Đứa con của biển

trantrungdao

Những đóa hoa trong ngày hôm nay
sẽ
mang ý nghĩa đích thực của nó :
tôn vinh cái đẹp
từ các nối đau
( Tôn-Nữ Thu-Dung)

Sống chết là một định luật, một chiếc cầu mà ai cũng phải đi qua. Giọt sương mai trên thảm cỏ non. Chiếc lá khô rơi trong buổi chiều vàng. Mọi tạo vật, từ con người cho đến một giọt sương, một chiếc lá, đều có sinh và có diệt”. Chị Hà đọc đâu đó. Mới hôm nào đây, chị đã dùng để an ủi ông láng giềng Paul, khi bắt gặp ông cụ đứng ngẩn ngơ bên cửa sổ trong một buổi chiều.
Bà Karen, vợ ông, qua đời năm trước đó. Hẳn nhiên không phải cụ Paul không biết đến lẽ mất còn của tạo vật, nhưng như cụ Paul trả lời chị Hà: “Hiểu biết bao giờ cũng dễ hơn chịu đựng”. Thiếu cụ bà Karen, ông sống như một người mất bóng, suốt ngày lay hoay như tìm kiếm chính mình. Không ai biết ông bà gặp nhau từ bao giờ nhưng không thấy họ có con cái gì. Thỉnh thoảng một người bà con hình như ở xa lắm, ghé thăm. Thế giới của ông bà cụ là căn nhà trệt hai phòng ngủ và khu vườn nhỏ sau nhà. Những bụi hoa huệ vàng được trồng dọc hàng rào. Chiếc ghế dài cũ và những câu chuyện họ thì thầm với nhau, có thể được lập đi lập lại cả trăm lần. Dù sao khi cụ bà Karen mất, một nửa thế giới của cụ Paul cũng chết theo. Những bụi hoa dọc hàng rào không ai chăm sóc. Cụ Paul, từ đó, ít ra ngoài. Thỉnh thoảng, cụ vịn song cửa nhìn ra khu vườn trống, chiếc ghế cũ lẻ loi, những bụi hoa huệ bị mưa xoi bật gốc. Cũng qua cánh cửa đó, có lần chị Hà bắt gặp hai giọt nước mắt già nua lăn trên đôi má nhăn nheo của cụ Paul.
Trong “cul-de-sac” gần biển này chỉ có chừng chục ngôi nhà, nối nhau thành một vòng tròn chung quanh một sân cỏ nhỏ. Từ xóm nhà đi bộ dọc con đường hẹp cắt ngang đồi thông, chừng 5 phút là đến biển. Hầu hết gia đình là người sinh ra hay định cư lâu năm trên xứ nầy, ngoại trừ mẹ con chị Hà, một người Mỹ gốc Việt. Chồng chị thất lạc trên đường vượt biển. Chị sinh đứa con trai đầu lòng ở trại tỵ nạn Thái Lan. Tháng 12 năm 1980, người phụ nữ hai mươi bảy tuổi, ẵm đứa con trai mới sáu tháng bước xuống phi trường quốc tế Logan, thuộc thành phố Boston. Không cha mẹ, anh em. Không bà con thân thuộc. Những năm đầu mẹ con chị Hà sống trong căn phòng do một hội từ thiện thuê dùm ở Dorchester. Nhờ có căn bản sư phạm từ trước, chị học tiếng Mỹ khá nhanh. Sau khi hoàn tất khóa cán sự y tế tại một trường huấn nghệ, chị xin được một việc làm tại bệnh viện thành phố Boston. Chị ít khi ra ngoài. Khi đi chợ mua sắm, chị chẳng buồn trang điểm như cố tình làm cho mình già hơn và xấu đi. Nhưng làm sao che giấu được thân hình thon nhỏ, làn da trắng mịn màng, khuôn mặt tròn và đôi mắt đen nhưng rất buồn của của một cô gái Việt còn trong tuổi thanh xuân. Chị đã đóng cánh cửa sổ nhìn ra khu vườn đời chị, dù nơi đó lá mùa thu vẫn đẹp, hoa mùa xuân vẫn nở, tiếng ve vẫn reo vang trong mỗi độ hè về.
Chị Hà không thích ở thành phố. Khi dành dụm đủ số tiền cần thiết để ứng trước, chị mua căn nhà nhỏ ở quận Plymouth, một vùng ven biển, cách Boston chừng 20 dặm về phía nam. Chị nghỉ việc ở bệnh viện và tìm được một công việc khác tại một trung tâm y tế dành cho người già ở gần nhà. Năm đó, chị Hà ba mươi tuổi. Một phụ nữ trẻ đẹp và đầy sức sống, chị có thừa khả năng để xây dựng cho mình một gia đình mới trong cuộc đời mới. Nếu bảo chị không thích người đồng hương thì chị có thể kết hôn với người xứ khác. Nhưng chị vẫn một mình với đứa con thơ, sống trong tháng năm trầm lặng. Hẩm hiu nhưng ấm cúng. Đứa con trai của chị là niềm vui, là hy vọng, là tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai của chị góp lại. Một ngày của chị bắt đầu với việc đưa con đến trường, đi làm ở viện dưỡng lão, dạy con làm bài tập, dạy con học thêm tiếng Việt và ra biển ngồi đọc sách. Và cứ thế, ngoại trừ những khi mưa bão và mùa đông giá rét, một ngày của chị Hà bao giờ cũng chấm dứt bằng những giây phút rất riêng tư bên bờ biển. Ngay cả những khi không đọc sách, chị vẫn ra ngồi như thế. Im lặng như để lắng nghe tiếng thì thầm vọng về từ một nơi xa xôi.
Chị gần gũi với biển đến nỗi đứa con trai chị cũng được đặt tên là Biển. Hàng xóm gọi nó Ben, theo âm Mỹ không có dấu. Khi mẹ con chị Hà mới đến, hàng xóm láng giềng, vốn quen với sự yên tĩnh, ít nhiều cũng có phản ứng khó chịu, nhưng dần dần họ quen đi. Tiếng khóc, tiếng cười của đứa bé không còn báo động sự ồn ào, không còn mang đến sự phiền toái, trái lại báo hiệu một sự sống đang đâm chồi. Thằng bé mang niềm vui đến thôn xóm nhỏ vốn thiếu vắng tiếng cười.
Lê Văn Biển hay Ben Le, lớn nhanh như thổi, trông kháu khỉnh với nước da ngâm đen và mái tóc phía trước hơi quắn lại. Trong “cul-de-sac” nhỏ này, mọi người, nhất là ông bà Paul, cưng và xem Biển như là con chung. Ngày sinh nhật 11 tháng 6 mỗi năm của thằng bé trở thành ngày hội của xóm. Mỗi người đóng góp một món đồ chơi, một chùm bong bóng. Năm nào cũng thế, bà Karen tự tay làm chiếc bánh sinh nhật thật to cho Biển. Biển học bơi rất sớm và cũng bơi rất giỏi. Bất cứ khi nào rảnh rỗi là cu cậu tuôn ra biển, phơi mình trên cát, trên sóng. Biển học giỏi và rất ngoan. Nếu ai hỏi thằng bé mơ ước gì khi khôn lớn, nó không ngần ngại chỉ con tàu đang chạy ngoài khơi, và mơ ước được trở thành thuyền trưởng.
Năm lên 7 tuổi, lần đầu tiên Biển muốn biết về ba của nó: “Thằng Chris có ba, tại sao con không có?” Chị Hà không dấu con: “Ba của con chết trên đường vượt biên từ khi con chưa ra đời”. Thằng bé thắc mắc: “Tại sao?” Chị không biết phải giải thích sao khác hơn với một đứa bé bảy tuổi, ngoài việc trả lời: “Tai nạn. Ba con chết trong một tai nạn trên biển”. Biển hỏi đuổi: “Tai nạn gì hở mẹ, mấy chiếc tàu tông nhau?” Chị Hà vuốt mấy sợi tóc quăn của con, âu ếm: “Không phải. Con còn nhỏ, mai mốt con lớn hơn mẹ sẽ kể thật chi tiết về tai nạn này cho con nghe”. Chị lấy trong xấp giấy tờ cũ, nhận từ Việt Nam, tấm hình đen trắng của một thanh niên chừng hai mươi tuổi đang ôm cây đàn guitar đứng dựa vào tường và bảo: “Đây là hình của ba con”. Biển nhìn chăm chăm vào tấm hình đen trắng, đưa lên đưa xuống, lật ngang, lật dọc, cố tìm một nét quen thuộc, một chút liên hệ với người trong ảnh mà từ lâu nó không biết. “Con giống ba không?” thằng bé hỏi. Chị lại gật đầu: “Giống chứ, nhưng con giống mẹ nhiều hơn”. Biển không chịu: “Con giống ba nhiều hơn vì da và tóc của ba cũng giống như của con”. Chị Hà cười, định giải thích vì tấm hình đen trắng chứ không phải vì da và tóc, nhưng lại thôi. Thằng bé không hỏi thêm nhưng từ đó, nó cũng dần dần biết buồn tủi khi bọn thằng Glen, thằng Chris có ba đưa đi xem đánh baseball, basketball còn nó thì không. Chị Hà an ủi con. Sinh nhật của Biển, chị mua cho thằng bé hai món quà, thay vì một. Chị bảo món quà sau là quà của ba. Chị đưa Biển đi chơi baseball với đám thằng Glen, thằng Chris. Nhiều khi chị phải ngồi hàng giờ, có khi đến khi trời sập tối, bên sân cỏ để đợi con.
Thằng Chris, đứa bé mà Biển hay đem ra làm ví dụ, là con của anh Brian, người đàn ông góa vợ, ở cách nhà chị Hà chừng hai dặm. Anh tình nguyện giúp chị Hà đưa đón Biển mỗi lần tập dượt vì hai đứa bé cùng chơi chung một đội bóng thiếu nhi. Chị từ chối mặc dù nhiều khi phải xin nghỉ việc sớm để đưa đón con. Ơn nghĩa sẽ dẫn đến lệ thuộc, chị nghĩ thế. Chị biết Brian rất tử tế, lịch sự và dĩ nhiên, có cảm tình riêng với chị. Một lần bên bờ biển chị suýt xiêu lòng khi Brian tha thiết tỏ tình. Nhưng chị đã dừng lại được. Những ngày lễ, Brian thường mời mẹ con chị đến nhà, hay cùng đi ăn với bố con anh, nhưng chị Hà thường tìm cách từ chối. Vợ của Brian, không biết mất vì bịnh gì, để lại cho anh đứa con trai 3 tuổi. Brian là một nhân viên quản trị trung cấp, làm việc cho một công ty tài chánh. Mỗi khi đi công tác xa về, ngoài việc mua quà cho thằng Chris, Brian không quên mua một món quà dành cho Biển. Anh không dám mua tặng chị Hà vì ngại chị lại sẽ từ chối như nhiều lần trước đó. Rồi Brian cưới vợ lần nữa. Vợ anh là một người làm cùng hãng. Đám cưới diễn ra linh đình. Thằng Biển được nhờ làm em bé cầm hoa đi trước cô dâu chú rể. Chị Hà cũng được mời và có mặt. Brian giới thiệu chị Hà với vợ rất ân cần và trịnh trọng. Hai gia đình từ đó gần gũi hơn. Trong những ngày lễ, vợ chồng Brian đến thăm mẹ con chị Hà, và ngược lại chị Hà cũng đáp lễ mỗi khi có dịp.
