VÔ NGÔN

tonnuthudung

Vô tình nhặt hạt thu rơi
Mượn câu thơ cũ phổ lời tương tư
Tìm hoài một bóng phù hư
Nghe mưa thiên cổ về từ môi em
Giữa chiều
cánh phượng bay lên
Tiếng vang vọng đến trăm miền tịnh không
Lá cây mùa nọ chưa hồng
Chiều nay bỗng ứa một dòng nhựa tươi
Ô kìa em quá xa xôi
Làm sao về gõ hồn tôi kịp giờ
Tôi nằm như đá cổ sơ
Chờ chân em động đôi bờ tử sinh
Tôi nằm như thú hiển linh
Lạc trong oan nghiệt
tìm kinh vô thường
Bước về chập choạng tà dương
Từ trong cội biếc hồi chuông gióng tràn
Tiếng nào vỡ mấy giọt trăng
Một con hạc trắng khởi dòng bay ra
Chiêm bao đến giữa giang hà
Hai tay ôm mảnh trăng tà gọi sương

Về đâu
lạc giữa ngàn phương
Về đâu
mây trắng
dặm đường
còn bay…

TÔN NỮ THU DUNG

LỜI RU

phamkhanhvu

Ru làm chi nữa …tình ơi
Những đêm dài,
những đêm rời,
những đêm…
Những đêm thành phố không đèn
Soi mình dưới bóng trăng nghiêng nửa đời
Ru làm chi nữa… tình ơi
Hôm qua
người đã đi rồi
…lại đêm…

