BÀI THƠ TỈNH NGỘ

phamnguyen

Em như hồn sông
Bên bồi bên lỡ
Ta như núi chia
Hai đầu nỗi nhớ

Chiều nay tỉnh ngộ
Một lời chia ly
Vòng môi ướt đỏ
Điếng lòng xe đi

Cà phê nhiều khi
Buồn hơn màu mắt
Con đường trước mặt
Nỗi sầu dọc ngang

Lìa nhau dịu dàng
Mà sao sóng nổi?
Tóc nào quấn vội
Những bàn chân hoang?

Mùa xuân mênh mang
Chuồn bay cánh mỏng
Mười năm dài mộng
Tình yêu dại khờ

Chuyến buýt ngày xưa
Chiều nay về muộn
Cuối ngày nắng nhuộm
Vai người mảnh mai

Nhìn lại bàn tay
Mịt mùng rối chỉ
Bên thềm rên rỉ
Một lời chim đau

Đàng sau bể dâu
(Ngọn đèn quá khứ)
Thức hoài không ngủ
Lời mừng trăm năm!

Em rất từ tâm
Đêm về độ lượng
Hồn xin quỳ xuống
Ngực thơm mùi trầm…

PHẠM NGŨ YÊN

SƯƠNG IN MẶT, TUYẾT PHA THÂN…

nguyenbatrac

“Sương in mặt, tuyết pha thân, sen vàng lãng đãng như gần như xa”…”Áo chàng đỏ tựa ráng pha, ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”… Đấy là chuyện ngày xưa. Thủa ấy các văn thi sĩ VN có mấy ai được đi đâu? Không thấy tuyết bao giờ, người ta đành cóp văn thơ Tầu, ca cẩm… não nùng.
Rồi gần đây (trước 75) có những ông đi Tây du học. Lúc về, làm cho mình – bấy giờ – thèm thuồng, kính sợ: “Paris, có gì lạ không em? Mai anh về giữa bến sông Seine!.Anh về giữa một giòng sông trắng…Là áo sương mù hay áo em?”… Một ông khác cũng đi Tây về, bảo: “Tuyết rơi mỏng manh buồn…Ga Lyon đèn vàng, cẩm tay em muốn khóc, nói chi cũng muộn màng…!”
Ôi thôi thôi! Ngày nay bốn phương chúng tôi đã đi khắp. Tầu: biết, Tây: biết. Tây, Tầu, Nga, Mỹ … đều tường tận. Chẳng phải chỉ lý thuyết, mà hang cùng ngõ hẻm, đều đến tận nơi. Vì phải biết thực tế: cần lắm. Cũng như ngày nay phải cọ xát với Cộng Sản rồi mới biết là phải vứt. Bất kể sinh mạng, xuống ghe mà đi .
Paris có gì lạ không em? Kiến trúc, điêu khắc…cũng đẹp đấy, có điều phải cẩn thận: Đi chơi nên bước chầm chậm. Nhìn cho kỹ , vì hở ra là đạp cứt chó. Paris cứt chó đầy đường. Cái đó là lạ?!
Thế tuyết? Sương in mặt, tuyết pha thân! Đẹp . Nhưng khi nó cứ ùn ùn rơi xuống, không cào lấy đâu lối mà đi? Cào rồi, rơi nữa. Cào không kịp, chồng chất, cao ngất, nặng trĩu.
Mới rơi, quả có lúc nhẹ hều… mỏng manh buồn…Nhưng rồi nó nhẽo nhẹt! Nặng chịch! Lúc đang xốp, chợt nhiệt độ tăng, nó chẩy ra, rồi đông lại, thành băng trơn trượt. Đi không cẩn thận té gẫy xương …Nên lại còn phải rải đá răm cho bớt trơn.
Mà cứ tưởng tượng: Bạn là một lão trượng VN bẩy mươi ba tuổi trời! Già cốc đế mà bạn vẫn ung dung sống ở xứ Phần Lan này…Mỗi ngày bạn vẫn vươn vai đứng dậy hươi xẻng cuốc xúc tuyết, rải đá ….Bội phục! Bội phục!
Nên có thằng cháu ở Mỹ viết email sang thăm: Ông ơi, thế ở Helsinki nghe nói có nhiều người Việt đi biểu tình chống bọn đại sứ, lãnh sự Việt Cộng thâu tiền bố láo… Ông có biết không? Hay ông chỉ biết những chuyện trời đất lù mù?
Trả lời: Biết.
Nhưng bây giờ sau khi xúc tuyết, chụp ảnh chơi, ông chỉ thích nói chuyên trời đất thôi.
Việc trời đất lù mù vẫn quan trọng hơn chứ?
Nó là văn,thơ, nhạc, hoạ. Nó là vẻ xấu, vẻ đẹp của cả cuộc đời. Nó càng quan trọng hơn lúc đời sắp khép. Còn việc biểu tình xã ấp, đáng chi?
Khi cả nước vẫn đang phải cúi đầu sống với chế độ quái gở, với một đảng độc nhất không ai bầu mà chỉ đảng ấy mới được cầm quyền! Thế Việt Nam mới lạ chớ. Paris lạ cái chi?
Còn ở Phần Lan này lỡ ai cần về VN thăm bố mẹ già, phải đem cái thông hành đi đóng cái dấu, thì thây kệ đi. Mấy đồng chí xã ấp tính thêm chút đỉnh tiền boa. Đáng kể gì mà lão phải lặn lội đi khiếu nại trên tuyết băng lạnh lẽo?!

