Làm gì với nỗi nhớ?

tranhuy

cất nỗi nhớ vào trong tủ
phập phồng sợ gió cuốn trôi
đặt nỗi nhớ trên ngực áo
con tim gõ nhịp bồi hồi

đem nỗi nhớ rao ngoài chợ
buôn lời mặc cả nỡ không
gói nỗi nhớ trong cánh diều
cần đâu một chiều gió lộng

thả nỗi nhớ ra ngoài đồng
ta trở về thời trẻ dại
gửi nỗi nhớ vào tim người
bao lần chần chừ e ngại

giữ nỗi nhớ để làm gì
lúc nghèo có ai cầm cố
gieo nỗi nhớ vào lòng mình
để thời gian làm hoen ố…

TRẦN HUY

TRỜI CỨ VÀNG NHỜ NHỢ

tranthienthi

không biết là ngọn cỏ đã oằn mình níu lại hạt sương
hay là giọt sương mai đã kéo cong ngọn cỏ
buổi chia lìa
lời yêu lững lờ như tử ngữ

những xác nắng của ngày hôm qua
nằm vất vưởng bên thềm
mặt trời hôm nay chần chừ chưa thức dậy

đêm đã hẹp không đủ chỗ cho hai người
hồi ức lại về choán cả chỗ
giấc mơ chập chờn tranh giành chăn gối
cái có thật mỏng mảnh như một tiếng muỗi kêu

nợ nần gì với con đường
người con gái đã ra đi từ mờ sớm
một chút ấm trong chăn
không biết sẽ giữ được đến bao giờ

nỗi buồn không khúc chiết
đổ bóng mờ nhạt lên câu thơ
mai mốt em về nhìn lại mình
biết có còn nhận ra đôi mắt màu đậm nhạt

gió lu loa điều gì với mái tôn rồi đi
gió vồ vập vỗ vào cành bàng rồi đi
ban mai và những lời chia tay
đều có chung một màu nguỵ tạo

muốn đổ tất cả vào trong phễu lọc
lắng lại một điều gì tinh sạch
trời tháng bảy cứ vàng nhờ nhợ

muốn vẽ ra một cái gì thật đẹp
mang treo vào bóng đêm

trần thiên thị

Vũ Thanh và trường thiên tiểu thuyết võ hiệp lịch sử Việt Nam: TÂY SƠN TAM KIỆT.