Sau sinh nhật mười tuổi của Biển không lâu, chị Hà ngã bịnh. Bác sĩ khám phá một cục bướu nhỏ trong tử cung chị và cần phải được cắt bỏ ngay. Khi điền giấy tờ đồng ý giải phẫu, chị Hà mới biết rằng mình không có ngay cả một người thân thích ở Mỹ. Chị không lo đến mình bằng lo cho tương lai của Biển. Chị là chỗ dựa duy nhất của thằng bé. Không có chị đời nó không biết sẽ ra sao. Chị Hà hoảng sợ khi nghĩ đến điều bất hạnh có thể xảy ra. Chị mời vợ chồng Brian đến bịnh viện để nhờ anh chị làm người bảo trợ Biển cho đến khi Biển được mười tám tuổi, nếu chị gặp phải chuyện bất trắc. Vợ chồng Brian xúc động nhận lời. Bịnh của chị không có gì trầm trọng. Mổ xong vài hôm, chị bình phục và tiếp tục cuộc sống với con trong căn nhà nhỏ.
Hai mươi hai năm trôi qua. Chị Hà đã già đi nhiều theo thời gian. Cô gái Việt Nam hai mươi bảy tuổi, mới ngày nào ẵm đứa con còn đỏ hỏn, đặt chân lên nước Mỹ, bây giờ đã là một bà mẹ năm mươi tuổi. Biển cũng thế. Anh chàng không còn là cậu bé suốt ngày phơi mình trên cát nhưng đang là sinh viên năm chót ngành hàng hải của trường đại học Boston. Có lần Biển đưa về nhà một cô gái tóc vàng, giới thiệu với mẹ là bạn gái. Chuyện con trai có bạn gái là chuyện bình thường, chị Hà chỉ mong Biển đừng vì thế mà xao lãng việc học hành.
Vợ chồng anh hàng xóm Brian đã ly dị nhau. Lần nầy Brian không cưới vợ khác, và cũng không tìm đến chị như lần trước. Anh quyết định dọn nhà đi tiểu bang khác. Thằng Chris, con trai anh, vừa học xong trung học thì đăng lính. Anh không có con cái gì với người vợ sau, nên anh chẳng còn gì phải bận tâm lo lắng. Trên đường ra phi trường, Brian ghé nhà chào chị Hà. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm quen biết, chị Hà lịch sự và tha thiết, choàng tay ôm nhẹ Brian. Chị nói nhỏ: “Chúc anh đi bình an và thành công, có dịp nhớ về thăm, tôi vẫn ở đây”. Brian xúc động: “Tôi sẽ không bao giờ hiểu được Hà”. Chị Hà cười nhẹ: “Vâng, anh sẽ không bao giờ. Chúng ta sống trong cùng một xóm nhưng hai thế giới tâm linh xa cách. Tôi chẳng biết nói sao hơn. Xin lỗi anh vậy”.
Cụ bà Karen chết trước cũng đã để lại một khoảng trống tinh thần và cả vật chất, không có gì bù đắp được trong đời sống của cụ Paul. Sức khỏe của cụ, vì thế, ngày càng giảm sút. Chị Hà rất lo cho người láng giềng gần gũi của mình. “Không chừng cụ Paul cũng sẽ ra đi”, chị than thầm. Thật vậy, buổi hẹn với bác sĩ lần đó kéo dài lâu hơn. Buổi chiều, xe cứu thương không đưa cụ trở về như thường lệ. Bác sĩ giữ cụ lại bịnh viện và khoảng tuần sau thì cụ chết. Người bà con ở xa lại đến dọn nhà, cắt cỏ. Vài tuần sau, một tấm bảng “Nhà bán” được cắm trước sân.
Ngày ra trường của Biển đã đến. Trong mọi ý nghĩa, đối với chị Hà, là một ngày trọng đại. Bao nhiêu năm nay chị chờ đợi một ngày này. Chị thầm nghĩ “nếu bây giờ chị có giải phẩu thêm lần nữa, và ngay cả có chết đi, thì cũng không phải lo lắng như mười năm trước”. Chị dự tính rất nhiều ngạc nhiên dành cho Biển. Mẹ con sẽ tổ chức một chuyến đi nghỉ hè xa, Paris hay London chẳng hạn. Anh Brian thường nhắc những cảnh lạ khắp nơi mà chị chưa bao giờ dám mơ tưởng tới. “Bao nhiêu lâu rồi nhỉ?”. Chị nhẩm tính thời gian hai mươi năm mẹ con chị sống hẩm hiu trong “cul-de-sac” vùng ven biển Plymouth nầy. Buổi sáng lễ ra trường, chị đến trường đại học rất sớm và chọn một chỗ ngồi tốt nhất để có thể thấy rõ con mình trong lễ phục tốt nghiệp màu đen, sắp hàng chờ nhận lãnh văn bằng. Chị Hà hãnh diện và cảm động ứa nước mắt. Không ai biết đó là những giọt nước mắt mừng vui hay đau xót của một bà mẹ đã hy sinh cho con suốt hai mươi hai năm. Biển nhận văn bằng xong, chầm chậm bước xuống lễ đài. Chị Hà đứng dậy dang tay chờ, nghĩ rằng Biển sẽ đến trong vòng tay trìu mến của mẹ. Chị mơ một ngày được nghe ba tiếng “Cám ơn mẹ” từ chính miệng Biển cất lên. Một sự trả ơn đơn giản nhưng quý giá nhất mà mọi bà mẹ cần được trả. Ngày đó sẽ là hôm nay. Chị nghĩ thế. Chị vẫn dang tay chờ nhưng Biển đã mất hút trong đám bạn bè nhộn nhịp. Quảng trường vắng dần. Mọi người đang lần lượt ra về. Chị Hà nóng ruột đi về phía cuối hành lang tìm con. Ở đó, dưới chân cầu thang, Biển và cô bạn gái tóc vàng, đang hôn nhau thắm thiết. Thấy chị, họ buông nhau ra. Cô gái tóc vàng vồn vã: “Hôm nay là một ngày đáng nhớ của hai đứa tôi. Tôi muốn bà cùng chia sẻ”. Chị Hà đáp: “Vâng. Tôi biết. Hôm nay cũng là ngày ý nghĩa nhất đối với tôi nữa”. Chị đang nghĩ về ngày tốt nghiệp kỹ sư hàng hải của đứa con trai duy nhất của chị. Cô gái tiếp: “Thế thì tốt quá. Chúng tôi định mùa hè này sẽ cưới nhau”. Chị Hà ngạc nhiên: “Cái gì?” Cô gái đáp: “Xin lỗi. Tôi tưởng là bà đã biết trước rồi. Ben đề nghị sáng nay và tôi đã nhận lời. Chúng tôi chưa chọn ngày nhưng có lẽ mùa hè này thôi. Sau đó chúng tôi phải về miền Nam coi sóc hãng xưởng của ba tôi”. Chị Hà quay sang Biển, hỏi bằng tiếng Việt hơi nặng giọng: “Có đúng thế không Biển?” Biển nhìn xuống chân, không đáp. Không đáp có nghĩa là thừa nhận. Đứa con trai duy nhất sắp sửa cưới vợ mà chị Hà không hề hay biết. Chị giận dữ bước xuống cầu thang không nhìn lại.
Ngồi trên chiếc ghế xếp cũ bên bờ biển, chị Hà ôm mặt khóc. Chị khóc không phải chỉ vì giận Biển nhưng khóc nhiều hơn cho cuộc đời hẩm hiu cô độc của mình. Hai mươi hai năm. Cuốn phim dĩ vãng đau lòng của cuộc đời chị một lần nữa chiếu lại.
Tất cả bắt đầu từ một buổi chiều khi chị Hà nhận được mảnh giấy nhỏ với hàng chữ: “Anh đã trốn trại và đang tá túc tại nhà một người quen ở Chu Hải. Em ra Chu Hải gấp ngày mai. Đừng cho ai biết. Hỏi nhà ông Đản. Khang”. Chị Hà mừng đến phát khóc. Khang còn sống và bình yên. Năm năm dài từ mùa bão lửa 1975, chị Hà thêu dệt giấc mơ đoàn tụ với người yêu bằng sợi chỉ hy vọng vô cùng mong manh. Nhiều lần chị Hà cố xua đi ý tưởng rằng Khang đã chết ngoài mặt trận hay đã vượt biên ra nước ngoài. Dì Thanh, vợ kế của ba chị Hà, thường bảo: “Coi thử trong trường có thầy nào chưa vợ thì cô chọn một thầy, đừng chờ đợi thằng Khang làm gì vô ích. Nó không chết thì cũng có vợ và ba bốn đứa con rồi”. Không. Khang của chị không chết. Khang của chị chưa có vợ và không có ba bốn đứa con. Khang vẫn sống và đang tìm chị. Anh chàng sinh viên khoa học gốc miền Trung, dạy kèm toán lý hóa lớp mười cho chị ngày nào, vẫn còn sống. Anh chàng nghệ sĩ với cây đàn guitar cũ, mỗi chiều dưới giàn hoa giấy bên hiên nhà, đắm đuối nhìn cô nữ sinh Trần Thị Thu Hà mà hát: “Nầy người yêu người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời…” vẫn còn sống.
Sáng hôm sau, như lời dặn trong thư, chị Hà thu xếp vài đồ đạc cá nhân và đi tìm nhà ông Đản ở ấp Chu Hải, ngoài Bà Rịa. Chuyến xe Sài Gòn Vũng Tàu đến trễ vì bị xét nhiều lần. Khi chị tìm ra nhà ông Đản thì trời đã tối. Ông dắt chị Hà đến một chòi lá ngoài ruộng, ở đó, Khang bằng da bằng thịt đang chờ đợi chị. Hai kẻ yêu nhau cuối cùng đã gặp lại nhau trong biển đời dâu bể. Họ trao cho nhau chiếc nhẫn cỏ làm tin trong chiếc chòi lá mục. Không có mặt trời rực rỡ bên sông như ngày xưa Khang thường hát, nhưng ít ra họ đã sống sót. Trong chiếc chòi lá ngoài vườn nhà ông Đản, họ hứa cùng nhau, dù thu vàng hạ đỏ hay nắng dãi mưa dầm, sẽ dìu nhau đi hết cuộc đời còn lại.
Khoảng ba giờ sáng, ông Đản ra chòi gọi hai người dậy, đưa ra ngoài sông và gởi họ cho chuyến vượt biên sắp khởi hành. Ông không đi vì đứa con trai ông, bạn tù của Khang, vẫn còn ở trong tù.
Chiếc ghe vượt biên quá nhỏ. Chiều dài chỉ mười một mét và chiều ngang vỏn vẹn một thước rưỡi. Dù nhỏ bao nhiêu thì đối với Khang, một tên tù trốn trại, không còn là điều chọn lựa. Dĩ nhiên chị Hà cũng thế. Đời của chị đã thuộc về Khang. Dù phải chết trên biển cả họ cũng sẽ không ân hận vì ít ra sẽ được chết bên nhau trong chung thủy vợ chồng.