Nguyễn Bá Trạc

LẬT TRANG KIỀU ĐỌC

tankan

lật trang Kiều đọc cuối năm
một mình nghe tiếng đàn cầm liêu trai
khán thư ẩn chuyện bi hài
câu thơ lục bát duỗi dài cuộc chơi
luận Kiều sách bút trông vời
lầu xanh son phấn là nơi ấy mà

TẤN KẬN

CÂU CHUYỆN KHỦNG BỐ ĐÁNH PHÁP

Leave_Me_Alone_by_SDJR

…Chắc chắn là Pháp sẽ phải suy nghĩ lại quan hệ với khối Hồi giáo…

Thế giới những ngày qua đã bị chấn động bởi cái mà báo Pháp gọi là “9/11 của Pháp”.

Đại cương thì một nhóm ba tên khủng bố đã mang AK đến tấn công trụ sở tuần báo trào phúng Charlie Hebdo tại trung tâm Paris, giết một tá nhân viên toà báo, kể cả một số nhà báo và hoạ sĩ, tác giả những bức tranh trào phúng của báo. Vừa bắn giết, vừa hô Allahu Akbar (Đấng Allah Vĩ Đại), cũng la lớn “đã trả thù cho Đấng Tiên Tri”. Vì tờ báo đó đã dám vẽ tranh hý hoạ Đấng Mohammed và lãnh tụ ISIS.

Một người mù cũng nhìn thấy đây là hành động của khủng bố Hồi giáo cuồng tín. Nhưng dường như toàn thể các chính quyền Pháp cũng như Mỹ, kể cả các TT Francois Hollande và Obama, và hầu hết truyền thông dòng chính của lề phải đều … mù hết. Họ chỉ xác nhận đó là hành động “khủng bố” nhưng không dám hé răng nói thêm về cái đuôi “Hồi giáo cuồng tín”. Đài TV Fox News là đài duy nhất dám dùng danh từ “khủng bố Hồi giáo”. Xem CNN sẽ không bao giờ nghe thấy tiếng “muslim”. “Phải đạo chính trị” chính là vậy.

Nói đến chữ “Hồi giáo” là sợ đụng chạm đến cả khối hơn một tỷ người Hồi giáo trên thế giới, được gọi là những tín đồ của một tôn giáo “yêu chuộng hoà bình” và “tình yêu nhân loại”.

Đây chỉ là loại lý luận méo mó, trốn tránh sự thật. Có thể Hồi giáo, cũng như tất cả các tôn giáo khác, chủ trương “yêu chuộng hoà bình”. Cũng có thể Hồi Giáo có quan điểm khắt khe hơn hơn với những người không tin theo Đấng Tiên Tri. Những chuyện này hoàn toàn là chuyện ngoài lề không liên quan gì đến câu chuyện khủng bố ta đang bàn.

Trong Hồi giáo, có những thành phần cuồng tín quá khích. Trong Thiên Chúa Giáo, hay ngay cả Phật Giáo cũng không khác, có nhiều thành phần cực đoan cuồng tín. Tại Nam Dương trước đây và Miến Điện ngày nay, hay Thái Lan cũng vậy, những Phật tử xách mã tấu đi chém người Hồi giáo là chuyện xẩy ra rất thường. Trong Thiên Chuá giáo, những cuộc tàn sát tại Trung Đông thời trung cổ, hay thảm sát dân da đỏ Mỹ Châu của vài thế kỷ trước đều đã đi vào lịch sử. Đạo nào cũng vậy, cũng đều có những thành phần cuồng tín, tàn ác, đi rất xa những lời rao rảng. Tại sao ta có thể nói đến những hành động đẫm máu của các chiến binh Thập Tự Giá, hay của những ông sư võ trang Thái, mà lại không dám mở miệng nói khủng bố Hồi giáo?

Cái ông Howard Dean, trước đây là ngôi sao sáng của đảng Dân Chủ, xém chút nữa đã hạ được TNS John Kerry để làm đại diện cho đảng Dân Chủ ra tranh cử với đương kim TT Bush năm 2004, lớn tiếng khẳng định đám khủng bố đánh báo Charlie Hebdo không phải là Hồi giáo, vì Hồi giáo không chủ trương chuyện này. Không ai nói Hồi giáo chủ trương giết hết những người xúc phạm đến Đấng Tiên Tri của họ, nhưng những tên khủng bố đó là Hồi giáo, la lớn Allahu Akbar, muốn trở thành “thánh tử đạo” cho Allah, thì chúng là khủng bố cuồng tín Hồi giáo. Sự thật là vậy. Chấm hết.

Ta đối diện với một địch thủ cực kỳ nguy hiểm, tàn bạo. Nếu không dám nhìn thẳng vào mặt địch thủ, gọi cho đúng tên, nhận cho đúng mặt, thì làm sao đánh lại chúng? Đó là khủng bố Hồi Giáo cuồng tín, thì gọi đó là khủng bố Hồi giáo cuồng tín. Tại sao không? Dùng danh từ “khủng bố Hồi giáo cuồng tín” đâu có nghiã là đã kết án tất cả tỷ người Hồi giáo là khủng bố cuồng tín hết. Cũng như nói có mấy ông sư mang mã tấu đi chém người đâu có nghiã là nói tất cả các sư sãi Phật giáo đều sẵn sàng mang mã tấu đi chém người để bảo vệ Phật pháp.

Trước đây, tại Texas, một anh thiếu tá Hồi giáo quay súng qua giết một tá quân nhân đồng đội, miệng cũng la “Allahu Akbar”. Chính quyền Obama không dám gọi đó là hành động khủng bố, chứ đừng nói tới chuyện dùng danh từ “Hồi giáo”. Gọi đó là “biến cố bạo động văn phòng”, “office violence”, ai muốn hiểu sao thì hiểu, nhưng cùng loại với “tội ác” của một ông xếp bực mình tát tai một thư ký vậy.

Chuyện “phải đạo chính trị” để không mất lòng ai nó làm cho các chính trị gia ngày càng hèn yếu, chỉ giỏi núp né rồi diễn giải, để khỏi mất phiếu. Đó chính là mặt trái của chế độ dân chủ trong đó lá phiếu cử tri chi phối tất cả mọi lời nói và hành động của các chính khách.

