DẠ KHÚC MÀU

màu trăng – trắng lá vườn mưa
màu sân ga xám buồn đưa theo người

màu tim – tím lặng chân trời
màu môi thiếu phụ – buồm xuôi xế chiều

màu tan tác tiếng chim kêu
lòng ai nước chảy đò xiêu xiêu dòng

giờ ai tay dắt tay bồng
tình tôi ố, nhạt, dường không đọng màu.

TRẦN ANH

ĐÊM QUA NẰM SỐT

Ta biết ta buồn hơn thuở trước
Gió ngoài sân gió thổi mưa về
Sáng nay lòng bỗng dưng muốn khóc
Nhớ đêm qua nằm sốt ta mê

Đêm qua nghe tiếng phone em gọi
Từ xa xăm khuất nẻo đường tình
Từ xa xăm vầng trăng vàng ố
Thương ngày phiêu bạt chốn đao binh

Em cũng không còn em thuở trước
Tóc thề xưa cắt ngắn lâu rồi
Tay mỏng mảnh nắm tay ngườikhác
Môi ngọt ngào hai tiếng “nhà tôi “

Trái tim đau nhói như trăm nhát
Đâm cuộc đời ta chảy máu tươi
Đêm qua thức giấc mà muốn khóc
Thui thủi một mình bóng lẻ loi

Ta biết ta buồn hơn thuở trước
Lần ra đi giã biệt Sài Gòn
Lần ra đi thôi đành đánh mất
Câu thề trót hẹn mấy mươi năm

LINH PHƯƠNG

CẠN DUYÊN

NGUYỄN THỊ MINH NGỌC

file9281319987969

Chưa tới ngày giỗ đầu của cha tôi mà bốn chị em tôi đều có bốn người đàn ông chân thành muốn tiến tới hôn nhân…
Chẳng ai mai, ai mối mà tự nhiên thành… Ai cũng nghi là do vong linh cha tôi phù hộ… Qua giọng điệu trao đổi, tôi có cảm giác là họ nội thoáng một chút gì không vui lắm. Dĩ nhiên, nếu do chính tay họ se được bốn mối duyên lành này thì họ sẽ thích hơn nhiều.

Cứ như là trúng số, một người bạn cũ của chị Sáu ở Na Uy viết thư giới thiệu anh Lễ đến nhà tôi để nhờ chị tôi đưa đi tham quan một số cảnh đẹp của thành phố… Vẫn xe đạp cọc cạch như tự bao giờ, chị Sáu mượn thêm một chiếc xe đạp nữa của thằng Cu Nhí trong xóm để hai anh chị dong chơi qua các phố phường. Khi đã hơi thân, anh Lễ ngỏ ý nhờ chị Sáu tôi kiếm vợ giúp… Chị Sáu đưa anh đi gặp một số các cô gái trẻ trung hơn, bạo dạn hơn, xinh xắn hơn nhưng không ngờ cái vẻ ni cô của chị Sáu lại thu hút anh. Trước khi về nước, anh xin phép được tặng chị một chiếc xe Dream nhưng chị cương quyết từ chối. Chị vốn sợ tốc độ. Anh đề nghị làm lễ đính hôn và hẹn lượt qua sau làm đám cưới, chị cũng không cần. Chị muốn mai mốt cưới hỏi luôn một lượt. Lý do hết sức đơn giản là để bảo vệ tuổi thọ cho má tôi, rút kinh nghiệm từ cái chết của cha tôi sau lượt bốn chàng rể không thành.
Cũng với lý do đó, chị Năm nói với anh Khiết, út Mười nói với Minh và, tôi nói với Quân rằng ít ra cũng đợi mãn tang cha tôi và tổ chức sống chung trong tương lai hết sức đàng hoàng rồi mới cho má biết Tiếp tục đọc

PHẢI CHI…

nguyenngocnghia

Phải chi chiếc răng em đừng khểnh
Đời ta chắc đã bớt chông chênh
Bước thấp bước cao thương nhớ vụn
Mấy mươi năm mãi trượt dốc tình

Phải chi
Má đồng tiền em đừng sâu như thế
Thì đời ta đâu hun hút vô minh
Soi mặt mình dưới lòng suối cạn
Tua tủa dọc ngang bùa chú nhân sinh

Phải chi, xưa em về ngõ khác
Tội nghiệp chi cây lá tương tư
Áo thiếu nữ trắng trời mưa bạc
Gói nhớ nhung, một phút tình cờ

Phải chi em đừng mang guốc mộc
Cứ như bây giờ giày bóng đế êm
Tiếng guốc khua hồn ta lóc cóc
Sao giữ lòng mãi được tịnh yên ?