PHẠM KHÁNH VŨ

Ngộ sị páo chù

nguyentri

Tiến là bạn của Danh, thân lắm. Nói về gia cảnh nhà Tiến thì ai cũng cám. Cha chết, mẹ lấy chồng khác. Anh chồng nầy không dám ở với anh em nhà Tiến. Ba thằng, mặt mũi bặm trợn, lầm lầm lì lì. Thằng Thanh, anh lớn tham gia trộm cáp điện bị kêu năm năm tù giam. Thằng kế tên Tú lấy vợ được hai đứa con, thằng nầy lười có tiếng, con vợ đi làm công ty lẹo tẹo với tổ trưởng sao đó bị bể ổ. Tú chưa rõ đầu cua tai nheo gì liền xáng bạt tai và đuổi con lăng loàn đi. Con vợ chắc cũng bị thằng kia ngọt nhạt nên bỏ chồng con cuốn gói theo. Ai ngờ thằng tổ trưởng họ Sở, nó quất ngựa dông mất. Con nhỏ ôm gói về má ruột. Ở nhà hai đứa con nhớ mẹ khóc như ri, đổ bịnh cùng một lúc, bà ngoại nghe vậy liền lên bệnh viện thăm cháu. Má vợ rủ rỉ rù rì sao đó Tú đồng ý cho vợ về lại, xem như gương vỡ lại lành, trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.
Trở lại chuyện Tiến bị tù. Là vầy… Ông Cưng là cha của Danh. Cha nội nầy trên dưới sáu mươi rồi nhưng hư hao lắm. Tục truyền rằng, thuở trẻ Ba Cưng lẫy lừng lên tuổi khoản quậy quọ và rượu trà gái gú. Hôm đó gã bị bắt về tội nhậu xong phá quán. Ngay trụ sở Ủy ban mới tiếp thu từ chính quyền triều cũ có một cái Conex. Cái hộp sắt nầy trước đó quý ông cảnh sát dùng để nhốt du côn và trốn lính. Ba Cưng bị nhốt vô hộp chung với một mớ hàng buôn lậu bị tịch thu. Nào rượu, nào thuốc lá cùng các thứ linh tinh. Nói chung là các món nhậu đủ mặt. Cưng bị tống vô lúc năm giờ chiều. Sáng hôm sau người nhà lên thăm, du kích đập Cưng dậy nhưng say quá Cưng không mở mắt nổi, đến lúc tỉnh thì can rượu năm lít bị tịch thu vơi hết một phần ba. Tội đè tội, Cưng bị phạt hành chánh kha khá tiền. Nhưng tao đâu có tiền – Cưng kể vậy.
– Rồi làm sao qua?
– Con bồ tao nó cho tiền nộp phạt.
– Ông cũng có số được đàn bà nuôi há?
– Khà khà… tao đẹp trai mà mậy. Nhưng mà tao không nộp.
Sau đó Ba Cưng bị lôi cổ đi lao động công ích hết mười ngày vì tội ngoan cố. Cưng kể:
– Con bồ cho tao mười đồng, tao dấu vô lai áo hai đồng. Lên xã tao xin bớt hai đóng tám nhưng xã buộc phải đúng mười. Về, tao vô quán nhậu uống beng hết tiền trong lai áo. Hôm sau tao lên xin đóng sáu đồng… Năm bữa sạch bách… vậy là ôm gói đi công ích.
Đó là thành tích bốn chục năm trước, chả hay ho chi nhưng Cưng kể hoài ra vẻ đây chả sợ ai. Vụ thằng Tú cho con vợ về, chả biết nghĩ sao Cưng xách một chai ba xị ghé Tú lai rai đỡ buồn. Tú không nhà nên Tiến tiếp khách. Thoạt tiên Tiến dạ dạ vâng vâng lễ phép lắm. Nói chung là ba của bạn thân ta phải lịch, hơn nữa khách mang rượu mang mồi đến ta phải kính chớ. Kẹt cái rượu vào nó mau huề đồng lắm. Anh anh tôi tôi rồi mày tao liền một khi. Già Cưng ra cái cha chú bày đặt khuyên răn nầy nọ, Tiến điên lắm nhưng nhịn, đến lúc Cưng lôi chuyện cu Tú bị cặm sừng ra bàn. Cưng nói vầy:
– Cái dòng họ nhà mày ăn cái quần một ống hay sao mà ngu vậy. Thằng cha mày trên bàn thờ che sao cho hết cái nhục cắm sừng? Anh em mày bao nhiêu cái ngu dành hết không chừa cho ai chút nào.
Cái nầy chẳng qua có rượu Cưng nói bậy và Tiến không bị ma men hành thì đâu nên nổi. Điên quá Tiến xách cái chai phang vô trán Ba Cưng một phát. Người ta xách mé nhà mình vậy mà nhịn là phật chớ đâu phải người. Tuy nhiên, đánh người gây thương tích đến chuyển viện thì anh cũng bị chuyển lên tuyến… huyện. Vô nhà đá ngon lành hơn nhà lá nhiều. Tuy thương tích của Cưng chỉ mười mũi khâu, nhưng Tiến bị án là do tiền sự hơi nhiều. Tiến bị kêu đúng một cuốn lịch và bồi thường cho Ba Cưng hết một mớ cơm thuốc nhưng Tiến có chi ngoài cái tút đạn. Toà xử xong Ba Cưng nói với Tú:
– Mày phải lo đền cơm thuốc cho tao à
Tú văng đủ thứ không đáng văng chỗ toà án:
– Có cái củ thìu biu. Ông chờ nó trả cho, mắc mớ chi đến tui.
Danh can thiệp:
– Thôi bỏ đi ba ơi, chuyện nhỏ mà.
– Nhỏ cái bà nội mẹ mày. Tao bị bạn mày đánh cho mẻ trán mà mày còn theo phe nó hả mậy?
– Ai biểu ba nhậu với con nít làm chi?
– Câm họng lại. Mầy là thằng khốn nạn…
Ba Cưng hăm he tao làm đơn xin thi hành án thử coi trả không cho biết. Tú rằng ê già dịch ông làm như thằng Tiến vị thành niên mà gia đình phải chịu dân sự cho nó. Nó hai mốt rồi chờ đến tết cônggô đi há, có về thằng Tiến cũng không trả đâu. Nó cho ông thêm cái chai nữa thì có.
Nói vậy chớ ngày tháng vùn vụt trôi. Nháng cái, Tiến về. Về nhưng Ba Cưng bỏ qua chuyện đền bồi. Không phải sợ chi ai, đơn giãn là nhà Cưng đã đánh sập được cái nghèo. Hên quá, toàn bộ đất đai nhà ở nằm trong giải toả trắng làm cao tốc. Cưng được đền bù hơn tỉ bạc, được cấp một lô tái định cư. Cưng cất cái nhà bề thế hết ba trăm mét vuông đất, có cổng có rào. Vợ Cưng xưa nay buôn bán rau củ quả. Nay có vốn liền ra luôn cái đại lý bỏ mối cho các nơi. Nghiệp nầy phải có cái xe mới mau lên. Vậy là Danh ta ôm vô lăng lên chủ cái xe tải năm tấn.
Ăn nên làm ra nên Ba Cưng quên mất triệu bạc đền bồi toà phán. Tiền tỷ trong tay thì ba cái lẻ tẻ sá gì. Chỉ có một cái mà nếu quên luôn được thì hay quá, nghiệt ngã thay cái nầy càng có tiền càng lâm luỵ. Đó là con ma tên Men, Cưng chuyển tông từ rượu đế sang bia. Cái tủ đá lúc nào cũng chục lon ken ướp lạnh, hể lon nầy bật nắp thì lon kia thế chân. Kệ đi, làm ra không xài thì chết có mang theo được đâu. Có tiền nên Cưng ra vẻ lắm, sáng sáng mang giày đi bộ vòng quanh khu dân cư, hai con chó cảnh cũng lủn củn chạy theo chủ. Đời vậy là đẹp hết thế.
Dãy dân cư nơi nhà Cưng ngự trị áng chừng năm mươi lô thổ, nhưng mới mười căn lộ diện với đời nên hơi thưa thớt. Có một căn sống bằng tạp phẩm. Chủ nhân của nó không phải dân bị giải toả mà là dân có tiền, thấy khu dân cư đẹp nên hắn mua ở cho vui. Tay nầy cũng bảnh. Sáng nào cũng thể thao. Lâu lâu còn na thêm máy ảnh. Ba Cưng ghét tay tạp phẩm nầy lắm, hắn không biết sống. Tha phương gặp người cố cựu mà không chào. Gặp nhau trên đường gã tho lỏ mắt, mặt lạnh tanh. Cưng nói với vợ:
– Nhìn cái mặt thằng đó muốn xịt chó cắn.
– Ông đừng có nhiều chuyện quá ông Cưng à. Thằng Tiến nó nện cho cái chai ông chưa hoảng sao?
Tưởng vậy là thôi. Ngờ đâu chuyện xẩy ra nó kỳ cục một cái hết biết luôn. Sáng đó Cưng dẫn chó đi dạo. Trên đường, dân xe đạp, chạy bộ xôm tụ lắm. Ưng lên một con cún của Cưng lao theo một xe đạp, cái dòng chó cảnh bố láo táp vô gã xe đạp một phát. Gã xe đạp bị dính đòn liền dừng xe, đúng lúc tạp phẩm đi bộ cũng vừa tới. Ba Cưng biết chó mình cắn người, lý ra đứng lại giải quyết sự cố nhưng đi luôn. Xe đạp hỏi nên tạp phẩm trả lời rằng con chó của cha nội đang đi đó. Xe đạp liền gọi:
– Ê… ông già…. Con chó của ông cắn tui nè…. Đứng lại nói chuyện cái coi.
Ba Cưng quay lại. Lý ra cũng nên xoa dịu kẻ bị chó táp đôi câu ngòn ngọt lấy lòng, ở khu dân cư, nói chung, ai cũng kha khá, đâu ai buộc anh đền bồi chi, đằng này Cưng ta gọn lỏn:
– Không sao, chó tui không dại đâu mà sợ.
Kiểu nói của Cưng thằng khùng còn bực nói chi tỉnh. Xe đạp gằn giọng:
– Ai biết dại hay không ông?
– Thì ông cứ chích ngừa, bao nhiêu tiền tui lo cho.
– Ai cần đồng bạc của ông… cà chớn tui đập con chó chết à.
– Mày ngon đập tao coi.
Điên gan xe đạp chạy theo con chó, nhưng con quỷ con nầy nhanh như sóc. Thấy vậy tạp phẩm liền lên tiếng:
– Chó anh cắn người anh nên xin lỗi một tiếng…
Cưng cướp lời:
– Mắc mớ gì tới mày? Đồ nhiều chuyện…
Đến đây thì tạp phẩm rút êm. Mặc kệ đôi bên muốn sao đó thì muốn. Chuyện tưởng qua ai ngờ nó chuyển hướng theo một kiểu xấu xí nhất trần đời.