Người Mỹ có câu rất hay: “nếu nó đi như vịt, kêu như vịt, thì đó là con vịt” (If it walks like a duck, quacks like a duck, it is a duck!). Nhưng câu nói này đã không được các chính khách áp dụng. Nếu nó đi như vịt và kêu như vịt, nhưng cử tri muốn đó là con mèo, thì nó đúng là con mèo.

Điều các chính khách không chịu nhìn nhận thì trước sau gì cũng sẽ xuất hiện như sự thật.

Đó là cái giá mà chính quyền Pháp phải trả cho chính sách của họ đối với khủng bố Hồi giáo cuồng tín nói riêng và dân Hồi giáo nói chung.

Pháp, cũng như nhiều nước Tây Âu như Anh, Hoà Lan, Bỉ và Đức, là những nước từ trước đến giờ đã có những chính sách di dân hết sức cởi mở, đón nhận thả giàn các di dân từ Trung Đông và Bắc Phi, nhân danh tính nhân đạo, muốn giúp những người dân khốn khổ này trốn khỏi cảnh cơ hàn trong các xứ gốc của họ, trong khuôn khổ một thứ chủ nghiã cấp tiến rất rộng lượng, khai phóng, và cởi mở. Trong chính sách đó, cũng có âm hưởng tàn dư của thời thực dân: nước Đại Pháp hay Đại Bỉ, Đại Anh gì đó, … dù sao cũng có ít nhiều trách nhiệm với dân các nước thuộc địa cũ, cần dang tay đón họ.

Chẳng những dang tay đón nhận, mà còn hồ hởi giúp đỡ, nuôi nấng, giúp nuôi dưỡng và phát triển những đặc tính văn hoá, tôn giáo của mỗi nhóm, thay vì tìm cách hoà nhập họ vào cộng đồng. Nhân danh tính đa dạng văn hoá, tôn giáo, chính trị của khối cấp tiến.

Các chính quyền Pháp tin rằng thái độ thân thiện này đã là một trong những yếu tố chấm dứt được những đe dọa khủng bố từ các nhóm quá khích Palestine thời thập niên 60 khi hãng máy bay Air France liên tiếp bị không tặc cướp, đổi con tin.

Dĩ nhiên tại Pháp, cũng như tại các nước Tây Âu khác, cũng có những nhóm phản đối chính sách cởi mở này, nhưng họ mau chóng bị liệt vào loại cực hữu theo chân Hitler ngay.

Trên căn bản, không thể nói chính sách này sai lầm, hay thất bại. Sự thật là tuyệt đại đa số những di dân này đã sống yên lành, trong kỷ luật quốc gia, ăn nên làm ra, đóng góp không nhỏ vào những phát triển cho văn hoá đa dạng của cả Tây Âu. Và nhất là đóng góp không ít cho việc phát triển kinh tế nữa.

Đúng vậy, còn một lý do kinh tế quan trọng hơn nhiều: đó là nguồn nhân lực rẻ tiền cho kinh tế Tây Âu. Dân Tây Âu, càng ngày càng rửng mỡ, có thể nói là lười biếng chẩy thây, đi làm một tuần 35 tiếng, mỗi năm nghỉ hè 6 tuần mà vẫn chưa thỏa mãn. Đã vậy, lại ham vui, không chịu có con cái. Khiến cho dân số các nước Tây Âu ngày càng giảm. Dân số giảm, giờ làm giảm, công hiệu giảm, làm sao giải quyết vấn đề tăng trưởng kinh tế? Làm sao cạnh tranh với Mỹ? Với Á Châu? Với các rồng con, cọp con? Di dân Trung Đông và Bắc Phi chính là đáp số.

Nhưng khu vườn hoa dù đẹp cách mấy, cũng không tránh khỏi những bụi cỏ dại. Nhìn hoa mà không thấy có cỏ dại phải diệt thì sẽ có ngày cỏ dại nhiều hơn hoa.

Biến cố Charlie Hebdo không có nghiã là cỏ dại đã nhiều hơn hoa, nhưng phải hiểu đó là bằng chứng cỏ dại là một đe dọa rất lớn và cụ thể.

Các chính quyền Tây Âu nhìn vào vườn hoa mà không chấp nhận có cỏ dại.

Người dân Âu Châu cho rằng Mỹ trở thành kẻ thù của khối Hồi giáo vì quan niệm quá cao bồi, đế quốc, bắt mọi người vào Mỹ là phải hoà nhập vào văn hoá Mỹ, trong khi đi ra ngoài nước thì bắt thiên hạ phải răm rắp phục vụ quyền lợi tư bản Mỹ và tuân theo tiêu chuẩn “giá trị” Mỹ. Tạo ra bất mãn, mâu thuẫn, tranh chấp, rồi khủng bố. Dân Âu Châu tự hào có ổn định hơn trong vấn đề này vì dân Hồi giáo được chấp nhận và tôn trọng hơn ở Mỹ. Do đó, không có chuyện đe doạ khủng bố Hồi giáo cuồng tín.

Chính sách đối ngoại của các nước Tây Âu cũng thể hiện quan điểm cởi mở, chấp nhận khác biệt ý thức hệ, “thông cảm” với các nước Hồi giáo cực đoan. Trong khi Mỹ cắt đứt mọi quan hệ với Iran, giữ quan hệ tượng trưng với Syria, thì cả khối Tây Âu vẫn có quan hệ ngoại giao khá mật thiết với những chế độ này. Thậm chí nhiều khi còn đóng vai trò trung gian giữa những xứ này và Mỹ.