Phải chi em cứ câm như hến
Thỏ thẻ chi giọng Huế lụa vàng
Ta lãng tử dễ gì say mật
Thế mà say sóng nước Hương giang

Phải chi tim ta khoang thuyền trống
Chở gió trăng lãng đãng phiêu nhiên
Chất chi khẳm một khoang hình bóng
Để tròng trành đắm giữa vô biên…..

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

GIẤC MƠ MÙ NHẤP NHÁY

tôi đã thử một hoàng hôn
sợi dây thừng quanh cổ
ngược phố tan tầm, phải đối mặt với gió
lãng du trượt khỏi những đường băng của không khí
ngã tư trong cuộc sống của bạn bắt đầu.

tôi đã kết bạn với nỗi buồn và sự cô đơn
cho giấc mơ đêm lạnh
và giọt mưa ướt những khó khăn
giấc mơ của hàng ngàn người không ngủ
tìm kiếm những ngôi nhà trôi dạt trong đêm yên tĩnh.

ai lấy đi một trái tim
nhưng tối nay tôi sẽ làm cho tình yêu được thắp sáng
góc của mắt mình
không bao giờ đau khổ để biết tuổi
thậm chí không quen thuộc với cái bóng
dựa trên vách đá trần nghe bản thân mình rách rưới
nhìn vào bầu trời mùa thu nghiền nát hoàng hôn’

tôi muốn bạn là một đại dương lớn
thời gian không phải là chủ sở hữu của những con tàu
đừng cho anh ta một ngọn núi cằn cỗi khác
ngọn núi rùng mình ở dưới cùng của vực thẳm
suốt đời không nghe thấy những đám mây trắng.

tôi đã ở đây, một nơi để nghe tiếng vọng trở lại với đức tin
bầu trời mùa xuân cuối cùng dưới các đám mây của thời thơ ấu
thoáng giấc mơ mù nhấp nháy
bỏ lại phía sau, lạnh và tối
sân bay linh hồn nghẹt thở đau tê.

NGUYỄN MAN NHIÊN

THẢ TÌNH

Thuỵvi

CaffeTrieste1980-DonMoses

Lòng đã dặn lòng phải chấm dứt mối tình này nên tôi cố tình né tránh tất cả những gì có liên hệ đến anh kể cả những trang báo anh thường cộng tác tôi cũng không mở ra xem bởi vì chỉ cần thoáng thấy tên anh thôi là tôi biết mọi chuyện sẽ như cũ, mọi cái rồi sẽ phục hồi và tôi lại tiếp tục ray rức trong cách lựa chọn…Chọn anh hay đời sống tôi? Cái nào buông cái nào bỏ trong khi mọi thứ đã an bài – Đời sống đã an bài – anh thì bị đóng chặc trong hoàn cảnh cố định – tôi thì chịt chằng giây mơ rễ má. Nếu bỏ mặc? Ừ thì thí dụ vậy đi – Bỏ mặc để chọn nhau, tung hê mọi thứ để thuộc về nhau thì liệu chúng tôi có đủ nhẫn nại phớt lờ mọi sự, mọi lời ong tiếng ve thường nghiêng về lý với những biếm nhẻ đầy thị phi của những người chung quanh ? Thì cứ cho là mặc thiên hạ nói gì đi, nhưng liệu tình yêu có đủ để chúng tôi đương đầu với những oan khiên mà những hệ lụy đâu đâu như những bóng ma sẽ vây bủa, bắt buộc chúng tôi phải va chạm với vô số khốc liệt của thực tế?

