HOẠT CẢNH NGÀY XUÂN

NGUYỄN MỘNG GIÁC

1177364120121116191909937

1.

Như thường lệ hàng năm, những tờ báo Xuân sặc sỡ xuất hiện cũng lúc với những chợ hoa mai, quầy bánh chưng bánh tét trên hè phố. Hai cụ già đứng quanh một thùng bán báo Việt ngữ, ngắm nghía trang báo Xuân nhiều mầu sau tấm nắp kính. Một cụ rụt rè đề nghị với bạn:

– Trông cũng hay đấy. Ta bỏ hai đồng 25 xu vào lấy một tờ xem thử có khác số thường hay không.

Người bạn ngăn:

– Chắc thế nào trong chợ cũng có báo biếu. Mình vào thương xá tìm cái gì uổng đã.

Cụ già gật gù, chân theo bạn mà đầu cứ quay lại nhìn thùng báo, tiếc rẻ. Từ trong thương xá, một bà lão tay ôm cành mai tay dắt cháu đi ra. Ngang thùng báo, bà lão ngừng lại, bảo cháu:

– Cháu đưa 50 xu cho bà. Ông ngoại dặn mua một tờ báo Tết.

Cô cháu ngoan ngoãn lục túi lấy đưa cho bà lão hai đồng quarter. Bà lão bảo:

– Bà bận tay cái cành đào. Cháu đi lấy báo luôn đi.

Cô bé thả tay bà ngoại, chạy đến trước thùng báo, nhón gót đẩy hai đồng quarter vào khe bên phải nắp thùng, chờ cho tiếng kim khí leng keng chấm dứt, rồi mới thành thạo giở nắp. Bé kéo ra một tờ báo Tết, vừa định thả nhẹ cho nắp thùng bán báo tự động đóng lại thì một người đàn ông trung niên ăn mặc thật sang từ xa chạy tới, vừa chạy vừa la lớn:

– Ấy, ấy… khoan đóng đã cháu! Chờ chú lấy thêm tờ báo đã!

Người đàn ông trung niên gạt cô bé sang một bên, rút nguyên một xấp báo Tết đặt lên thùng báo, rồi đứng ngay tại đấy giở một tờ ra đọc.

Chợt nhìn thấy hai đôi mắt ngỡ ngàng của bà và cháu, người đàn ông lắc đầu chán nản, nói bâng quơ:

– Báo với bổ! Chẳng có gì đáng đọc cả. Mua chỉ phí tiền!

2

Thằng em mặt mũi lấm lem, nước mắt ràn rụa chạy vào nhà mếu máo mét thằng anh:

– Nó giật mất cái pháo của em rồi…Nó…

Thằng anh cắt lời thằng em:

– Đứa nào? Nó đâu? Nó chết với tao.

Hai anh em chạy ra cửa, thằng anh chạy nhanh, mặt đỏ vì giận. Thằng em lon ton chạy theo, tuy còn khóc hưng hức nhưng mặt rạng rỡ ánh vui.

Thằng anh khuỳnh tay nhìn quanh, hỏi:

– Nó đâu? Thằng khốn nạn đâu rồi?

Thằng em nép sau lưng anh, rụt rè trỏ về phía một thằng cô hồn to như con bò mộng, tóc tai bờm xờm, trên cánh tay có xâm hình con cọp đang nhe răng. Thằng anh bảo em:

– Vào nhà tìm cái gì đánh cho nó một trận dập thây.

Hai anh em lại vào nhà, thằng em hí hửng chạy trước. Nhưng khi thấy anh cứ tìm mãi tìm mãi không ra vũ khí gì vừa tay, thằng em đề nghị:

– Hay em xuống bếp lấy con dao của má?

Thằng anh trừng mắt:

– Mày muốn ở tù mục xương hả? Chỉ cần thứ gì đánh cho nó biết sợ mà thôi!

– Hay thanh sắt ba dùng chèn cửa sổ?

– Đừng động tới đồ đạt của ba. Ổng…

– Hay là anh sợ nó?

– Thằng nhóc nhiều chuyện! Chung qui chỉ tại mày. Mày nhỏ mà đi sanh sự với tụi côn đồ mất dạy ấy làm gì!