Đêm ấy, đang mơ màng trong giấc, bổng nhiên cả nhà Cưng đồng loạt thức giấc vì có mùi lạ mà quen. Quen nhưng chả ai dám vơ vào nhận họ. Cái mùi thối um của chất thải loại một, nhà cửa kiếng kín bưng mà nó len vô đến khứu giác từng thành viên thì tưởng tượng nó gớm ghê đến cỡ nào? Vùng dậy. Điện được bật từ trong ra ngoài. Mẹ cha ơi, thằng khốn kiếp nào phang vô ngay cổng rào một chai thuỷ tinh, dấu tích còn vương lại là miểng văng tứ tán. Có thể hiểu là ôn dịch đã cho một chai đầy phân người và nước tiểu tục goi bom bẩn thân ái tặng nhà Ba Cưng. Chuyến nầy chết chắc.
Sân nhà Ba Cưng đầy rau củ quả mà chiều trước đó vừa mới đưa từ Đà lạt về nguyên một tải năm tấn. Nào su hào, súp lơ, cà rốt, khoai tây, cà chua, bắp cải… có cả hoa nữa mới chết. Mùi ăm mô ni ắc vương khắp nơi, đâu cũng nghe. Sự cố được cả nhà Ba Cưng giải quyết bằng cách chửi đổng. Có bao nhiêu từ bụi đời tục tỉu không có trong từ điển được lôi ra mà phang cho nhau nghe. Hàng xóm tuy xa, nhưng nhờ khuya vắng nên lộng theo không khí mà tới. Được một lát dân thể dục chạy ngang, vậy là mớ hàng lê ghim nhà Cưng có nước đổ xuống sông, có cho cũng không ai thèm cái đồ dính “kít”. Kẹt cái xứ này không có sông. Mang đi đâu mà đổ hả trời cao?
***
Cả nhà xúm vô đổ tội lên đầu Ba Cưng. Mấy chục triệu bạc đem quăng thử hỏi ai không tức? Thời buổi kiếm ra đồng bạc chua như chanh… Trời ơi tức quá:
– Cũng tại ông – bà xã lớn tiếng – bày đặt dục với thao, đêm nào cũng rượu bia thì thao dục làm gì… Bữa nay đừng hòng có ken với tai gơ cho ông nghe… tai tai tai vô cái mặt ông.
Cái nầy phải thông cảm cho bà Cưng. Dân chợ búa tất nhiên điên lên trời còn chửi nói chi chồng. Đằng nầy chồng hư quá mà. Chó cắn người ta mà còn nói giọng giàu, nó quăng cứt vô nhà là phải quá. Bầy con cũng bực bội, nhứt là thằng Danh:
– Ba sao mà đủ chuyện hết ba ơi. Ông bỏ nhậu cho tui nhờ được không?
Bà xã còn nhịn chứ con cái mà mè nheo là đâu có cửa với cha. Cưng chửi inh sình trời đất. Chửi lây cả mấy thằng khốn dám chơi ông? Bà mẹ nó thằng nào, thù nầy ông quyết trả? Ai? Thằng bị chó cắn ư? Cũng có thể… nhưng mà… không phải nó đâu. Hôm qua mình đã xin nó cho qua rồi mà. Hay là anh em thằng Tiến Ròm, Thanh Bụi mời tù về? Dám lắm. Dám thằng Tiến trả thù vụ mười hai tháng tù lắm à. Nhưng mà hôm kia thằng Tiến, thằng Thanh với thằng Danh nhậu ngoài quán cầy tơ đây mà. Bạn bè ai chơi dơ vậy? Đúng không? Không phải hai thằng nầy vậy thì ai vô? Ai? Và trong đầu Ba Cưng xuất hiện thằng tạp phẩm lắm mồm nhiều chuyện. Đúng rồi. Hôm qua mình có mắng vô mặt nó. Nó ghét nên chơi trò bẩn. Nó chứ không ai vô… Được rồi… tao sẽ trả thù. Ba Cưng hét lớn bằng tiếng tàu Ngộ Sị Páo Chù… Đang rối bầy con và bà xã tưởng Ba Cưng nổi cơn khùng nên im thít.
Được rồi – bên lon ken ướp lạnh – Cưng trầm tư tính kế. Mày chơi tao sao tao chơi lại vậy cho mày biết lễ độ. Oán lên tận đỉnh và dồn dập bởi cái mùi khốn kiếp nó không chịu hoai. Dù đã bơm, đã xịt cả ty tỷ tấn nước cũng chịu sầu. Vậy rồi làm sao mà ăn uống hả thằng khốn? Mày ác vừa thôi… chơi như vầy thì đừng trách tao nghe… Hãy đợi đấy. Tao sẽ cho mày nếm cái chính mày cho tao xơi.
Kể cũng khá là công phu khi chế tạo bom bẩn. Khu dân cư đời mới kiếm ra cái chất thải loại một ở bụi bờ là không có à. Thiệt đó, Cưng đi cả buổi mà đành phải về và tự mình cho mình cái mình cần. Nói gọn cho nhanh là cho vô tô cả nước lẫn cái, quậy cho đều rồi trút vô chai. Phải gan. Phải can đảm. Phải chó lắm mới mới cho ra một chai ba xị đầy. Và một ngày đâu có đủ, phải hai ngày cơ bạn ạ. Đầy rồi, đủ rồi mới tính đến phương án là quăng bom vào lúc nào. Một hai hay ba giờ sáng. Ba Cưng là dân nhậu, ngủ ít lắm nên biết giờ nào thiên hạ chết trong mơ. Hai giờ, vâng, lúc nầy là lúc giấc say nhất… Nhưng mà khu dân cư điện đường sáng suốt đêm… cha… Cũng hơi ớn à. Đang quăng mà nó bật cửa nhào ra bắt tại trận thì… thì sao hỡi trời?
Ba Cưng lọ mọ thăm dò. Từ nhà Cưng đến tạp phẩm chừng năm trăm mét. Lần thứ nhất tất cả đều yên ắng. Lần thứ hai cũng yên ắng luôn. Lần cuối, thu hết can đảm Cưng xách trái bom vung tay ném mạnh vào cánh cửa sắt rồi quay đầu bỏ chạy. Hồi hộp vì sợ và chạy nước rút nên đến nhà là Cưng hào hển thở. Vừa thở vừa cười, chết mẹ mày nghe thằng khốn, chuyến nầy mày chung với ông một xuồng đi con. Chơi ông thì ông chơi lại. Cưng thú vị khùng khục cười không hay bà xã đang nhìn:
– Ông đi đâu mà sớm vậy.
– Mệt bà quá… thể dục chớ đâu.
– Ông có điên không mà thể dục vào giờ nầy?
Nhưng bà Cưng hết thắc mắc ngay tức khắc vì ồn ào từ nhà tạp phẩm. Bà xã tạp phẩm đang chu chéo lên và tất nhiên là chả ai ngủ nghê gì được. Vợ chồng Ba Cưng cũng lên coi thử chuyện gì vậy kìa? Lại bom bẩn, thiệt là khốn nạn. Bà Cưng nói:
– Thằng nào ác vầy trời không tru đất cũng diệt nó thôi.
Bà con cô bác cũng kẻ đôi câu người nửa chuyện góp vô mà nguyền rủa thằng ác độc, cả Ba Cưng cũng góp luôn:
– Mẹ nó… mới nhà tui bây giờ là nhà nầy… thằng nầy tui mà bắt được tui chặt tay.
Tạp phẩm nói với vợ:
– Em yên tâm, qua bên chị Hai đỡ vài hôm để anh lo xong rồi em về.
– Làm sao mà dọn cho sạch đây anh? Bao nhiêu hàng hoá là xem như xong rồi. Đổ bỏ chứ bán buôn chi được nữa hả anh?
– Anh đã nói là yên tâm. Thằng ném trái bom nầy phải đến dọn cho mình, nó phải dọn sạch, làm cho thơm anh mới chịu, bằng không nó chết chuyến nầy.
Nghe lạ. Một khách quan hỏi:
– Bộ anh biết thằng quăng bom hả nhiếp ảnh gia?
– Lúc hai giờ là tui đang ở bên khóm hoa Quỳnh chờ nở để chốp pô ảnh. Thấy thằng khốn đi qua, tôi nghi nên ém mình xem thử nó làm gì. Nó thăm dò hai lần, đến lần thứ ba thì quăng bom. Tôi chộp được ảnh nó rồi. Nó mà không giải quyết là nó chết.
Ba Cưng nghe qua mà lạnh toàn thân.
***
Chao là gian nan, là khốn đốn cho cả nhà Ba Cưng. Nói chi cho hết đoạn trường hỡi trần gian ơi? Nhục nhã hả? Muốn nhục anh cứ tha hồ nhục. Nhưng phải đền bù thiệt hại cho tạp phẩm quán. Chả có cái món gì mà rửa xong mà không còn mùi. Cái mùi mầy nó ám vô óc chớ đâu phải thường mà gió thổi bay. Cứ thế ghi vô sổ mà quy ra tiền. Rồi lau chùi cho sạch… Bà nội mẹ nó cả thiên hạ. Chúng cứ bu vô mà chỉ trỏ mà bàn tán mà hỉ hả cười.
Và Ba Cưng đúng là một ông chồng một người cha vô trách nhiệm, một thằng hèn không hơn không kém. Thứ gì bày ra rồi phủi tay. Cưng giao vụ dọn dẹp và đền bồi cho vợ con, hắn ở nhà lặn sâu trong buồng, cửa kín mít và điện đóm tắt ráo. Bà Cưng phần nhà mình chưa yên thêm nhà người vây hãm, ngày cật lực lau chùi, cái mùi ám ảnh suốt cả đêm. Có ai bình tĩnh được không? Ai dám nói có tui nè cho người đó triệu bạc xài chơi liền. Bà Cưng hết khóc là quay qua chửi. Ba Cưng nín khe. Âm thầm trong bóng tối Cưng nốc rượu. Thiên hạ chê cười nhục thì chớ, con cái có coi ra chi đâu. Không nhục Cưng đâu có náu mình trong bóng tối. Nhục và đau đớn nữa.
Nhưng mà ai? Thằng nào đã thả bom bẩn vô nhà tao? Thằng tạp phẩm, thàng chó cắn hay anh em thằng Tiến? Thằng nào, ra mặt đi. Dám nhận là tao chơi thằng đó tàn đời liền. Có rượu vô Ba Cưng cứ lẩm bẩm một mình. Bà xã và con cái thôi thì kệ ổng đi bây ơi.
Tất nhiên là cái gì cũng qua. Mùi chi cũng phải bay hết. Mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Có một kẻ không thường được, đó là Ba Cưng. Cưng cứ ngồi bên cái bàn đá và chai ba xi đế mà nhảm. Cứ nhảm miệt mài, lâu lâu vỗ bàn hét lên bằng tiếng tàu rằng Ngộ Sị Páo Chù.
Lũ con nít đi ngang nghe la hỏi:
– Ê… ổng la gì vậy ta?
– Tao đách biết, để tao hỏi anh Thanh Bụi coi.
Thanh Bụi cười mà rằng:
– Ngộ sị páo chù là tao sẽ trả thù… thù cái cù loi tao. Khùng mà thù với oán.
Nguyễn Trí