Dĩ nhiên, có nhiều lý do, vừa phản ánh một chính sách đối ngoại đa dạng, vừa khỏi mang tiếng lệ thuộc Mỹ, nhưng cũng bảo vệ được khá nhiều quyền lợi kinh tế cụ thể, nhất là bảo vệ được nguồn cung cấp dầu lửa và khí đốt. Ngay cả khi Mỹ đánh Iraq năm 2003, thì cả Pháp lẫn Đức đều đã công khai biểu quyết chống lại tại Liên Hiệp Quốc, chỉ vì các hợp đồng ngoại thương giữa Pháp, Đức và Iraq còn quá nhiều và quá lớn. Ngày hôm nay đây, khi bị Mỹ áp lực phải tham gia cuộc chiến chống ISIS, thì Pháp chỉ đồng ý cho máy bay thả bom tượng trưng tại phiá bắc Iraq, không cho thả bom tại các căn cứ bên kia biên giới Syria.

Cuộc tấn công báo Charlie Hebdo là một gáo nước lạnh tạt vào chính quyền Pháp, để nhắc nhở cho họ là chính sách tương đối dễ dãi, thân thiện của Nhà Nước Pháp vẫn chưa đủ thoả mãn họ. Điều những nhóm quá khích Hồi giáo muốn thấy là một sự đầu hàng vô điều kiện và một sự thuần phục cao hơn nưã. Những bài báo hỗn xược của Charlie Hebdo là những chuyện không tha thứ được, không cần biết xứ Pháp là xứ của Voltaire, là người đã phán ra câu đại khái “anh có thể nói những câu ngu nhất nhưng tôi đến chết vẫn bảo vệ cái quyền nói câu ngu của anh”.

Cuộc tấn công này cũng đánh dấu một khúc quanh mới trong cuộc chiến chống khủng bố. Nó đã lan qua Tây Âu rồi. Người dân Tây Âu bây giờ mới biết mùi đe dọa của khủng bố quá khích Hồi giáo. Dĩ nhiên, trước đây, khủng bố Hồi giáo cuồng tín cũng đã tấn công Anh Quốc rồi, nhưng dù sao, dân Tây Âu với dân Anh, dù là cùng lục địa Âu Châu, nhưng luôn luôn coi nhau như không có bà con gì với nhau hết. Anh Quốc là bà con với Mỹ chứ chẳng liên hệ máu mủ gì với Tây Âu. Khủng bố đánh Anh Quốc thì cũng chỉ giống như khủng bố đánh Mỹ thôi. Bây giờ mới là vấn đề mới: đánh Pháp.

Cái nguy cơ lớn nhất là cuộc chiến chống khủng bố đã thay đổi bộ mặt. Trước đây là các chính quyền đối phó với các tổ chức khủng bố quy mô, có tiền, có phương tiện, có nhân sự lớn, như Al Qaeda. Dù vậy địch thủ loại này cũng là loại có thể nhận diện và dễ đánh hơn.

Địch thủ khủng bố loại mới bây giờ đã biến dạng qua hình thức một vài nhóm cá nhân lẻ tẻ, tuy phương tiện yếu kém hơn, sức tàn phá yếu hơn, nhưng lại cực kỳ khó trị. Chỉ cần một hai anh chị liều mạng mang súng bom đi đánh thường dân vô tội tại bất cứ nơi nào có đông người như trường học, chợ buá, rạp hát, sân vận động,… biết đường nào mà đỡ. Như câu chuyện Charlie Hebdo, chỉ có ba anh mang súng vào một toà báo bắn loạn lên, làm sao cản?

Việc ngăn chặn khủng bố dĩ nhiên phải bắt đầu từ những biện pháp phỏng thủ có tính cách chiến thuật nhất thời thôi. Muốn hữu hiệu hơn thì phải nghĩ đến một chiến lược tổng thể lớn hơn và lâu dài hơn. Chắc chắn là Pháp sẽ phải suy nghĩ lại quan hệ với khối Hồi giáo. Và các nước khác như Đức, Bỉ, Hoà Lan cũng vậy. Đây đều là những nước với tỷ lệ dân Hồi giáo khá lớn, trung bình 5%-7%, nhưng rất tập trung theo từng khu. Ngoại ô Paris, có vùng có tới 60%-70% dân Hồi giáo bắc Phi. Tổng cộng 5 triệu tại Pháp, 4 triệu tại Đức, 4 triệu tại Anh, gần 1 triệu tại tiểu vương quốc Bỉ.

TT Obama ngay khi mới lên nắm quyền đã nhìn vấn đề dưới con mắt chiến lược này. Ông coi thường các biện pháp có tính chiến thuật vá víu của TT Bush, và nghĩ đến giải pháp tổng thể lớn hơn. Đi lòng vòng các nước Á Rập và Hồi giáo lớn như Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập, đọc diễn văn ca ngợi Hồi giáo, xin lỗi bốn phương tám hướng, chìa tay ra với các giáo sĩ Iran, Iraq,… Nhưng kết quả dường như vẫn không có gì khả quan.

Ông muốn nhìn vào cả cái khối hơn một tỷ người Hồi giáo, tìm cách biến họ thành đồng minh tích cực ngăn chặn các nhóm thiểu số cực đoan. Câu hỏi là trong khối này, bao nhiêu sẽ ủng hộ các nhóm khủng bố, bao nhiêu sẽ chống? Không ai có câu trả lời rõ rệt. Khối dân Hồi giáo nói chung dĩ nhiên không tán thành những hành động khủng bố tàn ác đối với dân lành, nhưng dù muốn dù không, các nhóm khủng bố này cũng là dân đồng chủng, đồng đạo, chết vì đạo. Một triệu chứng đáng suy nghĩ: trong khi cả thế giới lớn tiếng lên án cuộc tấn công báo Charlie Hebdo thì người ta đã thấy một sự im lặng thật đáng lo ngại trong khối dân Hồi giáo. Chỉ lác đác một vài tiếng nói chỉ trích hay than phiền còn không có một phong trào quy mô nào chống đối cuộc tàn sát này. Nói đây là một sự im lặng đồng loã thì hơi quá đáng, nhưng dù sao cũng là một sự im lặng đáng lo ngại.

