộn. Có vẻ chủ quán mê hoa lan, nhưng chưa phải là một tay tài tử có hạng. Dưới ánh đèn có thể thấy rất nhiều chủng loại lan, từ hồ điệp, cattleya, dendro và cả ngọc điểm, phần lớn không ra hoa hoặc chỉ còn những cuống hoa…

Khi cô đến ông đã uống gần xong ly cà phê của mình. Ông chú ý nhìn cô đi từ bên ngoài vào. Đã tám tháng kể từ ngày ông và cô ngồi cùng nhau trong một quán mì quảng. Cô đã ốm đi nhiều nhưng vẫn là cái nét thanh mảnh chứ không tiều tụy. Cô điềm đạm ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Ông nhìn cô cười cười bởi nghĩ rằng chẳng có một cơn giông tố nào đang đến…

Người phục vụ đến. Cô yêu cầu một ly cà phê đá và thoáng nhìn ông. Khi còn hẹn hò nhau, ông thường tỏ ra một chút gia trưởng khi không cho cô uống càphê buổi tối nhưng giờ thì ông chỉ nhìn cô mỉm cười. Ông im lặng hút thuốc, cô im lặng khuấy cà phê. Một lát sau, cô dùng tay chạm nhẹ vào tay ông, nói nhỏ:“Cuối năm em sẽ làm đám cưới”. Ông gật đầu, phun khói thuốc mịt mù. Bỗng nhiên ông nhìn thấy những giọt nước mắt bắt đầu rơi trên má cô. Ông hỏi, thật dịu dàng: “Sao lại khóc, em nói muốn gặp anh mà!” Cô: “Lee yêu em nhiều, em cảm thấy có lỗi với ông ấy”. Ông: “Em cũng nói là yêu Lee, anh nghĩ hai người hợp nhau mà”. Cô: “Em thật sự chỉ muốn sống ở Sài Gòn, em không muốn qua Hàn,nhưng ông Lee sắp hết thời gian giảng dạy tại đây. Ổng muốn làm đám cưới trước khi về nước”. Ông: “Có vấn đề gì sao? Em nói Lee đã li dị từ 10 năm trước?”.Cô: “Vấn đề là ở em. Ba tháng nay em hoàn toàn mất ngủ. Em bị ám ảnh một điều gì đó, vậy nên em muốn gặp anh một lần…”

Ám ảnh?

Thời gian đầu hẹn hò ông nhớ có lần hỏi cô: “Em có muốn giữ gìn theo truyền thống?”. Cô hiểu ngay câu nói, tròn mắt nhìn ông: “Truyền thống? Anh khùng vừa thôi!”.

Vấn đề là cô rất hứng thú với chuyện hai người trần truồng ở trên giường nhưng ông lại không thể vượt qua được “khe cửa hẹp” vì cô nói rằng mình bị đau ghê gớm khi cố làm chuyện đó. Và trong một tích tắc của sự toan tính, ông từng nghĩ hay là cô muốn giữ gìn bởi biết rằng cuộc tình này rồi sẽ kết thúc mà không đi đến đâu, bởi chính họ biết rõ rằng mình không thể vượt qua những rào cản để thuộc về nhau?

Thời gian yêu nhau, từ ngày môi chạm vào môi lần đầu cho đến ba tháng sau, họ vẫn hẹn hò nhau ở những quán càphê và đôi khi là khách sạn nhưng vẫn chưa thể có một lần làm tình trọn vẹn. Sau lần hỏi cô câu ấy, một tuần sau, khi vừa khép cửa, cô đã hỏi ông: “Người say không biết đau hả anh?”, ông ngạc nhiên nhìn cô, cô tiếp tục: “Một lần ba em say, ổng té tét đầu máu chảy dầm dề nhưng vẫn ngủ khò khò. Sau đó thức dậy nói hổng biết đau gì hết”. Thấy ánh nhìn của ông, cô lại nói, không cảm xúc: “Bữa nay em sẽ uống ba lon bia, khi đó chắc là em say không biết gì nữa rồi, em sẽ không đau, rồi anh cứ yêu em, em nghĩ một lần là xong…”.