MELBOURNE,NẮNG MẬT ONG

tranthoainguyen

Melbourne một sáng trời hoa nắng
Nắng ngọt ngào thơm má môi em
Anh nhẹ bước giữa không gian thanh tĩnh
Hoa lá êm đềm xanh tiếng chim!

Trời đất se se lạnh heo may
Amh nhớ em ngắm hoa vàng lay
Trời Melbourne lắm mây nhiều nắng
Thế gian nồng nàn trong nắm tay!

Ôi! Nắng dịu dàng. Nắng mật ong
Trời Melbourne trải nhạc xuống lòng!
Anh về sống lại thời trai trẻ
Đà Lạt xuân hồng nắng mật ong!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

KHUYẾT!

daolam

góc tối ta nằm tay gác trán
nhìn đêm…trăng khuyết nửa vầng trăng
còn đâu đêm trăng rằm tháng chạp
nửa khóc…nửa cười…chuyện thế nhân!

làm sao níu được trời thương nhớ
Níu lại vầng trăng xưa…rất xưa
trong ta dựng cả trời giông bão
vầng trăng đã khuyết tự bao mùa

ta níu vầng trăng xuống trần chơi
cùng ta múa hát khúc bi ai
ta uống nồng say trong ai oán
thế thái nhân tình một chữ bi

có lẽ chừ ta…say mất thôi!
say trời…say đất…ánh trăng sầu!
ta giấu vầng trăng qua khe cửa
ôm trái tim đau úa nát nhàu

ta dắt nỗi buồn đi quẩn quanh
cài thêm thương nhớ ủ tay gầy
nghe thiên thu gọi trời yêu dấu
chiếc lá mồ côi theo gió lay

ta thả vầng trăng xuống biển sâu
cùng ta trôi dạt bến bờ đau!
ngọn sóng chực chờ ta…cuốn hút
cả tháng ngày yêu dấu chìm sâu…

ta…mây của trời…bọt sóng thôi!
trôi theo gió núi với biển khơi
ta tan theo cuộc đời hư ảo
MỘT CÕI VÔ THƯỜNG! LẶNG LẼ… TRÔI…

DaoLam

HUẾ ƠI! KỶ NIỆM…

huongthuy

*Tặng những “Mối tình chiến dịch”