Về phiá dân Tây Âu, hiện nay đã bắt đầu có nhiều phong trào quốc gia quá khích, chống chính sách di dân quá cởi mở hiện hữu. Các nước như Thụy Sỹ hay Đan Mạch đã có trưng cầu dân ý về vài chuyện liên quan đến chính sách này và kết quả đều bất lợi. Bên Đức hiện đang có một phong trào quần chúng chống lại sự bành trướng của Hồi giáo. Bên Pháp, đảng cực hữu của bố con ông Le Pen càng ngày có tiếng nói lớn.

Trong những ngày tháng tới, với dư âm cuộc tấn công Charlie Hebdo vang vọng, bảo đảm nhóm Le Pen sẽ ồn ào hơn bao giờ hết và sẽ đạt được nhiều thành quả chính trị lớn.

Làm như mâu thuẫn giữa dân điạ phương với khối di dân sẽ ngày một lớn mạnh chứ không có cơ giảm cường độ.

Cuộc tấn công báo Charlie Hebdo đưa cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo cuồng tín vào một trang sử mới, sẽ buộc tất cả mọi người, các chính quyền Mỹ, Tây Âu, ngay cả người dân Mỹ và Tây Âu, và cả khối Hồi giáo toàn cầu phải nhìn lại vấn đề, sắp xếp lại bàn cờ. (11-01-15)

VŨ LINH

NHÁY MẮT

nguyentancu

Nháy mắt em cười nheo lá răm
trái tim tôi muốn rụng qua đời
nháy mắt em làm tôi chờ đợi
tính tháng năm bằng… mắt lá răm

Nháy mắt em treo mộng nửa chừng
một lần tôi xé tuổi thanh xuân
nháy mắt em làm tôi… lờ lững
say suốt đêm dài – em biết không?

Nháy mắt – em làm tôi… ngất ngư
ngóng theo – không biết… khóc hay cười
cuối năm tôi biết mình tư lự
hồn cứ bâng khuâng mộng đến người

Nháy mắt em cười rất… tiểu thơ
ngó nghiêng là cái dáng em cười
ngó xiên là cái… đuôi con mắt
mắt khép – ơ kìa – môi ái khanh

Ồ mắt – có là – khanh – của anh
xoay lưng em ngoảnh mặt sao đành
mỉm cười – con mắt – nheo – nheo – nháy!
có thật – em là… khanh… của anh?!?

NGUYỄN TẤN CỨ

MÙA XUÂN HOA TRẮNG

nguyenanbinh

Nhớ Đà Lạt mùa xuân đầy hoa ban trắng nở.

Ai đem hoa ban giữa rừng Tây Bắc
Về điểm trang cho thành phố mù sương
Thiếu tiếng khèn giao duyên tình đôi lứa
Vẫn nồng nàn hơi thở đất phương Nam.

Em đem cả mùa xuân về phố núi
Nghe lòng mình xao xuyến gịọt sương mai
Từng sợi nắng vàng tươi màu áo lụa
Thả bên đồi đàn bướm ngất ngây bay.

Tôi trở lại ngày cuối năm phố núi
Ngỡ lòng mình lạc giữa chốn đào nguyên
Hoa ban nở trắng trong tình sơn nữ
Mắt mơ màng nghe tiếng hót chim quyên.

Tiếng suối chảy gởi tình tôi theo gió
Sợi tóc mềm em trói cả hồn tôi
Dáng ai nghiêng đợi bên hàng liễu rũ
Sóng ven hồ lất phất phấn thông rơi.

Lũ chim bay về gọi mùa xuân tới
Tôi lang thang tìm em trong giấc mơ
Em ơi có nghe đâu đây nhạc ngựa
Nhịp kiệu khua giòn một góc phố xa.

Đà Lạt xuân ngập tràn hoa ban trắng
Đường Quang Trung em về dưới cơn mưa
Tôi nhớ thương em qua mùa mê hoặc
Sao lòng còn thao thức những mùa xưa.

NGUYỄN AN BÌNH

Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi

trantrungdao

Đà Nẵng của tôi, một thời được xem như là một Lebanon của Châu Á, thành phố chiến tranh, xô bồ, tang tóc. Nơi đó, tháng 3 năm 1965, bước chân của những người lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ để làm đầu cầu cho cuộc chiến tranh tốn kém nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Địa danh Đà Nẵng xuất hiện nhiều lần trong quân sử Mỹ, nhiều hơn cả những mặt trận lừng danh trong thế chiến thứ hai như Bulge, Ardennes, Midway v.v. Đà Nẵng với những doanh trại, bãi biển được gọi bằng tiếng Mỹ: China Beach, TienSa Camp, Monkey Mountain.

Đà Nẵng của tôi, nơi những buổi chiều của tuổi mười ba, tôi vẫn thường đứng nhìn những đoàn xe mang nhãn hiệu Sealand, RMK, GMC nối đuôi nhau mỗi ngày trên chiếc cầu màu đen mang tên của một viên tướng Thực Dân. Những chiếc chiến xa nặng nề, những khẩu đại pháo nòng dài được cất lên từ chiếc tàu lớn neo ngoài cửa biển Sơn Chà. Tiếng gầm thét của những đoàn phi cơ chiến đấu đang đáp xuống phi trường quân sự ngoài ngã ba Duy Tân. Tiếng nhạc, tiếng cười, tiếng chọc ghẹo, okie, hello, goodbye của những người lính Mỹ và những cô gái Việt Nam vào tuổi chị tôi, vọng lại từ những hộp đêm dọc bờ sông Bạch Đằng. Tất cả đã khơi dậy trong lòng tôi nhiều câu hỏi, nhiều băn khoăn và cả những tủi thẹn đầu đời của một đứa bé Việt Nam, xót xa cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành cây chùm gởi. Tại sao? Tại sao lại là Đà Nẵng? Tại sao là Việt Nam quê hương tôi mà lại không phải một nơi nào khác?