3.

Cả làng sống hết mùa đông này đến mùa đông khác, suốt đời chưa hề thấy ánh nắng, nên khi có người bảo ở phía bắc có mùa Xuân vĩnh cửu, mọi người bỏ làng chạy về hướng bắc không một chút do dự, luyến tiếc.

Đi được một tháng thì họ bị một ngọn núi chận lại. Tuyệt lộ. Tuyệt lương. Tuyệt vọng. Người dự báo mùa Xuân lại nhất định bảo bên kia ngọn núi Xuân đang tràn trề, công việc phải làm là mọi người phải vừa canh tác để sống, vừa đào một đường hầm xuyên núi.

Cả làng bớt tuyệt vọng, bầu người đó làm lãnh tụ và ngoan ngoãn xếp hàng vào hai đội: đội trồng tỉa và đội đào núi. Dưới chân ngọn núi đá chót vót hiểm trở, tự nhiên mọc lên một làng mới. Việc mưu sinh trước mắt và việc đục một con đường vào tương lai đều nặng nhọc, lâu dài, nên dần dà mọi người trong làng đều trở thành anh hùng. Không anh hùng nông nghiệp thì anh hùng đào hầm. Có người đoạt danh hiệu anh hùng nông nghiệp ban ngày và anh hùng đào hầm ban đêm.

Mùa đông năm thứ mười lăm, một người săn thỏ khám phá ra một hẻm núi tuy cây cối um tùm gai góc, nhưng có thể dẫn đi vòng qua núi để đến phía bên kia. Anh chàng săn thỏ hớn hở chạy về làng báo tin mừng.

Mọi người reo hò một lúc, rồi đột nhiên không ai bảo ai, tất cả đều im lặng. Người này lấm lét nhìn người kia, như vừa phạm một tội lỗi không thể tha thứ. Người đoạt nhiều danh hiệu anh hùng nhất lên tiếng trước:

– Làm gì có đường vòng qua núi! Nó nói láo, bà con đừng tin!

Thế là các anh hùng liệt nữ hùa nhau chửi bới người săn thỏ. Họ dồn anh ta vào một vách đá. Trẻ con leo lên cao đái vào đầu anh ta. Đàn bà nhổ nước cổ trầu vào mặt anh ta. Đàn ông ném đá vào anh ta. Cuối cùng, lãnh tụ đến. Ông phất tay ra hiệu mọi người im lặng, rồi ra lệnh cắt lưỡi người săn thỏ.

Từ đó dù thiếu thịt, không ai còn dám đi săn thỏ nữa, chỉ lo miệt mài đào hầm xuyên núi để gặp mùa Xuân.

Nguyễn Mộng Giác

VÀO GIÊNG

Tôi ở bên ni trời viễn biệt
Em xa. Xa ngái tận phương trời
Ở đây tuyết trắng giăng mờ ngõ
Tháng giêng em và tôi hai nơi

Nơi quê nhà trời đã vào xuân
Em nơi nào, Sài Gòn, Qui Nhơn?
Tôi qua Nữu Ước trời không độ
Khuấy cốc cà phê đặc nỗi buồn

Em nơi nào, nắng có vàng không?
Cho tôi về thăm lại Ban Đông
Những đồi hoa tím, đồi sim tím
Tím theo từng cây số nhớ nhung

Em nơi nào, chim én về không?
Trời quê hương lúa trổ đòng đòng
Cho tôi nhớ lại mùa xuân cũ
Em đã theo đời tôi ruổi rong

Em nơi nào, hương sứ còn vương?
Tôi có người yêu đẹp lạ thường
Đêm tối miền cao trời thấp lại
Muôn sao trời cũng chụm yêu thương

Em nơi nào, rừng có lao xao?
Trời mù sương, bóng em gầy hao
Tôi đi để lại người em nhỏ
Giữa rừng hoa quì vàng chiêm bao

Xin em hãy lại căn nhà cũ
Giúp mẹ tôi lau màng nhện giăng
Cố thử xem giùm trong một xó
Đôi giày há mõm thuở thanh xuân

Xem thử trong giày còn hạt cát
Của những ngày tôi lội thăm em
Xem thử đế giày còn bẹt gót
Của những ngày gian khổ lênh đênh