Tâm ngồi trên thanh tà vẹt của nhà ga Thừa Lưu cũ, đưa mắt ngắm chung quanh. Tuyến đường sắt song song quốc lộ I từ những năm 1965 đã không còn được sử dụng do mất an ninh. Nếu cứ đi về phía Nam anh sẽ đến đèo Hải Vân và qua địa phận của thành phố Đà Nẵng.
Quê Tâm ở tận Hải Phòng xa xôi. Năm 1954 gia đình anh theo tàu há mồm vào Nam, lưu lạc nhiều nơi và cuối cùng định cư tại Hóc Môn. Chưa bao giờ anh đến miền Trung nếu không có đợt công tác Chiến tranh chính trị của trường Võ Bị Việt Nam.Từ Đà Lạt, anh và đồng đội được không vận bằng máy bay C130 ra phi trường Phú Bài và lên xe GMC vào đây.
Địa bàn hoạt động của toán anh là vùng Thừa Lưu-Nước Ngọt thuộc quận Phú Lộc, một quận phía nam của tỉnh Thừa Thiên-Huế. Vùng đất chạy dọc theo chiều dài của bờ biển và dãy núi Trường Sơn. Bên kia là phá Tam Giang với các xã Vinh Mỹ, Vinh Hiền, Vinh Giang…mà anh đã nghe Chi khu trưởng Phú Lộc, Trung tá Tôn Thất Khiêm thuyết trình trên bản đồ ngày qua. Trưởng toán, niên trưởng Nguyễn thái Hằng dặn dò “Đừng đi lờ quờ, coi chừng Vẹm cắt cổ”.
Cái nhà ga cũ tàn tạ, sập mái tạo cho Tâm một cảm giác nao lòng. Anh hình dung đến truyện ngắn “Buồn ga nhỏ” của nhà văn Thanh Nam. Buồn đến thế này là cùng!
Chiều đã về. Ánh nắng hắt hiu trên các mái nhà tranh. Hoa sim tím trải dài ngút mắt che khuất đường ray cũ. Tâm nhớ bài hát quen thuộc mà niên trưởng Bùi Phạm Thành k 25 thường hát vào những chiều thứ bảy ở Hội quán Huỳnh Kim Quang “Những đồi sim…những đồi sim…màu tím hoa sim…màu tím hoa sim…”
Chiều qua,toán của anh đã đến thắp nhang cho niên trưởng K19 Võ Thành Kháng, tử trận ở Bình Giã, quê Phú Lộc. Chiếc kiếm thủ khoa trang trọng đặt trên bàn thờ. Hình ảnh một bà mẹ miền Trung gầy guộc, tóc pha sương, ôm những đứa con Võ Bị trong tay, nhỏ những giọt lệ như sương làm anh xúc động. Anh nhớ đến người mẹ thân yêu của mình ở Hóc Môn. Nếu một ngày kia anh cũng ngã xuống trên chiến trường…
Đoàn công tác SVSQ Võ Bị đóng ở Chi khu nằm cạnh cầu Sắt, chiếc cầu cũ kĩ từ thời Pháp thuộc. Bên cạnh Chi khu là một ngôi trường Tiểu học. Từ trong phòng, mỗi buổi sáng Tâm nghe rõ tiếng bọn trẻ ê a,tiếng thước gõ vào cạnh bàn của cô giáo. Cách đó khoảng 500 mét là chợ Nông, một ngôi chợ nghèo ba ngày một phiên. Chợ chỉ có một quán bán bia La Rue, thứ giải khát duy nhất của Tâm và các bạn sau những chuyến đi xuống địa bàn công tác.
Trung tá Tôn Thất Khiêm, Chi khu trưởng rất chịu chơi. Thoạt đầu mới nghe tên ông, người ta cứ ngỡ ông là anh em chi đó với Đại tá Tôn Thất Khiên,Tỉnh trưởng Thừa Thiên- Huế. Xuất thân khóa V có tên Vì Dân của trường Bộ binh Thủ Đức nhưng ông rất có cảm tình với những chàng SVSQ Võ Bị. Ông đích thân lái chiếc Jeep chở bọn Tâm lên Huế chơi. Lần đầu tiên Tâm biết xứ Thần kinh với sông Hương núi Ngự. Ông còn tếu táo “Chú nào muốn xuống Đệ Thất hạm đội trên sông Hương. Anh chiều .“
Hùng, bạn Tâm than thở: “Cùng ra Vùng I nhưng có toán ở ngay trung tâm tha hồ dắt đào đi giung giăng cầu Trường Tiền.Tụi mình phải về “ hóc bà tó” kiếm đâu ra “tình chiến dịch”. Hôm kia tao thấy niên trưởng TrầnThế Hưng đi với một nường trông thật noble, nghe đâu là sinh viên”.Tâm cười.

*
Nhóm của Tâm có nhiệm vụ qua xã Vinh Hiền trình bày về hiệp định Paris cho dân chúng. Địa điểm được chọn là ngôi trường tiểu học núp dưới những hàng dừa xanh mát. Ở đây nghe nói có một ngôi chùa cổ rất nên thơ.
Các cô giáo đã giúp bọn Tâm chăng bạt, cắm hoa trang trí hội trường. Tâm để ý một cô có cái tên ngồ ngộ: Tôn nữ Thương Nhất.Trên má phải của cô có một cái núm đồng tiền cũng ngồ ngộ không kém.
Buổi thuyết trình diễn ra một cách tốt đẹp. Khi nhảy xuống chiếc đò máy để trở về bên kia Phú Lộc,Tâm nhận ra Thương Nhất cũng đang dắt xe đi xuống. Anh đỡ giúp cô chiếc xe đạp. Cô đỏ mặt lí nhí cám ơn.
Thương Nhất mặc một chiếc áo dài màu xanh da trời, quần đen, tay xách chiếc cặp nhỏ.Trông cô nổi bật giữa đám dân quê lam lủ trên đò.
Những câu chuyện trao đổi ngắn gọn cũng cho Tâm biết một số điểm chính về Thương Nhất. Học Sư Phạm, nhà trên Huế, ở trọ bên Phú Lộc, ngày hai buổi qua đò máy dạy ở trường Tiểu học Vinh Hiền.
Gió lồng lộng trên phá Tam Giang. Mái tóc dài của Thương Nhất bay phơ phất. Một vài sợi tạt ngang mặt Tâm. Mùi hương bồ kết nhè nhẹ lan tỏa. Tâm những muốn ngậm một vài sợi tóc mềm ấy. Hùng ngồi ở băng đối diện nhìn Tâm nháy mắt với một cái cười đầy ngụ ý “Tình chiến dịch có rồi đấy nhé”.
Quen Thương Nhất,những ngày công tác của Tâm trở nên ý vị hơn. Nhà Thương Nhất ở trọ cũng ở gần nhà người mẹ già của niên trưởng Kháng. Ngôi nhà tranh nằm giữa những cây chè Truồi, cây dâu da với những chùm quả treo lúc lỉu. Lần đầu tiên Tâm biết thế nào là vị ngọt đậm của bát chè xanh miền Trung.