Ông ôm chầm lấy cô, miệng đắng nghét một cách bất ngờ. Ngay lúc đó ông biết tình yêu cô dành cho mình trong thời gian này là tuyệt đối tận hiến. Buổi hẹn hò lần đó dù ông không đồng ý, cô cũng mở tủ lạnh, lấy ra một lon bia, bật nắp và uống. Nhưng cô chỉ uống được vài ngụm thì nhăn mặt, nói không thể tiếp tục, vừa nói “em không thể tiếp tục” vừa khóc, vừa uống tiếp. Ông dằn lấy lon bia, hợi mạnh tay khi ôm cô vào lòng, xoay mặt cô lại nhìn thằng vào mắt mình, nói:“Thôi, đừng có khùng nữa. Em mà say lát anh không đưa về!”. Chỉ nửa lon bia cũng làm mặt cô đỏ bừng, cô lại khóc, cười rồi đứng lên, tự thoát y, lại lao vào lòng ông. Nhưng ngay cả hôm đó ông vẫn không thể đi vào cô được. Cô gần như hét lên khi ông cố gắng xuyên phá và ông đã dừng lại…

Nhưng lần hẹn hò sau chính cô đã quyết định vấn đề. Khi họ đã hoàn toàn thỏa mãn với chuyện vuốt ve nhau, cô đã chủ động để ông đi vào người mình. Hai gót chân cô đặt chắc xuống nệm và ưỡn người lên trong một tư thế dứt khoát. Khuôn mặt cô không hề tỏ ra sự đau đớn nào ngoài một nếp nhăn mờ trên vầng trán 19 tuổi. Ở phía trên, ông nhìn thấy mình đi vào người cô một cách khó khăn từng chút một, và chuyện đó giống như một đoạn phim quay chậm vĩnh viễn ăn sâu vào trí nhớ ông sau này. Khi họ đã hoàn toàn gắn kết với nhau, ông cảm giác như từ cô có một lực hút rất mạnh làm sự sung mãn như dồn dập lên, nhưng cô đã thầm thì vào tai ông: “Đừng động đậy anh, em muốn anh nằm im, em sẽ không chịu đựng nổi”. Ngay lúc đó sự tập trung vào chuyện quan hệ của ông đột ngột biến mất khi nhìn thấy từ thái dương của cô cho đến nơi chân tóc mai những giọt mồ hôi rịn ra lấm chấm, và từ trong hai khóe mắt hai giọt lệ dần hình thành rồi đôi mắt đẹp bắt đầu ràn rụa nước. Ông chuyển mình, áy náy muốn rời khỏi cô nhưng cô đã vòng tay ôm chặt ông thổn thức: “Đừng anh, em muốn anh ôm em”…

“Vì sao em bị ám ảnh? Về chuyện gì?”

“Em không biết! Em mất tập trung, gần như không thể ngủ được vào ban đêm. Một bác sĩ tại phòng khám đã khuyên em đi điều trị tâm lý”.

“Em có nghĩ… về anh?”- Ông buồn rầu hỏi.

“Không phải là luôn luôn, nhưng có, không biết sao em nhớ hoài cái đêm mình ngủ ở Cần Giờ”.

Ông nhìn vu vơ ra ngoài đường, tầm mắt ông vướng vào những giò phong lan. Ông không nhớ có gì đặc biệt trong đêm ở cái thị trấn u buồn đó. Bờ biển đen ngòm những tạp chất, vỏ sò, cát, bùn… đều đen. Buổi tối hầu như du khách đều về lại Sài gòn và cả một vùng nước tối đen trước mắt và phía xa là ánh đèn của thành phố Vũng Tàu bên kia vịnh Gành Rái.

“Sao em lại nhớ cái đêm đó?”

