CHO JOSÉPHINE SAMY

hochibuu

Thấy rồi – một chút heo may
Thổi lên tóc rối cho dài bóng tôi
Thấy rồi- một nửa hồn côi
Bay theo ngọn gió cuối đời đợi mong

Thấy rồi- có một mùa đông
Đến trong nỗi nhớ chờ mong một người
Em bên đó với cuộc chơi
Nửa vui, nửa khóc, nửa vời vợi xa

Vui trong tiếng hát người ta
Khóc trong tiếng vỡ nhạt nhoà bóng đêm
Nỗi buồn cứ thế nhân lên
Cuối đời vào mộng buồn tênh kiếp người

Em còn – nhưng tôi đã rơi
Rơi theo nỗi nhớ của thời lãng du
Rơi trong xa tít sương mù
Rơi rơi sót lại thiên thu tình nồng..

Sắp rồi- qua một mùa đông
Mùa Xuân sẽ đến – thuyền trông, bến chờ
Hình như- có gã làm thơ
Tương tư cho lắm- rồi ngơ ngẩn…buồn..
30.12.14
HỒ CHÍ BỬU

Ừ THÌ NĂM MỚI

dangchaulong

ừ thì năm mới sắp sang
ừ thì ngày lụn tháng tàn năm qua

Cuối năm, ngày vẫn chậm nặng trôi như bao ngày, nhưng sao lòng tôi nao nao bần thần ngồi điểm lại những năm tháng đã qua đời tôi, những năm tháng mùa xuân không còn thắm, những năm tháng mùa hè chói chan đầu tiên.
Năm mùa xuân trôi qua khung cửa sắt, nghe báo tin xuân ừ thì biết là xuân.. Chạnh buồn, chạnh nhớ, nuốt ngược những giọt nước mắt vào trong, giả lả cười vui cùng bạn đồng cảnh:
Thấy hoa nở khắp núi rừng xa tít
Anh giật mình mới biết đã sang xuân
Trong giao thừa không lấy gì đón Tết
Anh thở dài khói thuốc cũng bâng khuâng
Nơi quê cũ không biết em còn thức ?
Thắp giùm anh ngọn nến giữa đêm đen…
(nhạc Nguyễn Hữu Ninh, thơ NC)

Lời ca thầm thì như bản thánh ca buồn não nề
Ba mươi lăm mùa xuân còn lại, ngược xuôi bỏ sức lực để giành lấy tàn hơi, âm thầm như con dế trũi nép bên góc tối sâu, muốn ca lên thân phận cũng không có nổi làn hơi. Lại nhớ và thầm thì cùng mình bài ca Năm mới như ủi an người thân trong dịp sang mùa:
Hãy thắp giùm anh ngọn đèn
Cho anh nhìn rõ mặt ngày vừa đến
Cho anh thấy chỗ chúng ta đang nằm
Cho anh thấy căn nhà chúng ta đã sống
Lần cuối cùng cho đến ngàn sau
(nhạc Phan Ni Tấn, thơ Chu Trầm Nguyên Minh)

Tâm cảnh nào, thân phận nào đã xô đẩy lòng mình chung nỗi niềm xưa. Cũng vẫn vậy một thân phận mỏng, một nỗi âu lo kiếp sống kéo dài theo bước ta đi, nhếch môi chùng một nụ cười đa nghĩa, ngùi buồn.
Hôm nay nhìn tờ lịch sắp sửa vô dụng, quyển lịch sắp sửa quẳng đi để thay vào đó quyển lịch mới, tôi thấy dững dưng, lòng nguội. Dường như trong tôi chỉ còn sót lại chút ý nghĩa cần phải gìn giữ: Ngày cuối năm, dù thế nào cũng phải lết về gia đình, cũng phải nhóm lên ngọn lửa cuối năm cho nồi bánh tét xum họp. Ngày đầu năm viết cho cháu con một câu đối nhắc nhớ tình nhau. Cái thành trì cuối cùng của tôi chỉ còn có vậy. Ba mươi lăm năm nổi lửa chong đêm nấu bánh chờ xuân bên rận rà tiếng cười nói của những người thân. Mỗi người một việc, nhưng tâm điểm nồi bánh tét đã cho chúng tôi đậm đà tình nghĩa gia đình. Những bộn bề, những nghịch cảnh đã không còn tồn tại khi ngọn lửa ấm thâu đêm sưởi nồng nàn chân tình cùa đại gia đình đêm đen tối 30.
Các em tôi đôi lúc bàn năm nay mua bánh cho đỡ mệt công, tôi gạt phắt đi. Chỉ còn một chút đóm nồng nàn này, phải để thế hệ sau thấy rõ tình cảm bùng dậy theo ánh lửa bánh Tết ba mươi này, có thế, chúng mới biết cách nhen lửa cho đời sau.
Người lớn tuổi chỉ biết đón năm mới theo cách của riêng mình, chẳng phải là mừng nhưng là một cách dạy cháu con giữ lửa.
Ngày mai Tết ư, ừ thì Tết

đặng châu long
31-12-2014

THÁNG CHẠP

nguyenngocnghia

Hơi gió trong veo qua cầu
từ biệt
nụ hôn
lạnh âm âm chiều vàng
Môi cắn môi bật tràn kí ức
heo may nào ủ giữa ngực thanh tân?

Tháng chạp rưng rưng
nhốt tiếng thở dài
lọn tóc muộn lòa xòa che đời cơm áo
và những lo toan xếp hàng. cao ngạo
Níu đời em trĩu xuống hai vai

Ngày thập tự
nối nhau qua, lũ lượt…
bước chân lê mòn vẹt những nỗi buồn
niềm vui nhảy lò cò
vỗ tay tràn nước mắt
hạnh phúc ngập ngừng
cuối bãi
đầu non

Còn lại em chút từ tâm tháng chạp
cái lạnh đầu mùa
ngơ ngác kẽ tay
thời gian đi lạo xạo ngoài hiên vắng
tuột dốc trăm năm
rớt xuống tình này

Rồi sẽ khép lại vòng đời xuôi ngược
ngày tháng cõng theo nhau
chồng chéo
những tai ương….