Em nơi nào, ở nơi nào nhỉ
Trời đã giêng rồi, em biết không
Tôi qua Nữu Ước ngày không độ
Gọi cốc cà phê, lạnh nỗi lòng

Lạnh thêm nỗi nhớ trùng trùng
Tìm đâu hương cũ giữa dòng viễn khơi

TRẦN HOÀI THƯ

BƯỚM XUÂN

Em trở về đây với bướm xuân,
Cho tôi mơ ước một đôi lần.
Em là người của ngày xa lắm,
Lòng cũ hai ta cũng chẳng gần.
Em trở về đây để nắng hồng,
Hồn xưa còn đẹp ý xưa không?
Trăng tình chưa nguyện lời hoa bướm,
Em chẳng về đây để ngỏ lòng.
Một thời mây biếc đã trôi qua,
Nay tưởng cây vàng lại nở hoa.
Em chẳng mơ gì, tôi chẳng nói,
Đôi hồn không biết có nhìn xa?
Tôi vẫn chiêm bao rất nhẹ nhàng,
Đèn khuya xanh biếc, mộng thường sang.
Nhưng rồi em rõ lòng tôi khổ,
Em sẽ đi xa trước giấc vàng…
ĐINH HÙNG

NEM CẦU GỖ NINH HOÀ

KHUẤT ĐẨU

nem_ninh_hoa_1

Nem là món ăn được chế biến từ thịt heo của người Việt mà ngay cả người Tàu cũng phải ngã mũ chào. Có nhiều nơi làm nem nổi tiếng. Như nem Bắc, nem Huế, nem Thủ Đức, nem Ninh Hòa…Nơi đây, nem xóm cầu Gỗ được cho là ngon nhất.
Muốn nem ngon trước nhất phải chọn thịt ngon. Thịt không phải mua ở chợ mà được đưa tới từ các lò heo cũng ở cầu Gỗ. Mà cũng không phải thịt con heo nào cũng làm được nem. Phải là heo nuôi bằng cám, rau, không được cho ăn hèm hay thức ăn tổng hợp. Thịt phải săn, thớ nhỏ và chỉ lấy ở hai đùi sau. Loại thịt này rất mắc. Thịt được lấy ra ngay lúc con heo vừa mới cạo lông còn nóng hôi hổi. Tuyệt đối không được để dính nước.
Lúc đó mới 4 giờ sáng. Những nhà làm nem đã chuẩn bị sẵn dao thớt từ chiều tối hôm trước. Người có tay nghề cao nhất liền ngồi xuống sả thịt ra từng miếng lớn. Con em hay cháu chắt, kẻ lạng bỏ những sợi gân, người thái nhỏ thịt. Từng ký thịt màu hồng được cho vào cối gỗ. Hai thợ giã nem chuyên nghiệp giã liền tay không ngưng nghỉ. Khi đủ một số chày nhất định, người thợ chính bỏ đường muối vào cối trộn đều, rồi ra hiệu cho họ tiếp tục giã.
Số lượng những chày nện trong cối là cả một bí quyết của từng nhà. Gia giảm còn tùy thịt từng bữa, tùy cối mới mua hay đã cũ, tùy chày nặng hay nhẹ. Người giã nem không như giã gạo. Phải giữ cho được độ nặng của chày rơi xuống thịt và lúc thịt dẻo như đất sét, khó nhất là rút chày lên. Thoát khỏi sức trì kéo của khối thịt không phải cứ mạnh như lực sĩ mà làm được. Phải quen và hiểu đúng ý chủ Tiếp tục đọc

NGUYÊN ĐÁN

Tháng giêng hoa vàng đón tết
Phố phường chạm ngách mùa xuân
Giao thừa ngủ quên nằm mộng
Sớm mai rát ngực dậy thì

Em gõ vào tim anh nhé !
Nốt nhạc của ngày vui xưa
Đỡ đau tình người năm cũ
Buồn rơi theo tiếng nguyệt cầm

Xanh non lộc biếc nhú mầm
Rót mật mềm môi con gái
Nụ hôn đầu tiên khờ dại
Hồn như bị bỏ bùa mê