Đà Nẵng của tôi, như định mệnh an bài, cũng là nơi an nghỉ của người lính Mỹ đầu tiên thuộc chiến hạm lừng danh Hoa Kỳ, USS Constitution. Không phải đợi đến 1965, khi các chiến hạm thuộc Đệ Thất hạm đội thả neo tại cửa biển Đà Nẵng để đổ bộ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên, nhưng từ hơn 120 năm trước, Đà Nẵng đã là một nơi hẹn hò đầy định mệnh giữa quân đội Việt Nam thời Thiệu Trị và Hộ Tống Hạm Hoa Kỳ đầu tiên của hải quân Mỹ dưới quyền của hạm trưởng John Percival. Theo các tài liệu còn ghi lại, năm 1845, chiến hạm USS Constitution của Hải Quân Hoa Kỳ, trên chuyến hải hành 2 năm vòng quanh thế giới, dừng lại cảng Đà Nẵng để xin cung cấp thực phẩm và nước ngọt. Cũng tại hải cảng lịch sử nầy, Hạm trưởng John Percival xin phép quan trấn thủ thành Đà Nẵng để chôn cất thủy thủ William Cook vừa qua đời, dưới chân Núi Khỉ nằm trong rặng Sơn Chà. Thậm chí ông còn “viện trợ” 2 Mỹ kim để lo phần hương khói. Tiếc thay, chỉ vài ngày sau đó, vì việc triều đình Huế bắt giam Giám Mục Dominique LeFevre, đã làm cho tang lễ thắm đượm tình nhân đạo của con người, biến thành một xung đột quân sự giữa hai quốc gia. Cuộc chạm trán ngắn ngủi năm 1845 rất ít người biết đến. Những viên đại pháo bắn vào lãnh hải Việt Nam, dù chỉ để đe dọa, cũng đã vô tình gây thương tích cho quan hệ đầy oan trái giữa hai quốc gia Việt Mỹ sau này.

Đà Nẵng của tôi có khu Ngã Ba Huế nhộn nhịp, nơi tôi từ Hội An về thăm cô tôi những chiều thứ Sáu trong những chiếc xe khách hiệu Renault già nua màu xanh đậm. Tôi vẫn nhớ căn nhà nhỏ, ánh đèn dầu loe lắt, bàn tay xanh xao của cô khi dúi vào túi tôi những tờ giấy bạc được gói kín trong nhiều lớp vải. Đó là những đồng tiền khó khăn và vô giá mà cô dành dụm cho đứa cháu trai vào Hội An nương náu trong chùa ăn học. Tôi ra Đà Nẵng tìm cô vào đầu năm 1968. Nhà cô nghèo, con cháu lại quá đông. Nhiều đêm tôi phải ngủ đói trên căn gác của một trại cây ở hẻm 220 Hùng Vương, ngang hông phường Thạc Gián. Vài tuần sau, vì nhà đông đúc, cô đưa tôi đến sống với người anh họ và bà chị dâu vô cùng khó tánh ở Cỗ Mân, Sơn Chà. Chị dâu tôi khó tánh đến nỗi, chỉ sau một thời gian ngắn, tôi không chịu đựng được nữa nên lặng lẽ bỏ đi. Tôi vào chùa Viên Giác. Năm tháng như mây trời, bao độ hợp tan mang theo những giận hờn, thương ghét. Cô tôi đã về bên cõi khác nhưng lòng tôi sao vẫn nhớ vẫn thương. Trên xứ người, nhiều đêm không ngủ được, nhớ lại tiếng ho của người cô bịnh hoạn, tôi vẫn còn nghe nhức nhối như thuở mới về thăm. Chiến tranh và nghèo đói đã cướp đi bao thế hệ Việt Nam vô tội.

Đà Nẵng của tôi không phải chỉ là điêu linh tang tóc mà còn là thành phố cảng đẹp tuyệt vời. Những bờ biển uốn cong như mái tóc của người con gái Việt Nam đang đứng trông ra Thái Bình Dương bao la bát ngát. Từ eo biển mỹ miều đó những thương thuyền ngoại quốc đã đến thăm thành phố từ mấy trăm năm trước. Đà Nẵng của tôi có hàng phượng đỏ hai bên đường Bạch Đằng, đường Độc Lập với những chiếc ghế đá dọc bờ sông mang chứng tích của một thời học trò đầy kỷ niệm. Đà Nẵng của tôi có bãi Mỹ Khê (chứ không phải China Beach), với bờ cát trắng chạy dài và hàng dương vi vu theo gió, có bãi Thanh Bình với những chiếc ghe đánh cá đi về và cảnh chợ chiều nhộn nhịp. Những ngày hè oi bức, tôi và đám bạn vẫn thường ôm đàn ra ngồi dựa lưng vào những gốc dương liễu dọc bãi biển. Trong tiếng sóng từng nhịp vỗ vào bờ, chúng tôi cùng cất cao bài hát Ra Khơi như để cổ võ cho những chiếc thuyền đánh cá đang giong buồm ra biển. Tôi đâu biết vài năm sau, bạn bè tôi cũng lần lượt ra khơi như thế nhưng chẳng còn ai dám đến tiễn đưa.