NGUYỄN NGỌC NGHĨA
(12.2014)

LỤC BÁT TỰ CƯỜI

nguyenvi

Mong manh sợi khói mỏng tờ
Có hình bóng lúc tỏ mờ rối tinh

Cựa mình vượt thoát lặng thinh
Đày chữ nghĩa vào vũng lênh láng sầu

Vô can cớ tự đẩu đâu
Mượn thơ phân giải ngọt ngào đắng cay

Cuộc người say tỉnh tỉnh say
Sự sinh sinh sự chút này làm vui

Sờ tay vào nách tự cười
Lén quệt nước mắt lừa người dối ta

Nghịch đùa ma bắt quỷ tha
Tử sinh chỉ một sát-na mỏng tờ.

NGUYÊN VI

ÔNG TRỜI NGÓ NGHIÊNG

Hovietkhue

-Đ. M. Mày! Nông dân mà uống nước bình!
Lão Nục dốc ngược bình nước hai mươi lít kê vào miệng. Không còn một giọt. Cơn khát thiêu đốt cổ họng lão sau chầu nhậu đổ vào họng cả lít rượu đế làm lão nổi điên, lão kê cái bình không vào tường, dồn sức mạnh vào cánh tay mấy mươi năm lao động nặng nhọc vung nắm đấm làm cái bình nhựa cứng vỡ mấy mảnh rơi khô khốc trên nền gạch cốm.
-Đ. M. Mày! Nông dân mà uống nước bình!
Lão Nục chửi lớn tiếng. Vợ lão nhàm tai câu chửi quen thuộc của lão mỗi đêm sau chầu nhậu với bà con chòm xóm, bình thản dỗ tiếp giấc ngủ. Lão Nục thả mình lên chiếc võng đan bằng cây thơm tàu bắc ngang hai cây cột nhà. Võng đan bằng thơm tàu nằm vừa êm vừa mát không loại võng nào sánh bằng, võng ny lon càng thua xa vì nóng lưng và không rút mồ hôi.
Sáng nay, lão Nục phát hiện bụi thơm tàu to bằng cái chái bếp mà lão dùng đổi võng bắt đầu lụi chết. Trời đất! Loài cây hoang dại mọc trên đất cát chay khô khốc như thơm tàu mà cũng chết thì còn cây nào sống sót. Cơn khát cộng với nỗi hoang mang của kẻ bao năm gieo hạt, vun xới cây trồng chờ đợi hái quả bây giờ thấy trước có đổ bao nhiêu mồ hôi, vốn liếng cũng trắng tay làm lão trằn trọc.
Một trưa, thiu ngủ trên trên chiếc võng trong đám xoan chịu hạn, nắng xộc vào mắt lão Nục làm lão giật thót người nhận ra đám đọt xoan trên cao héo rủ. Rồi đám lá gốc vàng úa và rụng dần. Lão như còn nghe văng vẳng lời lẽ hùng biện của tay cán bộ hội nông dân tuyên truyền về giống cây xoan chịu hạn có nguồn gốc từ một nước sa mạc. Thật vậy, ở vùng đất cát trắng nhức nhối mắt vào trưa nắng chang chang như ở làng ven biển quê lão, đám xoan chịu hạn mới trồng ba năm đã um tùm xanh mướt cả trong mùa khô, dựng nên vành đai chắn gió, chắn cát, giữ độ ẩm cho mảnh đất canh tác của người dân.
Nhưng rồi bên cạnh nguồn của cải nuôi sống người dân, những con người chỉ có mảnh đất và sức lao động làm vốn liếng, một công trường khai thác titan gọi nôm na là cát đen mọc lên với máy đào máy xúc, dàn vít xoắn đãi cát ngày đêm. Họ hút nước ngầm để đãi cát, cát trắng trôi đi, cát đen có tỷ trọng nặng lắng lại, được đóng vào bao bán thô cho thương nhân nước ngoài. Của cải trong lòng đất nghìn năm bỗng chốc bán tháo bán đổ không tiếc rẻ.
Đồi cát biến dạng, lòng đất mở toang sâu hun hút, tầng nước ngầm cạn kiệt làm những bộ rễ cây hụt hẩng, cả bộ rễ cây cổ thụ cũng không còn nước cắm vào để chuyển thành nhựa nuôi thân huống chi đám rễ cây xoài cây ổi hay rễ cây ngắn ngày. Cây cối trong vườn trơ trọi những nhánh tay xương chỉa lên trời, người nông dân ngồi bó gối trong hoàng hôn chập choạng than thân trách phận mà đành bất lực.
Mực nước ngầm tụt sâu xuống địa ngục, người ta bơm cả nước biển vào để đãi cát đen. Vì mang biển lên đồi nên cả vùng đất canh tác nuôi sống con người trở thành đất chết. Cả giống xoan chịu hạn đến từ sa mạc cũng chết khô vì chúng chịu hạn chứ đâu chịu mặn. Người sống bằng trồng trọt cả đời bây giờ phải mua từng trái ớt, bụi hành. Khi cái ao nước ngọt trong vắt ở góc vườn lão Nục vục mặt uống cả ngụm mây trắng lơ thơ lởn vởn trên trời xanh trưa hè văng vẳng tiếng ve đã mặn chát như nhiều giếng nước trong làng, chủ công trường khai thác cát đen mới xoa dịu người dân bằng cách cấp phát cho mỗi hộ bị ảnh hưởng bởi nguồn nước nhiễm mặn hai bình nước ngọt mỗi ngày. Hai bình là bốn mươi lít nước cho ăn uống, tắm giặt.
Người dân làng chài ven biển bao giờ chẳng tay lưới tay cuốc. Ngày trời thanh biển lặng, họ dong thuyền đánh cá mực. Những chiếc thuyền con neo đậu bãi ngang đánh bắt ven bờ giúp họ có đồng ra đồng vào chi tiêu hàng ngày, mua giống mua phân bồi bổ cho đất. Ngày biển giận sóng gào, họ gieo hạt. Mùa lạc mùa dưa cho họ chút của dành dụm. Chẳng hiểu sao khi cây trái trong vườn lụi tàn vì đất đai nhiễm mặn, con cá con mực ven bờ cũng thưa thớt dần. Người già bảo vì dòng nước đen đãi quặng cát thẩm thấu ra biển đã hủy diệt nguồn thức ăn của các loài thủy tộc nên chúng bỏ đi. Đất đã không lành thì con chim con cá cũng ly tán huống chi con người.
Làng ven biển trầm lặng và hiền hòa của lão Nục thay đổi nhanh lắm. Nhiều đứa con gái rời làng làm thuê ở các khu du lịch bên kia eo biển. Ở đó có nhiều việc cho chúng như rửa chén bát, dọn buồng. Có đứa còn học được nghề đấm bóp làm ra khối tiền. (Hai cánh tay quen lao động nặng nhọc của chúng mà đấm bóp thì xương cốt nghe răng rắc chắc đã tai lắm). Đám trai gác lưới chèo, kéo thuyền bỏ bờ chạy xe thồ, làm phụ hồ hay nhiều nghề linh tinh. Có đứa áo quần bảnh chọe, miệng chửi thề dòn tan như pháo nổ, tay kẹp thuốc lá thảnh thơi làm nghề dắt mối từ mối đất xây khách sạn năm sao đến miếng đất xéo. Những người già bươi móc miếng ăn sót lại trên mảnh đất hoang tàn. Lúc chập choạng nhá nhem mặt người, họ túm tụm thì thào với nhau, người thì bảo ông trời không có mắt, vì nếu có mắt ông đã chẳng để mảnh đất màu mỡ thành mảnh đất chết; hay ông trời ngó nghiêng ngó ngửa, vì nếu ông trời ngó thẳng ông đã chẳng để họ rơi vào tỉnh cảnh hiện nay.
Lão Nục hiếm được bữa say quất cần câu như trước kia nhưng quen thói cà khịa khi có hơi men. Càng thèm say, lão càng thèm chửi.
-Đ. M. Mày! Nông dân mà uống nước bình! Hai bình là bốn chục lít nước, không đủ cho tao rửa hai hòn dái!
Nhẫn nhịn với người kiếm tìm miếng ăn trong sóng gió nuôi vợ con là đức tính của người phụ nữ làng ven biển nhưng có lúc bà Nục cũng nổi quạu, xỏ xiên chồng.
-Ông rửa cả đùm chắc phải tốn bốn thùng nước!