Trăm năm thương mãi câu Kiều
Cứa lòng nhớ hoài đôi mắt
Long lanh liếc ngang- liếc dọc
Càn khôn nghiêng ngã dưới chân

Tháng giêng em về quê hương
Cùng anh têm trầu cánh phượng
Cau sáu bửa đôi thêm nồng
Trong veo đất trời nguyên đán

LINH PHƯƠNG

BÀI TẶNG NGUYÊN ĐÁN

Em buộc mây trời trong vạt áo
Đồi xưa xanh mướt cỏ phiêu bồng
Gót sen lướt nhẹ qua triền nắng
Có gió đâu mà tôi bâng khuâng

Em níu hồn nhiên vầng nhật nguyệt
Đừng buông tay nhé nhỡ khuya rằm
Có vì sao lạc trong đôi mắt
Tôi biết làm sao khỏi nhớ nhung

Em xa như thể tinh cầu lạ
Tiếng cười những hạt thủy tinh rơi
Long lanh sương vỡ đêm về muộn
Lạnh quá hiên xưa vắng một người…

TÔN NỮ THU DUNG

NĂM NGỌ NÓI CHUYỆN NGỰA

Đặng Tiến

A16

Năm Ngọ nói chuyện Ngựa, câu hỏi đầu tiên là : chữ Ngọ tên một trong mười hai địa chi của âm lịch, có nguồn gốc từ lâu đời tại Trung Quốc, mang âm vang hao hao với chữ Ngựa, tên của động vật tượng trưng cho địa chi ấy. Vậy Ngọ , chữ Hán, và Ngựa, tiếng thuần Việt có họ hàng gì với nhau không ?

I. Ngọ và Ngựa

Hai danh từ cận âm cận nghĩa, từ lâu ta vẫn cho là tình cờ. Như tên người phát thơ và chữ facteur, tên món phở và chữ pot au feu trong tiếng Pháp, cải bắp và cabbage trong tiếng Anh.
Nhưng sao nhiều trùng hợp quá : năm Mão, hay Mẹo gần với chữ Mèo, trong khi người Tàu gọi là năm Thỏ ?
Trước đây, nhân một bài viết về Năm Thìn và con Rồng, giáo sư ngữ học Nguyễn Tài Cẩn có đề xuất : chữ Thìn có thể là tên gọi một loài rồng rắn trong ngôn ngữ Proto Việt Chứt, mà tiếng Việt Mường là một tiểu chi. “Giới ngữ học quốc tế đang cố gắng tìm nguồn gốc tên gọi 12 năm ở những ngữ hệ, Austro Thái, họ Nam Á … cố gắng tìm xem Hợi có gần với Cúi, Sửu có gần Trâu, Ngọ có gần với Ngựa hay không” 1. Nên ghi nhận thêm : người ta nói : năm Ngựa, tuổi Ngựa, mà không nói “giờ Ngựa” thay cho giờ Ngọ. Chữ Ngọ Môn không ai dịch thành “Cửa Ngựa”. Vậy giữa Ngọ và Ngựa, tương quan không phải chỉ là ngữ âm Tiếp tục đọc

MÙA XUÂN BUỒN LẮM EM ƠI .

Mùa Xuân buồn lắm em ơi
Anh vẫn đạp xe từ Saigon lên trường đua Phú Thọ
Đạp xe qua nhà em
Nhìn vào ngưỡng cửa
Nhà số 20
Anh nhớ má em hồng…
Anh nhớ nhà em có cửa sơn xanh
Có một hàng rào, có thầy, có mẹ…
Có ngựa chạy trong trường đua, người đi ngoài phố
Nên anh đạp xe đi
Rồi đạp xe về
Mà chẳng có đôi ta…
Mùa Xuân buồn lắm em ơi
Mỗi lần đạp xe về anh vẫn nghe lòng bỡ ngỡ
Chiếc xe còn nguyên màu sơn xanh
Nhưng tâm hồn đã ngả sang màu sắt dỉ
Bởi vì từ Saigon lên tận trường đua Phú Thọ
Hết cả tiền uống một ly nước mía
Mà cũng không gặp em
Nên khát đắng linh hồn…
Không phải anh ngại đường xá xa xôi
Anh cần gì đường dài
Anh cần gì nước mía
Anh cần gì hoa thơm và chim cười trong lá biếc
Cũng chẳng cần cỏ thêu xanh cánh đồng xa biền biệt
Nhưng làm sao không có bóng hai người đè lên cỏ úa
Để anh nghe em cười mà thấy cả mùa Xuân…
Làm sao chỉ có một mình anh
Vừa đạp xe,vừa ngâm thơ, mà đường vẫn dài…
Ngửa mặt lên cao,trời xanh biêng biếc
Làm sao em không ngó xuống linh hồn?
… Sao mùa Xuân mà chẳng có mưa bay
Chẳng có người đi bên cạnh cầm tay
Anh chẳng được hôn lên trán ân tình
Và nói năng những lời vô nghĩa…
NGUYÊN SA