Tháng Chín bắt đầu mùa biển động nhưng ghe chạy bốn ngày đầu không có chuyện gì trở ngại. Ghe đi về hướng đông. Không còn lo sợ việc tàu công an biên phòng chận bắt. Tuy nhiên, ngày thứ năm thì ghe chết máy. Chiếc la-bàn của hướng đạo sinh thường dùng trong những trò chơi, không xác định được vị trí của chiếc tàu, đang ở đâu và sẽ trôi dạt về đâu. Anh tài công không sửa được máy ghe, đành phó mặc cho định mệnh, đúng hơn là cho gió mưa, đưa đẩy chiếc ghe đến đâu thì đến. Ghe trôi dần về hướng nam. Thực phẩm hết. Nước uống cũng hết. May mà trời không có bão lớn. Nếu không, chỉ cần một cơn sóng mạnh cũng đủ để lật cả chiếc ghe đang chơi vơi trên biển cả. Những người còn sức khỏe thay phiên nhau tát nước. Thỉnh thoảng có một cơn mưa. Những người ngồi trên sàn ghe căng tấm ny-lông để hứng nước và chia nhau thấm giọng. Về đêm, biển đen như chiếc miệng con cá mập khổng lồ chuẩn bị nuốt chửng đoàn người đang trong cơn đói khát. Những đám mây đen đầy đe dọa đang vần vũ bay về. Qua ngày thứ sáu, chẳng còn ai đủ sức dù chỉ để khóc than hay cầu nguyện. Tiếng cầu kinh, tiếng niệm Phật cũng im bặt. Trong những điều im bặt, có cả tiếng khóc của đứa bé bị sốt trong đêm đầu khi ghe vừa ra khỏi cửa. Một người nào đó từ hầm ghe nói vọng lên: “Thôi chị buông cháu ra. Cháu nó đã đi lâu rồi”. Giọng một người đàn bà cãi lại: “Ai bảo thế. Con tôi mạnh khỏe thế này mà nỡ xấu mồm xấu miệng như rứa. Ngủ đi con, mẹ thương”. Tội nghiệp bà mẹ. Đứa bé đã chết từ lâu. Bà mẹ ôm xác đứa con hai tuổi suốt hai ngày đêm mà không nói, đúng ra là không dám nói, một lời. Bà mẹ không muốn nhìn cảnh người ta ném xác con hai tuổi của bà xuống biển. Mọi người đều kiệt sức. Không ai còn đủ sức để chia buồn hay khuyên nhủ bà. Vả lại, lát nữa đây, biết ai sẽ chia buồn ai. Không nói ra, trong lòng mấy chục người trên chuyến hải hành vô định này, cũng đang nghĩ đến cái chết.
Và cứ thế, ngày thứ bảy, ngày thứ tám lần lượt trôi qua trong đói khát và chờ đợi. Vài chiếc tàu biển đi ngang, xa tít ngoài khơi. Những người đàn ông vội vã tẩm dầu vào áo quần đốt lên làm tín hiệu. Không có một tín hiệu trả lời. Những chiếc tàu biển không thấy hay thấy mà không quan tâm cứu vớt.
Ngày thứ mười. Trong lúc chị Hà đang thiu ngủ thì tiếng Khang vọng xuống. “Có tàu đánh cá Thái Lan tới. Mấy bà, mấy cô trốn xuống hầm hết”. Hầm ghe quá nhỏ. Bước đâu cũng đạp phải người. Một số đàn bà lấy dầu máy bôi vào mặt. Cuốn tóc cao để giả làm đàn ông. Úp mặt vào lườn ghe không dám nhìn lên. Những câu chuyện về hải tặc được nghe kể nhiều lần từ những người đi lọt viết thư về, làm mọi người run sợ khi liên tưởng tới số phận mình. Nắp hầm bị ai đó mở tung. Ánh sáng rọi vào, soi rõ những khuôn mặt ngâm đen của đám thợ đánh cá Thái Lan. Chiếc ghe vượt biển bị chúng kéo buột vào ghe đánh cá bằng sợi dây thừng lớn. Từng người, bất kể đàn ông, đàn bà hay con nít đều bị kéo lên khỏi miệng hầm. Tất cả phải cởi áo quần để chúng khám xét. Nữ trang, đồng hồ, tiền bạc đều bị chúng cướp sạch. Chúng khám xét từng ngăn tàu, đâm thủng những thùng dầu, thùng nước uống, chúng nghi ngờ có dấu tiền đô, vàng bạc. Số phụ nữ, khoảng hai chục người, từ các bà mẹ năm sáu mươi tuổi cho đến mấy em bé chỉ hơn mười tuổi bị dồn vào một góc. Đàn ông, con nít bị đẩy xuống dưới hầm ghe. Một tên hải tặc cầm súng đứng trên miệng hầm ghe, trong khi hai tên khác cầm dao chặt cá lớn bảng đứng chặn hai đầu. Khám xét xong. Chúng thảo luận với nhau bằng tiếng Thái. Không hiểu bọn hải tặc bàn nhau những gì, chỉ nghe tiếng chúng cười sặc sụa. Một tên, có vẻ chỉ huy, liếc nhìn về phía đám phụ nữ đang đứng. Hắn chầm chậm bước tới, nhìn kỹ mặt từng người. Mỗi khi hắn chỉ vào ai thì hai tên hải tặc đàn em kéo cô gái bất hạnh đó ra khỏi nhóm. Người thứ sáu và cũng là người cuối cùng là chị Hà. Chị sợ hãi bật khóc. Mấy cô gái kia cũng khóc thét lên. Một bà mẹ bước ra, quỳ xuống sàn ghe vừa lạy vừa khóc, xin tha cho con gái mười lăm tuổi của bà. Nước mắt và những lời van xin của bà mẹ không lay động được tâm hồn của những con người không còn một chút lương tri. Bọn hải tặc cuốn dây để kéo chiếc ghe lại gần hơn. Chúng đẩy chị Hà và năm cô gái cùng số phận sang tàu đánh cá. Một tên đưa dao chặt đứt sợi dây thừng. Hai chiếc ghe từ từ xa nhau. Bên kia, chị Hà còn nghe tiếng Khang gào lên, trong đau thương, bất lực.
Sau suốt buổi chiều tàu chạy về hướng nam, nhóm chị Hà sáu người được đưa đến một hòn đảo san hô. Bọn hải tặc ra lệnh họ bước xuống tàu. Hai cô gái không bước nổi. Cô gái nhỏ tuổi ngã quỵ lên một bụi san hô. Những mũi san hô nhọn như chông đâm vào đùi cô, da thịt tướt ra, máu chảy đỏ cả đùi. Chị Hà và những cô gái còn sức, gắng gượng dìu nhau lên đảo. Sáu người ngồi trong một hang đá cách xa bờ, ôm nhau khóc. Một tên hải tặc ghé ngang, ném cho họ một hộp giấy đựng cơm trắng và thùng nước uống nhỏ. Hắn chỉ vào miệng ra dấu. Chị Hà chia mỗi người một nắm cơm và chuyền tay nhau thùng nước. Không ai dám ngủ, hoang mang, lo lắng nhìn nhau, liên tưởng đến một điều bất hạnh không tránh khỏi. Đúng vậy. Khoảng nửa khuya, nhiều tiếng chân nặng nề đi về phía hang đá. Hàng chục tên hải tặc trở lại. Ngọn đèn biển lẻ loi trên đảo soi bóng đám hải tặc đang đi tới như những bóng ma trơi. Chúng vực chị Hà và năm cô gái dậy. Kéo tay từng người ra ngoài bãi cát. Một cô gái vừa cất tiếng khóc đã bị một tên hải tặc đánh mấy bạt tai. Chúng hãm hiếp chị Hà trước. Những mủi kim đâm đau buốt vào da thịt chị. Chị nhắm mắt, không khóc thành tiếng nhưng nước mắt cứ tuôn theo cơn đau đang chạy dài vào tận mỗi tế bào. Bọn hải tặc say sưa, điên cuồng, man rợ trên thân thể của những cô gái Việt Nam yếu đuối. Và cứ thế chúng thay phiên nhau hãm hiếp từng cô gái. Tiếng cô bé mười lăm tuổi bị thương thét lên trong đau đớn. Không ai nghe. Không có Chúa và Phật. Trên cù lao san hô ngoài vịnh Thái Lan chỉ có tiếng khóc của sáu con chim non Việt Nam và tiếng cười man rợ của bầy ác điểu Thái Lan. Sau vài giờ, bọn hải tặc ra đi, bỏ mặc sáu cô gái với thân thể lõa lồ nằm ngất xỉu trên cát. Gần sáng họ cố lê lết đến gần nhau, giúp nhau lau những vết máu còn đọng lại trong thân thể trầy trụa và dìu nhau đi tìm chỗ nằm qua đêm. Đây chỉ mới là đêm đầu tiên trong chuỗi ngày khổ nhục dài vô tận.
> Buổi sáng, chiếc tàu hải tặc lại ra khơi. Chị Hà và một cô gái gắng gượng đi vòng quanh đảo, với hy vọng mong manh tìm được một nơi để trốn. Hòn đảo thật ra chỉ là một cù lao nhỏ trồi lên giữa vịnh, chung quanh toàn là san hô nhọn, nhìn ra xa chỉ thấy mịt mờ mây nước tận chân trời. Không ai biết nơi này là đâu, hòn đảo này tên gì và ngày mai, đêm mai, đời họ sẽ ra sao. Cũng từ những hốc đá đó, chị Hà biết rằng nhóm chị không phải là những người đầu tiên bị bắt vào đây. Rơi rớt trong các hốc đá là những mảnh áo quần rách tả tơi còn dính máu, dấu tích của những chống cự, đấu tranh, cưỡng bức, hành hạ. Nhiều nơi còn có cả tên tuổi, địa chỉ, chuyến ghe, ngày ra đi và bến bãi khởi hành của người bạc hạnh. Một chỗ ghi: “Em là Lê Thị …, phường … thị xã Bạc Liêu, ai đọc được xin báo dùm cho mẹ là bà Phan Thị … biết”. Một chỗ khác: “Tôi là Nguyễn Thị …., địa chỉ ….Cách Mạng Tháng 8, Quận 10, Sài Gòn, bị bắt vào đây ngày 15 tháng 2 năm 1978. Ghe tôi có 74 người, vào đây còn sống được 21 người. Ai đọc được tin này làm phước báo cho gia đình tôi biết”. Và cứ thế, trong mỗi hốc đá, mỗi mặt bằng, đều có dấu vết của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh bị bắt đến trước, bị hãm hiếp trước, và có thể đã chết trước.
Buổi chiều, khi nhóm chị Hà lay hoay chưa tìm ra một cách trốn thì chiếc tàu đánh cá Thái Lan lại trở về. Chúng đem cho nhóm chị một thùng cơm, một ít cá khô mặn và một thùng nước. Chị Hà lại chia thành sáu phần và khuyên mọi người cố gắng ăn để sống. Cô bé mười lăm tuổi, có bà mẹ quỳ van xin bọn hải tặc, không ăn uống được. Sau một đêm bị hiếp dâm tập thể cô bé kiệt sức. Vết thương do mũi san hô nhọn đâm vào đùi cô bé hôm qua cũng bắt đầu nhiễm trùng. Chân cô sưng đỏ. Cô bé sốt. Miệng không ngớt gọi “mẹ ơi” trong mê sảng. Chị Hà ngồi bên cạnh cô bé, thầm nghĩ, nếu đêm nay bọn hải tặc quay lại đây hành hạ lần nữa như đêm qua, cô gái này sẽ chết. Sau vài phút suy nghĩ, đắn đo, chị Hà đứng dậy đi về phía cuối bãi, nơi chiếc tàu đánh cá đang thả neo. Đám hải tặc ngạc nhiên nhìn chị, có tên bật cười hô hố. Chị Hà chỉ về phía hang đá. Đám hải tặc nhìn nhau, bàn tán, cuối cùng một tên đứng dậy đi theo chị. Chị Hà đưa tên hải tặc đến chỗ cô bé bị thương ở đùi và chỉ vào trán cô gái. Hắn nhìn vết thương sưng đỏ và sờ vào trán đang bị sốt của cô bé. Hắn không nói gì, ra dấu cho chị đưa cô bé vào phía trong hang, rồi bỏ đi.