Hồ Việt Khuê

CHIỀU Ở MỘT NGÃ BA SÔNG

vungocgiao

1. chiều tàn phai

ngựa già
nhìn ngã ba sông
lô xô sóng giạt – bềnh bồng mây trôi
cuối dòng , ráng rựng khơi vơi
đỏ trong mắt ngựa – một trời tàn phai !

2. vùng chiêm bao

tiếng chim cú rúc bên tai
điệu khô khốc
lạnh bờ vai u nùng
bên sông , trăng hiện mung lung
vàng , xanh thoi thóp – một vùng chiêm bao !

vũ ngọc giao

ĐOẢN KHÚC

tonnuthudung

Sương vẫn sương ngày cũ
Tôi không là tôi xưa
Gió bay về khung cửa
Đừng gọi hoài tiếng mưa

Bàn tay còn che mắt
Dòng sông dài trong mơ
Ai chờ nghe tiếng sóng
Vỗ hoài từng âm thưa

Nỗi buồn còn giấu mặt
Ai thả rơi môi cười
Những gam màu ảo vọng
Lấp lánh ngày buông xuôi

Sương vẫn sương ngày ấy
Nhưng tôi không còn tôi
(Ai là tôi cũng vậy
Chỉ là người xa xôi…)

Tôn Nữ Thu Dung

Vườn nhà, một cõi thiên nhiên riêng

phambichhuyen

Một trong những vẻ đẹp, vẻ dễ thương của căn nhà ở xứ Mỹ này là, dù lớn hay nhỏ, cũng được người ta thiết kế sao đó, để mỗi nhà đều có thể có được một chút vườn.

Vườn ở đằng trước, đằng sau hay bên hông nhà.

Vườn rộng người ta trồng thêm cây ăn trái. Cam, quýt, nhãn, ổi…Có lẽ đất đai Hoa Kỳ màu mỡ nên sai trái mỗi mùa, cho đi không hết! Lại phải thuê Mễ đến dọn dẹp đổ đi. Vườn nhỏ thì chỉ có cỏ và hoa thôi. Đối với gia đình có người già, vườn là chỗ tiêu hao ngày tháng rất tốt, lành mạnh.
Ở quận Cam, nhất là khu Little Saigon, thuộc thành phố Westminter hay Garden Grove thì không nói đến, vì nhà nào gần như cũng là người Việt . Nhưng nếu đi xa xa một chút sang thành phố khác, quận khác, thì chỉ cần nhìn thấy thấp thoáng những cây trồng trong vườn hay trước hiên nhà , người ta có thể đoán mà không sợ lầm rằng, chủ nhân là người Việt Nam: một giàn mướp, một bụi chuối, một khóm tre, một cây mận, một cây ngọc lan chẳng hạn.

Người ta cố thu nhỏ quê hương vào trong những hình ảnh bé nhỏ đó cho vơi lòng thương nhớ. ***

Vườn còn là cõi thiên nhiên riêng của người ta nữa.

Thiên nhiên ở ngoài đường, ngoài phố là thiên nhiên chung.
Khi về nhà, bước ra vườn của mình, người ta có cái cảm tưởng nhẹ nhàng, đó chính là chút thiên nhiên của riêng mình. Có đủ cả trời mây hoa lá. Có rào vách ngăn chia cách với láng giềng.