Tác giả Vũ Thanh tên thật là Võ Thanh Quang, sinh năm 1956 tại Tân Hội – Phước Hưng- Tuy Phước – Bình Định. Đang định cư tại tiểu bang Florida – Hoa Kỳ.
Theo cách nói khiêm nhường của tác giả thì ông là một nhạc sĩ, thi sĩ và văn sĩ không chuyên, mang tính tài tử và cống hiến. Tuy vậy, những nhạc phẩm của ông đã được chính con trai ông là nam ca sĩ Quốc Khanh trình bày, cũng như Trường thi Hòn Vọng Phu với 2.466 câu thơ lục bát của ông được nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2012, đã gây nhiều bất ngờ thú vị cho giới yêu thơ, nhạc. Và một lần nữa chúng ta sẽ hết sức kinh ngạc khi tác phẩm tiểu thuyết đồ sộ Tây Sơn Tam Kiệt của ông được nhà xuất bản Trẻ bắt đầu phát hành, dự trù sẽ dài tổng cộng 5.000 trang.
Tây Sơn Tam Kiệt của Vũ Thanh là bộ trường thiên tiểu thuyết võ hiệp lịch sử gồm ba phần: Phần một: Én Liệng Truông Mây (1738 – 1770). Phần hai: Nhất Thống Sơn Hà (1770 – 1792). Phần ba: Gia Định Tam Hùng (1792 – 1802), kéo dài suốt giai đoạn lịch sử nước nhà từ năm 1738 đến 1802, tức giai đoạn cuối thời Nam – Bắc phân tranh đời Hậu Lê, với Chúa Trịnh Giang ở Đàng Ngoài, Chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong, rồi nhà Tây Sơn thống nhất đất nước cho đến khi Gia Long lên ngôi.
Trong phần Lời Mở Đầu, tác giả đã viết:
“…Khoảng thời gian hơn sáu mươi năm đó, tuy rất ngắn ngủi trong dòng lịch sử bốn ngàn năm, nhưng lại là một giai đoạn lịch sử oai hùng và sáng chói nhất của dân tộc, đưa tên tuổi của nước Đại Việt vang khắp năm châu. Và vị anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ đã được liệt vào hàng vĩ nhân, một danh tướng bậc nhất của nhân loại, một vị tướng bách chiến bách thắng, chưa một lần chiến bại, do đó mà trong bài trống trận Tây Sơn không có hồi trống thu quân và cũng do đó mà nhân gian truyền tụng hai câu thơ:
Cổ kim bách thắng Long Nhương Tướng
Nhất thống sơn hà Bắc Bình Vương
Dù vậy cũng không thể phủ nhận đó là một giai đoạn bi thương nhất của dân tộc và có không ít những sự kiện cũng như những vị anh hùng bị gạt bỏ ra ngoài dòng chảy lịch sử nước nhà.
Một trong những vị anh hùng bị lãng quên trong lịch sử đó là chú Lía, người hiệp sĩ đã lãnh đạo cuộc đấu tranh của những người nghèo khó chống lại sự thối nát, bóc lột, bất công, quan quyền của triều đình Chúa Nguyễn. Ngày nay, cuộc đấu tranh oai hùng ấy chỉ còn được lưu qua lại hai câu thơ đầy thương cảm:
Chiều chiều én liệng Truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành
và một bài “Vè Chàng Lía” mà dân chúng yêu thương đã lén lút truyền miệng nhau…”
Cuối lời mở đầu, tác giả tâm sự:
“Là người con của quên hương Bình Định đang lưu lạc xứ người, giở lại trang sử xưa, chúng tôi mong mỏi xới tìm những viên ngọc bỏ sót đã bị vùi lấp, đánh bóng lên, trả ánh sáng huy hoàng xưa cho họ. Việc làm này vừa như để vơi đi niềm trắc ẩn, vừa như để mua vui cho độc giả, nhất là lớp độc giả trẻ của nước nhà”.
Bằng cả tấm lòng, bằng một văn phong dung hợp giữa đông – tây, kim – cổ, tạo nên nét đặc thù, phù hợp với phong cách và tâm hồn Việt. Bằng sự dày công sưu tầm và nghiên cứu. Và bằng một bút pháp linh họat, Vũ Thanh đã vẽ lại trước mắt chúng ta một bức tranh sống động bối cảnh một giai đoạn lịch sử Đại Việt, vạch trần và tiêu diệt những âm mưu xâm lấn của ngoại bang, những cuộc đấu tranh chống lại áp bức, bất công của giai cấp lãnh đạo hai phủ chúa Trịnh – Nguyễn của những chàng Hiệp sĩ Việt và của những người dân đen cùng khổ nhưng bất khuất, dẫn đến việc thống nhất nước nhà sau hơn hai trăm năm chia cắt.
Qua ngòi bút của Vũ Thanh, chúng ta sẽ tìm thấy ở đây những tinh hoa và nét đặc thù của võ thuật Đại Việt qua những trận đấu võ kinh thiên của các hiệp sĩ Việt với các cao thủ Thiếu Lâm Trung Hoa, những võ sĩ cung đình Xiêm La, và các kiếm khách xứ Phù Tang – Nhật Bản. Tác giả còn cho ta tìm thấy những thủ đoạn chính trị, những mưu lược quân sự của người xưa mà cho đến nay vẫn còn là những bài học qúi giá. Chúng ta cũng tìm thấy những huyền thoại nước nhà được sống lại một cách hào hùng xuyên suốt tác phẩm.
Nhưng theo tôi, có lẽ điểm đặc biệt nhất, rõ nét nhất trong ngòi bút của Vũ Thanh là các xây dựng những mối tình của trai gái Việt. Cách tỏ bày những yêu, thương, ghét, hận của ông rất Việt, thuần tâm hồn Việt, không pha lẫn với bất kỳ một nền văn hóa tâm linh nào khác, khiến khi đọc đến, chúng ta có ngay một sự cảm thông hết sức sâu sắc và tâm đắc.
Để bắt đầu cho bộ trường thiên, hôm nay chúng tôi xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc phần một của trường thiên tiểu thuyết Tây Sơn Tam Kiệt – tức: ÉN LIỆNG TRUÔNG MÂY, do nhà xuất bản Trẻ Sài Gòn phát hành.
Tác phẩm gồm 4 cuốn, tổng cộng 1.900 trang
Cuốn 1: Truyền quốc Ô Long Đao.
Cuốn 2: Trấn Biên thành nổi sóng
Cuốn 3: Những mảnh tình oan trái
Cuốn 4: Cờ nghĩa rợp Truông Mây
ÉN LIỆNG TRUÔNG MÂY được khởi đầu từ âm mưu bá chiếm Cù Lao Phố – Trấn Biên (Biên Hòa) của một thương nhân người Phúc Kiến là Lý Văn Quang, với cuộc tranh đoạt đẫm máu thanh Ô Long Đao huyền thoại nước nhà, tạo nên những ân oán tình thù đẫm máu và nước mắt, cho đến khi cuộc khởi nghĩa Truông Mây của Chàng Lía bị dập tắt vì một sự phản bội đau lòng.
Với cá nhân tôi, trường thiên tiểu thuyết võ hiệp lịch sử TÂY SƠN TAM KIỆT của tác giả Vũ Thanh là một vì sao, tuy mới mọc nhưng sẽ chói sáng trên nền trời văn học Việt Nam bởi giá trị lịch sử, giáo dục và văn học, được biểu hiện qua tính cách độc lập, mang bản sắc tâm linh đặc thù, thuần Việt của nó.
Mời qúy độc giả tìm đọc để tự mình kiểm chứng.
Trân trọng giới thiệu.