Đà Nẵng của tôi có những hàng cây sao tình tự dọc đường Thống Nhất, nối từ bờ sông đi ngang qua Trường Nữ, nơi các cô cậu học trò Phan Châu Trinh, Phan Thanh Giản vẫn thường đứng đợi người trong mơ sau mỗi buổi tan trường. Những chiếc áo dài trắng thướt tha. Những mái tóc thề chấm vai thơ mộng. Những đôi mắt nai tơ đó đã từng là nguồn cảm hứng của nhiều nhà thơ xứ Quảng đa tình. Xin mời đọc vài câu thơ của nhà thơ Luân Hoán viết về các cô nữ sinh Đà Nẵng:

chiều chiều luồn chợ Vườn Hoa

trôi theo Đồng Khánh bám tà áo bay

mắt hồng liệng cái ngoắt tay

dắt qua Độc Lập dựa cây đèn đường

chập chùng xuân ảnh vải hương

ngó ai lòng cũng yêu thương tức thì

giả vờ châm thuốc nhâm nhi

nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình.

(Đà Nẵng, thơ Luân Hoán)

Các cô nữ sinh của một thời thơ mộng tung tăng như những con bướm vàng trên đường Thống Nhất, Lê Lợi, Hoàng Diệu, Khải Định ngày xưa, đã không về nữa. Các cô đã ra đi, đã bỏ lại sau lưng mình hàng cây sao rợp bóng bên đường, bỏ lại những chiếc ghế vuông, những ly chanh muối, những quán chè. Các cô bây giờ đã lớn, đã trưởng thành. Nhiều cô đã là những bà mẹ tay bồng tay bế, để rồi, 17 năm sau ngồi nhớ lại năm mình 17 tuổi.

Và các cậu học trò cũng thế. Những chàng thanh niên với buồng phổi và trái tim chất đầy hùng khí của xứ địa linh nhân kiệt đã ra đi. Thế hệ trẻ Việt Nam trong thời chinh chiến và cả khi đất nước hòa bình, đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi mất mác. Nỗi bất hạnh lớn nhất của một đời người vẫn là bất hạnh không có tuổi hoa niên. Các cậu học trò ngày ấy ra đi, bỏ lại sau lưng những chiếc xe đạp, những quán Cà-phê Thạch Thảo, Thanh Hải, Ngọc Lan, những rạp hát Trưng Vương, Chợ Cồn, bỏ lại cây đàn guitar cũ kỹ và những bản tình ca chưa viết trọn trong sân trường. Để rồi nhiều năm, sau cuộc biển dâu, chinh chiến, gian lao, tù tội trở về. Trở về chỉ để thấy thành phố xưa nay đã đổi chủ và con đường xưa nay đã đổi thay tên. Tuổi thơ không bao giờ trở lại. Suối vẫn chảy, nước vẫn reo nhưng điêu linh tang tóc đã xua bầy nai tơ lạc đàn đi biền biệt, mất dấu đường về bên khe đá cũ.

Sau 1975, những bãi biển Mỹ Khê, Thanh Bình, Tiên Sa, Thanh Khê, Tân Thái, Mân Quang, Chợ Mai, Chợ Chiều, Non Nước, Nam Ô, v.v.., vẫn còn là điểm hẹn nhưng không phải là nơi hẹn hò của những cặp tình nhân mà là nơi những người con Đà Nẵng hẹn nhau để bỏ quê hương mà ra đi. Xin đừng hỏi họ đi đâu, về đâu trong những đêm tối trời lầm lủi đó. Không ai biết chắc. Chỉ một điều họ biết là họ không còn chọn lựa nào khác hơn là phải ra đi. Không một người dân Quảng nào bỏ quê hương ra đi mà không đau xót.

Xin đừng dán lên lưng, lên trán họ những nhãn hiệu theo Tây, theo Mỹ. Không. Người dân Quảng là những người yêu nước. Ông cha họ đã từng cười mà bước lên máy chém Thực Dân. Những cơn bão lụt tàn phá mỗi năm đã không làm họ bỏ làng mạc ra đi. Nạn hạn hán làm ruộng đồng khô cháy mỗi năm không buộc họ phải bỏ mồ mả tổ tiên ra đi. Sụp căn nhà này họ căm cụi xây trên nền đất cũ căn nhà khác. Trôi căn nhà này họ lại xẻ gỗ, lợp tranh xây lên căn nhà khác. Bao thế hệ đã sống và đã chết trên vùng đất cày lên sỏi đá đó. Nhưng chế độ mới, một chế độ nhân danh những mục tiêu tốt đẹp nhất trên đời đã buộc họ phải ra đi. Sự thôi thúc của tự do như tiếng gọi thiêng liêng của người cha già vọng về từ một nơi xa thăm thẳm. Và sẽ không ai biết, bao nhiêu người, trong số hàng ngàn, hàng vạn người bỏ Đà Nẵng ra đi, đã đến được HongKong, Philippines và bao nhiêu người không may mắn đã bị chôn sâu trong lòng biển, chết thảm thương trong bàn tay hải tặc, chết trong đói khát sau những tuần, những tháng lênh đênh ngoài biển cả.

Đà Nẵng của tôi, sau 1975, không còn thơ mộng nữa. Những câu ca dao đậm đà tình quê hương đất nước: “Ngó lên hòn Kẽm đá Dừng, thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi” đã được thay bằng những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp chất chứa toàn chuyện oán thù. Những điệu hò khoan đậm đà hương vị Quảng Nam “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, rươụ hồng đào chưa nhấm đà say” đã được thay bằng những những đêm dài học tập, thảo luận, khuyến khích thầy cô, cha mẹ, anh em tố cáo lẫn nhau. Ánh trăng không còn là những dải lụa vàng Duy Xuyên đang trải trên dòng sông Hàn mỗi đêm Rằm, nhưng là những vết dao nghèo đói đang chém xuống một quê hương vốn đã chịu đựng nhiều bất hạnh.