Nửa khuya, bọn hải tặc lại đến. Một tên cầm đèn pin đi trước. Như đêm qua, chúng kéo từng người ra ngoài bãi, tiếp tục hành hạ một cách man rợ. Chị Hà không khóc. Chị nằm im như một xác chết. Đêm nay chị cảm thấy bớt đau hơn bởi vì trí óc chị chỉ tập trung vào cô bé. Chị van vái chúng đừng hành hạ cô. Cũng may, tên cầm đèn pin, chính là tên đi theo chị hồi chiều, đã dặn trước đồng bọn hãy tha cho cô bé. Hắn đem theo đèn pin cốt để nhận diện cô. Và cứ thế, ngày thứ ba, thứ tư, mỗi đêm đều có bọn hải tắc ghé qua.
Đến ngày thứ năm, bọn chúng không trở lại. Nhưng chị Hà cũng hoàn toàn không còn biết gì nữa. Không ai trong sáu cô gái còn ý thức gì về những sự việc chung quanh. Sáu thân thể lõa lồ, nhầy nhụa đang nằm chờ chết. Chỉ có chết mới không biết thế nào là đau đớn. Chết là một lối thoát thanh thản nhất trong lúc này. Chị Hà thiếp đi trong cơn mê.
Khi tỉnh dậy, chị thấy mình nằm trong một căn phòng bệnh viện. Một bác sĩ người Mỹ, khoảng ngoài 60 tuổi, có đôi mắt hiền từ, đang đứng bên cạnh. Bình nước biển treo trên góc giường. Ông tự giới thiệu bằng tiếng Việt khá thành thạo, tên ông là John Breston, làm việc thiện nguyện giúp người Việt tỵ nạn tại Thái Lan từ hai năm nay. Ông bóc cho chị một múi cam. Chị đưa tay trái cầm lấy. Chỉ khi đó, chị mới biết mình sống sót. Ông biết rất rõ chị từ đâu tới nhưng không nhắc gì về những chuyện đau lòng đã xảy ra. Chị nhìn chung quanh nhưng không thấy có ai quen. Chị hỏi ông về số phận của năm cô gái đồng cảnh ngộ, nhất là cô bé mười lăm tuổi. Bác sĩ Breston cho chị biết sau khi được tàu hải quân Thái Lan cứu vớt, họ đã được chuyển đến nhiều bịnh viện khác nhau. Mọi người đều đang dần dần bình phục. Chị Hà nằm trong bịnh viện gần một tuần lễ, trước khi được chuyển về trại Panat Nikhom để lo thủ tục định cư. Chị hỏi thăm văn phòng Cao Ủy và những chuyến tàu đến cùng một thời gian với chị nhưng không một ai biết gì về Khang, cũng như số phận chuyến tàu khởi hành từ Chu Hải.
Khoảng hai tuần sau khi xuất viện, chị Hà lại phải trở vào bịnh viện. Chị nghĩ có thể chỉ là một cơn sốt nhẹ. Bác sĩ Breston, sau khi khám sức khỏe, thử máu, dặn chị Hà ngày mai trở lại. Sáng mai, khi chị đến, Bác sĩ Bresten mời chị vào phòng riêng. Ông lật hồ sơ bệnh lý của chị, nhìn chăm chú vào mắt chị và nói nhỏ, thật nhỏ, như chỉ để một mình chị nghe. Chị Hà không tin những gì bác sĩ Breston nói là sự thật. Ông đưa chị coi kết quả thử nghiệm. Chị Hà vừa coi xong là ôm mặt khóc. Như một người cha hiền từ, Bác sĩ Bresten bước tới đặt tay lên vai chị và an ủi: “Khóc đi. Hãy khóc nhiều như cô cần được khóc. Nhiều khi không có phương thuốc nào tốt hơn là nước mắt”. Một hồi lâu, khi nước mắt giúp vơi dần cơn đau xót, chị lấy hết can đảm nói: “Phải bỏ nó đi, bác sĩ ạ”. Chị cay đắng nói tiếp: “Đó là di sản của một tội ác”. Chị Hà kể lại một cách chi tiết hành trình vượt biên mà chị và năm cô gái đã trải qua. Bác sĩ lắng nghe một cách trang trọng và cảm thông. Cuối cùng ông chậm rãi: “Vâng, điều đó tùy ở cô. Trong tư cách bác sĩ, tôi sẽ làm theo quyết định của cô, mặc dù như một con người, tôi không hẳn đồng ý như vậy”. Không đợi chị Hà phản ứng, ông tiếp: “Bởi vì, làm thế nào cô biết đó là di sản của một tội ác? Và dù có đúng đi nữa, di sản đó không thể là tội phạm khi nó chỉ là một bào thai”. Ngừng một chút ông giải thích: “Năm cô gái trong cùng chuyến của cô đã được chuyển sang nhiều trại khác nhau để bảo vệ quyền riêng tư và an toàn cho tương lai họ. Chuyện của cô ở đây không ai biết. Chúng tôi, thậm chí, cũng có thể đưa cô ra ngoài trại, sống với một nhà bảo trợ, sau khi sinh xong và nghỉ ngơi, chúng tôi sẽ giúp cô hoàn tất thủ tục định cư”. Chị Hà thắc mắc: “Còn đứa bé?” Bác sĩ đáp: “Đứa bé vô tội. Chúng tôi sẽ có người lo lắng cho nó. Hội thiện nguyện sẽ tìm cho nó cha mẹ nuôi để nuôi dưỡng nó nên người. Nó có thể không biết quá khứ của cha mẹ đã sinh ra nó nhưng chắc chắn sẽ có một tương lai tốt đẹp như bất cứ đứa trẻ nào khác trên thế giới”. Chị Hà mềm lòng trước sự tha thiết, tình thương người, tính thuyết phục trong lý luận của bác sĩ và bản tánh hướng thiện tự nhiên của chị, nên chấp nhận đề nghị của ông.
Bào thai mỗi ngày một lớn. Đêm đêm chị nằm lắng nghe tiếng cựa của đứa bé sắp chào đời và thương cho số phận bất hạnh của con như thương lấy chính cuộc đời khốn khổ của chị. Đứa bé sẽ không biết cha và cũng sẽ không biết mẹ. Làm sao một con người có thể “sống xứng đáng như mọi đứa trẻ khác trên thế giới”, như lời ông bác sĩ nói, nếu sinh ra không cha mẹ, không quá khứ? Và khi giao nó cho hội từ thiện, chị sẽ làm gì với cuộc đời còn lại của mình? Chị sẽ về đâu trong trái đất nầy? Chị không thể về lại Việt Nam để sống với bà vợ kế của ba. Khang có thể đã chết. Cho dù Khang còn sống đi nữa, chị cũng không nên gặp lại Khang. Gặp lại để làm gì. Bên kia sông không phải là ánh mặt trời như Khang thường lý tưởng hóa mà là bóng tối, là lỡ làng, khinh rẻ. Người duy nhất trên đời này, cùng cảnh ngộ bất hạnh như chị không ai khác hơn là đứa bé đang nằm trong bụng chị. Bác sĩ Breston nói đúng một điều: đứa bé hoàn toàn vô tội. Chị đưa tay vuốt ve chiếc bụng tròn như để xin lỗi và hứa với con: “Mẹ sẽ sinh con ra, sẽ ẵm con đi một nơi thật xa, ở đó sẽ không ai biết đến mẹ con mình. Mẹ sẽ nuôi con nên người. Chúng ta sẽ sống với nhau. Con có thể sẽ không bao giờ biết đến quá khứ của cha mẹ con, nhưng con sẽ có tương lai bởi vì con có mẹ”. Buổi chiều ngày 11 tháng 6 năm 1980, thằng bé cất tiếng khóc chào đời trong một bịnh viện nhỏ ở Bangkok. Mẹ nó cũng khóc, và ngay cả khóc nhiều hơn nó. Bác sĩ John Breston bảo chị đặt tên con. Chị đáp: “Hãy đặt tên nó là Biển, bởi vì nó là con của biển”. Chị giữ lại họ Lê, là họ của Khang để làm kỷ niệm. Sáu tháng sau, đích thân bác sĩ John Breston lái xe đưa mẹ con chị Hà ra phi trường đi Mỹ định cư.
Hai mươi hai năm sau. Hai mươi hai năm chị sống trong âm thầm và chịu đựng. Chị không muốn ai biết về mình. Hai mươi hai năm chị sợ hãi và trốn tránh con người. Hai mươi hai năm, sáng nay là lần đầu tiên chị giận dữ với con ngay trước mặt người vợ chưa cưới của nó.
Tại sao? Chị tự hỏi. Tại sao chị có thể phản ứng như thế được nhỉ? Chị đã hy sinh hai mươi hai năm, tại sao chị lại không thể hy sinh một lần chót vì hạnh phúc của con? Lẽ ra chị nên vui khi thấy con trai duy nhất của chị sắp sửa có một gia đình, một người vợ do chính nó chọn lựa. Lẽ ra chị nên vui khi đã làm xong lời hứa với chính mình hai mươi hai năm trước. Đúng thế. Chị chưa sống trọn vẹn với lời hứa của mình. Chị hối hận về thái độ khắt khe của mình ban sáng. Chiều nay, nếu Biển trở về nhà, chị sẽ xin lỗi con. Biển ngoan lắm, chắc chắc nó sẽ vui và tha thứ cho mẹ. Chị thầm hứa sẽ không buồn, không rơi nước mắt khi tiễn con đi về California với vợ. Còn đời chị? Chị cười chua chát. Chị làm gì có cuộc đời riêng. Cô giáo viên Trần Thị Thu Hà đã chết trong một đêm trăng khuyết trên đảo san hô năm đó. Chị Hà vội vã đứng dậy để về gặp con.
Một người đang đứng chờ sau lưng chị từ lâu. Chị quay lại, thì ra đó là Biển: “Bạn con đâu?” Chị hỏi trong lo lắng. Biển đáp: “Cô ấy về California một mình rồi. Chúng con đã chia tay nhau”. Chị Hà thắc mắc: “Tại sao?” Biển không nói, bước tới ôm chầm lấy mẹ: “Mẹ. Mẹ tha thứ cho con. Con xin lỗi mẹ. Khi mẹ ra về con mới hiểu ra rằng con có thể sống không có Linda nhưng không thể không có mẹ”. Chị Hà cảm động đến rơi nước mắt. Chi vuốt mái tóc hơi quắn của con: “Con tôi thật sự trưởng thành rồi”. Hai mẹ con ôm nhau khóc. Lần đầu tiên trong đời mình, chị Hà khóc vì hạnh phúc, một khái niệm mà hơn hai mươi năm chị chưa từng nghĩ tới. Tháng sau, Biển được nhận làm kỹ sư cơ khí hàng hải cho một hãng tàu buôn lớn ở Boston. Hai năm sau Biển lập gia đình với một cô gái Việt Nam hiền hậu. Chị Hà đặt tiền ứng trước để mua tặng vợ chồng Biển ngôi nhà của cụ Paul, để làm quà cưới cho con. Và sau đó không lâu, khu nhà yên tĩnh vùng biển, lại lần nữa vang lên tiếng khóc trẻ thơ, báo hiệu một sự sống vừa mới ra đời để nối tiếp cuộc vận hành biến diệt không cùng của thời gian và vũ trụ.