BÁT VŨ
Sài Gòn tháng 11-2014.

Thứ Sáu Đen

tranvanle

Hôm nay, Thứ Sáu Đen, người ta lấn, người ta chen, người ta đi mua hàng hạ giá. Hôm nay, một ngày lạ, một ngày của một năm, nhiều người vui, nhiều người mừng: Mình Mua Được Đồ Hạ Giá!

Sau Lễ Tạ Ơn, có một ngày vui khó tả: người ta thật ngoan, xếp hàng như con rắn, mặc áo xanh, áo đỏ, áo trắng, tất cả áo đều hóa màu đen! Một ngày rất-là-quen của những ai còn sống, của ai còn hi vọng…mình vớ được niềm vui!

Tôi giống như mọi người: cười trong giờ chờ đợi. Chờ lâu rồi cũng tới cái lượt mình buớc vô, ngắm nghía từng món đồ…thấy mình không cần thiết! Nhưng…quên đi cái mệt vì mình có cái vui, mình thấy những nụ cười nở trên đời khốn khồ!

Tôi đi bên cạnh nó, nó là đứa nhà giàu, nó không ước không ao, (nó cóc cần mọi thứ) , người ta sao, mình vậy. Nó nói: “Mai Thứ Bảy, chắc Thứ Bảy màu Hồng?”. Tôi nhìn mắt nó trong, màu đen chìm đâu mất. Tôi nghĩ nó là Phật tham quan chốn ta bà. Tôi nghĩ nó là hoa – một nụ hoa sắp nở?

Nó mua món gì đó. Cái túi nhỏ đòng đưa. Tôi cũng có món mua, mua thứ gì cho có. Chúng tôi nhìn cho thỏa rồi cùng ra parking. Nó đi xe thật xinh, tôi thì xe không mới. Xe nó không nhả khói, xe tôi thì mù trời. Tôi nhìn thấy nó cười chào tôi không bịn rịn. Ngày Thứ Sáu lấp lánh những nụ cười đó, đây…

Rồi, cũng hết một ngày. Rồi, thêm bài thơ nữa. Sắp ngày sinh của Chúa…tuyết trắng những ngày Đông. Không biết ai có lòng nghĩ gì Ngày Thứ Sáu?

TRẦN VẤN LỆ

Một đoạn của NÚI

nguyennhumay

biết đời chẳng có gì đâu
ngoài cây nến thắp hai đầu áo quan
và đôi mắt khép muộn màng
sau khi đã gặp trăm ngàn đắng cay

nhưng tôi vẫn cứ dang tay
đón trời đất, đón đêm ngày thế gian
có khi nước mắt đã tàn
vẫn cười gượng để giấu ngàn nỗi đau

vẫn nhìn lên cõi traeng sao
nghĩ suy thân phận mà đau một mình !