Trong cái nắng hanh hao của tháng cuối năm,Tâm ôm đàn Guitar cho Thương Nhất hát bài Chiều trên phá Tam Giang của Trần Thiện Thanh,phổ thơ Tô Thùy Yên. Những câu thơ mơ hồ trong trí nhớ anh ngày học Văn Khoa:
Chiều trên phá Tam giang
Anh sực nhớ em
Nhớ bất tận
Giờ này thương xá sắp đóng cửa
Người lao công quét dọn hành lang
Những tủ kính tối om
Giờ này thành phố chợt bùng lên
Để rồi tắt nghỉ sớm
Mắt Thương Nhất long lanh, giọng hát cô lan tỏa trong bóng chiều chập choạng .

*
Chiều nay thứ bảy,Thương Nhất đưa Tâm lên thăm chùa Túy Vân. Ngôi chùa cổ nằm trên ngọn núi gần cửa bể Tư Hiền được xây dựng từ thế kỷ XVII. Hằng chục cây thông cổ thụ vây quanh khu rừng tràn ngập hoa dại và tiếng chim hót. Bước lên gần trăm bậc tầng cấp rêu phong, hai người đứng bên bia đá có khắc bài thơ của vua Thiệu Trị nhìn ra đầm phía Cầu Hai. Thấm mệt, má Thương Nhất đỏ au, trông cô thật quyến rũ.Tâm nghĩ thầm: “Cảnh này người ấy thì nên đổi tên chùa là Túy Nhân (người say) thay vì Túy Vân(mây say)”. Anh cúi nhìn tấm bia đá bằng chữ Hán lẩm nhẩm đọc “Vân Sơn Thắng Tích”.
.Thương Nhất tròn xoe mắt ngạc nhiên.Té ra anh chàng Võ Bị này cũng “đa hiệu “ ra phết.
Những chiếc lá vàng rơi. Một vài chú tiểu quét lá.Tiếng chuông chùa ngân nga. Khung cảnh thanh bình quá. Ước gì đừng có chiến tranh…
*
Sang tháng 1 năm 1973, đoàn công tác của SVSQ Võ Bị đóng tại địa bàn Phú Lộc đã non tháng. Mùa Xuân đã về. Sáng sáng nằm ở trên giường,Tâm nghe âm thanh những bản nhạc Xuân vang vang bên ngôi trường. Thương Nhất cũng chuẩn bị về ăn Tết. Tâm trêu bằng giọng địa phương: “Khi mô em cho anh về thăm mạ?”. Màu hồng nhuộm trên gò má Thương Nhất. Cô nói: “Mạ em khó lắm. Đưa anh về em biết nói răng?”
Tâm đưa Thương Nhất ra quốc lộ đón chuyến xe đò về Huế.
Ngày mồng Hai Tết. Sau một vòng kiểm tra cờ xí, nhắc lại âm mưu “lấn đất giành dân”của đối phương cho mấy ngưới lính địa phương quân; từ chối bữa rượu của ông Trưởng ấp,Tâm gãi đầu gãi tai xin niên trưởng Hằng về Huế với lời hứa sẽ về trước 4 giờ chiều.
Qua trường Đại Học Sư Phạm, qua Đập Đá, thôn Vĩ Dạ hiện ra qua lời dặn dò của Thương Nhất: “Nhà em ở gần phủ Tuy Lý Vương phía tay phải”
Ngôi nhà ngói cổ kính nép sau hàng tre trúc với bức bình phong long ly quy phụng chắn phía trước. Mấy chị em Thương Nhất đang đổ lục xâm hường trên sập gụ. Ba Thương Nhất tiếp Tâm trong gian phòng khách treo đầy câu đối hoành phi. Đó là một ông giáo già đã về hưu.
Bây giờ thì Tâm đã biết gia đình Thương Nhất là một nhánh trong dòng họ Tuy Lý Vương, chú của vua Tự Đức. Vốn liếng thời học Văn khoa giúp Tâm có thể nói chuyện với ba em mà không đến nổi mang tiếng “võ biền”. Và khi nghe Tâm bình về bài thơ “Mãi trúc dao” của Tùng Thiện Vương thì ba Thương Nhất đã chắc lưỡi khen và nhất định mời Tâm ở lại ăn trưa cùng gia đình.
Bữa ăn được dọn ở nhà ngang với những món đặc trưng của Tết Huế như dưa món, nem , tré, măng hầm , bánh tét…Tất cả được trình bày một cách mỹ thuật trong những chiếc đĩa sứ mỏng manh, xinh xắn.
Đi từ sớm lại chưa ăn gì, bụng đói meo nhưng Tâm cố ăn một cách từ tốn, nhỏ nhẹ qua ánh mắt quan sát kín đáo, nhẹ nhàng của mẹ Thương Nhất. Và Tâm cũng biết được sự độc đáo trong cách đặt tên của gia đình này. Ba cô gái có tên theo thứ tự Thương Nhất,Thương Hai,Thương Ba…mà Thương Nhất là chị đầu. Đứa em út trai tên Thương Tư cứ sờ nắn cái alfa đỏ một gạch mà xuýt xoa “Lính chi mà cái phù hiệu đẹp ri anh?”.
Thương Nhất đưa Tâm ra chơi sau vườn.Một khu vườn đầy cây lưu niên như mít, thanh trà, cam, quýt…Mùi hoa cỏ thoang thoảng ngất ngây. Em đọc nho nhỏ câu thơ của Huy Cận : “Đường trong làng hoa dại với mùi rơm.” Tâm tiếp lời “Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm”. Hai người yên lặng, trong khoảnh khắc mơ hồ như nghe được nhịp đập của trái tim.
Đến ở cây khế cuối vườn,Thương Nhất đứng lại với tay vít một nhánh. Mùa Xuân, khế chưa có quả, chỉ là những nụ hoa tím rung rinh. Một vài nụ hoa rơi trên tóc em. Tâm cầm tay Thương Nhất. Bàn tay mềm và nóng hôi hổi. Anh nghe lòng rung động một thứ tình yêu thanh khiết , nhẹ nhàng.

