ABC

Trường Nghị

images

Có lẽ ngày xưa các cụ của ta hẳn bấn loạn ghê gớm khi bỏ bút lông cầm lấy cây bút sắt để viết chữ “quốc ngữ” – kiểu chữ abc (!). Cái “chữ ta”, chữ Nho của Hán ngữ mà lâu nay các cụ tụng như tụng kinh, theo các cụ đó là chữ của thánh hiền. Chữ thánh hiền là chữ của đạo nghĩa. Không ít người kể lại chuyện các cụ khi tập viết chữ, viết xong phải nhai chúng nuốt vào bụng. Chữ của thánh mà vứt bỏ bậy bạ sẽ ô uế, tỏ ra bất kính. Không biết có phải vậy không, nhưng cũng không ít người kể lại rằng các cụ nuốt chữ vào bụng là để chữ ở luôn hẳn trong người, may ra khi đi thi còn có chữ lấy ra tranh làm ông Nghè ông Cống với thiên hạ !

Thời của các cụ còn đậm hằn cái tư tưởng người An Nam phải học chữ An Nam. Cái chữ viết bằng cái bút sắt kia là chữ của Tây, của giống bạch quỷ đang gặm từng tấc đất của cha ông như tằm ăn dâu. Chữ của Tây là chữ của quân xâm lược, chữ của chúng làm sao có đạo lý bằng “chữ ta” … Ấy đấy, nhưng chữ viết ta đang dùng hiện nay lại là chữ của Tây, là chữ “quốc ngữ” mà hồi ấy các cụ đay nghiến! Thế mới đau cùng các cụ! Nhưng kể ra cũng lạ, nỗi đau nào rồi cũng đụng tới cái ngưỡng hòa tan với sự trưởng thành của chính con người. Thế mà đến tận bây giờ, có người còn cho rằng chữ Quốc Ngữ, chữ của mấy ông Cố đạo Tây sáng tạo từ thời Trịnh Nguyễn ấy, họ phát minh ra chúng chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là tạo ra một phương tiện truyền đạo để rồi gieo rắc bao tai ương cho đất nước (!?), không cần phải tri ân, không cần phải dùng tên của họ đặt tên đường để biểu lộ lòng biết ơn! Hãy coi chữ “quốc ngữ” như là một “chiến lợi phẩm” Tiếp tục đọc

TÔI THỰC SỰ CẢM THẤY XẤU HỔ

Khuất Đẩu

220px-Derhodes

Hơn 300 năm trước, bằng 24 chữ cái và 5 dấu các giáo sĩ dòng Tên và cha Đắc Lộ đã cơ bản ghi lại trên giấy thứ tiếng “hót như chim” của người Việt.

Đó là cánh cửa thần kỳ mở ra cho cả Đàng Trong và Đàng Ngoài cơ hội tiếp cận với văn minh Âu châu.

Tiếc thay cánh cửa ấy đã bị đóng sập.

Phải chi các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong có được một phần mười cái tầm nhìn của Minh Trị thiên hoàng thì nước Việt Nam ta ngày hôm nay không cần phải đổ bao nhiêu xương máu mới giành được độc lập và dĩ nhiên không cần phải có một Điện Biên Phủ mới khiến cả thế giới kính phục.

Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du đã không phải viết bằng thứ chữ nôm khó đọc khó viết, nửa vay mượn của chữ Hán, nửa thêm thắt tùy tiện một cách rối rắm, thứ chữ mà giá như không có chữ quốc ngữ thì dù có ra sức đến đâu chắc chắn hãy còn một nửa nước mù chữ Tiếp tục đọc

BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG

Sống câm nín như rêu
Đôi mắt đen quá khứ
Không nhìn thấy tương lai
Trong đóa hồng phủ dụ

Nói những lời muộn màng
Làm sao nghe thấy được
Bên này cánh cửa gương
Mưa giăng hàng phía trước

Sống rơi rớt như mưa
Môi chưa quen nói dối
Những lời hứa xa xưa
Đã tàn theo bóng khói

Nói những lời vội vàng
Người bước xuống một tối
Bên kia bờ đại dương
Mây bay mù dáng núi

Sống lơ đãng như mây
Thắp nến quanh mộ tối
Chờ một cánh sao bay
Xuống hồn tôi chết đuối

Nói những lời âm thầm
Quên màu xanh cỏ mướt
Nói những lời êm đềm
Quên mùi thơm của đất

Thôi ngủ yên ngủ yên
Trên giòng đời quên lãng
Thôi ngủ yên ngủ yên
Giữa đôi bờ huyễn ngạn…