(và khi hiểu được lòng em
trái tim mòn mỏi đã im lặng rồi !)

nhưng tôi vẫn cứ yêu đời
mặc cho thiên hạ , đất trời đổi thay
miễn sao , dù chỉ một ngày
từ trong cát bụi tôi bay vào đời…

NGUYỄN NHƯ MÂY

NHỚ MÓN ĂN XƯA

khuatdau

Nhớ món ăn xưa nhớ ly trà quen
Trịnh Công Sơn
1.

Tiết lập đông mưa dầm gió bấc, ấy là lúc cái đói cọng thêm cái rét, hai tiếng mà người dân quê miền Trung nào cũng sợ. Bạn hãy tưởng tượng một đứa bé chừng mười tuổi, chân đất, áo vải phong phanh, bụng đói meo, run lẩy bẩy trên dường đi học về.
Đứa bé ấy là tôi, sung sướng biết chừng nào khi được mẹ cời từ trong tro nóng ra một củ khoai lang hay khoai mì. Phạm Duy bảo khoai lùi bếp nóng ngon hơn là vàng. Có lẽ ông dùng chữ vàng để cho hợp vần, chứ vàng lúc đó đâu có ăn được. Mà dẫu cho ăn được thì vàng cũng đâu có cái mùi ngòn ngọt, nong nóng, ăn tới đâu là ấm tới đó.
Rồi bữa cơm được dọn ra, chỉ độc một món mắm cua chua. Mắm cua chua chứ không phải canh chua, lại càng không phải nem chua. Một món ăn “của không ngon nhà khó vẫn ngon”, dường như chỉ có ở những làng quê Bình Định. Món mắm ấy mua không ai bán, chỉ có thể do mẹ hay bà tự tay làm lấy.
Đó là những con cua đồng nhỏ như con rạm, con cái màu vàng đất, con đực màu tim tím. Cái giống ấy sinh sôi nẩy nở nhiều như quân Nguyên trong những thủa ruộng vừa gặt xong, nước lụt lênh láng tràn bờ. Cha tôi ra đồng đem theo một cái rổ lớn gọi là rổ xúc, hình nửa mặt trăng, có cán bằng tre như cán cuốc. Ông vục cái rổ xuống cạnh bờ ruộng, chân giậm lỏm bỏm, giở lên là đã tóm được vài ba anh chị béo tròn. Nghe tiếng động, chúng rời bờ cỏ lặn xuống nước, tưởng đâu đã thoát thân, không ngờ có cái rổ của cha tôi đang chờ sẵn. Cứ thế, hết bờ này đến bờ nọ, chưa tới nửa buổi đã có một đụt cua đầy nhóc.
Cua được đổ vào rổ sảo, xối nước vài ba bận cho trôi hết mùi bùn. Rồi một cuộc tàn sát tập thể diễn ra mà Lên hiệp quốc không thèm lên tiếng cảnh cáo, khi mẹ tôi lần lượt cho cua vào cối, còn cha thì cầm chày đứng giã.
Những con cua với vũ khí tự vệ là hai cái càng bé nhỏ, làm sao chống nổi sức nặng của cả cái chày do một người đàn ông khỏe mạnh giáng xuống. Chỉ vài mươi chày, chúng đã bầm dập tơi tả rồi nát nghếu.
Mẹ liền cho nước lã vào cối, trộn đều, dùng chén múc ra, đổ cả lên mặt giừng. Nước hòa thịt cua, vừa giống màu ovantin, vừa giống màu cà phê sữa chảy xuống thau nghe tong tong.
Mẹ thêm chừng nửa nắm muối hột, trút vào một cái hũ sành, lấy lá chuối khô bịt lại, rồi đem ủ bên cạnh ba ông táo. Ba bữa sau, không biết ba ông có phù phép gì không mà cái thứ nước đùng đục ấy khi đun sôi trở thành một thứ nước chua chua, mằn mặn, gọi là mắm cua chua. Ăn cái món hãy còn phảng phất mùi rạ mục, mùi bùn non, với cơm gạo hẩm còn nghe mùi cám, đạm bạc thế mà sao vẫn thấy ngon chi lạ.
Còn mắm cua tươi thì mẹ bắc trã lên bếp đun ngay, trong khi cha đội mưa ra vườn, chặt một cây chuối non, ngồi thái mỏng. Thịt và gạch cua kết lại thành giề vàng rực, thơm lựng. Nêm một ít lá gừng là thành một thứ nước chan ngon đáo để.
Lũ bé con mê mẩn với riêu cua, còn người lớn thì nhai rào rào với chuối non trắng như giá sống. Phải chi, có cải non, cúc, ngò, thêm ít rau răm nữa thì đúng là ngon hết sẩy. Nhưng mưa lụt, chỉ ước vậy thôi, chứ có cây rau nào sống nổi.
Giờ, phân hóa học, thuốc trù sâu, chẳng còn cua cá, chỉ có những con ốc bươu vàng lỡ dại nhập vào, nhớt nhợt, tanh tưởi sao mà làm mắm được!