Trong khi tôi đang tin mình bằng lòng về quyết định độc đoán này thì bỗng dưng sáng nay một bài viết mới nhất của Nguyễn Xuân Thiệp về quán Caffe Trieste ở San Francisco do một người bạn chuyển tới khiến lòng tôi sóng sánh một nỗi buồn đủ đánh thức nỗi lãng quên tưởng đã ngủ yên. Bài viết cũng đủ cho tôi bàng hoàng nhận ra hồi ức đẹp tưởng chôn lấp rồi, phủ che thẳng thớm rồi, ai ngờ lũ lượt tràn về vì chính những dòng chữ vô tình ngắn ngủi ấy như khai thông cho một lỗ mội làm sống lại một mảng đời rộng lớn gắn bó của tôi và anh. …Tự nhiên, ngực tôi thắt lại với nỗi bất an vì ngỡ ngàng nhận ra một sự thật mà suốt một năm nay tôi thực hiện hoá ra chỉ là tự mình vẽ một ảo giác cho riêng mình.

Chuyện bế tắc của chúng tôi khởi đầu từ hơn 40 năm về trước nhưng anh chưa bao giờ nhắc lại theo kiểu chẻ sợi tóc làm ba làm tư để trách móc hoặc đổ thừa, mà anh lúc nào cũng là chổ dựa duy nhất đầy tin cậy để tôi men đến khi gặp khó khăn hay phiền muộn cũng như cách hành xử của anh khiến tôi tin vào lòng chung thủy chứ không phải câu anh thường nói “Anh thương yêu em rồi, anh không còn thương yêu ai được nữa” được lập đi lập lại từ trước tới giờ cho nên dù chúng tôi có khi thân nhau, thân nhau nồng nàn, có lúc rời rạc, không ít lần đứt khúc, anh vẫn sẳn lòng giang tay, cưu mang mà không cần nhận bất cứ một hồi đáp hứa hẹn nào.
Thời gian đủ dài để chứng minh tấm lòng về sự chắt chiu một hạnh phúc mong manh như vậy mà tôi hết lần này tới lần nọ cứ tìm cách phá nát, muốn buông tay, muốn thả cho tình bay vì không chịu nỗi những áp lực vô hình quá lớn.

Tôi thay quần Jeans rách ống bạc thếch, áo sơ mi và có ý muốn đi đâu đó cho khuây khoả. Tôi khoá trái cửa và bước ra đường với những bước chân nhẹ tênh. Lúc đầu tôi định đi dạo quanh mấy blocks gần nhà nhưng bước chân dẫn dụ tôi ra phố rồi tạt vào quán café quen đứng loay hoay chờ tới phiên mình mua ly café không đường không sửa xong bưng ra ngồi trên chiếc ghế sắt cao nghệu có nệm đặt dọc theo mái hiên dưới tấm bạt và hồn vía cứ lơ mơ tận phương nào. Trong khi tôi ngồi một mình, nhấm nháp ly cà phê đắng nghét lâu lâu lơ đãng ngửng nhìn như chờ đợi mà có chờ đợi ai đâu, có khi cắm cúi săm soi những tấm hình trong cuốn tạp chí mà đầu óc mênh mang nhưng lạ thay khung cảnh này với mùi càfé nồng nàn khiến tôi lại thấy thấp thoáng hình ảnh anh và rưng rưng nhớ câu nhắn khẩn thiết hồi năm ngoái “ Về nghe em, chúng mình phải đến Givral trước khi người ta đập bỏ nó”. Có lẽ tâm trạng anh giống như nhiều người yêu Saigon khác, muốn bảo tồn nơi chốn – kỷ niệm ” Xưa vốn thế – nay vẫn thế..” nên Đỗ Trung Quân đã có lần tức tối : “ Ôi, hãy tưởng tượng một người Paris một buổi sáng ra phố, bỗng thấy ở cái chỗ bao nhiêu năm là nơi có cái bảng hiệu Café des Deux Magots, hay Café de Flore, nay chỉ là những đống gạch vụn, để rồi sau đó thấy dựng lên một thứ Mỹ không ra Mỹ, Tàu không ra Tàu, Ấn Độ không ra Ấn Độ…” Để an ủi, tôi hẹn anh: “ Khi nào qua thăm, em sẽ đưa anh đến cà phê Trieste, viếng lại San Francisco nơi hơn 40 năm trước anh đã từng ghé qua và hiện nay nơi đây vẫn còn giữ quá khứ, hiện tại trong một khúc đường ẩn chứa nhiều điều thú vị”