*
Mọi chuyện diễn biến nhanh chóng như một cái chớp mắt. Đêm 31 tháng 3 năm 1975,Tâm là một trong những SVSQ cuối cùng rời trường Võ Bị. Qua cỗng Tôn Thất Lễ đằng sau Phạn xá, dù đã nén lòng nhưng mắt anh vẫn cay cay. Anh bỏ lại tất cả vật dụng cần thiết ngoại trừ tấm ảnh Thương Nhất nằm trên ngực trái. Giã từ ngọn đồi 1515 với gần bốn năm lăn lộn thao trường…
Tâm đi tù tại trại Trảng Lớn-Tây Ninh. Nhờ tài tháo vát của thời đi Hướng Đạo, dù không được tiếp tế nhưng anh vẫn được coi là một trong những sư phụ dễ dàng tìm nguồn cải thiện cho mình và các chiến hữu. Nào cóc, nhái, chẫu chuộc dưới đất, nào chim chóc, hoa trái trên cây qua tay Tâm đều trở thành sơn hào hải vị . Đặc biệt những lần trại phát động phong trào làm “Báo Liếp”,Tâm chỉ ngồi một chỗ rung đùi cho các “niên đệ” tự nguyện bổ củi, cuốc đất giùm, cà phê thuốc lá điếu đóm để anh “xuất khẩu”cho bốn câu thơ đi nộp cán bộ “ i tờ rít.”
Tấm ảnh của Thương Nhất sau hơn hai năm cải tạo đã bị mồ hôi của nhọc nhằn gian khổ làm nhòe đi. Nhớ về em, Tâm chỉ hình dung được đôi mắt long lanh và cái núm đồng tiền bên má phải. Anh ngậm ngùi nghĩ tới những câu thơ của Tường Linh trong bài “Nhắn Hoàng thành có người Tôn nữ ”:
Chừ còn gì đâu gởi ra Huế nữa
Mất hết từ ngày đi
Mất hết từ hôm bắt đầu nỗi nhớ
Đường ra như có lắm biên thùy
*
Vì biết sẽ buồn
Nên ngày xưa anh không hứa hẹn
Vì giông tố nên thuyền không cập bến
Vì em là chim hót giữa Hoàng thành
Vì anh là mây chiều còn luyến trời xanh
Ra tù,Tâm đi kinh tế mới ở Daknong. Bạn hàng xóm của anh là hai ông già Nam bộ chơn chất , hiền lành. Hai ông có đến năm cô con gái. Trong một bữa tiệc thịt rừng do anh săn được, ngà ngà say, một ông lên tiếng “Thôi, cũng lớn bộn rồi. Lấy vợ đi. Anh ưng đứa nào chúng tôi cho một đứa”.
Còn gì nữa đâu.Tổ quốc. Lý tưởng.Tình yêu. Tâm nhắm mắt chọn đại một cô. Ơn trời. Đó là người vợ hiền lành, hết lòng vì chồng con.
*
Năm 2010, kinh tế phần nào ổn định do mấy mẫu cao su thấm máu, mồ hôi, nước mắt đã đến kỳ thu hoạch, Tâm đưa vợ con về thăm quê cha đất tổ Hải Phòng theo lời trăn trối của Mẹ già trước lúc lâm chung.
Xe qua hầm Hải Vân, qua Lăng Cô, vùng Thừa Lưu-Nước Ngọt hiện dần ra trước mắt. Gần 40 năm đã trôi qua. Một khoảng thời gian dài đủ xóa đi những vết tích. Cây cầu sắt và cái ga xép tiêu điều đã trở thành khu thị tứ đông đúc. Những ngôi nhà cao tầng san sát nhau. Tâm không thể nhìn ra đâu là nhà niên trưởng Kháng, nhà của Thương Nhất từng ở trọ…
Tâm bâng khuâng. Giã từ Huế. Giã từ những tháng năm đẹp nhất của đời người. Có những mối tình chỉ là một cái nắm tay nhưng cũng đủ theo ta đi suốt cuộc đời.

HƯƠNG THỦY

niềm hy vọng trong bầu trời mê sảng

nhatphong

chiếc bong bóng vỡ tan trong bầu trời mê sảng
mang theo chút hy vọng dịu dàng
đợi gì
ngày vỡ tiếng
tràn cơn khát viễn du tùy nghi

lời nguyện từ tâm vương chút hương ngọc lan
ướt sũng
trong cơn mưa bất chợt
buổi chiều hẩm hiu
úa màu thiên cổ

niềm hy vọng sẻ chia một mùa trăng hoài mong
trong bầu trời hâm hấp sốt
những vì sao tình cờ đổi ngôi
thầm khóc giao hòa

niềm hy vọng rủi may
trôi thật khẽ trên mơ hồ quá khứ
chiếc cầu vồng đơn sắc
gửi một tín điều về miền hoang tưởng

nỗi sợ hãi nấp trong bóng râm phù hoa
chìm trong nỗi lòng đại dương
ở một góc nào đó của trái tim bị cầm cố
vẫn nhói lên
niềm hy vọng khép nép trong bầu trời mê sảng

Nhật Phong

XUÂN MUỘN

xuanphong

Tết đã qua rồi, qua rất mau
Xuân muộn thì thôi có sao đâu
Sáng nay một đóa mai vàng nở
Đời muộn là do lão sống lâu
Mai muộn cho Mai thêm đằm thắm
Tình muộn thì ta an ủi nhau.

Anh đưa em đi vào mùa Xuân
Hát em nghe khúc nhạc Xuân nồng
Tặng em một đóa mai vàng nở
Trời đất vào Xuân em biết không?

Anh đưa em vào mùa Xuân đầu
Hai đứa nhìn Xuân trong mắt nhau
Nắng Xuân nhè nhẹ rơi trên tóc
Trời đất vào Xuân rất nhiệm mầu

Mồng 10 tháng Giêng Ất Mùi

XUÂN PHONG

MÁI NHÀ ĐÊM BẠCH HẠC

lephuhai

Nói đến nhà thơ Quang Dũng, ai cũng nghĩ ngay đến chàng chiến sĩ vệ quốc và khúc hành ca “Tây tiến”: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Lứa học sinh chúng tôi ở miền Nam trước 1975 cũng có biết đến ông như một “chinh phu” của một thời “Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt” (Chinh phụ ngâm), rất oai phong và cũng rất trữ tình. Bởi, bên cạnh một Tây tiến người đi không hẹn ước lại còn có lúc Thoáng hiện em về trên đáy cốc, Nói cười như chuyện một đêm mơ (Đôi bờ).