Mấy hôm nay trời mưa, lại thêm người không được khỏe, hay rõi mắt ra ngoài nhìn ngắm cây cối trong vườn. Dù khu vườn không đẹp nhưng tôi vẫn yêu vì đa số cây cối trong vườn là do chính bàn tay tôi trồng khi cây còn bé xíu.
Một trong những cây đào hôm nay hoa vẫn còn tươi thắm. Bao giờ cây đào cho hoa màu đỏ này cũng nở muộn. Năm nay nở càng muộn hơn, đến nỗi tôi tưởng cây đã chết rồi. Tính ra Giêng thuê ông Mễ đào bỏ đi.
Không ngờ có một hôm đứng bên cửa sổ trên lầu, nhìn thấy duy nhất có một nụ hoa nở. Mừng quá! Như vậy là cây vẫn còn mầm sống. Mấy hôm sau lác đác thêm một hai bông…Và cứ thế mà cây nở đầy hoa. Hôm nay còn tươi thắm. Mưa làm rụng bao cánh hoa, gió vun vào thành một khối màu xác pháo trên nền sân trải xi măng.

Mỗi khi ra vườn, hay chỉ đứng nơi cửa sổ nhìn ra lòng tôi bỗng thấy êm ả lạ thường.

Không gian ấy, nhìn từng gốc cây, chậu cảnh, tôi lại nhớ đến gương mặt những người thân thiết với nhau trong cuộc sống .

Nào những cây chanh, một của Minh Phượng- Việt Dzũng đài Radio Bolsa cho khi anh chị em trong đài đến mừng tổ ấm của AnhTú- Uyển Diễm.
Một cây nữa là loại chanh Thái Lan, lá rất thơm của Trần Vũ Bách, kỹ sư Boing. Bách vừa là một nhiếp ảnh gia tài tử, lại có tài nấu nướng. Bách đã từng đến phòng thu thanh giờ tôi làm việc và ghi lại cho tôi nhiều hình ảnh rất tự nhiên và nghệ thuật. (trong đó có bức hình profile, tôi để trên trang FB). Cây chanh của Bách cho, mỗi lần nấu canh chua Thái, Uyển Diễm thường hái một vài lá thả vào, là nồi canh dậy mùi thơm lừng.

Nào cành hồng cắt tại khu vườn nhà cũ của Quỳnh Lưu. Chậu lan chị Hồng Vũ Lan Nhi cho ngày họp mặt các anh chị em trong Diễn Đàn Trưng Vương trên Việt Báo Online cách đây nhiều năm. Các anh chị em bạn văn đã bầu tôi làm Trưởng nhón sinh hoạt. Chậu lan lá đã héo tàn nhưng mỗi năm hoa vẫn nở. Những ngày ấy thật vui, chúng tôi hàng ngày gặp nhau trên Diễn đàn Phố Rùm Việt Báo Online. Mỗi ngày cùng trao đổi thơ văn, to nhỏ đủ thứ chuyện trong cuộc sống. Rồi có khi hẹn hò, gặp gỡ cả các bạn trong Diễn đàn Gia Long, Sương Nguyệt Anh tại nhà tôi, nhà chị Hồng Vũ Lan Nhi …

Những gương mặt thương mến ấy, bây giờ ở đâu? Hay vẫn ở quanh đây, nhưng rất ít khi gặp lại. Không biết có ai còn nhớ tới những tháng ngày vui năm cũ?

Chậu cây sống đời mỗi năm lại cho tôi những chùm hoa vàng nho nhỏ rất dễ thương, chị Minh Chúc, đàn chị Trưng Vương của tôi đã cho khi tôi mới dọn đến căn nhà này. Cây sống đời cho hoa màu đỏ là của chị Nguyệt Điện, chủ nhân một tiệm may áo dài tại Little Saigon. Mỗi lần cần có áo mặc để phù hợp với bài nói chuyện trên sân khấu, chị sốt sắng may trong vòng có một ngày cho tôi chiếc áo thướt tha .

Nào những chậu quỳnh, cành giao và những cây hoa cỏ nở quanh năm những bông hoa năm cánh màu hồng dễ thương duyên dáng của chị Dung Lê Đình Điểu tặng từ ngày đầu tiên dọn đến căn nhà mới , gần mười lăm năm về trước. Chị Dung tôi rất thích làm vườn, gần như bao nhiêu giờ rảnh trong ngày, chị đã dành cho việc chăm sóc từng cành cây, gốc hoa, ngọn cỏ trong khu vườn nhỏ của ngôi nhà kỷ niệm cuả anh chị &các con , từ hàng chục năm nay. Mỗi lần đến nhà tôi chơi hay ghé đài Radio Bolsa, chị đều mang theo một lọ hoa thuỷ tinh nhỏ và dài với hoa lá vườn nhà, cho tôi và tặng đài một bình thuỷ tinh trong suốt, nho nhỏ, thanh thanh…

Những cây chị cho tôi đều là những loại cây trồng trong vườn nhà ở quê hương Duyên Hà, tình Thái Bình xa xưa. Như quất, lựu năm nào cũng sai trái. Cây mang hình bóng tuổi thơ của chúng tôi. Hai chị em san sát tuổi nhau, lại là con gái nên quấn quýt bên nhau, thường thơ thẩn dạo chơi khắp bốn khu vườn bao quanh ngôi biệt thự rộng lớn ở huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình.
Cây lan, chậu cúc Đại Dương, Hùng Cường tặng mỗi năm cò đó. Tết năm nào cũng rực rỡ hoa vàng. Chưa kể vô vàn những bông hoa dạ lý hương màu trắng từ hai bên hàng xóm lặng lẽ leo sang tỏa hương thơm nhẹ ….

Cao nhất là bốn cây đào. Ba cây hoa màu hồng từ vuờn nhà Đặng Trần Hoa, nhân viên phát hành kỳ cựu của nhật báo Người Việt. Gia đình Hoa có một cuộc sống đạo đức , rất giản dị. Vợ là Nguyễn Thị Am, cùng học Trưng Vương, nhưng có lẽ khi tôi rời trường, Am mới vào đệ thất. Hai người chăm sóc dạy dỗ các con thành công nơi xứ người.
Giờ đây chỉ có thú vui cùng cỏ cây hoa lá vườn nhà.

Tôi nhớ mãi bát canh tôm hoa thiên lý, bát canh rau sắng (từ chùa Hương mang về trồng), Đặng Trần Hoa đã mang tới đài cho tôi và buổi trưa khi trời Cali nắng hè chói chang…
Bát canh ngọt lịm tình quê, tình người.