Trần Trung Đạo

ĐÊM MÙNG 6 TẾT.

hochibuu

Sương gió – muôn đời sương khói bay
Chiều Xuân còn đọng lại chút nầy
Em xa vạn dậm- đừng mong đợi
Ta vốn quen rồi – tình trắng tay

Có phải ta là tên lãng du
Tìm quên trong những khói sương mù
Tìm mình trong đáy ly rượu cặn
Hồn rớt trên vành mây viễn du

Em đã xa rồi- quên cố hương
Mùa Xuân hoa dại nỡ bên đường
Bên kia – hoa tuyết rơi đầy lối
Có lẽ em từng thương nhớ thương ?

Ta gã giang hồ – yêu gió trăng
Xác ở trần gian- hồn cung hằng
Lững lơ theo cánh hoa màu tím
Vỡ mộng bên đời- mây xám giăng…

Mùng 6 tháng giêng phải không em ?
Mình ta bên phố nhỏ không đèn
Mình ta đếm gót bằng cô độc
Bất chợt nghe mình thương nhớ em..

Đêm đã khuya rồi- ta nhớ thêm
Choàng vai – sương lạnh – tóc em mềm
Ngày xưa – thoáng đã mười năm chẳn
Xa lắc – chỉ còn ta với đêm

Mắt ướt – bây giờ ta với ta
Xa rồi hương vị của ngày qua
Bao giờ em sẽ về thăm lại ;
Một gã giang hồ – Hay chính ta ?

HỒ CHÍ BỬU

TRĂNG CUỐI MÙA

nguyenanbinh

Vẫn là trăng của ngày xưa
Mang theo nỗi nhớ tôi đưa tiển người
Mỏng manh tiếng hát bên đồi
Ngoài hiên hoa rụng trắng trời bóng mưa.

Vẫn là em của tôi xưa
Bao mùa lá đỏ sao chưa bước về
Ngày đi vàng nụ trăng thề
Long lanh sóng nước vỗ về hồn tôi.

Vẫn là ngày mộng đêm trôi
Nên tình dâu bể không lời thở than
Thôi thì xin hạt sương tan
Để quên một thuở trăng tàn bên song.

Vẫn là tình suối duyên sông
Nên gieo neo mãi tiếng lòng ai đan
Thôi thì buông sợi tơ vàng
Tình tôi nặng nợ giọt trăng cuối mùa.

NGUYỄN AN BÌNH
Tháng 2/2015

BÔNG HỒNG VÀNG CHO KHẢO MAI

buithanhxuan

Cô gái nghiêng người phả khói thuốc. Một vòng tròn màu sương tan nhanh
“ Ừ, thì người ta vẫn thường gọi tôi là con đĩ. Có sao? Khối đứa con gái, đàn bà tự vỗ ngực cho cho rằng mình thuộc đẳng cấp cao còn tồi tệ hơn lắm đứa làm đĩ như chúng tôi.
“ Anh bảo rằng kỷ niệm ngày phụ nữ có ai tặng quà cho tôi không à ? Tám tháng Ba là cái ngày gì ? Tôi mang máng hiểu đó là ngày dành cho phụ nữ. À, có lẽ vậy. Từ lâu lắm rồi chẳng nghe ai gọi chúng tôi là phụ nữ cả thì làm gì có ngày ấy dành cho chúng tôi. Cứ gọi tôi là con đĩ đôi khi thấy nhẹ lòng hơn những lời mỹ miều thô kệch của đám trọc phú , quan lại lắm tiền khi họ muốn lấy lòng . Tôi muốn vậy. Có đĩ thõa tôi mới moi được đồng tiền dơ bẩn chúng nó. Đồng tiền ấy sẽ được rửa sạch khi chúng nó nằm trên bụng tôi rên hừ hự như bầy sói đói mồi. Họ thiếu thốn tình dục, thèm khát cái đĩ thõa, mua tôi trong vài giờ hay vài chục phút. Thậm chí trong nhiều ngày để làm cảnh cho cái gọi là đẳng cấp của họ. Sòng phẳng, đường ai nấy đi, việc ai nấy làm”
“Một lũ khốn kiếp! À, mà không! Không phải tất cả khách hàng của tôi đều là lũ khốn kiếp. “Nhiều năm rồi tôi không gọi đám đàn ông các anh bằng chú, bác hay ông. Tất cả là Anh. Trẻ cũng anh, già cú đế đáng ông tôi cũng bằng anh. Không có danh xưng nào khác khi tôi cần đồng tiền của họ. Mà gọi bằng gì chẳng được. Ông hay chú hay anh cũng vậy thôi. Cũng nhớp nháp, phì phò nhưng khác cái âm điệu chậm nhanh. Tiếng thở hay một âm thanh phát ra từ cổ họng của đám đàn ông khi xong việc mỗi người mỗi khác. Nó như khẩu vị, chẳng ai giống ai”
“Một lần tôi trở về nhà mệt nhoài vào lúc gần sáng, Căn nhà của mẹ tôi để lại trên con đường hoa bằng lăng tím. Tôi mở cửa, ngọn đèn màu đỏ bập bềnh từ bàn thờ Mẹ vừa đủ rọi xuống cho lũ chuột bu quanh ca hát, chợt nhận ra mình là một con đĩ xinh đẹp đắt khách nhưng cô đơn, đau khổ. Tôi đến trước gương, mở to mắt để nhìn mình kỹ hơn. Khuôn mặt bơ phờ sau lần bị dày vò nhưng vẫn nghĩ rằng mình còn dư sức quyến rũ khối thằng đàn ông u mê đầy dục vọng. Tôi vẫn cho mình là con đĩ quá lứa nhưng vẫn xinh đẹp như Thiên nga. Một con thiên nga làm điên dại lũ đàn ông háo sắc. Tôi vẫn cho mình là con đĩ quá lứa nhưng vẫn xinh đẹp như Thiên nga. Một con thiên nga làm điên dại lũ đàn ông háo sắc.”
“Đĩ cũng có nhiều loại. Đĩ trí thức, đĩ nghệ sỹ, đĩ đứng đường, đĩ cao cấp. Loại đĩ nào cũng cần phải trang trí màu sắc, phủ lên thân thể đủ mùi thơm mình đủ để quyến rũ bọn họ như hoa quyến rũ những loài ong hung dữ. Tôi không biết mình thuộc loại nào nhưng tự hào về sắc đẹp và sự nỗi tiếng của mình. Luôn biết chọn lựa loại khách nào mình muốn tiếp. Đó là những tên khốn kiếp lắm tiền, những lão già độc ác. Tiếp càng nhiều tên vô lại nổi tiếng, mình càng nổi tiếng và không bao giờ lo sợ mất khách”
“Người đời lên án, phỉ nhổ con đĩ nhưng họ quên rằng lắm kẻ cao sang cũng nhơ bẩn gấp trăm lần. Việc gi cũng phải trả giá. Cái giá tôi đang trả là cả cuộc đời mình”

“Ly cà phê chiều nay tôi thấy đắng hơn nhưng cám ơn anh đã mời. Buổi chiều khá đẹp. Tháng ba rồi. Nắng dịu dàng như mẹ tôi. Mẹ tôi. Mẹ..tháng ba..Có cái ngày phụ nữ trong tháng ba này thật sao? Nó không dành cho tôi. Không bao giờ!
Cô gái rít thuốc một hơi dài, thả vòng tròn trên mặt bàn
“ Tôi bất hạnh. Ba mươi hai tuổi rồi, chưa biết cảm giác yêu và được yêu như thế nào. Tôi nhận nhiều món quà đắt tiền nhưng hoa thì không.Tôi muốn đúng ngày đó anh đến thăm tôi với một bông hồng màu vàng. Tôi quý mến anh. Nhớ đấy! Một bông hồng màu vàng. Hôm ấy tôi không tiếp khách. Nhất định anh phải đến. Tôi muốn được một lần trong đời nhận hoa ngày tám tháng ba từ một người đàn ông. Nhưng chỉ một cánh hồng vàng thôi. Tôi muốn vậy! Anh đến vào lúc chín giờ sáng. Chìa khóa đây! Anh giữ một cái. Khi đến, trước khi vào phòng tôi anh hãy mang ba cái ly và chai rượu đặt sẵn trên kệ sách ngoài phòng khách. Một cái để cắm hoa, còn hai cái kia, cho tôi và anh..Tôi cần anh ở lại với tôi trong chốc lát. Còn ngọn nến màu trắng nữa. Anh thắp lên cho căn phòng ấm áp. Có điều này phải nhớ, không được thốt lên lời nào. Hãy nhìn tôi, hãy cho tôi một ngày tám tháng ba thật hạnh phúc duy nhất trong đời.
Đúng chín giờ ngày tám tháng ba. Anh làm ơn nhớ đấy!
Thôi, anh có thể tiễn tôi về ”

Người đàn ông tóc đã hoa râm nhưng chẳng màng nhuộm đen thận trọng dìu người phụ nữ trẻ xinh đẹp, tóc ngắn, nhuộm phớt nâu bước xuống thềm tam cấp quán cà phê nơi góc phố ồn ào. Đôi mắt cô ươn ướt. Ông gọi taxi đưa cô về nhà còn mình rảo bước trên hè phố một mình. Đây là lần đầu tiên ông trở về nước sau hơn bốn mươi năm lưu lạc xứ người. Ông là một bác sỹ, giàu có nhưng cô độc.
Lần trở về này ông chẳng tìm gặp ai. Chẳng còn ai cho ông gặp gỡ. Mục đích chuyến đi là tìm lại cội nguồn của mình trong những tháng năm cuối đời với hi vọng còn mang theo được những kỷ niệm thời trai trẻ.
Ông quen Khảo Mai trên một trang mạng xã hội. Cái tên của người phụ nữ chẳng nói lên điều gì nhưng với ông lại khác. Ông đã tìm kiếm cái tên này hằng ngàn lần. Chuyện trò qua mạng với khá nhiều phụ nữ có cái tên kỳ lạ như vậy để hi vọng tìm lại một người. Ảnh đại diện của cô gái có chiếc cằm nhỏ, đôi mắt ẩn dưới hàng lông mi cong vút quyến rũ đã gợi cho ông nhớ về một người phụ nữ khác có cái tên giống cô. Khảo Mai.