TÔN NỮ THU DUNG

BÓNG NƯỚC LUNG LAY

Có bóng đợi hai bờ lau lách
Có nỗi chờ cứa xót thời gian
Nghe nói dòng đi không trở lại
Sao tấp vào tôi những chia tan

Hai phương trời neo hai bến đợi
Gió ở đâu thổi bung nhịp nối
Tìm nhau thương khó tóc tơ xưa
Nước mắt chảy đằm cơn mộng đuối

Nghe nước réo một bờ xa vắng
Tím long đong những cánh lục bình
Tóc phai mầu hai bến nổi nênh
Chân bước đuổi bóng chiều sắp cạn

Gió thổi lạnh đã nghìn chân tóc
Tóc mùa xuân đã lạ bao giờ
Hai cánh tay hai dòng sông lỡ
Nghìn trùng điểm nối sóng lô xô

Hai biển mắt hai bờ lệ dựng
Dòng chảy buồn bóng nước lung lay
Lung lay mà gọi nghìn năm nữa
Lún chân ngày cỏ nhú trong tay

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Chính Tả Chính Hữu

Lưu Thy

chinhtachinhhuu

Có Chính thì phải có Tà, có Tả thì phải có Hữu. Đáng lẽ tôi định lấy cái tựa Chính Tả Tà Hữu cho nó đối nhau chan chát, nhưng rồi lại sợ bị bà con phản đối la làng. Bên nào cũng muốn mình là chính, chả ai chịu là tà. Chính Tả Chính Hữu, Tả cũng chính mà Hữu cũng chính là hai bên đều bằng lòng hả hê! Khỏi có tranh luận ì xèo nói qua nói lại. Tả Hữu bắt tay chung sống hòa bình.

Tả là trái mà Hữu là phải. Tả Hữu thì lúc nào cũng đối nghịch nhau. Cứ mỗi lần đi coi thầy bói, tôi lúc nào cũng phải lẩm nhẩm cái câu “nam tả nữ hữu” để khi gặp thầy mà đưa cái bàn tay ra cho đúng. Chứ nếu không lạng quạng đưa sai bàn tay là thế nào thầy cũng phán cho cái câu “có bà Bóng trong người” là ế tới già, đời tàn trong ngõ hẹp. Còn lái xe, thì lúc nào cũng nhớ giữ phía bên phải mà đi, nhưng khi bỏ “xế” đi bộ băng qua đường thì ngoài nhìn phải còn phải nhìn trái, lại nhìn đằng trước canh chừng cái đèn cho người đi bộ vẫn còn xanh hay sắp đỏ tới nơi mà chạy cho lẹ và thỉnh thoảng quay đầu nhìn đằng sau coi chừng móc túi. Luật là luật nhưng mà cứ cứng đầu cứng cổ ôm khư khư bộ luật thế giới qua áp dụng bên Anh, bên Úc thì chỉ có nước mà đi tham quan nhà thương, thăm hỏi bác sĩ và nằm trên giường mà nói chuyện tán tỉnh mấy nàng y tá xinh đẹp Tiếp tục đọc

DỐC RÊU VÀNG

Dốc rêu vàng óng nắng
Ta thả nụ tình phai
Con dốc tình yên ắng
Một mình lặng…nhớ ai?

Hàng thông dài thương nhớ
Hoa cỏ may ngậm ngùi
“CUNG TƠ CHIỀU” réo rắt
Buồn ngõ đóng then cài

Ta một đời hiu hắt
Lặng thầm ngắm mây bay
Anh một Trời xa lắt
Vàng nỗi nhớ trên tay

Dốc rêu vàng óng mượt
Lẩn thẩn một mình ta!
Ký ức xưa nà nuột
Âm ấm nỗi xót xa

Ta ngã nhoài vạt nắng
Hoa tím nhàu úa tay
Từng giọt dài giọt ngắn
Ướp hồn đau một ngày

Dốc rêu vàng không Anh!
Dặm dài cài nhung nhớ
Ôm nỗi buồn quẩn quanh
Hồn rêu hoang thờ thẩn

…Dốc tình vàng rêu phủ
Hồn rêu hoang tàn phai…

DAO LAM

ĐI.

Tôi mờì em đến với tôi
Sân ga
Làm một cuộc chơi cuối cùng
Đi là
về với giòng sông
Buồn như tiếng hát trong lòng sớm mai
Dù tôi còn
một nỗi này
Cũng xin như tiếng thở
dài thoát đi…
PHẠM KHÁNH VŨ.