VU VƠ CHIỀU CUỐI NĂM

Chiều cuối năm vu vơ phố thị
Thèm làm sao một chút quê nhà
Quê nhà bàng bạc, ta cũng thế…
Ẩn hiện bồng bềnh nơi xứ xa
Trách chi thân ngựa già còm cõi
Mê đường trường gió bụi phù vân
Nằm liếm gót, phà hơi lưu lạc
Gõ móng cùn hát khúc nghinh xuân
Chiều cuối năm phố mù sương đục
Ta mênh mang mấy cõi phù trầm
Làm gió lượn quanh cùng bụi khói
Nghe con người phờ phỉnh lương tâm
(Ừ. Cuộc sống cần chi cắc cớ
Tìm kiếm hoài một chút thiện căn)
Chiều cuối năm vu vơ bè bạn
Dăm mặt người cắt dọc xẻ ngang
Vết lo toan bủa về tứ phía
Cười nhăn nheo cụng chén rượu tràn
Ừ thì vu vơ cho lòng nhẹ
Ngắm người nhìn ngợm nhớ bâng quơ
Có chút gì chừng như không thể
Giữa phố  người bật tiếng. vu vơ….
NGUYỄN NGỌC NGHĨA.

TẾT TA XỨ NGƯỜI

Đinh Tấn Khương

cuc-van-tho-1

Hôm nay, tính ra thì còn đúng một tháng nữa là tới Tết (Ta), không phải tự dưng cho tới giờ nầy mới chợt nhớ, mà thật ra cách nay ba tháng chúng tôi đã nhẩm tính thử xem Tết ta năm nay sẽ rơi đúng vào ngày nào theo lịch của Tây, tính ngày để biết thời gian bắt đầu gieo bông vạn thọ cho kịp mừng Xuân đấy mà! Ai đời lại mừng Xuân bằng bông vạn thọ, nghe có vẻ tầm thường quá phải không? Người ta nói nhà giàu mừng Xuân với mai với đào, nghèo mới mừng Xuân bằng bông vạn thọ? Mà nói vậy thì cũng không đúng lắm, nhớ lại hồi xưa nhà tôi nghèo mà cũng sở hữu được một chậu mai vàng tám cánh, năm nào cũng nở đúng vào ngày đầu năm: Hên?, cũng chẳng đúng nữa bởi vì sau cuộc đổi thay gia đình tôi luôn gặp nhiều điều không hên chút nào hết! Hên xui may rủi trong cuộc sống đâu phải do bởi một hiện tượng nào?

Có người lại nói đầu năm chưng bông vạn thọ là mong được sống lâu chứ chưng mai chưng đào sao nghe mảnh mai, (liễu yếu) đào tơ quá đi!, nhà nghèo mà nghe nói như vậy thì cũng cảm thấy ít nhiều an ủi!? Nói thật lòng, chúng tôi trồng bông vạn thọ không phải vì tin vào những lời nói đó, mà là để cúng Phật và gia tổ cũng như mang lên mộ mẹ, sau nữa là được thấy vườn nhà có đủ màu thêm sắc trong những ngày Tết. Người ta nói bông vạn thọ cúng Phật là tốt nhất, đúng hay sai thì không biết nhưng chúng tôi thấy hoa vạn thọ là một trong những giống hoa dễ trồng mà lại dễ chăm sóc, có phải cái gì mà dễ thì sẽ không được coi là quí Tiếp tục đọc