Ông ngồi trong quán cà phê Memory trên tầng hai từ sáng sớm. Bình minh lên trên sông. Chiếc cầu bắt ngang qua dòng nước lung linh thật đẹp. Ông nhìn đồng hồ. Chín giờ kém mười lăm. Ông đến quầy tính tiền rồi thong thả bước ra hè phố gọi taxi đến nhà Khảo Mai.
Ông mở khóa cửa bước vào nhà.
Như cô đã dặn, trên kệ sách có ba cái ly và một chai rượu. Trên bàn còn hai cây nến trắng chặn một bì thư phía dưới. Khi ông nhấc nến lên, chiếc bì thư lộ ra dòng chữ : “ Kính gửi Chú Vĩnh Đoàn”. Ông sững sờ khi đôi mắt lướt trên năm con chữ, vội đến trước cửa phòng Khảo Mai rung nhẹ chiếc chuông gió. Không có tiếng trả lời. Ông rung thêm vài lần nữa rồi nhẹ nhàng đẩy cửa bước vào.
Trên tấm nệm Khảo Mai nằm yên lặng, hai mắt khép kín, tay phải đặt lên ngực Màu đỏ loang phía bên trái tấm nệm vẫn còn tươi. Ông hoảng hốt đặt tay lên khuôn mặt của cô rồi cầm cánh tay trái bóp chặt. Bàn tay vẫn còn chút hơi ấm nhưng trái tim đã ngừng đập. Khảo Mai đã tự cắt mạch máu trên cánh tay trái của mình.
Ông không đốt ngọn nến như Khảo Mai đã dặn. Rót lưng chừng hai ly rượu rồi cắm nhánh hoa màu vàng vào ly rượu thứ ba đã đổ đầy, thất thần ngồi nhìn khuôn mặt thiên thần có đôi mắt khép chặt.

“Chú sẽ bất ngờ khi con biết tên chú phải không?Không còn gọi chú bằng Anh như trước nữa bởi vì con đã nhận ra chú chính là người yêu một thời của Mẹ nhưng vẫn âm thầm giữ kín trong lòng. Những lần chú mời con đi ăn, đi uống cà phê và kể về người con gái chú yêu thương hơn bốn mươi năm trước. Con dần nhận ra đó chính là Mẹ yêu quý của mình.
Chú đến tìm con không như những gã đàn ông lắm tiền khác. Họ cần thân thể con còn chú chỉ muốn biết tâm hồn con nghĩ gì. Chú vẫn trả tiền đều đặn mỗi lần đến thăm. Số tiền đó con đã gởi vào tài khoản của mình trong thẻ ATM gởi kèm theo cho chú với bức thư này. Mật mã của thẻ là MẸ TÔI
Chú Vĩnh Đoàn kính mến!
Con là đứa con gái duy nhất hư hỏng của Mẹ. Tên thật của con là Khảo Mơ. Vì không thích cái tên này nên con đã dùng tên của Mẹ làm nickname của mình.
Trước khi mất, Mẹ đã kể cho con nghe rất nhiều về chú, về mối tình đầu của hai người. Những lá thư chú gởi cho Mẹ, con vẫn còn giữ. Mẹ bảo là kỷ vật, đừng bao giờ đánh mất. Biết đâu một ngày nào đó sẽ gặp chú và trao lại những bức thư này.
Mẹ kể rằng sau cuộc chiến đợi chú trở về trong vô vọng .Trong căn nhà vắng vẻ chỉ còn lại một mình Mẹ nên chiều chiều hay ra ngồi trước thềm nhà có trồng mấy chậu hoa hồng vàng, người ta qua lại, bảo Mẹ còn đầu óc phong kiến, tiểu tư sản. Mẹ khóc nhiều lắm.
À, có điều này có thể chú không biết. Mẹ cũng là một con đĩ. Nhưng Mẹ yêu chú đến khi nhắm mắt. Lời cuối cùng Mẹ gọi không phải tên con mà là Vĩnh Đoàn, mặc dù tay Mẹ trong bàn tay con.
Một tiểu thư đài các không chống đỡ nỗi những cơn sóng dữ cuộc đời. Bà Ngoại mất khi Ông Ngoại trong trại tù. Mẹ làm đĩ nuôi đàn em nhỏ dại cho đến khi con ra đời. Ba của con là một gã đàn ông khốn kiếp và Mẹ làm gái bao cho con người này suốt một thời gian dài. Ông ta đã không nhìn nhận đứa con gái bất hạnh cho đến khi con lớn lên, được học hành, được yêu thương trong vòng tay Mẹ.
Mẹ qua đời trong buổi chiều nắng thật đẹp. Mẹ gọi tên chú, miệng mĩm cười rồi thiếp đi mãi mãi. Có lẽ lúc đó Mẹ nhìn thấy chú, đang cùng chú tung tăng dưới hàng cây dọc bờ sông như Mẹ thường kể cho con nghe. Khuôn mặt Mẹ hạnh phúc. Con tin Mẹ sẽ đem niềm hạnh phúc ấy đi theo. Hôm ấy là 11/3, sinh nhật con mười bảy tuổi.
Con tiếp tục học hành như lời Mẹ trăn trối. Tháng năm trên giảng đường con đã cố gắng rất nhiều. Để có tiền con phải làm nhiều việc nhưng rất khó khăn. Có lúc đói quá chỉ có củ khoai nguội thay cơm. Rồi con làm gái bao cho nhiều gã đàn ông da nhăn nheo tóc bạc. Ra trường, lạị phải đổi thân xác cho tên hiệu trưởng đốn mạt để được đứng lớp. Rồi con bỏ dạy..
Hai mươi lăm tuổi, con nhận ra rằng cuộc đời này quá nhẫn tâm. Người ta sống với nhau dối trá, lừa lọc, phỉnh nịnh. Con rơi vào trạng thái trầm cảm để rồi bước đi trên con đường Mẹ đã đi
Con làm đĩ!
Thì đã sao nào?Không tự hào cũng chẳng xấu hổ, băn khoăn với việc mình làm. Có người hỏi con là giáo viên. Con bình thản trả lời rằng “ Tôi là một con đĩ” Con căm thù người đàn ông mà mình trót mang dòng máu. Căm thù gã hiệu trưởng đê hèn, căm thù những tên đàn ông khốn kiếp đã dày xéo thân thể con. Căm thù tất cả đàn ông trên thế giới này thì việc đi làm đĩ, có gì để mà xấu hổ.
Con làm đĩ để trả thù cho Mẹ con, cho con và hàng ngàn cô gái bất hạnh khác. Con rửa sạch những đồng tiền dơ bẩn trên thân xác mình. Nhiều gã đàn ông đạo mạo, lịch thiệp nhìn thấy trên TV hay nói những câu hoa mỹ, giáo điều đã đi qua thân thể con. Khi cửa phòng đóng lại, họ lột xác nguyên hình là những con quỷ, nói những lời thô tục và hành động như lũ heo đói.
Có nhiều tiền, có đủ thứ nhưng con vẫn là người phụ nữ bất hạnh, cô đơn đến khủng khiếp.
Có lần chú đã hỏi con cần nhiều tiền để làm gi? Biết phải trả lời chú sao đây?Nhiều người, tiền dạy cho họ hai chữ vô ngôn. Họ bất chấp thủ đoạn để có nhiều tiền. Cuốn họ vào thế giới hiện sinh. Con đã tiếp nhiều loại khách sang trọng, nhiều người có địa vị và tiền bạc nên hiểu được nhiều điều. Những khi con ngồi làm nền cho các buổi tiệc xa hoa để xem họ diễn kịch mới thấy được đồng tiền là sợi dây ràng buộc các quan hệ bất chính xuyên thời gian và không gian.
Con lại phải rửa sạch một phần nhỏ nhoi những đồng tiền dơ bẩn của bọn họ, âm thầm giúp đỡ những kẻ khốn cùng. Chẳng nhân danh ai, con lại đến với những cô gái đứng đường cấp thấp. Có người được con cứu vớt ra khỏi vũng lầy nhưng mình lại lún sâu vào vũng lầy ấy
Cho đến khi con gặp chú, đối diện chuyện trò với chú mới nhận ra rằng trên đời này vẫn còn đó những người đàn ông cao thượng đáng yêu. Ban đầu con nghĩ chú cũng là một tên vô lại già nua lắm tiền. Con cần tiền và con đã lã lơi với chú. Nhưng những ngày ngồi bên chú, nghe chú nói, con đã nhận ra rằng mình đang chạm đến một sai lầm. Con chưa yêu người đàn ông nào trên đời này. Con khinh ghét họ nhưng rồi số phận run rũi lại gặp chú. Người đàn ông đáng kính có thể làm cha mình nhưng dại dột đi gởi tình cảm vào chú. Có lỗi với chú và Mẹ con nữa.
Tin chú, con giao hết số tiền trong thẻ ATM. Thay con mang số tiền này giúp cho những con nguời bất hạnh. Những đứa trẻ thiếu ăn, những người phụ nữ bị chà đạp, bị bóc lột thân xác..
Người ta, những “đồng nghiệp”đáng yêu của con sẽ biết con muốn nghỉ ngơi ở đâu. Nơi con an nghĩ cũng là nơi Mẹ Khảo Mai an nghĩ trên một ngọn đồi dưới chân đèo. Chú hãy đến đó. Hai ngôi mộ gần nhau. Mẹ và con.
Hãy đặt lên mỗi ngôi mộ một đóa hồng vàng nhé chú
Vĩnh biệt Chú
Khảo Mơ

Bàn tay người đàn ông run rẫy bốc từng nắm đất ném xuống huyệt mộ. Ông khóc không thành tiếng. Khi nấm mồ đắp đầy, ông cẩn thận đặt lên mộ bó hồng vàng rồi bước qua ngôi mộ bên cạnh.
Trên tấm bia bằng đá cẩm thạch, ông nhận ra di ảnh người phụ nữ giống Khảo Mơ một cách kỳ lạ.
Đặt bó hồng vàng còn lại trước mộ, ông quỵ xuống trước tấm bia, hai vai rung lên bần bật.
Tháng ba mười lăm