“Em không biết. Nhưng giờ đây em rất sợ khi ngủ một mình. Khi vừa chợp mắt, em thấy anh ngồi đó…”

Cô khóc không thành tiếng, những giọt nước mắt lăn dài trên gò má xanh xao. Cô hỏi ông có đem khăn giấy không, ông lắc đầu, định gọi người phục vụ nhưng cô đã đưa tay làm cử chỉ ngăn lại và dùng tay áo khoác chùi nước mắt…

“Em nhớ đêm hôm đó, chính xác là gần sáng, khi tỉnh dậy nhưng vẫn làm như đang ngủ em nhìn thấy anh ngồi, không ngủ vì vẻ mặt anh rất tỉnh táo, anh ngồi đó và nhìn em…”

“Ừ, thì sao, anh có ngồi…”

“Anh nhìn em, nhưng ánh mắt đó kỳ lạ lắm, em cứ nghĩ đó như không phải một người đàn ông nhìn người yêu mình đang ngủ, ánh mắt đó, ánh mắt đó… em không thể nói đó là gì…”

“Đừng nghĩ ngợi nhiều, đêm đó anh cũng nhìn em ngủ bình thường thôi…”

“Không… không phải. Lee chưa bao giờ nhìn em như vậy, chưa một ai trên đời nhìn em như vậy… Cho nên em mới muốn gặp anh một lần nữa…”

Ông quay ánh mắt nhìn về phía cô, ông nhớ mình đã nhìn cô như thế nào đêm hôm đó nhưng không muốn lặp lại. Thời điểm đó đâu chừng 5 g sáng. Ông thức dậy đã khoảng 30 phút ngồi nhìn cô và chìm đắm trong ý nghĩ lạ lùng bởi chẳng biết giải thích vì sao lại có sự kết hợp điên cuồng giữa cô và ông… Ông nghĩ về cô con gái duy nhất của mình giờ đã ra đi với mẹ nó…

“Thôi em về đây, số điện thoại gọi đến là số mới của em, anh lưu lại đi, em sẽ không chạy trốn nữa…”.

“Đợi anh đưa em về…”

“Không cần anh, Lee nói sẽ chờ em tối nay, anh ta cũng ghen ghê lắm”.

Ông thở dài, đứng dậy đi theo cô ra trước sân quán, nhìn cô cài lại áo khoác, ngồi lên yên xe…

“Chắc đến chết, em cũng không quên được ánh mắt anh!”

“Anh xin lỗi”

“Em về đây, anh đừng ngồi lại quá khuya”

Ông trở lại chỗ ngồi của mình nhìn qua hàng rào của quán. Bỗng nhiên ông nhớ lại câu chuyện vừa xảy ra tuần trước tại mảnh vườn bé nhỏ của mình. Một lần chạy qua khu vực bán thức ăn cho chim,ông đã đem về một con bọ ngựa và thả trên giàn treo phong lan sau nhà. Chú bọ ngựa non được giải thoát từ bịch nilon cào cào, chờ làm mồi cho chim có vẻ bằng lòng với nơi ở mới vì vừa được tái sinh. Nó lớn rất nhanh. Chỉ vài tuần là đã ra dáng một anh chàng hung hăng háu đá. Nhìn nó ông rất vui, đôi khi ông còn tặng nó vài con sâu nhỏ thường sinh sôi trên các cụm rau tự trồng… Một buổi sáng ông nghe tiếng vỗ cánh xòe xòe và nhìn thấy một con bọ ngựa lớn gấp đôi đáp vào cành lan. Ông hơi chột dạ vì biết đó là một con cái và cũng biết tập tính của loài bọ ngựa là ăn thịt đồng loại… Ông nghĩ mình phải đuổi con bọ ngựa to lớn kia đi nhưng rồi không thực hiện ý định đó… Một vài ngày trôi qua, vẫn không có chuyện gì xảy ra. Hai con bọ ngựa vẫn ở trên hai giò lan khác nhau và hình như chúng không quan tâm gì nhau cả tháng trời sau đó… Rồi một buổi sáng, khi tưới lan ông nhìn thấy xác con bọ ngựa mất đầu rơi trên nền sân thì cái cảm giác mất mát đã không còn nữa. Nó thật tĩnh lặng khi ông cúi xuống nhặt xác người bạn của mình, nhẹ nhàng cho vào bao nilon như đã chờ đợi sẵn… và cũng tĩnh lặng như vậy vào tuần trước, khi ông nhìn thấy trên những cành lan rất nhiều con bọ ngựa non bằng con kiến vàng bắt đầu lớn…

Ông liếc nhìn đồng hồ, cầm chiếc điện thoại của mình lên… Cô đã tắt máy.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Để nhớ một cuộc tình tận hiến như loài bọ ngựa