Từ sau ngày đất nước đổi mới đến nay, sáng tác của ông đã được nhìn nhận trở lại với sự đánh giá khách quan, chân thật và chính xác hơn. Chúng tôi đã có dịp lật lại từng trang Tuyển tập Quang Dũng (NXB Văn học, nhà thơ Trần Lê Văn tuyển chọn và giới thiệu) để hiểu thêm về đời tư, gia đình và bạn bè ông qua một số bài viết ngắn. Và cũng nhờ đó được biết thêm rằng ông đã thật sự xếp “kiếm cung” tự trước thuở đầu hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954). Trở về ông vẫn tiếp tục sáng tác nhưng trong những bài thơ sau này đã không còn tìm đâu được cái giọng điệu hào sảng của một thời “khoác chiến y phi tuấn mã”. Có lẽ vì ông đã không còn trẻ nữa, không còn là người lính, mà cũng có lẽ vì lịch sử đã sang trang, cả dân tộc đang lao vào một cuộc chiến đấu mới. Một số sáng tác của ông là hoài niệm về một thời chinh chiến cũ như: Đường trăng, Rừng, Gửi Sơn Tây, Nhớ một bóng núi…, một số là nỗi niềm riêng dành cho mỗi vùng đất, tên làng: Hồ Nam, Bố Hạ, Thu quê ai… và một ít dành cho tình cảm riêng tư: Nhớ về mẹ, Nhớ bạn, Không đề…

Tuy nhiên, trong từng tác phẩm, ta vẫn thấy như phảng phất đâu đó cái yêng hùng, cái giang hồ, cái hào hoa của một chàng lãng bạt.

Gần tuổi năm mươi, ông có bài Đêm Bạch hạc viết trong một dịp “lữ hành”. Ngay từ đầu bài thơ, ta đã thấy cái lãng đãng, mơ hồ, cái lang thang trên dặm trường rong ruỗi:

Có những chiếc giường lạ
Nhìn ra mảnh sân nào
Nửa đêm chợt thức giấc
Thấy ta nằm ở đâu

Người đọc bỗng chạnh lòng và cảm thương cho người lữ khách thường xuyên “ăn nhờ ở đậu” đến nỗi thức giấc nửa đêm không kịp nhận ra mình đang ở nơi nào. Không gian và thời gian ở đây như giãn ra, dài ra… bất định. Chàng đã tự ví mình như một cánh chim trời tung bay, bay mãi cho đến khi bất chợt mỏi cánh tự lúc nào không hay. Và như thế cánh chim giang hồ kia không thể và không cần chọn cho mình một chỗ trú ngụ ấm êm, như ý:

Như cánh chim mỏi cánh
Tạt vào rừng không quen
Không chọn cành ngủ đổ
Nào mong gì ấm êm

Để đêm nay bất chợt nhận ra:

Đêm nay đêm Bạch hạc
Ta lại vào nhà ai
Nghe sông Lô cuộn nước
Duềnh lên suốt đêm dài

Đêm trung du như dài ra vì khách lữ hành chợt thức giấc nửa đêm, nằm nghe tiếng sông Lô cuồn cuộn chảy. Dòng sông của một thời kháng chiến vẻ vang đã từng làm nên chiến thắng? Dòng sông có những kỷ niệm êm đềm của một thời đánh giặc ngoại xâm?

Bạch Hạc, tên một vùng đất? Tên một dòng sông? Hay chính là tên của một loài chim đang mãi hoài bay xuôi theo dòng đời chưa mỏi mệt? Đã có một tên đất như thế, tên một dòng sông như thế và chắc chắn rằng đã có tên một loài chim-lữ-khách như thế: Bạch Hạc. Nhưng không phải là “một con hạc trắng bay về bồng lai” mà là một cánh chim bay cô đơn giữa đời, giữa trời bão giông với những hoài niệm dĩ vãng chưa thể nào quên được.

Sớm mai rồi tiễn biệt
Tóc đẹp nhường bâng khuâng
Một đêm dài để nhớ
Những người xa vô cùng

Ai đã và sẽ là “những người xa vô cùng” ấy để chàng lãng tử suốt đêm nằm nhung nhớ? Người vợ hiền thảo ở chốn quê nhà? Cô em vườn ổi ngày xưa? Cô gái tản cư bán quán bên đường hay một người “tóc đẹp” nào miền non nước sông Lô đang chờ nói câu tiễn biệt? Ta như thấy ẩn nấp đằng sau những câu thơ kia có dáng một “bóng hồng”. Nhưng sẽ là điều không phải nếu cứ đi tìm một con người cụ thể. Bởi vì đường đời mà người lữ khách kia đi qua dặm dài nhiều theo năm tháng, chất chứa trong trái tim độ lượng của thi nhân chừng như không mang nổi. Hãy cứ nhìn thấy ở đây một tâm hồn hiệp sĩ vị tha, chan chứa lòng yêu. Dễ thương yêu và khoáng đãng như mây trời đến nỗi chỉ một khoảnh khắc cảm nhận bất chợt dọc đường thôi cũng đủ làm sợi dây hồn rung lên những nốt ngậm ngùi, cảm xúc. Và cũng giống như năm xưa người lính vệ quốc rời quán nước giữa trưa ra đi: Hồn lính vương qua vài sợi tóc, Tôi thương mà em đâu có hay, bây giờ, chàng lữ khách tóc sương lại khăn gói lên đường mà lòng mơ hồ bâng khuâng mãi:

Mái nhà đêm Bạch Hạc
Có nhớ người đi không?

Câu hỏi thể hiện như một tự vấn không đòi được trả lời. Thậm chí câu hỏi không phải là ngụ ý “ai đó” có nhớ “tôi” không mà cái tình riêng ở đây – nếu có – đã đồng hóa vào cái vật chất là “mái nhà đêm Bạch Hạc”, và cái “tôi” ở đây bỗng như lớn vượt ra ngoài cái tôi-bản-ngã để trở thành cái tôi-người-đi. Mái nhà đêm Bạch Hạc, Có nhớ người đi không?

… Và bây giờ người lữ khách ấy đã thực sự đi rồi (1988). “Con hạc trắng” đã thực sự đi vào “cõi bồng lai”, bỏ lại cho đời, cho người một cõi lòng rộng lớn đầy ắp yêu thương. Và chắc chắn rằng những “mái nhà đêm Bạch Hạc” sẽ không bao giờ quên được bóng hình ông.

Lê Phú Hải