2.

Rồi mùa đông rét mướt cũng qua đi. Trong cái nắng tháng chạp hanh vàng, những rò hành rò tỏi lên xanh như mạ. Lũ bướm nhỏ từ đâu đã kéo tới tìm mật trên những luống cải đang nở hoa. Đã thấy bà và mẹ mua kiệu về làm dưa, mua gừng về làm mứt. Mùi mứt gừng thơm dìu dịu, biết là cay đó, nhưng sáng sớm được nhai vài miếng trên đường đi học, vẫn thấy ấm cái bụng.
Cuối tháng chạp nhà nào cũng làm bánh khô, để đón Tết. Bánh được làm bằng bột nếp và đường. Không gì thích bằng ngồi xem bà dện bánh. Bột trộn đường được đổ vào khuôn, bỏ nhưn mè, rồi nện chặt bằng tay. Khi cảm thấy đủ chặt, bà dùng một con dao, cạo một lượt cho phẳng rồi lật khuôn gỗ trở cán gõ gõ. Thế là những chiếc bánh hình vuông, hình lục giác, hình tròn với những trái đào, những chữ thọ nổi vồng lên, rơi xuống thành hàng trên cái nia đã lót sẵn giấy.
Đó là bánh đẹp để đãi khách. Còn bánh in đơn giản không cầu kỳ, vừa nằm gọn trong lòng bàn tay một đứa trẻ lên ba, được dện hàng trăm cái trong những cái khuôn bằng đồng thau. Chỉ một màu bột trắng tinh, thơm mùi nếp mùi đường, ngoài ra không một mùi nào khác.
Nhưng bánh thuẫn thì lại lắm mùi. Mùi của bột huỳnh tinh thứ thiệt, mùi của nghệ cho thêm màu vàng, mùi của tiêu cho trứng khỏi tanh, mùi của quế cho thơm và ấm bụng. Cái tên bánh tuy quê mùa, nhưng khi chín nở ra trông giống như hoa nở.
Bánh được cho vào thạp phơi nắng để không còn hơi ẩm, khi ăn nghe rộp rộp tưởng là cứng lắm, thật ra là dòn tan trong miệng. Nuốt cái chất vừa bùi, vừa ngọt, vừa beo béo, thơm thơm ấy vào bụng rồi chiêu một tách trà ướp hoa nhài, thì đúng là đang thưởng xuân.
Giờ, bánh làm bằng máy, đựng trong bao trong hộp cực kỳ đẹp đẽ, nhưng ai dám bảo là trong đó không có những hóa chất độc hại. Nhất là cái mùi thơm của nó, nghi nghi làm sao ấy. Như mùi sầu riêng. Có khi hôi đến nỗi không được mang lên phi cơ. Lại có lúc thơm đến mê mẩn. Có vị chua, vị mặn, vị cay, ngay cả vị béo. Rắc rối là thế mà người ta vẫn dùng hóa chất để tạo ra được. Sầu rất riêng mà còn như vậy, thì nhằm nhò gì ba cái mùi lẻ tẻ vani va niếc. Giờ chỉ còn một mùi là mùi sầu chung!
Thì thôi, đành ngồi uống chén trà suông mà nhớ tới những chiếc bánh của bà làm.

3.

Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.
Cái xứ nẫu bị cười cợt quê mùa, không ngờ lại được ca dao khen một câu mát ruột đến như vậy.
Cây gai thực ra không trồng để lấy lá làm bánh mà lấy vỏ xe sợi đan lưới trước khi có nilon. Chẳng biết người đàn bà nào đầu tiên bày ra cách lấy cái thứ lá nhám sàm ấy, trộn với bột nếp khiến nó bớt dẻo mà trở nên bùi bùi. Khi giã, lá vẫn giữ màu xanh, nhưng khi đem hấp, nó ngã màu đen trông láng lẫy như tóc vừa mới xức dầu.
Bánh ngon, bóc ra không dính tay, bột thơm mùi lá, nhưn thơm mùi đậu, nói theo kiểu Huế là phải “ngậm mà nghe” chứ chưa nuốt vội
Câu ca dao trên theo luật bằng trắc mà phải đổi chữ vợ thành chồng, vì khen các cô, chứ đâu phải khen các chàng. Các cô gái Bình Định được mẹ dạy làm bánh từ khi chưa biết yêu. Học ăn, học nói, học gói, học mở. Trong bốn cái phải học đó thì học gói bánh ít là khó nhất.
Khó bỡi vì chỉ với hai miếng lá chuối cô phải gói làm sao cho bốn mặt là những tam giác đều cùng một đỉnh nhọn. Cái bánh ít được khen là gói đẹp phải trông như một kim tự tháp Ai Cập thu nhỏ!
Ngày giỗ chạp là những ngày thực tập, để đến lúc về nhà chồng, sau ba bữa tân hôn là ngày nhị hỷ, ngày vui thứ hai của đời con gái, cô phải tự mình làm những chiếc bánh ít lá gai, để khoe tài nội trợ với nhà chồng trước khi mang về mừng cha mẹ đẻ. Bánh gói vụng, bột bị chê nhão là sau này khó ở với mẹ chồng và các cô em chồng!
Bây giờ, người ta trộn màu cho đen đen chứ không trộn lá gai. Cũng không thèm gói chi cho mất thì giờ (để còn xem phim bộ), chỉ hấp rồi rắc lên một vài hạt mè. Bánh ít trần (cũng may là không truồng) nghe sao mà thô tục đến hết muốn ăn.
Tuổi già nhớ nhớ quên quên. Nhưng quên gì thì quên, ngay cả quên nước quên non, nhưng không thể quên chiếc bánh tro. Cũng lại một người đàn bà nào đó cắc cớ đem tro hòa với nước, để lắng xuống rồi ngâm với nếp làm thành một thứ bánh không nhưn, có màu vàng như mật và một mùi tro hăng hắc. Những lát bánh nhỏ bằng đồng xu xếp quanh một một khoanh lá chuối đựng đường cát, bày ra trên đĩa sứ trắng xanh, đem mời khách trông cũng rất tao nhã thanh lịch.
Giờ cũng thứ bánh ấy, nhưng người ta trộn màu vàng thay cho màu tro, trông nhạt phèo, ăn chán ngắt!

4.