BÙI THANH XUÂN

GIẤC MƠ BIỂN

caovantam

Mỉm cười nhìn biển màu xanh
biển bình yên ,
Mịn như dòng chảy của tóc một thời con gái;
Bầu trời ánh sáng chiếu xuyên qua
những con sóng nô đùa và các nàng tiên cá hát,

Mặt trời nhanh chóng ẩn trong những đám mây
Gió sợ hãi bay theo với đôi cánh bão tố,

Và biển trở nên nguy hiểm :
Nếu không thắp sáng được ngọn đèn của biển
Đến khi tia sáng của ánh trăng mờ
vượt qua con đường sương mù nhợt nhạt

Nơi những buổi bình minh
tôi hát bài ca biển đảo
em hong tóc
trong nắng vàng hoàng hôn biển
vị mặn của muối không bằng đôi môi em
bờ cát trắng mịn màng như làn da em

Để dâng tình yêu của em với biển
và dạy cho anh tính cách của biển,
sự quyến rũ, bao dung sâu thẳm,
sự công bằng và bình yên của biển…

Cao văn Tam

ƯỚT CÁNH LAN GẦY

nguyenngocnghia

Sương nhòa
đêm ơi mênh mông
cành lan lả mộng thềm xuân cúi chào

Dâng đời. hương sắc hư hao
treo thân lá
rụng nỗi đau xuống mùa
đợi chờ đã thấm vai chưa?
mà nghe lạnh buốt mấy mùa sương phai

Sương ơi
ướt cánh lan gầy
nhẹ thôi….
thiên cổ đọng vai tình buồn

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

Đánh bạc bằng chữ: Thả Thơ

trinhthanhthuy

Mỗi độ xuân về, Ban Điều Hành Giải Khuyến Học lại rộn ràng gởi thư mời gọi chúng tôi đến giúp cho Quán Thả Thơ ở chợ Tết Sinh Viên Bolsa, Cali trong ba ngày tết. Dù bận rộn đến đâu chúng tôi cũng thay phiên nhau một lòng tình nguyện tới coi Quán từ lúc mở chợ cho đến lúc bế mạc. Lý do chúng tôi đến có lẽ từ nguyên nhân ham vui thì ít mà do cái tình thì nhiều. Đó là mối tình mến chữ, yêu thơ, trọng bạn, và muốn lưu giữ chút gì cổ tục còn sót lại.

Xuân đến, yêu xuân thì ai không yêu nhưng trong lòng chúng tôi xuân mà thiếu thơ như buổi ban mai thiếu chút sương mù, cành mai đầy lộc thiếu làn nắng nhẹ, quả dưa hấu đỏ thiếu đi một huyền thoại Am Tiên. Ngày đầu năm, đi dạo một vòng chợ Tết ồn ào, đông vui, ghé Làng Việt Nam, dừng chân ở Quán Thả Thơ, con tim những người xa xứ từng yêu thơ, ai không khỏi thoáng chút bồi hồi. Trí tò mò con cháu dòng máu Việt chợt nổi lên khi nhìn vào tấm biển với dòng chữ “Quán thả thơ”, một cậu thanh niên tuổi độ 17 nghiêng nghiêng vầng tóc nhuộm vàng hoe, hỏi chúng tôi “What’s that mean?”. Cô bé áo trắng, mắt lóng lánh sáng, đứng bên mẹ hồi lâu chân còn chưa mỏi, cười căng môi hồng, liên tục chơi thả thơ hết câu này đến câu khác. Mặc kệ tiếng pháo ồn ã, tiếng loa thét đâu đó đinh tai, nơi góc quán này vẫn có một đám đông đang say mê trò chơi trí tuệ. Tai phải họ nghe bình thơ, tai trái họ gật gù theo tiếng ngâm đang lên cao vút, óc đung đưa suy luận, tay đặt tấm vé(ticket) của mình vào nơi mà mình muốn đặt. Tháng Giêng là tháng ăn chơi, cờ bạc, tháng đất trời khai hội, tất cả các loài hoa bung nở mừng lễ Nguyên Tiêu. Đâu đó vài ba chiếu bạc “bầu, cua, cá cọp” lai rai người tụ lại đỏ đen, thử thời vận xui hên, năm mới. Nơi đây tiếng rao hàng cho quán thả thơ ném vào không gian dịu dàng như một giải lụa bạch: “Thả thơ là một trò chơi trí tuệ, đánh bạc bằng thơ là một thú đỏ đen tao nhã, đầu năm, mời quí vị ghé Quán Thả Thơ để thử tài đoán thơ của mình có ngang bằng các thi sĩ hay không. Trò chơi này không tốn tiền mà lại có thưởng, mời quí vị ghé vô”

Tốp người này đi nhường chỗ cho tốp người khác, người mới đến mỗi người được phát 5 vé(tickets) màu xanh, mỗi lần chỉ được đặt một vé. Nếu trúng sẽ được chung một vé màu cam. Thua hết 5 vé sẽ được phát thêm, chơi bao lâu cũng được. Nếu trúng khoảng 20 vé màu cam sẽ được chọn một món quà thưởng do quỹ của Giải Khuyến Học cung cấp. Dưới hình thức “đố vui để học”, trò chơi Thả Thơ hợp với mọi lứa tuổi, ai tham gia cũng được. Người dự được giới thiệu từ 2 đến 4 câu thơ viết trên màn ảnh, (sẽ thiếu một chữ), bên dưới là 4 câu trả lời theo thứ tự a, b, c,d để người dự chọn. Sẽ có một người đọc những câu thơ, hoặc ngâm lên như một gợi ý cho người dự nghe. Quán thường có 3 đến 4 người coi và mỗi người sẽ bình các câu thơ theo ý riêng của mình, mục đích để góp ý và đôi khi cũng để bàn ra, đánh lạc hướng, làm hoang mang người tham dự khiến họ không biết chọn câu nào. Tuy nhiên quyết định cuối cùng vẫn là người cầm trong tay tấm vé đặt vào nơi mà mình tin là đúng. Điều hào hứng nhất là người tham gia được trao micro để ngâm hay đọc thơ và thậm chí họ được bình theo ý của mình về lý do tại sao mình chọn chữ đó. Điểm lý thú của trò chơi, trong câu trả lời trúng nhất, có khi lại là một chữ rất lạ lùng, rất quái mà không ai ngờ được tại sao tác giả lại chọn cái chữ vô lý ấy. Thế mới biết, thơ mà, chỉ có người làm thơ mới chính người chọn chữ hợp nhất cho thơ mình.
Đây là một ví dụ: Hai câu thơ trong “Tống Biệt Hành” được đưa ra với một chữ bỏ trống. Người tham dự sẽ chọn một trong 4 câu trả lời mà câu c) là câu có chữ sao đúng theo chữ tác giả đã dùng.

Đưa người, ta không đưa qua sông
(…..) có tiếng sóng ở trong lòng

a)nghe b)ta c)sao d)như

Thơ thường được trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, hay tác phẩm của Đoàn Thị Điểm, Hàn Mạc Tử, Cao Bá Quát, Nguyên Sa, Ngô Minh Hằng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Trần Trung Đạo, Quang Dũng v.v. Ngoài ra còn có hàng trăm câu ca dao, tục ngữ lấy ra từ nền văn học Truyền Khẩu VN.

Trò chơi Thả Thơ ở Quán Thả Thơ này hơi khác với nguyên thủy theo lời kể của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn “Thả thơ”:

– Thầy sẽ viết vào mảnh giấy trắng này một câu thơ bảy chữ mà chỉ… có sáu chữ thôi. Còn một chữ thì để trống và thay vào đấy một cái khuyên tròn. Cái khuyên tròn thay chữ đó thường gọi là chữ vòng. Đây này, chị lấy một câu làm thí dụ thì các em rõ ngay. Các em biết câu: “Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần” đấy chứ? ừ, thí dụ bây giờ định thả câu thơ ấy. Và định vòng chữ “hướng” ở đoạn dưới. Thầy sẽ viết vào mảnh giấy nhỏ này: “Quân hướng Tiêu Tương, ngã… Tần”. Và khi ngâm câu thất ngôn có sáu chữ ấy lên thì thường phải ngâm: “Quân hướng Tiêu Tương, ngã… “vòng”… Tần”; Chữ “vòng” đây thay vào chỗ để trống. Bây giờ mới nói đến những chữ “thả” ra. Thí dụ thầy thả năm chữ: cố, tại, vọng, phản và luôn cả cái chữ hướng trong nguyên văn. Thường chỉ thả có năm chữ thôi.
Tụi trò nhỏ thấy chuyện thả thơ ngộ nghĩnh, nghe lấy làm khoái trí, trố mắt nhìn cô Tú, giục cô nói tiếp.
– Muốn đánh chữ gì thì chọn lấy một trong năm chữ mà đánh. Đánh trúng thì một đồng ăn ba đồng.

Sự khác biệt ở chỗ Quán TT chỉ đưa ra 4 câu trả lời a,b,c,d thay vì 5 như trong trò chơi nguyên thủy. Quán Thả Thơ do Giải Khuyến Học thành lập năm 1999 tại chợ Tết Sinh Viên ở Bolsa, Cali, với mục đích quảng bá và bảo tồn một sinh hoạt truyền thống văn hoá đặc sắc của những ngày xuân. Thưở ban đầu, người tham dự phải mua vé với một số tiền nhỏ tượng trưng và giải thưởng có giá trị theo đúng nguyên tắc của trò chơi nguyên thủy. Sau này vì muốn số người tham dự dành cho mọi lứa tuổi, nhất là các em nhỏ vào lứa tuổi teen trở lên(không có tiền) có cơ hội tham dự và học hỏi tiếng Việt cùng thi ca VN nên ban tổ chức ra quyết định cho free. Quyết định này là một thành công bất ngờ vì chúng tôi thấy số các em tham dự đông chưa từng thấy, vì số người trẻ đi chợ Tết rất nhiều. Các em thường đi thành nhóm, kéo đến Quán, ríu rít hỏi, hăng say bình luận, hùa nhau đặt, tiếng cười nói vang dội khắp quán. Có em hoàn toàn không biết tiếng Việt hay biết lõm bõm nhưng cũng kiên nhẫn nghe, không hiểu thì hỏi, đặt tứ tung theo ý bạn, theo ý người bình thơ, cười tươi hỉ hả khi may mắn được trúng. Không khí quán thơ trong hơn, xanh hơn, mang vẻ tranh đua trong tinh thần học hỏi hơn một trò sát phạt nhau bằng tiền và chữ. Giọng ngâm đưa thơ thanh thoát, thăng hoa vào mây cao khiến khách du xuân dừng chân ngoảnh lại trí bần thần “À thơ”.