Vợ chồng Đặng Trần Hoa là một người có tấm lòng nhân hậu luôn quan tâm đến những người chung quanh kém may mắn và tận tình giúp đỡ trong khả năng, bất cứ lúc nào.

Nhớ lại ngày mới sang Mỹ, tôi phải làm việc nhiều nơi để cuối tháng mới có thể gom lại trang trải tiền ăn ở (thuê một căn phòng nhỏ cho hai mẹ con), để dành tiền mua một chiếc xe cũ cho Uyển Diễm, sau một năm đủ 16 tuổi có thể tự lái đi học. Tôi đã làm việc miệt mài, bất cứ giờ giấc nào.Tối về viết cho báo Người Việt khoảng. Cộng tác phụ trách mục Sinh hoạt Cộng đồng. Công việc này có lẽ là công việc tôi yêu nhất vì đúng với khả năng của mình. Ghi lại được những cảm xúc nơi vùng đất mới cùng hồi tưởng lại quãng đời đã qua ở Việt Nam. Được độc giả đón nhận, chờ xem. Và được yêu
thương.

Ngòi bút của tôi hướng về những gia đình HO khốn khó. Khi đó chương trình trao trả tù nhân chính trị được tiến hành và di cư ào ạt. Những hội đoàn cựu tù nhân chính trị làm việc không xuể.

Với kinh nghiệm của một người đi trước, với ngòi bút trong tay, với diễn đàn Nhật báo Người Việt dành cho hàng ngày, -lại trả nhuận bút hàng tháng vài trăm đồng- tôi đã lo ổn định đời sống cho những gia đình mới đến định cư.

Đặng Trần Hoa đã mượn xe phát hành báo để chở giường, xe đạp, tủ lạnh cũ, quần áo, nồi niêu, chén bát …mà độc giả của tôi cho ( báo Người Viêt đã dành phòng hội của tòa báo để cho đồng bào mang tới). Nhiều đến nỗi Nhóm HO chúng tôi, phải thay phiên nhau làm việc mỗi ngày. Phân phối tới những gia đình mới tới. Đặc biệt là những gia đình có hoàn cảnh không may, chết người vì những tai nạn thảm khốc: như nổ bình ga khi nấu bánh chưng, đi xe đạp lái vào đường exit, hay tự tử vì quá cô đơn không thích nghi với cuộc sống mới v..v…).
Thư từ, tiền bạc chia xẻ gửi về cho tôi ào ạt… Đêm nào hai mẹ con cũng thức thật khuya ghi chép, tổng kêế kịp thời,eđể sáng hôm sau trên đường đi làm tôi ghé vào tòa soạn đưa bài, để kịp in báo ngày mai.
Nếu thuở đó có Internet , tôi sẽ đỡ vất vả biết bao!

Trong khi tôi cũng như anh chị em HO cùng chung lòng chung sức làm công việc thiện nguyện, chúng tôi nhận được biết bao lời khích lệ của những người đi trước. Thư cảm ơn HO chúng tôi đã mang đến không khí thương yêu ấm áp trong cộng đồng: “ Không có những bài viết của Bích Huyền, của anh em HO làm sao chúng tôi biết được những khó khăn ấy? Làm sao chúng tôi dám cho đồ đạc quần áo cũ? Ngòi bút của HO kéo mọi người đến gần nhau”…

Vậy mà sau đó thơ rơi gửi đi khắp nơi -kể cả nơi tôi đang làm việc- mạt sát tôi đủ điều, hạ cấp.
Tôi buồn vô cùng, con giá tôi khcó biết bao nhiêu! Nhưng đồng thời cũng được an ủi là nhiều người trong cộng đồng khích lệ, thương yêu, tin tưởng. Và họ có nói quăng những lá thư rơi ấy vào thùng rác. Ông anh rể tôi _Lê Đình Điểu -khi đó là Tổng Giám Đốc báo NV đã cười, trấn an tôi: “Ở đây, ai không làm việc gì mà bị chửi, bị thư rơi mới lạ. Làm nhiều việc hữu ích cho cộng đồng như “HO Bích Huyền như thế thì làm sao tránh khỏi! Thôi hãy quên đi. Cứ như thế mà sống nuôi, Uyển Diễm nên người!”

Cho đến ngày nay, niềm vui đôi khi vẫn đến với tôi, khi tôi chợt gặp những người xưa ấy, hay con cháu họ. “Tôi vẫn nhớ những cái chén, đôi đũa…cô mang tới chung cư” “Em vẫn nhớ cái chăn len màu hồng chọn trong đống đồ đạc, quần áo chồng chất trong phòng sinh hoạt nhật báo NV”…v….v…
Nghe thật ấm lòng nhau!
***

Trở lại mảnh vườn nhà,
Một cây nữa hoa màu thẫm hơn, hồng như xác pháo là của Xuyến, một trong những vị thính giả đầu tiên của tôi và Quỳnh Lưu. Quỳnh Lưu là con gái một chị đồng nghiệp dạy học với tôi từ Saigon. Khi mới sang Mỹ, tôi lại là cô giáo tư gia hàng ngày buổi chiều đến nhà dạy tiếng Việt hai cháu con của Quỳnh Lưu. Chúng t ôi có một chương trình trên đ ài VNTT kéo dài một giờ. VNTT là một trong hai hệ thống Radio Việt Nam đầu tiên, cất tiếng nói Việt Nam trên làn sóng quận Cam khoảng thập niên 1990.