Tháng ba, chẳng những lúa chín trên các cánh đồng, mà bắp trên nương cũng héo râu, già quắt. Bắp để thật khô bẻ đem về nhà, bóc trần ra cột lại từng chùm, treo trên gác bếp cho khỏi mọt. Những lúc thóc cao gạo kém, đem xuống lảy thành hạt, dùng hai hòn đá vừa tròn vừa dẹp đập cho vỡ ra để trộn với gạo. Bắp nghệ, nên cơm lốm đốm vàng rất đẹp, nhưng ăn chỉ lấy no chứ không ngon.
Món bắp ngon phải là cốm. Cạnh nhà tôi, có một nhà sống bằng nghề làm cốm. Hai vợ chồng đã già, chồng làm vợ bán, rất nhịp nhàng hòa thuận.
Giữa nhà, bác trai đắp một cái lò bằng đất trộn rơm. Bắp được rang trong một cái chảo to. Cát nóng làm cho bắp nổ dòn như pháo Tết. Những hạt bắp vàng giờ nở trắng bung, to gấp đôi gấp ba. Rồi mật mía được đun sôi, khi sền sệt là đường “đã tới” khiến cả xóm nghe thơm nghẹt mũi.
Bác đổ bắp đã rang vào chảo mật, dùng chiếc đũa cái to như mái chèo trộn cho thật đều, rồi đổ tất cả lên một cái bàn dài, có những thanh gỗ làm thành khuôn. Bắp được trải đều, cán chặt bằng một con lăn to như cột nhà, trước khi được cắt ngang cắt dọc để thành nhiều miếng.
Bác gái chỉ việc xếp vào đôi bầu to như cái chum, rồi thong thả gánh ra chợ. Bác không cần sạp, chỉ lật ngửa nắp bầu ra, bày những miếng cốm vừa dòn vừa thơm lên, không cần mời mọc vẫn có các bà chợ quê bu lại mua về làm quà.
Những buổi không có chợ phiên bác đi bán dạo. Bán ở các xóm núi, xóm biển. Mùa cấy, gặt, bác bán trên đồng. Cả chủ và thợ liền nghỉ tay, ăn một miếng cốm rồi cầm ấm đất lên ngửa cổ tu một hơi, khà một tiếng, phải nói là đã đời.
Ngoài cốm bắp còn có cốm nếp và cốm gạo. Nếp cũng rang như bắp, trộn đường rồi vắt từng viên tròn bằng nắm tay. Cốm nếp dẻo và mềm, không ngon lắm, chỉ hợp với những người già móm mém không răng.
Cốm gạo công phu hơn nhiều. Lúa phải nấu chín rồi đổ ra nong phơi cho thật khô, xong lại phải giã để lấy trấu ra. Rồi lại trộn với cát mà rang, sau cùng mới thắng mật mà làm thành cốm như bắp. Cốm gạo có màu vàng, từng hạt căng bóng đầy mật. Khi ăn không nghe lốp bốp như cốm bắp, mà rào rạo rất êm tai. Ăn một vài miếng, uống một bát nước chè tươi, trong các quán bên đường, khách bộ hành cũng quên bớt đường xa và mệt nhọc.
Phía bên kia sông, có cả một làng chuyên nghề làm cốm. Mùa bắp họ mua cả ghe đầy chở về. Trong làng lúc nào cũng thơm mùi đường, mùi bắp nổ, mùi gạo rang. Các cô gái gánh đôi bầu xuống Quy Nhơn, ra Tam Quan, có khi theo xe lửa vào tận Nha Trang, Sài Gòn.
Giờ, người ta dùng bắp Mỹ trắng như tuyết, có thêm mùi bơ, bỏ trong những chiếc túi xinh xinh. Trước khi bước vào rạp hát, khách mua một vài bịch với giá cắt cổ, vừa xem vừa nhai nhóc nhách, tự cho là văn minh thơ thới!
Đó là những món ăn xưa đã mất, hay cũng lác đác còn đâu đấy nhưng cái mùi vị năm xưa đã không còn, nên coi như cũng mất rồi. Cái sự đời lăn theo bánh xe tiến hóa (hay lùi hóa?)nên nó phải vậy thôi. Có nhớ cũng chỉ đành tiếc. Dù cho tiếc ngẩn tiếc ngơ, thì lần này cũng không đứt ruột!

Khuất Đẩu

tiểu thư

thuongvuminh

Rồi em về đâu , tiểu thư
Một mai trời đất mịt mù phong sương
Người đi áo mỏng qua đường
Hàng dương liễu đứng lệ buồn hắt hiu
Sầu em mở ngõ trong chiều
Nghiêng vai gió thổi tình yêu qua lòng
Em về bóng ngã đầu sông
Hai tay ôm kín hư không thở dài
Anh về đuổi cánh vạc bay
Thắp cho em giọt nến đầy rưng rưng
Một mai tàn cuộc vô cùng
Thời con gái cũng ngại ngùng qua theo…

THƯƠNG VŨ MINH (1975)

hiến chương tình yêu

dutule

em đã biết Hiến Chương nào cũng vậy,
có những điều bắt buộc chúng ta theo
(như ngày mai thi lấy bằng lái xe)
ta cẩn thận ghi những điều phải nhớ.

I.
khi em lạnh, tôi biến thành ngọn lửa,
củi thương yêu. Than đỏ hực ân tình
em cần thơ cho sáng dậy thơm hơn
tôi lập tức hóa thân thành vần điệu.