Thả thơ (hay còn gọi là đánh thơ), ngày xưa, vào những đêm hội Tao Đàn, các cụ ta xưa thường ngắm trăng, bình văn, và thả thơ. Đây là một thú chơi tao nhã dùng văn chương để giải trí lại khiến người được cuộc vui vì có chút tài lộc và hãnh diện về tài thi phú, vốn hiểu biết sâu sắc của mình. Các nho sĩ, quan lại và hoàng tộc xưa ở kinh đô Huế rất chuộng thú tiêu khiển này. Nó là một cuộc đấu trí đầy cân não, mà những người ít hiểu biết về văn chương thi phú khó có thể tham dự. Ngược lại, “Người cầm cái” cũng phải rất mực tinh thông. Theo giai thoại, thì thú Thả Thơ có từ đời vua Minh Mạng, một ông vua nổi tiếng có tới 142 người con, cả trai lẫn gái. Nổi tiếng nhất là ông Hoàng thứ 10 là Miên Thẩm tức Tùng Thiện Vương và ông Hoàng thứ 11 là Miên Trinh tức Tuy Lý Vương. Hai ông hoàng này văn tài lỗi lạc, thơ phú làu thông. Mỗi dịp xuân về, phủ của Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương luôn tổ chức mời những văn nhân thi sĩ tới dự cuộc chơi thả thơ. Lâu dần, không biết sao trò chơi này bị mai một.
Năm 1999, Quán Thả Thơ của Giải Khuyến Học ra đời. Năm 2011, trong nước bắt đầu khôi phục tục Thả Thơ trong đêm thơ Nguyên Tiêu bên lầu Tứ Phương Vô Sự (Đại Nội Huế) với bốn bề gió mát trăng thanh cùng nhiều bài thơ bất hủ đã đem đến cho khán giả yêu thi ca thật nhiều cảm xúc khó quên. Trong buổi Ngày Thơ lần thứ ba(2005) ở VN, ban tổ chức đã khai mạc với lễ Thả Thơ nhưng không phải bằng thú đánh thơ mà đem thơ buộc vào những quả bóng bay đỏ do 50 thiếu nữ mặc quốc phục thả, để thơ được bay lên trời cho có vẻ hoành tráng! Cũng là hai từ “Thả Thơ” nhưng nghĩa khác hẳn nhau.
Những Người Xuân xưa, thưở bé chơi trò Thả Đỉa Ba Ba, lớn lên lựa là trí tuệ chơi Thả Thơ bắt chữ. Em ngày nào hái hoa, anh ngày nào bắt bướm, lớn lên nhìn nhau bỡ ngỡ, ngày tàn lạc lối đi về. Xin lấy thơ Nguyễn Chủ Nhạc thay cho một lời kết, thay cho một thời thả thơ yêu em, thay cho một thoáng Xuân nồng.
Một thời thả thơ…

Ta
của một thời
hoang dại
thả thơ
như một đam mê
em vớt thuyền thơ
dạt bến
lôi ta lạc lối đi về…

Thế rồi,
em thành người lớn
mơ hái trăng sao
trên trời
đem tình yêu
cho gió thổi
quên ta thành cọc bến đời,

Trái đất
quay vòng
bé nhỏ
giờ đây
ta gặp lại nhau
em thêm một lần
người lớn
ta già
nên ngại bước mau,

Em
trả thơ
về bến cũ
nào đâu
ta dám nhận về
thơ
có một thời
hoang dại
ta
chỉ một thời
đam mê…

Nguyễn Chủ Nhạc

Trịnh Thanh Thủy

Bốn Mươi Năm Sau

tranvanle

Bốn mươi năm sau / còn gì trong nắng? còn gì trong mưa? Còn những bài thơ / ràn rụa nước mắt!

Bốn mươi năm trước, ai bước qua đây, chặng cuối chông gai / bao người ngả quỵ?

Non nửa Thế Kỷ: Đại Hàn văn minh, Thái Lan trở mình, Mã Lai cường thịnh…

Dân mình câm nín, toan tính chuyện gì? Chân mây đen sì, bóng thuyền vỡ nát…

Hỡi ơi bài hát / nối vòng tay nhau…Hỡi ơi ca dao, máu đào, nước lả!

Chúng ta đi quá / cả tuổi trời cho. Chúng ta nằm co / bốn ngàn năm sử…

Bốn mươi năm đó, chút chớ bao nhiêu! Mắt Mẹ buồn hiu. Mặt Ba héo úa…

Em tuốt cọng lúa / chảy máu bàn tay. Anh một chàng trai / bờ vai gánh gãy…

Bốn mươi năm ấy / thành cổ tích không? Hỡi môi ai hồng, hỡi lòng ai bạc…

Nối tay cùng hát / bát ngát buồn ơi / bát ngát buồn ơi / bát ngát buồn ơi!

Hãy xé giùm tôi / bài thơ mới viết. Những lời hơn thiệt / thả đi gió bay…

Trần Vấn Lệ

Vịn câu thơ mà đứng dậy”

trantrungdao

Những lúc đất nước khó khăn như thế này, chợt nhớ đến hai câu thơ của Phùng Quán:
Có những phút ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy

Nhà thơ Phùng Quán đã kết luận như thế khi nhìn lại quãng đời 30 năm ông đã sống trong bóng tối của bạc đãi, đe dọa, sống trong cảnh lưu đày ngay giữa lòng Hà Nội, nơi đó, từ thuở thiếu thời, ông đã từng đổ máu để giữ gìn.
Những phút ngã lòng là những lúc nhà thơ Phùng Quán phải chọn một trong hai con đường đầy bất trắc đang chờ: tiếp tục chịu đựng khó khăn, đói khát, tiếp tục đi câu cá trộm, viết văn trộm hay nên viết một bản tự kiểm nộp lên Hội Nhà Văn để được trả lại thẻ hội viên, được mỗi tháng mua vài cân gạo và được phép sắp hàng mua một vài nhu yếu phẩm.
Những phút ngã lòng là lúc nhà thơ phải chọn một trong hai thái độ làm người: chịu đựng sự nguyền rủa, sự rẻ khinh, sự hoài nghi, xa lánh của bạn bè, sự lãng quên của bà con thân thuộc, chịu làm kẻ mất quê hương ngay trên chính quê hương mình, hay cúi đầu khuất phục như Chế Lan Viên, Xuân Diệu…tô son điểm phấn cho một chế độ đã phản bội xương máu đồng bào, phản bội ước mơ của dân tộc.
Trong lời tựa của thi phẩm Trăng Hoàng Cung, nhà thơ Phùng Quán đã viết: “Tôi đã trả giá cho Thơ bằng 30 năm tốt đẹp của đời mình. Từ năm 24 tuổi đến năm 56 tuổi, cơ chế quan liêu đã đánh trả tôi đến chí mạng. Tước đoạt của tôi quyền lao động thiêng liêng: sáng tác, xuất bản, quyền được sinh sống cho ra một con người. Và dìm ngập tôi trong bùn nhơ, lăng nhục trước công luận….”. Và ông đã viết tiếp: “Nhưng thơ đã cứu tôi, giúp tôi đứng vững, dạy tôi dũng khí bền gan”.
Nhà thơ Phùng Quán đã vịn câu thơ mà đứng dậy. Đứng dậy để làm một nhà thơ chân thật. Chân thật trọn đời. Vì chọn để làm một nhà thơ chân thật nên trong suốt 30 năm ông đã phải sống trong đói khát, trong cô đơn. Ngày 22 tháng 1 năm 1995, nhà thơ bất khuất Phùng Quán ra đi. Ông ra đi, để lại cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau Lời Mẹ Dặn.

Hơn nửa thế kỷ trước, bên bờ sông Pắc-Nậm chia hai nước Việt Nam, Trung Hoa, một thanh niên Việt Nam khác đã vịn câu thơ mà đứng dậy. “Nước non ta ai ngăn trở ta về!”, chàng thanh niên Việt Nam 22 tuổi thét lên giữa núi rừng khi đứng nhìn về phía bên kia sông Pắc-Nậm. Thấp thoáng trong đám sương mờ là những bức tường vôi, là những làn khói trắng thân yêu. Đó là tổ quốc của ông, là quê cha, quê mẹ của ông. Chỉ cách một dòng sông nhỏ mà xa như nghìn trùng diệu vợi.
Người thanh niên 22 tuổi, tác giả của bài thơ không ai khác hơn là nhà cách mạng, triết gia, và nhà thơ Lý Đông A. Mỗi lời thơ của ông thống thiết như tiếng chim Quốc gọi nửa đêm, như từng mũi kim đâm sâu vào tim, như từng hạt cát rơi vào sâu trong mắt của những người có quê hương mà như mất quê hương.
Một ngày lạnh nước nguời không tri kỷ.
Ta vỗ án thét lời ca chính khí.
Ðông thê thê như gió thổi u hồn,
Thấu buốt tận lòng người trong cốt tủy.

Và xa hơn nữa, gần một ngàn năm trước (1077), bên dòng sông Như Nguyệt, danh tướng và cũng là nhà thơ Lý Thường Kiệt đối diện với hàng chục vạn hùng binh của đại tướng Quách Quì nhà Tống. Cuộc chiến đã diễn ra suốt tháng. Quân Nam đang yếu sức. Kinh đô Thăng Long đang bị đe dọa. Giữa lúc nguy nan đó, Lý Thường Kiệt đã vịn câu thơ mà đứng dậy qua bài thơ Nam Quốc Sơn Hà:
Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Dịch:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!

Ðọc lại dòng sử Việt rạng ngời, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra rằng, không phải chỉ những anh hùng dân tộc, những nhà cách mạng đã vịn câu thơ đứng dậy mà ngay cả dân tộc Việt Nam cũng đã hơn một lần vịn thơ đứng dậy trong hai cuộc kháng Nguyên lừng lẫy. Thơ, trong lúc khó khăn đó, đã chuyên chở niềm tin về cho dân tộc như Thượng Tướng Trần Quang Khải dặn dò:
Chương Dương đoạt giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước đó nghìn thu

Dân tộc Việt Nam là dân tộc của thi ca và mỗi người Việt Nam là một nhà thơ. Nhận xét đó không phải quá khoe khoang.
Xin cầu nguyện cho đàn chim Việt trên vùng đất mà nhà văn Phạm Việt Châu, Trung Tá VNCH, tuẩn tiết sau 30-4-1975, gọi là “vùng định mệnh”, qua bao nhiêu sóng gió, cuối cùng sẽ cùng nhau viết nên bài sử thi vinh quang cho một nước Việt Nam Mới tự do dân chủ và thịnh vượng, một nước Việt Nam không còn xiềng xích, hận thù, không còn bị giới hạn bởi các lằn ranh, vĩ tuyến, hiệp định, địa phương, trong nước, ngoài nước, tôn giáo. Tác giả của bài hùng sử thi Việt Nam Mới đó chắc chắn không phải của một ai, một cá nhân nào, một anh hùng nào, một tổ chức đảng phái nào, nhưng của cả dân tộc Việt Nam đang đứng lên để nhận diện chính mình.

Trần Trung Đạo