Cứ chiều thứ bảy là thính giả báo tin cho nhau, chờ đợi gọi vào trò chuyện với chương trình Bích Huyền-Quỳnh Lưu Tâm Tình Với Nhau do chính thính giả đặt tên cho. Mỗi tuần một đề tài, xoay quanh những sự kiện xảy ra hàng ngày về đời sống gia đình, văn học, nghệ thuật, chính trị…Ngay cả vấn đề thời sự nóng bỏng nhất đang xảy ra chúng tôi cũng đề cập tới. Chẳng hạn như giúp đỡ những hoàn cảnh gặp khó khăn trong cộng đồng. Vợ chồng chia rẽ, mẹ chồng nàng dâu, người già cô đơn bệnh tật…Thính giả cùng chúng tôi thay nhau đến thăm hỏi, tặng quà .
Xa hơn là cả ở VN, vấn đề giúp đỡ thương phế binh VNCH. Đã có vị thính giả cũng như Uyển Diễm về tận Saigon trao tận tay từng gia đình thương phế binh mà chúng tôi có danh sách.
Xuyến là người gửi vào đài cho chúng tôi hàng trăm. Khi đó giá trị đồng tiền còn lớn lắm. Xuyến cũng như rất nhiều thính giả tư tâm khác luôn tin cẩn và mang tiền đến đài giao cho chúng tôi.

Sau này Xuyến là mẹ vợ của Trường tức Họa Sĩ Excetra, chủ nhiệm báo Việt Weekly, một tờ báo trẻ ngày nào mưa gió chốn Bolsa. (vì dám nói thẳng, nói thật cho nên có nhiều người không thích. Nhưng tôi vẫn đến với các em).
Nay tờ báo cũng không còn nữa.

Cuối góc vườn là một cây hoa lồng đèn đỏ cũng từ vườn nhà Xuyến mang về. Lác đác những bông hoa nở bốn mùa trong nắng lung linh, rủ xuống rất dễ thương…

Còn nhiều loại cây giây leo, hai chậu cây liễu ;Tú, Uyển mua về trồng vẫn xanh tươi sức sống. Những loại cây leo giống lá phong, Mùa thu lá chuyển thành màu đỏ làm rực rỡ bức tường gỗ trắng. Ngay cả hai cây sung trời cho mọc tự nhiên trong một góc đầu nhà, cũng vươn cao xanh tốt.
Và mới đây thôi, một giây leo của loại cây tên gì không biết, khi cùng Tuyết Trinh đến thăm ngôi nhà mới của cô bạn Hà Thanh, tôi đã hái một giây mang về cắm xuống trồng hôm nay cũng đã cho tôi vài ba bông hoa màu hồng hé nở . Hoa nhỏ chỉ bằng 1/10 hoa nhà Hà Thanh thôi nhưng vẫn xinh đẹp vô cùng!

Khu vườn nhỏ trước nhà, có cây ổi từ khu vườn của anh chị Vinh-Dần, thông gia của thông gia của tôi, có năm ra trái rất thơm ngon. Và cây ngọc lan của chị Dung-Lê Đình Điểu, hoa nở gần như bốn mùa. Tôi thường hay hái một đĩa hoa trắng muốt ngát hương thơm đặt cúng trên bàn thờ. Đôi khi nhìn cây, tôi lại nhớ tới cây ngọc lan trong khoảng vườn nhỏ ngày xưa, trước nhà của gia đình tôi ở đường Hoàng Diệu, Khánh Hội.

Mẹ tôi hay ngắt một bông hoa cài lên búi tóc sau ót. Hoa tỏa hương thơm nhẹ. Ngày đó, các anh lớn ở mãi tận miền Bắc, còn anh Thế, chị Dung thì du học Mỹ. Cho nên, nơi đó mỗi buổi chiều mẹ tôi và tôi hay đứng trước thềm, thầm nhớ những thành viên gia đình ở xa. Hóng mát từ bến tàu thổi về. Ngọc Tâm cũng thường sang chơi nơi đó. Ngọc Tâm, cô bạn cùng trường cùng chung lối xóm nhỏ Đỗ Thành Nhân, sau này bà mẹ của NgọcTâm- mà gia đình tôi luôn trân trọng gọi là “Cụ Phủ”, vì ngày xưa ông cụ làm quan trong triều Nguyễn, cũng mua nhà trên con đường Hoàng Diệu. Chúng tôi có những năm dài thơ mộng của tuổi mới lớn bên nhau cho đến ngày nay. Cũng giống như tôi , Ngọc Tâm luôn có đàn con cháu luôn quấn quýt quây quần trong một mái nhà.

Cảm ơn những người thân yêu trong cuộc sống, cảm ơn cây cối vườn nhà đã thầm lặng mà cùng chung sống, dẫu biết rằng những thành viên trong ngôi nhà , như tôi, Tú và Uyển cùng hai bé cháu ngoại, chẳng có ai biết làm vườn và chăm sóc thường xuyên!

Vườn nhà tôi không đẹp bằng những khu vườn Việt Nam khác trên đất Mỹ nhưng tôi vẫn yêu vì những hình ảnh và tình cảm của biết bao nhiêu người thương mến dành cho.

***

Thi ca và âm nhạc của Việt Nam, của thế giới cũng không thiếu những người ca ngợi vườn. Tagore có tập thơ mang tên “Người Làm Vườn”. Catherine Mansfield có tập truyện ngắn nổi tiếng, được đặt tên có một chữ “Vườn” thôi. Những người yêu thơ Đường không ai lại không biết câu thơ tuyệt bút của Đỗ Phủ: “Cô chu nhất hệ cố viên tâm” . Xin tạm dịch: Con thuyền lẻ loi buộc chặt hồn người với nơi vườn cũ bằng một sợi giây.

Có thể nói, thi sĩ của chúng ta , không một ai không nói về vườn trong thơ của mình. Hàn Mặt Tử viết:

Sao anh không về thăm thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Xuân Diệu thì lúc nào cũng như bị giục giã bởi thời gian:

Mau với chứ! Thời gian không đứng đợi
Tình thổi gió , màu yêu lên phất phới

Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ
Tình yêu đến, tình yêu đi…ai biết
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt
Những vườn xưa nay đã tuyệt dấu hài

Chưa ai bỏ công để đếm xem Nguyễn Bính đã bao nhiêu lần nhắc đến vườn trong thơ của ông. Nhưng chỉ đọc và chỉ nhớ thoáng qua thôi, người ta cũng biết ngay rằng, Nguyễn Bính là người yêu vườn hơn ai hết.