Anh là một nhà văn đã gắn bó với chữ nghĩa từ rất sớm, lại là nhà văn Quân đội nên dù tôi không thể mường tượng được hết những năm tháng “ thất kinh lận đận” của những nhà văn còn kẹt lại sau năm 1975 ra sao nhưng tôi biết họ sống không dể dàng chút nào, vì vậy được làm người thật thân hiếm hoi của anh, được anh cho xem hàng trăm bài viết ngắn, dài về cuộc đời được giấu kín đâu đó mới thấy được sự mê say miệt mài viết của anh là điều gì đó rất mãnh liệt thầm kín và mới cảm nhận sức phấn đấu của anh mới thật là dễ sợ, thật đáng phục.
Anh là một nhà văn lững thững đi gần tận mức cuối trên văn đàn nhưng anh thường chọn thái độ sống một mình, tránh né hết thảy mọi đàn đúm bè phái xu nịnh. Đối với bạn cùng tâm ý anh hết lòng hết mực mặc dù nhìn bên ngoài người ta thấy anh như có vẻ phớt lờ một cách điềm đạm đến bình thản. Tình yêu cũng vậy, anh rất ít tỏ bày, đặc biệt, chỉ nhìn, tôi mới thấy cái nhìn của anh thật chậm, một cái nhìn thật yêu thương đầy lãng mạn nên anh không cần nói chỉ một ánh nhìn thôi tôi cũng đủ ngất ngây rồi, nỗi ngất ngây của tuổi con gái thanh tân, cũng như một cái nhìn trong mỗi lần gặp nhau thôi cũng đủ cho tôi sống trọn vẹn những khắc giây đắm đuối của một kiếp đàn bà. Qua ánh mắt đó, tôi biết chắc chắn trong đáy sâu trái tim anh lúc nào cũng cất giữ những góc ký ức của chúng tôi cho riêng mình và sẽ mang nó về nơi thiên cổ cùng anh.

Tuy chúng tôi gặp nhau, xa nhau nhưng chưa lần nào anh nói về những chuyện riêng của gia đình, điều này không phải tôi không thấy là anh có vẻ thu nhỏ đời sống của anh cũng như có khi thấy anh như đang sống trong một cái lưới bịt bùng thiếu không khí nhưng anh vẫn tỏ vẻ là người biết chịu đựng với tất cả tự tin của mình… không biết có phải vì thế mà bút lực anh không suy suyễn để có thể lấp trống những nỗi muộn phiền, cũng như đang tận dụng từng năm tháng ngắn ngủi của sự sống để làm nốt những việc còn lại…

Tôi uống hết ngụm cà phê cuối cùng rồi lơ đãng nhìn lên thấy trên đầu chói loà những chùm nắng khiến tôi cảm thấy an ủi thầm hài lòng trước cảnh vật còn y nguyên một mùa hè lộng lẫy.

. thụyvi

* Tranh vẽ khúc đường nơi có quán Caffe Trieste ở San Francisco
* Mời quý vị tạt vào đây để cảm nhận và hòa nhập không khí của Caffe Trieste: http://www.caffetrieste.com

( Hầm Nắng, cuối tuần nghỉ Memorial Day & Golden Bridge San Francisco 75 years old – 2012 )

DƯƠNG CẦM LẠNH

Anh chìm đắm
trong tiếng dương cầm du dương
đôi tay anh dang rộng,

em xa quá xa…

Anh gọi em
hãy cùng anh lạc chân miền hoang lạnh
từng nốt, và từng nốt
nhảy nhót trong đầu em,
anh đâu …?

Cung nhạc gãy
khi đôi tay không còn cảm xúc
nhạt nhòa từng phím đàn
bỏ ngỏ nơi bờ môi.

Dương cầm giờ đây
phủ đầy rêu, loang lổ
Ai chôn dư âm vào nỗi nhớ ?
Lạnh lòng,
chờ,
bước chân ai
về…!