CHÌM DƯỚI CƠN MƠ

Lê Sa

file5431294601771

Trước mặt tôi là cánh đồng, cánh đồng xah ngút mắt , cánh đồng vẫy gọi tôi…
Và đàn cò trắng kia nữa, đàn cò vẫn còn đó, vẫn mãi miết soãi mù đôi cánh theo về trong chiều muộn. Chúng mang theo những hạt nắng vàng côi cút thả xuống mặt nước lặng lờ trôi. Trôi hoài trong tịnh mộng. Tôi bước đi rất nhẹ, rất thầm về phía dòng sông.
Không hiểu bằng cách nào. Sông thì rộng, nước lại sâu nhưng tôi vẫn qua được phía bờ bên kia hãn hữu. Chiếc cầu ván ngày xưa đâu rồi!. Chỉ còn lại mỗi vết tàn tro vắt hỏng hờ trên mặt nước. Gần bờ, một lá đò nang úp mặt, chiếc dầm chèo cắm sâu vào lòng cát chãi, trông như một thập giá cụt đầu xô nghiêng. Chiếc cầu xưa, mẹ đã từng cõng tôi đi đi về về suốt bao ngày thơ ấu. Cũng như tôi đã từng cõng em sau những giờ em tan dạy. Hơi thở em đẳm hương mùi thánh khiết, phiêu du trên má tôi môi tôi. Một chúm môi thơm, một làn cỏ rối… Liệu tôi giúp được gì cho em khi phải qua bên kia dòng sông. Nơi mà em đã khẩn khoãn đã van nài tôi – Anh ạ! Giúp em đi. Dẫu là trong hơi thở cạn của một kiếp người… Anh thăm lại giùm em đi anh Tiếp tục đọc

GIÓ

ÂU THỊ PHỤC AN

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Dạo nầy tôi thấy mình hơi lạ, vô tâm và chểnh mảng với mọi thứ quanh mình, ngủ tới 10 giờ sáng như một cô công chúa nhỏ được cưng chìu. Tôi ghét tiếng tích tắc của đồng hồ và tôi đã tháo pin ra. Tôi uống sữa trong tủ lạnh hoặc là một thứ nước giải khát nào đó mỗi khi tôi thức dậy, tôi nốc đến no bụng rồi lười biếng đi đánh răng.

Vừa đánh răng tôi vừa nhìn mình trong tấm kiếng, tóc tôi được quấn vội trong một cái cột tóc, tuy vậy vẫn bù xù đến phát chán, sau đó tôi rửa mặt và cổ, thấy hài lòng vì sự mát mẻ của một đầu ngày không có gì bận rộn.

Sự im lặng không có tiếng người của căn nhà làm tôi thấy khoái trá, tôi nghe tiếng chân mình lê sột soạt trên nền gạch, tôi nghe tiếng hai con chim yến phụng gù nhau trong lồng, phía trái mái hiên, và có lẽ lá mới của cây mai già cạnh bàn thờ ông thiêng cũng đang lách tách chào đời. Vài cái lá non len lén lú ra mới dễ thương làm sao. Và mấy cái nụ hoa lan cũng đang ửng tím dưới sắc vàng của ngày. Mọi thứ gì mới mẻ của tạo hóa kỳ diệu cũng khiến tôi nao lòng, một sự mềm yếu không biết là do đâu Tiếp tục đọc

CHẲNG HAY

Chiều dựng mùa đông mây xám ngắt
núi cao trời thấp có ta về
giang hồ đâu có ai phong ấn
mà nghĩ từ quan trở lại quê

Ta đi, xưa gió đưa vài dặm
ta đi, xưa mưa ướt vừa căm
quê nhà ngoảnh lại mờ trong gió
hình như không đủ buồn trong lòng

Ta đi, có những ngày trú quán
lòng mốc tình khô như lá bay
ngồi quán suốt ngày trông thiên hạ
ta có sầu không ta cũng chẳng hay

Ta đi, có những ngày khô héo
chẳng nhớ quê nhà, chẳng muốn về
mẹ, chị, đàn em như bóng khói
nương với đời ta quay quắt trong mê

Ở đâu rồi cũng đời vất vưởng
chiều lặng lòng câm dạt phố người
khi không ta có đời lang bạt
đời học trò xưa khép cánh hổ ngươi

Chiều nay không hẹn ta lại về
mùa đông dài vẫn níu chân quê
ta về gió đón phong sương lạnh
ta về, mưa đón ta về quê

Thôi chẳng về chi thôn xóm quạnh
nhà xưa giờ chắc cũng điêu tàn
đứng đây đường cái quan bên núi
ta cũng đã trầm lòng mê mê

Chiều dựng mùa mưa bên vách núi
chiều neo sương khói buổi ta về
mẹ, chị, đàn em không có mộ
thăm ai? thăm ai? ta về quê.

VŨ HỮU ĐỊNH