Bỏ lại vườn cam bỏ mái gianh
Tôi đi gian díu với kinh thành
Hoa thơm mơ mãi vườn tiên giới
Chuốc mãi men say rượu ái tình

Ngày xưa còn bé, Nhi còn đẹp
Huống nữa là nay Nhi đã đến thì
Tháng tháng mươi mươi lăm buổi chợ
Cho người thiên hạ phải say mê

Xóm chị em Nhi ở, mấy nhà
Bến đò đông vắng, chợ gần xa
Nhà Nhi thuê, có vườn không nhỉ
Vườn có giồng cam, có nở hoa?

***

Tôi nhớ có một chương trình thơ nhạc trên đài VOA vào những năm tháng đầu tiên thập niên1990, có nói về cảm nhận mảnh vườn xưa của Tế Hanh, sau đó nhận được nhiều thư của thính giả cao niên từ Việt Nam chung tiền bưu phí gửi sang Mỹ :

Vườn Xưa

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua.

Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về hái ổi
Em ngước nhìn vòm cây gió thổi
Lá như môi khẽ gọi anh về.

Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh.

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa…

***
Theo một tài liệu, bài thơ Vườn Xưa của Tế Hanh bị cán bộ Văn hóa và ông Tố Hữu phê bình gay gắt, thu hồi tạp chí đã đăng bài thơ. Sau đó được một trí thức miền Bắc hồi chánh trong trận chiến Mậu Thân phổ biến, bài thơ được đón nhận vì tâm tình rất thật , rất đáng trân trọng trong khi người Cộng sản lại rất sợ những bài thơ như thế và cấm đoán.

Vườn là nỗi mong ước gần gũi nhất người ta muốn trở về để nhìn thấy những người thân yêu. Ngôi từ đường , mảnh vườn cũ , biểu tượng cho nguồn gốc Tổ tiên, ông bà rồi cha mẹ đã ở, truyền lại cho nhau. Nhưng những biến động của lịch sử đã làm cho người ta cứ phải trôi giạt mãi…Đến nay, có mấy gia đình có thể nói là “tứ đại đồng đường” (bốn thế hệ cùng ở trong một nhà). Nhất là những khu vườn của Người Việt trên xứ Mỹ này nữa. Hai đời cũng khó nói chi đến bốn. Có người già nào tin được rằng cái khu vườn mình chăm bón , mai này con cháu sẽ về ở? Ngay cả đến ở nơi quê nhà, khu vườn xưa của cha mẹ mình hay ngôi nhà xưa của chính mình nếu có trở về thì cũng chỉ đứng ngoài nhìn vào….ngậm ngùi.

Cuộc sống đã đổi khác. Nhưng sao lòng vẫn không nguôi khi nhớ về những mất mát đổi thay.

***

Làm sao tôi có thể quên được ngôi nhà to đẹp của bố mẹ tôi ở Thái Bình.
Ngôi nhà này, tôi đã mô tả thật chi tiết trong bài Những Ngày Thơ Ấu , bài đầu tiên trong Tập bút ký Lối Cũ Chẳng Sao Quên của tôi xuất bản thập niên 1992 tại Nam Cali.

Khi bài này xuất hiện trên báo Người Việt, có một vị độc giả viết thư rằng “Ngày xưa tôi cũng ở Duyên Hà, Thái Bình. Tôi đã từng đi ngang qua nhà BH nhiều lần và có ghé vào lối đi trước cổng, rửa chân nơi cái ao có hai bậc cầu đi xuống, dòng nước rất trong …”.
Ngôi nhà ấy khi xây cất lên như vậy, có lẽ anh chị em tôi chỉ sống có vài ba năm thì chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Hai người anh lớn trong gia đình tham gia phong trào Thanh niên cứu quốc. Người anh thứ ba lúc đó đang bị bịnh nên cha mẹ tôi giữ lại nhà. Vì thế sau này mới cùng gia đình di cư vào Nam, trở thành một bác sĩ Quân Y Việt Nam Cộng Hòa. Bây giờ ông anh tôi cũng không còn nữa.

Vì ngôi nhà cao nhất một vùng, lại rộng lớn nên trong thời chiến tranh, đã trở thành căn cứ trấn đóng của Tiểu đoàn do Trung uý Tôn Thất Đính là Tiểu đoàn trưởng. Rồi chẳng bao lâu, nguyên vùng đó trở thành bình địa, trong đó có ngôi nhà tuổi thơ của tôi. Bốn khu vườn bao quanh luôn xanh tươi cây trái, lá hoa bao bọc quanh nhà giờ đây vẫn còn mường tượng trong trí nhớ nhỏ nhoi của tôi với bao tiếc nuối.

Vào Nam theo bố mẹ, ở qua mấy căn nhà từ nhỏ xíu đến rộng lớn hơn , di chuyển vài ba lần. Căn nhà đầu tiên trong một con hẻm sâu đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội. Rộng ba mét, dài bẩy mét. Chỉ có mỗi một phòng. Không có bếp. Nấu ăn rửa chén, chỉ có một chút xíu đất lộ thiên bên hông nhà . May mà có gác xép, thấp lè tè, người có chiều cao có thể đụng đầu. Vậy mà chị em chúng tôi vẫn thấy ấm cúng. Căn gác hoàn toàn không có bàn ghế, chỉ có chiếu chăn nằm mỗi đứa một góc. Sau này cũng có chiếc bàn vuông nhỏ, hai ba chiếc ghế đẩu -loại ghế thấp để chị em tôi ngồi học. Ông anh lớn thì ở trong Đại học xá, được chính phủ nuôi.
***

Nhớ năm học đệ thất (lớp 6), giáo sư Việt Văn cho đề Luận văn “ Hãy tả ngôi nhà em đang ở”. Thế là tôi mơ mộng , tả một ngôi nhà trong tưởng tượng. Có cổng, có khu vườn trước, vườn sau. Nhà có phòng ăn, phòng khách, phòng ngủ tiện nghi…Trong khi bài văn hạng nhất được đọc cho cả lớp nghe là của một bạn tả lại ngôi nhà nhỏ bé, y chang ngôi nhà của gia đình tôi ở một xóm lao động Khánh Hội. Ngôi nhà của gia đình bạn tôi ở trong khu Bàn Cờ, nhà cửa chi chít dọc ngang, cũng nhỏ xíu. Đa số là của người dân miền Bắc di cư 1954.