QUỲNH ĐỎ

Ở ĐỒNG DƯƠNG

Sadi xưa rửa mặt chốn nào
Giờ còn lại nỗi đau hình viên gạch
Chiều nghiêng ngả lời chào chim khách
Đêm chực hờ sao bủa bủa câu kinh

Đêm chực hờ ngọn gió vô danh
Thổi qua gạch, thổi hoài tre nứa hát
Lũ đom đóm đốt đèn soi đất Phật
Đã bao khuya chờ thắp sáng cho mình

Sadi ơi thuyền bát nhã thôi đành
Trời đất rộng nghìn năm gang tấc
Có con dế đêm muộn phiền câu kệ
Ao thì vuông khổ ải nhốt sao vừa

Tôi đứng đây như một ngọn tháp thừa
Bỏ nhân thế một ngày nghe đã nhớ
Về gõ cửa thời gian mà cứ ngỡ
Ai giấu chiều trong tấm áo cà sa

Sadi ơi, những tháp đã qua đời
Còn vương vãi nỗi buồn vuông như gạch
Nghìn năm trước giữa ráng chiều đỏ quạch
Bức tranh vân cẩu vẽ xong rồi…

NGUYỄN TẤN SĨ

CHUYỆN TÌNH NGƯU LANG CHỨC NỮ

Phạm Hoài Nhân

15-3fa4b

Ngày xưa, xưa lắc có đôi tình nhân yêu nhau đắm đuối. Chàng là Ngưu Lang, nàng là Chức Nữ. Cả hai say đắm trong men tình nên chểnh mãng việc Ngọc Hoàng đã giao. Ngọc Hoàng trừng phạt hai kẻ yêu nhau bằng cách đày hai người kẻ ở đầu sông, người cuối dòng sông Ngân.

Từ đó và nhiều ngàn năm sau nữa, đôi uyên ương xa cách nhau trong nỗi nhớ đằng đẵng, mỗi năm họ chỉ được gặp nhau một lần vào tháng Bảy. Nước mắt trùng phùng làm nên những cơn mưa ngâu sụt sùi không dứt.

Nhiều ngàn năm, Ngọc Hoàng vẫn chẳng động lòng và cho rằng đó là hình phạt xứng đáng dành cho những kẻ có tội.

Thế nhưng mấy năm trở lại đây, dường như Ngưu Lang Chức Nữ không còn yêu nhau nữa. Họ không còn nhớ nhau, thậm chí tháng Bảy đến họ cũng chẳng coi là thời điểm phải đợi chờ. Ngọc Hoàng nghe Nam Tào báo cáo lại sự việc trong một buổi… họp giao ban và Ngài vừa ngạc nhiên vừa bực bội. Nếu họ không còn nhớ nhau thì hình phạt còn có ý nghĩa gì nữa Tiếp tục đọc

Alexandre de Rhodes

giao-si-dac-lo

Đúng ngày 5 tháng 11 năm 2013, bên cạnh một tấm bia mộ, nếu có, với hàng chữ như thế này:

Alexandre de Rhodes
15-3-1591 Avignon, France
5-11-1660 Isfahan, Persia

nếu còn đọc được, ở trong một khu nghĩa địa cổ, nếu còn hiện diện, ở cái xứ Iran, sẽ không có một vòng hoa, một bó hoa, hay ngay cả một bông hoa nhỏ nào hết dành cho người nằm dưới mộ.

Ông là Elexandre de Rhodes, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1591 tại Avignon, nước Pháp, gia nhập dòng Tên tại Roma, được chỉ định truyền giáo tại Ma Cao rồi sang Việt Nam truyền đạo hơn 20 năm, học tiếng Việt rồi đi khắp nơi từ Nam ra Bắc, từ Đàng Trong tới Đàng Ngoài giảng đạo. 6 lần bị trục xuất và cả 6 lần ông đều tìm cách trở về, để rồi bị mang bản án tử hình rồi bị trục xuất ra khỏi Việt Nam vĩnh viễn.

Hơn 20 năm ở Việt Nam, ông không để lại một công trình gì lớn cho giáo hội, ngoài một cuốn từ điển để đời, cho cái xứ sở không muốn ông hiện diện, không chấp nhận và ngay cả muốn lấy đi mạng sống của ông Tiếp tục đọc