II.
khi em bước tôi biến thành chiếc kiệu
ngựa hai hàng. tứ mã chắc… nan truy?
có sao đâu? tôi nào hỏi mấy khi.
(dù lắm lúc cũng thầm ghen tức chứ)!

III.
khi em viết tôi biến thành giấy mực
bút tương tư mực nhớ đến ai kìa?
giấy từ cây. bút từ gỗ xa xưa.
mực từ nhựa. tôi từ em sống lại

IV.
khi em ngủ tôi biến thành chiếc gối:
để phòng hờ …ngộ nhỡ em muốn ôm
để đêm hờn, em có cái vứt luôn
sáng nhặt lại. thấy mình sao…dữ thiệt!?

V.
khi em đọc, tôi biến thành chữ viết.
cả nghìn chương, chỉ chép chuyện đôi ta.
mỗi đầu dòng: tên em sắp chữ hoa
cả chấm, hỏi cũng đậm mùi hạnh phúc

VI.
khi em ốm tôi biến thành tủ thuốc.
thành tấm màn, che gió máy cho em.
em chả cần phải lể, giác hay xông,
vì tôi đã hóa thành cây ngải cứu.

VII.
khi em khóc tôi biến thành… nước mắt
chảy dùm em – cho cạn sạch nỗi niềm.
để mắt em xanh – để môi em mềm:
tôi là lá giữa buổi chiều… sắp tối.

VIII.
khi em hát tôi thành loa khuếch đại,
cho cả làng cả nước đổ ra nghe.
giọng em cao – tôi bảo gớm thanh ghê.
giọng em thấp – tôi tha hồ thêu dệt.

IX
khi em chết – cuộc đời này phải hết
không chỉ tôi, hoa cỏ cũng lên trời!
thú lìa rừng. chim chóc lạnh từng đôi
bao thế hệ vì em mà… biến mất!

X
Hiến Chương viết ngày Tình Yêu vô lượng
của hai người? – vâng, của chúng ta thôi.
mặc ai cười? mặc ai đó bĩu môi
họ ghen đấy. bởi em là Thánh Nữ

Ta sẽ chết. nhưng tình ta bất tử
vì mở đầu nhân lọai: cuộc chơi riêng.

DU TỬ LÊ

CÓ KHI…

nguyentancu

Có khi mệt anh một mình xuống phố
Cõi đời hư đang sóng nhịp âm thầm
Bờ bến cũ sương mỗi ngày một đậm
Anh độc hành ngắt tạnh với lâm râm

Có khi nắng anh một mình …tuyệt lộ
Đi hay không khi mộng vẫn chưa tàn
Đời đẹp quá chiều cũng còn đẹp quá
Tình vàng hoa vì người vẫn hoa vàng

Anh biết sương rồi phải rất nhẹ nhàng
Đi trong phố quàng vai nhau quá mảnh
Đôi khi sống mong manh hồn cô quạnh
Anh một mình xuống phố nhớ sông trôi.

NGUYỄN TẤN CỨ

PHIẾN TÌNH SẦU CUỐI ĐÔNG

nguyenanbinh

Có phải em hoa quỳnh muộn nở
Đợi đêm về mới tỏa ngát hương
Tôi như sâu ngủ vùi trong kén
Suốt mùa đông mơ thấy thiên đường.

Tôi ngẩn ngơ tìm cây hạnh phúc
Lang thang hoài hết tuổi thanh xuân
Mãi theo em lên rừng xuống phố
Thuở yêu người ngậm ngải trầm luân.

Thắp trái tim mình trên lửa ấm
Đốt tình sầu cháy cả trăm năm
Đêm đông tàn cây khô giá lạnh
Mắt người quen xa thẳm muôn trùng.

Đường nhân gian đi hoài không tới
Tôi và em để gió qua sông
Thả sợi tóc bay về vô định.
Tôi chờ ai nổi nhớ mênh mông.

Chim lạc núi đường bay thăm thẳm
Tiếng kêu buồn khắc khoải trong sương
Bóng em khuất trong đời lặng lẽ
Tôi thương người nước mắt rưng rưng.

NGUYỄN AN BÌNH
4/11/2014