Ngày cuối cùng của tôi ở Đà Nẵng như đoạn kết của một cuốn phim buồn. Tôi và cô bé, lý do cho những bài thơ tình học trò đầy sáo ngữ của tôi, ngồi trên chiếc ghế đá trên đường Bạch Đằng, nhìn sang hướng Sơn Chà.

– Anh sắp phải đi xa.

– Em biết.

– Sao em biết, anh chưa nói với em mà?

– Anh nói với em rồi. “Anh phải vô Sài Gòn học đại học. Học xong anh sẽ về quê, không đi nữa.” Em còn nhớ anh nói với em câu đó lúc mấy giờ, ngày nào và tại đâu nữa kìa.

– Không phải. Đó là chuyện hồi chưa “giải phóng”, bây giờ thì khác.

– Bây chừ anh tính đi đâu?

– Anh vượt biên. Nếu đi lọt, có thể anh sẽ qua Mỹ học.

– Bộ ở Việt Nam không có trường cho anh học sao. Em nghe nói Mỹ xa lắm, chắc là xa hơn Sài Gòn nhiều. Mùa hè làm sao anh về thăm quê được.

– Anh sẽ về nhưng chắc không phải mùa hè.

– Anh lại hứa.

Hai đứa nhìn ra sông. Chiếc phà An Hải vẫn mệt mỏi đưa người qua lại. Giọng hát buồn não nuột của anh thương phế binh cụt hai chân từ ngoài bến vọng vào: “Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi. Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì. Tôi là người đi chinh chiến dài lâu. Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sâu”. Anh hát để tưởng nhớ bạn bè nhưng không biết rằng bạn bè anh đang lần lượt bỏ anh đi. Hàng phượng dọc bờ sông đã bắt đầu nở rộ nhưng không còn để “Mỗi năm đến hè, lòng man mác buồn” nhưng là mùa chia tay vĩnh viễn, nát tan.

Nước sông Hàn lững lờ trôi mang theo dăm chiếc lá. Hai đứa ngồi im lặng, không biết phải nói gì. Nói gì rồi cũng chia tay. Em đơn giản, hồn nhiên và ngây thơ đến tội nghiệp. Em sẽ chẳng thể nào hiểu được tôi, và tôi cũng chẳng biết giải thích thế nào cho em hiểu. Trái đất của em nhỏ nhoi, bao bọc bởi những rặng tre xanh hiền hòa. Tâm hồn em là giòng sông mùa thu êm đềm, tĩnh lặng. Tâm hồn tôi thì hoàn toàn tương phản, trùng điệp núi đèo, ghềnh thác. Tôi sinh ra trong cuộc đời này để gánh hết khổ đau, để làm tên du mục đi lang thang trên chính quê hương mình. Và ngày mai, tôi lại sẽ bắt đầu hành trình du mục mới. Con nước trôi còn biết mình đang ra biển. Chiếc lá rơi còn biết cội quay về, nhưng tôi không biết sẽ về đâu.

Hai mươi hai năm rồi tôi chưa về Đà Nẵng. Cô tôi đã qua đời. Bạn bè mỗi người một ngã. Cô bé ngày xưa đã có gia đình. Khuôn mặt thành phố mang nhiều thay đổi. Đà Nẵng thân yêu ơi, có còn nhớ đến tôi không? Căn gác đường Hùng Vương, căn nhà lá phía trong Ngã Ba Huế, cồn cát trắng ở Mân Quang, nơi tôi chôn dấu kho tàng tuổi thơ khốn khổ của mình, biết có còn nhận ra tôi, cho dù tôi trở lại. Và đêm nay, tôi ngồi đây, tưởng tượng một ngày về Đà Nẵng.

Và biết đâu, nhờ chưa về, mà thành phố còn nguyên vẹn trong trái tim tôi, bởi vì, nếu tôi về thăm, Đà Nẵng chắc sẽ không còn nữa. Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi.

Trần Trung Đạo

MƯA VỀ ĐÂY, CÒN EM VỀ ĐÂU?

tranvannghia

Mưa về đây, còn em về đâu?
Sông xưa nước vẫn chảy qua cầu
Nước mong tìm lối về bến cũ
Còn bóng tôi tìm với bể dâu

Mưa về đây, còn em về đâu?
Hàng cây đứng đợi lá nghiêng đầu
Có rơi góc phố chiều hò hẹn
Xin đợi tôi tìm trong chiêm bao

Mưa về đây, còn em về đâu?
Tình xa ướt sủng gió xô nhầu
Dẫu rêu khuất mái ngôi nhà cũ
Vẫn nhớ ánh đèn khuya xanh xao

Mưa về đây, còn em về đâu?
Sân ga thảng thốt níu con tàu
Môi chưa nói hết lời từ biệt
Mà đắng xót lòng buông tay nhau

TRẦN VĂN NGHĨA

Tuổi Thơ Ngày Năm Mới

tranvanle

Sau hai tuần nghỉ Lễ, học trò lại đến trường. Những chiếc xe bus vàng ,lại dọc ngang trong phố…

Tôi không còn tuổi nhỏ, chỉ nhìn theo nhìn theo…những bước chân bé trèo, những bàn tay bé nắm…

Xe bus không chật lắm, chỉ nụ cười nở toang. Những tiếng cười vang vang. Cuối đuờng xe mất hút…

Ngày đầu năm có thật – ngày nắng mới vàng tươi, những xe bus vàng ơi ,chở tuổi thơ tới bến!

Những tia nắng lưu luyến- chạy theo xe bus vàng. Tôi ngó trời mênh mang. Tôi ngó đường thênh thang…

Tuổi xanh tôi vương vương, mái tóc vàng nắng chiếu. Không một lần tôi hiểu: Mình Đang Ở Xứ Người!

Chiếc xe bus chạy rồi, tôi về nơi tôi trọ ,nghe lòng tôi thương nhớ, tuổi thơ tôi…ngày xưa…

Trần Vấn Lệ