Buổi tối, dưới ánh đèn câu mờ ảo, mấy anh chị em ngồi học lúi húi bên nhau, phải ngồi trên sàn gác xép, bàn viết là chiếc vali bằng gỗ mang từ miền Bắc vào v…v… Tại sao gọi là “điện câu”? Vì ngày đó không phải nhà nào cũng có dòng điện riêng vì đắt lắm. Phải nối đường dây điện từ một người trong xóm và trả tiền mỗi tháng cho họ. Nhiều nhà câu quá nên dòng điện yếu, cứ mờ mờ tối. Bài hát Xóm Nghèo của nhạc sĩ Phạm Đình Chương cũng mô tả như thế.

Tôi rút ra được một kinh nghiệm: Mơ mộng, tưởng tượng không thế nào bằng thực tế cùng với quyết tâm vượt khó của mình. Tuy nhiên cũng đừng vì thực tế quá mà đời sống khô khan. Đôi khi vẫn có những phút giây mơ mộng, lãng mạn một chút cho cuộc sống thêm nhiều nhiều màu sắc.

***

Cuối cùng là khu vườn nhà tôi ở tại Đà Lạt ngày nào…

Với cây hoa sứ ban đêm phảng phất hương. Màu cỏ úa vàng xơ xác. Cây lá thi nhau mọc và mùa thu trút lá vàng. Ngày nào chú lính phụ trách cũng lo quét gom những lá vàng thành từng góc nhỏ. Tôi vẫn yêu và từng ngắm nhìn những bông hoa dại mỏng manh mọc ven đường, lối vào cổng nhà hay trên bãi cỏ non xanh tr ước cổng nhà .

Chúng mọc tự nhiên như món quà tặng từ trời, từ đất dành cho con người . Những bông hoa giống như một loại cúc dại nho nhỏ màu vàng, tự nhiên đua nhau mỉm cười trong nắng gió như tự khoe sắc với thiên nhiên.

Trải qua bao dâu biển, những ngôi nhà xưa chỉ còn trong trí tưởng.
Mảnh vườn nơi quê cũ chỉ còn là nơi chốn đi về của một ký ức xa xôi trong một thoáng nào đó chợt khơi dậy, nhớ về.

Đôi khi, nhìn vạt nắng vàng vọt cuối ngày, nhìn từng chiếc lá lặng lẽ rơi giữa mênh mang chiều nhẹ xuống bỗng dưng lòng chùng xuống như một nốt nhạc trầm, rồi thoáng bâng khuâng nghĩ về một cuộc sinh tồn của con người ,của thiên nhiên cỏ cây đang lặng lẽ diễn ra trong đời sống.
Và mỗi lần như thế, như trong lúc này đây, đối với tôi mỗi lần nhớ tới, lại cảm thấy như được trở về với bao thiết tha gần gũi, như một phần không thể thiếu trong mỗi đời người.

Hồi tưởng để nhớ về những ngày tháng trôi qua trong cuộc đời, những khoảng cách không gian hư hư thực thực, mờ ảo như mây như khói. Lòng lại dặn lòng, cần phải sống nhẹ nhàng hơn, ý nghĩa hơn trước bao nhiêu sự đổi thay của cuộc sống, kể cả sự thay đổi của lòng người…

Cali, 2014
Bích Huyền

TIỄN PHÙ DU VỀ VĨNH CỬU

tamnhien

Vĩnh Hiền ơi ! Tao xin tiễn biệt
Đưa mầy về quê chốn cũ viên linh
Nơi miền vô xứ hư không đó
Cõi quang minh cùng thở điệu siêu hình

Thở tận tuyệt miên trường rốt ráo
Lẽ huyền vi bất khả tư nghì
Mà suốt bình sinh cuộc thơ và rượu
Tao với mầy chia sẻ rót tràn ly

Đi là đến gặp chính mình vĩnh cửu
Vốn từ lâu thấp thoáng giữa thi ca
Lý sự viên dung trùng trùng vô ngại
Khói thuốc bay say rượu đế khề khà

Phù Du hỡi ! Trời thơ đất mộng
Cũng ngậm ngùi giây phút chia tay
Dậy sóng trùng dương vang câu thần chú
Chiều Nha Trang bàng bạc nắng phương này

Tâm Nhiên

Nhà thơ Vĩnh Hiền, bút hiệu Phù Du, sinh năm 1953 tại Nha Trang.
Phù Du Vĩnh Hiền vừa mới lên xe tang chạy về thiên cổ vào chiều ngày 3. 1. 2015 tại phố biển Nha Trang.
Bản thảo thơ văn để lại rất nhiều, chưa xuất bản.
Trăng Ngàn Dặm Lữ, tập thơ lục bát đã ấn hành bên Hoa Kỳ.
Thi sĩ Phù Du với tôi là chỗ giao tình thân thiết trên cung bậc thung dung cũng hơn 30 năm trường tương cảm, tương tri.
Mỗi năm vào dịp nghỉ hè, trên đường về quê nhà Đà Nẵng, tôi đều ghé lại Nha Trang viếng thăm Vĩnh Hiền. Hai thằng lãng tử kéo nhau đi lang thang thâu đêm suốt sáng qua mấy quán rượu ven đường.
Có lần đông đủ hào sĩ Nha Trang tụ tập ở quán Nguyễn Khôi, có Phù Vân Đặng Cước, Phượng Hồng, Lê Vũ, Trần Ra… cùng hòa điệu khúc cuồng ca túy lúy.
Thi sĩ sinh ra trong một gia đình có nhiều anh chị em văn nghệ sĩ như Tôn Nữ Thanh Nhung, Tôn Nữ Thanh Yên, Vĩnh Hảo, Vĩnh Hữu…
Đặc biệt mẫu thân, nữ sĩ Tâm Tấn cùng thời với nhà thơ Quách Tấn, nhà văn Võ Hồng ( sống ở Nha Trang ) những tác giả lừng lẫy trên bầu trời văn chương Việt Nam, trước năm 1975.